Không nên

  1.  Không nên đánh giá người khác tốt xấu thế nào, bởi vì tốt xấu của họ không ảnh hưởng tới miếng cơm manh áo của bạn.
    2. Không nên đánh giá đức hạnh của người khác, bởi vì có thể có những khía cạnh họ còn cao quý hơn bạn.
    3. Không nên đánh giá gia đình của người khác, bởi vì những người đó và bạn không có quan hệ.
    4. Không nên đánh giá học vấn của người khác, bởi vì trên đời này kiến thức là mênh mông.
    5. Không nên đánh giá bất kỳ người nào, cho dù người đó là người bạn xem thường nhất.
    6. Không nên lãng phí tiền bạc, bởi vì ngày mai bạn có thể thất nghiệp.
    7. Không nên vênh váo, tự đắc, bởi vì có thể ngày mai bạn thất thế.
    8. Không nên nói quá phô trương, phải biết rằng bạn cũng chỉ là một người nhỏ bé.
    9. Không nên dựa vào người khác, bởi vì cuộc sống nhiều gánh nặng, ai cũng muốn sống nhẹ nhõm.
    10. Không nên làm tổn thương người khác, nhân quả sớm muộn đều sẽ đến.
    11. Không nên quá chú tâm giải thích đúng sai, hãy làm bậc trí giả. Trên đời chúng ta thường nghĩ cách giải thích cái gì đó. Nhưng mà, một khi giải thích, ta lại phát hiện rằng, bất kể ai giải thích đều là người yếu ớt, thậm chí sẽ càng bôi nhọ mình hơn.
    Núi dẫu không nói rõ độ cao của mình, thì độ cao của nó cũng không hề bị ảnh hưởng; biển không nói rõ độ sâu của mình, thì việc dung nạp trăm sông đổ dồn về nó cũng không có gì là trở ngại; mặt đất dẫu không nói rõ độ dày của mình, thì cũng không có ai có thể thay thế nó làm chỗ dựa cho vạn vật được…Đừng đánh giá thấp bất kể ai, bạn không có nhiều khán giả, đừng mệt mỏi như vậy.
    12. Không nên tự nhiên nổi giận, vì không phải ai cũng là “con nợ” bạn. Có thể hiện tại bạn đang rất thống khổ, nhưng khi vượt qua khoảng thời gian ấy, nhìn lại bạn sẽ phát hiện kỳ thực điều đó cũng chẳng là gì. Chúng ta thường phàn nàn cuộc sống bất công với mình, nhưng thực ra cuộc sống căn bản không biết được chúng ta là ai.
    13. Không nên nói rằng ai tu luyện tốt hay không tốt. Tu hành là việc cá nhân, người khác chính là một cái gương phản chiếu chính cái thiếu sót trong tu luyện của bản thân mình.                                                                                                                VietBF@sưu tập                                                                                                         From: Tu-Phung

ĐI HỐT CỐT CHA TỪ TRẠI TÙ

 ĐI HỐT CỐT CHA TỪ TRẠI TÙ

Câu chuyện sau đây có thể không liên quan nhiều đến nước Mỹ nhưng là một trong những mãnh vỡ cuộc đời của một đứa con người tù cải tạo sau ngày thất trận bi thảm 1975. Là lý do của những cuộc ra đi và định cư tại miền đất cách xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất.

***

Ngày đưa ba đi trình diện học tập dành cho “sĩ quan nguỵ quân” tại trường Chu Văn An năm 1975, là khoảnh khắc cuối cùng mẹ nhìn thấy mặt ba còn sống. Chuyến đi tưởng chỉ 10 ngày trở thành 2 năm 6 tháng chia lìa và xa nhau mãi mãi. Mỏi mòn chờ đợi để cuối cùng chỉ được ôm xác người chồng yêu thương lần cuối cùng ở một trại cải tạo ngút ngàn tận cùng biên giới Việt Trung.

Tháng hai năm 1979, trở về Sài Gòn sau khi để lại ba nằm hiu quạnh trong trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú, mẹ trở thành một người hoàn toàn khác hẳn. Cái tính cứng cỏi ngày xưa của mẹ giờ thêm lòng căm thù và nỗi đau mất chồng khiến mẹ trở nên điên dại. Đã có những tháng ngày mẹ không thiết tha gia đình, lang thang từ nhà ra chợ. Câu chuyện mất chồng của mẹ lan truyền nhanh chóng trong khu xóm đường Lam Sơn với toàn gia đình sĩ quan chế độ cũ. Lan truyền đến tận cái chợ nhỏ Cây Quéo cuối con đường Hoàng Hoa Thám quận Bình Thạnh. Ai cũng biết câu chuyện người đàn bà Huế mất chồng trong trại cải tạo.

Cuộc sống gian khổ, nỗi nhớ chồng quay quắt làm mẹ ngày một gầy guộc đi. Đã không còn là người đàn bà trắng trẻo mập mạp phúc hậu của khu phố sĩ quan ngày nào. Ban ngày chỉ là tạm quên, đêm về là những giây phút mẹ nhớ đến cái lặng lẽ cô độc của ba nơi miền đất phía Bắc xa xôi. Nhớ đến cặp mắt chưa kịp khép của ba trong ngày gặp mặt. Mẹ cứ hay bảo, không biết ba mày có đói hay không, áo quần có lành lặn hay không, có ai hành hạ ba mày hay không. Rồi mẹ lại khóc và mẹ lại nhớ đến cái khuôn mặt hốc hác, tiều tuỵ ngày ba qua đời. Nhớ đến hàm râu dài lưa thưa, cái thân hình gầy guộc và cái áo cũ rách nát tả tơi. Có những đêm ngồi bên cửa sổ nhìn ra khoảng tối mênh mông, mẹ lặng lẽ khóc nức nở một mình.

Những tháng năm sau đó với mẹ con tôi, thời gian qua thật dài. Không biết làm gì để an ủi mẹ ngoài chuyện cùng mẹ thay ba lo cho những đứa em còn nhỏ dại. Ngoài giờ làm việc tại Bưu Điện, vợ chồng tôi phụ me, làm đủ thứ nghề để sinh sống. Bán quần áo cũ tại chợ trời, làm bánh đậu xanh, nuôi gà trong phòng ngủ, nuôi heo trong cầu tiêu để chỉ thật mong đến ngày đủ sức đem ba trở lại quê nhà.

Cùng với những vất vả lo toan cho cuộc sống, qua thời gian, mẹ và chúng tôi phải làm quen những ngày tháng không có ba. Các em vẫn hằng ngày cắp sách đến trường. Vợ chồng chúng tôi đã có đứa con đầu tiên. Đứa cháu ra đời chưa bao giờ thấy được ông nội bằng xương bằng thịt. Mỗi khi nhìn con tôi lại nhớ đến ba. Cháu bao nhiêu tuổi, bấy nhiêu năm ba rời xa chúng tôi.

Có những ngày ăn bo bo thay cơm. Có những ngày liên tiếp không có gạo chỉ có bột mì. (Thời đó tại Sài Gòn chúng tôi phải làm quen với chế độ tem phiếu như ngoài Bắc). Tùy theo lúc, theo số người trong gia đình, có khi được cấp gạo, có khi nhận toàn bột mì, cũng có khi cả tuần nhận toàn bo bo. Mẹ xoay xở chế biến thành đủ thứ món ăn bằng bột mì cho đỡ ngán. Dù sao thì cũng không thể gian khổ bằng ba trong những ngày tù miền Bắc. Tôi tự an ủi như vậy để sống. Mẹ bề ngoài rất can trường nhưng trong lòng lúc nào cũng canh cánh nỗi lo về ba. Mẹ lúc nào cũng ao ước đem được ba về. Hết than ngắn lại thở dài.

Thường phải qua 3 năm, mới có thể dời mộ nhưng chỉ mới chưa đầy 3 năm, thương mẹ mỏi mòn trông đợi, tôi cùng mẹ xin giấy phép ra Bắc đem xác ba về.

Dĩ nhiên mọi chuyện không dễ dàng. Thời đó làm gì có cái loại giấy phép ra trại cải tạo để đem xác chồng. Lên phường xin đại cái giấy phép ra thăm ông chú còn ở lại ngoài Bắc. Cứ ra Hà Nội cái đã mọi chuyện tính sau.

Thế là sáng ngày 15 tháng 8 năm 1981, hai mẹ con khăn gói lên tàu hoả “ thống nhất”, miền Bắc trực chỉ. Ở lại nhà chú một đêm, hôm sau cùng với ông Tiến, người chuyên bốc mộ thuê do chú giới thiệu, ba chúng tôi lại lên tàu chợ Hà Nội – Vĩnh Phú tiếp tục cuộc hành trình. So với 2 lần đi thăm ba những năm về trước, chuyến đi này tương đối dễ dàng hơn. Hành lý của hai mẹ con chỉ là một cái xách tay nhỏ đựng vài bộ áo quần và một ít thức ăn khô, duy chỉ có ông Tiến là lỉnh kỉnh cuốc xẻng, mấy cái bị lác và mấy chai dầu hồi, ông bảo dùng để rửa xương.

Tướng người ông Tiến đen đúa khắc khổ nhưng nhanh nhen và vui tính. Cái giọng bắc 75 mới đầu hơi khó nghe, rồi cũng quen dần. Chuyến đi có thêm người đào mộ thuê cũng nhờ thế làm thời gian trôi qua nhanh hơn. Ông làm cái nghề này cũng đã mấy mươi năm sau cái ngày cởi bỏ áo quần bộ đội. Ai cần đào mộ là có mặt ông. Thường bốc xác lên đem đi chôn chỗ khác, cũng có khi đem đi thiêu.

Miền Bắc hồi đó có rất nhiều những ngôi mộ vô danh nằm lẫn trong các ruộng vườn. Người ta nhờ ông. Ông lại có thêm công việc tìm kiếm, đào xới, dọn dẹp và đem vào các hố chôn tập thể. Hay có khi chỉ cần tẩm dầu và đốt. Ông kể, công việc tuy vất vả nhưng cứ có hoài. Tiền thì không bao nhiêu vì dân ở đây thường rất nghèo, nhưng cũng đủ sống qua ngày.

Ông lão chép miệng. 30 năm đi lính, chỉ biết đánh nhau, xuất ngũ không có tay nghề, làm cái việc suốt ngày bên các xác chết ít người chịu được, cũng ít gian khổ hơn thời chiến tranh. Ông nói thêm, đây là lần đầu tiên có người trong Nam ra nhờ ông, lại là đào mộ của người học tập cải tạo. Tôi hỏi, người chết là sĩ quan miền Nam, sao ông vẫn nhận. Ông lão chép miệng, cũng là con người cả. Ai chết rồi cũng như nhau, hận thù gì nữa. Mà thật ra tôi có thù hận ai đâu. Ngày xưa đi lính, bảo bắn thì tôi bắn, không bắn thì chết sao ông.

Lần đầu tiên trên một miền đất với tôi chỉ là thù hận, tôi thấy một cảm giác an toàn.

Từ sáng sớm ba người chúng tôi lên ga Hàng Cỏ và đến tối thì chúng tôi đến trại K2. Sáng hôm sau chúng tôi gặp cán bộ trại xin đào lấy xác ba đem về chôn tại quê nhà và như dự đoán bị từ chối ngay. Lý do phải có giấy cho phép của cấp trên. Thời gian chờ đợi ít nhất cũng phải trên ba tháng. Hơn nữa, tay cán bộ trại giam nói thêm, ông nhà chết chưa quá ba năm chắc cấp trên không cho đâu.

Không còn cách nào khác, không lẽ lặn lội mấy ngàn cây số ra đây rồi về tay không, chúng tôi quyết định đi bốc mộ trộm. Đến lúc này mỗi khi nhớ lại tối hôm đó tôi vẫn còn rùng mình. Tôi vẫn không hiểu tại sao mình lại quyết định liều lĩnh như vậy. Đào mộ chui, chết hoặc ở tù như chơi. Có lẽ phần vì còn trẻ liều lĩnh, phần thương ba, thương mẹ và một phần do sự khuyến khích của người đào mộ thuê. Cũng may là ngôi mộ của ba nằm ngoài vòng đai trại cải tạo, nếu không ai biết trước việc gì sẽ xảy ra cho chúng tôi.

Đêm đó đợi lúc trời chạng vạng tối, trời mưa lất phất, 3 người chúng tôi đi đến khu rừng có mộ ba. Tôi vẫn nhớ rất rõ đường đi. Cũng không xa lắm vành đai trại và cũng chỉ một con đường đất nhỏ hẹp.

Vẫn không thay đổi gì nhiều, chỉ khác là cỏ mọc um tùm hơn. Cây thánh giá trước mộ vẫn còn đó, xiêu vẹo. Dấu khắc tên ba trên cây vẫn còn dù thời gian có làm mờ đi. Và cũng chỉ duy nhất một mình ngôi mộ của ba nằm ở đó, lạnh lẽo, hiu quạnh. Chung quanh không có ngôi mộ nào khác. Có lẽ chỉ một mình ba tôi là có thân nhân đến tiễn đưa khi chết, nên được chôn nơi đây. Những người khác chắc chỉ dđược bó chiếu, nằm chung nhau trong một ngôi mộ tập thể vô danh nào đó.

Chúng tôi bắt đầu công việc đào đất trong cái ánh đèn cầy leo lét. Người đào mộ làm việc chuyên nghiệp và nhanh thoăn thoắt. Lớp đất xốp có lẽ được lấp vội vàng nên công việc đào xới cũng dễ dàng. Rồi cũng đến lúc chạm đến cái nắp hòm củ kỹ mục nát. Nén xúc động, tôi mở nắp quan tài. Ba nằm đó, bộ xương còn nguyên vẹn với một phần da thịt và tóc chưa phân hủy hết.

Chúng tôi nhặt xương ba lên theo thứ tự đầu, giữa, chân, tay, bên phải bên trái. Mẹ nức nở nhưng không dám khóc to. Mẹ vừa khóc vừa rửa xương ba bằng chai nước cánh hồi, sau đó chúng tôi phụ nhau bỏ vào hai xách tay bằng lác mang theo. Một bao tôi xách gồm phần đầu và phần tay chân bên trái. Bao lác của mẹ gồm xương sống và phần tay chân bên phải. Người đào mộ dặn phải làm như thế để khi về đem chôn trở lại, ba mới siêu thoát với hình hài còn nguyên vẹn chân tay.

Chúng tôi lặng lẽ vượt gần 30 cây số lên đường trở ra ga Ấm Thượng ngay trong đêm. Cũng phải vượt qua hai con sông nước chảy xiết, qua những con đường đất quanh co, và những ngôi nhà leo lét ánh đèn. Không một bóng người. Tiễn chúng tôi chỉ là những tiếng côn trùng ếch nhái và những giọt mưa phùn lành lạnh.

Vừa đi vừa cầu nguyện. Rồi cũng suông sẻ ra đến ga Ấm Thượng khi trời tờ mờ sáng. Kịp đón chuyến tàu về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội thì cũng đã xế chiều. Mệt lả người vì thiếu ăn và thiếu ngủ nhưng chúng tôi rất vui vì đã đem ba về an toàn.

Chia tay người bốc mộ ngay tại sân ga, bấy giờ tôi mới cảm thấy đói. Hai mẹ con ngồi tựa cột đèn nhà ga, mỗi người ôm chặt một bị lác chứa xương người. Chúng tôi chia nhau ăn ổ bánh mì dai nhách, uống ly chè xanh đắng chát, nhưng thật ngon lành.

Đêm lạnh, hai mẹ con chúng tôi ngồi bên nhau, cô độc ngay trong cái sân ga đông kịt người. Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa mãi mãi với tôi vẫn là nơi vô cùng xa lạ và không bao giờ muốn quay về.

Đang nằm thiu thiu ngủ bỗng dưng tôi thấy tay mình nhẹ tưng, bừng tỉnh cũng là lúc tôi thấy một bóng người phóng qua mình tôi về phía trái. Ôi cái bị lác của tôi. Tôi phóng người đuổi theo, vừa chạy vừa la: xương người, xương người. Đứa bé ăn trộm bị tôi đuổi kịp quăng bị lác xuống đất chạy vào bóng đêm mất dạng. Tôi lượm bị lác lên và ôm chặt vào lòng. Đêm đó hai mẹ con lại ngồi tựa cột đèn, thức trắng. Lại một đêm thật dài, dài đến vô cùng.

Trời mới tờ mờ sáng, chúng tôi lên chuyến tàu sớm đầu tiên xuôi Nam và đến ga Huế vào nửa đêm.

Nhà ông bà ngoại tôi nằm dưới chân núi Ngự Bình, cách lăng Thành Thái không bao xa. Ngôi nhà cổ với sân vườn sau là các ngôi mộ của gia tộc bên ngoại. Về nhà quá khuya nhưng đã có rất đông họ hàng, các em cùng vợ con tôi từ Đà Nẵng về cả ngày hôm trước. Có cả ông Cặn hàng xóm, người chuyên môn lo về cúng kiếng với hòm rương nhang đèn đầy đủ.

Đám ma của ba tôi được tổ chức đơn giản nhưng với đầy đủ thủ tục lễ nghĩa như với một người vừa mới qua đời. Xương của ba được sắp xếp lại theo thứ tự tay chân trái phải và đưọc đặt vào quan tài cùng với các đồ dùng còn sót lại của những ngày trong trại cải tạo. Không thể mặc cho ba manh áo mới lành lặn, mẹ xếp ngay ngắn bên cạnh.

Bà con hàng xóm láng giềng khu vực An Lăng có mặt thật đông. Hôm đó mẹ đã khóc ngất đi nhiều lần mặc dầu ba qua đời đã lâu. Dù sao mẹ cũng đã mãn nguyện thực hiện được ước muốn từ bao năm qua: đưa được ba về, nằm ấm cúng trong mảnh vườn nhỏ gia tộc bên cạnh ôn mệ, họ hàng. Hôm đó tôi đã khấn trước mộ ba: Ba ơi, hãy yên nghỉ, chúng con luôn thương nhớ ba. Con sẽ thay ba lo cho mẹ và các em. Ba có linh thiêng xin phù hộ cho mẹ và cho chúng con.

Tôi tin là có một thế giới, nơi ba đang sống, thật gần với chúng tôi, luôn theo dõi phù hộ chúng tôi, trong những ngày đen tối còn lại tại quê nhà và những tháng năm lưu lạc trên quê người.

Đã 40 năm sau ngày ba mất, đại gia đình chúng tôi, một mẹ và 9 người con vẫn đang thật bình yên trên xứ Mỹ này. Mỗi năm chúng tôi đều thay phiên về thăm ba. Ngôi mộ được chăm sóc có sạch sẽ bởi một người bà con còn ở lại. Chỉ riêng tôi, hơn 20 năm qua vẫn chưa một lần trở lại. Chắc ba cũng hiểu, nỗi đau vẫn còn mãi trong tôi. Đã có những khó khăn, đã có những vất vả trên quê hương thứ hai này, nhưng mẹ và anh em chúng tôi đều kiên cường vượt qua để sống một cách lương thiện.

Dù mẹ đã lúc quên lúc nhớ nhưng tôi vẫn luôn tin rằng hình bóng của ba vẫn luôn còn mãi trong tận cùng trái tim của mẹ. Mẹ không nói, nhưng chắc vẫn nhớ nhiều điều trong quá khứ, nhất là cái ngày hai mẹ con mình đi nhặt lại xác cha, phải không mẹ của con.

Viết trong ngày Vu Lan 2019

Lê Xuân Mỹ 

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Sau 40 năm sống dưới chế độ cộng sản, Tiệp Khắc đã sửa sai. Còn Việt Nam?

Nếu kiên trì tranh đấu, người Việt Nam cũng có thể có một tương lai khác.

 24/05/2021

By  THANH NGỌC

Một người biểu tình phất cờ Cộng hòa Czech trong cuộc biểu tình chống chính phủ tại thủ đô Prague ngày 16/11/2019, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Cách mạng Nhung. Ảnh: EPA-EFE/Martin Divisek.

 Một ngày tháng 10/2017, Jan và tôi đi dạo trên Quảng trường Wenceslas, thành phố Prague (người Việt Nam thường gọi là Praha), nơi người dân biểu tình kết liễu chế độ độc tài cộng sản tại Tiệp Khắc vào năm 1989. Jan không ngừng nói về những thứ tồi tệ dưới chế độ cộng sản. Anh nói như một nhân chứng của quá khứ, dù Jan sinh ra ở thời kỳ đầu của nền dân chủ.

Prague năm 2017 mới bước vào thời kỳ dân chủ được chừng 28 năm, chỉ bằng hơn một nửa thời gian đất nước này chìm trong chế độ cộng sản. Đâu đó trong những cửa hàng, trên những con đường, bạn có thể cảm thấy hơi thở cộng sản vẫn chưa tắt hẳn ở nơi này.

Chúng tôi đến trước bức tượng người phụ nữ khỏa thân đứng trong tư thế la hét ai đó. Bức tượng này sẽ không bao giờ tìm thấy chỗ đứng dưới chế độ cộng sản vì sẽ bị cho là bệnh hoạn.

Jan đọc từ điện thoại cho tôi nghe về kết quả bầu cử nghị viện mới. ANO 2011, đảng dân túy của tỷ phú Andrej Babiš đã giành chiến thắng (“Ano” trong tiếng Czech nghĩa là “yes”). Jan thất vọng nói: “Sớm thôi, ở quảng trường chúng ta đang đi đây sẽ đầy người biểu tình để phản đối nhà tài phiệt Babiš làm thủ tướng”.

Tôi nói với Jan, ít ra ở Czech cơ hội tham gia chính trị còn mở ra cho nhiều người. Ở Việt Nam, chỉ có người cộng sản mới có thể tham gia chính trị, hơn 90 triệu người Việt phải đứng nhìn một nhóm nhỏ quyết định số phận của họ.

Jan gật đầu và chúng tôi bước tiếp về phía viện bảo tàng.

***

Ở đầu quảng trường này, phía sau tượng thánh Wenceslas và phía trước tòa nhà bảo tàng, có một nơi mấp mô trên vỉa hè, trông xa giống như một ngôi mộ. Vào ngày 16/1/1969, ở nơi mấp mô đó, một sinh viên tên Jan Palach đổ xăng tự thiêu. Ba ngày sau, anh chết trong bệnh viện. Lúc đó, khối Warszawa đứng đầu là Liên Xô đưa quân vào kiểm soát Tiệp Khắc. Jan Palach đã tự thiêu để phản đối cuộc xâm chiếm, “làm người dân thức tỉnh” trước nền chính trị bị ngoại quốc giật dây.[1]

Nơi tưởng niệm Jan Palach tại Prague, thủ đô của Cộng hòa Czech. Ảnh: Pbase.com.

Dân chủ có thể đến bất ngờ

Ngọn lửa của Jan Palach không tạo được tác động gì vào lúc đó. Thế lực của Liên Xô đã củng cố quyền lực gần như tuyệt đối cho chính quyền cộng sản Tiệp Khắc. Mùa xuân Prague, kế hoạch của thủ tướng thuộc nhóm cấp tiến Alexander Dubček với những hứa hẹn cải cách nhân quyền mới chớm nở đã phải lụi tàn. Liên Xô đã thay một vị thủ tướng khác mà họ tin tưởng hơn.

Người Tiệp Khắc tiếp tục sống. Họ không biết khi nào chế độ cộng sản do chính họ bầu chọn mới thực sự kết thúc. Sự lựa chọn đó của người Tiệp Khắc đã phải trả giá bằng chính đời sống của họ.

Đầu những năm 1970, The Plastic People of the Universe làm điên đảo giới trẻ Tiệp Khắc bằng thứ âm nhạc mê hoặc và phong cách trình diễn ấn tượng. Ban nhạc này được thành lập một tháng sau khi khối Warszawa xâm chiếm Tiệp Khắc. Những ca từ phóng khoáng và tinh thần độc lập của ban nhạc khiến chính quyền ngày càng khó chịu.[2]

The Plastic People of Universe năm 1974. Ảnh: Stray Satellite.

Không lâu sau, The Plastic People of the Universe mất tư cách biểu diễn chuyên nghiệp, mất nhạc cụ (vốn khi đó thuộc sở hữu nhà nước) và nơi diễn tập. Việc này nằm trong chương trình chấn chỉnh các hành vi đạo đức và xã hội của chính quyền.

Đến năm 1972, ban nhạc bị cấm biểu diễn công khai. Chính quyền cho rằng âm nhạc của họ là “bệnh hoạn” và “tác động tiêu cực đến xã hội”. Ban nhạc chuyển sang biểu diễn chui ở ngoại ô. Khán giả chỉ biết chính xác địa điểm trước một ngày, hoặc phải đợi cho đến ngày biểu diễn. Người hâm mộ sẽ lần mò trong mưa gió, tuyết rơi để tìm đến các trang trại hay nhà kho bị bỏ hoang được chọn làm địa điểm biểu diễn.

Vào tháng 3/1974, hơn một nghìn khán giả tìm đường đến nghe The Plastic People of the Universe biểu diễn. Họ chẳng thấy ban nhạc ở đâu, thay vào đó là cảnh sát. Cảnh sát đánh đập khán giả ở một đường hầm và đưa một lên tàu chở về Prague. Sáu sinh viên bị bắt giữ, nhiều sinh viên khác bị đuổi học.

Tháng 3/1976, cảnh sát Tiệp Khắc quyết định tiêu diệt bằng được ban nhạc sau một cuộc biểu diễn chui. Cảnh sát mật đã thẩm vấn hơn 100 người hâm mộ, xét nhà, tịch thu nhạc cụ, bắt giữ 27 nhạc sĩ.

“The Second Festival of the Second Culture”, sự kiện âm nhạc do The Plastic People of the Universe (đứng ngoài cùng bên phải) tổ chức tại Bojanovice ngày 21/2/1976. Chỉ trong một tháng sau đó, 27 nghệ sĩ có mặt trong bức ảnh này đã bị bắt. Ảnh: Ondrej Nemec/ martinfryc.eu.

Dưới áp lực của quốc tế, hầu hết các nhạc sĩ sau đó đã được thả. Tuy nhiên, chính quyền kiên quyết đưa bốn người ra xét xử tội gây rối, trong đó có hai thành viên của The Plastic People of the Universe, một nhạc sĩ và một ca sĩ khác.

Các kiểm sát viên đã chỉ trích từ ngữ thô tục trong các bài hát của họ và cho rằng chúng làm băng hoại giới trẻ Tiệp Khắc. Những người bị bắt đã trả lời rằng họ quyết bảo vệ quyền sáng tác và hát những ca khúc mà họ muốn. Bốn người đã bị tuyên án từ 8 tháng đến 18 tháng tù giam.[3]

Phiên tòa bị giới nghệ sĩ, kịch gia, văn sĩ chỉ trích kịch liệt, trong đó có Vaclav Havel, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của nền dân chủ Tiệp Khắc.

Nỗi tức giận về phiên tòa đã khiến hơn 200 người thuộc giới trí thức Tiệp Khắc thành lập một tổ chức nhân quyền không chính thức và phát hành một kiến nghị chỉ trích những hành vi đàn áp nhân quyền vào tháng 1/1977, được gọi tắt là Hiến chương 77. Bản hiến chương gây được tiếng vang lớn, được nhiều tờ báo lớn như Le Monde, The New York Times phổ biến.[4]

Tuy nhiên, giống như vụ tự thiêu của Jan Palach, nền chính trị độc tài ở Tiệp Khắc vẫn không có gì thay đổi. Thay vào đó, Vaclav Havel và một số nhà bất đồng chính kiến phải ngồi tù.

Phải mất thêm 12 năm nữa, người Tiệp Khắc mới làm nên số phận của mình. Tháng 11/1989, hàng trăm nghìn người biểu tình ở Quảng trường Wenceslas trong cuộc Cách mạng Nhung (Velvet Revolution). Cuộc biểu tình lịch sử đó được châm ngòi vào dịp kỷ niệm 20 năm ngày sinh viên Jan Palach tự thiêu.[5]

Cuộc Cách mạng Nhung năm 1989. Minh họa: Czechleaders.com.

Đó chỉ là một trong số vô vàn sự kiện đấu tranh với chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc. Dường như thành công hay thất bại đều không phải là mục tiêu quan trọng đối với họ. Điều quan trọng là họ kiên trì tranh đấu.

Ngay sau khi Cách mạng Nhung thành công, Điều 4 trong Hiến pháp Tiệp Khắc, vốn khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản, đã bị xóa bỏ. Một cuộc bầu cử tự do được tiến hành. Tiệp Khắc thoát khỏi bóng tối cộng sản và tiến đến nền dân chủ.[6]

Kiên trì tranh đấu ở Việt Nam

Vào đêm ngày 15/8/2018, một đêm nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị công an giải tán bằng dùi cui, mũ bảo hiểm, hung khí tự chế. Đó là đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín, nơi anh hát những bài hát trước năm 1975.

Ca sĩ Nguyễn Tín và người tổ chức đêm nhạc Nguyễn Đại nói với RFA là họ bị công an bịt mắt đưa về đồn tra tấn. Sau đó, cả hai người bị đạp ra khỏi xe giữa đường.[7]

Nhà báo Phạm Đoan Trang cũng tham gia đêm nhạc và kết thúc bằng việc bất tỉnh trong bệnh viện. Cô kể, có sáu công an mặc thường phục đánh đập cô bằng nón bảo hiểm, hung khí tự chế.[8]

Đoan Trang nhập viện sau đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín. Ảnh: Phạm Đoan Trang.

Đầu tháng 5/2021, hai mẹ con nhà hoạt động Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư đã bị tòa tuyên án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế cho mỗi người. Họ bị buộc tội đã đăng những đoạn phim bị cho là sai sự thật về tranh chấp đất đai lên mạng xã hội.[9]

Thay vì giải quyết thấu đáo những tranh chấp đất đai, chính quyền chọn cách bỏ tù những người cất tiếng nói phản đối. Thay vì thực thi quyền tự do biểu đạt, xuất bản, hiệp hội như đã cam kết, chính quyền lại chọn cách bỏ tù những người dám thực hành những quyền ấy.

Những hành động bất nhất đó có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho chính quyền, nhưng không dập tắt được sự phẫn nộ nén sâu trong lòng người dân.

Những bản án tù của các nhà hoạt động Việt Nam không phải là vô ích. Chúng có thể ngăn họ trực tiếp tranh đấu cho nhân quyền, nhưng đổi lại, hoạt động tranh đấu của họ đi xa hơn đến đông đảo quần chúng. Trần Huỳnh Duy Thức, Hòa thượng Thích Quảng Độ, nhà báo Phạm Đoan Trang, và rất nhiều nhà hoạt động đã gặp nạn khác luôn là những ngọn lửa soi sáng cho những người đi tìm sự bình đẳng, nhân quyền cho Việt Nam.

Cuộc biểu tình khổng lồ kết liễu chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc có lẽ đã không xảy ra nếu cuộc cải cách Mùa xuân Prague của Thủ tướng Dubček được thực hiện. Việt Nam đã bỏ qua bài học này.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Ảnh Hưởng Dây Chuyền (Chain Reaction)

Một bạn tôi kể 2 câu chuyện về ảnh hưởng dây chuyền:

Một buổi sáng, ông giám đốc vào sở với vẻ mặt mệt mỏi vì tối qua bà vợ ông cằn nhằn, lải nhải chuyện không đâu ra đâu.  Vì ngủ không ngon, nên ông có vẻ bực bội với nhân viên.  Anh Tám bị rầy về một lỗi rất nhỏ.  Anh về nhà, lúc giờ ăn, thấy cơm nhão hơn bình thường, anh trút nỗi bực mình lên vợ.  Khi đứa con gái lớn, Thúy,  làm đổ chén canh, chị Tám rầy con khá gay gắt vì chị đang mang mối bực bội trong lòng.  Con Thúy thấy em nó là thằng Thăng lục lọi túi xách của nó, nó vì bực bội quá không kềm được cơn giận nên kí đầu em nó khá mạnh tay.  Thằng Thăng đau quá, đá con chó đứng lảng vảng gần đó.  Con chó sợ hãi chạy phóng ra đường.  Chiếc xe hơi chạy trườn tới, bà lái xe lách để tránh con chó, không ngờ bà bị lạc tay lái, chiếc xe đâm xầm vào một căn nhà.  Sau đó, người ta mới biết người cầm tay lái chính là vợ ông giám đốc và căn nhà bà ủi vô chính là nhà của ông bà.  May mà không có ai bị thương.

Chuyện thứ hai:

Hôm nay, anh Tư được ông chủ cho một trái cam to như để thưởng cho anh vừa giúp cho ông giải quyết một nan đề nhỏ trong sở.  Anh Tư nghĩ tới vợ với bao công việc vô danh ở nhà: dọn dẹp, nấu nướng, chăm sóc con… Anh mang trái cam về tặng vợ.  Vợ anh nghĩ tới đứa con trai đang lúc học thi, chị muốn con ăn để có thêm chất bổ dưỡng.  Thằng Tâm nghĩ tới em gái nó, con Tú, mà nó thường hay chọc.  Nó tặng cho em nó như một cách chuộc lỗi.  Con Tú nhận trái cam, lại nghĩ tới tặng ba nó.  Nó thương ba nó đã chịu khó, chịu cực đi làm nuôi cả nhà, mà tánh ba rất hiền không hề lớn tiếng với vợ con.  Anh Tư nhận trái cam từ con gái, quan sát kỹ thấy đúng là trái cam anh mang về tặng vợ ngày hôm qua.  Anh tụ họp vợ con lại tối hôm đó, hỏi lại câu chuyện từ từng người và mọi người cười vui vẻ khi thấy trái cam chạy vòng vo rồi về chỗ cũ.  Chị Tư bổ trái cam ra làm 4, mỗi người ăn một góc tư và thấy tình thương yêu, niềm vui, hạnh phúc gia đình tăng lên gấp 4.

Con người là một sinh vật xã hội, hay sống bầy đàn, thích nối kết, chịu ảnh hưởng nhau.  Một người có tin mừng, cả sở cũng mừng lây.  Tương tự, một người ho khạc bừa bãi, vi trùng, vi rút từ phổi mình có thể bay vào phổi người khác.

Ảnh hưởng dây chuyền còn được gọi là Hiệu ứng Domino.  Người ta xếp những cây bài domino gần nhau, khi một cây ngã xuống thì kéo theo hàng loạt ngã theo.  Năm 1972, người ta có thêm quan niệm “Hiệu ứng cánh bướm” (Butterfly effect) khi có người đặt câu hỏi:  Liệu cái đập của cánh bướm từ rừng Ba-Tây có thể khiến cuồng phong ở Texas xảy ra? (Does the flap of a butterfly’s wings in Brazil set off a tornado in Texas?).

Tương tự, tục ngữ Việt Nam có câu: “Bứt mây động rừng” hay: “Sấm đằng đông, động đằng tây, Tuy rằng nói đấy, nhưng đây động lòng”.

Bất cứ việc gì mình làm đều có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nhất là với thân nhân và bè bạn.  Lời nói, thái độ của mình đều có tác dụng hay hoặc dở, xây dựng hay phá hoại.   Cha mẹ, thầy cô giáo ảnh hưởng tới tinh thần, tâm tính con trẻ rất nhiều.  Cha mẹ không biết có thể mang thiên đàng đến cho con cái không, chứ chắc chắn lời nói, thái độ có thể tạo địa ngục trần gian cho con khi chúng còn nhỏ.

Câu: “Một con ngưa đau cả tàu không ăn cỏ” làm chúng ta nhớ đến lời ông Phao-lô diễn ý trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng” (12:26) .  Xin Chúa giúp cho chúng ta với mỗi lời mình thốt ra là lời lành, những gì mình làm là những việc thiện tác dụng tích cực lên người khác.

Ảnh Hưởng Dây Chuyền

“Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.” -1 Cô-rinh-tô 12:6

“Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng.” – 1 Cô-rinh-tô 12:26

“Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.” – Phi-líp 2:4

Ngẫm suy xử thế con người,

Đôi khi bất cẩn nói lời làm đau!

Việc làm tuy có khác nhau,

Nhưng là một Chúa trên cao tạo thành!

Chúng ta hãy thử nhìn quanh,

Bà con cô bác chị anh em mình,

Có cùng một Đức Thánh Linh,

Một Thân liên kết giống hình ảnh Cha!

Ta nên hết sức thuận hòa,

Việc làm, lời nói thật thà giúp nhau,

Chứ đừng nóng giận, càu nhàu,

Phàn nàn, trách móc, thêm vào bất an!

Học Lời Kinh Thánh Chúa ban,

Nói làm ích lợi, sẻ san tình Trời,

Dây chuyền ảnh hưởng mọi người,

Gia đình, Hội-thánh vui tươi theo Ngài!

Nguyện làm nguồn phước hôm nay,

Nói lời khích lệ, giúp ngay đúng thì,

Thánh Linh chỉ dạy ta đi,

Làm theo Ý Chúa chẳng chi lo phiền!

Tiểu Minh Ngọc

From: Tu-Phung

CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI TÙ GIÀ

 Vũ Thư Hiên is with Vũ Lương Vu 

CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI TÙ GIÀ

Kính tặng hương hồn bạn tù Nguyễn Thái Bút

1

Người Tù Già nằm bất động.

Lão nằm và nhìn lên bầu trời xám xịt qua song cửa.

Nhìn đăm đăm và nghĩ miên man.

Những ý nghĩ đứt quãng, trôi nổi, bồng bềnh, lẫn lộn. Trùm lên những ý nghĩ vẩn vơ ấy là một màu buồn u tối.

Đầu đông ở thung lũng là thế. Thời tiết thay đổi từng giờ. Mặt trời không cất mình nổi nơi sương mù giăng mắc giữa ban ngày. Những vạt rừng ngàn năm nhấp nhô đậm nhạt trong thứ nửa mù nửa mưa bao quanh trại tù như vành khăn xô rách rưới. Không phải vô lý mà người ta đặt trại tù trong những thung lũng, lão nghĩ. Họ khôn lắm. Không phải chỉ để ngăn tù trốn đâu. Mà để ngăn cả ý nghĩ vượt ngục của tù nữa, nếu như nó dám nảy ra.

Người Tù Già buồn.

Lão biết lão chẳng còn sống bao lâu. Dấu hiệu đầu tiên của cái chết mà lão biết được là đôi chân không còn nghe theo lão. Lão mất hết cảm giác về chúng. Chúng rời bỏ lão một cách chậm chạp, không sao ngăn nổi. Bắt đầu là hai bàn chân, hôm qua, rồi tới đầu gối, sáng nay, và bây giờ – tới hông. Cả cái mùi khăn khẳn dính chặt vào khứu giác, không biết nó xuất phát từ đâu, có phải đấy là mùi của chính lão?

Lão biết lần ngã bệnh này của lão không như những lần trước, trong suốt đời tù đằng đẵng. Mười một năm rồi chứ ít à? Trong mười một năm ấy lão đã vượt qua cái chết không phải một lần. Nhưng lần này thì không, lão biết. Không qua được. Không ăn thua. Thân thể lão đã cạn khả năng sống sót để chờ thêm một năm, hoặc hai năm, như lão từng chờđể được xét tha sau một lệnh. Lệnh, là gọi tắt một kỳ hạn của cái gọi là “tập trung cải tạo”. Một lệnh là ba năm. Hết ba năm này là ba năm khác. Cứ thế mà diễn.

Mà chắc gì lão được tha cơ chứ?

Cái chết toàn năng, cái chết bất khả kháng, như hốc miệng đen ngòm của một con trăn khổng lồ đang nuốt dần cơ thể lão, từng phút một. Rất chậm, nhưng không dừng lấy một giây.

Lão sợ. Lão không muốn chết một tí tẹo nào. Lão muốn sống. Chao ôi, lão muốn sống lắm lắm. Chưa khi nào lão muốn sống bằng lúc này.

Đấy, ngay bây giờ đây này, lão đang muốn kêu, muốn gào lên, muốn thét lên để thiên hạ nghe thấy mà chạy đến, để thiên hạ xúm lại kéo lão ra khỏi cái hốc khủng khiếp đen ngòm kia. Nhưng lão không kêu được. Từ cuống họng lão chỉ phát ra những tiếng ú ớ mà, lạ thay, lão lại nghe rất rõ. Đôi tai nghễnh ngãng nhiều năm bỗng trở lên thính lạ thường. Tưởng chừng cái sống còn lại trong người lão chỉ tập trung nơi thính giác. Nó, và chỉ có nó, nối lão với thế giới bên ngoài.

Nói lão muốn gọi thiên hạ là nói thế thôi, chứ lão biết cả cái thế giới bên ngoài kia chẳng thèm nhòm nhõi gì đến lão. Đối với cái thiên hạ ấy, lão chẳng là cái gì. Bạn tù cũng chẳng đến thăm lão. Họ mệt lử sau một ngày lao động, lết về được tới phòng là nằm vật ra, còn sức nào để nghĩ tới lão cơ chứ. May cho lão, còn có Tỉnh Trưởng, một người tù già, còn già hơn lão nữa, ở ngay đây, trong trạm xá, thỉnh thoảng vẫn lệt xệt từng bước đến bên giường ngó lão một cái.

Lũ bệnh nhân cùng trạm xá với lão ở ngay cạnh lão thì chẳng nói làm gì – còn khuya cái lũ ấy mới nói với lão một lời. Chúng chẳng bệnh tật gì ráo, chúng được nằm trạm xá vì chúng có tiền cống cho thằng Y Tá, cho ông Y Sĩ . Giờ đây chúng đang túm tụm sát phạt nhau trong canh bạc mới mở. Lão nghe rõ mồn một thằng nào cười hô hố, thằng nào đang ngửa cổ reo, thằng nào vỗ đùi đen đét trong khoái trá, thằng nào văng tục chửi đổng trong cơn bực bội.

Y Tá cũng ngồi trong đám bạc. Mặt bì bì, mắt trắng dã, cặp môi mỏng thâm xì mím chặt, va vật quân bài xuống chiếu cái đét và ngửa cổ lên văng một tràng chửi tục. Không cần nhìn, lão cũng biết nước bọt va văng tung toé. Va không thể nói mà không văng nước bọt.

Y Tá vốn là một bác sĩ khoa sản bệnh viện tỉnh, trước nữa là Y Tá huyện, được học bổ túc lên y sĩ, rồi tiếp tục bổ túc lên bác sĩ. Va là tù có án – năm năm vì tội cưỡng dâm bệnh nhân.

Người Tù Già đón va từ lúc va vừa bước xuống ô tô từ trại tỉnh chở tù lên trại trung ương. Đồng hương gặp nhau ở trong tù thì mừng, là lẽ thường. Chẳng gì cũng cùng quê hương bản quán với nhau, chứ trước kia lão đâu có quen va.

Như mọi nông dân, có bao giờ lão đi bệnh viện. Người nông dân nghe đến bệnh viện là hãi rồi, như chết đến đít rồi, không thế thì chẳng ai tới bệnh viện làm gì. Lão không đến bệnh viện vì sợ tốn. Ốm đau đã có lá lẩu trong vườn, nặng hơn thì tìm đến ông lang ngoài chợ.

Va được phân vào toán đan lát của lão. Lão mừng húm. Lão rủ va ăn chung. Chia sẻ với va từng viên thuốc lào. Ở ngoài, nghe nói va béo lắm. Lên trại, va xuống cân vù vù. Gày tong teo. Đi xiêu vẹo. Va quên sạch mọi thứ trên đời, trừ những cái có thể bỏ vào mồm. Đi làm ngoài trại mắt va láo liên lục bới từng khóm cây bụi cỏ kiếm con cào cào, con châu chấu. Hôm nào vớ được con thằn lằn, hôm đó va như sống lại. Người ta quen thấy va vật vờ ngoài sân, hết rẽ vào nhà này lại nhà kia để kiếm miếng ăn. Một trong những cách kiếm ăn lương thiện nhất, ít bị khinh bỉ nhất, là tẩm quất thuê cho lũ “đầu gấu”, lũ “sĩ quan ”.

Cuộc đời đầy những bất ngờ.

“Y tá trại”, trước kia là bác sĩ một bệnh viện trung ương,án chung thân vì tội dùng thạch tín đầu độc vợ, giữ chức này đã nhiều năm nhờ có quan hệ rộng với các quan chức lớn nên luôn được giảm án, rồi đùng một cái được tha trước hạn. Chân y tá trại béo bở có sẵn nhiều ứng viên sáng giá – mấy tù nhân bác sĩ, người đi tù vì tham ô, kẻ vì buôn lậu. Trời xui đất khiến thế nào, va lại được Ban giám thị chọn. Tính về thành phần xuất thân va ăn đứt bọn kia, va không phải chỉ là nông dân nói chung, va là cố nông từ đời ông bà tính về thành phần, là quân chủ lực của cách mạng. Một bước, va lên quan, dù là quan trong tù.

Làm y tá trong tù bảnh lắm. Muốn nghỉ lao động một ngày, hoặc vài ngày trong đời tù triền miên lao động và lao động, những người tù khốn khổ, không trừ một ai, đều phải cầu cạnh y tá. Tuỳ theo cống vật họ dâng mà ,y tá trại sẽ gia ân cho họ nhiều hay ít – từ một hai ngày nghỉ lao động cho đến nằm khểnh ở trạm xá để theo dõi và điều trị.

Nhà bếp, liên minh thần thánh của trạm xá, bao giờ cũng dành cho Y Tá phần béo bở, ngày thường cũng như ngày ăn “tươi”, trong mốì quan hệ hai bên cùng có lợi. Va mau chóng lên cân trở lại. Trơn lông đỏ da. Rồi béo hú. Va thích kể chuyện những người đàn bà đã qua tay va, như những chiến công, và thề sẽ trả thù con mụ bệnh nhân bị cưỡng hiếp đã làm đơn tố cáo va. Con mụ này là cháu họ xa một quan to.

Người Tù Già không trông cậy ở Y Tá một sự chiếu cố nào. Lão biết có trông cậy cũng vô ích. Ở trong tù mà nói chuyện ân tình là là thậm ngu, là chí ngu. Lão chỉ ân hận một điều – ấy là lão đã không đủ khôn ngoan để nghĩ tới chuyện đút lót Y tá như những người tù khác.

– Ở đời chẳng có gì tự nhiên có, chẳng có gì tự nhiên mất – Y Tá triết lý – Không hiểu điều sơ đẳng ấy thì ô hô, có mà ăn cám.

Người Tù Già không nghĩ tới đút lót có cái lý của lão.

Lão có cái gì để mà đút cơ chứ? Trên răng dưới cát-tút, lão là thế. Lão không thuộc loại người giận đời hoặc đám kẻ sĩ dở hơi đã vào tù rồi vẫn còn cương, không chịu cúi đầu trước bọn cán bộ, đừng nói gì tới Y Tá hay trật tự. Nếu có cái để đút thì lão cũng đút rồi.

Cơ mà Y Tá lại nghĩ khác – ừ thì lão không có tiền thật, lão nghèo rớt mồng tơi thật, đúng thế, nhưng lão có thể xin, có thể vay người này người khác chứ. Vẫn còn những bạn tù tốt sẵn lòng giúp lão lúc hiểm nghèo cơ mà. Vay trước trả sau là chuyện thường tình.

Cho nên Y Tá mới giận. Lão cứ ì thần cụ ra, cứ như thể Y Tá là đồng hương của lão thì va phải có trách nhiệm săn sóc lão. Đừng hòng. Còn khuya nhé!

Y Tá đoán sai – lão hành xử như thế, không tính đến chuyện lão không có tiền, cái chính là vì lão coi thường bệnh. Lão xem trận ốm bất ngờ như một sự bất tiện hơn là một bệnh. Lão tin ở đặc tính sống dai của người tù.

Tù là một sinh vật kỳ lạ – sống không mảy may tiện nghi, thiếu thốn đủ đường, mắc đủ mọi bệnh, thế mà vẫn sống nhăn, như để phô bày một hiện tượng không thể giải thích của nhân loại.

Lão không hề nghĩ đến cái chết khi lão khai ốm. Thậm chí lão còn nghĩa là Y Tá đã nhầm khi cho lão đi nằm trạm xá. Kiết lỵ là cái quái gì cơ chứ? Lão đã chứng kiến một lần tù chết hàng loạt trong một trận dịch kiết lỵ. Kinh lắm. Chôn không kịp. Nhưng dịch là dịch, chứ cái kiết lị bình thường, kiết lỵ hàng ngày, có làm thằng chó nào chết đâu? Lần này lão có đau bụng thật, đau quặn, khó chịu lắm, nhưng cũng chỉ như những lần khác, không hơn. Đến bữa lão vẫn “bụp” đến nơi đến chốn, ngoài suất cơm trại còn ngốn cả mấy chét to rau má mới thấy lưng lửng dạ.

Lão chỉ bắt đầu lo, bắt đầu ân hận đã không đút lót Y Tá khi thấy cái bệnh tưởng chừng vớ vẩn ấy ngày một nặng. Lão bị những cơn đau quặn dữ dộ ở bụng dưới. Mót liên tục. Không nhịn được. Mỗi lần đi cầu sức lực của lão như trôi ra theo đám phân lầy nhầy máu.

Y Tá cũng coi thường bệnh của lão. Khi thấy bệnh nặng thêm thì va cho lão ăn cháo với muối. Muối là lành nhất, không gì lành bằng. Với phương pháp điều trị này, bệnh nhân nào rồi cũng khỏi. Trừ những bệnh nhân đã đến cõi. Khi thấy lão đi nhiều quá, mệt quá, thì y cho uống Berberin. Trong trại Berberin là thần dược. Nó là thuốc bách bệnh.

Nhưng Berberin không ăn thua. Uống vào như không uống.

Người Tù Già thầm trách Y Tá trại nhẫn tâm. Va cho lão nằm trạm xá để làm gì, nếu như va không muốn chữa cho lão khỏi?

Lão không biết rằng Y Tá chẳng tốt mà cũng chẳng xấu với lão. Y Tá chỉ làm việc phải làm mà thôi. Đó là lệnh của Ban Giám thị: “Phải giảm tỷ lệ tử vong xuống!”

Số là từ đầu năm tù ở mấy trại trung ương bỗng lăn ra chết như ruồi trong một trận dịch kiết lỵ. Đến nỗi ông Bộ trưởng Bộ Công an phải ra một chỉ thị đặc biệt để chặn đứng tai hoạ. Không phải bỗng nhiên ông quan tâm tới số phận tù nhân. Sự quan tâm bắt đầu từ việc đứa cháu họ mẹ vợ ông Tổng bí thư đảng, làm công an một trại, đến thăm kể cho bà nghe chuyện tù chết la liệt như thế nào. Anh ta muốn bà nói giúp một tiếng để anh ta được chuyển ngành. Là Phật tử thuần thành, bà lựa lời khuyên ông con rể chớ để sự thể như thế mà luỵ đến đời con đời cháu.

Ông Tổng bí thư, tác giả nhiều cuốn sách về chủ nghĩa duy vật, về tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, về tính bách chiến bách tvag của chủ nghĩa Mác-Lênin, cười giễu cái sự tin nhảm của bà lão. Ông không tin Trời, không tin Chúa, không tin Phật. Ông chỉ tin ở sức mạnh của cái Đảng dưới quyền ông. Có nó, ông muốn làm gì cũng được.

Ông Bộ trưởng Công an và ông Cục trưởng Cục quản lý trại giam được ông Tổng bí thư triệu lên.

– Đường lối của Đảng ta là trị bệnh cứu người – Tổng bí thư ân cần căn dặn – Trấn áp bọn có hại cho an ninh xã hội, nhất là phản cách mạng, tất nhiên không thể nương nhẹ. Đó là nội dung của chuyên chính vô sản. Nhưng khi chúng nó đã vào tù thì phải coi chúng nó như người bệnh, phải chăm nom cho chúng nó khỏi bệnh, để chúng nó còn sống mà trở thành công dân lương thiện. Các đồng chí làm ăn thế nào để đến nỗi tù chết nhiều đến thế? Tôi chỉ thị các đồng chí phát động ngay một đợt thi đua trong các trại giam để giảm ngay lập tức số tử vong. Tôi nhắc lại, ta phải nhân đạo, ngay cả với kẻ thù … Các đồng chí phải quán triệt đường lối ấy.

Hai ông cấp dưới trở về, nói với cấp dưới nữa, rồi cấp dưới nữa lại nói với cấp dưới nữa. Khi nhắc lại lời ông, họ ngước mắt lên trời:

– Thánh thật! Ngồi một chỗ mà cái gì Cụ cũng biết, biết hết. Vớ vẩn với Cụ, toi có ngày!

2

Người Tù Già lắng nghe. Từ xa vẳng lại tiếng gõ chí chạt, đều đều. Cái gì thế nhỉ? A, đúng rồi – đó tiếng dao thớt. Hớn hở và hối hả. Rộn rã. Tưng bừng. Tiếng dao thớt này nghe vui lắm, phấn khởi lắm. Chắc cva phải là tiếng băm thịt, chặt xương. Không phải tiếng băm rau, không phải. Nhà bếp cái gì cũng băm, cho nó nhanh. Có lần lão đã lầm – hôm đó nhà bếp băm bí đỏ. Nhưng tiếng băm bí đỏ có khác với băm thịt. Để ý thì thấy. Nó cũng phầm phập, nhưng không khô, không gọn. Uể oải. Chậm chạp.

Chao ôi! Lão muốn vỗ trán mà reo lên vì phát hiện, nhưng tay lão yếu quá rồi, nó chỉ còn có thể vỗ được trong ý nghĩ. Lão buồn xỉu. Lão hiểu rằng lão đã mất hết ý thức về thời gian. Lão không còn phân biệt được hôm qua với hôm kia. Lão chỉ còn biết hôm nay. Lão chỉ còn biết cái hiện tại, cái bây giờ.

Ngày lại ngày trong đời tù giống hệt nhau. Thế là lẫn. Lão nhớ được hai lần trại “ăn tươi” trước đó – ngày Quốc tế Lao động Mồng Một Tháng Năm và Mồng Hai Tháng Chín. Giữa hai ngày lễ ấy chẳng có lễ nào khác.

Giờ là Tết. Tết tây cũng được bữa tươi. Nhưng Tết ta mới lớn, mới “nhoè”.

Lão mơ màng, lão hình dung những miếng thịt kho tàu màu cánh gián đẹp như được đánh véc ni, những bát canh xương bò nhuếnh nhoáng hằng hà sa số những sao nhỏ sao to trên mặt nước béo ngậy.

Thảo nào, từ buổi sáng lão đã mơ màng nghe tiếng quạ kêu. Cái giống đến là tài, chúng ngửi được mùi xác chết cách xa cả chục cây số. Thế mà lúc ấy lão đã nghĩ dại – lão nghĩ lũ quạ đánh hơi thấy mùi lão. Lão nghe có người bảo giống quạ biết ở đâu đó có súc vật chết, hoặc người chết. Chim lợn còn thính hơn. Nó còn đánh hơi được cả người sắp chết. Là bởi người sắp chết cũng bốc mùi. Cái mùi ấy mũi người không thấy được.

Lão nhếch mép. Không ai có thể bảo đó là lão cười, bởi cái nhếch mép của lão không thành. Lão đang sung sướng trong lòng. Không phải lũ quạ đánh hơi thấy mùi lão. Chúng nó đánh hơi thấy con lợn hay con bò bị làm thịt dưới kia, chỗ nhà bếp. Lão hình dung bữa tươi sắp được hưởng. Miếng mỡ căng phồng khi cắn vào mới ngon làm sao! Là lão nhớ đến miếng mỡ ở ngoài kia kia, ở cái cuộc sống bên kia bốn bức tường nhà tù kia, chứ ở đây có bao giờ được một miếng như thế. Nhưng mỡ thì ở đâu cũng vẫn là mỡ. Nước mỡ ứa ra sẽ làm cho miệng lão hết khô, lưỡi lão hết sưng tấy. Nó giống như nước mưa nhỏ xuống đất cằn.

Thịt cũng thế. Nó làm cho người ốm khỏe ra, làm cho người già trẻ lại. Chỉ mới nghĩ tới nó lão đã tỉnh hẳn, đã quên bẵng nhưng ý nghĩ đen tối về cái chết.

Lão nhớ lại bữa “ăn tươi” cuối cùng xảy ra hôm nào.

Thông thường một tháng tù được “ăn tươi” một lần. Nhưng đã ba tháng rồi chẳng được một bữa tươi nào sất. Ban giám thị cắt ăn tươi toàn trại vì một vụ trốn tù táo bạo – năm tên tù xổng cùng một lúc vào ban đêm. Ban giám thị cho rằng nhiều người biết sự chuẩn bị của vụ trốn, nhưng không chịu tố cáo.

Lão gượng quay đầu nhìn sang giường bên, nơi những con bạc đang mải mê sát phạt. Lão đã thấy chúng mà cả với nhau về giá cả bữa tươi lớn, đặc biệt, sắp tới.

– Thịt!

Đôi mắt mờ đục của lão sáng lên. Chúng thậm chí còn động đậy trong hai hốc sâu của cái sau này gọi là đầu lâu.

Cái chết giật mình. Nó đang say sưa nuốt dần con mồi, nó đã nuốt tới đầu gối, tới hông. Con mồi đã chịu tho, ngoan ngoãn và yên phận. Vậy mà đùng một cái, cái con mồi mềm oặt, đã hết sức sống, bỗng giãy giụa, đẩy nó ra bằng sức mạnh không ngờ. Cái chết ngừng nuốt, nhẹ nhàng tạm nhả miếng mồi.

Y Tá vừa trang bài vừa bực bội vừa nhìn sang giường Người Tù Già.

– Mẹ kiếp, anh giề chưa chết hử? – va hấm hứ – Đã bảo, đừng có rên! Sốt cả ruột!

Cái đầu của Người Tù Già lắc lư khe khẽ.

A, lão còn lắc đầu được kìa, Y Tá nghĩ. Lão cãi đấy. Rằng lão vẫn còn sống, lão chưa chết. Chao ôi, cái giống tù sống dai khiếp! Một bệnh nhân như thế ở ngoài đời thì đã xong từ lâu. Từ hôm kia. Hoặc tới hôm qua là cùng. Mạch gần như không còn, hơi thở mong manh. Từ giường bệnh của lão bốc lên mùi tanh tưởi. Hồi còn ở bệnh viện – va lúc đó là bác sĩ chứ không phải là Y Tá như trong cái trại khốn kiếp này – va không bao giờ đứng lâu trong phòng bệnh nhân. Va lướt qua các giường bệnh một lượt, hỏi han qua loa, rồi đi thẳng. Cuộc chạy việt dã qua các giường bệnh kết thúc bằng việc rửa ráy không với mục đích sát trùng mà chỉ cốt xua tan uế khí của phòng bệnh dính vào da thịt. Thế mà ở đây, va phải chịu đựng cái cực hình đó. Phòng dành cho Y Tá và phòng bệnh nhân thông với nhau, mùi hôi thối và tanh tưởi của phòng bệnh nhân nồng nặc. Tối đến, người ta khóa tuốt tuột cả va lẫn con bệnh của va trong trạm xá. Ít nhất thì cánh cửa liếp cũng ngăn được một phần cái mùi kinh tởm ấy.

Va từng biết ơn Người Tù Già đã giúp va khi va mới tới trại. Lúc đó va khốn khổ lắm. Lúc đó va nghĩ rồi đây va sẽ phải trả ơn lão. Thế rồi va quên bẵng. Trí nhớ của va không giữ lại ý nghĩ xa xỉ đó. Va đã học được cách sống theo luật rừng, không phải ở đây, mà từ ngoài kia. Rừng thuộc về kẻ mạnh. Kẻ nào không học được cách sống ấy, kẻ đó tiêu. Va cho Người Tù Già được nằm trạm xá không phải như một cử chỉ trả ơn. Va thấy mặt lão đã bạc ra vì bệnh. Theo lệ thường người sắp chết phải được đi qua trạm xá để đến nhà xác.

Người Tù Già lại rên. Y Tá rời mắt khỏi mấy quân bài, nguýt lão:

– Gì?

– N..ư..ơ..ớ..c! – Người Tù Già cố gắng mấp máy cặp môi nứt nẻ.

– Để người ta xong ván bài đã nào. Đang đen bỏ mẹ đây này – Y Tá quát – Đừng có ám quẻ!

– N..ư..ơ..ớ..c!

– Mẹ kiếp, “Anh giề” uống đéo gì mà lắm thế? Này, đây bảo cho mà biết: càng uống nhiều thì càng chóng chết đấy!

Nghe đến tiếng “chết” mặt Người Tù Già co rúm. Đó là nói phóng đại lên, chứ mặt lão không còn có thể co rúm thêm được nữa. Mặt lão méo xệch, đôi mắt láo liên, thất thần. Cái tiếng “chết” thốt ra từ miệng bác sĩ là bản án tử hình đọc cho bệnh nhân.

– Sợ hử? – Y Tá liếc xéo gương mặt méo xệch của lão, vừa lắc lư toàn thân vừa xoi bài – Đừng có sợ. Thằng đéo nào rồi chẳng chết. “Anh giề” chết, tôi chết, nó chết, các ông chết, chúng nó cũng chết. Chết sạch. Kẻ trước người sau, vậy thôi. Đéo có đứa nào thoát.

Y Tá ngửa mặt lên cái trần nhà xạm đen, dấu vết của những bữa sột sệt, cười hô hố.

3

Khi nhà bếp gánh cơm đến trạm xá, thì đám bài lá giải tán.

Sĩ Quan nhún chân nhảy xuống đất, khệnh khạng bước ra khoảng trống trong phòng khám. Va chống nạnh nhìn quanh, hai cánh mũi phập phồng, ngực áo phanh ra phô hình con rắn quấn người đàn bà cởi truồng, và ở bên trên là một trái tim bị tên xuyên thủng. Người đàn bà giãy giụa trong vòng xiết của con rắn khi va cử động. .

Khẩu phần ăn của Y tá ở nhà bếp, quân số của va ở đó. Va bưng bát được lĩnh riêng từ nhà bếp lên, lướt qua đám bệnh nhân đang đứng vòng trong vòng ngoài quanh mấy xoong thức ăn sắp được chia, khẽ dặn Sĩ Quan:

– Chia xong, vào ăn với tao!

– Có cay chứ?

– Nhoè!

Đấy là hai đứa nói về rượu. Y Tá đã loay hoay pha chế chất cay, vừa pha vừa huýt sáo. Đó là một hỗn hợp gồm cồn, mật mía, những viên polyvitamine vàng ươm. Từ lâu, Y Tá sát trùng ngoài da cho bệnh nhân bằng nước sôi để nguội, để dành cồn cho những cuộc nhậu nhẹt. Hội của va là vài Sĩ Quan cổ cánh, Trật tự và Thông tin.

Từ giường của Người Tù Già phát ra một tiếng rên to. Sĩ Quan quay lại, bắt gặp cái nhìn lạnh lẽo của Người Tù Già. Ấy là va có cảm giác như vậy chứ chưa chắc đã là sự thật. Va thấy đôi mắt kẻ hấp hối đang hướng về phía đám đông ồn ào chia thịt bỗng quay về phía va.

Sĩ Quan giật mình trước cái nhìn ấy. Chuyện va bao giờ cũng chiếm phần hơn trong những bữa tươi là chuyện đương nhiên. Những người tù buộc phải chia cho va phần hơn – nhiều hơn, ngon hơn. Va đã gặp những cái nhìn không thiện cảm, nhưng chưa bao giờ va gặp một cái nhìn gườm gườm lạnh lẽo như thế.

Va tiến về phía Người Tù Già.

– “Anh giề” không bằng lòng hử? – va hất hàm hỏi, nhưng không sẵng.

Người Tù Già không trả lời. Từ đôi môi xám xịt của lão phát ra một tiếng hừ, giống một tiếng rên. Lão không nói được nữa rồi.

Sĩ Quan nhẹ nhàng hỏi lại lần nữa, một thái độ không thường có ở va:

– Vậy “anh giề” muốn gì nào? Cân nhá? Hay quay mặt đặt tên?

Người Tù Già vẫn không nói, đôi mắt gắn chặt vào mặt Sĩ Quan. Cái nhìn ấy làm va bối rối. Đó là điều chưa từng xảy ra với va. Vào tù, qua nhiều trại, va không sợ một ai. Va tự tin vì va có những quả đấm thành thục. Ngày trước, va là võ sĩ quyền Anh hạng ruồi, từng lên vũ đài và giật giải vô địch đôi ba lần. Rơi xuống đáy vực xã hội va học thêm võ giang hồ. Trong môn võ không môn phái ấy cái đầu tiên cần có là máu liều. Máu ấy va không thiếu. Nhưng hôm nay va cảm thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ. Y Tá bảo lão già chẳng còn mấy nả. Lão già kia, với cái nhìn lạnh lẽo ấy, dám trả thù lắm, dám báo oán lắm, một khi lão thành ma. Đánh nhau với người thì được, đánh nhau với ma làm sao?!

Sĩ Quan đã định bụng nhận phần thịt của mình xong sẽ vào phòng Y Tá với các sĩ quan khác đang đợi va. Nhưng va thấy bữa tươi này cần được chia công bằng. Nếu va có mặt, không đứa nào dám hó hé giở trò bịp bợm. Người Tù Già sẽ được hưởng phần thịt xứng đáng.

– Quay mặt đặt tên nhá?

Va hỏi lại lần nữa, giọng hạ hẳn xuống, dịu dàng. Cái đầu lưa thưa tóc của người hấp hối khẽ cử động. Va hiểu là Người Tù Già gật đầu.

Theo hiệu lệnh câm lặng của va, người tù gày như một bộ xương biết đi liếm đầu bút chì rồi ngồi xổm xuống viết tên những người tù trong trạm xá vào mặt sau vỏ bao thuốc lá đặt trên đầu gối. Người đó viết xong thì một người tù khác cầm tờ giấy lên, quay mặt đi xướng tên người được lĩnh phần, trong khi đích thân Sĩ Quan cầm một cái thìa gõ không theo một thứ tự nào vào từng bát đã được chia. Tên ai được xướng lên trúng vào bát nào thì người có tên nhận bát đó.

Sĩ Quan tự tay bưng bát thịt đến bên giường Người Tù Già, đặt xuống bên cạnh ông

– “Anh giề” ơi, phần Tết của ông anh đây – va nói bằng giọng ngọt ngào và vụng về – tôi bỏ thêm vào cho “anh giề”một miếng phần của tôi nữa đấy, đấy miếng này này. Thế nào, “anh giề” bằng lòng chứ? Phần của “anh giề” không lẫn miếng sụn miếng xương nào đâu, “anh giề” ăn cho khỏe!

Đầu của Người Tù Già đụng đậy, Sĩ Quan hiểu là lão gật, lão hài lòng.

Rồi hạ giọng, va ghé sát vào tai lão thì thầm:

– Nói dại, “anh giề” có đi ngay hôm nay hay ngày mai thì chớ quên phù hộ cho thằng này nhé! Chớ quên rằng thằng này đã tử tế với ông anh.

Va bưng bát thịt của va quay vào phòng trong, ở đó Y Tá đang trịnh trọng rót thứ nước thánh do va chế tạo vào mấy cái chén nhỏ trước những cặp mắt hau háu.

4

Mấy anh tù tự giác đi làm về rẽ qua trạm xá xin thuốc đỏ vừa hút thuốc lá cuốn vừa lắng nghe Y Tá hào hứng kể về những phút cuối cùng của ông lão:

– Cái bát để bên cạnh, ngay chỗ này này, các đằng ấy ạ. “Anh giề” nhà mình thấy cái bát là cố gượng quay đầu lại. Bữa tươi “dầm ”, thịt rang mặn thơm đéo chịu được. Nhưng đến lúc ấy thì “anh giề” hết ngồi lên được rồi. Chết ấy à, chúng mày phải biết, bao giờ cũng phải từ chân lên đầu, ngược lại là không có. Tớ nghe tiếng “anh giề” ú ớ. Chắc lão muốn gọi đứa nào đỡ lão ngồi lên, nhưng lưỡi lão cứng rồi…

Người Tù Già nằm trên giường. Nằm im lặng. Mặt lão xám lại trong vẻ bất cần, trong một vẻ trịnh trọng không nguyên cớ. Trên người lão là tấm chăn rách của trại, phủ ngay ngắn, tấm chăn sợi Nam Định không biết đã được dùng cho bao nhiêu kiếp tù.

– Lão ú ớ một hồi, rồi im bặt, các đằng ấy ạ. Mẹ kiếp, tớ lại ngỡ “anh giề” rên. Mấy hôm nay lão rên suốt ấy mà. Nhưng tớ mặc. Cứ thấy rên mà chạy lại, có mà chạy cả đêm. Ấy vậy, tớ mặc cho lão rên, định bụng ăn xong sẽ cho lão một ống dầu long não. Đã đến nước ấy trời cũng không cứu nổi, dầu long não cứu thế đéo nào được. Nhưng lệ trong nghề tớ là thế, chúng mày ạ – gì thì gì cũng phải cho người hấp hối một mũi tiêm làm phúc. Người không biết thì bảo nó là thuốc hồi dương. Long não chỉ làm cho cái xác sắp chết ấm lên một tẹo thôi. Ra cái vẻ còn nước còn tát ấy mà, chứ ăn thua đếch gì…

– Thế là “anh giề” đi luôn?

Y tá khịt mũi ra chiều khinh bỉ:

– Đi là thế đéo nào? Giống tù là sống dai nhất hạng.

Tỉnh Trưởng lệt xệt đến bên giường người chết. Lão gày tong teo, già nhất trong những người tù già trong toàn trại, mặt nhăn nheo như một quả bưởi héo, nổi tiếng có học nhất trong cộng đồng tù, nhưng ít lời đến nỗi tưởng như câm. Không biết vì lý do gì, nhưng lão cũng được Ban giám thị cho nằm trạm xá từ đời y tá trước. Cái sự được ở trạm xá lâu như thế làm cho lão trở thành có giá, biết đâu tổ con chuồn chuồn, có khi lão có họ hàng hang hốc với ông kễnh nào trong các quan ở Cục hay ở Bộ chửa biết chừng.

Y Tá hằn học nhìn Tỉnh Trưởng. Va coi Tỉnh Trưởng là kẻ làm mất đi một suất trạm xá, suất ấy va có thể “chác” với những người tù khác, nhưng gã e dè không dám xử tệ với Tỉnh Trưởng. Tỉnh Trưởng tlà bạn thiết của Người Tù Già từ những năm cả hai chưa phải nằm trạm xá. Người ta thường thấy bắt gặp họ im lặng ngồi bên nhau sưởi nắng.

Đứng bên người chết, Tỉnh Trưởng nghiêng đầu ngắm nghía bạn mình như thể người ngắm tranh.

– Này, tẩn ngẩn tần ngần làm gì ở đây đấy? – Y Tá nói với Tỉnh Trưởng bằng giọng nhẹ nhàng – Anh giề ạ, rồi anh cũng thế thôi. Chẳng lâu nữa đâu.

Tỉnh Trưởng không nghe thấy câu nói của Y Tá, hoặc làm bộ không nghe thấy. Lão tỉ mẩn xếp lại cái chăn phủ xác chết cho ngay ngắn.

– Tớ tiêm cho “anh giề”một phát long não là “anh giề” hồi lại liền – Y Tá quay lại với câu chuyện – Cứ như thuốc tiên í. Vừa hồi lại là “anh giề” đã cuống lên, ú ớ một chập, mà ú ớ rõ to nhá! Tớ đồ rằng “anh giề” muốn lạy van tớ cứu lão…

– Có khi ông ấy muốn trối trăng điều gì… – Tỉnh Trưởng nói khẽ, như nói một mình.

– Anh bảo sao? Trối trăng à? “Anh giề” ấy thì có cái đéo gì mà trối với trăng chứ. Đừng nói leo! Ra ngoài kia! – Sĩ Quan quát – Tôi bảo anh ra ngoài kia. Tắp lự.

Tỉnh Trưởng lẳng lặng trôi ra ngoài trạm xá như một cái bóng. Lão ngồi bệt xuống đất bên bức vách, úp mặt vào hai bàn tay. Đôi vai gày của lão rung lên từng chập.

– Mặc lão – Y Tá can Sĩ Quan, kể tiếp – Ăn xong, tớ mới ra xem “anh giề” của tớ thế nào rồi, thì cha mẹ ơi, lão đã chống tay trái nhỏm dậy được, tay phải cầm đôi đũa…

– Thánh thật! – một người tù bình luận – Lão nằm liệt từ hôm qua rồi mà.

– Thế mà “anh giề” lại tỉnh, lại nhấc được tay, mới thánh chứ. Từ trước đến nay, các cậu biết, tớ mà đã phán thằng nào mà tớ chịu không chữa được nữa, thì y như rằng thằng ấy ngỏm củ tỏi. Đã tưởng lần này mình sai bét.

– “Anh giề” ghê thật. Chết đi sống lại mấy lần rồi đấy.

– Đéo phải. Tớ không sai. Tớ vẫn đúng. Tớ thấy “anh giề” giơ đôi đũa về phía bát thịt, bàn tay “anh giề” run run, cuối cùng rồi đôi đũa cũng chạm được vào thành bát nghe đánh cóc một cái. Nhưng chỉ đến đấy thôi. Đến lúc “anh giề” run run gắp được một miếng thì hức, “anh giề” nấc lên một tiếng, cả người lão vagiật lên bẳn bặt ….

– Xong phim?

– Xong! – Y tá gật, xác nhận.

– Không thêm một tiếng nào?

– Không. “Anh giề” ngã vật ra, đầu ngoẹo sang một bên. – Y Tá nói – Đéo mẹ, tớ mà đã phán là trúng phóc. Có điều “anh giề” sống dai khủng khiếp. Người khác thì đã ngỏm củ tỏi từ lâu…

– Gắp miếng thịt lên mà không ăn được, cái số con người ta sao mà khốn nạn! – một người chép miệng, lắc đầu – Đúng là nhất ẩm nhất trác giai do tiền định.

– Có cái gì khốn nạn hơn là số phận con người?!!

Người ngồi bên đế thêm và đưa cái điếu cày lên.

– Thế là đéo cần lệnh tha nữa.

Tiếng rít thuốc vang giòn giã.

5

Người Tù Già được chôn chiều hôm đó.

Không người viếng, không tiếng khóc, không vòng hoa. Đám ma tù là thế.

Khi buổi điểm danh lần thứ hai trong ngày kết thúc, tù đã được lùa vào trong các phòng giam, cửa đã được khóa lại, thì mọi thủ tục cho sự ra đi vĩnh viễn của Người Tù Già bắt đầu.

Các bậc chức việc từ khu nhà Ban giám thị ở ngoài trại lục tục mang hồ sơ đến, lấy dấu tay xác chết, đối chiếu mặt xác chết với ảnh trong hồ sơ, lần lượt ký tên vào biên bản. Cái chết như thế mới được coi là hoàn tất.

Lệnh mai táng được phát.

Tổ mai táng gồm bốn người lẻo khoẻo hì hục đặt Người Tù Già nằm vào chiếc áo quan chật chội do đội mộc đóng bằng sáu tấm ván tiết kiệm, mỏng và cong vênh, rồi đóng nắp lại. Tiếng đinh đóng lên ván thiên kêu chan chát. Cái tiếng chan chát ấy chui vào trong các phòng làm cho những người tù lặng đi đúng một phút, như thể họ mặc niệm bạn tù vừa qua đời. Sau đúng phút ấy, phòng nào phòng nấy lại ồn ào như tổ ong.

Luồn hai sợi chão vào đáy, bốn người nọ gánh Người Tù Già ra nghĩa địa.

Theo mệnh lệnh của Sĩ Quan, được phát ra với vẻ mặt nghiêm trang, đội mai táng đặt cái bát sắt tráng men cóc gặm đựng suất thịt của Người Tù Già vào quan tài, bên cạnh ông lão. Bình thường, không ai để phí của giời như thế. Bát thịt – tức là cả cái bát, cả thịt bên trong – sẽ thuộc về một người nào đó, là bạn thân của kẻ xấu số, hoặc một tên “vét đĩa”. Hàng ngũ sĩ quan và “đầu gấu” không bao giờ đụng đến đồ của người chết.

Mệnh lệnh của Sĩ Quan làm mọi người ngạc nhiên. Chưa bao giờ Sĩ Quan ra một lệnh tương tự. Không ai biết rằng va tin Người Tù Già chết vào chính Ngọ sẽ thiêng lắm. Nếu linh hồn Người Tù Già biết va đối tốt với ông ta, va sẽ được lão đền đáp.

Trong trại không có đội mai táng chuyên nghiệp.

Không kể những trận dịch, không phải ngày nào cũng có tù chết, thành thử gọi là đội mai táng cho bảnh, chứ khi nào có người chết thì cán bộ mới gọi người đi chôn.

Người được phân công chôn người chết nhiều lần nghiễm nhiên họp thành đội.

Mỗi lần chôn tù chết, đội được bồi dưỡng một yến sắn, cho dù công việc không vất vả. Đó là mấy người được Ban giám thị đặc biệt tín nhiệm. Tín nhiệm ở đây có nghĩa là người làm việc ấy không lợi dụng cơ hội để trốn trại. Đối với những người được tín nhiệm thì lính áp giải phó mặc họ làm, làm xong tự về. Đi khỏi trại một quãng lính áp giải phẩy tay cho bốn người khiêng áo quan đi, còn tự mình rẽ vào xóm dân ở gần đấy để tán gái, hoặc để mua bán đổi chác.

Khi đám ma ra khỏi cổng trại thì ánh mặt trời đọng trong thung lũng bắt đầu nhạt. Mùa đông, trong lòng chảo lọt thỏm giữa vòng vây của những ngọn núi cao núi thấp ban đêm lạnh thấu xương, nhưng ban ngày thì oi bức. Thứ khí hậu khắc nghiệt này làm cho người ta bao giờ cũng ở trong tâm trạng bực dọc. Những người tù nghe thấy những người coi tù văng tục, không phải một lần:

– Mẹ kiếp, ở cái nơi này mình với thằng tù có khác chó gì nhau!

Tu Sĩ đi đòn trước thở hồng hộc. Lúc qua cổng trại, va lao ào ào, kéo cả bốn người phải lao theo. Va đặc biệt dị ứng với cái cổng trại. Cứ mỗi khi đi qua vòm cổng là va đi thật nhanh, dường như cái cổng đè nặng lên va, rằng nó mới là biểu tượng của sự giam giữ đích thực, mới là nhà tù, chứ không phải phòng giam nơi va ở, không phải khu trại có tường xây bao bọc và dây thép gai bịt bùng mắc trên.

– Này Cha, từ từ chứ nào. Đéo gì mà như ma đuổi thế?

Tên Giết Người càu nhàu. Va bao giờ cũng giữ được dáng nhàn tản. Nhàn tản làm, Nhàn tản ăn. Tưởng chừng khi va giết người đàn bà ở cái ga hẻo lánh để cướp có một cái tay nải không biết trong có gì, va cũng ung dung như thế – rút búa ra, nhằm cẩn thận, rồi bổ một nhát duy nhất. Người nghe hình dung ra cảnh giết người đúng như vậy khi va bình thản kể lại trường hợp phạm tội, vừa kể vừa nhấm nháp từng ngụm trà nóng bỏng.

Tu Sĩ bao giờ cũng nghe lời Tên Giết Người, không dám cãi. Và tránh xa va lúc nào có thể tránh xa. Tu Sĩ sợ va, có vẻ là như thế. Hoặc ít nhất thì cũng rất nể va, như Nhà Báo kết luận. Tu Sĩ bị bắt trong một lần giảng đạo “chui”, trong một bản miền núi. Tội giảng đạo “chui” bị “quả tớm ” đại loại cũng như tội buôn lậu bị bắt với đầy đủ tang chứng, không thể tha. Khác nhau ở chỗ, tên buôn lậu được đưa ra toà xử, có án, còn người giảng đạo chui thì bị “boọp”, tức là “tập trung cải tạo”, thứ tù không biết ngày về.

Nhà Báo, cùng đòn khiêng với Tu Sĩ, thở dài. Trong lòng, va không ưa Tu Sĩ, không ưa cái gọi là đức “khiêm nhường chịu luỵ” của Tu Sĩ. Va là kẻ vô thần. Trong đầu va chỉ có chủ nghĩa duy vật, kết quả của một nền giáo dục duy nhất va được hưởng. Va coi khinh cái cách lý giải mọi sự đời kiểu “Một sợi tóc rơi xuống cũng không ngoài ý Chúa” của tín đồ Thiên Chúa giáo.

Vào tù Nhà Báo mới có dịp thấu hiểu cái xã hội trong đó va phải sống sở dĩ cứ nhơn nhơn tồn tại chính là nhờ thứ “khiêm nhường chịu luỵ” ấy, nơi thay vào Chúa là Đảng và Nhà nước. Nhưng cái lý thuyết lởm khởm nọ một khi đã chui sâu vào đầu va thì cứ ở lì đấy để bắt va suy nghĩ theo cách nó biện giải sự đời. Va không thể hiểu được vì sao con người rất mực hiền lành như Tu Sĩ lại có thể rơi vào sự khốn khó này? Ờ thì chính quyền vô thần không ưa bất cứ tôn giáo nào, nhưng ngoài mặt nó tỏ ra không ngăn cấm tự do tín ngưỡng. Nó chỉ tìm đủ cách không cho các tôn giáo tranh giành địa vị kẻ cai trị về mặt tinh thần với nó mà thôi. Va khác, va có tội thật, vì va đã dám vượt rào phát biểu những ý nghĩ phạm thượng với những kẻ luôn khuyến khích va sử dụng quyền dân chủ để xây dựng đất nước. Chính những kẻ đó đưa va đi tù.

Tu Sĩ ít nói, va giấu giếm làm dấu thánh, giấu giếm đọc kinh vào ban đêm, khi mọi người ngủ say. Những người tù Thiên Chúa giáo kính trọng va. Một lời của Tu Sĩ nói ra được họ coi như một lời của bề trên mà họ phải nghe theo. Qua lời kể của họ, Nhà Báo biết rằng chỉ còn thiếu một chức thánh nữa là Tu Sĩ thành linh mục. Có lẽ vì thế mà những người ngoại giáo trêu chọc gọi Tu Sĩ bằng Cha. Tu Sĩ cam chịu mọi sự trêu chọc và trên gương mặt bất động của va tỏa ra một ánh hạnh phúc, hoặc chí ít cũng là niềm vui từ sự cam chịu đó.

– Này Cha, Cha có nghiệm thấy người chết nặng hơn người sống không? – Nhà Báo bâng quơ hỏi Tu Sĩ – Nói ví thử như lão này, gày như cá mắm, thế mà bây giờ thì nặng chình chịch.

– Cái đó không có lý – Tu Sĩ trả lời – Trọng lượng con người ta lúc sống thế nào thì lúc chết thế vậy.

– Thế thì trong trường hợp này phải có hai thứ trọng lượng, thưa Cha: trọng lượng tuyệt đối và trọng lượng cảm tính. Chính cái chết đã sinh ra cảm giác người chết nặng hơn lúc còn sống

Nhà Báo nói và ngẩng đầu nhìn bầu trời hoàng hôn sơn cước, thứ hoàng hôn cô tịch màu lam ngả sang màu tím. Sương mù trong thung lũng không bao giờ đọng lại dưới lòng chảo lúc hoàng hôn. Chỉ lúc ấy không khí mới có màu hổ phách trong vắt. Mải nhìn trời, va vấp phải hòn đá trồi lên trên mặt đường làm cho cái quan tài nhao đi cùng với cái vấp của va, và từ trong áo quan vẳng ra một tiếng nấc, hoặc một tiếng ợ.

– Cha mẹ ơi, ông ấy còn sống!

Tên Cắp Vặt, trẻ tuổi nhất trong đội mai táng quăng vội cây đòn, nhảy phắt sang một bên. Mặt va trắng bệch. Cái quan tài giộng xuống đường đánh cái kịch, đổ nghiêng. Nghe rõ tiếng xác chết va lục cục vào thành áo quan.

6

Bốn người tù bắt đầu đào huyệt. Trên nghĩa địa tù không có lấy một ngọn gió. Tu Sĩ bắt mệt nhanh hơn ba người còn lại. Mồ hôi chảy thành dòng trên mặt va, mặc dầu khi nắng vừa tắt thì cái lạnh bắt đầu ào ạt dâng lên.

Nhà Báo trầm tư xúc từng xẻng một.

– Cha không cần phải vội – Nhà Báo nhìn Tu Sĩ đang chăm chú đào huyệt – Nghĩa địa không phải bến ô tô. Đã đến đây rồi không ai lỡ chuyến hết.

Tu Sĩ đưa cánh tay quệt mồ hôi trên trán. Trong tầm mắt của va là một vùng nhấp nhô mả lớn mả bé, mả cũ mả mới. Khi Tu Sĩ được đưa tới đây, ba năm trước, nghĩa địa tù chỉ là một mảnh vườn đầy cỏ gà, cỏ xước và những bụi chó đẻ.

– Làm nhanh rồi còn về – Tu Sĩ nói.

– Tôi không vội, thưa Cha – Nhà Báo nói – Tôi không có nhà để mà về. Ở đây, giữa thiên nhiên, tôi thanh thản. Tôi muốn kéo dài thời gian thanh thản này.

– Thôi đi mày – Tên Giết Người gắt – đừng tán dóc. Ta sắp được một bữa sắn nhoè, thanh thản là cái đéo gì.

Nhà Báo nhổ bọt vào lòng bàn tay để cầm cán xẻng cho đỡ rát, lẳng lặng xục lưỡi xẻng vào đất bán sơn địa lổn nhổn sỏi vụn và đá son.

– Mày không thấy lão Tỉnh Trưởng à? Mặt lão bệch ra rồi. Chẳng còn được mấy nả đâu. Lão sẽ đi trước. Sau mới đến lượt thằng Ngựa Điên.

Tên Giết Người thích gọi Nhà Báo bằng “mày” để nhấn mạnh tính chất bình đẳng giữa va và Nhà Báo, thứ bình đẳng chỉ nhờ nhà tù mà có. Ở ngoài đời va chưa từng gặp một nhà báo nào, đừng nói tới chuyện được ngồi ăn cùng, được vỗ vai, được văng tục, được mày tao chi tớ thoải mái với một thằng trí thức như thế.

Nhà Báo trong thâm tâm không thừa nhận sự bình đẳng ấy, va cảm thấy khó chịu, va còn buồn nữa, gọi là tủi thân thì đúng hơn, nhưng va không phản đối. Trong tù cần phải biết chấp nhận mọi điều bất bình thường, phải biết coi tất tật mọi sự là lẽ đương nhiên

Nhà Báo lắc đầu:

– Tỉnh Trưởng còn trụ được lâu.

– Cuộc nào, tao bảo nội trong tuần này là va xong phim – Tên Giết Người hất hàm – Hai suất cơm, chịu không?

– Đừng cuộc – Tu Sĩ khuyên Nhà Báo – Ông ấy nói đúng đấy.

– Tại sao?

– Tôi đã nhìn thấy bóng Thần Chết trên mặt Tỉnh Trưởng.

– Thế còn Ngựa Điên? Cha bảo sao? – Nhà Báo hỏi lại.

– Anh ấy thì đúng là còn lâu.

Tên Giết Người cười lớn. Va không biết kết luận thành lời những ý nghĩ, nhất là những cảm xúc của va.

Ngựa Điên là kẻ mà Tên Giết Người ghét cay ghét đắng. Sự có mặt của Ngựa Điên làm lu mờ danh tiếng của va. Cái tên Ngựa Điên sở dĩ có là do những cái răng cửa dài hơn bình thường và cặp mắt long sòng sọc của người tù mang án chung thân vì tội giết người. Những người tù kính trọng Ngựa Điên vì va giết người chỉ để trả thù cho người cha bị bức tử trong cải cách ruộng đất. Viênquan toà xử cha va về sau giàu sụ, Ngựa Điên hạ sát kẻ thù xong thì chỉ cắt thủ cấp mang về, tịnh không động đến chút gì gọi là của cải. Đặt thủ cấp kẻ thù lên ban thờ cha xong, va xách mã tấu lên đồn Công an đầu thú.

Dọc đường, Tên Cắp Vặt im lặng, không tham gia chuyện người lớn. Bé người, nhưng va có thâm niên tù cao nhất so với các bạn trong đội mai táng. Va vào tù từ lúc còn bị cưỡng bức học trường Phổ thông Công nông nghiệp, thực ra là một hình thức giam giữ thiếu niên hư hỏng. Va bị đưa lên trại sau khi ngủ với một cô giáo ở trường làm cho cô ta có mang.

Cái huyệt được đào xong.

Nhà Báo ngồi lên cán xẻng, bên cạnh quan tài Người Tù Già, nhàn nhã đánh diêm châm điếu thuốc vê. Mấy người kia cũng hút, kể cả Tu Sĩ. Bốn làn khói khét lẹt bay lên trên nền núi xa đã sẫm hơn trên nền trời về tối. Hoàng hôn ở đây bắt đầu sớm nhưng trôi đi rất chậm. Trời mỗi lúc mỗi lạnh.

Tên Giết Người bấm Tên Cắp Vặt, hai đứa lảng ra xa. Ở đó chúng thì thào với nhau, thỉnh thoảng lại liếc về phía Tu Sĩ và Nhà Báo.

Nhà Báo, bằng con mắt nghề nghiệp, đoán chúng đang bàn chuyện gì đen tối. Va theo dõi hai đứa theo thói quen, vì tò mò, chứ mọi âm mưu, mọi thủ đoạn của những người bạn tù đủ mọi loại, đối với va chẳng có nghĩa lý gì. Va đứng trên, đứng xa mọi sự, dửng dưng với mọi sự. Với bộ lạc tù, va được coi là vô hại. Một người dửng dưng với sự đời không bao giờ làm ăng-ten .

Tên Giết Người quay lại bên huyệt, lạnh lùng nói :

– Thưa Cha, xin Cha vui lòng đi ra đàng kia… Một lát thôi. Và quay mặt đi cho con nhờ.

Tu Sĩ không nói không rằng đi ra xa, ở đó va đứng yên như tượng, nhìn lên trời.

– Còn mày nữa, Nhà Báo, mày cũng ra đàng kia. Và quay mặt đi.

– Các anh định làm gì vậy? – Tu Sĩ quay mặt lại, hỏi.

– Cái đó không liên quan đến Cha. Đi xa nữa đi.

Tu Sĩ lẳng lặng bước xa thêm. Va ngắm nghía những đám mây bay chậm trên đỉnh núi cao nhất, lấp lánh màu sắc xà cừ. Những màu sắc thay đổi rất nhanh. Tu Sĩ bất giác nhớ đến những hoàng hôn biển ở quê mình và thở dài. Cuộc đời bên ngoài tù ngục dù sao vẫn đẹp, va sẵn sàng chịu đựng mọi khốn khó Chúa trao.

Nhà Báo cười gượng gạo :

– Tao thì xem được chứ? Vì tò mò thôi.

– Tùy! Nếu mày muốn – Tên Giết Người buông xõng và cầm lấy cái xẻng.

Đôi vai Tu Sĩ giật lên khi nghe tiếng két kéo dài của tấm ván thiên được cậy lên.

– Mày tin là ở trong áo bông? – Tên Giết Người hỏi.

– Người ta bảo thế – Tên Cắp Vặt đáp khẽ.

Tên Giết Người ra lệnh:

– Được. Bây giờ dựng nó dậy.

Tên Cắp Vặt lùi lại, mặt tái mét.

– Em sợ!

– Đồ hèn! – Tên Giết Người cười và nhổ bọt – Quá hèn.

Tên Cắp Vặt xua tay:

– Chớ! Chớ nhổ bọt.

– Thì sao?

– Kiêng đấy.

Tên Giết Người ném cho Tên Cắp Vặt một cái lườm bỏng rẫy rồi xoạc cẳng đứng trên đầu áo quan nhìn xuống.

Va ngạc nhiên thấy sắc mặt Người Tù Già không xám ngoét như lúc nhập quan, mà bỗng có chút hồng. Cái đó có thể do ánh sáng của mặt trời đã lặn phản chiếu từ đám mây trên trời cao mà ra.

Tên Giết Người nhớ đến chuyện một người tù đã đem chôn mà sống lại, bật ván thiên vùng ra khỏi huyệt để lần về trại. Va tát vào má Người Tù Già mấy cái xem lão có phản ứng gì không, nhưng lão nằm yên.

– Đừng, ông – Tên Cắp Vặt nói, giọng van vỉ – Đừng làm thế.

Đáp lại, Tên Giết Người cười khẩy. Va nắm lấy hai vai xác chết, giật mạnh. Xác chết bật dậy, đứng dựa vào ngực Tên Giết Người. Va, một tay đỡ xác chết cho nó khỏi đổ, tay kia lục lọi quần áo người chết.

Nhà Báo nhìn thấy cằm của Người Tù Già tựa vào vai Tên Giết Người, trên gương mặt bất động của xác chết đôi mắt hé mở, lờ đờ.

– Chẳng có chó gì hết – Tên Giết Người càu nhàu – Mày nói thế nào ấy…

– Hay là ở trong áo bông? – Tên Cắp Vặt lí nhí.

– Đưa tao con dao.

Tên Cắp Vặt đưa cho Tên Giết Người con dao to bằng đốt ngón tay làm bằng sắt đai thùng. Roạt, roạt. Tên Giết Người rạch mấy đường làm cho bông gòn trong áo bay loạn lên trong gió.

– Đéo có chó gì hết – va càu nhàu.

– Có khi ông ấy giấu trong quần lót, ông ạ – Tên Cắp Vặt lùi ra xa, mặt xám không kém gì mặt xác chết – Ông “loại” kỹ xem.

– Lại đây, đồ vô tích sự!

Nghe va gọi, Tên Cắp Vặt không những không đến gần mà còn lùi thêm vài bước.

– Lại đây! – Tên Giết Người gắt – Sao mày nhát thế?

Nhưng vô hiệu, Tên Cắp Vặt trợn mắt, cái nhìn dán chặt vào bộ mặt bất động của xác chết.

Nhà Báo nhếch mép, nhưng không cười. Cảnh tượng ấy chẳng thích hợp với nụ cười nào.

– Thôi, mày – Nhà Báo phẩy tay – Chôn đi, rồi còn về.

Ngoái cổ lại, va nhìn thấy Tên Giết Người và Người Tù Già vẫn đứng tựa vào nhau. Hệt như Tên Giết Người đang vuốt ve Người Tù Già và đang thủ thỉ với lão.

– Họ vẫn chưa xong hả? – không quay mặt lại, Tu Sĩ hỏi vọng lại.

– Chưa.

Cảnh tượng Tên Giết Người lục soát xác chết làm cho Nhà Báo thấy trong lòng mình sôi lên một nỗi giận dữ khó hiểu.

Và chẳng biết làm gì với nó, va bước mấy bước về phía Tu Sĩ.

– Này Cha – va nói – Cha tin là có Chúa?

– Tôi hằng tin ở Người – Tu Sĩ đáp, mặt nghiêm trang.

– Vậy thì Chúa ở đâu?

– Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa thông biết mọi sự.

– Cả ở đây nữa chứ thưa Cha, – Nhà Báo mai mỉa – Trong cái chốn chúng ta đang ở này này?

– Trong cả chốn này.

– Thật sao?

– Và cả trong ta – Tu Sĩ nhấc tay làm dấu

– Và Chúa công bằng? – Nhà Báo gặng.

Tu Sĩ vẫn nghiêm trang:

– Không ai công bằng hơn Chúa.

Nhà Báo phá lên cười. Tiếng cười ngạo nghễ của va bay xa, đập vào vách núi rồi lại vẳng lại “ha..ha..ha..ha.. ha …a..a…”!

Khi tiếng cười yếu dần rơi xuống ở đâu đó trong những lùm cây đã biến thành những khối đen, Nhà Báo nghe tiếng một vật nặng đập vào gỗ. Va đoán Tên Giết Người đã xong việc, vừa ném Người Tù Già trở lại áo quan.

– Cho mày! – Nhà Báo nghe thấy Tên Giết Người nói.

– Không. Cháu cảm ơn ông.

– Sao? Mày chê ít à?

– Không! Cháu không lấy đâu.

– Mày sợ hả?

Tên Cắp Vặt lắp bắp:

– Cháu thấy… cháu thấy…

– Thấy cái gì?

-… Ông ấy lườm cháu. Tại cháu đầu têu…

Tên Giết Người ngửa mặt lên trời mà cười to.

– Mày không lấy, tao lấy. Tao cóc sợ con khỉ khô nào hết.

Rồi chợt nghĩ ra điều gì, va cúi xuống nhặt cái bát sắt tráng men mà thịt ở trong đã đổ tung toé ra áo quan khi nó bị rơi xuống trên đường.

– Cái bát còn tốt – Tên Giết Người ngắm nghía cái bát rồi nói – Cho mày đấy.

– Không! – Tên Cắp Vặt rền rĩ – Không. Cháu không lấy đâu.

– Thế thì tao cho mày một cái bạt tai – Tên Giết Người quát – Có lấy không? Này đây!

Vang lên một tiếng bốp, rồi tiếng Tên Cắp Vặt nấc lên, không rõ vì đau hay vì sợ.

Tên Giết Người đóng nắp áo quan. Tấm ván thiên xô sang một bên, để lộ nửa mặt người chết, khi bốn người lặng lẽ thòng dây chão vào dưới áo quan để thả nó xuống lỗ huyệt đen ngòm. Chẳng nói chẳng rằng, họ xúc đất đổ xuống cho đến khi nó được lấp đầy. Tu Sĩ là người cuối cùng còn làm việc sau khi ba người kia đã ngồi nghỉ.

Khi nấm mồ đã được Tu Sĩ đắp xong lùm lùm cho ra vẻ một nấm mồ, Tên Cắp Vặt đứng dậy, chạy hộc tốc về phía con suối ở đầu kia của nghĩa địa, từ đó va lặc lè vác một tảng đá đi về phía ba người đứng đợi. Tảng đá nặng làm va thở dốc. Va liếc nhìn Nhà Báo và Tu Sĩ rồi nhẹ nhàng đặt tảng đá xuống đầu nấm mộ. Đoạn lấy tay vun đất chung quanh cho cao thêm.

“Món hối lộ của một lương tâm khiếp đảm”, Nhà Báo nghĩ.

Bốn người tù ra về.

Ngày hết.

Khi họ xuống suối rửa chân tay, Nhà Báo cà khịa với Tu Sĩ :

– Nếu có Chúa và Chúa là công bằng thì ít nhất cũng phải để cho ông lão tội nghiệp nọ ăn xong bữa tươi hôm nay đã… Chúa toàn năng trong trường hợp này còn nhẫn tâm hơn cả người thế tục.

– Lạy Chúa tôi lòng lành! – Tu Sĩ sợ hãi kêu lên.

– Ít nhất thì Chúa cũng phải làm một điều gì đó cho con người bất hạnh ấy chứ, phải không? Nếu không, Chúa sao còn là Chúa?

Tu Sĩ rùng mình trước lời nói báng bổ của Nhà Báo, lẳng lặng ngước mắt lên trời, thành kính làm làm dấu thánh.

– Caeli enarrant gloriam Dei !

Bầu trời đêm chết lặng trước mắt va. Những tầng trời sáng danh Chúa.

Tu Sĩ lẩm bẩm và thở dài não nuột.

1979

TỪ MỘT ĐỨA TRẺ BỊ BỞ RƠI TRỞ THÀNH ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI HOA KỲ VÀ GIỜ ĐÂY CHUẨN BỊ TIẾN CHỨC LINH MỤC

TỪ MỘT ĐỨA TRẺ BỊ BỞ RƠI TRỞ THÀNH ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI HOA KỲ VÀ GIỜ ĐÂY CHUẨN BỊ TIẾN CHỨC LINH MỤC

Cameron Song Sellers từng là đại tá trong Quân đội Hoa Kỳ, từng tham chiến tại Afghanistan, Bosnia và Iraq, và tại chiến trường này nhờ gương sáng của một tuyên úy quân đội mà anh quyết định từ bỏ mọi thứ để trở thành một Linh mục.

Năm nay Cameron Song Sellers 50 tuổi, anh sinh năm 1968 ở Hàn Quốc và hiện đang chuẩn bị tiến chức Linh mục tại Giáo phận California, Hoa Kỳ. Tại chiến trường Trung Đông, anh đã ấn tượng về việc mục vụ của cha tuyên úy quân đội và anh muốn trở nên Linh mục như ngài.

Sau Chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953, Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Hậu quả là nhiều bà mẹ đã bỏ rơi đứa con mình và anh Sellers là điển hình. Mẹ anh đã bỏ anh trong một con hẻm khi anh mới ba tuổi.

Anh kể về bản thân như sau: “Tôi không biết làm thế nào người ta gặp được tôi, và họ đưa tôi vào bệnh viện sơ cứu. Sau đó, một bác sĩ đưa tôi cho một người ở Mỹ nhận làm con nuôi. Và tôi đã lớn lên ở đất nước này”.

Cha mẹ nuôi của anh là những người theo Tin Lành nhưng tuổi thơ của anh cũng không tha thiết gì với tôn giáo. Anh chia sẻ: “Tôi biết mình lớn lên trong gia đình Tin Lành, nhưng tôi ghét Giáo hội.”

Nhưng rồi Chúa có những đường lối đặc biệt của Ngài dành cho anh. Anh quen bạn học ở trường Công Giáo và người bạn này nói rằng anh không biết về giáo lý Công Giáo.” Điều ấy đã thách đố anh và anh bắt đầu tìm hiểu về Giáo lý.

Anh chia sẻ như sau: “Thiên Chúa đã có một kế hoạch cho tôi. Tôi nghĩ Ngài đã sắp xếp mọi sự trong đời tôi, để tôi được nuôi dạy và lớn lên trong một gia đình có tôn giáo.”

Sau khi tốt nghiệp đại học, Cameron gia nhập quân đội và phục vụ tại Bosnia, Afghanistan và Iraq. Anh là một binh lính tốt và được thăng cấp đại tá.”

Trong thời gian ở trong quân đội vào những thời điểm khó khăn, khủng hoảng, anh được các cha tuyên úy quân cho những lời khuyên bảo và bài giảng thấm thía.

Anh bồi hồi nhớ lại: “Âm nhạc, bài giảng, đã làm tôi rơi nước mắt vì nó đem lại sự bình an trong tâm hồn. Trong những khoảnh khắc khó khăn, bạn mới biết chúng quan trọng như thế nào.”

Sau khi rời quân đội Sellers sống tại California và anh quyết định vào chủng viện đi tu. Và Tổng giáo phận San Francisco đã đón tiếp anh, người cựu chiến binh trở về từ chiến trường.

Giờ đây khi chuẩn bị tiến đến chức Linh mục, anh mạnh mẽ chia sẻ: “Có hai điều thực sự tôi dấn thân, tin tưởng và nói tiếng “Xin Vâng” đến cùng: Một là, ‘Bạn có dám sống chết với sứ vụ Linh mục không?’ Câu trả lời là ‘có’. Và điều thứ hai là, ‘Bạn có tin vào các Bí tích không?’ Câu trả lời vẫn lại là ‘có’.

Cuối cùng vị tân Linh mục chia sẻ: “Tôi đã nhìn thấy cách thức mà các Bí Tích đã thực sự chữa lành cho tôi, và tôi cũng mang sự chữa lành này đến cho tha nhân.”

Gx. Cần Giờ – DCCT

May be an image of 1 person

Hối tiếc muộn màng vì chần chừ tiêm chủng Vaccine

Hối tiếc muộn màng vì chần chừ tiêm chủng Vaccine

Hiện nay, vẫn còn trung bình khoảng trên dưới 400 ca tử vong vì Covid-19 được báo cáo mỗi ngày tại nước Mỹ. Điều đó khiến hàng trăm gia đình phải đối mặt với một niềm đau mới: Nỗi tiếc nuối, dằn vặt khi người thân gục ngã ngay trước ngưỡng cửa chiến thắng con virus Corona ….

Trong lúc cả đất nước đang hân hoan vì sắp đánh bại được đại dịch, Michele Preissler ngồi rầu rĩ, nhớ người chồng mới qua đời vì Covid-19.

Sau hơn một năm chống chọi Covid-19, hàng triệu người Mỹ giờ đây có thể bỏ những chiếc khẩu trang lại phía sau, lên kế hoạch du lịch hè và vui vẻ đoàn tụ cùng gia đình, bạn bè. Dường như nước Mỹ đã vượt qua thời kỳ tồi tệ nhất của đại dịch khi ngày càng có nhiều người được tiêm chủng hơn và số ca nhiễm mới giảm mạnh.

Nhưng với những người như Michele Preissler, 60 tuổi, ác mộng mới chỉ bắt đầu.

Preissler mất chồng vì Covid-19 vào cuối tháng trước, khi hàng loạt biện pháp giới hạn, phong tỏa đã được dỡ bỏ và cuộc sống bắt đầu quay về trông giống như bình thường. Tuần trước, khách hàng tới siêu thị Walmart gần nhà bà ở thành phố Pasadena, Maryland, cũng không đeo khẩu trang. Bà đến đây để mua những đồ đạc cần thiết cho đám tang chồng.

“Tất cả đều nói ‘mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi'”, Preissler chia sẻ. “Giá như họ biết những gì tôi đã trải qua”.

Chồng bà, Darryl Preissler, 63 tuổi, nhiễm Covid-19 sau khi tham dự một đám cưới hồi đầu tháng 4. Lúc bấy giờ, bà đã tiêm vaccine nhưng ông thì chưa.

Với 50% dân số đã được bảo vệ bởi ít nhất một liều vaccine, tình hình dịch bệnh tại Mỹ đang khả quan hơn bao giờ hết. Số ca nhiễm mới, nhập viện hay tử vong vì Covid-19 đều giảm mạnh. Ngay cả những quan chức y tế thận trọng nhất cũng đang ăn mừng trước tiến bộ của đất nước.

Những người đã tiêm đầy đủ vaccine có thể cởi bỏ khẩu trang và hòa nhịp với phần lớn các hoạt động thường ngày trước đại dịch.

Dù vậy, hiện nay, vẫn còn trung bình khoảng 450 ca tử vong vì Covid-19 được báo cáo mỗi ngày. Điều đó khiến hàng trăm gia đình phải đối mặt với một niềm đau mới: Nỗi tiếc nuối, dằn vặt khi người thân gục ngã ngay trước ngưỡng cửa chiến thắng.

Không như giai đoạn trước, khi hầu hết cuộc sống của người dân đều bị ảnh hưởng, gia đình, bạn bè của những nạn nhân tử vong vì Covid-19 giờ đây thường nói về một nỗi buồn lạc lõng: Họ than khóc giữa lúc bao người xung quanh ăn mừng.

Trong nhiều trường hợp, buồn đau còn chồng chất thêm bởi nỗi dằn vặt rằng người qua đời đã không tiêm vaccine hoặc không thể tiêm vaccine kịp thời.

Một số người tử vong những tuần gần đây tại Mỹ nhiễm nCoV trước khi họ đủ điều kiện tiêm chủng, làm dấy lên câu hỏi liệu chương trình triển khai vaccine có thực sự đủ nhanh để tiếp cận được tất cả người dân hay không. Số khác bị Covid-19 đánh bại vì tâm lý lưỡng lự, không chịu tiêm chủng, làm bật lên thách thức đối với các cơ quan y tế trong nỗ lực thuyết phục người dân tin tưởng vaccine.

Tình cảnh của họ “giống như việc một người lính bị bắn chết ngay trước khi hiệp định đình chiến có hiệu lực”, tiến sĩ Toni P. Miles, nhà dịch tễ học tại Đại học Georgia, nhận xét. “Tất cả mọi người khác đều vô cùng hạnh phúc vì chiến tranh đã chấm dứt nhưng bạn lại mất đi người thân trong lúc không ai muốn đau buồn”.

Hollie Rivers vẫn suy sụp dù đã vài tuần trôi qua kể từ khi chồng cô, Antwone, qua đời vì Covid-19 ở Michigan. Tại đám tang của chồng hồi tháng trước, Hollie nhất quyết muốn cùng khiêng quan tài. “Tôi muốn ở bên anh ấy cho đến giây phút cuối cùng, đến bao giờ tôi không thể giữ anh ấy được nữa thì thôi”, cô nói.

Sau khi Hollie trả lời phỏng vấn một kênh truyền hình ở Detroit và tiết lộ rằng chồng mình chưa tiêm vaccine, cô đã phải đối mặt với vô số lời chỉ trích nặng nề trên mạng.

Theo lời Hollie, ban đầu, cô và chồng do dự, song cuối cùng họ vẫn quyết định sẽ tiêm vaccine. Nhưng không may, chồng cô lại nhiễm virus hồi đầu tháng 4 trước khi Michigan cho phép tiêm chủng cho những người ở độ tuổi của anh. Antwone 40 tuổi, hơn vợ 12 tuổi.

Gia đình Rivers đã lập chiến dịch quyên góp trên trang GoFundMe để hỗ trợ chi phí mai táng cho Antwone, nhưng nhận về không ít bình luận tiêu cực. “Anh ta từ chối tiêm, sao bạn còn dám xin tiền từ thiện chứ?”, Hollie nhớ lại một bình luận.

“Tôi bây giờ chỉ muốn hủy chiến dịch đó đi. Vấn đề không nằm ở tiền bạc”, cô nói. “Tôi sẵn sàng sống trong hộp các tông nếu điều đó giúp chồng tôi quay về với tôi và các con”.

Camille Wortman, chuyên gia nghiên cứu cảm xúc, giáo sư danh dự tại Đại học Stony Brook, New York, cho biết những người mất người thân vì Covid-19 ở thời điểm này của đại dịch thường sẽ trải qua cảm giác tức giận, tội lỗi và hối tiếc mạnh hơn.

“Nỗi đau của những người còn sống sẽ dữ dội hơn”, bà nói.

Với Yvonne Santos, 30 tuổi, đến từ Houston, câu hỏi liệu chồng cô có chết không nếu được tiêm vaccine kịp thời thường xuyên ám ảnh tâm trí cô, nhất là lúc cô ngồi một mình, ngắm nhìn bức ảnh hai người chụp chung. Yvonne lo lắng về tính an toàn và hiệu quả của các loại vaccine bởi chúng được phát triển và sản xuất quá nhanh. Chồng cô, Angel Stantos, cũng chần chừ đi tiêm.

“Tôi không nói chuyện này với bất kỳ ai nhưng tôi thực sự cảm thấy tệ, bởi anh thấy không thực sự băn khoăn về nó giống như tôi”, Yvonne cho hay. “Tôi là người mà đến giờ vẫn còn lo sợ”.

Sau khi nhận kết quả xét nghiệm dương tính hồi tháng 4, Angel, nhân viên xã hội chuyên giám sát trẻ vị thành niên, đã phải nằm nhiều tuần trong bệnh viện. Suốt thời gian đó, theo lời Yvonne, chồng cô luôn hối tiếc vì đã không tiêm chủng. Angel qua đời hôm 19/5, hưởng thọ 35 tuổi.

Vào ngày Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) thông báo người dân không cần phải đeo khẩu trang khi ở trong nhà nữa, Kole Riley, 33 tuổi, đang ở bên giường bệnh của mẹ anh tại một bệnh viện gần thành phố Sedona, bang Arizona, để nói lời từ biệt.

Mẹ anh, Peggy Riley, 60 tuổi, nhiễm Covid-19 vài tuần trước đó. Bà không tiêm vaccine vì quả quyết rằng mình có kháng thể. Một số thành viên trong gia đình bà, bao gồm cả chồng bà, đã có dấu hiệu hoặc được chẩn đoán mắc Covid-19 vào cuối năm ngoái.

Sau khi nắm tay mẹ trong những giây phút cuối cùng, Kole rời khỏi bệnh viện, chứng kiến cảnh có rất ít người đeo khẩu trang trên đường phố và đất nước đang hân hoan vì sắp vượt qua đại dịch. Lòng anh quặn thắt, nỗi nhớ mẹ vẫn giày vò.

“Giận dữ là cách tốt nhất và lịch sự nhất mà tôi có thể nói về cảm xúc của mình”, Kole cho biết sau khi nhìn thấy những người không đeo khẩu trang tại một cửa hàng tạp hóa. Anh gặp khó khăn trong việc hóa giải nỗi đau giữa bầu không khí lạc quan của đất nước.

“Tôi không nghĩ mình sẽ phải đối mặt với điều này, khi mà tất cả mọi thứ xung quanh đều đang hướng về trạng thái bình thường”, anh chia sẻ.

– Michele Preissler tại nhà riêng ở Pasadena, Maryland, hồi cuối tháng trước, trong một buổi lễ bà tổ chức để người thân, bạn bè nhìn mặt chồng bà lần cuối. Ảnh: NYTimes.

– Hollie Rivers cùng 5 con tại nhà riêng ở bang Michigan hôm 28/5. Ảnh: NYTimes.

https://www.nytimes.com/…/coronavirus-deaths-vaccine.html

NƯỚC MẮM CỦA RIÊNG TÔI

NƯỚC MẮM CỦA RIÊNG TÔI

Tác giả: Bruce Weigl

Giáo sư Bruce Weigl được biết đến như một hiện tượng của thi ca Mỹ . Sinh ngày 27-1-1949 tại Lorain, Ohio , ông từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 đến 1968 và đã chứng kiến những sự thật kinh hoàng của cuộc chiến tranh Việt Nam . Trở về sau cuộc chiến , ông tìm đến văn chương như một sự cứu rỗi linh hồn . Sau tập thơ đầu tay Một mối tình (1979) , ông là tác giả của 13 tập thơ riêng và quyển hồi ký nổi tiếng mang tên Vòng tròn của Hạnh . Giáo sư Bruce Weigi nguyên là chủ tịch Chương trình viết văn quốc gia , chủ tịch hội đồng thẩm định thơ của giải thưởng Văn học quốc gia Mỹ . Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học . Tập thơ Bài hát bom na-pan viết về chiến tranh Việt Nam của ông đã được đề cử cho giải thưởng Pulitzer .

Nước mắm của riêng tôi là một trong những câu chuyện có thật mà ông viết riêng cho tập sách Khi mưa thôi nã đạn .

Tôi ngửi thấy mùi nước mắm lần đầu tiên trong lúc tên lửa và đạn cối pháo kích dữ dội tại một nơi chúng tôi đặt tên là Trại Evans, một căn cứ của lữ đoàn kỵ binh bay số 1 , trong chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, cách Huế 35 km về phía bắc theo quốc lộ số 1 .

Đối diện với hầm trú ẩn của chúng tôi – cái hầm đã cứu mạng chúng tôi rất nhiều lần -là một chiếc lều và hầm trú ẩn của những người lính Việt Nam Cộng Hoà . Lúc đó chúng tôi đã bị hai quả tên lửa 122 li nổ rất gần , một mảnh tên lửa đã xé toang chiếc lều ngủ của những người lính Việt Nam Cộng Hoà dù lúc đó họ thoát chết vì đã kịp ẩn náu dưới hầm sau đợt pháo kích , tôi và một số đồng đội bước khoảng năm mươi mét để quan sát mảnh tên lửa đã xé rách chiếc lều . Khi cách lều chừng mười lăm mét, chúng tôi bị choáng váng bởi một mùi nồng nặc hơn tất cả các loại mùi mà tôi đã từng tiếp xúc. Lúc đó tôi nghĩ phải có một người hoặc con thú to lớn nào đó đã chết và thối rữa gần đó. Tôi không kìm nén dược cơn ho dữ dội, cơn ho đã khiến tôi phải hít thở rất sâu và điều đó làm tôi mắc nghẹn , tiếp tục ho không thể kiềm chế . Tôi di chuyển càng nhanh càng tốt xa khỏi cái lều đã bị tên lửa đánh trúng , nơi những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã trữ một lu nước mắm trên dưới 80 lít , một thứ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt . Sau đó tôi mới biết điều này và biết rằng lu nước mắm đậm đặc đó bị mảnh tên lửa bắn vỡ . Nước mắm tràn vào lều , chảy xuống chiếc mương nhỏ gần đó .

Nhưng có điều gì trong cái mùi nồng nặc đó làm tôi thích thú và nó lưu lại trong tôi . Một đôi lần ở trại căn cứ trên quốc lộ số 1 , nơi chiến trường đầy bom và lửa đạn , hoặc ở bãi đậu máy bay gần đó , tôi đã ăn cùng những người lính Việt Nam Cộng Hoà – những người đã vui vẻ cho tôi nhập cuộc . Tôi rất biết ơn họ vì tôi ghét cay ghét đắng lương khô được cung cấp cho lính Mỹ . Có một lần trong những bữa ăn chung đó , tôi hỏi họ về nước mắm . Họ rất vui khi tôi đề cập đến nó – lúc này tôi đã biết đôi chút về tính cách của người Việt – và họ nhanh nhảu rót ra một ít , chan lên một chén cơm trắng nhỏ và đưa cho tôi . Thật là ngon : một sự phối hợp tuyệt vời giữa sự đậm đà và ngọt ngào , và sự trù phú của một dòng sông chảy về bóng tối nơi thời gian chiếm hữu .

Kể từ lúc đó tôi ăn với nước mắm bất cứ khi nào có thể ở chiến trường Việt Nam , nhưng cơ hội đó không nhiều .Dĩ nhiên nước mắm không nằm trong khẩu phần lương khô hoặc trong những bữa ăn được chuẩn bị cho lính Mỹ nơi căn cứ trại . Nhưng tôi luôn giữ hương vị của nó trong tâm trí tôi và chỉ cần nghĩ về nước mắm là tôi đã ứa nước bọt . Tôi tìm hiểu nhiều hơn về nước mắm : nước mắm dùng làm nước chấm , dùng nấu ăn để thêm hương vị và thay cho muối . Trong chiến tranh , một số người Việt thậm chí còn uống nước mắm để giữ cho thân thể họ ấm áp , đặc biệt là khi họ phải ngâm mình xuống nước trong thời gian dài . Với cái mùi đặc biệt của nước mắm , nó cũng giúp mồi hoặc bẫy thú lợi hại hơn . Và nước mắm làm cho tất cả những thứ bạn ăn ngon hơn .

Khi rời chiến trường Việt Nam , tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ quay trở lại . Tôi mang theo rất ít văn hoá Việt về cùng , lý do chính là bởi nền văn hoá đó đã bị ngăn cách với chúng tôi . Tôi biết rằng nó đã bị biệt lập với chúng tôi vì nó là một nền văn hoá lâu đời , giàu có . Nó bị ngăn cách với chúng tôi để chúng tôi không thể nhìn thấy con người Việt Nam như những con người thật , nhất là những con người đang chiến đấu cho miền Bắc , chống lại chúng tôi ở chiến tuyến bên kia , để chúng tôi cảm thấy dễ dàng hơn khi giết họ . Tôi không mang nhiều văn hoá Việt theo về cùng tôi sau chiến tranh , nhưng tôi mang theo tình yêu về một đất nước xanh như thiên đàng , nơi mà những con người tôi gặp luôn luôn tỏ ra tốt bụng và rộng lượng . Tôi cũng đem theo về một balô đầy những nỗi buồn sâu thẳm , một sự trống vắng niềm tin đối với chính phủ của mình . Và tôi đem theo một sự nghiện ngập đối với nước mắm .

Ở Lorain , bang Ohio , một thị xã có nhiều xưởng chế biến sắt nơi tôi sinh ra và lớn lên , không thể nào tìm thấy nước mắm vào tháng 12 năm 1968 . Tôi cũng không thể tìm thấy nước mắm ở Cleveland , không có một nhà hàng , cửa hiệu hoặc chợ bán đồ ăn Việt Nam nào . Lúc đó chưa có một người Việt nào sống ở khu vực xung quanh . Sau khi rời chiến trường , trở về quê hương , tôi thường nhìn đăm đắm qua cửa sổ căn nhà cha tôi , quan sát tuyết phủ đầy những khoảng sân để biết rằng không có ai đang trốn sau bụi cây để tìm cách giết tôi . Tôi cảm thấy an toàn nhưng tôi cũng thấy rất nhớ Việt Nam . Nhưng tôi không thể bày tỏ nỗi nhớ đó với những cựu binh khác và với cả gia đình của mình . Nếu biết , họ sẽ nghĩ rằng có điều gì không ổn với tôi và chiến tranh đã làm tôi mất trí . Vì thế tôi giữ nỗi nhớ đó cho riêng mình . Sau đó thời gian trôi đi như những mảnh vụn trên sông , tôi bị lạc vào cơn mộng tưởng không thể gọi tên . Tôi không là con người của một năm về trước , tôi đã bỏ lại một phần hồn vía của mình ở Việt Nam .

Khi mùa xuân tới , tôi làm một việc mà tôi luôn làm trong mỗi mùa xuân : câu những con cá hồi to đã nảy nở sinh sôi nơi những con sông , dòng suối gần nhà . Sau một ngày may mắn , tôi đem về ba con cá to , mỗi con nặng khoảng hai đến ba cân . Khi làm vảy chúng sau gara ôtô của cha tôi , tôi ngửi thấy mùi cá . Lúc đó tôi nhớ về cuộc trò chuyện với một người lính Việt Nam Cộng Hoà . Chúng tôi đã nói về nước mắm , về việc nó là gia vị quan trọng và đặc biệt nhất trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt Nam , rằng nó có sức mạnh huyền bí để biến đổi hương vị của những loại thức ăn khác nhau , theo những cách khác nhau và về cách làm nước mắm . Cuối câu chuyện , anh ta cho tôi biết cách làm nước mắm tại nhà . Tôi đã quên câu chuyện này cho đến khi tôi làm vảy cá vào mùa xuân mà tôi trở về nhà và bỏ lại rất nhiều trí nhớ của tôi nơi chiến trường xưa . Tôi nhớ anh ấy đã bảo tôi rằng chỉ cần mổ bụng , mổ ruột , xẻ đôi con cá , ướp muối và trải chúng trên những chiếc que xếp sẵn , sau đó cứ chờ chúng rã xuống chiếc nồi bên dưới . Anh ấy nói rằng khi mà chúng đã rã hết ra , tôi sẽ nấu chúng với lửa nhỏ cho đến khi chúng thật nhừ và quánh đặc thành một chất lỏng tuyệt đẹp . Ý nghĩ về nước mắm nơi căn lều của những người lính Việt Nam Cộng Hoà tại trại Evans đưa tôi trở về Việt Nam , và mùi nước mắm rất nặng thật sự đã trở thành mùi của một đất nước .

Vì thế tôi quyết định mà không cần suy nghĩ nhiều là mình sẽ tự làm nước mắm . Tôi ra cửa hàng vật liệu tìm mua dây thép và đinh . Dùng những thanh gỗ thừa trong gara ôtô của cha tôi , tôi dựng một giàn phơi nhỏ . Tôi lấy một chiếc chảo từ bếp của mẹ tôi , dùng gạch kê nó dưới giàn phơi để đón lấy chất lỏng từ những con cá đang rữa ra .

Tôi biết rằng tôi phải chờ chúng rữa , vì thế tôi vào nhà và quên mất nước mắm của riêng tôi đang lên men đằng sau gara ôtô của cha tôi tại thị xã Lorain , bang Ohio , cách cuộc chiến vẫn đang ác liệt mười hai nghìn dặm . Tôi quên như tôi đã để quên phần lớn trí nhớ của mình tại cuộc chiến ấy . Tôi quên cho đến một buổi tối , tôi đang ngồi trong nhà của cha tôi nhìn ra cửa sổ . Tôi không nhớ tôi đã nghĩ gì , nhưng tôi nhớ rằng lúc đó tôi đã loay hoay tìm lối đi cho mình . Tôi biết rằng chiến tranh đã ăn vào tôi và bám riết , không buông tha tôi . Ngồi trong ngôi nhà của cha , tôi nghe có sự náo động bên ngoài và bước sát đến cửa sổ , nhìn ra ngoài và thấy nửa tá xe cảnh sát đang đỗ bên đường và những khoảng sân ngập xanh màu áo cảnh sát . Tôi đi ra ngoài và nhập vào đám đông nơi hàng xóm của tôi đang tụ tập . Tôi hỏi người cảnh sát thường tuần tra quanh khu vực tôi sống rằng điều gì đang xảy ra vậy .

“Có người báo với chúng tôi có một xác chết ở một trong những căn nhà này” – anh ta nói .

“Tại sao họ nghĩ thế ?” – tôi hỏi .

“Chúa ơi – anh ta thốt lên – Vì cái mùi nồng nặc này . Anh không ngửi thấy nó sao ?”

Đứng giữa con phố , ban đêm , xung quanh tôi hàng xóm đang tụ tập như thể một nghi lễ, những khoảng sân nhà đầy cảnh sát , tôi hít hơi thở sâu đầu tiên từ khi tôi ra ngoài . Tôi biết ngay vấn đề và bảo cảnh sát tôi biết mùi nồng nặc phát sinh từ đâu . Ba người cảnh sát và một số hàng xóm đi theo tôi đến giàn phơi , đằng sau gara ôtô của cha tôi . Trước khi họ thấy cảnh tượng phơi cá của tôi , họ choáng váng bởi mùi nồng nặc và buộc phải quay chân .

“Đây là xác chết của anh” – người cảnh sát thường tuần tra khu vực của tôi đứng đằng xa và nói , chỉ tay vào những con cá đang thối rữa .

Sau khi mọi việc đã được giải quyết với cảnh sát và với những người hàng xóm tốt bụng của tôi , tôi hứa với họ rằng tôi sẽ tiêu huỷ những con cá càng sớm càng tốt . Tôi nhặt nhạnh những thứ còn lại của ba con cá hồi và bỏ chúng vào nồi . Bên ngoài nhà , tôi nhóm lửa và nấu những con cá này với lửa thật nhỏ , thật lâu cho đến khi chúng thật nát và hầu như biến thành chất lỏng . Tôi lược bỏ phần xác qua một chiếc rây và lại nấu tiếp . Cuối cùng , màu của chất lỏng trở nên giống màu mặt trời trước khi lặn xuống chân trời .Tôi đổ đầy chất lỏng vào một cái lọ , đậy nắp thật chặt và giấu nó trong phòng ngủ của mình .

Năm 1968 , ở cao nguyên Trung phần Việt Nam , một số người lính Việt Nam Cộng Hoà đã chia cho tôi ăn nhu yếu phẩm của họ , đã dạy tôi cách làm một loại nước từ cá lên men , loại nước giống như thuốc trường sinh bất lão diệu kỳ , như một phương thuốc chữa cho tất cả các loại bệnh thể xác và linh hồn . Đối với riêng tôi , mùi nước mắm đã trở thành mùi của đất nước Việt Nam khi tôi ở Mỹ và thương nhớ về đất nước thứ hai của tôi . Mùa xuân năm ấy , tôi làm nước mắm của riêng mình nơi sân sau của ngôi nhà cha tôi – một người công nhân làm ở xưởng chế biến sắt . Nước mắm ấy tôi đã đậy nắp thật chặt như một loại tinh hoa mà tôi cần phải mãi mãi giữ gìn . Tôi dùng nước mắm một cách bí mật cùng thức ăn , nhưng luôn luôn phải rất cẩn trọng vì mùi của nó rất nặng và vì cảnh sát đã đến thăm hỏi tôi chính vì cái mùi đó .

Sau rất nhiều năm , chiến tranh đã di trú vào tôi , mặc dù làm đủ cách để quên nó , có những điều cứ khắc sâu vào tâm khảm . Khi tôi ăn ở những cửa hiệu , nhà hàng Việt Nam trên đất Mỹ , tôi luôn nói với họ rằng hãy đừng cho tôi nước mắm kiểu Mỹ mà phải là kiểu chính hiệu Việt Nam . Tôi đã học được rằng thức ăn Việt Nam ngon hơn khi nấu với nước mắm ngon , hoặc chấm với nước mắm được pha khéo léo với đủ lượng tỏi , ớt , chanh , nước và đường . Từ một người hâm mộ nước mắm , tôi trở thành một người sành sõi khó tính , lùng sục những cửa hiệu châu Á ở Mỹ để tìm nước mắm ngon . Ở quê hương tôi , trong thập niên 1980 và 1990 , mặc dù người Việt bắt đầu di cư sang , rất khó tìm được nước mắm ngon .

Một số loại nước mắm hình như chỉ được pha bằng nước , muối và màu thực phẩm nhưng đã đánh lừa được những cái mũi to . Chỉ qua một quá trình tìm kiếm công phu , tôi mới tìm được những cửa hiệu tin cậy có thể cung cấp nước mắm tốt cho tôi . Thỉnh thoảng , khi nấu ăn mời bạn bè , tôi dùng một ít nước mắm để nấu những món ăn châu Âu mà họ yêu thích . Và thường sau bữa ăn , bạn tôi sẽ nói rằng thức ăn thật ngon và mùi vị rất đặc biệt , rồi hỏi “Anh đã dùng gia vị gì trong công thức chế biến đấy …? Cái vị này rất đặc biệt” … Tôi không bao giờ kể cho họ nghe . Cho đến hôm nay , tôi muốn giữ bí mật đó cho mình .

Nguyễn Phan Quế Mai dịch

From: Thành Hương Nguyễn

 THƯ PHẢN BIỆN GỬI NGÀI CHỦ TỊCH NƯỚC CỦA MỤC SƯ NGUYỄN QUỐC ẤN

 THƯ PHẢN BIỆN GỬI NGÀI CHỦ TỊCH NƯỚC CỦA MỤC SƯ NGUYỄN QUỐC ẤN

Kính gửi chủ tịch nước NGUYỄN XUÂN PHÚC

(Tôi cũng là dân Quảng Nam, đồng hương với ông đây. Tôi chúc ông mạnh khỏe và tôi xin Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan cho ông với tư cách là người lãnh đạo của một dân tộc. Tôi cũng có số đt của ông, nhưng sẽ gọi vào một lúc khác, khi tôi ra HN).

TÔI PHẢN BIỆN – KHÔNG PHẢN ĐỐI, CŨNG KHÔNG PHẢN ĐỘNG

Hôm 29/5, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” liên quan đến Hội thánh truyền giáo Phục Hưng để tiến hành điều tra vụ án.

Cơ quan chức năng bước đầu cáo buộc quá trình sinh hoạt của Hội thánh không tuân thủ quy định y tế về phòng chống dịch COVID-19 làm dịch bệnh lây lan ra cộng đồng. Tính đến sáng ngày 31/5, giới chức xác định đã có 145 ca nhiễm được cho là liên quan đến chuỗi lây nhiễm từ điểm sinh hoạt tôn giáo này.

Báo Thanh Niên dẫn lời Phó chủ tịch UBND TP.HCM Ngô Minh Châu cho biết ‘công an TP.HCM đã trao đổi thống nhất với UBND Q.Gò Vấp, giao Công an Q.Gò Vấp khởi tố vụ án theo điều 240 Bộ luật Hình sự, Viện KSND Q.Gò Vấp sẽ giám sát quá trình điều tra vụ án. Sắp tới, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra, cá nhân nào có đầy đủ dấu hiệu vi phạm thì sẽ khởi tố bị can’.

Hãy lắng nghe tiếng lòng của nạn nhân

Từ khu cách ly tại Củ Chi, cô Phương Tường Vi, con gái của Mục sư Quản nhiệm Hội thánh Võ Xuân Loan đã lên tiếng bác bỏ các thông tin sai lệch, gây ra những kỳ thị và ảnh hưởng xấu đến tinh thần của các đồng đạo đã bị nhiễm bệnh trong Hội thánh.

Cô Vi cho biết Hội thánh đã chấp hành nghiêm túc các quy định của nhà nước về việc nhóm họp. Trên Facebook cá nhân, cô viết: ‘Hai tuần qua (trước khi bị đưa đi cách ly) chúng tôi đều sinh hoạt và thờ phượng Chúa online từ xa. HTTGPH từ những ngày đầu dịch đã cung cấp khẩu trang, nước rửa tay cho tín hữu và làm từ thiện cho các khu dân cư xung quanh. Khuyến khích mọi người mang khẩu trang y tế. HTTGPH đã từng mời cơ quan y tế phường về khử trùng tại nơi nhóm họp không lâu trước đây’.

Hôm 31/5, VTC News dẫn lời Mục sư Võ Xuân Loan nói “bản thân chưa từng nghĩ mình là người làm lây lan dịch bệnh, nhưng dù sao đi nữa trong vụ việc này tôi vẫn nhận trách nhiệm về phần mình”.

Mục sư Loan nói rằng bản thân bà cũng không biết vì sao mình bị mắc COVID. Dù vậy bà Loan cũng gửi lời xin lỗi cộng đồng và mong cộng đồng hãy lượng thứ vì chính bản thân bà cũng là nạn nhân của dịch bệnh COVID-19 và đang chiến đấu từng ngày trên giường bệnh.

Thưa các cấp chính quyền! Dù có là cảm tử quân, anh hùng lực lượng vũ trang cỡ như Lê Văn Tám, cũng không bao giờ đem cả gia đình mình mang bom tự tử. Huống chi, Mục Sư Võ Xuân Loan, một phụ nữ tầm thường, trói gà không chặt lại đã mang cả chồng con và cả mấy chục thành viên trong HT tự tử trong dịch bệnh để hãm hại dân cư quận Gò Vấp?

Bốc lửa bỏ trên đầu người khác

Cơ quan chức năng lúc nào cũng cảnh báo người dân rằng “dịch bệnh diễn biến khó lường”. Nghĩa là không ai có thể xác định rõ, xác định đúng việc lây lan của virus. Vì thế cáo buộc một Mục Sư làm lây lan dịch bệnh là sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp lý.

Theo Công văn hướng dẫn số 45/TANDTC-PC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng điều 240 Bộ luật Hình sự về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, nêu rõ: Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 đã được thông báo cách ly, thực hiện một trong các hành vi sau đây thì bị coi là làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người: (1) Trốn khỏi nơi cách ly; (2) Không tuân thủ quy định về cách ly; (3) Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; (4) Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

Mục Sư Võ Xuân Loan và các thành viên đã tuân thủ đúng các quy định về cách ly như không trốn tránh cách ly, cách ly tập trung lẫn cách ly tại nhà, cũng như hợp tác khai báo y tế với cơ quan chức năng. Bản thân Mục Sư Loan cũng không biết mình bị nhiễm bệnh.

Nếu chỉ dựa vào thông tin báo chí, và những lời thóa mạ, mắng nhiếc của những người hàng xóm cuồng nộ, để kết tội một công dân là thiếu lương tâm, thiếu chính trực, thiếu công bằng. Ngoài ra, luật cũng phải có tính yêu thương, chứ không chỉ hà khắc.

Quý vị không nên tìm một chỗ để quy kết, để né tránh thiếu sót của mình.

Dân chúng luôn nhận biết chính quyền đã rất nỗ lực, Y Bác sĩ đã hy sinh nhiều, mới kìm hãm được dịch bệnh so với thế giới. Lực bất tòng tâm. Ai không thiếu sót?

“Theo CA TP.HCM từ ngày 26/5 đến ngày 29/5, trên địa bàn TP có thêm 89 trường hợp nhiễm bệnh”. (Hết trích). Bầu cử QH vào ngày 23/5, tại Bình Dương có người nhiễm bệnh vẫn đi bầu cử cùng hàng 100 người khác. Vậy 89 người nhiễm bệnh tại TP.HCM từ 26-29/5, có ai bảo đảm rằng đã KHÔNG LÂY BỆNH cho cư dân TP.HCM.

Tại sao cứ quy trách nhiệm cho HT Truyền Giáo Phục Hưng?

Đi bầu với hàng trăm người ư? Ai chỉ đạo phòng chống dịch ở Bình Dương lại để cho người nhiễm virus Vũ Hán đi bầu cử? Liệu trong số 100 người, (có thể nhiều hơn nữa), có bao nhiêu người đang bị lây lan thành F1? Nếu nói về cấp số nhân, ôi khủng khiếp biết chừng nào!

Một người dân ở Khánh Hòa đã cho biết, việc làm CMND cũng có thể trở thành nguyên nhân lây bệnh. Chứng tỏ lịnh chống dịch của thủ tướng đang bị xem thường. Vẫn có địa phương làm ngơ, tắc trách, xem nhẹ sức khỏe và sự an toàn của dân trong cơn dịch.

Khởi tố ai đây? Vậy khởi tố người tổ chức bầu cử hay người tổ chức làm CMND sao? Vô lý!

Nếu vô lý, liệu khởi tố mục sư của một Hội Thánh Tin Lành là hợp lý?

Đối xử hà khắc và bất công

Khi so sánh cách hành xử của chính quyền đối với Hội thánh truyền giáo Phục Hưng với Cty Handico, cụ thể là ông Nguyễn Văn Thanh bí thư đảng ủy Cty Hacinco. Tại sao không có vụ khởi tố hình sự nào tại đây? Lại còn ưu tiên chích Vacin trước?

Nếu khởi tố thì nên khởi tố cả hai. Lẽ nào bên trọng bên khinh? Lẽ nào dân thì bị khởi tố, ông bí thư đảng ủy thì không? Luật chỉ dành cho dân, ông bí thư đảng ủy được miễn truy tố?

Hôm nay là thế kỷ XXI chứ không phải thời đại của bạo chúa Nero 2000 hơn năm trước. Thưa ông chủ tịch.

Gần nhất là tại Emart Gò Vấp, vào lúc 14:50 ngày 30/5/21 mọi người chen chúc nhau thật hỗn loạn để mua hàng hóa. Ngay trên địa bàn của CA Gò Vấp quản lý, ngay thời gian bùng dịch, nhưng họ làm ngơ, họ chỉ chú tâm vào HT Truyền Giáo Phục Hưng?

Tại sao các doanh nghiệp thì vô tư bất chấp quy định chống dịch của thủ tướng, nhưng lại được ưu ái như thế? Nhưng cơ sở tôn giáo hợp pháp lại BỊ QUAN TÂM TRÊN MỨC BÌNH THƯỜNG?

Điều ứng xử của chính quyền khiến tôi nghĩ rằng quý vị đang PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ và HÀ KHẮC VỚI TÔN GIÁO. Phó chủ tịch UBND TP.HCM Ngô Minh Châu nói rằng “…khởi tố một con người cụ thể, chứ không nhắm vào một tôn giáo”. Dân chúng không phải là trẻ con để tin vào câu nói đó trước những gì đang diễn ra rất cụ thể. Thưa ông Châu!

Lời cuối: Nếu ông chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc muốn đạt được ý muốn xin hỗ trợ vaccine COVID-19 từ nước Mỹ, tôi xin ngài hãy quan tâm đến câu chuyện khởi tố một Mục Sư của hệ phái Tin Lành: HT TRUYỀN GIÁO PHỤC HƯNG tại quận Gò Vấp TP. HCM.

Kính thư

Mục Sư Nguyễn Quốc Ấn

https://www.facebook.com/hongquang.nguyen.14473

No photo description available.

Blogger bất đồng chính kiến Lê Dũng Vova bị truy nã

Blogger bất đồng chính kiến Lê Dũng Vova bị truy nã

1 tháng 6 2021,

Facebook Le Dung Vova

NGUỒN HÌNH ẢNH,FACEBOOK LE DUNG VOVA

Công an Việt Nam vừa phát lệnh truy nã blogger bất đồng chính kiến Lê Văn Dũng với cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”.

Truyền thông Việt Nam ngày 1/6 đưa tin Cơ quan an ninh điều tra, Công an Hà Nội ra quyết định truy nã bị can Lê Văn Dũng (51 tuổi, còn gọi là Lê Dũng Vova, quê Ứng Hòa, Hà Nội) theo điều 117 Bộ luật hình sự.

Trước đó, công an Hà Nội khởi tố ông Dũng về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước; đồng thời tới nhà để bắt ông hôm 25/5, nhưng không thành.

Công an Hà Nội sau đó kết luận rằng ông Dũng đã ‘bỏ trốn’.

Vụ ‘bắt hụt’

Lệnh truy nã ông Lê Văn Dũng

Chụp lại hình ảnh,

Lệnh truy nã ông Lê Văn Dũng

Ngày 25/5/2021, công an Hà Nội tới nhà ông Lê Văn Dũng ở 54B ngõ 2, Hà Trì 3, phường Hà Cầu quận Hà Đông, TP Hà Nội để thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam. Nhưng ông Dũng không có mặt ở nhà lúc đó.

Tài khoản Facebook Hồng Lam mô tả rằng vào khoảng 2:00 chiều 25/5, “một đoàn gần 20 người bao gồm cả đại diện tổ dân phố Hà Trì 3” đã đến nhà ông Lê Dũng VoVa.

“Trước đó 5 phút điện bị cắt. Họ yêu cầu vợ anh Dũng mở cửa, trong nhà có 2 con nhỏ.

Họ đọc lệnh khởi tố và vài giấy gì đó, họ không đưa cho vợ anh Dũng. Sau đó họ thu laptop và 2 chiếc điện thoại iphone của chị Huệ (vợ ông Dũng), nói là sẽ triệu tập lên tra sau khi kiểm tra.

Dù nhân viên kiểm tra tại chỗ nói là máy của vợ không có gì liên quan, nhưng họ vẫn thu và mang đi.

Sau khi thu giữ đồ đạc cá nhân của chị Huệ thì họ đi, không để lại giấy tờ gì.” Facebooker này mô tả.

Các livestream trên Facebook của ông Lê Dũng Vova

‘Chỉ mong xã hội tốt lên’

Chụp lại hình ảnh,

Các livestream trên Facebook của ông Lê Dũng Vova

Ông Lê Văn Dũng là chủ kênh truyền thông CHTV. Ông thường xuyên livestream trên Facebook về các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước.

Trên Facebook cá nhân, ngày 25/5, ông Lê Dũng cho hay từ đầu năm 2021 tới nay ông liên tiếp bị gửi giấy triệu tập liên quan đến các clip “có nội dung xuyên tạc, chống phá nhà nước”.

Ông Dũng đã lên làm việc với một điều tra viên tên Phan Quốc Uy vào 19/3/2021. Người này cho ông Dũng xem 12 clip đang chờ cục an ninh mạng xác minh.

Ông Dũng khẳng định rằng trong 12 clip này, 6 cái là cắt ghép chắp vá, không phải của ông.

Nhưng sau đó ông vẫn tiếp tục nhận được giấy triệu tập liên quan đến nội dung các clip.

Việc này, theo ông Dũng, ‘gây phiền’ hà cho gia đình và hàng xóm trong lúc dịch bệnh, gây khó khăn cho ông khi đang phải đi tìm ‘đủ việc’ để làm.

Ông Dũng cũng khẳng định các livestream của ông trên Facebook cá nhân “hoàn toàn dựa trên các chuẩn mực đạo Đức và hiến pháp, pháp luật” và phần lớn là về các vấn đề ‘kỹ thuật, quản lý xây dựng’ để giúp đồng nghiệp và cơ quan nhà nước.

“Ngoài ra có các clip về việc phản ánh giúp dân trong việc họ gửi đơn từ tới các cơ quan chức năng về tranh chấp đất đai, quyền lợi chưa được giải quyết…”

Ông Dũng nói “chỉ mong chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp và góp tiếng nói thúc đẩy xã hội minh bạch” chứ ông ” không tham gia quản lý nhà nước hay tham gia đảng phái chính trị nào cả.”

“Nếu có bị bỏ tù vì nói đúng lương tâm thì tôi vẫn nói như thế. Dù biết rằng để nói thật thì sẽ thiệt thòi cho không chỉ riêng mình mà cả gia đình vợ con mình…,” ông Lê Dũng bộc bạch trên Facebook cá nhân.

Chính quyền VN nói gì?

Trong khi đó, truyền thông Việt Nam đưa tin rằng ông Dũng “tự làm thẻ nhà báo cho mình, rồi đưa ra khẩu hiệu “CHTV là kênh truyền hình của dân oan” nhằm lôi kéo người dân”, “tổ chức các buổi livestream trên nền tảng Facebook và Youtube để chống phá Đảng và Nhà nước”.

Trang VnExpress hôm 1/6 cho hay ông Dũng ‘bị truy nã đặc biệt’ nhưng “sai phạm cụ thể của ông Dũng chưa được cơ quan điều tra công bố”.

Ngay trước ngày ông Lê Dũng Vova bị ‘bắt hụt’, trung tướng Tô Ân Xô, chánh Văn phòng Bộ Công an nói với báo chí trong nước rằng đã “triệt phá được nhiều nhóm thế lực thù địch có thủ đoạn chống phá bầu cử”.

Hồng Kông xét xử 47 nhà đấu tranh dân chủ

Hồng Kông xét xử 47 nhà đấu tranh dân chủ

Hendrick Lui (G), một trong số 47 nhà hoạt động dân chủ đến tòa án tại Hồng Kông, ngày 31/05/2021.

Hendrick Lui (G), một trong số 47 nhà hoạt động dân chủ đến tòa án tại Hồng Kông, ngày 31/05/2021. AP – Vincent Yu

Tại Hồng Kông, phiên tòa xét xử hầu như toàn bộ chính trị gia đối lập đã mở ra ngày 30/05/2021. 47 nhà đấu tranh dân chủ, do vai trò của họ trong các cuộc bầu cử sơ bộ không chính thức, bị cáo buộc hoạt động lật đổ chính quyền, một trong bốn tội danh trong Luật an ninh quốc gia mới mà Trung Quốc áp đặt tại đặc khu hành chính.

Từ Hồng Kông, thông tín viên Florence de Changy giải thích :

“Những người mà hôm nay chúng ta gọi là “47 người” đứng ở chỗ dành cho bị cáo, theo đạo luật hà khắc mới có tên gọi Luật An Ninh Quốc Gia. Họ bị bắt lần đầu vào rạng sáng tại nhà riêng hồi đầu tháng 01/2021 trong một cuộc phối hợp vây bắt ồ ạt của lực lượng cảnh sát.

Cuộc vây bắt ồ ạt đã gây chấn động bởi cách thức tiến hành vốn thường phù hợp hơn đối với việc vây bắt những kẻ côn đồ du đãng hơn là nhắm vào những người phụ nữ và đàn ông mà đa phần trong suốt nhiều thập kỷ qua đều là những nhân vật được biết đến và tôn trọng trong công chúng cũng như trong đời sống chính trị.

Tạm thời được thả sau 48 giờ, rồi sau đó họ bị bắt lại vào hồi tháng 02/2021, nhưng lần này, nhiều người ban đầu chỉ bị câu lưu sau đó bị chuyển sang quy chế tạm giam.

Do tổ chức và tham gia vào kỳ bầu cử sơ bộ (của phe đối lập) hồi tháng 07/2020, họ bị cáo buộc có âm mưu lật đổ chính quyền, tội danh có thể phải chịu án tù chung thân.

Các cuộc bầu cử sơ bộ của phe đối lập diễn ra theo trình tự hoàn hảo mặc dù mục đích của chúng, cũng giống như bất kỳ cuộc bầu cử sơ bộ nào, là nhằm giúp phe ủng hộ dân chủ đạt được kết quả cao nhất trong kỳ bầu cử lập pháp ban đầu dự kiến diễn ra 2 tháng sau đó nhưng sau đó lại bị đình hoãn.

Phán quyết của tòa đang rất được chờ đợi bởi vì ít ai dám tin rằng một tòa án Hồng Kông, ngay cả theo chiểu theo luật an ninh quốc gia, lại có thể xem việc tổ chức bầu cử sơ bộ là tội lật đổ chính quyền”.

Nhà đấu tranh dân chủ « Mamie Wong » bị bắt ở Hồng Kông vì tưởng niệm vụ Thiên An Môn

Cũng trong ngày hôm qua 30/05, cảnh sát Hồng Kông bắt nhà đấu tranh dân chủ Alexandra Wong, 65 tuổi, với lý do bà tham gia tụ tập trái phép và tìm cách lôi kéo kích động người khác tham gia. Bà Alexandra Wong nổi tiếng với tên gọi “Mamie Wong”.

AFP thuật lại, trong bối cảnh đây là năm thứ hai cảnh sát Hồng Kông cấm người dân tụ tập tưởng niệm vụ Thiên An Môn, bà Wong một mình đến công viên, tay cầm biển tưởng niệm các nạn nhân và một cây dù vàng. Bà bị cảnh sát đi theo và quay phim. Tại công viên, vẫn chỉ có một mình, bà bắt đầu giương các biểu ngữ và tiến về hướng Văn phòng liên lạc của Bắc Kinh tại Hồng Kông rồi bị cảnh sát chặn bắt.

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG JOE BIDEN TRONG NGÀY MEMORIAL DAY 2021.

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG JOE BIDEN TRONG NGÀY MEMORIAL DAY 2021.

“Nền dân chủ phải được bảo vệ bằng mọi giá, vì dân chủ làm cho tất cả những giá trị tự do, bình đẳng trở nên khả thi tại Hoa Kỳ. Dân chủ – là linh hồn của nước Mỹ, và tôi tin rằng đó là linh hồn đáng để đấu tranh và mỗi một người Mỹ cũng vậy; một linh hồn đáng hy sinh để bảo vệ. Những anh hùng đang yên nghĩ bình yên ở chốn linh thiêng này cũng tin như vậy.

Linh hồn của nước Mỹ được làm sống động bởi cuộc chiến lâu năm giữa bản năng tồi tệ nhất của chúng ta – điều mà chúng ta đã thấy muộn – và những thiên thần tốt hơn của chúng ta. Giữa “Tôi trên hết” và “Chúng tôi, nhân nhân” (“Me first” and “We the People.”). Giữa lòng tham và lòng rộng lượng; giữa cái ác và thiện, giữa tù đày và tự do.

Những người quân nhân Mỹ ở Lexington và Concord, New Orleans, Gettysburg, Argonne, Iwo Jima và Normandy, Triều Tiên và Việt Nam, Afghanistan và Iraq, và vô số nơi khác – không chiến đấu cho những kẻ độc tài; họ đã đấu tranh cho dân chủ.

Họ không đấu tranh để loại trừ hoặc tìm kiếm nô lệ; họ đã chiến đấu để xây dựng, mở rộng, và giải phóng. Họ không đấu tranh cho bản thân; họ đã chiến đấu cho linh hồn của quốc gia, cho sự tự do, công bằng, và tử tế.

Chúng ta nợ họ công sức của bàn tay và trái tim của chúng ta, để thực hiện lời hứa thực sự về một quốc gia được thành lập trên nền tảng cơ bản rằng tất cả chúng ta – tất cả chúng ta – đều được sinh ra trong bình đẳng và xứng đáng được đối xử như vậy trong suốt cuộc đời của chúng ta.

Dân chủ không chỉ là một hình thức chính phủ. Đó là một lý tưởng sống; đó là một cách để nhìn thế giới. Dân chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân. Dân chủ không phải quyền lực của quân vương, không phải quyền lực của kẻ có tiền, không phải của những kẻ hùng mạnh – nhưng là quyền lực của nhân dân.

Cuộc sống của hàng tỷ người, từ thời cổ đại cho đến thời đại của chúng ta, đã được định hình bởi cuộc chiến giữa khát vọng của rất nhiều người và lòng tham của một số ít ỏi. Giữa quyền tự quyết của toàn dân và quyền lợi của kẻ độc tài. Giữa những giấc mơ về dân chủ và ham muốn của chế độ chuyên chế, điều mà chúng ta đang thấy trên khắp nơi trên thế giới.

Quân đội của chúng ta đã chiến đấu cho dân chủ ở khắp thế giới, nhưng cũng đang là trận chiến của thời đại chúng ta. Và sứ mệnh nằm trong tay mỗi chúng ta, mỗi ngày. Bản thân nền dân chủ đang bị đe dọa, ngay tại trong nước và trên toàn thế giới.

Những gì chúng ta làm bây giờ, cách chúng ta tôn vinh ký ức của những người đã hy sinh, sẽ quyết định nền dân chủ có tồn tại lâu dài hay không. Tất cả chúng ta đều coi đó là điều hiển nhiên. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã học ở trường. Chúng ta phải – mọi thế hệ đều phải chiến đấu vì dân chủ.

Nhưng, câu hỏi lớn nhất là: Liệu một hệ thống tôn trọng cá nhân, hướng tới sự tự do, mang lại cho mọi người cơ hội thành công – có thể và sẽ thắng thế trước những thế lực mạnh mẽ muốn hãm hại nó hay không.

Tất cả những gì chúng ta làm trong cuộc sống chung của chúng ta với tư cách là một quốc gia là một phần của cuộc đấu tranh đó. Cuộc đấu tranh cho dân chủ đang diễn ra trên khắp thế giới – dân chủ và chế độ chuyên chế. Cuộc đấu tranh cho sự tử tế và phẩm giá. Cuộc đấu tranh cho thế hệ sau – thịnh vượng và tiến bộ. Và, cuộc đấu tranh cho linh hồn của chính nước Mỹ.

Các bạn đều biết rồi đó: Dân chủ phát triển mạnh khi cơ sở hạ tầng của nền dân chủ vững mạnh; khi mọi người có quyền bầu cử tự do và công bằng, dễ dàng; khi một nền báo chí tự do và độc lập theo đuổi sự thật, dựa trên sự thật chứ không phải tuyên truyền; khi nhà nước pháp quyền được áp dụng bình đẳng và công bằng cho mọi công dân, bất kể họ đến từ đâu hay hình dáng họ như thế nào.

Bất kỳ nơi nào có sự hiện diện của người Mỹ, ở đó có nền dân chủ: nhà thờ, giáo đường Do Thái, nhà thờ Hồi giáo, các khu dân cư, quán cà phê, sân vận động bóng chày hoặc bóng đá, thư viện và công viên. Dân chủ bắt đầu và phát triển trong trái tim rộng mở và sự thúc đẩy để đi cùng nhau cho một mục tiêu chung.

Và đó là những nơi dân chủ sẽ được bảo tồn. Lòng cảm thông là nhiên liệu cho nền dân chủ. Tôi xin nói lại lần nữa: Lòng cảm thông – sự đồng cảm là nhiên liệu cho nền dân chủ, sự sẵn sàng xem nhau – không phải là kẻ thù, nhưng là hàng xóm. Ngay cả khi chúng ta không đồng ý, để hiểu những gì đối phương đang đối mặt.

Khẳng định điều hiển nhiên: Nền dân chủ của chúng ta không hoàn hảo. Nó luôn luôn như thế. Nhưng người Mỹ thuộc mọi thành phần, chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, khuynh hướng tình dục, từ lâu đã đổ máu để bảo vệ nền dân chủ của chúng ta. Sự đa dạng của đất nước chúng ta và lực lượng vũ trang của chúng ta đã và luôn là một sức mạnh đáng kinh ngạc.

Và từ thế hệ này qua thế hệ khác của những người Mỹ anh hùng đã đăng ký tham gia cuộc chiến vì họ hiểu sự thật sống trong trái tim của mỗi người Mỹ: tự do, cơ hội, công lý có nhiều khả năng xảy ra trong một nền dân chủ hơn là một chế độ chuyên quyền.

Nếu mỗi người là thiêng liêng, thì quyền của mỗi cá nhân là thiêng liêng. Phẩm giá; giá trị; sự tôn nghiêm; quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Chúng ta nói những từ đó thường xuyên, nhưng hãy nghĩ về nó: quyền bầu cử, quyền vươn lên trong một thế giới mà tài năng của bạn có thể đưa bạn đến, không bị giới hạn bởi những rào cản bất công về đặc quyền và quyền lực – đó là những nguyên tắc của dân chủ.

Vậy bạn sẽ áp dụng những nguyên tắc cao quý này như thế nào? Làm cách nào chúng ta làm việc đó bây giờ? Làm thế nào để chúng ta biến ý tưởng thành hiện thực, hoặc gần với thực tế nhất để có thể biến nó thành hiện thực?

Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên một ý tưởng – là quốc gia duy nhất trên thế giới được xây dựng dựa trên một ý tưởng. Mọi quốc gia khác đều được xây dựng dựa trên sắc tộc, địa lý, tôn giáo, v.v.

Chúng ta được xây dựng dựa trên một ý tưởng: ý tưởng về sự tự do và cơ hội cho tất cả mọi người. Chúng ta chưa bao giờ thực hiện đầy đủ khát vọng đó của thời kỳ lập quốc, nhưng mỗi một thế hệ đã mở rộng cánh cửa đó hơn một chút, và rộng hơn nữa để hòa nhập hơn, bao gồm cả những người đã bị loại trừ trước đây. Đó là một sứ mệnh được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: nỗ lực nhằm hoàn thiện Liên bang của chúng ta.

Vào năm 1830, khi chúng ta còn là một quốc gia non trẻ, những người theo chủ nghĩa đoàn kết đặt lợi ích riêng của họ lên trên lợi ích chung. Một thượng nghị sĩ vĩ đại, Daniel Webster, đã đứng lên ở Điện Capitol để bảo vệ Liên bang. Đối với ông ấy, chúng ta không chỉ là một tập hợp các lực lượng đối kháng, mà là một tổng thể gắn kết.

Giọng nói vang của ông, lần đầu tiên được thốt ra ngay trước Potomac ở Điện Capitol, vẫn còn vang vọng đến tận bây giờ. Ông nói, “Tự do và Liên bang, bây giờ và mãi mãi là một và không thể tách rời.”

Hơn 142 năm sau, khi tôi lần đầu tiên đến Thượng viện Hoa Kỳ – vào thời điểm đất nước đang bị chia rẽ sâu sắc về vấn đề Việt Nam, dân quyền, nữ quyền – tôi đã quan niệm rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình, khi tôi thực hiện bài phát biểu đầu tiên của mình trên sàn Thượng viện – điều đó bất ngờ ập đến với tôi: Tôi đang đứng ở nơi Daniel Webster đã đứng; bàn ông ấy bên cạnh bàn tôi.

Và tôi đã bị ảnh hưởng bởi sức nặng của lịch sử, nghe có vẻ ngô nghê, bởi di sản của công việc mà chúng ta có trách nhiệm thực hiện: tự do và liên kết, bây giờ và mãi mãi.

Chúng ta phải tôn vinh sự hy sinh của những người Mỹ đã hy sinh bằng cách bảo vệ những gía trị tốt đẹp của nước Mỹ, đồng thời trung thực đối mặt với tất cả những gì chúng ta phải làm để làm cho Hoa Kỳ đầy đủ hơn, tự do hơn và công bằng hơn.

Vì sự tưởng nhớ không chỉ là lịch sử của chúng ta, mà còn là niềm hy vọng của chúng ta. Không chỉ là sự tưởng nhớ trang trọng của chúng ta, mà là mục đích mới của chúng ta. Không chỉ là niềm an ủi, mà còn là sức mạnh của chúng ta.

Trong ngày Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong này, hãy nhớ rằng không phải tất cả chúng ta đều được kêu gọi để hy sinh tối thượng. Tất cả chúng ta, được God, lịch sử và lương tâm kêu gọi để làm cho quốc gia của chúng ta tự do và công bằng, bình đẳng và mạnh mẽ, cao quý và trọn vẹn.”