Miệng lưỡi thế gian

Miệng lưỡi thế gian.

Nhà họ Mã ngày trước chuyên nghề nuôi dạy ngựa và bán ngựa. Có một dạo gia đình ông suy sụp vì con ông bị bệnh nặng, đã vét hết tiền trong nhà mà con ông vẫn không khỏi. Ông bán hết số ngựa nuôi để lo thang thuốc cho con. Con ông sống được. Từ đó ông bắt đầu dành dụm, tằn tiện được một số tiền. Ngày nọ Mã ông nghe ở Hương Lâm có bán một giống ngựa quý, ông đến nơi đó xem tướng ngựa thật kỹ, biết đó là giống ngựa hay, thuộc loại Hoàng Phiêu, mặc dù nó có phần hơi gầy. Mã ông thích quá, nên chịu mua với giá đắt. Ông về nhà bàn lại với con:

– Phụ thân xem biết nó rất quý, dù hơi gầy, thuộc giống Hoàng Tuyết Phiêu của người Khương. Nhà ta gây được giống này sẽ làm giàu không mấy hồi.

Ngặt vì xa ngót ngày đường, qua đèo truông e có cướp, nên cha con ta cùng đi. Hai cha con họ Mã thử ngựa và ngã giá xong, tra yên cương, cha con đồng lên ngựa ra về, lòng thấy hoan hỉ.

Họ đi qua một xóm nhà, Mã ông khiêm tốn cho ngựa đi nước kiệu, dân làng đón ông lại nói:

– Mã lão! Ông là người nuôi ngựa, sao không biết thương ngựa? Con ngựa gầy thế kia, còn cha con ông cọp ăn bảy ngày không hết, nỡ nào cả hai lại đè trên mình nó?

Ông Mã nói với con mình:

– Họ nói phải đấy con ạ! Vậy cha nhường cho con cưỡi. Cha cầm cương cho.

Thế là một mình Mã công tử ngồi ngựa, ông Mã đi bộ theo. Họ yên tâm đi xóm nhà khác, bây giờ trời đã khá trưa, những người ngồi mát trên đường thấy cảnh cha con họ Mã như vậy, họ kéo ra đón đầu ngựa, xỉ vả người con:

– Ai dạy công tử về cách hiếu đạo như thế? Con thì ngồi ngựa kênh kiệu, để cha chạy bộ theo đổ mồ hôi! Qua cánh đồng kia có học hiệu Khổng Môn, chắc họ đánh công tử trào máu ra mất!

Mã công tử lật đật nhảy xuống ngựa, chắp tay thưa với cha:

– Họ nói phải đấy cha ạ! Nãy giờ con cũng khỏe rồi, cha hãy cưỡi nó cho đỡ mệt. Người cha lên ngựa đi, ngang qua “Khổng Môn học hiệu”, một số học trò ở đó biết mặt ông già, chúng chạy lại đón ông nói:

– Mã lão bá! Lão bá lâu nay mạnh giỏi chứ? Nghe nói lệnh lang lâu nay bệnh thập tử nhất sinh, nay mới vừa hơi bình phục lão bá để lệnh lang nhọc nhoài cho đành. Mã lão nhảy xuống ngựa nhìn con rồi thì thầm:

– Kể ra họ nói cũng phải. Kể không còn bao xa, ta dắt ngựa đi vậy. Hai cha con xuống ngựa dắt bộ, hồi lâu đến xóm khác, có ai đó nhìn ngựa rồi chửi:

– Đúng là cha con một lão vô học. Đây là giống Hoàng Tuyết Phiêu, một loại thiên lý mã, mua về để cưỡi hoặc làm giống, nào phải mua về để thờ, sao có ngựa lại không cưỡi?

Cha con họ Mã thiếu điều muốn khóc. Lão nói với con:

– Cưỡi ngựa cũng bị chửi, mà không cưỡi cũng bị chửi! Ta chịu hết nổi! Thôi thả quách cho xong! Hai người dắt đi một đoạn cho khuất mắt mọi người, rồi tháo cương, cởi yên, đánh một roi, ngựa dong tuốt vào rừng mất dạng. Về đến nhà, bà cụ nghe đón đầu ngõ. Ông cụ thuật lại mọi chuyện. Bà cụ nghe qua đấm vào đầu bình bịch, vừa khóc vừa nói:

– Ngu sao là ngu! Có bao nhiêu tiền nong vét đi mua ngựa, rồi thả ngựa đi! Xưa nay miệng lưỡi thế gian. Việc mình mình cứ làm, chiều ý, nghe lời họ làm gì? Rồi đây lấy gì mà sinh sống, lấy gì mà cưới vợ cho con? Ngu ơi la ngu!…

Lời bàn:

Ðôi khi chúng ta cũng bị ảnh hưởng rất nhiều vì những lời khen chê của thiên hạ. Dĩ nhiên chúng ta cần phải biết lắng nghe những ý kiến xây dựng của những người có thiện chí muốn giúp đỡ chúng ta. Tuy nhiên chúng ta không nên để mình bị “rung động” bởi những lời dèm pha thiếu nền tảng của người khác.

Quả là, không “ở sao cho vừa lòng người”! Ông già họ Mã hiền hậu đến mức thiếu tự tin. Những người ngoài nhìn vào làm sao hiểu được tình trạng của họ Mã và con ngựa kia như thế nào?

Ý kiến nào họ nói cũng phải, nhưng trước nhất họ Mã phải biết đánh giá được cái việc của mình. Tục ngữ có câu: “Chín người mười ý”, thì ý thứ mười là ý mình vậy. Mua ngựa là quyết tâm, mà giữ được “quyết tâm” (chỉ con ngựa) là thiếu quyết định. Thiếu một trong hai cái đều hỏng.

(Hoài Nguyễn chuyển bài)

May be an image of ocean

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Khi chọn được vật tế thần, ta yên chí rằng chỉ cần loại nó đi, tất cả sẽ sạch tội.

  04/06/2021

By  HIỀN MINH

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

 Bên dưới bức thư xin lỗi đăng trên trang Facebook Muối và Ánh sáng của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng ngày 30/5/2021 là hàng loạt các bình luận chửi bới, mỉa mai, công kích.[1]

“Tắt văn dùm, vì sự vô ý thức, thái độ thiếu trung thực của các ông các bà mà ảnh hưởng đến bao người. Thay vì cảm ơn chúa thì hãy cảm ơn các y bác sĩ ấy.”

“Nếu ngay từ đầu hợp tác và khai báo trung thực thì hậu quả đâu đến mức này? Giờ viết thư xin lỗi để làm gì trong khi biết bao nhiêu con người ngoài kia đang phải chịu ảnh hưởng và gồng mình chống dịch […]”

“Thay vì viết cái lá thư sáo rỗng này thì ông bà nên thành thật khai báo đã tiếp xúc những ai để cho chính quyền còn biết mà khoanh vùng dịch cho đúng. Khỏi bệnh rồi thì bán hết tài sản để nộp cho quỹ phòng chống dịch bệnh đi, nguy hại mà gia đình ông bà gây ra cả mấy triệu dân ở thành phố này đang phải gánh chịu đấy. Đừng có nói mồm hay viết tay suông.”

“Tụ tập đông người trong phòng kín, không đeo khẩu trang (mặc dù đang có dịch và có quy định phải đeo khẩu trang nơi công cộng và chỗ đông người) thì lỗi của ai đây? Thiệt hại của hàng triệu con người cả thành phố do hậu quả của việc này thì ai chịu trách nhiệm đây?”

Giữa đợt bùng phát dịch lần thứ tư tại Việt Nam, tất cả sự chú ý dường như đang dồn vào một cái tên: Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Từ ba ca nhiễm được phát hiện vào hôm 26/5, họ bị quy kết trách nhiệm cho hàng ngàn ca nhiễm mới trong thành phố. Truyền thông đưa tin dồn dập về họ. [2] Các phản ứng chính sách diễn ra liên tiếp chỉ trong vài ngày: khởi tố vụ án (30/5), đề nghị đình chỉ hoạt động và rút giấy phép hoạt động tôn giáo (1/6). [3] [4] Ban Tôn giáo còn lên tiếng cả về cách họ gọi tên tổ chức mình (không phải hội thánh!), cách họ gọi tên chức sắc tôn giáo của mình (không phải mục sư!). [5]

Các bài viết về chuyện xử lý vụ việc này thu hút hàng loạt bình luận cho rằng nhà nước thật “anh minh”, và việc quản lý các điểm nhóm tôn giáo phải được siết chặt hơn nữa.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Những dữ kiện bị phớt lờ

Có một vài dữ kiện mà những người đang nhiệt tình kết án nhóm sinh hoạt chỉ có hơn 50 thành viên kia bỏ qua.

Thứ nhất, không có bằng chứng cho thấy nhóm sinh hoạt này giấu thông tin hay vi phạm các quy định phòng chống dịch. Các thông tin trên báo chí về chuyện đeo khẩu trang hay không, tập trung bao nhiêu người đều rời rạc và thiếu căn cứ. Người quản nhiệm hội thánh khẳng định rằng họ đã tuân thủ các quy định và không giấu thông tin. [6] Cho dù viết thư xin lỗi và mong được lượng thứ, họ không hề thừa nhận làm lây lan dịch bệnh. Vụ án mới chỉ bắt đầu được điều tra, chưa đưa ra kết luận gì.

Thứ hai, chưa rõ nguồn lây nhiễm và thời điểm lây nhiễm của những ca bệnh thuộc hội thánh này. Những dấu hiệu đầu tiên của đợt lây nhiễm mới nhất đã xuất hiện từ tháng Tư, nhưng các hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Người dân cả nước vẫn nghỉ lễ và du lịch khắp nơi trong kỳ nghỉ 30/4 và 1/5. Đến ngày bầu cử 23/5, khi dịch đã bùng phát mạnh ở các tỉnh phía Bắc, nhà nước truyền đi thông điệp quyết tâm tổ chức thành công kỳ bầu cử trong mọi tình huống của dịch. [7] Ngay cả tâm dịch Bắc Ninh và Bắc Giang cũng hô hào quyết tâm. [8] Các cán bộ mang luôn cả thùng phiếu vào trong bệnh viện, tới tận giường của những bệnh nhân nằm liệt tại chỗ để họ bỏ phiếu. [9]

Nếu như mầm bệnh đã có trong cộng đồng từ lâu, chỉ với hai sự kiện nói trên, việc truy nguyên là gần như bất khả. Các ca nhiễm từ hội thánh hoàn toàn có thể là lây chéo từ những chuyến du lịch trong kỳ nghỉ lễ, hay những điểm bầu cử mà họ tham gia trước đó. Việc gán nguyên nhân của chuỗi lây nhiễm mới với các sinh hoạt tôn giáo của hội thánh này, cho đến nay, là vô căn cứ.

Thứ ba, có sự phân biệt đối xử đối với Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Khi dịch bùng phát ở các khu công nghiệp tại Bắc Giang, Bắc Ninh, không cá nhân nào bị đem ra chỉ trích. Khi có ca nhiễm từ tổ bầu cử ở Goldmark City, Hà Nội, chẳng ai chất vấn ai đã vi phạm quy định. [10] Thế nhưng, khi một nhóm sinh hoạt tôn giáo tiếp tục hoạt động và có ca nhiễm, vụ việc lại bị khởi tố.

Ngày 21/5/2021, Bộ Y tế ra một công văn yêu cầu không cung cấp cho báo chí danh tính, lịch trình di chuyển và quá trình tiếp xúc của bệnh nhân, nhằm tránh xâm phạm đời tư của người bệnh.11 [11] Quy định này sau đó được báo chí tuân thủ, nhưng đến trường hợp của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng thì lại như chưa từng tồn tại.

Các tờ báo chạy đua với nhau đăng thông tin cá nhân, [12] lịch trình di chuyển của những ca nhiễm là thành viên của nhóm. [13] Giữa hàng trăm ca nhiễm mới được đánh số, bỗng dưng lại có vài nhân vật có danh tính, tôn giáo, địa chỉ rõ ràng. Không khó hiểu tại sao tất cả sự căm ghét dồn về phía họ.

Từ việc quy kết mọi lỗi lầm cho một tổ chức tôn giáo, người ta bắt đầu chất vấn cả loại hình tổ chức của họ. Kết quả là khi sự việc chưa ngã ngũ, hội thánh đã bị dọa rút giấy phép hoạt động. Các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tương tự thì bị đưa vào đối tượng nguy cơ cao cần xét nghiệm đầu tiên. [14] Những lời yêu cầu nhà nước tăng cường quản lý điểm nhóm tôn giáo xuất hiện ở nhiều diễn đàn, bất chấp một thực tế rằng chính sách quản lý tôn giáo ở Việt Nam đã luôn khắt khe đến mức báo động trên thế giới. [15]

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

“Ai chịu trách nhiệm đây?” (Không phải tôi)

Con người không được tạo hóa thiết kế để thấy dễ chịu trong những tình huống rủi ro và bất định. Khi có chuyện gì xấu xảy ra, bản năng đổ lỗi (blame instinct) sẽ được kích hoạt để tìm ra một nguyên do đơn giản, rõ ràng cho nó. Như một cơ chế tự vệ, bản năng này có nhiệm vụ tìm ra ai đó chịu trách nhiệm cho việc này, nếu không thì thế giới sẽ thật khó đoán, rối bời, đáng sợ. [16]

Đại dịch COVID-19, đặc biệt là đợt lây nhiễm mới nhất với những biến chủng nguy hiểm và khó lường, rõ ràng đã đặt chúng ta vào một tình thế bấp bênh chưa từng có.

Mark Schaller, giáo sư tâm lý tại Đại học British Columbia, tác giả cuốn “Social Psychology of Prejudice” cho rằng mối liên quan giữa đại dịch và việc đổ lỗi có nguồn gốc tiến hóa. [17] Phản ứng đó là một phần của khái niệm mà ông gọi là hệ miễn dịch tâm lý hành vi (behavioral immune system), tương tự như hệ miễn dịch của cơ thể. Ta đẩy lỗi cho ai đó khác để bản thân có thể yên tâm rằng mình vô can. Và để khiến cho sự đùn đẩy của mình có lý lẽ, chúng ta tự động gán cho đối tượng những đặc tính tiêu cực.

Cơ chế này dường như khớp với cách mà chúng ta đang đòi Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chịu trách nhiệm cho đợt lây lan dịch tại thành phố Hồ Chí Minh, trong khi mọi thứ còn đang là dấu hỏi. Từ vài lời kể rời rạc, chúng ta vội vàng quy kết rằng họ làm sai quy định, họ giấu giếm không hợp tác. Suy nghĩ đó dựa trên một niềm tin rằng nếu tuân thủ quy định thì hẳn là đã không sao rồi.

Niềm tin đó rõ ràng là mong manh, chỉ cần xét riêng một chuyện là hàng chục triệu người dân cả nước vẫn đi du lịch khắp nơi và đi bầu khi dịch đã bắt đầu bùng phát. Thực tế cho thấy, các diễn biến xảy ra bất ngờ, và tất cả mọi người, bao gồm cả các đơn vị chuyên trách, đều đang ở thế căng mình để chống chọi. Phần lớn có lẽ đều đang ở trong trạng thái như người quản nhiệm Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chia sẻ khi biết chuyện: “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra”. [18] Nhưng thừa nhận sự bất lực này lại không phải thói quen của bản năng đổ lỗi. Bằng cách chỉ ngay ngón tay vào người đã dám “không biết”, dư luận khước từ gánh nặng của việc phải chấp nhận một sự thật khó nhằn.

Lựa dê tế thần

Nếu đổ lỗi là một bản năng tự vệ của từng cá nhân, thì việc lựa chọn ai làm người gánh chịu tội lỗi lại phản ánh những định kiến, niềm tin, lý tưởng của cộng đồng. Hành vi này gọi là “scapegoating”.

“Scapegoat” trong tiếng Anh được ghép từ “escape” – chạy thoát và “goat” – con dê. Từ này có nguồn gốc từ Kinh thánh, mô tả một nghi thức đền tội của người Do Thái với Thiên Chúa của họ, trong đó có hai con dê được chọn. [19] Một con bị giết để dâng lên làm vật đền tội, con còn lại thì gánh tất cả tội lỗi của một cộng đồng và sau khi cầu nguyện thì được thả vào trong hoang mạc. Bằng cách đó, tất cả được sạch tội.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Các nhà tâm lý học xã hội mượn từ này để xác lập lý thuyết vật tế thần (scapegoat theory). Theo Peter Glick, giáo sư Đại học Lawrence, khái niệm này mô tả một hình thái định kiến cực đoan, trong đó một nhóm ngoại lai bị đổ lỗi cố tình gây ra tai ương cho một nhóm nội bộ. [20]

Các phong trào tế thần (scapegoat movement) trong một cộng đồng thường diễn ra khi họ phải đối mặt với những tình huống phức tạp, trong đó, chướng ngại vật để vượt qua là không rõ ràng. Các cuộc săn linh vật tế thần thu hút nhiều người tham gia là do nó có thể đưa ra một câu trả lời đơn giản hơn. Trong cuộc săn tìm đó, người ta thường đưa ra các lựa chọn phi lý trí, do nỗi sợ và tâm lý vội vàng ảnh hưởng đến năng lực nhận thức, và do thiếu thông tin.

Trong chương 15 của cuốn sách “On the Nature of Prejudice: Fifty Years after Allport”, Peter Glick tổng hợp các lý do giải thích cho lựa chọn vật tế thần trong các lý thuyết tâm lý xã hội đương đại. [21] Theo đó, vật tế thần thường là một nhóm thiểu số với các tiêu chí: (1) quyền lực không quá mạnh để có thể phản kháng, nhưng cũng không quá yếu (vì yếu quá thì không thể gây ra tai ương), (2) khớp với những định kiến có sẵn trước đó trong cộng đồng và (3) tiện lợi.

Thử dùng lý thuyết này để xem xét vụ việc Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng bị chỉ trích, ta thấy nhóm này thỏa các điều kiện đã nêu của một “vật tế thần”. Họ là một nhóm tôn giáo thiểu số, không có tổ chức mạnh nhưng đã được công nhận hoạt động điểm nhóm, thuộc tầng lớp trung lưu (không quá mạnh, không quá yếu). Hoạt động của các nhóm sinh hoạt tôn giáo tự phát từ lâu đã nhận nhiều định kiến từ phía dư luận, bị nhà nước xem là “tà đạo” (định kiến). Thông tin về họ được công bố theo cách vừa đủ để dư luận suy đoán và đánh giá (tiện lợi).

So sánh với các nguồn lây nhiễm khả thi khác, như một tổ chức tôn giáo lớn hơn, những nhóm công nhân yếu thế, hay các hội đồng bầu cử, ta thấy việc đổ lỗi cho hội thánh nhỏ này “tiện lợi” hơn nhiều.

Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng có phải là vật tế thần hay không chỉ là một giả thuyết. Vẫn tồn tại khả năng họ thực sự đã cố tình làm sai, xem nhẹ an toàn của cộng đồng. Nhưng việc các nhóm tôn giáo thiểu số trở thành mục tiêu đổ lỗi trong đại dịch COVID-19 thì không phải là chuyện lạ trên thế giới, và còn có tính lịch sử. [22]

Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies – Anh) đã tư liệu hóa sự phân biệt đối xử và đổ lỗi mang tính hệ thống với người Hồi giáo ở Ấn Độ, người Yazidis, Kaka’i và các nhóm theo đạo Cơ Đốc ở Iraq, và người Khmer theo đạo Hồi ở Campuchia. [23] Những cộng đồng này thường bị cáo buộc làm lây lan dịch bệnh. Họ trở thành nạn nhân của các chiến dịch thù ghét trên mạng xã hội, với sự tham gia của cả các chính khách và giới báo chí. Đáng chú ý, họ đều đã là nạn nhân của định kiến phổ biến từ trước đó, khớp với lý thuyết được giáo sư Peter Glick nêu phía trên.

Đơn cử, vào tháng 3/2020, khi một nhóm người Hồi giáo trở về Campuchia sau khi tham gia một sự kiện ở Malaysia, họ được phát hiện dương tính với COVID-19. Thông tin về tôn giáo của những người này được chính bộ trưởng y tế Campuchia tiết lộ trên Facebook cá nhân, trong khi Bộ Y tế yêu cầu truyền thông cẩn trọng khi công bố thông tin người bệnh. Chi tiết về tôn giáo lập tức tạo nên một làn sóng thù ghét và đổ lỗi nhắm vào người Khmer theo đạo Hồi, vốn đã là nhóm yếu thế so với những người Khmer theo đạo Phật ở Campuchia. [24]

“Họ nên bị nhốt trong nhà”, một người dùng Facebook viết.

“Tại sao mấy người có thể ngu ngốc và vô tâm đến mức mang lại phiền toái cho biết bao người khác”, một người khác bình luận.

Các bình luận dạng này cũng xuất hiện nhiều trong phong trào đổ lỗi cho người Hồi giáo ở Ấn Độ, cùng thời điểm tháng 3/2020. [25] Khi một số nhà truyền giáo Ấn Độ được phát hiện nhiễm virus SARS-coV-2 sau một sự kiện quốc tế tổ chức tại Delhi, bộ trưởng phụ trách các vấn đề của cộng đồng thiểu số đã công khai gọi những người tổ chức sự kiện này là “tội phạm Taliban”. Những làn sóng chỉ trích, lăng mạ đi kèm với thông tin sai lệch lan rộng với phạm vi khoảng 170 triệu tài khoản Twitter.

“Đại dịch đã cho thấy người Hồi giáo Ấn Độ là những kẻ phản bội và không trung thành với tổ quốc.”

“Ấn Độ cần được tự do khỏi Corona và Jihad (từ ám chỉ những người Hồi giáo với nghĩa tiêu cực) vì cả hai đều là những vũ khí chết người.”

Khi đã chọn được con dê tế thần, người ta được trấn an với ảo giác rằng chỉ cần loại nó ra khỏi cộng đồng thì mọi chuyện sẽ được giải quyết.

Cơn say đổ tội thường sẽ khiến chúng ta ngừng tìm hiểu các nguyên nhân khác, cũng như giải pháp để ngăn chặn các vấn đề tương tự xảy ra trong tương lai. Đối tượng được chọn làm vật tế thần thì chẳng biết mình có tội gì, nhưng vừa phải chịu đau đớn thể xác vì nhiễm bệnh, lại vừa phải chịu hành hạ về tinh thần trước những lời nhẫn tâm không ngừng trút xuống lúc này, mà chắc chắn để lại hậu quả kỳ thị dài lâu.

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng đại dịch không thể được giải quyết bằng những cách hành xử phi lý trí đó.

From: Luật Khoa

Gắp lửa bỏ tay người

Gắp lửa bỏ tay người

Bởi  AdminTD

Đỗ Ngà

3-6-2021

Ngày 27/5, báo Zing có post phóng sự ngắn có tựa đề “Số ca nhiễm liên quan Hội thánh truyền giáo Phục Hưng sẽ tăng”. Trong phóng sự đó BS. TS Nguyễn Trung Hoàng – giám đốc Trung Tâm Y tế Quận Gò Vấp cho biết “Những người trong gia đình của ông bệnh nhân này ngày bầu cử có đi bầu cử”.

Ngày 3/6 báo Vnexpress có bài viết “Gần 300.000 người TP HCM liên quan ổ dịch hội truyền giáo”, trong bài này người ta thống kê trong nửa tháng qua, cả TP. HCM 275 ca nhưng những ca liên quan đến Hội Truyền Giáo Phục Hưng là 248 ca.

Ngày 28/5, trên báo Vnexpress có bài viết “Thêm hai ca nghi nhiễm, hình thành chuỗi lây mới ở TP HCM” có cho biết Hai vợ chồng trú tại chung cư Sen Xanh, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú bị mắc Covid -19, và hai vợ chồng này “không đi bầu cử”. Và cho đến nay, không thấy báo chí nói gì về những bệnh nhân nào nữa lây từ 2 bệnh nhân này.

Đều là người nhiễm Covid-19 nhưng người đi bầu cử lại làm Covid bùng phát còn người không đi bầu thì không bùng. Đây là những thông tin tôi lấy từ báo chí CS. Với bạn đọc công tâm, hãy xem nguyên nhân nào gây nên tình trạng dịch bùng phát? Phải chỉ đích danh nó là do bầu cử.

Cuộc bầu cử giả hiệu ngày 23/5 vừa qua được ví như là một kho xăng, còn mỗi bệnh nhân nhiễm Covid – 19 là một đốm lửa. Nếu chính quyền CS không lấy đóm lửa đó quẳng vào kho xăng thì làm sao xăng bùng cháy giữ dội như hôm nay? Dù cho chính quyền này đang biến Hội Truyền Giáo Phục Hưng thành bao cát để xã hội trút giận thì bản chất vấn đề vẫn không thay đổi. Sự thật vẫn là do ĐCS đã ép mồi lửa phải châm vào xăng cho ngọn lửa dịch bùng phát chứ không ai khác.

Việc cho báo chí đồng loạt tố Hội Truyền Giáo Phục Hưng là hành động gắp lửa bỏ tay người – một thủ đoạn đáng tởm của cái đảng này. Nó đã làm điều đó từ 76 năm qua và bây giờ vẫn tiếp tục. Người dân Việt Nam đang phải sống dưới sự cai trị của cái đảng khốn nạn như vậy, thật là bất hạnh.

_____

Tham khảo:

https://zingnews.vn/video-so-ca-nhiem-lien-quan-hoi-thanh-truyen-giao-phuc-hung-se-tang-post1220184.html

https://vnexpress.net/them-hai-ca-nghi-nhiem-hinh-thanh-chuoi-lay-moi-o-tp-hcm-4284855.html

https://vnexpress.net/gan-300-000-nguoi-tp-hcm-lien-quan-o-dich-hoi-truyen-giao-4288382.html

CÂU CHUYỆN BẤT NGỜ PHÍA SAU BỨC ẢNH GÂY CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI

 Lê Vi

CÂU CHUYỆN BẤT NGỜ PHÍA SAU BỨC ẢNH GÂY CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI

Năm 1987 Và Đã Làm Thay Đổi Lịch Sử Nền Y Học.

Bác sĩ Zbigniew Religa đã ra đi nhưng bệnh nhân mà ông đã cứu sống và bức ảnh ghi lại khoảnh khắc lịch sử của nền y học vẫn còn sống mãi.

Bức ảnh này được nhiếp ảnh gia người Mỹ James Stansfield chụp lại vào tháng 8/1987. Có lẽ anh sẽ không bao giờ ngờ được thành quả của mình đã làm thay đổi cả thế giới khi được công bố. Khoảnh khắc lịch sử trong bức ảnh còn được kênh National Geographic bình chọn là tấm ảnh đẹp nhất của năm 1987.

Trong tấm ảnh là một bác sĩ đang ngồi nghỉ cạnh giường bệnh nhân sau ca phẫu thuật ghép tim đầu tiên trên thế giới và cũng là ca phẫu thuật làm thay đổi nền y học cũng như cuộc sống của hàng triệu người sau này.

Tuy nhiên, phía sau bức ảnh lịch sử ấy là cả một câu chuyện đầy ý nghĩa mà nhân vật chính là bác sĩ Zbigniew Religa, người Ba Lan.

Năm 1963, Religa học xong Đại học Y khoa Warszawa. Năm 1973, ông đến thăm thành phố New York để học hỏi về cách phẫu thuật mạch máu, và năm 1975 ông đã được đào tạo về phẫu thuật tim tại Detroit.

Năm 1985, ông là người thực hiện ca mổ ghép tim đầu tiên ở Ba Lan. Chỉ hai năm sau, khi đang làm Trưởng khoa Tim mạch tại Zabrze, ông đã quyết định tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân Tadeusz Zitkevits, 61 tuổi sau khi người này bị nhiều bác sĩ khác từ chối do tuổi quá cao. Tỷ lệ thành công của ca phẫu thuật là rất thấp, nếu không nói là bất khả thi.

2 năm trôi qua, khi tìm được quả tim phù hợp với bệnh nhân, bác sĩ Regila ngay lập tức lên lịch phẫu thuật. Ông cùng đội ngũ y bác sĩ của mình đã tiến hành phẫu thuật suốt 23 tiếng đồng hồ không ngủ nghỉ.

Sau khi kết thúc cuộc chiến giành sự sống, bác sĩ Religa thay vì nghỉ ngơi đã ngồi im lặng bên cạnh giường bệnh nhân để chờ đợi dấu hiệu sự sống. Ở phía góc phòng, một nữ y tá dường như đã kiệt sức, nằm ngủ ngay trên sàn giữa những trang thiết bị y tế ngổn ngang. Tất cả khoảnh khắc, cảm xúc của những y bác sĩ đã được nhiếp ảnh gia James Stanfield ghi trọn. Ông cho biết ngày hôm sau, bệnh nhân đã hồi phục và cảm thấy khỏe mạnh trở lại.

Một câu chuyện khác nữa mà nhiều người vẫn chưa hề biết tới về những khó khăn mà vị bác sĩ đầy tài năng và y đức đã phải trải qua để có thể tiến hành ca ghép tim quan trọng.

Vào thời điểm quyết định phẫu thuật ghép tim, ông đã bị nhiều người phản đối vì tin rằng hành động đó là hủy hoại một phần cơ thể con người. Tất cả các bác sĩ và bệnh viện khác đều lo lắng sẽ bị tước giấy phép hành nghề nếu tiếp tục phẫu thuật và sợ rằng sẽ không thành công.

Không có nguồn hỗ trợ tài chính hay nguồn lực nào, bác sĩ và nhóm của ông đã tự gây quỹ riêng. Vượt qua mọi trở ngại, họ đã thành công và làm nên dấu ấn không ai có thể quên. Bác sĩ Religa đã cho thấy một khía cạnh khác của y học hiện đại và chứng minh rằng không gì là không thể.

Sau ca ghép tim này, bác sĩ Regila cống hiến cho ngành y của đất nước cho tới khi qua đời vào ngày 8/3/ 2009 vì bệnh ung thư phổi. Đám tang của ông đã được phát sóng trực tiếp trên truyền hình. Cả nhiếp ảnh gia James và bệnh nhân Zitkevits Tadeusz đều có mặt chứng kiến giây phút chia ly, trên tay cầm bức ảnh chụp lại giây phút trong phòng mổ ngày hôm đó.

Đến năm 2006, ông Zitkevits Tadeusz đã 90 tuổi và vẫn luôn giữ tấm hình giống như bùa hộ mệnh của mình. Mặc dù trái tim của bác sĩ Zbigniew Religa đã ngừng đập nhưng trái tim của bệnh nhân mà ông đã cứu sống vẫn khỏe mạnh tới bây giờ.

SƯU TẦM

May be an image of 1 person, standing and indoor

Ước mơ sở hữu ô tô giá rẻ ở Việt Nam có hiện thực hay không?

Một chiếc Camry XLE 2.5 2019 có giá lăn bánh tại Mỹ là 28925 USD (670 triệu) nhưng để lăn bánh ở Việt Nam sẽ có những loại thuế và phí sau:

+ Thuế nhập khẩu 70% giá xe là: 1tỷ 140 triệu

+ Tiếp theo là thuế tiêu thụ đặc biệt áp lên dung tích 2500cc là 50% giá xe Camry XLE 2.5 2019 lên: 1tỷ 710 triệu

+ Sau đó là thuế giá trị gia tăng (VAT) là 10% giá xe: 1tỷ 881 triệu

+ Để chiếc xe lăn bánh ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh bạn mất thêm 12% phí trước bạ giá xe ~2tỷ 100 triệu

+ Phí cấp biển số ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 20 triệu giá xe: 2tỷ 120 triệu

+ Và sau khi trải qua 15 loại thuế và phí giá xe Camry XLE 2.5 2019 là ~2tỷ 200 triệu cho 1 con xe có giá gốc 670 triệu!

Mọi người đã thấy tại sao lại có những loại phí và thuế chồng lên nhau, như vậy ước mơ sở hữu ô tô giá rẻ ở Việt Nam có hiện thực hay không?

May be an image of text

CHÚ CHÓ…

CHÚ CHÓ…

Một người đàn ông vừa mất, và con chó thân thích của ông ấy được người con trai chăm sóc….

Mấy ngày sau, anh mới phát hiện ra rằng:

– Con chó đã biến mất…

5 ngày sau! Từ nghĩa trang điện thoại báo với anh ấy rằng… Có một con chó đã đào mộ của cha anh ấy và cứ lẩn quẩn ở đó không chịu đi.

Anh ra nghĩa trang bắt chó về, lấp đất lại cho ngôi mộ Nhưng hôm sau nó lại bỏ đi… và lại đào mộ lên.

Và cứ như thế nhiều lần…

Anh đành bỏ chó lại bên ngôi mộ cha mình và hàng ngày chịu khó đem cơm nước ra cho nó.

Nhưng tuyệt nhiên, con chó không đụng đến cơm nước và không cho ai bước gần tới ngôi mộ…

Một tuần sau, nó chết trên mộ của người chủ sở hữu mình.

– Bạn thấy đấy, chó là sinh vật duy nhất trên trái đất này… sẵn sàng hy sinh cho bạn vì bạn mà quên thân mình.

BÙI NGỌC THUẬN

May be an image of outdoors, monument and text

CÁNH CỬA MỚI

 CÁNH CỬA MỚI

Cách đây, hàng thế kỷ, tại một đất nước nọ có một họa sĩ. Anh muốn tạo ra một bức tranh thực sự tuyệt vời có thể tỏa ra sự thiêng liêng, một bức tranh về một gương mặt có ánh mắt tỏa ra sự bình yên vô hạn. Anh lên đường để tìm kiếm một người nào đó có gương mặt vượt ra khỏi giới hạn của đời sống này, một cái gì đó siêu việt.

Anh lang thang khắp đất nước, hết làng này đến làng nọ, hết cánh rừng này đến cánh rừng khác nhắm tìm một người như thế. Cuối cùng anh gặp một người chăn cừu trên núi có sự ngây thơ trong trắng trong đôi mắt sáng và gương mặt thanh tú với nét siêu linh. Chỉ cần liếc nhìn anh cũng đủ để tin rằng Thượng đế tiềm ẩn nơi nhân loại.

Người họa sĩ vẽ một bức họa về người chăn cừu trẻ tuổi này. Hàng triệu bản sao của bức họa này đã được bán sạch, thậm chí ngay cả ở những khu vực xa xôi. Mọi người cảm thấy hạnh phúc khi có thể treo bức họa này trên tường nhà mình.

Hai mươi năm sau, người họa sĩ đã già, một ý tưởng khác chợt nảy ra trong tâm trí ông. Theo kinh nghiệm sống của ông, nhân loại không hòan toàn ngoan đạo; ma quỷ vẫn tồn tại trong họ. Ý tưởng này làm nảy sinh dự định vẽ một bức tranh nhằm phản ánh hình ảnh ma qủy trong con người. Hai bức họa này, ông nghĩ, sẽ bù trừ cho nhau, đại diện cho toàn nhân loại.

Ở tuổi già, ông lại lên đường tìm kiếm. Lần này ông muốn tìm một người không phải là người mà là ma quỷ. Ông đến các khu nhà ổ chuột, các quán rượu, các nhà thương điên. Người này cần phải có ngọn lửa của địa ngục; gương mặt của anh ta phải thể hiện được nét tàn bạo, xấu xí, ác dâm. Ông tìm kiếm hình ảnh của tội lỗi. Trước đây ông đã vẽ nên hình ảnh về sự hóa thân của loài quỷ dữ.

Sau khi tìm kiếm thật lâu, cuối cùng ông tìm được một tù nhân. Người tù này phạm bảy tội giết người và bị kết án treo cổ trong vài ngày tới. Ngọn lửa địa ngục đang bùng cháy trong mắt hắn; hắn trông giống như hiện thân của tội ác. Gương mặt của hắn là gương mặt xấu xí nhất mà bạn có thể hình dung ra. Người họa sĩ bắt đầu vẽ hắn.

Khi hoàn tất bức họa, ông mang bức họa trước đây ra đặt bên cạnh để đối chiếu. Nhìn từ góc độ nghệ thuật thì thấy khó có thể xác định được bức họa nào tốt hơn bức họa nào; cả hai đều là kiệt tác. Người họa sĩ đứng đó, mắt nhìn trừng trừng vào hai bức họa. Chợt ông nghe thấy tiếng khóc thút thít. Ông quay lại và trông thấy người tù bị xiềng xích đang khóc nức nở. Người họa sĩ vô cùng bối rối. Ông hỏi: “Này chàng trai, tại sao anh lại khóc? Hai bức tranh này khiến anh buồn sao?”

Người tù đáp: “Tôi vẫn luôn cố gắng che đậy một điều trước mặt ông, nhưng hôm nay tôi không thể giấu diếm được nữa. Bức họa thứ nhất cũng là bức họa về tôi. Cả hai bức tranh này đều vẽ khuôn mặt của tôi. Tôi chính là người chăn cừu mà ông đã gặp cách đây hai mươi năm trên ngọn đồi kia. Tôi khóc vì sự suy vong của mình trong suốt hai mươi năm qua. Tôi đã rơi từ thiên đàng xuống địa ngục.”

@ Suy ngẫm

Cuộc sống con người đều có hai mặt. Trong mỗi con người cả thiên thần lẫn quỷ dữ tồn tại; trong mỗi con người luôn có thiên đàng lẫn địa ngục Trong mỗi con người luôn tồn tại những bông hoa xinh đẹp lẫn những đầm lầy xấu xí. Mỗi người đều liên tục dao động giữa hai thái cực này, nhưng hầu hết mọi người đều xuất hiện bên bờ địa ngục. Rất ít người có đủ can đảm để thiên đàng phát triển trong chính mình.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Lòng người hay luôn đổi thay

Khi là thiên thần khi thay quỷ ma

Chúa muốn con là thiên thần

Ngài luôn trợ giúp từng ngày cho con.

Mỗi ngày chọn lựa tự do

Sống sao cho tốt sống cho tình Ngài

Xin Mẹ phù giúp cho con

Chọn lựa cách sống cho trọn yêu thương. Amen.

May be art of 1 person

Tâm Vạn Biến…

GÓC SUY GẪM

Tâm Vạn Biến…

Người ta sinh ra thi yếu mềm,khi chết thì cứng lại .

Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu,khi chết thì khô cứng,

Cho nên cứng rắn,cáu giận là biểu hiện của chết,mềm dẻo,khiêm nhường là dấu hiệu của sự sống…

Ta hãy thay đổi 1 chút về quan niệm sống .

Để biết cho đi là nhận, là còn mãi….

Để biết tha thứ cũng là tự giải thoát cho mình.

Để biết mở rộng trái tim ra sẽ dễ chịu hơn là khép lại nó sau những tổn thương.

Để ta học được chân thành với người khác,cũng là đối với bản thân ta….

Để ta biết rằng yêu thương không bao giờ là dư thừa cả…

Đừng mất thì giờ phân định việc thị phi cho rành mạch đen trắng trong khi tất cả đều chỉ là tương đối trong tục đế mà thôi.

Cái đúng với người này có thể sai với người khác,

Cái phải ở chỗ kia có thể trái ở nơi nọ,

Cái đang đúng lúc này không hẳn sẽ đúng về sau…

Duyên phận giữa người với người thật sự rất sâu,

có thể gắn bó đến ngàn năm,

mặc cho phong trần lên xuống,

ôm mãi một mối tình không đổi.

Duyên phận giữa người với người cũng rất cạn,

chẳng qua là một khoảnh khắc gặp gỡ,

xoay người liền vĩnh viễn thành người lạ.

Duyên sâu sẽ hợp, duyên cạn sẽ tan,

Vì thế, phải chăng là nên lấy tư thái an tĩnh,

mỉm cười nhìn chuyện người chuyện đời chuyển biến,

nhìn lá rụng rời cành hôm nay …

thành mầm non nảy xanh biếc trên đầu cành ngày mai?

Sưu tầm

May be an image of body of water and text

Thiên Thần Bản Mệnh

Thiên Thần Bản Mệnh:

Thánh Giêrônimô thành Nyssa nói : “Chúa biết ác tâm của các thần dữ đang tìm cách ngăn trở không cho ai vào chỗ của chúng đã mất trên trời, nên Người ban cho mọi người chúng ta một thiên thần bản mệnh, để chống lại các nỗ lực của kẻ thù phần rỗi chúng ta”

Lính mục Công Giáo tên Lamy kể lại rằng. Một phụ nữ Công Giáo đạo đức xin tôi đến ban bí tích Xức Dầu Thánh cho chồng bà. Ông đau nặng, nhưng chưa hẳn ở vào giai đoạn cuối đời. Dầu vậy, bà ước ao cho chồng được lãnh nhận Bí Tích Bệnh Nhân khi còn tỉnh táo. Bà tự nhủ:

“Đâu ai biết được giờ chết sẽ xảy đến thình lình như thế nào!”.

Tôi nhận lời đến ngay, nhưng không mang theo dầu thánh, sợ gây hoảng sợ cho người bệnh. Lúc đến thăm, tôi ngạc nhiên khi thấy chính ông chồng ngỏ lời xin tôi ban phép bí tích sau cùng cho ông. Tôi vội vàng ra về và hứa sẽ trở lại ngay, mang theo Dầu Thánh. Bà vợ nói với tôi:

– “Thưa cha, con khép hờ cánh cửa ra vào. Khi nào đến, xin cha cứ tự tiện đẩy cửa vào nhà”.

Nhà hai ông bà ở trong một chung cư nơi lầu 6. Vào thời kỳ đó, các chung cư chưa có thang máy.

Một giờ sau, tôi bước vội lên cầu thang nhưng vô ý không tính xem mình đang ở lầu mấy. Bất ngờ tôi thấy trước mặt một cánh cửa khép hờ. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Một người đàn ông đang nằm trên giường, không giống người đàn ông lúc nãy, nhưng tình trạng bệnh hoạn lộ vẽ trầm trọng rõ ràng. Tôi lúng túng xin lỗi và chào thăm ông. Không ngờ, người bệnh như tỏ dấu hài lòng trông thấy một linh mục Công Giáo. Ông nói ngay:

– “Cha có biết không? Từ một tuần nay, con nài nĩ nhà con mời một linh mục đến cho con gặp. Nhưng nhà con cương quyết từ chối. Bởi lẽ cả hai vợ chồng chúng con đều là kẻ vô thần. Riêng con, ý nghĩ biết mình sắp chết khiến con kinh hoàng. Con liền tìm cách trở về với đức tin con nhận lãnh trong thời thơ ấu. Nhà con không đồng ý với con”. Nhà con nói:

– “Hễ là kẻ vô thần thì phải vô thần cho đến chết! Không có chuyện ‘tôn giáo nhảm nhí’ vài giây phút cuối đời!”. Thấy nhà con một mực từ chối, con liền quay sang khẩn khoản nài van Thiên Thần Bản Mệnh con cứu giúp. Con nhớ lại bài học giáo lý ngày con còn nhỏ về sự trợ giúp của Thiên Thần Hộ Thủ”.

Và Thiên Thần Bản Mệnh đã ra tay cứu giúp. Bà vợ của ông vừa ra khỏi nhà, nhưng quên đóng cửa lại. Còn tôi, tôi lại đi lộn cửa, vào nhằm nhà của ông. Tôi vui mừng nghe câu chuyện ông vô thần vừa kể. Tôi giúp ông dọn mình nhận lãnh các bí tích sau cùng. Tôi trao cho ông Mình Thánh Chúa làm của ăn đàng.

Xong xuôi đâu đó, tôi cẩn thận khép kín cửa lại và tiếp tục leo cầu thang lên lầu 6, nơi người bệnh thứ nhất đang chờ đợi tôi. Vừa đi tôi vừa đọc kinh cầu cùng Thánh Thiên Thần Bản Mệnh: “Lạy Thiên-Thần Chúa là đấng gìn giữ con. Xin Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen”.

ST.

Lenin & Andropov

Lenin & Andropov

 Theo thứ tự alphabetique xin được ghi lại đôi dòng về Andropov trước. Tôi cũng chỉ mới được nghe nhắc đến tên trong tập bút ký (Đồng Bằng) của nhà văn Nguyên Ngọc, qua những trang viết về một địa phương hẻo lánh – có tên là Rạch Gốc – nằm tuốt luốt dưới cái mỏm đất cực Nam của đất nước mình.

“Rạch Gốc chẳng chợ búa gì hết, mọi thứ phải chạy đò lên Năm Căn mua… Một buổi sáng, bước ra trước sân Ủy ban, tôi ngạc nhiên thấy treo cờ tang.

Hỏi sao vậy … trả lời: Ông Andropov chết.

Tôi hỏi lại: Ông Andropov là ai thế?

Trả lời: Không biết, nghe đài Hà Nội biểu treo cờ tang thì mình treo…

Cờ tang cho ông Andropov nào đó treo rất đúng quy cách, chỉ kéo tới nửa cột, thòng kèm một dải vải đen nhỏ phất phơ trong gió biển…”

Cái ông (“Andropov nào đó” ) nghe tên cũng có vẻ hơi quen quen nhưng tôi không nhớ được chính xác là cha nội nào cả. Nhẩy vô google chút xíu mới hết hồn, hết vía. Té ra đây là đồng chí lãnh đạo (“thứ dữ”) trong Thế Giới Vô Sản, kẻ kế nhiệm Leonid Brezhnev, chớ đâu phải thường dân.  

Dù chỉ tại chức một thời gian rất ngắn (rồi qua đời vì trọng bệnh) nhưng nhân vật này vẫn rất nổi tiếng vì có… bàn tay sắt:

  • Andropov là giám đốc KGB đầu tiên trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
  • Andropov là chính phạm trong vụ đàn áp cuộc nổi dậy của dân chúng Hungary, Tiệp Khắc, và tất cả những hoạt động của giới bất đồng chính kiến tại Liên Xô.
  • Andropov cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định tiến đánh Afghanistan, vào năm 1979.

Hung hăng và hung dữ dễ sợ! Hèn chi mà nhà đương cuộc Hà Nội ra lệnh cho cả nước phải treo cờ rũ, sau khi thằng chả chuyển qua từ trần, vào ngày 9 tháng 2 năm 1984. Đúng cái hôm mà Nguyên Ngọc ghé qua Rạch Gốc.

Nhà văn của chúng ta cho biết thêm:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo… mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay.”

Vậy mà sau khi cách mạng thành công thì các ông “đầu lĩnh” – kể cả bác Lê, lẫn bác Tôn – đều quên béng cái mảnh đất thấm đậm tình nghĩa (và ơn nghĩa) này. Gần mười năm sau, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Rạch Gốc vẫn chưa có điện nước và “chợ búa gì hết” ráo.

Ấy thế nhưng lệnh lạc từ Hà Nội, dù chỉ được truyền đi qua đài phát thanh, vẫn được chính quyền địa phương tuân hành răm rắp. Các anh ở trên “biểu treo cờ tang thì mình treo” liền, dù không ai biết Andropov là thằng cha (mẹ rượt) nào cả, vì “có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu ” – vẫn theo như lời Nguyên Ngọc.

Ngay tại Thủ Đô thì các đồng chí lãnh đạo cấp trung ương còn nhanh nhẩu hơn nhiều. Dù tượng đài của Lenin đã bị đập vỡ đầu, sứt trán ở rất nhiều nơi, và dù đài phát thanh từ Moscow chưa bao giờ nhắc nhở các nước chư hầu phải kỷ niệm cuộc Cách Mạng Tháng Mười (và ca tụng công đức của cha đẻ ra nó) nhưng Hà Nội vẫn nghiêm trang tổ chức lễ lạc đều đặn từ ấy hơn nửa thế kỷ qua.

Báo chí vẫn long trọng loan tin: Sáng nay 5-11, tại Hà Nội, 3.500 đại biểu đã tham dự Lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia… Đọc diễn văn kỷ niệm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Cách mạng Tháng Mười Nga đã “làm rung chuyển thế giới” phá tan một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa tư bản, đế quốc, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại.… đã sáng tạo ra một kỷ nguyên mới của nước Nga…

Loa, đài vẫn không ngớt tung hô khẩu hiệu:

Lenin – Ngọn hải đăng vĩ đại của nhân dân lao động

Lenin – nhà tư tưởng vĩ đại

Sự kiện này, xem chừng, có khiến cho nhà báo Từ Thức hơi bị phiền lòng:

“Cái anh Lenin khát máu của một thời đại tưởng đã thuộc về dĩ vãng đó, tập đoàn cầm quyền Hà Nội đã dựng dậy làm bùa hộ mệnh… Trong dịp tưởng niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10, hiện tượng không đâu có, kể cả ở Nga, là cả tập đoàn lãnh đạo VN, không thiếu một mạng, đã kính cẩn xếp hàng tri ân và nguyện sẽ trung thành với chủ nghĩa Lenin.”

Cùng lúc, nhà báo Chu Vĩnh Hải cũng gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, ghi lại vài dòng tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không “thú vị” nhưng khá bất ngờ:

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

– Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

Thực sự thì cũng chả cần đến qúi vị nhà văn, nhà báo, sử gia nhắc nhở hay nhắc nhỏ gì đâu. Cứ nghe đồng dao trên hè phố Việt Nam cũng đủ biết là ngay cả đến nhi đồng ở xứ sở này cũng đã tỏ tường về Lenin tự lâu rồi:

Ông Lê Nin ở nước Nga
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này
Ông vênh mặt, ông chỉ tay:
Tự do hạnh phúc chúng mày còn xa
Kìa xem gương của nước Nga
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì!

Tuy không “ra đếch gì” cho dân chúng nhưng lợi quyền mà cuộc Cách Mạng Vô Sản mang đến cho các đồng chí lãnh đạo thì không hề nhỏ. Bởi thế, họ vẫn giữ gìn lá “bùa hộ mệnh” hết sức cẩn thận với khói nhang thờ cúng rất trang nghiêm.

Hai thập niên trước, Phó Chủ tịch HĐBT Trần Phương phàn nàn: “Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ đầu óc của bọn mình vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx – Lenin.” Đến nay thì vẫn y như thế chứ nào có khác chi, và đây là “tình trạng chung của cả nước,” chớ chả riêng gì cái đám ngư dân Rạch Gốc.

Why?

Các anh ở trên cần thêm một con ma xó để giữ ghế cho nó chắc ăn, dù giữa làng Ba Đình đã có một con ma nằm sẵn trong lăng rồi. Ma nhà xem chừng mỗi lúc một kém thiêng nên cần thêm tới ma … quốc tế.

Tưởng Năng Tiến
5/2021

 Truyền- Đơn Người

 Truyền- Đơn Người

Lê Xuân Cảnh

Nhân Memorial Day là ngày nước Mỹ tưởng-niệm các chiến-sĩ đã chết khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ, chúng ta không quên tưởng-niệm gần ba trăm ngàn thuyền-nhân Việtnam đã bỏ xác ngoài biển Đông khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ.

Sẽ có người đặt câu hỏi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên thì có dính dáng gì đến việc phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ?

Dưới đây là câu trả lời rất chủ-quan của chúng tôi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên đã phục-vụ cho quốc-gia lãnh-đạo thế-giới tự-do là Hoa-kỳ trong việc chống lại sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản trên toàn-cầu.

“Những cái chết tức-tưởi của thuyền-nhân Việt trên đường trốn chạy Cộng-sản là thông-điệp mạnh-mẽ nhất được gửi đi khắp nơi để cho loài người trên trái đất này nhìn thấy Cộng-sản là gì mà anh em cùng một dòng máu, anh em cùng một màu da, anh em cùng một ngôn-ngữ, anh em cùng một quê-hương, anh em cùng một lòng yêu quí sự thống-nhất đất nước và độc-lập xứ sở của dân-tộc mình đã không sống với nhau được, đã phải bỏ nước ra đi bằng mọi giá, chỉ vì người anh em bên kia của mình là người Cộng-sản không giống ai. Ít nhất là trong hơn một thập-niên sau biến-cố 30 tháng Tư năm 1975.”

“Giữa anh em trong một nước với nhau mà còn không sống với nhau được, vậy thì ngụy-thuyết Cộng-sản với chủ-trương sống đại-đồng giữa các quốc-gia là một điều khôi-hài, hoang-tưởng.”

LXC

Truyền-đơn giấy chỉ có tác-dụng nhỏ, rất hạn-chế trong khu-vực được rải xuống hoặc được chuyền tay nhau, rất giới-hạn.

Truyền-đơn người, với qui- mô rộng lớn hơn, nhất là với sự tiếp tay rất tích-cực của những hãng truyền-thông lớn trên thế-giới ra rả quảng-bá liên-tục cả thập-niên từ 1975, đã lan rộng và gây ảnh-hưởng rất lớn, nếu không nói là lớn nhất trong công việc chống Cộng-sản toàn-cầu.

Hình-ảnh những chiếc ghe đánh cá nhỏ bé như chiếc lá chòng-chành chất chồng cả trăm người nhét chật hơn cá hộp chịu đựng bão tố khắc-nghiệt trên đại-dương mênh mông, tin-tức về những người vượt-biên được kể lại qua các cuộc phỏng-vấn thuyền-nhân người Việt còn sống sót của Cao-ủy Tị-nạn Liên-hiệp-quốc nói về việc người gần chết rình chia nhau ăn thịt người sắp chết, về việc hải-tặc cướp bóc hãm-hiếp thuyền-nhân, rõ ràng là những truyền-đơn người này có tác-dụng mạnh mẽ cho thấy Việt-nam là một bằng-chứng hùng-hồn nhất về sự thất-bại về lâu về dài của chủ-thuyết Cộng-sản, dù cho họ có chiến-thắng về mặt quân-sự.

Những cái chết của gần ba trăm ngàn người Việt liều mạng trốn chạy Cộng-sản kia đã ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, thập-niên qua thập-niên, gây nhức nhối con tim loài người, đánh động lương-tri nhân-loại, trong số đó có lương-tri của một người Cộng-sản thức-thời, Tổng-bí-thư Mikhail Gorbachev của Nga, người đã bắt tay Tổng-thống Ronald Reagan của Mỹ, và cả hai phối-hợp nhịp nhàng với Pope John Paul ll của Vatican đã cùng nhau dựt sập bức tường ô-nhục Berlin và dẫn đến sự sụp-đổ hoàn-toàn của toàn-bộ khối Cộng-sản Đông-âu.

Gần ba trăm ngàn xác chết của thuyền-nhân Việt bị tử-nạn trên đường trốn chạy Cộng-sản này là những TRUYỀN-ĐƠN NGƯỜI đã cảnh-tỉnh và giúp những người còn mơ ngủ hiểu rõ Cộng-sản là gì, từ đó giúp chống lại chủ-nghĩa Cộng-sản một cách hữu-hiệu nhất.

TỰ-PHÁT HAY DO TÍNH TOÁN?

Hơn một triệu rưỡi người Việt vượt-biên trong đó gần ba trăm ngàn thuyền-nhân đã chết tức tưởi ngoài biển Đông vào thập-niên 80 đã là những truyền-đơn người sống động nhất vạch rõ cái xấu xa của Cộng-sản cần phải tránh xa và cái tốt đẹp của thế-giới tự-do cần phải tìm đến bằng mọi giá, ngay cả việc có thể phải đổi cả mạng sống của mình.

Câu hỏi được đặt ra:

Đây là loại truyền-đơn người tự-phát, hay đây là sản-phẩm của người Mỹ trong cuộc chiến-tranh ý-thức-hệ?

Nhiều người cho rằng chính người Mỹ khi rút quân ra khỏi chiến-trường VN, tạm-thời chấp-nhận thua cuộc về mặt quân-sự đã âm-mưu cài dùng người Việt chống Cộng-sản ở lại để dấy động một phong-trào vượt-biên, chịu khổ sở chết chóc trên biển Đông để thế-giới tự-do có phương-tiện tuyên-truyền chống Cộng-sản.

Hãy nghe vị đại-sứ Mỹ cuối cùng tại VN trước biến-cố 30 tháng Tư, 1975, Graham Martin nói trong “Tears Before The Rain”, một tập sử-liệu về sự sụp đổ của miền Nam Vietnam được thu-thập qua những cuộc phỏng-vấn các nhân-vật có liên-hệ đến cuộc chiến thực-hiện bởi Larry Engelmann, một giáo-sư sử-học tại San Jose State University, California. Sách được dịch bởi Nguyễn Bá Trạc và xuất-bản năm 1990 (cùng năm với sự qua đời của Graham Martin.)

“Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại-trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ-tá của tôi.

Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng-ý ấn-định thời-hạn cho chúng tôi rút: Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa-thuận.”

Vậy thì vì sao vị đại-sứ này đã rời Saigon vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư, theo lệnh của Tổng-thống Mỹ lúc bấy giờ là Gerald Ford, bỏ lại gần 400 quân cán chính người Việt và Nam-hàn đã ở bên trong tòa đại-sứ cả ngày hôm trước mà mạng sống sẽ bị đe dọa một khi Cộng quân vào đến Saigon ?

Ngay cả việc thế-giới tự-do lơ là trong việc cứu vớt người vượt-biên ngoài biển cả khi các tàu buôn lớn bỏ chạy luôn không cứu vớt thuyền-nhân, ngay cả việc thế-giới tự-do làm ngơ để cho hải-tặc Thái-lan hoành-hành tại vịnh Thái-lan, tất cả những lơ-là đó không phải là không có mục-đích.

Rõ ràng càng gây hiểm nguy cực-kỳ cho thuyền-nhân trong việc vượt biển bao nhiêu, người Mỹ càng cho cả thế-giới nhìn thấy rõ hơn bấy nhiêu là Cộng-sản là con quái-vật gì mà dân cùng một nước không thể sống chung được, phải trốn chạy, dù biết nguy-hiểm đến chết người vẫn cứ bỏ đi.

Thái-lan là đệ-tử ruột của Mỹ, nếu Mỹ muốn bóp mũi bọn hải-tặc mà đa-số là lính biên-phòng và dân đánh cá Thái, chỉ cần một cú phone từ đàn anh Mỹ.

Nhưng dẹp bỏ hải-tặc để làm gì trong khi duy-trì nó có lợi cho việc tuyên-truyền chống Cộng-sản hơn.

Phải chăng Boat People cũng là Best Propaganda ? BP.

Hơn một thập-niên sau đó người Mỹ đã gặt hái được một thắng-lợi chính-trị vĩ-đại khi chủ-nghĩa Cộng-sản bị khai-tử tại liên-bang Sô-viết và các nước chư-hầu Đông-âu.

Không tốn một viên đạn!

Không tốn một giọt máu.

Chỉ có sự hy-sinh của gần ba trăm ngàn người Việt chúng ta trên biển Đông.

Và gần sáu chục ngàn lính Mỹ chết trước đó trong cuộc chiến với Bắc-việt tại Việt Nam mà chúng ta tưởng-niệm hôm nay.

Thuyết âm-mưu này có thật hay không?

Hay chỉ là một sự diễn-biến trùng-hợp tự-nhiên.

Xin quí anh chị vui lòng bỏ vài phút cùng chúng tôi, một truyền-đơn người may mắn không bỏ mạng trên con đường trốn chạy Cộng-sản, cùng ngược dòng lịch-sử trở lại Saigon ngày 29 tháng Tư năm 1975.

MỘT ÂM-MƯU CỦA MỸ?

HAY CHỈ LÀ MỘT CUỘC DI-TẢN TỒI?

Sáu giờ ba mươi sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi

vào được bên trong sân sau của toà đại-sứ Mỹ tại Saigon.

Dân chúng muốn di-tản đã phá cổng ùa vào khi toàn-bộ lính Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ có nhiệm-vụ bảo-vệ tòa đại-sứ đã rút hết vào bên trong toà nhà chính kiên-cố, chuẩn-bị chờ trực-thăng đưa ra hạm-đội Mỹ đang neo ngoài khơi biển Vũng Tàu.

Tôi đứng lạc-lõng cạnh hồ bơi, nước mắt ràn rụa.

Nhìn những hộp giấy đựng thức ăn dở, muỗng nĩa nhựa chai lon vứt bừa bãi tung toé trên hồ bơi, tôi biết chúng là một trong những thành-phần đang sống trong thành-phố Saigon không muốn di-tản. Chúng sẽ ở lại với Cộng-sản và những người bị kẹt lại như chúng tôi.

Khi cánh cửa bên hông tòa đại-sứ mở ra, hàng trăm người, đàn ông thì complet cà-vạt đàng-hoàng tay xách samsonite, đàn bà thì váy đầm váy điết đẹp đẽ nách mang ví bóp hợp thời-trang, ngay cả con nít quần áo cũng rất chỉnh-tề, úa ra sân và lục-tục bỏ ra cổng trước phía đường Thống Nhất, hốt-hoảng lo kiếm đường về nhà hoặc vội-vã chạy ra bến Bạch Đằng kiếm đường thoát thân bằng cách leo lên những tàu buôn dân-sự đang neo tại đó. Một số đã đi được vào giờ phút chót bằng con đường này.

Không ai buồn nhìn lại toà nhà kiên-cố mình đã sống chết trong đó cả ngày mà không được Mỹ bốc đi.

Họ là những người có tên trong danh-sách cần phải được di-tản vì mạng sống sẽ bị đe dọa nếu ở lại.

Chiếc cổng trước mở toang, chả bù với trước đó vài giờ, quân-cảnh và lính Thuỷ-quân lục-chiến Mỹ súng ống đầy đủ, nhất là lựu đạn thì đeo đầy người đang phải đối-phó với hàng ngàn người Việt bên ngoài cổng đang chen lấn xô đẩy nhau cố trình giấy tờ vào phút chót để được cho vào bên trong toà đại-sứ với hy-vọng được di-tản vào giờ chót bằng trực-thăng ra đệ Thất hạm-đội Mỹ đang neo tại ngoài khơi Vũng Tàu, mất khoảng ba mươi phút bay.

Tôi đã đứng chen lấn với đám đông người ngay trước cổng sắt của toà đại-sứ Mỹ này từ tối hôm trước, chỉ mong tìm cách lọt vào bên trong sân lúc đó đang lốn nhốn đầy ngập người. Tôi không biết có được cho vào không vì trong người chỉ có cái căn-cước có hình và một cái bùa rất tồi là cái business card có tên mình và logo của Vietnamese American Asociation (VAA). Tôi có cơ-hội cộng-tác với Phòng Văn-hoá của hội để phụ-trách một lớp dạy đàn Tây-ban-cầm cổ-điển tại đây.

Trước đó, tại điểm hẹn do VAA thông-báo cho các nhân-viên của hội tập-họp lại để được đón đi di-tản, chúng tôi chờ mãi chả thấy bóng dáng một chiếc trực-thăng nào đỗ xuống.

Có khi nào những chiếc trực-thăng này đã đi đón những người ba Tàu giàu có đã đóng vàng hoặc dollars để được đi? Hay thật ra cũng chẳng có máy bay trực-thăng nào ráo.

Ban giám-đốc của VAA đã ra đi và nhân-viên của VAA tụ-họp lại với nhau tại những địa-điểm tập-trung coi như giả nay đầy những tiếng chửi thề thật.

Chúng tôi chửi Mỹ bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng “Đan Mạch” cho nên cả bọn nghe với nhau thật đầy đủ, thấm-thía, không sót một chữ. Toàn là những nhân-viên làm việc tại phòng VĂN-HÓA nên nghe nhau chửi thề rất là thú-vị. Phải nói là VAA đã tuyển chọn lầm người vào làm công việc văn-hóa cho hội.

Các ông họa-sĩ chửi nhiều nhất, nhất là các ông có mang theo những bức tranh quí giá của mình vẽ, tưởng sẽ có dịp được triển-lãm ở Mỹ nay mai !?

WHO CARES?

Suốt đêm 29 rạng 30 đứng bên ngoài hàng rào của toà đại-sứ Mỹ trên đường Thống-nhất nghe tiếng rì rầm của những chuyến trực-thăng đến và đi trên nóc toà đại-sứ Mỹ lúc bấy giờ đang rực sáng do lửa cháy mà theo Wikipedia (Operation Frequent Wind) là do nhân-viên toà đại-sứ vừa đốt hủy tài-liệu mật và năm triệu dollars Mỹ vừa để hướng-dẫn trực-thăng thấy đường đáp xuống. Tài-liệu mật bị đốt thì có lý. Năm triệu dollars thì chắc bị đốt trên báo-cáo cho đúng nguyên-tắc. Cũng theo tài-liệu này thì cứ cách 10 phút lại có một chiếc trực-thăng đáp xuống để bốc người đi.

Bắc-việt đã thỏa-thuận không can-thiệp vào việc di-tản cho đến ngày 3 tháng Năm, chỉ mong sao Mỹ và chúng ta rút nhanh để họ sớm vào Saigonmột cách êm-ái. Cuộc pháo-kích vào phi-trường Tân Sơn Nhất ngày 28 và 29 có lẽ đã không xảy ra nếu trước đó không có việc ba chiếc phản-lực-cơ nặng ký F-5 bay qua Thái-lan, trái với thỏa-ước là Mỹ phải để lại toàn-bộ các máy bay chiến-đấu cho VC.

Đến 7:35 sáng thì việc di-tản tại toà đại-sứ Mỹ chấm dứt. Một TQLC Mỹ từ trên nóc nhà toà đại-sứ vứt một quả lựu đạn cay xuống hồ bơi và chiếc trực-thăng cuối cùng rời nóc toà đại-sứ, bỏ lại bên dưới hàng trăm người đã ở bên trong toà đại-sứ suốt cả ngày hôm qua.

Chắc chắn những người này sẽ là những người tiền-phong dấy động việc tìm đường vượt-biên, và không biết ai trong bọn họ sẽ là truyền-đơn người còn sống sót sau cuộc vượt biển.

THÂN-PHẬN CỦA CON DÂN MỘT NƯỚC NHƯỢC-TIỂU.

Bây giờ nhìn lại, sau gần nửa thế-kỷ, ngoài gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta đã phải bỏ mình trên đường vượt-biên, phần còn lại trong chúng ta đã may mắn đến được bến bờ tự-do, không còn là công-dân của một nước nhược-tiểu mà số-phận luôn bị định-đoạt bởi các cường-quốc trên thế-giới nữa.

Dù là một âm-mưu chính-trị tinh-vi có tính-toán của người Mỹ dùng thuyền-nhân Việt làm truyền-đơn sống chống Cộng-sản, dùng Boat People như một Best Propaganda để tuyên-truyền ngăn cản sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản; hay chỉ là một cuộc di-tản quân-sự tồi dẫn đến một phong-trào vượt biên trốn chạy Cộng-sản

thi đối với người Việt tị-nạn chúng ta, rõ ràng đây là một sự-kiện lịch-sử có tính Tiền Hung Hậu Kiết.

Trong cái rủi có cái may.

Không có cuộc đổi đời này, làm sao ngày nay chúng ta thấy được có những người cha người mẹ trước đây vốn gốc nông-dân hay làm nghề chài lưới ở VN, nay hành-nghề cắt cỏ hay làm Nail tại Mỹ nuôi dạy con thành bác-sĩ, kỹ-sư, dược-sĩ, chuyên-viên giỏi không thua kém bất-kỳ sắc dân nào trên thế-giới.

KẾT.

Việc bỏ nước ra đi, chấp-nhận cái chết, chấp-nhận bị cướp bóc hãm hiếp đã nói lên cho cả thế-giới, ngay cả thế-giới Cộng-sản, thấy là Cộng-sản là cái gì mà cùng một màu da cùng một dòng máu mà con người ta vẫn không sống với người anh em của mình được.

Tác-dụng của những cái chết ngoài biển Đông của hàng trăm ngàn người Việt hy-sinh ngoài biển cả phải chăng là tác-dụng tuyên-truyền mạnh nhất, hữu-hiệu nhất cho công việc chống Cộng trên toàn thế-giới.

Và chúng ta không là truyền-đơn người là gì?

Nay chúng ta là Mỹ GIẤY, là Úc GIẤY, là Pháp GIẤY, là Bỉ GIẤY, là Đức GIẤY, là Ý GIẤY, là Hoà-lan GIẤY, là Anh GIẤY, là Canada GIẤY, là vv….và ….vv….

Nhưng chúng ta là những truyền-đơn NGƯỜI THẬT hãy còn sống, không vô-tri vô-giác như giấy.

Chúng ta luôn nhớ đến gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta, những truyền-đơn NGƯỜI đã vĩnh-viễn ra đi, những chiến-sĩ chống Cộng hữu-hiệu nhất trên hành-tinh này là những người xứng-đáng cho chúng ta tưởng nhớ, không những trong ngày lễ Memorial Day, mà còn trong những ngày nào chúng ta còn sống.

Truyền-đơn người sống còn đây,

Khóc truyền-đơn người chết thây không mồ,

Biển khơi sóng biếc nhấp nhô,

Hồn người năm cũ bây giờ nơi đâu ?

Lê Xuân Cảnh.

(Memorial Day, 05/31/2021)

May be an image of flower, nature and sky