Tù không án

Tù không án

7-5-2022

Đừng tưởng chỉ có ngày xưa mới có tù không án, bây giờ vẫn có, chỉ là dưới dạng khác.

Chỉ hai tháng nữa là tròn bốn năm Lê Anh Hùng bị bắt giam (Ngày 5/7/2018). Trong gần bốn năm qua, nhiều lần Lê Anh Hùng bị đưa đi giám định tâm thần. Sau đó, gia đình được thông báo bằng miệng, là đã có lệnh tạm đình chỉ điều tra vụ bắt và tạm giam Lê Anh Hùng, nhưng lại chuyển Lê Anh Hùng sang bệnh viện tâm thần, để “chữa bệnh” bắt buộc.

Lần đầu Lê Anh Hùng bị đưa đi giám định tâm thần (tháng 10/2018), Hùng đã tuyệt thực để phản đổi. Nhưng họ đã cho người đè ra, truyền thức ăn qua đường mũi, miệng đến chảy cả máu. Năm 2020, trong một lần từ chối uống thuốc, Lê Anh Hùng bị đánh và bị trói vào giường sắt để tiêm thuốc (tin từ RFA). Một bênh nhân trong bệnh viện này, đã lén chụp đươc ảnh Lê Anh Hùng bị trói vào giường bệnh như trong ảnh dưới đây. Khi tin tức và hình ảnh lọt ra ngoài, lập tức việc luc soát được tiến hành, và công an tịch thu tất cả điện thoại vốn bị cấm dùng trong bệnh viện. Tuy nhiên, nhờ vụ này, mà Lê Anh Hùng không bị đánh đập nữa. Như vậy, việc tuồn được thông tin ra ngoài, thực sự là cứu cánh cho người bên trong.

Cho đến nay, người duy nhất được thăm gặp Lê Anh Hùng là bà Niệm, mẹ đẻ của Lê Anh Hùng. Theo bà Niệm, khi gặp Hùng, chỉ được nhìn và nói chuyện qua kính chắn, có công an ngồi giám sát – không khác gì nhà tù. Có người được cho là khỏi bệnh, và ra viện, thông tin cho gia đình Lê Anh Hùng, rằng có người bên chính quyền gặp Hùng hỏi, nếu được về, có kiện tiếp không? Hùng bảo tôi không sai, nên về tôi vẫn tiếp tục kiện. Thế là Hùng tiếp tuc bị giam trong bệnh viện tâm thần, cho đến tận bây giờ.

Sự nhân đạo giết người.

Lê Anh Hùng bị cho là tâm thần, vì những lời nói có vẻ hoang tưởng của cậu ta. Tâm thần có nhiều thể loại, Lê Anh Hùng không thuộc diện phá phách, hành động điên khùng. Cậu ta từng dịch những cuốn sách khó nhằn, được nhiều người khen là giỏi chuyên môn. Lê Anh Hùng không khôn khéo, không biết lựa lời. Những lời nói “thât” của Lê Anh Hùng, có làm sứt được cọng lông nào của ai, mà phải giam cầm cậu ấy?

Việc điều trị tâm thần ngoài thuốc an thần ra, người bệnh phải được sống trong môi trường tự do, được người nhà, bạn bè yêu thương, chăm sóc, chứ không phải nhốt họ vào trong một không gian tù túng, và cưỡng ép uống/tiêm thuốc. Thuốc an thần uống nhiều, thì thần kinh thép cũng thành bệnh, về lâu dài sẽ mất trí nhớ, sinh ra chứng run rẩy, mất cân bằng (tôi đã chứng kiến người nhà bị như vậy). Người cùng viên với Lê Anh Hùng, khi ra viện, có cho gia đình Hùng biết, Hùng đã bắt đầu sinh chứng ảo giác, luôn cảm thấy trần nhà đang sắp sập xuống người cậu ta.

Tôi đọc truyện, dựa trên những câu chuyện có thật, là có người bị đưa vào trại tâm thần vĩnh viễn, chỉ để chiếm đoạt tài sản. Bệnh viện cũng thông đồng với những kẻ bất nhân, nên người bị hại khó có đường thoát.

Ở bệnh viện tâm thần, người ta năm lần bảy lượt hứa với Lê Anh Hùng, là câu ta sắp được về. Một số người đã được về thật, nhưng Lê Anh Hùng thì không. Và tôi e rằng bọn họ sẽ chỉ thả Lê Anh Hùng về nhà, khi cậu ta đã điên dại thực sự, chứ không tỉnh táo để còn tiếp tục đi kiện như cậu ta đã khẳng định. Tôi thấy việc này quá độc ác. Không phải họ sợ viêc bị Lê Anh Hùng kiện, mà họ sơ cái gì đó hoàn toàn khác. Nếu chỉ là viêc kiện, thì tôi đây cũng kiện chủ tịch UBND TPHN. Nhưng cách duy nhất mà họ làm, là mặc kệ – không xử, cho dù tôi có gửi hàng nghìn lá đơn thúc giuc cũng thế. Người dân Thủ Thiêm còn khiếu kiện hơn 40 năm đó thôi?

Cho tới nay, không chỉ có Lê Anh Hùng bị chuyển từ tại tạm giam sang bệnh viện tân thần, để chữa bênh bắt buộc. Còn có Nguyễn Trung Lĩnh và mới đây là Nguyễn Thúy Hạnh, gia đình chỉ được thông báo miệng, chứ không hề gửi cho họ văn bản nào về việc này. Họ luôn nói, khi nào khỏi bệnh, sẽ tái điều tra, xét xử.

Tội e rằng Lê Anh Hùng, Nguyễn Trung Lĩnh, và Nguyễn Thúy Hạnh, sẽ chỉ được “thả” khi họ chỉ còn là “những cái xác không hồn” – nghe thì phũ phàng, nhưng tiếc là rất thưc tế trong xã hội này.

Tôi viết những dòng này, bởi mới đây có người hỏi tôi về tình trạng của Lê Anh Hùng. Thật đáng buồn khi Lê Anh Hùng đã bị giam giữ gần 4 năm không xét xử, mà không có một ai đoán biết được tương lai của câu ta sẽ ra sao? Cả Nguyễn Trung Lĩnh, Nguyễn Thúy Hạnh nữa.

Con trai chánh án New York bị 8 tháng tù vì tham gia bạo loạn Quốc Hội

Con trai chánh án New York bị 8 tháng tù vì tham gia bạo loạn Quốc Hội

May 6, 2022

WASHINGTON, DC (NV) – Con trai chánh án ở New York bị kết án tám tháng tù hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Năm, vì tội gây rối và lấy cắp thiết bị cảnh sát trong vụ bạo loạn Quốc Hội năm ngoái, theo CNN.

Trong vụ tấn công hôm 6 Tháng Giêng, 2021, ông Aaron Mostofsky, 35 tuổi, mặc đồ như thổ dân và cùng nhóm người bạo loạn chống lại các cảnh sát viên đang điều chỉnh hàng rào ngăn kẻ quá khích, công tố viên cho hay.

Ông Aaron Mostofsky, ủng hộ viên Tổng Thống Donald Trump lúc đó, biểu tình bên trong Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng, 2021, ở Washington, DC. (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

Ông Mostofsky xô đẩy những kẻ bạo loạn khác về hướng các cảnh sát viên. Sau đó, ông ta lấy cắp áo giáp cảnh sát rồi khoác lên trên bộ trang phục ông ta mặc hôm đó, và lấy cắp khiên chống bạo loạn, công tố viên cho biết. Ông Mostofsky nói cả hai món này bị cảnh sát bỏ lại.

“Anh đúng là ở tuyến đầu vụ tấn công này,” Chánh Án Hoa Kỳ James Boasberg nói trong phiên tòa kết án ở Washington, DC. “Anh xô đẩy hàng rào cảnh sát,” ông Boasberg cho biết thêm, lưu ý ông Mostofsky cũng nằm trong số những kẻ bạo loạn đầu tiên xông vào bên trong Quốc Hội.

“Nếu không ai hành động như anh… hàng rào sẽ không ngã, Quốc Hội sẽ không bị xông vào, sẽ không ai thiệt mạng,” vị chánh án nói.

Tuy nhiên, ông Boasberg cho hay ông “bất ngờ với những chi tiết” trong hơn 30 lá thư mà ông nhận được thay mặt ông Mostofsky, trong đó nói ông Mostofsky thường làm từ thiện và luôn vì người khác. “Những chi tiết đó thực sự giúp giảm bản án mà tôi tuyên cho anh,” vị chánh án nói.

Ngoài bản án tám tháng tù, ông Mostofsky phải bồi thường $2,000 thiệt hại gây ra cho Quốc Hội trong vụ bạo loạn đó và lao động công ích 200 giờ trong thời gian bị quản chế một năm sau khi ra tù.

“Hôm đó, khi mọi chuyện bắt đầu trở nên hỗn loạn… tôi bắt đầu quyết định sai lầm,” ông Mostofsky phát biểu trong phiên tòa hôm Thứ Sáu, thỉnh thoảng nghẹn lời.

Ông Mostofsky nhắc đến vụ tấn công tòa nhà Quốc Hội đó là “cảnh chiến trường” và tuyên bố ông ta “không có ý định hãm hại bất kỳ cảnh sát viên nào.”

Ông ta van xin Chánh Án Boasberg “rủ lòng thương.”

Hồi Tháng Hai, ông Mostofsky, con trai ông Steven “Shlomo” Mostofsky – chánh án Tòa Thượng Thẩm Kings County – nhận tội gây rối, lấy cắp tài sản chính phủ và đột nhập và ở lại khu vực cấm. (Th.Long) [qd]

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Một buổi bảo vệ luận án tiến sĩ ở Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam. Ảnh Facebook.

Vài suy nghĩ lan man nhân chuyện tiến sĩ mọc ra như nấm ở Việt Nam

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội Facebook rộ lên chuyện phong trào “tiến sĩ” nhân vụ báo chí phanh phui chuyện Viện Hàn Lâm Khoa Học và Xã Hội Việt Nam cấp bằng tiến sĩ giống như cái máy đẻ, “nghiệm thu” hàng chục đề tài nghiên cứu để sinh ra hàng chục tiến sĩ trong một ngày. Đọc tiêu đề của các luận văn tiến sĩ này khó ai khép được miệng cười, hoặc không nhịn được mà phải văng tục, chẳng hạn như luận văn “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức thành phố Sơn La” của Đặng Hoàng Anh, bộ môn Giáo dục học, được giáo sư tiến sĩ Lưu Quang Hiệp và phó giáo sư tiến sĩ Đặng Văn Dũng thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao hướng dẫn! Một thông tin trên báo Tuổi Trẻ ngày 5 tháng Năm cho biết luận văn tiến sĩ cầu lông của ông Anh đã “bảo vệ thành công” ngày 19 Tháng Giêng 2022 và đến nay có tới 10 luận án tiến sĩ cầu lông như của ông Anh!

Người ta còn tìm ra và đăng lên Facebook hàng chục bìa luận văn tiến sĩ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (tên mới của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc trung ương, nơi đào tạo các quan chức lãnh đạo của đảng CSVN) với những đề tài giống hệt nhau, kiểu như “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2015” của Lê Xuân Dũng; “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Trần Thị Vân; “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Nguyễn Thị Thu Hương v.v… Trên một bài đăng của Facebooker Sơn Trần, chúng tôi đếm có hơn 30 luận văn như vậy.

***

Một trong vô số luận án tiến sĩ ở Học viện Chính trị quốc gia HCM. Ảnh Facebook

Phong trào tiến sĩ nở rộ ở Việt Nam như nấm sau mưa không phải tự dưng xuất hiện mà có chủ trương chính sách khuyến khích của nhà cầm quyền. Các bộ ngành trung ương và các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn đều đặt ra “chỉ tiêu” đào tạo, “nâng cấp” hàng ngàn tiến sĩ cho đội ngũ cán bộ công chức. Ông Nguyễn Thiện Nhân, từng là Phó thủ tướng, Bộ trưởng giáo dục, khi còn là Phó chủ tịch thành phố Sài Gòn đã yêu cầu thành phố phải đầu tư 14,000 tỷ đồng để đào tạo 20,000 tiến sĩ làm việc cho chính quyền thành phố!

Chính sách khuyến khích “phổ cập tiến sĩ” còn được hỗ trợ bởi các biện pháp vật chất khác. Người làm việc trong guồng máy nhà nước phải có bằng tiến sĩ mới có cơ may được đề bạt làm phó giáo sư, giáo sư, lên các chức vụ quản lý. Độ tuổi nghỉ hưu theo luật định là 60 tuổi với nam, 55 tuổi với nữ, nhưng nếu có bằng tiến sĩ thì nhà quản lý có thể ngồi tiếp đến năm 65 tuổi, tiếp tục hưởng bổng lộc và sau đó vẫn có thể làm tiếp nhưng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nữa.

Với những quyền và lợi hấp dẫn như vậy, người người chen nhau đi tìm bằng tiến sĩ và các “lò sản xuất” luận văn tiến sĩ âm thầm mọc lên, cung cấp đủ loại luận văn cho người có nhu cầu và có tiền trả, thường là luận văn cho các ngành “tào lao”, chẳng có ý nghĩa khoa học gì như ngành lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, quản trị kinh doanh, văn hóa học; hầu như không có các luận văn thuộc các ngành khoa học tự nhiên hoặc công nghệ. Báo Asia Sentinel từng đăng một phóng sự điều tra khá sốc về tình trạng gian lận học thuật ở Việt Nam mà báo gọi là một thị trường kinh doanh lớn phục vụ chủ yếu cho giới quan chức; có thể đọc bản dịch tiếng Việt của phóng sự trên ở đây.

Không khó để nhận ra những “luận văn tiến sĩ” kể trên là sản phẩm sản xuất hàng loạt của một vài lò luận văn nào đó, lấy một bản luận văn “mẫu”, thay đổi chút về tên người, địa danh và vài số liệu là có thêm một tiến sĩ được ra lò! Rất nhiều quan chức lãnh đạo hoàn toàn không đi học, không có thời gian cho việc học nhưng chỉ sau vài năm cầm quyền thì trên danh thiếp đã có thêm dòng chữ ghi học vị tiến sĩ, giáo sư. Loại tiến sĩ đó chỉ có thể là do mua bằng, mua luận văn và đút lót các hội đồng trường mà có.

Điểm hết sức khác biệt của Việt Nam là ở các nước, luận văn tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu, đưa ra một giá trị mới dù nhỏ về tri thức khoa học ở một lĩnh vực nào đó, và phải trải qua một quy trình đào tạo, xét duyệt công phu của những nhà khoa học có uy tín, không hề có cái luận văn tiến sĩ nào về cầu lông, cờ tướng, lãnh đạo công tác hội, ứng xử của cán bộ, xây dựng phường xã… tào lao, vô bổ như ở Việt Nam. Ở các nước, tiến sĩ là nhà khoa học, làm việc chủ yếu ở các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm hoặc giảng dạy ở đại học, chẳng có bao nhiêu người làm quan chức hành chánh trong khi ở Việt Nam, hơn một nửa số tiến sĩ là quan chức đảng, lãnh đạo cơ quan chính quyền mà công việc chẳng liên can gì tới khoa học, chẳng cần nghiên cứu.

***

Chuyện trái khoáy là trào lưu coi trọng bằng tiến sĩ ở Việt Nam đi ngược lại với triết lý nền tảng của chủ nghĩa cộng sản mà đảng và nhà nước Việt Nam cổ xúy, trong đó đề cao người công nhân, nông dân như là nòng cốt của cách mạng vô sản.

Ngay từ thuở mới thành lập, năm 1930, đảng CSVN đã thù địch với trí thức, coi những người có bằng cấp, có học thức là tay sai của thực dân phong kiến, áp bức nhân dân lao động. Câu khẩu hiệu đấu tranh của đảng thời Xô Viết Nghệ Tĩnh: “Trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”, đặt trí thức lên hàng đầu những “đối tượng” phải tiêu diệt. Những thanh niên trí thức được đào tạo trong nhà trường của Pháp, khi đi theo cộng sản, như Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đều phải từ chối thành phần xuất thân, phải “vô sản hóa”, phải hòa mình với công nhân, nông dân “để lãnh đạo họ”. Trong những chiến dịch thanh trừng sau khi cầm quyền, như cuộc Cải Cách Ruộng Đất, đám bần cố nông vô học làm theo sự dẫn dắt của các cố vấn Trung Cộng, thẳng tay tiêu diệt những người có của (địa chủ, tư sản) và không tha cả những người có học (thầy giáo, thầy thuốc) ở nông thôn.

Ở miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975, để được cho đi học, cho vào làm việc trong chính quyền, cho vào đảng cộng sản, thanh niên phải có lý lịch tốt, cụ thể là phải xuất thân từ thành phần công nhân, bần nông (nông dân nghèo), cố nông (nông dân cực nghèo). Những ai xuất thân trong gia đình tư sản, địa chủ, dính dáng với chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sống không bằng chết, bằng cấp càng cao càng bị ngược đãi, đã được đào tạo, tu nghiệp ở các nước tư bản thì bị nghi ngờ là CIA, là gián điệp, chẳng những không được sử dụng mà còn bị an ninh theo dõi thường xuyên.

Đã có nhiều thanh niên, là con cái các gia đình cán bộ cao cấp, được theo học các trường đại học trong nước, được cho đi du học các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu. Việc đi học đại học, đặc biệt là đi du học nước ngoài, trước tiên là nhằm tìm chỗ trú an toàn cho các con ông cháu cha, tránh phải vào lính cầm súng vào chiến trường “sinh Bắc tử Nam” – nơi dành cho con cháu thường dân hoặc gia đình cán bộ cấp thấp, không có thế lực hoặc quan hệ chính trị với quan chức. Việc chọn người đi học chỉ dựa vào lý lịch và quan hệ, không coi trọng trình độ và khả năng học vấn, nhưng vì “tình hữu nghị quốc tế vô sản” các sinh viên này sau mấy năm ở nước ngoài, vẫn được tốt nghiệp, được cấp bằng, nhiều người có bằng phó tiến sĩ (candidate). Một chính sách sau này của đảng CSVN hủy bỏ học vị phó tiến sĩ, thế là hàng ngàn phó tiến sĩ sau khi ngủ một đêm dậy đều trở thành tiến sĩ!

Chính sách đào tạo và dùng người dựa trên lý lịch, trên thành phần giai cấp, khinh thường học thức đã tạo ra một guồng máy cai trị dốt nát, tham lam và chỉ giỏi phá hoại.

***

Sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, đảng CSVN nhận ra không thể tiếp tục lề lối dùng kẻ dốt cai trị người giỏi, cần phải “trí thức hóa” công nông cho phù hợp với thời đại. Vả lại, đất nước hòa bình tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ của đảng được đi học văn hóa, việc mà họ đã bỏ qua trong những năm chiến tranh khổ cực.

Thế là các chính sách khuyến khích cán bộ đi học được ban hành, các chương trình “bổ túc văn hóa”, “chuyên tu”, “tại chức” mở ra rầm rộ. Có những người học bổ túc văn hóa một năm hai, ba lớp; có nhiều người học “tại chức”, vừa làm việc vừa đi học, nếu không thu xếp được thì nhờ đàn em học thay, thi hộ. Trong xã hội lưu truyền câu thành ngữ: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” là để chỉ hiện tượng này.

Gần đây, trào lưu học chuyên tu, tại chức để lấy bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ phát triển mạnh, đem lại một nguồn thu đáng kể về tiền bạc cho các trường đại học, các giảng viên cho nên mới có chuyện các trường tranh giành nhau, giẫm lên địa bàn của nhau để trục lợi. Nhiều trường ở Hà Nội mở lớp đào tạo tận miền Trung, miền Nam; trường ở Huế, Đà Nẵng mở lớp ở Cần Thơ, Vĩnh Long; giảng viên đi mây về gió bằng máy bay, “chạy sô” từ tỉnh này sang tỉnh khác là chuyện bình thường. Nhiều sinh viên ở Sài Gòn than thở với người viết bài này là ở trường bây giờ sinh viên chỉ được học với các thầy cô trẻ, mới tốt nghiệp đại học và được giữ lại trường, vừa thiếu kiến thức vừa không có kinh nghiệm dạy học bởi vì các thầy cô có tuổi, có kinh nghiệm đã giành nhau đi dạy chuyên tu, tại chức ở tỉnh xa, vừa có nhiều tiền vừa gầy dựng được quan hệ với quan chức địa phương, có nhiều mối lợi.

Chẳng ai quan tâm tới thiệt hại mà thế hệ sinh viên trẻ phải chịu đựng do lòng tham của các bậc cha chú.

***

Cách đây vài mươi năm, Tố Hữu – thi sĩ tuyên truyền số một của đảng – đã phán: “Những kẻ quê mùa đã thành trí thức / Tăm tối cần lao nay bỗng hóa anh hùng”. Bây giờ, nhiều cán bộ của đảng trong guồng máy chính quyền, hoặc đi ra từ rừng Trường Sơn, hoặc từ những cánh đồng chiêm trũng của đồng bằng sông Hồng, đã có bằng tiến sĩ nhưng có thành trí thức như Tố Hữu nói hay không lại là chuyện khác. Cái áo không làm nên thầy tu, mảnh bằng không làm nên người trí thức, huống hồ là những mảnh bằng giả, bằng mua. Cũng giống như những tư sản đỏ Việt Nam, nhờ chiếm đoạt đất đai mà trở nên giàu có thì giỏi lắm chỉ có thể thành trọc phú chứ chưa thể đặt chân vào giới thượng lưu.

Để thành trí thức, để có tri thức, ngoài công phu học tập, rèn luyện, nghiên cứu, người ta còn phải có một nền tảng văn hóa nhất định, từ truyền thống gia đình và môi trường văn hóa xã hội. Môi trường văn hóa xã hội ở Việt Nam hiện nay không thuận lợi cho sự vun trồng trí thức mà giỏi lắm chỉ có thể sinh ra trọc phú, cho dù có mông má, điểm trang kiểu gì đi nữa.

Vì vậy, đừng nên ngạc nhiên khi thấy các quan chức từ địa phương tới trung ương lên truyền hình, báo chí phát biểu những câu “tranh hết phần ngu của thiên hạ” dù ai cũng xưng là tiến sĩ, giáo sư! 

 Xin Lễ Và Cầu Nguyện Cho Người Mới Qua Đời, Trẻ Mồ Côi Như Thế Nào? – LM Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ & Ấm lên bữa cơm gia đình – Cha Phạm Quang Hồng

httpv://www.youtube.com/watch?v=znhJwvgQLYw

 Xin Lễ Và Cầu Nguyện Cho Người Mới Qua Đời, Trẻ Mồ Côi Như Thế Nào? – LM Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ

httpv://www.youtube.com/watch?v=Vav51QjUUt0

Ấm lên bữa cơm gia đình – Cha Phạm Quang Hồng

Còn khổ bao lâu nữa?

Còn khổ bao lâu nữa?

Văn Việt

Nguyễn Thị Tịnh Thy

5-5-2022

Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy. Nguồn: FB nhân vật

Kính thưa quý vị!

Bài viết này, phát biểu này, tôi xin gửi đến Ban Vận động thành lập Văn đoàn độc lập (Văn Việt) cùng những ai quan tâm đến văn học và quyền tự do sáng tạo nghệ thuật của nước nhà.

Không biết trên thế gian này, trong nền văn chương Đông Tây kim cổ, đã có ai phải viết bài phát biểu này như tôi không. Bởi, đây là phát biểu XIN GIỮ GIÙM GIẢI THƯỞNG.

Đã có những người từ chối hoặc bị buộc phải từ chối giải thưởng, kể cả giải văn chương danh giá nhất hành tinh là giải Nobel vì rất nhiều lý do khác nhau. Nhưng e rằng, không mấy ai ký thác tâm nguyện nhờ giữ lại giải như tôi.

Tôi được Văn Việt trao giải thưởng thường niên năm 2022 cho hạng mục Nghiên cứu – Phê bình với cuốn sách “Dám ngoái đầu nhìn lại” (Nxb. Hội Nhà văn, 2021). Giải thưởng do Văn Việt tự chọn và trao, không phải là một cuộc thi mà tác giả phải gửi công trình dự giải. Với tôi, đây là vinh dự, là vòng nguyệt quế cho lao động bút mực của mình – một người không phải là thành viên của Văn Việt. Tuy nhiên, đây cũng là vòng nguyệt quế phủ đầy gai mà người nhận không dễ dàng sở hữu, dù nó vốn phải thế.

Tôi không từ chối giải thưởng, bởi vì đây là giải thưởng có giá trị về học thuật, như bao giải thưởng như thế trên thế giới này. Tôi cũng không thể nhận giải thưởng, bởi nếu nhận, thì sẽ chuốc lấy rất nhiều phiền phức. Xin cảm ơn Ban Xét giải đã lựa chọn trên cơ sở ghi nhận thành quả khoa học của tôi; đồng thời, cũng xin Văn Việt giữ giùm giải thưởng này. Hiện tại, tôi chưa thể nhận giải, cũng không muốn và không thể từ chối. Để giải thích cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này, tôi xin giãi bày với quý vị những suy nghĩ như sau:

Trước hết, xin khẳng định, tôi tôn trọng Văn Việt và giải thưởng của Văn Việt. Muốn chứng minh cho chất lượng và uy tín của giải thường này, xin quý vị hãy đọc tác phẩm cũng như phát biểu nhận giải của nhà thơ Thái Hạo. Theo tôi, bài phát biểu này là một trong những diễn từ hay nhất, xứng đáng được trích dẫn trong nhiều văn bản khác; đủ để xem là một tuyên ngôn thơ, một quan điểm sáng tác và tư duy nghệ thuật sâu sắc và đặc sắc.

Tôi gửi nhiều bài sáng tác và phê bình văn học đăng trên http//:vanviet.info của Văn Việt, bởi vì, đây là một trang báo có chất lượng chuyên môn cao, bài vở được biên tập và chọn lựa kỹ lưỡng. Những người chủ trương trang báo này là các trí thức đáng nể trọng về trí tuệ lẫn nhân cách. Bài tôi đăng trên Văn Việt, đa phần đã được đăng ở báo chí chính thống trong nước; những cuốn sách nghiên cứu của tôi đều được cấp phép bởi các nhà xuất bản uy tín. Nghĩa là, xét về phương diện khách quan lẫn chủ quan, tôi cảm thấy việc mình gửi bài ở Văn Việt, được Văn Việt trao giải thưởng là việc rất đỗi bình thường.

Vậy mà, khi biết mình được Văn Việt trao giải thưởng, tôi phải chuẩn bị để đón nhận những điều bất bình thường.

Đã có người nhận giải của Văn Việt xong, bị các cơ quan nhà nước, “người nhà nước” gây phiền nhiễu quá mức, khiến cuộc sống của họ luôn trong trạng thái bất an, bản thân họ bị người xung quanh xem như kẻ phạm tội. Đã có người bị ngăn cản trên đường đi nhận giải, buộc phải vứt vé tàu xe để quay về nhà. Gần đây nhất, nhà thơ Thái Hạo bị đánh bầm mặt trên đường ra sân bay để đến với Văn Việt. Và tôi, thông tin về giải thưởng chưa đến tai, tôi đã được người của cơ quan an ninh đề nghị không nên nhận giải. Khi tôi hỏi rằng, nếu tôi vẫn muốn nhận thì sao? Câu trả lời khá nhã nhặn, nhưng nội dung là: “Để tránh ảnh hưởng đến tình hình an ninh chung, chị không nên đi nhận giải… Cũng như Thái Hạo, cơ quan an ninh cũng đã tác động là anh không đi được đâu”; “Dẫu cách ứng xử mỗi nơi mỗi khác, nhưng dù sao đi nữa, chị cũng không nên nhận giải”; “Nếu nhận, thì không nên tổ chức trao, quay phim, chụp hình rồi công bố trên mạng xã hội để tránh những phiền phức không đáng có”. Và tiếp theo đó là những tìm hiểu tứ phương tám hướng để dò xét xem tôi sẽ tiếp xúc với người của Văn Việt ở đâu, lúc nào… để nhận giải.

Tôi là một trí thức, một nhà khoa học. Đứng về mặt chuyên môn, tôi đủ trí tuệ và kinh nghiệm để biết nên gửi bài ở đâu, của tổ chức học thuật nào. Tôi là một công dân tôn trọng pháp luật, tôi đủ hiểu biết để không làm gì phạm pháp. Việc tôi gửi bài đăng ở Văn Việt, việc tôi nhận giải thưởng của Văn Việt là không hề phạm pháp. Vậy thì, tại sao tôi (và nhiều người nữa) bị ngăn cản, thậm chí có người đã bị hành hung về thể xác và uy hiếp, hành hạ về tinh thần? Xin thưa với “người nhà nước”, nếu các anh chị đủ can đảm, đủ bản lĩnh, đủ minh bạch thì hãy đề nghị cấp trên của các anh chị ra lệnh cấm các tổ chức văn học nghệ thuật phi nhà nước đi. Nếu không dám cấm, để tỏ ra là mình vẫn dân chủ; nếu muốn chứng tỏ rằng công dân nước Việt vẫn tự do lập hội đoàn thì hãy cứ để cho các hội đoàn ấy tồn tại một cách yên ổn. Xin đừng dân chủ giả tạo, ngoài mặt không cấm nhưng bên trong thì dùng biện pháp cứng rắn để ngăn cản và trừng phạt. Xin đừng sử dụng bàn tay sắt bọc nhung, đừng vừa đấm vừa thoa, đừng giả danh lưu manh để thực thi nhiệm vụ chính trị; vì như thế là giả dối, là ném đá giấu tay trước những đối tượng chân yếu tay mềm, trói gà không chặt vốn chỉ có trái tim nghệ sĩ, tâm hồn yêu văn chương nghệ thuật và khát khao truy cầu tự do sáng tạo mà thôi.

Xin đừng đóng bộ mặt nguỵ quân tử cho chính quyền, vì như thế, chính quyền đã đích thực trở thành “nguỵ quyền” – điều mà quý vị từng không tiếc máu xương để lật đổ!

Tôi phải suy nghĩ rất nhiều trước quyết định nhờ giữ giùm giải thưởng. Bởi vì, nếu từ chối, tôi sẽ làm tổn thương giải thưởng. Đó là điều tôi trăm ngàn lần không muốn. Nếu bí mật nhận giải, bí mật cất giấu để được yên thân, lâu lâu lén lút mở ra xem, “một mình mình biết, một mình mình hay”, thì phỏng có vui gì. Làm như thế, tôi cảm thấy mình ngôn hành bất nhất, không xứng đáng với Văn Việt, không xứng đáng với chính tôi. Nếu công khai nhận giải, tôi sẽ bị cản trở, bị gây sự, bị khủng bố tinh thần, và có thể còn bị hành hung. Điều này, tôi cũng ngàn vạn lần không muốn. Tôi không hèn nhát, nhưng nếu để xảy ra điều gì không hay cho mình và cho người thân, đơn giản chỉ vì một giải thưởng, thì có đáng không?

Giải thưởng, cho dù là giải thưởng trò chơi hay giải thưởng chuyên môn, đều là niềm vui và vinh dự cho người nhận. Vậy mà, giải thưởng tôi được trao lại khiến cha mẹ âu lo, anh em phấp phỏng, cơ quan căng thẳng, đồng nghiệp ái ngại. Vinh quang cho mình, nhưng gây phiền hà cho những người xung quanh, thì có nên không? Việc nhận giải lại khiến các cán bộ an ninh vốn là đại nhân nhưng không được hành đại lộ khi phải quan tâm săn sóc một người như mình, trong khi họ cần phải dành trí tuệ, thời gian và tâm huyết để ngăn chặn tội phạm, để đối phó với kẻ thù đích thực và đáng sợ của dân tộc, để làm những việc ích nước lợi nhà hơn, thì có nên không?

Cùng dưới một gầm trời xã hội chủ nghĩa được cho là dân chủ, công bằng và văn minh này, giải thưởng của Hội Nhà văn từ trung ương đến địa phương, của Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật trung ương và rất nhiều giải thưởng nhà nước khác thì luôn được tiền hô hậu ủng, muôn hồng ngàn tía, trống giong cờ mở, lên xe xuống ngựa, cơm đưa rượu rước; còn giải thưởng của Văn Việt thì bị ngăn trở, bị vùi dập, bị quấy nhiễu, bị hành hạ, bị cưỡng bức…, như thế có công bằng không? Nhà nước không nuôi Văn Việt, thì cứ để nó tự sinh tự trưởng và tự diệt nếu như nó không đủ mạnh; không hà hơi tiếp sức thì cũng xin đừng chặn hầu bóp mũi nó. Một tổ chức văn học nghệ thuật cỏn con mà được coi là liên quan đến sự an nguy của một chính thể, thì chính thể ấy phải tự xem lại thực lực của chính mình. Nếu nhà nước đánh giá quá cao tầm ảnh hưởng và độ nguy hiểm của Văn Việt như thế, thì cần phải xem lại năng lực nhận thức, năng lực nhận định và phân định bạn – thù của đội ngũ tham mưu.

Đầu thế kỷ XX, nhà văn Nguyễn Vỹ từng có câu nói đầy cay đắng: “Nhà văn An-nam khổ như chó”. Bây giờ, đã một trăm năm trôi qua với bao nhiêu cuộc cách mạng và giải phóng, nhà văn An-nam vẫn còn “khổ như chó”. Thử hỏi như vậy có ưu việt không? Có buồn không? Có đau không? Có nhục không?

“Nhà văn An-nam khổ như chó”. Đó phải chăng là lời nguyền cho văn chương Việt? Nếu không, thì tại sao ở thế kỷ XXI này, đến chó cũng không còn khổ nữa, chó ghẻ bị vứt còn được cộng đồng nháo nhác thức suốt đêm tìm về chăm sóc, cưng chiều hết mực; còn nhà văn Việt Nam lại bị săm soi, săn sóc ngược đời. Bao giờ, nhà văn mới “bước qua lời nguyền”?

Cuối tháng 3 vừa qua, gặp nhà thơ Thái Hạo ở Huế, nhìn thấy vết sẹo còn mới trên má của anh, tôi chợt nghẹn. Khi chia tay, nói lời “Bảo trọng” với Thái Hạo, tôi vội quay đi và bật khóc. Ba năm Covid-19 hoành hành, tôi đã không biết bao nhiêu lần nói hai từ “Bảo trọng” với bạn bè, với người thân, nhưng chưa bao giờ thấy uất ức và buồn tủi như lần này. Đến lúc nào và làm thế nào Văn Việt mới được yên, các nhà văn phi nhà nước mới được yên?

Tôi vẫn muốn tiếp tục viết những bài bình luận, nghiên cứu văn học và đăng trên Văn Việt. Tôi vẫn muốn “độc lập” trong nguyên nghĩa của từ này, nghĩa là đứng một mình, chấp nhận cô đơn trong sáng tạo. Tôi vẫn mơ giấc mơ Nobel cho văn chương Việt Nam một cách nghiêm túc dù văn chương vẫn còn bị tung hô nhầm, cấm đoán nhầm, hãm hại nhầm. Tôi vẫn tâm đắc câu nói của nhà văn Diêm Liên Khoa: “Đừng oán trách hoàn cảnh sáng tác hay hoàn cảnh chính trị,… điều quan trọng là bạn có năng lực và nhân cách để viết hay không. Không viết nổi một tác phẩm lớn là lỗi của nhà văn chứ không phải lỗi của thời đại, đừng lấy những danh nghĩa đẹp đẽ để che đậy trách nhiệm và năng lực của nhà văn”.

Tôi vẫn mong có ngày mình được đường đường chính chính nhận giải thưởng của Văn Việt mà không bị chấn thương, tổn thương và áp lực. Tôi vẫn hy vọng có ngày đó. Còn bây giờ, xin Văn Việt hãy giữ giùm tấm huy chương này; chờ một ngày mưa thuận gió hoà, ngày bình yên thật sự, ngày mà chính thể đủ mạnh để không còn xem những người sáng tạo độc lập là thù nghịch, tôi sẽ trân trọng đón nhận nó cho châu về hợp phố. Nhược bằng, Văn Việt chết trước khi ngày ấy đến mà không phải vì nguyên nhân tự thân, thì đó là thất bại của dân chủ và tự do sáng tạo trong nghệ thuật – học thuật nhân văn nước nhà, cũng là điều thiếu may mắn của tôi.

Mới đây, một nhà văn lớn của Việt Nam có viết: “Vô phúc cho vị nào được Hội Nhà văn đề cử tranh giải Nobel sắp tới. Bởi nó sẽ là khởi đầu vĩnh viễn cho những cuộc đàm tiếu, nhạo báng…”. Giả định này còn xa lắm.

Còn bây giờ, ở đây, tôi chắc chắn rằng, vô phúc cho vị nào được các giải thưởng văn chương phi nhà nước gọi tên, bởi họ sẽ phải trả giá rất đắt cho vinh quang này.

Và, đối với quý độc giả của bài viết này, “Phúc cho ai không thấy mà tin”!

“Nhà văn An-nam khổ như chó”, còn khổ bao lâu nữa?

BỎ QUÊN!

Ai cũng phải đối diện với cái ngày như thế. Vậy nên chuẩn bị từ vật chất đến tinh thần để chấp nhận mọi sự việc có thể xảy ra… Buồn, cay đắng nhưng biết làm sao?

***

BỎ QUÊN!

Nghe tiếng điện thoại reng, Bích Lan bực mình cho là quảng cáo, nhưng vẫn dở phone lên gắt gỏng :

– Alo ! Cái gì mà gọi hoài vậy?

– Dạ, cho chúng tôi gặp ông Lợi, chúng tôi gọi hai ngày nay không ai bắt máy.

– Ông Lợi không có nhà.

– Chúng tôi rất cần gặp ông Lợi

– Ông Lợi đi làm hai giờ chiều mới về, có gì nói với tôi được không, tôi là người nhà ông Lợi,

– Xin bà làm ơn nói với ông Lợi đến nhà dưỡng lão CampBell đưa ông cụ về nhà vì dịch corona nhà dưỡng lão được lệnh phải đóng cửa.

Lan hoảng hốt nghĩ cái hoạ sắp tấp vào nhà, liền xuống giọng năn nỉ :

– Thưa bà, xin bà có cách gì tạm để ông già trên đó không, tốn mấy chúng tôi cũng xin chịu, nhờ bà làm ơn giúp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu tạ riêng bà.*

– Không được cô, tôi là nhân viên đâu có quyền hành gì, 19 người già trong viện xét nghiệm có 4 người dương tính, bị nhiễm virus, hiện cho nằm bịnh viện, số còn lại kết quả âm nên cấp tốc trả về nhà cách ly 14 ngày.

Đó là lệnh của ban phòng chống dịch. Hiện người ta về nhà hết, trừ ông cụ, bởi vậy cô phải báo cho ông Lợi biết, cấp tốc đến đưa ông cụ về. Thôi, cảm ơn cô.

Bỏ điện thoại xuống Lan sững sờ : – Làm sao bây giờ?

Lợi có một bà chị và một đứa em. Gọi phone bà chị, nhờ bà chị nhận ông già về tạm mấy ngày dịch hoành hành rồi sẽ tính sau :

– Chị nên đưa cha về một thời gian ngắn rồi sẽ tính, chị lo cho cha, bọn em chịu tất cả phí tổn cho chị

– Không được, nhà tui có một phòng, lớn nhỏ năm người ở, đưa cha về ở chỗ nào. Nhưng mà cậu mợ nghĩ sao, ba năm nay ổng đã ở yên rồi, thì để ổng ở tiếp cho hết đời, đem về làm gì ?

– Bây giờ người ta không cho ở nữa, tất cả viện dưỡng lão đều bị đóng cửa. Thôi để em thuyết phục chú út thử.

Chú út viện lý do hai vợ chồng chú cả ngày đi làm vì làm y tá ở bịnh viện nên dù mọi người đều phải ở nhà, hãng xưởng đều đóng cửa, nhưng hai vợ chồng chú không được ở nhà, thì làm sao có thì giờ chăm sóc ông già.

Trước lý do đó chị không thể năn nỉ câu thứ hai. Không còn cách gì nữa, năn nỉ ai cũng không được, chị liền nghĩ đến cách cuối cùng là im lặng xem như không được tin tức gì hết, và có thể cảnh sát xem như ông già không có thân nhân, và họ sẽ giải quyết theo hướng đó, hướng không có thân nhân.

Chị mỉm cười khen mình người sáng ý, thông minh. Chị biết rất rõ anh bạn của chồng chị, cách nay ba năm, có bà mẹ già ở Pháp sang thăm, bà bị bịnh, anh gấp rút đưa vào bịnh viện, độ vài tuần sau bà cụ qua đời. Bịnh viện liên lạc thân nhân mới hay là số phone giả, địa chỉ giả.

Chiều hôm đó Lợi về hơi sớm. Đường vắng quá, một vài người lớn tuổi đi bộ có vẻ ké né trên lề đường, đeo khẩu trang, ra dáng thận trọng nghiêm nghị khác những ngày thường.

Quang cảnh khác hẳn, hơi rờn rợn, hình như ma quái núp trong cỏ cây, nơi nào đâu xa lạ hoang vu, chứ không phải nơi anh thường đi ngày hai bận cắt cỏ cho một trường học gần nhà.

Anh vừa bước vào nhà, nghe điện thoại reng, trong phòng bên cạnh chị chạy ra nhưng không kịp.

– Alo ! dạ..dạ .. dạ vâng …dạ… dạ tôi đến ngay.

Vừa đặt điện thoại xuống, anh nói ngay :

– Bọn nó đuổi ông già về, bây giờ anh phải đi đón về.

Chị cố bình tĩnh, tuy giọng hơi run run :

– Thì anh ăn cơm rồi sẽ tính sau.

– Tính toán cái quái gì, nó bảo trước đây hai ngày họ về hết rồi, nếu chiều nay không ai đón về, nó báo cho cảnh sát biết và xem như xong nhiệm vụ.

– Hay là anh để cho cảnh sát nó giải quyết xem sao.

– Làm thế cha anh sẽ chết lạnh dọc đường cái trong đêm nay.

Bực mình anh vẫn giữ nguyên bộ quần áo cắt cỏ ra xe. Anh nghĩ cũng tại anh, năm đó ông già không chịu đi Mỹ lấy lý do già rồi đi làm gì, tiếng Anh không nói được không biết lái xe, hơn nữa, mẹ anh mới mất chưa giáp năm, bỏ đi thấy tội nghiệp quá.

Nhưng anh đã bảo cha anh nên đi, tuổi già ở Mỹ có đủ thuốc men, có bác sĩ giỏi, có binh viện tốt, nhất là tránh được cái nạn dùng thuốc giả, thuốc độc của Tàu.

Bà chị cả của anh, người em trai út và nhất là vợ anh, liên tục lén anh, viết thơ về khuyên ông già nên ở lại Việt Nam lo mồ mả cho mẹ mới mất, rồi sẽ gửi tiền, gửi thuốc Tây về cho ông.

Bởi vậy ông quyết định xoá bỏ hồ sơ H.O. Khi được tin xoá bỏ hồ sơ, anh phải cấp tốc về quê khuyên bảo ép buộc ông làm lại hồ sơ. Thế mà phải chờ đến trên mười năm, hổ sơ mới được tái xét, mới được ra đi.

Freeway 17 vắng quá, anh chạy hơi quá tốc độ nên chưa đến một giờ đã ra exit Campbell.

Theo con đường nhỏ đi sâu vào rừng rậm. Tuy chưa đến 4 giờ chiểu nhưng như sắp tối, vắng một cách kinh hoàng.

Anh nghĩ làm nhà dưỡng lão ở nơi này có khác gì một nhà tù nhốt mấy ông già gần đất xa trời.

Đậu xe phía trước, anh chạy vòng vào sân sau, không có một bóng người nào, phía trong hành lang xa, một ông già nhỏ thó ngồi bất động trên cái ghế dài bên cái xách tay bằng vải .

– Trời ơi ! cha tôi đây Trời ! Anh nhào tới ôm cha anh, ông già mỉm cười, nước mắt dầm dề

– Thấy con cha mừng quá. Hai hôm nay cha ở đây một mình. Nếu tối nay con không đến, cha mò lần ra đường cái. Trời còn thương cha.

– Cha ngồi đây lâu chưa ?

– Hồi sáng giờ. Bà y tá bảo cha dọn đồ ra ngồi chờ người nhà lên, họ đóng cửa.

Lợi xách túi vải nói :

– Con cõng cha ra xe, đường đi nhiều rễ cây dễ bị vấp ngã.

Ông giả lẩm nhẩm :

– Cha ở đây đúng ba năm 4 tháng 18 ngày.

Lợi mừng thầm, ông già mình tuy ốm yếu nhưng trí óc còn khá sáng suốt mới nhớ được số ngày tháng năm ở khu rừng này.

– Bọn con đều khoẻ mạnh hết chứ ?

– Dạ, vì bịnh dịch đang lan tràn nên ai ở nhà nấy không dám ra đường, nên mình con đi đón cha..

– Hai đứa cháu nội của cha lớn lắm hả, có đứa nào có vợ chưa ?

– Chưa cha, bọn nó còn nhỏ, còn đi học mà.

Lợi lái xe chạy chậm vì đoạn đường xấu, sợ xe xóc làm mệt cha già. Nghe tiếng thở đều đều ông già ngoẻo đầu qua một bên thiu thiu ngủ.

Lợi định tạm để cha già ở cách ly tại garage xe và anh định nghỉ cắt cỏ ít nhất 2 tuần để chăm sóc cha.

Anh nguyện lần này chính anh, chinh bàn tay anh, sẽ làm mọi thứ, từ nấu ăn, giặt dũ đến tắm rửa, đổ bô, lau cầu, không để ai nhúng vào, nhất là vợ anh.

Nhắc đến vợ, anh lo lắng rồi đây anh phải cố gắng chịu đựng, cố gắng nhịn nhục tối đa, để tránh những cuộc đổ vỡ cãi vã to tiếng. Nhất là không để cho ông già nghe được những lời cãi vã.

Anh chắc chắn phải làm được vì ông già sống ở garage biệt lập.

Bữa cơm tối hôm đó tuy rất đói nhưng anh ăn không ngon vì hình ảnh cha anh khi chiều làm anh rất xúc động, anh cảm thấy tội lỗi, một ông già gầy ốm một mình ngồi cheo leo ở bìa rừng vắng vẻ tiêu điều, vào một buổi chiều sắp tắt.

Tại sao một ông già phải bị đày đoạ như thế. Mâm ăn có 4 người, hai con anh ngồi một bên, vợ anh với anh một bên.

Hai đứa nhỏ và vợ anh mỗi người chăm chú vào chiếc Iphone, không để ý gì đến việc ăn uống.

Bỗng chị hỏi :

– Cha ăn uống gỉ chưa ?

– Cha mệt đang ngủ ngoài garage, anh đang nấu cháo cho cha*

– Chắc anh gặp cha đang lang thang ngoài đường cái chứ gì?

Anh giả vờ không hiểu câu nói móc của chị, vì khi ra xe đi đón ông già, anh bảo nếu không lên đêm nay, ông già có thể chết lạnh trên đường cái.

Anh bình thản trả lời :

– Không, ông già ngồi cheo leo một mình ở hè nhà dưỡng lão.

Hai đứa nhỏ thôi ăn đứng dậy, mỗi đứa rót một ly nước, lên lầu

Chị cũng thôi ăn, đứng dậy, anh liền bảo :

– Em ngồi lại anh có vài điều muốn bàn với em.

Chị ngồi xuống nhìn thẳng vào anh.

– Anh đem cha vể đây ở tạm một thời gian, có thể nửa năm, một năm để ổng ổn định sức khoẻ, anh sẽ dẫn ổng về lại Việt Nam ở với bà cô ruột anh cũng đang sống một mình với đứa cháu trong họ.

Anh sẽ làm hết mọi việc từ đi chợ, nấu ăn, rửa chén, dọn dẹp trong nhà, lau chùi cầu tiêu nhà cửa, v..v..anh chỉ tha thiết xin em một điều… một điều… là cố gắng vui vẻ với ông già trong lúc ổng còn ở nhà này với chúng ta.

Nghĩa là em sẽ không làm gì hết, cố nhiên việc chăm sóc ông già là việc của anh, nếu em… thấy không thể được thì cũng nên cho anh biết.

Không khí nặng nề im lặng. Chị đứng dậy, chậm chậm đi lên lầu. Khi chị đi rồi anh bực mình tại sao lại đặt vấn đề với chị một cách thẳng thừng thô bạo như vậy, vô tình đẩy chị vào thế chống đối, anh cảm thấy mình kém cỏi quá, làm vấn đề đáng lẽ đơn giản, hoá ra khó khăn phức tạp hơn.

Nhà anh có 4 phòng, trên lầu 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Hai con hai phòng anh chị một phòng.

Tầng trệt 1 phòng ngủ 1 phòng tắm. Khi ông già chưa đến nhà dưỡng lão ông ở phòng dưới này. Để ông nằm một mình ở garage anh không yên tâm, đêm hôm có việc gì ông kêu không ai nghe, anh đặt một giường nhỏ để nằm cạnh ông già.

Lấy lý do vì dịch corona, cách ly xã hội, nên anh yên tâm để ông già ở Garage cho đến khi hết dịch.

Cũng với lý do đó anh giải thích cho ông biết vợ và hai con anh chưa dám ra garage là vì vậy…

Thật sự ông già hiểu hết sự việc, nhất là suốt hơn ba năm nay, ba chục người bị ***“lưu đày”*** *(chữ của các cụ ở nhà dưỡng lão Campbell )* ở chung với nhau. Hầu như họ chung một tâm trạng bị con tống họ ra khỏi nhà không phải vì tốn kém, vì người nào cũng có tiền già, tiền chánh phủ cấp cho tạm đủ sống, mà vì người càng già càng làm cuộc sống của chúng mất tươi trẻ, mất hạnh phúc, và cũng chính người già bị gán cho là cái ổ vi trùng, ổ bịnh tật.

Người già đồng nghĩa với dơ dáy. v..v… Tất cả họ, những người Việt nam ở trại Campbell, đều là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước tháng Tư năm 1975, trung bình mỗi người chịu gần 10 năm tù cộng sản.

Vì cùng chung một tâm trạng, một ngôn ngữ họ thông cảm với nhau họ không quá chán nản quá cô đơn như ở các nhà dưỡng lão khác nói tiếng Anh là chính, nên người nào không nói được, chịu rất nhièu thiệt thòi, có khi bị đánh đập vì bị xem như bất tuân các mệnh lệnh của y tá y công.

Vì chia xẽ vì thông cảm vì cùng cảnh ngộ họ tránh được những cãi vã, những xô xát với nhau, nhưng họ mỗi ngày mỗi chuốc thêm những oái oăm, những nỗi buồn vì bất hạnh với gia đình, với con cháu.

Mỗi ngày họ phết thêm vào bức tranh tập thể đó, một nét buồn thảm ảm đạm. Thế cho nên họ thiếu hẳn niềm vui, người nào cũng mang một bộ mặt âu sầu buồn thảm.

Thậm chí có người than rằng ở tù tuy mất tự do, tuy nhục nhã, nhưng ít nhất một tháng, hoặc 6 tháng, có gia đình đến thăm nuôi, và gia đình còn thương xót, còn tôn trọng, còn kính nể người đang ở tù, và còn hi vọng người tù còn có ngày về để cùng xây dựng lại cuộc sống tạo lại hạnh phúc.

Trái lại vào trại dưỡng lão không mất tự do, nhưng gần như không cần tự do nữa, như bước vào giai đoạn cuối cuộc đời . Họ thật sự bi bỏ quên. Có người suốt năm không có người đến thăm.

Ông cho biết khi vào trại, tổng số là 30 người và gần 4 năm sau chỉ còn 19 người. Mười một người lìa trần vì buồn bã quá, vì chán nản đến cùng cực, vì tủi thân, vì bị bỏ quên, chứ không phải vì những bịnh nan y.

Có những người không chịu uống thuốc, có người phản đối đi bịnh viện.

Từ ngày đưa cha về nhà, anh thay thế vợ làm mọi việc trong nhà, anh mới biết rằng tuy công việc nhẹ, nhưng bực mình quá.

Quần quật từ sáng đến tối, không hết việc. Anh dọn cho cha anh và chính anh ăn ngoài garage, sợ cha buồn anh giải thích vì trong thời kỳ cách ly nên phải như thế. Vợ con anh ăn trong nhà.

Tuy ông hiểu điều giải thích của anh là đúng trong thời kỳ cách ly này, nhưng ông vẫn buồn buồn tủi thân. Ông mỉm cười tự thấy mình càng già càng khó tính, càng cô đơn càng khó tính.

Ông nghĩ đáng lẽ ở tuổi mình tuổi gần 80 phải dễ dãi, phải cởi mở, sao cũng xong cũng tốt. Ông nhớ lại cái đề tài này, trong nhà dưỡng lão, thường đem ra bàn luận với nhau trong nhóm anh em, và lúc nào ông cũng ở phe chỉ trích những người khó tính, và quả quyết vì tính xấu đó, mà con cháu nó không muốn sống gần với mấy người già, dù đó là ông bà nội ngoại.

Mấy người bạn của ông không đồng ý và cho rằng vì hai nền văn hoá Đông phương Tây phương đối lập nhau, nên mới có những bi kịch như vậy.

Rồi họ dẫn chứng ở Việt Nam chẳng hạn *(trừ dưới thời cộng sản) *đứa bé lên ba đã được cha mẹ dạy dỗ lễ độ chào hỏi, trong khi ở Mỹ trẻ con lên đại học chưa có thói quen chào hỏi.

Vấn đề này với ông, chưa ngã ngũ, chưa tìm ra câu giải đáp thoả mãn.

Từ ngày ra khỏi nhà dưỡng lão Campbell. ông sống một mình ở garage ông hay nghĩ đến người vợ quá cố của ông. Nếu bà còn sống, thì có lẽ đời ông không như thế này, không có chuyện ở nhà “lưu đày Campbell”.

Càng nhớ đến bà, ông càng thấy ở bà có phẩm cách cao quí, một người vợ tuyệt vời, một người đàn bà suốt đời chỉ biết hi sinh cho chồng cho con, một người kính trọng cha mẹ ông hơn cả ông kính trọng.

Có hôm trong giấc chiêm bao ông thấy bà ngồi cạnh giường ông, ông mừng quá ngồi dậy thì bà lặng lẽ đứng dậy ra đi im lặng không nói một lời.

Rồi những đêm tiếp theo, ông mong được gặp bà nhưng không thấy. Ông tính sẽ nói với anh lập bàn thờ thờ mẹ để đêm đêm có chỗ ông thắp cây nhang, tội nghiệp. Nhưng ý nghĩ này bị dập tắt ngay, vì ông, và bạn bè ông đều biết, có bao giờ bọn chúng chấp nhận bàn thờ.

Anh vui vẻ hỏi cha :

– Hôm nay con đi chợ, cha muốn mua thứ gì, muốn ăn uống gì, con mua cho cha.*

– Không, không, khỏi mua gì con, cha ăn gì cũng được, nhà có gì ăn nấy.

Anh vừa ra xe, thì chị và hai đứa nhỏ đến cửa trong nhà xuống garage, chị nói lớn trong nước mắt :

– Hai cháu và con chào cha. Nhờ cha nói với ổng có cái thư để trên tủ lạnh. Ổng không cần vợ, không cần con, nên bọn con ra đi. Nói xong chị và hai đứa nhỏ lui vào nhà. Ông bối rối không kịp nói gì. Mệt quá ông nằm đừ lên giường cảm thấy khó thở. Ông mê man vào giấc ngủ hồi nào không biết.

Anh đặt mâm cơm lên bàn mới hay cha anh đang ngủ. Anh ngạc nhiên sao giờ này cha anh còn ngủ :

– Cha, cha, dậy ăn cơm rồi hãy ngủ cha.

Ông già ngồi dậy bần thần không biết ở đâu. Anh nói lớn :

– Hình như cha bị cảm phải không.*

*- Không, hơi mệt thôi, không sao đâu.

Ông ngồi dậy cố nuốt miếng cơm, nước mắt dầm dề :

– Vợ con với hai đứa nhỏ bỏ nhà đi rồi

– Cha nói cái gì vậy cha ?

Ông lặp lại :

– Vợ con bỏ nhà đi rồi. Nó có ra chào cha và dặn cho con biết có thư trên tủ lạnh.

Anh vội vàng chạy vào nhà. Thư viết : “Ông xem mẹ con tui không ra gì nên chúng tôi phải ra đi”.

Viết vội vã chữ nguệch ngoạc, chỉ một câu thôi, không ký tên không đề ngày. Tức qúa anh xé nát tờ thư, ngồi thừ xuống ghế nước mắt tuôn chảy, anh khóc. Anh ngồi như thế đến 1 giờ sáng, giật mình nghĩ đến ông già, anh vội bước ra garage cố điềm tĩnh dấu cha anh.

Cha anh nằm im lặng hình như chưa ngủ, vì ông già cựa mình và thỉnh thoảng ho. Anh nghĩ phải cố gắng bình thản trước cha anh. Mong hết cơn dịch anh sẽ đưa cha anh về Việt nam rồi anh sẽ đi tìm vợ con anh. Nhất định không để đổ vỡ gia đình. Anh nghĩ, lỗi do mình vì bất tài một phần và thiếu khéo léo tế nhị trong việc xử thế cho nên mới ra nông nỗi này.

*Nguyễn Liệu*

*San Jose

Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Một bài thơ của đọc giả gửi tới, nhưng không cho biết họ tên….

***

Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Cô ơi! Cho em hỏi…

Sao quê mình ngộ quá vậy cô!

Bốn ngàn tuổi vẫn dậm chân tại chỗ?

Bốn ngàn tuổi đời dân vẫn còn khổ?

Bốn ngàn tuổi và vẫn còn chổ cho những kể bán linh hồn?

Cô ơi.. Cô vẫn thường dạy.

Quê hương mình đẹp lắm…

Rừng vàng, biển bạc nổi tiếng khắp năm châu..

Nhưng giờ đây, rừng vàng toàn lũ mọt?

Biển xác cá phơi, bạc trắng bởi vì đâu?

Cô ơi.. Cho em hỏi…

Sao quê mình lạ quá vậy cô!

Những tên vô học… thì có bằng đại học?

Óc quả nho, bụng chứa toàn dzun với lãi…

Chúng xem nhân tài như xác cá nổi ngoài khơi…

Cô trả lời em đi, vì sao lạ nhỉ?

Quê hương mình rồi sẽ về đâu?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình buồn quá vậy cô…

Giặc Pháp đi, thì dân ta phải no ấm?

Giặc Pháp chạy rồi, giờ dân đối diện giặc quan tham…

Xưa ta muốn đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào…

Vậy mà giờ chúng lại ào ào chạy theo sau?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình thương quá vậy cô.

Kẻ bán nước, mất linh hồn vẫn tồn tại?

Người dân kêu đòi công lý lại là kẻ phản quê hương?

Nay ngoại bang đang giết mòn quê tổ…

Sao chúng lại câm mồm như một lũ vô danh?

Cô vẫn thường bảo…

Quê hương mình có ngàn, ngàn tiến sĩ…

Vậy mà bây giờ tiến sĩ, thành liệt sĩ vô danh.

Xác cá chết, phơi đầy khắp ngõ…

Không một tiến sĩ nào ra ngõ để đưa ma.

Cô trả lời em đi vì sao cô nhỉ?

Hay các tượng đài ngàn tỉ, các tiến sĩ yêu hơn?

Thế thì em cũng học đua đòi làm tiến sĩ.

Thà vô liêm sĩ, có tiền tĩ, lo nghĩ gì?

Đất nước mình rồi sẽ về đâu cô?

Cô không biết, và em cũng không biết.

Hỏi người trước, thì người trước đã qúa xa.

Hỏi người sau, làm gì có ngày sau.

Hỏi bọn tham quan, vô liêm sĩ, vô tâm cô sẽ biết.

Hỏi trời xanh, mặt trời sẽ đổ lệ.

Khóc cho quê mình khi vẫn còn lũ tham quan.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, tác giả ‘Câu Chuyện Thầy Lang,’ qua đời ở tuổi 87

Van Pham

Cộng đồng NV Hải ngoại vừa mất đi một vị danh y và cũng là một cây bút tài hoa khiến hàng vạn đọc gỉa thương mến và thích thú. Nguyên cầu Thiện Chúa nhân lành đón nhận linh hồn ông về hưởng phúc quê trời… Thành kính phân ưu cùng tang quyến

***

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, tác giả ‘Câu Chuyện Thầy Lang,’ qua đời ở tuổi 87

Khôi Nguyên/Người Việt

ARLINGTON, Texas (NV) – Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, tên tuổi quen thuộc với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, hải ngoại và cả Việt Nam, vừa qua đời tại nhà riêng, thành phố Arlington, tiểu bang Texas, lúc 3 giờ 12 phút sáng ngày 5 Tháng Năm, thọ 87 tuổi.

HÌNH: – Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức. (Hình NV chụp qua màn hình Youtube Yduc Nguyen)

Phu nhân của bác sĩ, bà Ngô Thúy Loan, loan báo tin này với nhật báo Người Việt và cho hay, tang lễ Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức được tổ chức trong vòng gia đình.

Trước khi qua đời, Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, “đã được Linh Mục Jim Khôi giải tội, Linh Mục Trịnh Đình Diễm xức dầu, hai linh mục thuộc Dòng Lòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Dòng Đồng Công) và các thành viên Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Maria) thường xuyên thăm viếng và trao Mình Thánh Chúa, đọc kinh cho bác sĩ,” bà Loan cho biết.

Tên tuổi Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức gắn liền và được nhiều người biết qua hàng trăm bài viết trên báo, tạp chí và các chương trình truyền hình của người Việt hải ngoại về các vấn đề sức khỏe, mà nổi tiếng nhất là chuyên mục “Câu Chuyện Thầy Lang” cùng chương trình truyền hình (video clip) “Sống Khỏe Sống Vui.”

Theo gia đình, Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức sinh ngày 9 Tháng Năm, 1935, tại Hải Dương, miền Bắc Việt Nam sau đó di cư vào miền Nam.

Trong cuộc chiến Việt Nam, ông là y sĩ hiện dịch Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và từng phục vụ tại Trung Đoàn 49, Sư Đoàn 25 tại Quy Nhơn; Đại Đội Quân Y Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Mỹ Tho; Bệnh Viện 3 Dã Chiến Mỹ Tho; Tổng Y Viện Cộng Hòa; Bệnh Viện Trưng Vương Sài Gòn; phó chủ tịch Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn (1970-1974); hội viên CARITAS Việt Nam.

Ông nhận bằng Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia tại Y Khoa Đại Học Đường, Viện Đại Học Sài Gòn, năm 1971, với hơn 50 năm hành nghề về Y Khoa Gia Đình tại Việt Nam và Hoa Kỳ.

HÌNH: – Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức khi phục vị trong Quân Y, Quân Lực VNCH. (Hình: Tài liệu Người Việt)

Ông di tản đến Hoa Kỳ năm 1975, định cư và hành nghề tại thành phố Baton Rouge, tiểu bang Louisiana, trong suốt 25 năm liền và cũng là chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Việt Nam tại Baton Rouge và chủ tịch Hội Y Sĩ Việt Nam tại Louisiana. Sau khi về hưu, ông cùng gia đình chuyển về cư ngụ tại thành phố Arlington, Tây Nam Dallas.

Tại Hoa Kỳ, ngoài việc hành nghề y, chăm sóc sức khỏe trực tiếp, ông còn gián tiếp chăm sóc sức khỏe cho đồng hương Việt Nam qua hàng trăm bài viết trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ về sức khỏe, dinh dưỡng và những vấn đề y tế xã hội qua mục “Câu Chuyện Thầy Lang” trên các báo như: Người Việt, Tuần Báo Trẻ, Việt Vùng Vịnh, Thời Báo, Bút Việt, Á Châu Thời Báo, Thằng Mõ, Hướng Đi… Ông hợp tác với chương trình phát thanh VOA, RFI, RFA, Việt Nam Hải Ngoại, VietRadio, VAB, Dallas Radio, Lạc Việt Radio Canada, O 2TV, Vietface TV, Vietv, CMG TV,…

Mục tiêu mà Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức muốn hướng tới đó là phổ biến các tin tức y học, nâng cao sức khỏe cho dân chúng.

Ngoài báo chí, phát thanh hay truyền hình, ông còn xuất bản khoảng 13 bộ sách bằng tiếng Việt phát hành ở Hoa Kỳ và cả Việt Nam, biên khảo các vấn đề y tế, xã hội.

HÌNH: – Bằng Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia của Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức. (Hình: Tài liệu Người Việt)

Một số cuốn sách tiêu biểu như: Thuốc Mỹ Chữa Bệnh Ta, năm 1977 để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết về vấn đề trị bệnh căn bản cho người Việt Nam khi mới đặt chân tới đất Mỹ; An Hưởng Tuổi Vàng; Sức Khỏe và Đời Sống; Dinh Dưỡng và Sức Khỏe. Câu Chuyện Thầy Lang (các vấn đề y tế thường gặp); Cẩm Nang Phục Hồi Tâm Bệnh, Sức Khỏe Người Cao Tuổi… Ngoài ra, ông còn có cả trang mạng “bsnguyenyduc.com” nhưng nay đã ngưng hoạt động.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức cùng phu nhân đã thành lập Trung Tâm Tuổi Vàng tại Arlington, nơi giúp cho những người cao niên sinh hoạt, rèn luyện sức khoẻ và các hoạt động văn hoá truyền thống của dân tộc.

Chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và phục vụ tha nhân, có lẽ là lý tưởng lớn nhất của Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, như một lời tự giới thiệu của ông trên trang Facebook cá nhân cách đây hai năm, Tháng Chín 2020: “Tôi là Nguyễn Ý Đức đây. Xin chào quý vị. Xin quý vị nhớ cho là chúng tôi sẽ làm theo ý muốn của quý vị.”

https://www.nguoi-viet.com/…/bac-si-nguyen-y-duc-tac…/

TẠI SAO THÁNG NĂM LÀ “THÁNG ĐỨC MẸ”

TẠI SAO THÁNG NĂM LÀ “THÁNG ĐỨC MẸ”

 Đây là lý do tháng Năm được dành riêng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Với những người Công Giáo, tháng Năm được biết tới như là “tháng Đức Mẹ,” một tháng đặc biệt trong năm với những thực hành đạo đức đặc biệt được diễn tả trong việc tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria.

Tại sao thế?  Tháng Năm được liên kết với Đức Mẹ như thế nào?

Có nhiều yếu tố khác nhau góp phần tạo nên sự liên kết này.  Trước hết, ở Hy lạp và La Mã xưa, tháng Năm được dành để tôn kính các nữ thần ngoại giáo vốn liên hệ tới sự phong nhiêu và thời gian của mùa xuân (đặc biệt là thần Artemis và Flora).  Vốn được kết hợp với những nghi thức khác của người Âu Châu để kỷ niệm mùa xuân mới, ý nghĩa này đã dẫn tới việc nhiều nền văn hóa phương Tây nhìn nhận tháng Năm như là tháng của sự sống và tình mẫu tử.  Quan niệm này có trước đó rất lâu so với sự hình thành “ngày của Mẹ”, dẫu cho dịp lễ hiện đại này liên hệ khá gần gũi tới khát khao sâu xa để vinh danh tình mẫu tử trong suốt những tháng mùa Xuân.

Vào thời Giáo Hội sơ khai, có dấu vết về một dịp lễ lớn kính Đức Trinh Nữ Maria được cử hành vào ngày 15 tháng Năm hàng năm, nhưng mãi cho tới thế kỷ 18, việc tháng Năm có một sự liên kết đặc biệt với Đức Trinh Nữ Maria mới được công nhận rộng rãi.  Theo cuốn Bách khoa Toàn thư Công Giáo, “Sự tôn kính Tháng Năm như hiện tại bắt nguồn từ Rôma, khi ấy vào cuối thế kỷ 18 cha Latomia thuộc Học viện Roma của Dòng Tên đã thực hiện một lời khấn để dâng tháng Năm cho Đức Mẹ để chống lại sự bất tín và thiếu đạo đức giữa những sinh viên.  Từ Rôma, thực hành này lan rộng ra những học viện khác của Dòng Tên và sau đó phổ biến gần như mọi nhà thờ Công Giáo thuộc nghi lễ Latin.”

Tuy nhiên, việc dâng kính trọn một tháng cho Đức Mẹ không phải là một truyền thống mới, vì đã tồn tại một truyền thống trước kia trong việc dành 30 ngày cho Đức Mẹ được gọi là Tricesimum, cũng còn được biết tới như “tháng Đức Bà.”

Những thực hành đạo đức riêng tư khác nhau đối với Mẹ Maria nhanh chóng phổ biến trong suốt tháng Năm, như được ghi lại trong bản Raccolta (bộ sưu tập) – một ấn bản những lời cầu nguyện, được phát hành vào giữa thế kỷ 19.

Tháng Năm này thật là một tháng đặc biệt để dành riêng kính Mẹ Maria rất thánh, tháng đẹp nhất và rực rỡ nhất trong toàn bộ các tháng trong năm.  Lòng sùng kính này đã từng thịnh hành trong toàn các nước Kitô giáo, và giờ đây phổ biến nơi Rôma này, không chỉ trong những gia đình riêng lẻ nữa, nhưng như là một tháng đặc biệt phổ biến trong rất nhiều nhà thờ.  Để khơi dậy nơi mọi người Kitô hữu thực hành lòng sùng kính nhẹ nhàng và thành tâm đối với Đức Nữ Trinh đầy ơn phước, và suy xét vì lợi ích thiêng liêng lớn lao cho họ,  Đức Giáo Hoàng Piô thứ VII đã ban hành một bản Rescript of the Segretaria of the Memorials, vào ngày 21tháng ba năm 1815 đối với mọi tín hữu trong thế giới Công Giáo, những người cách công khai hay riêng tư, nên tôn kính Đức Nữ Trinh Đầy Ơn Phúc với một số lời cầu nguyện sốt mến và tôn kính hay những thực hành nhân đức khác.

Vào năm 1945, ĐTC Piô thứ XII đã khẳng định tháng Năm như tháng Đức Mẹ sau việc thiết lập ngày lễ kính Đức Maria Nữ Vương vào ngày 31 tháng Năm.  Sau Công Đồng Vaticanô II, dịp lễ kính này được dời vào ngày 22 tháng 8, trong khi 31 tháng 5 trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Thăm Viếng.

Tháng Năm có một truyền thống phong phú và là một thời gian thật đẹp trong năm để tôn kính Mẹ Thiên Đàng của chúng ta.

Tác giả:  Philip Kosloski

Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J

Nguồn: https://aleteia.org/2018/05/02/why-is-may-marys-month/

From: Langthangchieutim

TÌM BỐ CHO CON

Chau Nguyen Thi

TÌM BỐ CHO CON

Các bạn có biết đại bàng cái tìm cha cho con của nó thế nào không? Hay phết đấy! Đại bàng cái bẻ một mẩu cành cây, ngậm ở mỏ, bay lên thật cao rồi cứ lượn vòng trên ấy. Xung quanh con cái sẽ xuất hiện các đại bàng đực, khi ấy đại bàng cái sẽ nhả mẩu cành cây ra, rồi bay ở trên quan sát. Sẽ có con đại bàng đực chộp được cái mẩu que ấy trong không trung, không cho nó rơi chạm đất, rồi đem nó tới chỗ con cái, cẩn thận trao lại, từ mỏ của mình sang mỏ con cái. Đại bàng cái lại bay lên cao tít, rồi lại thả, đại bàng đực lại lao đi bắt cái qua ấy ở trên không… Nếu từng ấy lần thử thách con đực luôn bắt được, thì nó sẽ được lựa chọn để làm bạn đời. Để làm gì ư, thì đây…

Đôi “uyên ương” sẽ làm tổ ở những hốc đá tít trên cao. Tổ chim là những que cứng, nếu không có đủ chúng dùng mỏ giật lông vũ của chính mình ra, rớm máu thịt. Chim bố và chim mẹ dùng chính lông của mình để lót ổ, để trám tất cả những khe hở, sao choc him non sẽ được ấm áp, êm ái nhất có thể. Chim cais ẽ đẻ trứng vào ổ, và cả hai sẽ cùng nhau ấp nở. Chim đại bàng non (thường là hai con) được sinh ra rất nhỏ bé, lẩy bẩy yếu đuối, trần trụi… và chim mẹ, chim bố sẽ dùng chính cơ thể mình sưởi ấm cho con, che chở nắng mưa, đem đến cho chim con nước và thức ăn, chúng sẽ lớn rất nhanh. Và khi ấy chim mẹ và chim bố thấy, là đã tới lúc rồi…

Chim bố đứng cạnh tổ chim, bắt đầu đập cánh dữ dội, cả tổ chim chao đảo, rụng rời. Để làm gì ư? Để tung bay đi hết những lông chim, còn trơ lại mỗi cái khung ban đầu chính chim bố, chim mẹ làm bằng các cành cây. Chim non bên trong hoảng sợ, chúng thấy tổ chim tan tành, chúng không hiểu vì sao chim bố, chim mẹ trước kia đang yêu thương chiều chuông thế, nay lại … Chim mẹ khi đó bay đi kiếm mồi, hoặc tránh mặt đi đâu, không nỡ nhìn những chú chim con ngơ ngác. Nhưng rồi chim mẹ bắt được cá, quay về ngồi cách tô chừng 5 mét, cho các con trông thấy. Nhưng chim mẹ không mớm mồi cho con nữa, mà bắt đầu ăn cá, kệ cho lũ con kêu réo đòi ăn.

Đói thì phải lo thân thôi, chin non đành lò dò ra khỏi cái tổ bây giờ cũng chả còn ấm êm gì nữa. Chúng chưa hề làm như thế trước kia, và sẽ không làm đâu nếu vẫn được bố mẹ cho ăn. Chim non còn chưa biết gì hết về cuộc đời này, tổ chim thì nằm trên vách đá cao tít để thú săn mồi không rình rập được. Chim non trượt chân, ngã quay lơ, rồi rơi thẳng xuống dưới vực. Lúc đó chim bố (ngày xưa phải bắt cành cây do “người yêu” ném mãi rồi) sẽ phi từ trên cao xuống và đỡ chú chim con bằng lưng, chứ không đã tan xác mất rồi! Chim bố sẽ cõng chim con trên lưng, lại đưa lên cái tổ chim nay đã xác xơ, và mọi chuyện lại bắt dầu như thế. Các con thì ngã, còn bố thì đỡ và cõng lên. Không chú chim non nào ngã chết cả. Nhưng trong những cú ngã kinh người ấy chim non bắt đầu làm những động tác mà nó cũng không ngờ tới: xòe rộng đôi cánh còn lơ thơ mấy cọng lông của mình ra ngược chiều gió. Chim non bắt đầu bay! Và con nào biết bay trước thì sẽ được bố mẹ dẫn đường, cho bay tới nơi gần nhất có cá. Chứ không dùng mỏ cắp cá về mớm cho chim con nữa…

Con người cũng có thể học được nhiều điều từ đại bàng. Bắt đầu từ việc chọn cha cho những đứa con tương lai của mình….

Bonus: có 60 giống đại bàng khác nhau. Đại bàng chưa phải chim bay nhanh nhất, nhưng có thể bay được kể cả trong dông tố. Tốc độ bay đạt tới 200km/h, và lúc “bổ nhào” nó đạt vận tốc 320 km/h. Mắt nó cực tinh, nhìn một lúc được 2 vật khác nhau, khi săn mồi trên cao 3000m có thể nhìn thấy vật chỉ bằng quả trứng gà dưới đất trong phạm vi 11km2. Mắt có 2 màng bảo vệ, nhìn được góc 270 độ. Berkut là loài đại bàng lớn nhất, có thể bay lên 4500m cao để quan sát, còn đại bàng thường bay cao 700m. Đại bàng không “tái sinh” như phượng hoàng (trong cổ tích) nhưng “cải lão hoàn đồng” thì có: đến năm 40 tuổi đại bàng gặp vấn đề tuổi tác: lông ngực thưa dần đâm bay kém đi, móng bị mềm yếu, mỏ cũng lung lay… Và nó mất 5 tháng, sẽ thay mỏ, thay lông, mọc móng mới… Và nó lại “trẻ trung”, mạnh mẽ và sống thêm được tầm 40 năm nữa!

Việc nuôi dạy con xảy ra trong 3 tháng đầu đời của chim non. Đại bàng vô cùng chung thủy, chả khác gì thiên nga, chúng kết đôi với nhau cả đời. Chúng cũng không bỏ tổ chim, mà thường dùng lại cái khung cũ, chỉ “mông má” lại mà thôi. Nhiệm vụ lo đồ ăn, thức uống của chim đực, còn chim cái có nhiệm vụ rất quan trọng là trông nom bọn đại bàng con, chúng nó mới sinh ra đã có cái tính muốn hất anh em của mình ra khỏi tổ ấm rồi! Nguy hiểm đến mấy chúng cũng không bỏ chim con.

Đại bàng không bao giờ ăn thịt thiu, mà chỉ ăn mồi mình săn được. Có loài thì chỉ ăn thực vật, nhưng cũng phải tươi. Chỉ trong điều kiện bị loài người giam hãm, thì chúng đành ăn thịt hay đồ ăn thiu. Nhưng chúng sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái nếu mất tự do!

Từ fb Trần Kim Anh

Ta Chỉ Vĩ Đại Khi Cầu Nguyện

Ta Chỉ Vĩ Đại Khi Cầu Nguyện

Frederic Ozanam, một nhà họat động xã hội nổi tiếng của Pháp vào cuối thế kỷ thứ 19, sau này là chân phước Ozanam, đã trải qua một cơn khủng hỏang đức tin lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, đi tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi nhà thờ cổ ở Paris. Từ cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện một cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Anh đứng lặng lẽ trong góc nhà thờ để theo dõi cử chỉ của người này và khi người này vừa đứng lên đi ra khỏi giáo đường thì chàng sinh viên mới chợt nhận ra người đó chính là nhà bác học vĩ đại Ampère. Lòng đầy thắc mắc, anh theo gót nhà bác học về cho đến phòng làm việc của ông. Thấy chàng sinh viên đang đứng trước cửa phòng với vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: – Anh bạn trẻ đang cần gì đó, tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?

Chàng sinh viên đáp một cách nhỏ nhẹ: – Thưa giáo sư, là một sinh viên khoa văn chương, con dốt khoa học lắm, xin phép giáo sư cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin.

Nhà bác học mỉm cười một cách khiêm tốn: – Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi, nhưng nếu giúp ích cho anh được điều gì tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm.

Chàng sinh viên hỏi: – Thưa giáo sư, có thể vừa là nhà bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện nhiệt thành không?

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của chàng sinh viên, với đôi môi run rẩy vì cảm xúc, ông trả lời như sau: – Con ơi! Ta chỉ vĩ đại khi ta cầu nguyện thôi.

***

“Con người vĩ đại khi họ cầu nguyện.”

Cầu nguyện chính là đi vào tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Sự cầu nguyện làm cho con người vĩ đại bởi vì nó thể hiện đúng đắn đạo làm người. Con người chỉ thực sự nhận ra phẩm giá cao cả của mình khi nó thấy được thân phận thụ tạo và mối dây liên kết nó với đấng Tạo hoá.

Được tạo dựng bởi Thiên Chúa, con người chỉ tìm thấy ơn gọi và định mệnh của mình trong Thiên Chúa mà thôi. Biết mình bởi đâu mà ra, biết mình sống để làm gì, biết mình sẽ đi về đâu, phải chăng đó không phải là sự vĩ đại của con người? Nhưng chỉ trong sự cầu nguyện, nghĩa là chỉ trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, con người mới có thể cảm nhận được ơn gọi và định mệnh ấy.

Một trong những nét nổi bật nhất nơi dung mạo của Chúa Giêsu chính là sự cầu nguyện. Ngài đã không ngừng bày tỏ sự kết hợp thâm sâu giữa Ngài với Chúa Cha. Đó chính là cách Ngài dạy cho con người sống thế nào cho phải đạo làm người. Sự cao cả của con người, sức mạnh vĩ đại của con ngườ i chính là sự cầu nguyện.

Sự cao cả ấy, sức mạnh vĩ đại ấy Chúa Giêsu đã thể hiện trên thập giá khi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. (Lc 23, 34). Sự cao cả của con người, sức mạnh vĩ đại của con người chính là đi vào tình yêu Thiên Chúa, là thể hiện hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu trong tâm tư, suy nghĩ và hành động của mình.

***

Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con, xin cho con chỉ biết có một ơn gọi là sống cho Chúa. Xin cho con chỉ biết có một niềm hạnh phúc đó là con được kết hợp mật thiết với Chúa. Amen

Ngọc Nga sưu tầm