Nước Mắt Biển Đông  

Nước Mắt Biển Đông  

* Miếu Thờ 11 Thiếu Nữ Việt Nam Bị Hải Tặc Thái Lan Hãm Hại & Vứt Xác Xuống Biển Tha Sala – Đêm chôn vùi tội ác

Ngày hai mươi mốt tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, xác mười một cô gái Việt Nam tuổi từ mười chín đến hai mươi ba, trôi dạt vào bờ biển Tha Sala, Thái Lan, trên người không một mảnh vải che thân.

Những người con gái Việt Nam, cổ bị trói chùm vào nhau, sau khi bị bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính hãm hiếp, bị đẩy xuống biển, và sau khi hơi thở còn thoi thóp sự sống, sau tột cùng của đau thương ô nhục, các cô đã bị kéo theo tàu hải tặc, thân thể chập chùng theo sóng nước từ đuôi tàu, cho đến một lúc, linh hồn buốt lạnh rời khỏi thân xác đau thương, bọn hải tặc man rợ chặt dây, để xác người nhận chìm trong đại dương loang màu máu.

Những ngày chuẩn bị vào Xuân Canh Ngọ (1990), một mẩu tin rất ngắn trên báo Úc loan tin người ta tìm thấy xác mười một cô gái Việt Nam chết trần truồng trên bờ biển Tha Sala. Người ta đoán tuổi các cô gái từ mười chín đến hai mươi ba, cổ bị dây thừng trói chùm vào nhau..

Tôi đã viết một bài tưởng niệm để người bạn thân Trung Chính đọc trên đài phát thanh SBS với lời mở đầu như trên. Giọng đọc dù rất lão luyện, nhưng chợt nghẹn ngào của Chính, đã gửi đi toàn nước Úc một thông điệp buồn, đúng chương trình phát thanh đặc biệt vào giờ khắc giao thừa.

Hôm nay tôi đang ngồi trên bờ biển Tha Sala để viết những dòng này. Bao nhiêu năm dài đã trôi qua..

Trên bờ biển, dưới một tán cây dương liễu lớn, có dáng một chiếc thuyền dài gần mười thước đã rã mục, chỉ còn trơ ba lớp ván đáy thuyền. Người ta kê miếng ván thuyền này trên các cột thấp, phía trên lợp mái tranh, hai đầu mũi thuyền có hai cái am nhỏ, một cái hướng vào bờ, một cái hướng ra biển.

Lúc tôi đến thì đúng lúc một bà lão người Thái đang cùng hai cậu nhỏ bưng đồ cúng gồm trái cây và xôi trắng phía trong bờ đi ra. Bà cụ sắp đồ cúng lên hai cái am, kê một cái bàn vuông nhỏ ngay phía mũi thuyền hướng biển, đặt mâm ngũ quả lên, thắp hương vái rồi đi vào.

Tôi không biết bà cúng ai vì bà không nói được, có lẽ miếng ván thuyền để trong chòi tranh là di tích một thuyền cá nào đó trôi vào bờ. Có lẽ có người chết trên thuyền nên người địa phương mới chưng thờ miếng ván một cách trang trọng dù mái che và cột chống tơi tả nhuộm một màu buồn bã và nghèo nàn.

Đột nhiên, tôi thấy rùng mình.

Bờ Tha Sala không phải là chốn nghỉ dưỡng. Người Thái chê bờ biển này vì có nhiều thuyền đánh cá, bờ cát sạch nhưng đáy biển là lớp bùn dày. Người nước ngoài qua đảo Ko Samui không xa lắm. Hai chục cái nhà sàn không một người khách nào khác đến thuê ở qua đêm. Con đường từ đường quốc lộ vào đây phải đi bộ trên hai cây số. Có lẽ những căn nhà sàn gỗ đỏ mái tôn dành cho người địa phương gần đâu đấy vì bên trong không có gì, ngoài một cái giường có treo mùng trắng và cái quạt bàn.

Một bờ biển rất buồn. Một làng chài lạc lõng trên bản đồ vùng duyên hải phía nam của Thái Lan, thuộc tỉnh Nakhon Si Thammarat.

Tôi ra dấu xin bà cụ một ít nhang. Cụ sai một đứa nhỏ chạy vào trong cầm ra ba nén nhang.

Nếu như có một ai đó đang đốt nén hương dâng lên bàn thờ Tổ, xin thắp thêm nén hương lòng, cắm vào hư không cho thơm linh hồn của những người nằm xuống trên cuộc hải trình tuyệt vọng. Có ai đó đang đi lễ chùa đêm nay, hãy dừng lại, thả vào không gian tiếng thở dài, để sưởi ấm những hương hồn cô đơn lạnh lẽo. Có ai đó đang ngập ngừng trước cổng thánh đường, hãy xin Chúa ban phát tình yêu cũng như niềm đau khổ đồng đều cho hết thảy nhân loại..

Chính đã đọc những lời trên ở đất Úc yên bình hai mươi hai năm trước, hướng về những linh hồn thảm tử Việt Nam trôi vào bờ Tha Sala.

Hôm nay tôi đưa giọng trầm buồn của Chính vang trên bờ Tha Sala vắng lặng. Hôm nay tôi cắm một nén hương trên bờ biển Tha Sala vắng lạnh giữa trời mai nắng cháy.

Chợt nghẹn ngào. Mặt biển xa phẳng như mặt nước hồ. Sóng nhẹ không thành tiếng.

Một vị sư ở Việt Nam khi biết ý định, đã chỉ cho tôi cách tịnh thủy và cầu nguyện.

Tôi ngồi sau nén hương, hướng ra biển. Những tàng dừa biển mọc sát đất xào xạc trong gió. Lá bàng vàng võ rơi rụng trên những vỏ sò đá cuội trắng..

Tôi cám ơn bà cụ đã cho tôi nén hương làm từ vùng đất của những tên cướp biển. Nhưng những người Thái mà tôi gặp hết sức hiền lành và tốt bụng. Mấy ngày qua tôi ở nhờ gia đình một bà bác sĩ trong khu vực dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa bên trong khuôn viên nhà thương Maharat ở trung tâm tỉnh Nakhon Si Thammarat. Bà chỉ cho tôi đến bờ Tha Sala, chỉ cách trung tâm thành phố vài chục cây số. Nhưng khi tôi hỏi cách qua đảo Koh Kra thì bà chịu. Bà cũng không biết có một hòn đảo có tên như thế nằm trong ranh giới tỉnh nhà.

Koh Kra, người Thái đọc là Cỏ Cả (Koh là đảo). Năm 1981, các nhà văn Nhật Tiến, Dương Phục, và Vũ Thanh Thủy đã viết một bản tường trình từ trại tị nạn Songkhla miền cực nam nước Thái về thảm trạng kinh hoàng của thuyền nhân trên đảo này. Bản tường trình hải tặc trong Vịnh Thái Lan của họ đã dóng lên tiếng kêu đau đớn, tiếng chuông hy vọng và tuyệt vọng nhất của thời đại chúng tôi.

Mười một cô gái chết thảm nơi đây thuộc thế hệ chúng tôi.

Họ sinh ra trong thời chiến, chết trong thời hậu chiến trên biển người và đất lạ.

Buổi trưa, mắt nửa nhắm nửa mở, tôi ngồi trên ghế dựa nhìn ra biển vắng. Căn nhà sàn tôi ở nằm sát mép nước, tận trong cùng của khuôn viên, chỉ cách cái chòi thờ miếng ván thuyền độ 20 thước.

Chợt thấy hai cô gái phục sức theo kiểu Hồi Giáo, khăn trùm kín đầu, đi dạo trên bờ biển. Một cô trùm khăn trắng, một cô khăn đỏ rực. Họ nắm tay nhau đứng nói chuyện trước chòi thờ ván thuyền.

Những người con gái Việt Nam đã chết trần truồng trên bờ biển này. Những người con gái đạo Hồi kín đáo từ đầu đến chân đứng nhởn nhơ trên bờ biển này.

Chờ gần chiều khi biển chỉ còn một màu vàng đỏ, tôi đi lần xuống nước, tính lấy toàn cảnh từ biển trông vào bờ. Nhưng khi ngẩng đầu lên thì giật nảy mình. Ngay nóc chòi thờ chiếc ván thuyền, có di ảnh mờ mờ của một cô gái. Có lẽ do nắng gió từ biển khơi lâu ngày nên hình hài trên ảnh đã mờ, nhưng trông kỹ vẫn thấy đúng là ảnh một cô gái. Cả thân hình cô được bao phủ bởi một thân cây già, các tán cây mọc sau cô xòe những lá cây như hoa trắng trùm lên mái tóc dài thả xuống hai vai, cô quỳ hai gối trên một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, miệng mỉm cười, đôi mắt đen to nhìn thẳng ra biển.

Tôi rùng mình trong thoáng giây. Tôi đã quan sát hai cái am nhỏ hồi sáng. Không có tượng Phật. Thì ra họ thờ cô gái này.

Tôi chụp nhanh một tấm thì đúng lúc, trời đổ mưa lắc rắc, mây từ đâu kéo đến đen cả bầu trời. Rồi những hạt mưa to trút xuống cả biển khơi, rơi đồm độp trên mái lá mái tôn và bãi cát. Một tia chớp sáng lóe bầu trời. Gió nổi mạnh trong khi ngoài biển xa bầu trời vẫn vàng ươm ánh chiều tím mịn.

Tôi chạy vội vào căn nhà bán thức ăn. Lúc này không có gì hơn là một lon bia Thái. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi mang bia ra, tiện thể ngồi xuống bên cạnh để hỏi chuyện.

Tôi hỏi tại sao có cái chòi thờ chiếc chuyền đã rã mục, lại có hai cái am. Có phải thờ cô gái có di ảnh hướng ra biển không.

Ông ta là con trai độc nhất của bà cụ hồi sáng. Ông trầm ngâm, nói tới đâu tôi lạnh mình tới đấy.

Ông kể rằng cách đây mười bảy năm, gia đình từ đảo Samui qua đây lập nghiệp. Khi đào cát để lập chòi thì thấy xác một chiếc thuyền vùi sâu trong cát. Ông nói trước đây có một số thuyền Việt Nam qua đây, nhưng không chắc có phải là thuyền của người Việt hay không.

Cả nhà khi đào thấy chiếc thuyền cũng không chú ý, chỉ để trơ ra đấy. Thế rồi một hôm, có một vị sư kêu mẹ ông đến, bảo rằng hãy thờ chiếc thuyền ấy.

Vị sư nói ông nằm mộng thấy một cô gái hình vóc như thế này thế kia, đến nhờ ông nói lại với gia đình là những người đi trên thuyền, trong đó có cô, đã chết thảm, nên xin được thờ phụng. Vị sư kêu người vẽ lại chân dung cô gái như ông thấy, rồi bảo bà cụ hãy thờ cô gái này nơi chỗ xác thuyền tìm thấy.

Bà cụ là người mộ đạo nên làm theo. Cả mười bảy năm nay, mỗi ngày bà cụ đều cúng hai mâm như thế cả.

Tôi xúc động nói với người đàn ông, dù gia đình ông không chắc người chết trên thuyền kia là ai, nhưng tôi chắc là những thuyền nhân Việt Nam, vì mười bảy năm trước thuyền đã mục, nghĩa là chiếc thuyền đã vùi trong cát lâu lắm, có lẽ từ khoảng thời kỳ mà thuyền nhân Việt ồ ạt ra đi.

Người đàn ông lặng thinh, ngẫm nghĩ. Rồi ông vào trong nhà mời bà cụ ra. Bà bảo khi bà lập chỗ thờ thuyền cùng di ảnh cô gái, người trong làng cá này đều bảo bà điên. Nhưng bà không màng, bà bảo bà tin có Phật, nhất là vị sư không bao giờ đặt chuyện như thế.

Trời đã sụp tối, tiếng sóng biển rì rào. Tôi về lại căn nhà sàn của mình, phải đi ngang lại chiếc chòi thờ thuyền. Bất chợt, dù cả đời không sợ ma vì biết ma chê mình, người tôi lạnh xương sống.

Nhìn quanh không một bóng người. Tiếng song vỗ rì rào, tiếng chó tru trong đêm rờn rợn.

Nhưng rồi tôi cũng đứng lại hồi lâu trước di ảnh cô gái trong bóng tối nhá nhem. Có lẽ từ một tiếng gọi nào đấy đã đưa chân tôi lưu lạc chốn này để thấy lại một thảm cảnh hiển bày.

Tha Sala, em ơi, đêm nay sóng cuồng điên ngoài biển, miếng ván thuyền rã mục trên bờ vắng.

Mưa đã ngưng nhưng cát vẫn ướt.

Tôi vào nhà lấy cái máy đem ra để cạnh cái chòi thờ, mở lại giọng đọc của Chính. Trong đêm vắng, giọng của người bạn tôi như tiếng kinh cầu chiêu niệm những oan hồn lẩn khuất đâu đây. Tiếng của anh chậm buồn như sóng biển ngoài kia đang thổn thức.

Đêm nay, đêm oai linh, đêm hồn thiêng sông núi, đêm của tổ tiên nghìn năm sống lại, đêm của những bước chân phiêu lãng trở về bên đốm lửa quê nhà..

Đêm đào huyệt chôn vùi tội ác và ích kỷ. Đêm của những tấm lòng nở hoa nhân ái.

Xin hãy bàn giao hiện tại tối tăm và phù phiếm, cho ngày mai rạng rỡ bài đồng ca thơm ngát tình người. Để mùa xuân được trải đều khắp chốn.

Để thiện tâm nở đầy trên lòng bàn tay, thúc giục những bước chân trần tiến về những cuộc hải trình tuyệt vọng, cho mùa xuân chia đều trên mỗi một sinh mệnh của đồng bào.

Tha Sala, tôi thắp nén hương này, nói vào hư không bài văn tế không thành tiếng.

(Saigon trong tôi/ Lê Đại Lãng – Tha Sala)

TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI

TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sống trên đời, ai cũng mong có một tương lai tốt lành.  Tương lai mà người tín hữu kỳ vọng không giống như mọi người không có đức tin mong đợi.  Bởi lẽ, theo quan niệm trần gian, tương lai là những kỳ vọng thành đạt trong sự nghiệp hay học vấn, hoặc giàu có sung sướng về vật chất.  Người Kitô hữu cũng cố gắng để có được một điều kiện sống hạnh phúc phong lưu.  Tuy vậy, tương lai và hạnh phúc vĩnh cửu của họ là Nước Trời.  Giữa cuộc sống này phủ đầy bóng tối, nhiều thử thách gian nan và dối gian lừa lọc, nhưng những tối tăm gian khổ ấy cũng có lúc kết thúc.  Vương quốc mà chúng ta chờ đợi, đó là hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài.  Hướng về tương lai vĩnh cửu, đó là mối ưu tiên hàng đầu của người tin Chúa.

Với lối hành văn theo thể loại được gọi là “Khải huyền”, tác giả sách Đanien đã diễn tả lúc tận cùng của thời gian, chúng ta vẫn gọi là ngày tận thế.  Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm cho những người đã chết được sống lại.  Sự can thiệp của Tổng lãnh Thiên Thần Micae như một cuộc tổng điều tra dân số.  Những ai được ghi trong “Sổ hằng sống” sẽ được hưởng hạnh phúc ngàn thu, những ai không có tên trong đó sẽ phải trầm luân muôn kiếp.

Giống như tác giả sách Đanien, thánh sử Mác-cô đã sử dụng lối văn Khải huyền để diễn tả ngày cánh chung.  Vào thời đó, các thiên thể tinh tú sẽ mất hết khả năng chiếu sáng và sẽ rơi xuống đất.  Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú được các dân xung quanh thờ như những vị thần.  Vào thời Thiên Chúa xuất hiện, các vị thần ấy sẽ bị đánh bại.

Có thể những tiên báo trên đây bị người thời nay coi là chuyện tầm phào.  Người ta nói rằng, từ xưa đến nay, rất nhiều lần có lời đồn thổi về ngày tận thế, nhưng rốt cuộc thì ngày tận thế không đến.  Lời Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta khi quả quyết: thế gian này chẳng thể tồn tại mãi.  Sẽ có ngày cuộc đời này kết thúc, dù chúng ta không biết khi nào và như thế nào.  Những hình ảnh được nêu trong sách Đanien, và Tin mừng Thánh Mác-cô chỉ là những biểu tượng để giúp cho các độc giả cách chúng ta mấy ngàn năm dễ hiểu.

Nếu người ta có thể phủ nhận ngày tận thế, thì không ai có thể phủ nhận sự chết.  Dù sang hay hèn, dù văn minh hay lạc hậu, ai cũng phải đến ngày kết thúc cuộc đời.  Biết bao lần chúng ta đã chia tay những người thân, qua đó chúng ta càng cảm nhận sự mỏng giòn của thân phận con người.  Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: giờ chết là tận thế đối với cá nhân mỗi người.  Lúc đó họ sẽ phải trả lời Chúa về những việc mình đã làm khi còn sống trên dương gian.  Chúa dựng nên con người có hồn và xác.  Thân xác có thể bị mục nát trong lòng đất, nhưng linh hồn bất tử.  Mỗi người phải mang trách nhiệm về những gì mình đã làm.  Thời gian, sức khoẻ, gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và những ưu đãi khác đều là những “vốn” Chúa ban để sinh lợi.  Trên trần gian, có người tốt kẻ xấu, lúc tận thế, cũng có người hưởng vinh quang, kẻ bị trầm luân muôn kiếp.  Ngôn sứ Đanien đã nhìn thấy “những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời.”  Niềm tin vào đời sau chính là tôn vinh phẩm giá con người.  Niềm tin này cũng khích lệ chúng ta, như một lời hứa hẹn rằng, nếu chúng ta sống tốt ở đời này thì sẽ được hưởng vinh quang bất diệt đời sau.

Tin vào đời sau, đó không phải là sự ru ngủ như có người thiếu thành kiến với Giáo Hội đã suy diễn.  Chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta: ai tin vào Người thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai tin vào Người sẽ được sống muôn đời.  Tác giả thư Hípri nói với chúng ta: nếu chúng ta có hy vọng được hưởng sự sống đời đời là nhờ hy tế của Đức Giêsu dâng trên thập giá.  Người là Thượng tế, đã dâng chính máu mình để chuộc tội cho nhân loại.  Những ai tin vào Người sẽ được tha thứ tội lỗi và được hưởng hạnh phúc vô biên.

Vào lúc năm cùng tháng tận, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ về lúc kết thúc của cuộc đời.  Hai chữ “tận thế” gợi cho chúng ta nỗi sợ hãi và bi quan chán nản, nhưng hai chữ “tương lai” lại giúp chúng ta bừng lên niềm hy vọng.  Người vô thần cho rằng mỗi ngày sống là đang tiến dần tới nấm mộ; người tin Chúa lại cho rằng mỗi ngày sống là một nấc thang đưa họ đến với Đấng Tối cao.  Quả vậy, khi đối diện với sự chết, người Kitô hữu nhìn nhận, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa.  Đó cũng là sự biến đổi từ thân phận phải chết sang cuộc sống đời đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Tại sao gia đình tôi hòa thuận?

Tại sao gia đình tôi hòa thuận?

Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:

– Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.

Ngược lại ba thường hỏi:

– Con gái, tuy con còn bé nhưng con có thấy ba chịu đựng mẹ giỏi như thế nào không ? Ba phải làm sao đây?

Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.

Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ba mẹ quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:

– Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta sẽ phải chia hai.

Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi? Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện thường nói lời an ủi, thương hại và cũng làm nó thêm bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi biết rồi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy Cha và Kính Mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn.

Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi – có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, sau khi đọc kinh, ba má tôi đã xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi từ đó khá hẳn. Gia đình tôi càng ngày càng hòa thuận.

Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm gia đình bốn người chúng tôi vừa chụp ở tiệm.

Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều bài kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.

nguồn trên mạng

From:TU-PHUNG

Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam

VOA Tiếng Việt 

Đại học Fulbright Việt Nam lặng lẽ huỷ bỏ sự kiện bàn luận với cựu Đại sứ Mỹ Ted Osius về cuốn hồi ký mới ra mắt của ông trong lúc báo chí trong nước không được phép viết về cuốn sách được cho là có thể “gây rắc rối” cho một số quan chức chính phủ.

Sự kiện trực tuyến được Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) dự kiến tổ chức vào ngày 4/11 nhưng trường đã huỷ bỏ buổi bàn luận được lên kế hoạch là mở đầu cho một chuỗi các buổi trò chuyện với nhiều diễn giả được mời.

Chia sẻ thông tin về sự kiện này hôm 30/10 trên trang Facebook cá nhân, Tiến sỹ Vũ Minh Hoàng, hiện đang giảng dạy tại FUV, viết rằng “rất hân hạnh được cùng Đại sứ Ted Osius bàn luận về cuốn sách mới của ông!” nhưng phần thông tin về buổi trò chuyện này đã không còn truy cập được nữa.

Trả lời yêu cầu bình luận của VOA qua email, FUV cho biết lý do huỷ buổi nói chuyện với cựu ĐS Osius, người từng là phó chủ tịch của đại học này sau khi từ chức đại sứ vào cuối năm 2017, là “vì một số lí do kĩ thuật không lường trước.” Trường cho biết họ đã thông báo gửi diễn giả và những người đăng ký tham dự sự kiện cũng như “cân nhắc thời điểm phù hợp trong tương lai.”

Tuy nhiên không có bất cứ một thông báo công khai nào của FUV trên trang web cũng như trang Facebook chính thức của trường về việc huỷ bỏ này. Thông báo trên trang web của trường mặc dù vẫn hiện ra khi tìm kiếm trên Google nhưng đường link sẽ dẫn tới trang chủ của FUV.

TS Hoàng nói với VOA rằng ông lấy làm “tiếc” vì buổi trò chuyện với ĐS Osius bị huỷ bỏ nhưng cho biết FUV “có rất nhiều sự kiện và vì nhiều lý do không phải sự kiện nào cũng chạy được.” Trong khi đó, nói với BBC, ĐS Osius cho biết ông “thất vọng về sự việc” và cho rằng “có vẻ như ai đó không thích nội dung cuốn sách.”

Cuốn sách bằng tiếng Anh mới ra mắt của ĐS Osius, “Nothing is Impossible: America’s Reconciliation with Vietnam” (Không gì là không thể: Quá trình hoà giải của Mỹ với Việt Nam) là những câu chuyện hậu trường về các nỗ lực xây dựng lòng tin và hoà giải giữa hai cựu thù Mỹ và Việt Nam.

Tuy nhiên, theo một phóng viên trong nước, các báo ở Việt Nam “bị cấm” đưa tin về cuốn sách này. Phóng viên muốn ẩn danh này cho biết rằng chỉ đạo được đưa ra từ ban tuyên giáo Trung ương, nơi đưa ra quan điểm và đường lối tuyên truyền của Đảng cho báo chí.

Tương tự, một tổng biên tập ở Việt Nam nói với Nhật báo Người Việt rằng các báo trong nước được lệnh “không khai thác sách của cựu ĐS Osius” vì dù có “nhiều điểm tích cực như hoà giải Việt-Mỹ” nhưng còn có “một số điểm chưa phù hợp.”

Một trong những câu chuyện được kể trong cuốn sách mới của ĐS Osius, người có nhiệm kỳ đại sứ ở Hà Nội từ 2014-2017, là những gì xảy ra sau cánh gà của cuộc gặp tại Nhà Trắng hồi tháng 5/2017 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Trước khi diễn ra cuộc gặp có sự tham dự của phóng viên và nhà báo, ông Trump đã không biết mình sẽ gặp ai và trêu đùa về tên của ông Phúc với một từ có nghĩa thô tục trong tiếng Anh.

Trả lời phỏng vấn VOA ngay khi cuốn sách có mặt trên các kệ sách ở Mỹ hôm 15/10, ĐS Osius, người có gần 30 làm ngoại giao ở Việt Nam, nói rằng “có thể có một số phần trong cuốn sách gây rắc rối cho một số người nào đó trong chính phủ.” Tuy nhiên ông cho rằng “các quan chức chính phủ, những người có thể không thích một số phần trong cuốn sách,” sẽ hiểu được rằng ông viết nó “từ tình yêu của mình với đất nước.” Ông cho biết ông đã “nói ra sự thật một cách đầy đủ nhất có thể” với khả năng và kiến thức tốt nhất của ông.

Ngoài ông Phúc, các lãnh đạo Đảng Cộng sản như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và nhiều quan chức cấp cao khác trong chính phủ Việt Nam được nhắc đến trong cuốn hồi ký này. Tuy nhiên, ĐS Osius cho rằng ông “không thấy sự nhạy cảm lớn nào từ phía chính phủ Việt Nam” đối với việc ông nói ra sự thật, và rằng ông “không giương cú đấm nhắm vào ai” và “không nhắm vào nhân quyền.”

Cựu ĐS Osius từng có buổi thuyết giảng với các sinh viên cao học tại FUV vào cuối tháng 9 vừa qua, trong đó ông kể lại một nội dung của cuốn sách mới và trả lời các câu hỏi từ sinh viên về “phong cách lãnh đạo thích ứng, chấp nhận rủi ro, vấn đề Trung Quốc và thương mại.”

FUV, thành lập năm 2016 với phần lớn vốn nước ngoài, được xây dựng theo mô hình dựa trên nền tảng truyền thống giáo dục đại học của Mỹ về tranh luận cởi mở, nghiên cứu về phân tích phản biện, nhưng đồng thời vẫn dựa trên những di sản và truyền thống văn hoá phong phú của Việt Nam.

Một trong những mục tiêu của FUV là “minh bạch và công bằng”, theo Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID nơi tài trợ cho trường gần 12 triệu USD từ năm 2017. Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, FUV được kỳ vọng như là một nền tảng tuyệt hảo cho việc phát triển vốn nhân lực mạnh mẽ trong khu vực.

ĐS Osius, người được trao huân chương hữu nghị của Chủ tịch nước Việt Nam vào năm 2018, cho biết rằng ông sẽ ra mắt cuốn sách bằng tiếng Việt vào năm tới và hy vọng không có sự kiểm duyệt nào từ chính quyền đối với phiên bản này.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link bit.ly/VOATiengViet1 hoặc bit.ly/VOATiengViet2 để vượt tường lửa)

Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam

Chúng ta cùng nhau dâng lời cầu nguyện cho các linh hồn.

May be an image of 1 person and text that says 'Nguyện xin Chúa ban phước lành cho gia đình chúng con đêm nay. Amen'

Nguyễn Hoàng Diễm

Chúng ta cùng nhau dâng lời cầu nguyện, cầu nguyện cho các linh hồn.

Lạy Chúa, xin nhớ đến những người thân, tổ tiên, ông bà, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại. Cùng linh hồn những người khi còn sống, chỉ mình Chúa biết họ đã tin tưởng nơi Ngài.

Chúng con nguyện xin cho những linh hồn tôi tớ Chúa mà nay chỉ còn biết nhờ vào lòng thương xót của Chúa.

Xin Chúa tha thứ mọi lỗi lầm thiếu xót, và ban cho hết thảy được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa

Xin ban cho chúng con luôn giữ vững niềm tin, cậy trông vào Chúa. Để mai sau được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời. Amen

Giêsu, Maria, Giuse con mến yêu. Xin thương cứu rỗi các linh hồn

Chúc anh chị em một đêm bình an, cùng một giấc ngủ ngon!

Bố Ơi Con Đã Hiểu Rồi…

 May be an image of 2 people and text that says 'Há»i bé, thích rạ khỏi nhà vì ở nhà chán lắm. Lớn lên, lại thích quay về nhà vì ngoài đời chán lắm.'

Bố Ơi Con Đã Hiểu Rồi…

Mình không thích nói về cái nghèo, nhưng phải công nhận là khi còn nghèo đói, hầu như con cái nhà nào cũng ngoan ngoãn, biết nhường nhịn, đùm bọc lẫn nhau. Rất lạ.

Trẻ con bây giờ được ăn ngon, mặc đẹp. Vậy nhưng xem ra chúng rất ích kỷ, lười biếng, thậm chí vô cảm và hiếm khi nghe lời. Mình không vơ đũa cả nắm, nhưng dám chắc có nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh này.

Trong nhà, mình cố gắng làm gương để con cái noi theo, như dậy sớm, tập thể dục, gấp chăn gối gọn gàng, giúp vợ làm vài việc vặt như đổ rác, phơi quần áo, quét nhà, nhặt rau, và nhắc trẻ làm theo.

Làm gương mãi nhưng không đứa nào chịu học theo. Đứa đang nghỉ hè thì ngủ đến gần trưa. Đứa đi làm thì giờ làm là 8h30, gần 8h00 mới dậy. Nó ăn uống vội vàng rồi ra đi, không làm tý việc nhà nào. Những khi mình nhắc nhở, vốn rất chiều con nên vợ mình thường im lặng, thành ra con cái vẫn cứ nghĩ là chúng cứ như thế là đúng, còn mình thì xem ra…quá đáng (!).

Nhắc bao nhiêu cũng chẳng ăn thua. Khi kể lại chuyện thời còn bé mình phải chịu khó chịu khổ thế nào, tự lực cánh sinh ra sao để “giáo hóa” thì chúng nó “dẹp” ngay, bảo thời nay khác, thời xưa khác, bố kể để làm gì?.

Một hôm, sau một thời gian dài nói mãi không được, mình quyết định “phát xít” hơn, chuyển từ “khuyến khích” sang “bắt buộc”. Mình gọi đứa đã đi làm dậy sớm hơn và bảo, bố đã nhắc nhở con nhiều lần chuyện không dậy muộn quá, gấp chăn gối, quần áo gọn gàng rồi tập thể dục hoặc giúp mẹ vài việc vặt, nhưng con không nghe. Hôm nay nếu không thực hiện, bố không đồng ý cho con đi làm.

Trước sức ép, con bé gượng làm được vài bữa rồi đâu lại vào đó.

Tiếp theo, mình lại bảo vợ rằng con đã có lương, phải đóng tiền cơm cho mẹ, mỗi tháng một triệu. Vợ mình can, bảo nhà có thiếu gì lắm sao bắt con đóng tiền. Mình nói chỗ tiền đó thấm gì, chỉ là hình thức, nhưng để cho con hiểu được trách nhiệm.

Mấy hôm sau, khi đi tập thể dục về, thấy vợ mếu máo, con nó bảo bố “độc tài” quá, cứ đòi hỏi làm những thứ mà thanh niên bây giờ không đứa nào muốn làm (!), rồi lại còn bắt đóng tiền ăn, coi nó như…người ngoài. Nó thấy bị mất tự do (!), quá nên đã xách vali ra ngoài ở trọ với bạn bè rồi…

Mình bảo em cứ bình tĩnh. Những việc anh bảo nó làm đều muốn tốt cho nó thôi, không có bất cứ điều gì quá đáng cả. Mình không yêu cầu nó ra ngoài ở mà nó tự đi, thì cứ để nó đi, chắc chắn nó sẽ học được nhiểu điều bổ ích…

Hai tháng trôi qua. Thỉnh thoảng ngồi buồn, vợ lại càu nhàu, anh đúng là thô bạo quá, cả nhà đang vui, lại sinh chuyện để con bỏ đi, con nó còn dại, có làm sao lại khổ. Bị vợ than phiền nhiều, có lúc mình cũng tự hỏi hay là mình thô bạo thật?

Khi đứa lớn bỏ đi, vì được chiều từ nhỏ nên đứa bé và vợ mình bỗng dưng trở thành “một phe” riêng và mình trở nên lạc lõng. Có hôm vì quá lo lắng cho con và giận mình, vợ còn bắt ra nằm sofa cho bõ tức!

Thế rồi một hôm, mình vừa đi tập thể dục về thì thấy hai mẹ con đang thủ thỉ với nhau ở phòng trong. Bên cạnh là cái…vali to tướng. Mình đã đoán ra được sự việc, nhưng để giữ thể diện cho con, mình không nói gì.

Gần tới bữa cơm, biết không thể tránh được, con gái mới chạy ra xin lỗi mình, nước mắt ngắn, dài nói rằng con đã hiểu sai về những yêu cầu của bố, đó chỉ là những yêu cầu tối thiểu, làm được dễ dàng. Việc ở riêng không đơn giản chút nào. Khi ở nhà, con được phục vụ đầy đủ “một cách tự động” thì cứ nghĩ là chuyện thường.

Ra ở riêng không tự làm thì chẳng có cái gì hết. Không nấu, không có cơm ăn. Không giặt, hết quần áo mặc. Nước lọc không đun không có mà uống. Tất cả những việc đó con chưa được chuẩn bị để sẵn sàng…

Mình bảo thôi con không cần giải thích nhiều đâu. Con thử nói một câu ngắn gọn xem nào. Nó bảo, bây giờ con mới hiểu được câu mà bố nhắc nhở. Đó là “cho đến trước 18 tuổi thì con nghĩ là con khôn hơn bố, đến 25 tuổi thì con thấy bố cũng chỉ…khôn bằng con, và đến 30 tuổi con mới nhận ra rằng bố…khôn hơn con”.

Mình bảo câu này có phải của bố đâu, nhưng bố rất mừng vì con đã nhận ra được điều đó sớm hơn nhiều so với mong đợi.

Trong không khí trầm lắng của cả nhà, có lẽ mình là người vui nhất, một niềm vui khó tả!

Đang nằm sofa và mải nghĩ về những chuyện vừa xẩy ra thì có tiếng thì thào của vợ, đi ngủ thôi anh, muộn rồi. Hôm nay trời nóng, em…bật điều hòa nhé!

Lượm trên mang…

“Giai cấp mới” tại Việt Nam

“Giai cấp mới” tại Việt Nam

Bởi  AdminTD

Trần Trung Đạo

7-11-2021

Milovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau:

“Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bản chất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.“ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm Minh Ngọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)

Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”

Nhưng câu này của Milovan Djilas mới là chí lý: “Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ, nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)

Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩm ra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47 năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.

Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẽ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.

Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe.

Như các báo loan tin, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếng Thomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.

Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền cho đại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng 1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.

Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankings trong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1.000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.

Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.

Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”, “mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.

Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.

Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.

Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.

Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11 vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịt bò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.

Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìn Tô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.

Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.

Theo họ, lẽ ra Tô Lâm biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang nuốt.

Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.

Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.

Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trung Cộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trong nhiều năm.

Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.

Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.

Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mail của Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình.

Nguyễn Thanh Hùng (chồng Nguyễn Thị Phương Thảo) và Tập Cận Bình. Ảnh trên mạng

Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được nhờ cấu kết với những kẻ gây nên tội ác chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem là đồng tiền chính đáng.

Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủ tịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.

Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho tham nhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoành hành.

Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máy tuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.

Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắt kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.

Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay Cu Ba mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ năm trăm cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ 1.000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.

Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.

Hàng triệu người dân hôm nay có thể đã trở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khóc nửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.

Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi, những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp người bị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.

Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ư? Không. Nếu biết đau và biết nhục bà Thảo đã không đem tiền để mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đất nước không có ngay cả gói mì để ăn.

Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâm Việt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.

Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.

Các chế độ độc tài có thể chiến thắng trước mắt, nhưng về lâu dài thì dân chủ vẫn thắng

Các chế độ độc tài có thể chiến thắng trước mắt, nhưng về lâu dài thì dân chủ vẫn thắng

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Thọ

9-11-2021

Ngày 9.11 đối với dân tộc Đức là một “ngày số phận”. Lẽ ra người Đức nên lấy ngày này làm ngày quốc khánh chứ không phải ngày 3.10. Đó là ý kiến của ông Wolfgang Niess, một nhà sử học, một nhà báo có tên tuổi ở Đức.

Ngày 9.11.1918, cuộc cách mạng Đức nổ ra, lật đổ hoàng đế Wilhelm đệ nhị. Từ cửa sổ nhà quốc hội Đức, lãnh tụ đảng Dân chủ xã hội (SPD) Philipp Scheidemann tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Đức. Ông tính đi trước những người cộng sản. Dù chậm chân, hai giờ đồng hồ sau, từ nhà Thị chính Berlin, Karl Liebknecht, lãnh tụ phái thiên tả trong đảng SPD, cùng những người cộng sản trong hội Spatakus tuyên bố thành lập nước Đức Tự do XHCN. Hai cuộc cách mạng tranh chấp cùng ngày này đã đưa nước Đức đến nền Cộng hòa Weimar, một chế độ dân chủ chông chênh, tạo đất sống cho Chủ nghĩa Phát xít.

Ảnh ghép kỷ niệm ngày 9.11 trên trang mạng T-online.de. Hai bên là cảnh phá bức tường Berlin 9.11.1989. Ở giữa là hình ảnh cách mạng vô sản Đức 9.11.1918 và ảnh nhà thờ Do-Thái bị đốt cháy đêm 9.11.1938. Ảnh tư liệu

Ngày 9.11.1923, nhân kỷ niệm 5 năm ra đời nền cộng hòa, Hitler tổ chức một cuộc đảo chính ở Munich. Cuộc đảo chính thất bại. Hitler bị bắt và bị tuyên án 5 năm tù. Sau 9 tháng thì y được thả vì “hạnh kiểm tốt”. Sau khi lên nắm quyền 1933, Hitler lấy ngày 9.11 làm ngày kỷ niệm những “hy sinh” của phong trào Phát xít.

Ngày 9.11.1938 được biết đến trong sử sách là “Đêm pha-lê”, khởi đầu phong trào tiêu diệt người Do-Thái đẫm máu nhất trong lịch sử. Sáu triệu người Do Thái đã bị thảm sát từ đó đến tháng 5.1945.

Nhưng cũng ngày 9.11.1989, nhân dân Đông Đức đã phá bỏ bức tường Berlin, biểu tượng của chiến tranh lạnh, của quá trình chia cắt nước Đức. Lúc đầu nhân dân Đông Đức chỉ muốn phá bỏ bức tường, phá bỏ chế độ chuyên chế SED để xây dựng một nước Cộng hòa Dân chủ Đức dân chủ, tự do, bình đẳng như nước Cộng hòa Liên Bang Đức bên cạnh mình. Nhưng khi nhìn thấy những thách thức trong quá trình khôi phục đất nước bị lạc hậu và trì trệ, họ đã tiến tới quá trình thống nhất để xây dựng một nước Đức mới.

Trước sức ép của thời thế, ông Kohl và các chính khách Đông Đức không thể trù trừ được ngày nào. Hai nước Anh và Pháp không muốn Đức thống nhất. Liên Xô đang như một thùng thuốc súng. Các thế lực bảo thủ có thể bất cứ lúc nào đó lật đổ Gorbachov, người đã đồng ý cho dân tộc Đức tự quyết. Nếu không làm nhanh, có thể cơ hội tuột tay.

Theo ông Niess: Ngày 3.10.1990 được coi là một lựa chọn thuần túy kỹ thuật để thành ngày thống nhất, cũng là ngày quốc khánh. Đối với nhiều người Đức, ngày 3.10 không gợi lại ký ức gì. Nhưng lịch sử đã đi con đường của nó và không có lý do gì để đổi ngày quốc khánh sang ngày khác.

Mặt khác nhiều người Đức không muốn gắn ngày quốc khánh của mình với những kỷ niệm như “Đêm-Pha-lê”. Với người Đức, ngày 9.11 vừa là ngày ôn lại quá khứ đẫm máu, đau thương của dân tộc vừa là ngày chiến thắng của khát vọng tự do, dân chủ.

Đêm Pha lê 9.11.1938, hàng ngàn nhà thờ và các cơ sở của người Do Thái ở Đức và các vùng nói tiếng Đức bị đốt phá. Ảnh tư liệu

Nhưng nền dân chủ đạt được sẽ không tự nhiên tồn tại, nếu không biết bảo vệ nó. Đảng cực hữu AfD (Sự lựa chọn cho nước Đức) đang muốn biến ngày 9.11 hàng năm thành một ngày lễ. Hitler đã từng làm như vậy để kỷ niệm những tay chân bị giết chết trong cuộc đảo chính ngày 9.11.1923.

Hitler kỷ niệm ngày 9.11.1923, ngày đảo chính hụt ở Munich, đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa Phát xít Đức. Nguồn T-online.de

Năm 1933 y đã cho in tem kỷ niệm những nhân vật này với dòng chữ: Các bạn đã chiến thắng!

Có điều Hitler nhầm to. Các chế độ độc tài có thể chiến thắng trước mắt. Về lâu về dài thì dân chủ vẫn thắng. Lịch sử đã chứng minh như vậy.