S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Vàng Sao

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Vàng Sao

Cách đây chưa lâu, Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, chả may, lại là ác mộng của một thi nhân khác – cùng thời:

… mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất

lâu ngày tôi thấy quen đi
như quen thân thể của mình
tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
buổi chiều không có cơm ăn
những con ruồi ăn nước mũi khô trên má…
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
dồn cứng chật cuống họng

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

Toàn bản bài thơ thượng dẫn đã được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

“Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài Thơ Người Yêu Nước Mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà, năm 1988, ông có bài thơ ‘Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị, phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rủa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ. Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là “bọn tay sai của địch…”

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn:

“Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại Học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên Huấn Thành Uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó’- theo như hồi ký ‘Tôi Bị Bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978

Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

Thứ Hai, 22.07.1979
Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu …

Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần…

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung: Gót nhọc men về thung cũ/ Quì dưới chân quê/ Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng/ Chút thổ phần bò xéo cuối thôn.

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước VNDCCH:

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải Cách Ruộng Đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…”(Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA – theo như ghi nhận của chính nhà thơ, qua cuốn hồi ký thượng dẫn:

“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó…”

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và quí mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có mà nhận được tình cảm tương tự.

Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho thiên hạ cảm thấy khó gần! Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, lắm kẻ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và xem là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước. Họ đã được chế độ hiện hành choàng vào người những vòng hoa (giả) nhưng cứ thế mà đeo mãi cho đến cuối đời.

Tội!

 ĐẤT NƯỚC SẼ VỀ ĐÂU?

ĐẤT NƯỚC SẼ VỀ ĐÂU?

Nguyễn Hưng Quốc

Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là Giáo sư Đại học ở Úc châu. Nhiều năm về trước, ông vẫn về Việt Nam vơi ý định giúp ít nhất là cải thiện vấn đề Giáo duc mà không ai đoái hoài tới!  Bây giờ, tới tuổi về hưu, ông mới “ngộ“ ra thế nào là “xã hội chủ nghĩa“. Rất may, trễ mà chưa muộn! 

Mong rằng tiếng nói chân thật của ông được mọi người lắng nghe và chia sẻ.

Tôi có khá nhiều bạn bè hiện đang sinh sống tại Úc, trước đây, khi còn làm việc, cứ ao ước đến ngày về hưu, con cái khôn lớn, có gia đình và có việc làm ổn định cả, sẽ về Việt Nam an hưởng tuổi già. 

Bức tranh người ta vẽ ra rất đẹp: với số tiền hưu trí tại Úc, người ta có thể dễ dàng có một cuộc sống rất phong lưu ở Việt Nam. Có thể thuê người giúp việc. Có thể đi đây đi đó. Có thể ăn hết món lạ này đến món lạ khác. Thế nhưng, đến ngày họ thực sự về hưu, sau vài chuyến thăm viếng Việt Nam, người ta lại đổi ý. Theo họ, Việt Nam chỉ là nơi để đi du lịch chứ không phải là nơi có thể sống được lâu dài. Người ta đưa ra hai lý do chính: Một là nhớ con cháu tại Úc; hai là, Việt Nam hoàn toàn không an toàn.

Tôi cũng có khá nhiều bạn bè ở hướng ngược lại: Họ sống tại Việt Nam, phần lớn đều khá thành đạt, có chức có quyền và có tiền. 

Họ cho con cái du học ngoại quốc. Học xong, các cháu có việc làm đàng hoàng, sau đó, bảo lãnh cho cha mẹ từ Việt Nam, sau khi về hưu, ra ngoại quốc sinh sống. Họ bỏ lại sau lưng cuộc sống rất dư dả và cũng rất vui vẻ trên quê hương để sang sống ở một quốc gia xa lạ về cả ngôn ngữ lẫn văn hoá; và vì sự xa lạ ấy, cũng khá buồn rầu. Hỏi tại sao, họ cũng nêu lên hai nguyên nhân: Một là muốn gần gũi con cháu; và hai là, ở ngoại quốc, dù buồn, vẫn an toàn hơn hẳn Việt Nam.

Bỏ qua việc sống gần con cháu, cả hai nhóm người ấy đều có nhận thức giống nhau: Việt Nam, dù là quê hương người ta rất yêu mến, không còn là một nơi an toàn để sống.

Trước hết là thiếu an toàn về chính trị. Ở bình diện cá nhân, người ta có thể bị bắt bớ hay tra tấn bất cứ lúc nào nếu muốn có một tư duy độc lập và nếu muốn thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ở bình diện quốc gia, dù nhà nước Việt Nam luôn xem sự ổn định là một trong những mục tiêu lớn nhất của họ, ai cũng biết, Việt Nam lúc nào cũng ẩn chứa đầy những nguy cơ bất ổn. Bất ổn trong nội bộ đảng với các khuynh hướng và phe phái khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là bất ổn trong quan hệ với Trung Quốc: Không ai dám chắc những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông sẽ không bùng nổ thành chiến tranh. Đã đành Việt Nam lúc nào cũng nhân nhượng Trung Quốc. Nhưng sự nhân nhượng nào cũng có giới hạn. Mà Trung Quốc thì rõ ràng không muốn dừng lại ở bất cứ giới hạn nào cho đến lúc hoàn toàn trở thành bá chủ trên Biển Đông.

Thứ hai là thiếu an toàn về giao thông. 
Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 10.000 người chết vì tai nạn xe cộ. Mười ngàn: tức mỗi ngày trung bình gần 30 nạn nhân. Đó là người chết. Con số những người bị thương tật chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Bởi vậy, ở Việt Nam, nhiều người nói, cứ mỗi lần bước ra khỏi cửa nhà là thấy phập phồng. Con đường nào cũng đầy bất trắc. Đi đúng luật và lái xe cẩn thận cũng có thể bị những chiếc xe “điên” bị mất tay lái cán chết. Ngay cả đi bộ cũng không an tâm. Mỗi lần băng qua đường là một lần đối diện với rủi ro.

Nhưng quan trọng nhất là mất an toàn thực phẩm. Báo chí đã nói rất nhiều về thực phẩm bẩn ở Việt Nam. Hầu như tất cả đều bẩn. Hầu như bất cứ loại gia súc nào cũng được cho ăn các hoá chất độc hại để tạo nạc và tăng trọng. Tệ hại hơn, người ta còn đem bán cả thịt thối rữa, sau khi tẩm ướp bằng các loại hoá chất để bay mùi và săn thịt. Ngày trước, đã có nhiều người giả thịt trâu thành thịt bò. Bây giờ, “tài” hơn, người ta còn biến cả thịt heo thành thịt bò. Thịt giả như vậy cũng được đi. Nhưng vấn đề là để làm giả như thế, người ta lại sử dụng các loại hoá chất độc hại để nhuộm màu thịt. Ăn chúng, người ta ăn cả các chất có thể gây ung thư.

Thịt đã thế, rau trái cũng thế. Cũng đầy hoá chất. Hoá chất trong phân bón và trong các loại thuốc trừ sâu. Hoá chất còn được dùng để ướp trái cây cho chúng bắt mắt hơn. Ngay cả nước dừa cũng không an toàn. Để trái dừa có màu tươi như mới, người ta lại nhúng chúng vào hoá chất. Lại hoá chất.

Trước, người ta tưởng ăn cá tôm và các loại hải sản là an toàn. Nhưng không phải. Tôm cá và hải sản nuôi trong các hồ nhân tạo cũng nhiễm đầy các chất cấm. Còn tôm cá và hải sản được đánh từ sông và biển? Từ mấy năm nay, chúng lại cũng bị nhiễm độc. Hàng trăm tấn cá bị chết, tấp trắng các bờ biển từ Hà Tĩnh vào đến Huế, kéo dài cả hơn 200 cây số. Chính quyền còn ú ớ trong việc xác định nguyên nhân cá chết nhưng có một điều chắc chắn: chúng bị nhiễm độc các loại hoá chất do con người thải ra. Thành ra tôm cá đánh bắt từ biển khơi cũng không còn an toàn nữa.

Thịt: độc. Tôm cá: độc. Rau, trái và củ: độc. Cả không khí người ta thở, đặc biệt tại hai thành phố lớn, Hà Nội và Sài Gòn, cũng nhiễm đầy chất chì và thuỷ ngân: độc. Cả nước bị nhiễm đầy chất độc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh ung thư rất cao. Càng ngày càng cao.

Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy hiểm.

Tôi cứ tự hỏi: Trong một khí quyển như thế, làm sao người Việt Nam có thể sống được và tương lai đất nước sẽ đi về đâu?

From: TU-PHUNG

CHÚA GIÊSU HIỆN RA BÊN BỜ HỒ TIBÊRIA

CHÚA GIÊSU HIỆN RA BÊN BỜ HỒ TIBÊRIA

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ,

 Nếu người ta muốn chế ra Sự Phục Sinh, thì tất cả sự nhấn mạnh sẽ phải nhắm vào tính xác thực hoàn toàn của thân xác, vào thực tế là người ta có thể nhận ra Ngài ngay lập tức và, ngoài ra, có lẽ người ta cần phải tưởng tượng ra một quyền năng riêng như một dấu chỉ đặc trưng của Đấng Phục sinh…

Đây là một tin mừng có mùi hương tươi mát của buổi sáng!  Hồ Tiberia rộng lớn, nơi nước hòa vào đường chân trời với bầu trời xanh ngắt, trở thành hình ảnh của tương lai rộng mở của Giáo hội, nơi Trời và Đất gặp nhau.  Đúng vậy, tin mừng tuyệt vời này mang lại cho chúng ta sự can đảm trong những thời điểm khó khăn này: chúng ta có thể mạo hiểm trên biển khơi trong thời gian sắp tới, bởi vì Chúa Giêsu thực sự hiện diện trên bờ biển, và vì lời của Ngài đồng hành với cuộc vượt biển của chúng ta. 

Mở đầu câu chuyện, có một sự tương phản nhất định giữa các môn đệ và Chúa Giêsu: Các môn đệ ở dưới biển, trái lại, Chúa Giêsu ở trên đất liền.  Các môn đệ lao động suốt đêm, thay vào đó Chúa Giêsu hiện ra trong ánh ban mai vui tươi.  Các môn đệ đang đói và không có gì để ăn, trái lại, Chúa Giêsu vốn no lòng lại dọn sẵn một bữa ăn cho họ. 

Điều đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu không được nhận ra ngay lập tức.  Đây cũng là trường hợp của tất cả các câu chuyện Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra.  Và bây giờ chúng ta có thể tự hỏi mình, tại sao họ không nhận ra Ngài?  Bởi vì việc kinh nghiệm Chúa Giêsu Phục sinh rõ ràng không phải là việc gặp lại một người bạn cũ không ai còn thấy! 

Đức Bênêđíctô đã viết “[có] một phép biện chứng đáng kinh ngạc giữa căn tính và sự khác biệt, giữa tính thực của thân xác và sự tự do không bị ràng buộc bởi thân xác…  Cả hai điều này đều đúng: Ngài vẫn thế – một người bằng xương bằng thịt – và Ngài là cũng là Người Mới, người đã bước vào một dạng tồn tại khác… Nếu người ta muốn chế ra Sự Phục Sinh, thì tất cả sự nhấn mạnh sẽ phải nhắm vào tính xác thực hoàn toàn của thân xác, vào thực tế là có thể nhận ra Ngài ngay lập tức và, ngoài ra, có lẽ người ta cần phải tưởng tượng ra một quyền năng riêng như một dấu chỉ đặc trưng của Đấng Phục Sinh… Nhưng không phải thế, những cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh là một điều gì đó khác với những sự kiện nội tâm hoặc những kinh nghiệm thần bí – chúng là những cuộc gặp gỡ thực sự với Đấng Đang Sống, theo một cách mới mẻ, có một cơ thể và vẫn còn vật chất.” 

Tóm lại, để nhận ra Chúa Giêsu, người ta phải mở ra cho mình một hình thức hiện diện mới, không kém phần hiện thực nhưng thuộc một trật tự khác.  Như vậy, Chúa Giêsu Phục Sinh không kém phần có thực, chỉ kém phần hiện thực bằng mắt thường mà thôi. 

Bạn đã nghe rồi, không phải các môn đệ, đang hoang mang vì mệt mỏi và vì màn đêm, là những người nhìn thấy Chúa Giêsu trên bờ.  Trái lại, sáng kiến đến từ Chúa Giêsu, Ngài gọi họ!  Ngài cho họ thấy!  Ngài tham gia cùng họ sau một đêm tối, trong nỗi vất vả của họ, trong nỗi lo lắng của họ, trong cơn đói của họ.  Tương tự như vậy đối với chúng ta ngày nay, thường là khi chúng ta phải vất vả suốt đêm, chẳng làm được gì, thì Thiên Chúa dễ nhìn thấy, và dễ nghe thấy hơn! 

Chắc chắn Chúa không tự trao ban nhiều hơn cho chúng ta trong cuộc chiến ban đêm.  Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn còn đủ mạnh mẽ để có thể tự mình giải quyết mọi chuyện  thì việc lắng nghe Chúa và nhìn nhận Ngài sẽ khó hơn.

Nghịch lý thay, việc lắng nghe tiếng gọi của Chúa Giêsu lại dễ dàng hơn khi chúng ta đã tự mình cảm nghiệm sự cằn cỗi của mình!  Đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu Phục sinh trở nên cụ thể hơn khi chúng ta không bắt được gì, khi chúng ta mệt mỏi, khi chúng ta đói.  Nói cách khác, khi bằng chứng về sự yếu đuối của chúng ta được biểu lộ, chúng ta sẽ dễ dàng cảm nghiệm được Đấng Phục Sinh hơn. 

Bây giờ một điều gì đó khác xẩy ra: Khi các môn đệ trở lại với Chúa Giêsu, lưới đầy cá, một điều kỳ lạ xảy ra: Chúa Giêsu không cần cá của họ!  Ngài đã chuẩn bị bữa ăn rồi… và hơn nữa, Ngài đang đợi họ đến ăn cùng. 

Một dấu ngoặc đơn ngắn gọn: Thánh Luca luôn nói đến ba yếu tố đặc trưng cho sự hiện diện của Đấng Phục Sinh giữa các ngài: Ngài hiện ra với họ, nói chuyện với họ và chia sẻ bữa ăn với họ.  Hiện ra – nói – có mặt tại bàn ăn là ba biểu hiện của Đấng Phục sinh, qua đó Ngài tự tỏ mình là Đấng Hằng Sống. 

Hãy nghe xem, điều đó thật đẹp tuyệt vời: Ngài là người thết tiệc… và Ngài cho họ thức ăn.  Kết  quả kỳ diệu của mẻ lưới của họ không phải là bữa tối trong ngày, mà là vì họ!  Chúa Giêsu không cần kết quả kỳ diệu đó.  Nói cách khác: Chúa Giêsu không cần 153 con cá của họ, vì chính Chúa Giêsu là của ăn!  Thứ Ngài muốn cho không phải là cá và bánh mì, thứ mà Ngài muốn là cho đi chính mình! 

Trong đức tin của chúng ta, Ngài là Bánh Sự Sống, Ngài là Đấng ban lương thực, Ngài là hạt lúa mì chết đi để sinh hoa trái dồi dào cho nhiều người. 

Tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm về điều đó: những gì là vật chất không làm được gì ngoài chuyện suy giảm đi khi nó được chia sẻ.  Ngược lại, tình yêu càng phát triển khi nó càng tự trao ban nhiều hơn.  Tình yêu lớn lên và nhân lên khi nó được cho đi.

Ngoài ra, bữa sáng này do Chúa Giêsu cung cấp, bên lề thời gian và vĩnh cửu, là một ám chỉ đến Bí tích Thánh Thể.

Chúa Giêsu là bánh, nhưng Ngài cũng là cá, một con cá đắm mình trong dòng nước của sự chết, để tìm kiếm chúng ta nơi chúng ta bị lạc… và tìm kiếm chúng ta. 

Tóm lại, Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Hãy đến và ăn!”  Vì vậy, Ngài khiến chúng ta vượt qua biên giới của thời gian và cái chết. 

**** 

Cảm tạ Chúa, vì Chúa đến tham gia cùng chúng con vào buổi sáng, khi đêm tối đã hoàn thành công việc của nó, khi chúng con mệt mỏi và nản lòng.

Lạy Chúa, sự hiện diện của Chúa giúp chúng con nhận ra những gì chúng con còn thiếu, những gì chỉ mình Chúa mới có, những gì Chúa muốn trao ban cho mọi người, một cách cá nhân.

Lạy Chúa, không có Chúa thì mọi thứ đều vô sinh, không có Chúa thì con không thể làm gì được, hoặc khi ấy thì con chỉ có thể làm chuyện không đâu.

Lạy Chúa, Chúa không muốn lấy thành quả lao động của con, con cá của con,

Chúa chỉ muốn cho đi chính mình, vì bản chất của tình yêu là cho đi một cách nhưng không, không vì lý do gì khác hơn là cho đi.

Xin Chúa giúp con nhận ra con trên bờ.

Xin Chúa giúp con nhận ra Chúa trong Bí tích Thánh Thể.

Để nếm trải Chúa trong Bánh Sự sống,

nơi Chúa thực sự trao ban chính mình!

Vì vậy, cùng với Phêrô, với tâm hồn tràn đầy niềm vui, con có thể nói trong Thánh lễ: “Đó là Chúa!”  Amen! 

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ,

theo LM Jerome Jean, cath.ch/blogsf

Em còn nhớ hay đã quên? (RFA)

Em còn nhớ hay đã quên?

Thứ Bảy, 05/07/2022 –  tuankhanh

Ảnh của tuankhanh

tuankhanh

Suốt nhiều ngày, giới bình dân lẫn trí thức đều bàn tán về chuyện các tiến sĩ hạng lông đang xuất hiện khắp nơi trên đất nước. Những tấm bằng trọng vọng, phủ lên trên những dự án hết sức ngớ ngẩn đang được tìm thấy với sự mỉa mai, rằng “đất nước ta có bao giờ được như thế này đâu”.

Theo con số ước tính, Việt Nam đang có hơn 24.000 danh vị tiến sĩ (thống kê từ năm 2016), nhưng vào năm 2020, theo báo Tuổi Trẻ, thì Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam cho biết những năm gần đây, cứ mỗi năm có hơn 1500 tiến sĩ lấy bằng. Nhưng khả năng và ứng dụng thực tế của các vị tiến sĩ đó thì chưa được công bố. Chưa kể là còn liên tiếp các vụ tố nhau đạo văn, kể cả quan chức chính phủ.

Một người bạn làm nghề kinh doanh, phải đi gặp rất nhiều khách hàng, anh kể là đến đâu nhận danh thiếp của giám đốc, trưởng phòng… đều thấy đề danh vị là tiến sĩ, thấp thì cũng là thạc sĩ. Người Việt Nam hôm nay trí thức rất toàn phần. Nói như một nhà báo về hưu non ví von “Vừa bỏ súng xuống, họ lại cầm bút. Nhưng không biết súng đã bắn vào đâu và bút đã viết những gì”.

Nạn lạm phát tiến sĩ, thạc sĩ, chức danh nổ như pháo hiện nay, phải nói đến công của thời Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân. Năm học 2007 – 2008, ông Nhân ra khẩu hiệu “năm không”, trong đó có “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích”. Nhưng chính ông ta lại mâu thuẫn với mình khi vào lúc nhận chức Phó Thủ tướng, ông phát động chiến dịch trang trí toàn cõi Việt Nam bằng các loại bằng cấp, qua đề án do chính ông ký tên ban hành là mục tiêu đào tạo 20.000 tiến sĩ giai đoạn 2010 – 2020.

Tiến sĩ cầu lông, hay các loại tiến sĩ đã và đang bị dòm ngó về nội dung luận án, có nằm trong chiếc lồng ấp 20.000 tiến sĩ của ông Nhân không? Và họ đã làm gì với mảnh bằng chói lòa số lượng ấy?

Nhưng mảnh bằng tiến sĩ trong nước giờ đã kém sang, nhiều nhân vật quan chức nay săn tìm bằng cấp nước ngoài để có vẻ “phương Tây” hơn, và cũng khó truy nguyên hơn. Việt Nam là nước mua bằng giả từ các công ty ma tại Mỹ nhiều đến mức mà năm 2019, tiến sĩ Mark A. Ashwill, Giám đốc Viện Giáo dục quốc tế Mỹ tại Việt Nam đã phải gửi đến giới báo chí, xin giúp công khai danh sách 21 trường đại học Mỹ đang có mặt tại Việt Nam nhưng không được cơ quan có thẩm quyền công nhận ngay tại Mỹ. Dĩ nhiên, vô số các tấm bằng giả đã bị phát hiện, và được xử lý nội bộ.

Một trong những vụ bị phanh phui – do đến lúc – là trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu bí thư Đà Nẵng, nhận bằng tiến sĩ của Trường Southern California University for Professional Studies (SCUPS) mà thời gian tu học đòi hỏi từ 4-7 năm, nhưng chỉ hơn 1 năm, ông Anh đã hoàn tất.

Đến lúc, tức bị đào thải ra khỏi hệ thống vì lý do gì đó, và bằng cấp chỉ là một trong những lý do để vin vào. Ví dụ cho chuyện này, nặm 2021, Đại Học Đông Đô ở Hà Nội  bị phát hiện đã cấp bằng giả cho gần 450 quan chức. Nhưng chỉ có hơn chục người bị tiết lộ danh tính, còn lại thì vẫn bí mật, vì là vấn đề an ninh quốc gia. Quan chức sống trên bằng cấp giả, lừa mị nhân dân bằng học thức giả, là một hiện thực mà cả nước Việt Nam lâu nay “ai cũng biết, mà không ai nói”.

Nói về đề án bốc lửa, tạo ra 20.000 tiến sĩ của ông Nguyễn Thiện Nhân, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc có gửi góp ý sau khi mọi thứ vỡ lỡ là thất bại thảm hại “Tiêu đồng tiền của dân thì phải thận trọng”. Còn Ông Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm kỹ thuật TPHCM thì tiết lộ rằng mọi nơi trong ngành giáo dục rùng rùng chạy theo niềm cảm hứng của ông Nhân, bất kể hiện thực. “Các cơ quan cử người đi du học (lấy bằng tiến sĩ) thì đa phần trình độ tiếng Anh rất là yếu, rồi ngay cả việc bồi dưỡng tiếng Anh đủ chuẩn để đi du học cũng yếu, cho nên rất nhiều em qua học 4 năm không thể làm gì được”, ông Dũng kể về giai đoạn sôi sục với chỉ tiêu ấp cho được 20.000 tiến sĩ của ông Nhân.

Được biết đề án đó (có tên là Đề án 911), dự trù kinh phí 14.000 tỷ đồng, không biết thất bại bao nhiêu, nhưng sau đó Kiểm toán Nhà nước kiến nghị khắp nơi phải thu hồi nộp trả lại phần có thể, cho ngân sách nhà nước hơn 50 tỷ đồng.

Điểm lại cuộc chiến tranh nhân dân mà Hà Nội đã khởi đi từ năm 1954, trong nội dung đó, trí thức và các loại bằng cấp thường không được xem trọng. Đặc biệt sau Tháng Tư 1975, cuộc cải tạo tư tưởng khổng lồ với hàng triệu người miền Nam Việt Nam, bao gồm luôn cả các thành phần trí thức đã biến giới có học trở thành hạng người bị coi là hư hỏng, nhiễm độc bởi tư tưởng sai lầm của phương Tây. Cụ thể là chuyện Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, Tổng trưởng Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông là người phát triển tri thức cho toàn bộ vùng miền Tây Việt Nam, và là người phát hiện nhà nông nghiệp học Võ Tòng Xuân về Việt Nam làm việc vào năm 1972. Ông bị đi “học tập” và chết năm 1986 vì đau yếu, thiếu thốn trong tù Ba Sao, Nam Hà.

Thật khác với những ngày khai lý lịch ở miền Nam sau 1975, người ta thì thào với nhau rằng trong mục học vấn, tốt nhất là nên để nguồn gốc bần cố công, hoặc chỉ học đến lớp 12… như vậy thì mới yên phận. Thỉnh thoảng ai đó bị phát hiện là có bậc đại học hoặc trên mức đó mà che giấu, đều bị tra vấn như tội phạm.

Nhớ ông thầy dạy Anh Văn, bị đi “học tập cải tạo” mấy năm do là viên chức hành chánh chế độ. Ông kể có lần phái đoàn quốc tế đến thăm trại, cán bộ vào căn dặn mọi người là không được nói chuyện trực tiếp, mà phải qua phiên dịch của nhà nước. Và nếu có được hỏi là có nói được ngoại ngữ không thì phải từ chối. Chẳng may, dáng vẻ trí thức lụm cụm của ông làm thành viên phái đoàn quốc tế chú ý. Họ đi đến gần và hỏi ông có nói được tiếng Anh không, ông lắc đầu và chỉ trả lời qua phiên dịch. Cuối cùng, có một thành viên Phái đoàn hỏi ông là trước năm 1975 làm nghề gì. Ông nói “làm thầy giáo”. Người phiên dịch chuyển lời ngay. Thành viên phái đoàn quốc tế lại gặng “ông dạy môn gì?”. Ông thầy trả lời giọng nhỏ “dạy Anh văn”. Người phiên dịch cũng chuyển lời ngay, nhưng nửa câu thì hắn giật mình, im lặng. Nhưng cũng đã trễ. Các thành viên Phái đoàn quốc tế lúc đó gồm những người Pháp, Thụy Điển, Đức… nhìn nhau, cười và vỗ vai ông thầy.

Sau buổi đó, ông thầy bị tịch thu hết sách vở ngoại ngữ cất ở chỗ nằm, bị phạt hết một tuần vì dám nói chuyện liên quan đến tiếng ngoại quốc và cố lý lừa cán bộ. Giờ thì ông mất rồi. Ông không còn dịp để thấy chuyện thỉnh thoảng ông Nhân hay ông Đam bập bẹ nói vài câu xã giao tiếng Anh trên đường phố với Tây du lịch, báo chí đã rần rần tung hô như là tiến sĩ.

“Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam”?!(RFA)

“Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam”?!

nguyenngocgia

Sự sụp đổ của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa – dù đã gần nửa thế kỷ trôi đi – vẫn còn nguyên đó, bởi nó là Lịch Sử.

Một ngày cuối tháng Tư năm 1975, chị tôi – một nữ y sĩ của nhà thương Tân Định – nay gọi là Bệnh Viện Quận I, đóng tại đường Hai Bà Trưng – Quận Nhứt TP.HCM – trở về nhà sớm và nói với má tôi: Ông bác sĩ trưởng vội vã ra sân bay trên chiếc xe hơi riêng, nói với những người xung quanh “có ai đi không thì lên đi với tôi luôn”. Con nghĩ, hòa bình rồi, về nhà chứ đi đâu làm gì!”. Nghe vậy, má tôi cười hiền và đôi mắt bà ánh lên vẻ hy vọng mang dáng mùa Xuân. Lâu lắm rồi, tôi mới thấy má mình cười như vậy. Tôi biết, má đang chờ anh trai cả của tôi từ Côn Đảo trở về…

Lần đầu tiên, sau những năm tù tội của ba và anh tôi, cả nhà được quây quần với một cái tết ấm cúng tuy đơn sơ – đó là cái tết năm 1976. Tuy vậy, không lâu sau, tôi biết, đó chỉ là mùa Xuân tạm bợ, bởi ngày 30 tháng Tư năm 1975 không mang lại cái kết thúc có hậu cho gia đình tôi, dám nào nói đến những thường dân Việt Nam Cộng Hòa vô tội, vốn không hề dính dáng gì, trong khi phải trả giá tàn khốc cho cuộc chiến tranh đó. Nói điều này, để tránh tranh cãi về những gì liên quan đến chánh trị – Một khái niệm mà mãi hơn 20 năm về trước, tôi mới bắt đầu có cơ hội (nhờ internet) tự đọc, tự tìm hiểu, tự dạy cho mình, những gì thuộc về Lịch Sử Việt Nam thời hiện đại.

Không phải đợi đến khi ba tôi và người anh “Việt Cộng nằm vùng” bị chính đồng chí của họ vùi dập đến tận cùng, mà bởi cái đói cùng bóng tối phủ trùm trên xứ sở Đô thành Sài Gòn, đã giúp tôi nhận ra sớm hơn nhiều người biết từ câu hát cay đắng “Bao năm giải phóng như thế này phải không anh?!” của cố nhạc sĩ Lam Phương, cho ra đời vào năm 1984 tại Paris.

Cùng với sự sụp đổ của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, công dân của xứ sở đó cũng tan đàn xẻ nghé, theo mọi nẻo đường mà họ có thể tìm ra, theo các cách khác nhau. Một trong các cách mà thế giới đã gọi tên riêng cho nó – Boat People – Thuyền Nhân.

Lịch Sử Thuyền Nhân Việt Nam kéo dài ngót nghét 2 thập niên, gần bằng thời gian của cuộc chiến tranh dưới cái tên mỹ miều “huynh đệ tương tàn”, với kết thúc vào ngày 30 tháng Tư năm 1975…

Dòng người lặng lẽ và âm thầm mà vội vã và rón rén tìm cách chạy trốn, vẫn làm dấy lên nỗi kinh hoàng, từ những câu chuyện kể lại, sau khi may mắn đến được các trại tị nạn ở: Indonesia, Philippines, Thái Lan.

Một trong những lời trao gởi cho nhau vào lúc bấy giờ mà người ta kể lại: “Một là con nuôi má. Hai là má nuôi con. Ba là con nuôi cá”. Điều này có nghĩa: Một là con sống và tới được bến bờ tự do để ráng làm lụng và gởi “Một Chút Quà Cho Quê Hương” như cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã hát thay cho hàng triệu người vong quốc. Hai là con ở tù. Ba là con bỏ xác trên biển.

Những Thuyền Nhân dạo đó, họ đào thoát đúng với ý nghĩa đi tìm Tự Do. Họ chấp nhận đánh đổi mạng sống, kể cả những tài sản của mình. Họ biết rõ lằn ranh Sống – Chết mà họ phải đương đầu, trước thực tại vô cùng khốc liệt và khắc nghiệt. Họ cũng biết rõ, dù có thành công, con đường trở về quê hương là điều quá viển vông. Bởi thời điểm đó, sự trả thù vô cớ tràn ngập, bằng những chính sách bạo tàn: đổi tiền, đánh tư sản, kinh tế mới, học tập cải tạo và nhứt là nạn đói, vốn không thể cho phép các Boat People nghĩ những điều sáng sủa hơn. Tóm lại, họ dứt áo ra đi với một tâm trạng xung đột dữ dội giữa hy vọng và tuyệt vọng đan xen lẫn nhau…

*****

Thời gian thấm thoát thoi đưa

Sóng đời biển động trời mưa không ngừng

Những ngày cuối tháng Tư năm nay, thời tiết ngay thủ phủ đã xa lắc lơ và nhạt nhòa dần trong tâm trí nhiều người – với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông- bỗng trở nên chướng lạ như báo chí đưa tin gần đây [1].

Sống gần cả đời người tại đây; chứng kiến kiếp người buồn quá nhiều vui rất ít suốt 47 năm, để càng ngạc nhiên với hiện tượng mưa đá, vốn dĩ hoàn toàn xa lạ với thời tiết “chợt nắng chợt mưa” của Sài Gòn hoa lệ ngày xưa, từng đi vào thơ ca từ lâu lắm rồi! Không biết ông Trời “muốn gì đây”?!

Với lý lịch thật ngang trái và cay đắng của mình, tôi chưa bao giờ nghĩ đến, một ngày nào đó, được đi ra nước ngoài. “Một Chút Quà Cho Quê Hương” tôi cũng chưa bao giờ được nhận để tạm qua cơn đói nghèo chốc lát, dù bà con thân thuộc và bạn bè lũ lượt … vượt biên, sau 1975…

Vậy rồi, dịp may cũng đến với tôi, sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và lập lại bang giao với nhà cầm quyền CSVN, cách đây hơn 25 năm.

Từ những chuyến ngoại du qua Hoa Kỳ, một số nước Âu châu, một vài nước Á châu, có cả Cuba, tôi càng hiểu thêm điều giản dị. Đi công tác, du lịch hay chữa bịnh, học hành hoàn toàn khác hẳn – khác quá xa, so với việc “một đi không trở lại” của những Thuyền Nhân ngày xưa…

*****

Ngày 8 tháng Sáu năm 2020, Thủ tướng vào lúc bấy giờ là ông Nguyễn Xuân Phúc – hào hứng pha lẫn hả hê, trước đại dịch gọi là Covid 19 chưa “xâm lấn” đủ dữ dội và làm tan nát xứ thiên đàng – đã phát ngôn: “nếu cột điện ở Mỹ biết đi nó sẽ về Việt Nam”. Ý tưởng nhân cách hóa cột điện – rơi đúng vào dịp tròn 45 năm ngày “toàn thắng” của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam – đã được RFA gọi tên “ảo tưởng của thủ tướng” [2].

Trả lời phỏng vấn VTC vào ngày 28 tháng Hai năm 2021, nghệ sĩ Quốc Thảo nói [3]: “Sau khi học xong 4 năm ở Mỹ, đáng lẽ tôi phải về liền. Tôi cứ tìm cách len lỏi để tìm cơ hội nhưng đành chịu thua. 10 nghệ sĩ Việt Nam ở Mỹ thì có 9 người rưỡi muốn về rồi. Ngay cả những người tuyên bố không về nhưng bây giờ đã có mặt tại quê hương. Tôi nói 10 người sẽ chính xác hơn nhưng chừa lại 0,5 cho một trường hợp nào đó”.

Mới đây, báo Thanh Niên, vào ngày 2 tháng Năm năm 2022 đã lặp lại ý kiến của nghệ sĩ Quốc Thảo nhưng… ngắt mất hai chữ “nghệ sĩ”, khi đặt câu hỏi với nghệ sĩ Bảo Quốc [4].

Thế hệ Boat People đã lùi xa hơn 40 năm. Bối cảnh xã hội và hoàn cảnh xã hội Việt Nam vào lúc bấy giờ, khác quá xa so với ngữ cảnh “Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam” như cách phóng viên Minh Hy đặt câu hỏi là một sự “láu cá”, không nên có ở những nhà báo chuyên nghiệp. Việc “ngắt mất” nghề nghiệp “nghệ sĩ” để khái quát hóa toàn bộ tâm trạng người Mỹ (Úc, Pháp, Canada v.v…) gốc Việt như vậy, không làm cho cộng đồng này khao khát trở về nguồn cội mà chỉ làm tăng thêm sự cợt nhã vang lên từ bên kia bờ tự do.

Các nghệ sĩ: Quốc Thảo, Bảo Quốc, Quang Minh, Hồng Đào, Quang Dũng,Thanh Thảo v.v… chắc chắn đến Mỹ bằng con đường rất an toàn. Họ hoàn toàn không buộc phải đương đầu với tất cả những rủi ro rình rập và chết chóc đe dọa chực chờ hiện ra ngay trước mắt của những Thuyền Nhân năm xưa.

Vì vậy, lấy tâm trạng của một số nghệ sĩ đến Mỹ bằng những bước chân thong thả đặt lên cầu thang máy bay, để áp đặt cho toàn bộ người gốc Việt là việc làm quá sức hồ đồ, lẽ ra không đáng có, trong kế hoạch thu phục nhân tâm, vốn chưa bao giờ thành công suốt 47 năm qua của nhà cầm quyền CSVN.

_________________

[1] https://nld.com.vn/thoi-su/nam-bo-lien-tuc-co-mua-nhung-ngay-toi-canh-ba…

[2] https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-people-in-the-us-have-no-intention-of-settling-down-in-vn-dt-06092020140437.html

[3] https://vtc.vn/10-nghe-si-viet-sang-my-9-nguoi-muon-ve-ar598511.html

[4] https://thanhnien.vn/nsut-bao-quoc-noi-gi-ve-quan-diem-10-nguoi-di-my-het-9-5-nguoi-muon-ve-post1453933.html

SỢI THỜI GIAN

SỢI THỜI GIAN

Mẹ của tôi vừa bước qua 90 tuổi. Nhưng nếu có ai hỏi, mẹ tôi ngờ ngợ nói rằng đã 92 tuổi! (Hình: Facebook Diep Nong)Kim Chi

Mẹ của tôi vừa bước qua 90 tuổi, nhưng nếu có ai hỏi, mẹ tôi ngờ ngợ nói rằng đã 92 tuổi!

Tôi phải nhắc nhỏ mẹ:

– Mẹ! Mẹ chỉ 90 tuổi thôi mẹ ạ!

Một chút ít ngơ ngác, rồi mẹ tôi chùng giọng:

– Vậy sao con? 90 hay 91, 92 tuổi cũng đâu khác nhau mấy! Chắc chỉ năm nay là mẹ đi gặp ba con rồi đó…

Tôi lặng im, chua xót nhìn vào đôi mắt đen láy tinh anh ngày nào của mẹ mình, giờ đã đổi qua màu xám đục. Bước chân mẹ tôi càng ngày càng khó khăn và chậm chạp hơn xưa. Tay mẹ đã không cầm khéo léo đôi đủa, cái ly nước được nữa. Mẹ lại bắt đầu nhớ-nhớ quên-quên càng lúc càng nhiều…

Là một member trong Hội Cao Niên ở thành phố Canberra (thủ đô của nước Úc) với khoảng chừng trên dưới 50 hội viên, mẹ tôi là… trưởng Ban Văn Nghệ của hội đấy chứ! Mỗi tháng, hội có một buổi họp mặt định kỳ, từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa Thứ Bảy, mà với mẹ, ngày ấy chắc phải là một ngày quan trọng lắm. Từ tháng trước đó, mẹ đã hỏi đi hỏi lại tôi cả chục lần những câu hỏi:

– Tháng tới này là sinh nhật của mẹ, con có chở mẹ đi Hội Cao Niên được không con?

– Mẹ không biết hôm ấy trời có ấm không? Mẹ định sẽ mặc chiếc áo dài màu vàng… Còn nếu trời mà lạnh, mẹ sẽ mặc bộ quần Tây màu navy con mua cho mẹ đó, được không con?!

– Không biết mẹ sẽ hát bài gì hôm ấy đây nữa! Bài Đêm Đông hay bài Cô Láng Giềng hả con? Con có đệm đàn cho mẹ hát hôm ấy được không con?

Bình thường, tôi từ Melbourne đi Canberra thăm mẹ và gia đình mỗi tháng. Những lần ngồi quây quần quanh mẹ, chúng tôi cười đùa hay nhắc lại những chuyện vui buồn thuở xưa. Mẹ tôi hớn hở vui cười suốt buổi với đám con đàn cháu đống. Nụ cười của mẹ những lúc ấy thật rạng rỡ. Rồi thỉnh thoảng, đôi mắt như đám mây xám bàng bạc của mẹ tôi chợt đăm chiêu, long lanh vài ngấn lệ khi nhắc đến ba tôi, nhắc đến cậu em út vắn số đang gửi xác đâu đó dưới lòng biển đen ác nghiệt…

Chắc chỉ năm nay là mẹ đi gặp ba con rồi đó… (Hình: Facebook Diep Nong)

Khoảng 5 giờ sáng nay, tôi đã nghe mẹ cất giọng thánh thót hát nho nhỏ những bài nhạc Pháp rất nhẹ nhàng và yêu đời từ trong phòng ngủ của mẹ. Mấy ngày trước, mẹ cũng đã chuẩn bị thật kỹ lưỡng, phone hẹn người hair dresser quen thuộc để đi cắt và uốn lại tóc! Nhà người chủ tiệm tóc này chỉ cách nhà mẹ tôi vài trăm mét thôi. Đã mấy năm nay, vợ chồng anh chủ tiệm cứ mỗi đôi ba tháng, họ lại đến tận nhà đón mẹ tôi để chở ra tiệm làm tóc. Khi xong, họ lại còn chở mẹ về tận nhà mà chỉ lấy giá làm tóc rất tượng trưng.

Sáng nay, tôi chở mẹ ra tiệm tóc sớm trước khi đi Hội Cao Niên. Là Thứ Bảy nên khách vô ra liên tục, chủ và thợ trong tiệm bận tíu tít. Tôi chợt muốn phụ vợ chồng anh chị chủ tiệm thật tốt này, bằng cách chính tay tôi cuốn tóc cho mẹ mình (dù tôi không phải là hair dresser). Anh chủ tiệm vui vẻ bảo tôi cứ tự nhiên.

Cầm cây lược chải nhè nhẹ, ít sợi tóc trắng xám quay quắt rơi rụng, cố bám lấy chiếc khăn choàng trên vai mẹ đến giờ phút cuối cùng, gắng hít sâu hương thơm của trần đời tựa khói sương…

Mẹ tôi chăm chú theo dõi trong gương không chớp mắt, mắt ngời sáng một niềm vui hạnh phúc. (Hinh: Facebook Diep Nong)

Mẹ tôi chăm chú theo dõi trong gương không chớp mắt, mắt ngời sáng một niềm vui hạnh phúc. Giọng mẹ vui vẻ nói với cô chủ đang cắt tóc cho người khách ngồi ghế kề bên:

– Đây là con gái thứ năm của bác sống ở Melbourne đó. Bác có bốn cô con gái mà cả bốn chị em của nó đều “học chung” với… bác cả! Học ở trường Gia Long đó cháu…

Tôi bật cười phì. Cả vợ chồng người chủ tiệm cũng cười ha hả nhìn mẹ tôi say mê nói chuyện “đời xưa!” Họ còn hỏi ngược lại để chọc mẹ:

– Sao các con của bác lại được… đi học “chung” với bác hay vậy? Thích quá héng bác…

Và tôi cũng hỏi mẹ mình:

– Con “học chung” với mẹ lớp mấy vậy mẹ? Hihihi…

Mẹ tôi trợn mắt “rầy” tôi ngay:

– Cái con nhỏ này! Sao con mau quên quá! Con còn trẻ mà đã quên dữ lắm rồi à nghen!… Con học chung với mẹ mấy năm lận mà…

Mẹ tôi chớp chớp mắt suy nghĩ vài giây để “nhớ” lại chuyện “đời xưa” ấy, chậm rãi giải thích:

– Hồi đó mẹ thi vào Gia Long đậu hạng thứ 89 trong danh sách 300 học sinh (chuyện này thì mẹ tôi nhớ đúng thật!). Mà con thì học rất giỏi, con đậu thủ khoa đó à nghen! Ai biểu con đi biểu tình với trò Ơn làm chi, cho nên con bị… đuổi học, con phải học trường tư mấy năm cuối đó, con nhớ hôn?

Tôi rất ham chơi hồi nhỏ, nhưng trời Phật phù hộ tôi thế nào mà khi thi vào đệ thất, tôi làm bài vở trót lọt thật dễ dàng, rồi đậu thủ khoa một trong hai trường công lập nổi tiếng của tỉnh Bình Dương (còn được thưởng ba nghìn đồng nữa chứ!).

Gia đình tôi có bốn chị em gái, mà bà ngoại tôi cũng sanh bốn cô con gái. Mẹ và các dì đều học ở trường Gia Long từ thời áo bà ba màu tím. Trên mẹ là dì Ba, dì Tư, dưới là dì Bảy, đều học rất giỏi, và dì Bảy là người đã đậu thủ khoa khi thi vào lớp đệ thất Gia Long. Song, tuy dì Bảy nhỏ tuổi nhất nhà, mà chí lớn, rất hoạt động! Dì Bảy tôi suốt ngày trốn học để đi biểu tình chống Pháp thật hăng say, nên bị đuổi khỏi Gia long. Thời điểm ấy, tôi chưa sanh ra đời, làm sao mà đi học “chung” với mẹ mình được?! Mẹ tôi đã nhầm lẫn tôi với dì Bảy đấy thôi!

Con đã thấy ra, nỗi nhớ nhớ quên quên kia đã chứng minh cái tuổi đời của mẹ, (Hình: Facebook Diep Nong)

Những dây tóc thưa và mỏng, ngoan ngoãn nằm trong tay của tôi, dịu dàng chìu chuộng tôi. Rồi chúng oằn oại cong theo ống cuốn tóc, trân người chịu đựng cơn gió nóng rát như sa mạc từ cái máy sấy tóc hành hạ…

Mẹ tôi vẫn huyên thuyên kể chuyện đảo chánh, kể chuyện “trò Ơn” mà cả bốn chị em tôi “cùng học chung” lúc ấy với mẹ.

Những câu chuyện rất “lạ” của mẹ làm mọi người thật vui, cười ngặt nghẽo. Tôi cũng phì cười và gắng “thuyết minh” cho mọi người hiểu những thước phim xưa trong trí nhớ của một bà cụ đã trên đường đến tuổi hạc. Rồi bỗng tôi chợt buốt cả lòng, như có mũi kim ai đó đã đâm sâu vào người tôi…

Ôi! Mẹ ơi… Con đã thấy ra, nỗi nhớ nhớ quên quên kia đã chứng minh cái tuổi đời của mẹ, như những sợi tóc trắng xám này, như những chiếc lá vàng hiu hắt trơ mình phơi màu thời gian, cô quạnh, đang đong đưa trước gió… 

Tản Mạn Về Phi Nhung!

Tản Mạn Về Phi Nhung!

Như hàng triệu hàng triệu người Việt khắp nơi nơi đang đổ nhiều giọt nước mắt tiếc thương cho siêu sao Phi Nhung vừa chợt tắt trên nền trời ca nhạc, kịch nghệ, cải lương và từ thiện. Tiện hạ là một trong đó bao gồm cả những người trước kia ít quan tâm đến Phi Nhung, nhưng nay đã thực tình yêu mến cô, khi nhìn lại chặng đường khổ ải mà cô đã đi qua khi đạt tới đỉnh cao danh vọng, không giữ lại cho riêng mình, mà là một con người sống giữa đời thường, lại có được cốt cách của một “thánh nhân” vì đã có được bản lãnh phi thường “tình riêng bỏ chợ mà tình người đa đoan”.

Cảm ơn Trời, đội ơn đời đã thắp sáng cho nhân gian một tấm gương thật đẹp, đẹp lung linh hấp dẫn mọi người, xuyên qua những chặng đường cô đã đi qua. Phi Nhung đã sống chết với ba nguyện ước từ thuở mồ côi 5,7 tuổi khi sống với ông bà ngoại. Tự ti mặc cảm vì mình là con lai nên bị những người chung quanh coi thường, bạc đãi, cô đã sống khép kín trong thế giới riêng. Có những lúc cô bị dồn nén, uất ức quá, theo lời cô kể lại trong show “Weekly Style”do Thái Nguyên của đài VFTV phỏng vấn, cô thường chạy đến thùng phi hứng nước mưa trước nhà ông bà ngoại, dùng hết sức la lớn lên:

“Muốn thành một thợ may,

Muốn thành một ca sĩ nổi tiếng,

Muốn thành một ni cô thông minh.”

Ba điều ước muốn thuở thiếu thời đầy nước mắt đó, cô đã từng bước từng bước thực hiện cho bằng được, bất kể những gian khổ đắng cay nghiệt ngã đã dành cho cô, và cô đạt được địa vị cao quí nhất giữa lòng dân tộc. Người Việt yêu mến cô, một tư chất quả cảm và bản lãnh, nhưng lại khiêm tốn và đơn sơ lạ lùng khi nói về chính mình, lại rất say mê khi đề cập đến 23 người con nuôi. Cô không phải là Thượng tọa hay Ni cô, lại càng không phải là Linh mục hay Nữ tu, vậy mà cô đã xả thân quên mình, lo cho đám cô nhi cùng khổ, không màng đến tình riêng của chính mình, một nhu cầu thâm thiết tự bản năng, nhưng cô đã làm được như câu nói của Thánh Phan Sinh:

“Tìm yêu mến người, hơn được người mến yêu.

Tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết!”

Nhìn hình ảnh của cô, nhìn hình của Nữ tu Thiên sa Hài đồng Giê su (Therese of the Child Jesus}, tiện hạ thấy dường như có một số điểm hao hao tương đồng trong khuôn mặt, với hành trình tâm linh của hai người. Hai khuôn mặt tương tự đã đành, nhưng về sự yêu mến Phật, yêu mến Chúa, lại rất gần gũi với nhau. Con đường đi vào lòng người, vào lòng khán thính giả của Phi Nhung là một con đường đơn sơ đầy xả kỉ hi sinh. Dù chỉ là một người thường, nhưng đã có được bản lãnh của một “Ni cô thông minh” xin lập lại “thông minh”. Nếu cô là một Ni cô thực thụ, qui y thí phát ở trong chùa, chắc gì cô có thể thực hiện mộng ước “Ni cô thông minh” của mình? Giáo hội nào, hay chùa nào, qui luật nào có thể giúp cho cô thực hiện tư chất thông mình của mình? Tương tự như thế, Giáo hội Công giáo hay Dòng kín Cát Minh cũng không cho phép Thiên Sa thực hiện tư chất thông minh của mình? Cũng nhờ đó bí kíp “Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng” được hình thành. Hành trình tâm linh này, mặc dù Thiên Sa tối ngày sáng đêm chỉ ở trong khuôn viên tu viện kín, Thiên Sa đã khám phá ra một con đường nên thánh tòng nhân, tự mình do mình, mà không cần phải đi tu, không cần phải trở thành Linh mục hay Nữ tu, mà chỉ cần đến ngọn lửa yêu mến nồng cháy trong tim, thì cũng đủ nên thánh trong bất cứ cảnh ngộ hay vai trò nào mà Thượng Đế trao phó theo ơn gọi từ trời cao!

Giã biệt Phi Nhung, một trái tim Bồ Tát thật dễ thương, đã lưu lại dấu ấn của một con người “giác ngộ”:

“Trần gian cõi tạm rong chơi,

Tìm về bến giác cõi trời vô ưu!”

Tuệ Ngữ NĐK

Richmond TX

Oct 8, 2021

Peter Nguyễn gởi

TÌNH MẪU TỬ

TÌNH MẪU TỬ

(Nhân ngày HIỀN MẪU xin gởi truyện ngắn này đọc xem có khóc không?)

– Anh về ngay đi, em hết chịu nổi rồi, mẹ anh phiền thật.

– Uhm, mẹ anh phiền thật, bây giờ anh đang có cuộc họp quan trọng, tối về anh sẽ giải quyết nha em.

Tiếng đầu dây bên kia dập máy nghe có vẻ rất tức tối, anh buông thõng người ra sau ghế, ở bên kia cô nhìn ra phía cửa như đang cố nuốt trôi một cái gì đó vào mình.

– Anh nhìn đi, đó, đây này, hôm nay em sắp, ngày mai em xếp, cứ một người dọn, một người lại bày ra như vậy, ai mà chịu nổi. Em sắp điên rồi đây. Cô vò đầu trong 1 trạng thái vô cùng tức giận, anh lại gần cô, lấy tay xoa xoa hai bờ vai gầy gầy, cô hất chúng ra.

– Em vào đây – Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay cô kéo vào phòng, khép hờ cửa, anh lấy xuống một chiếc hộp được đặt trên nóc tủ, lấy tay phủi nhẹ, anh nhìn cô mỉm cười.

– Mẹ phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé, còn bây giờ để anh cho em biết mẹ chúng ta phiền đến mức nào.

Anh mở chiếc hộp ra, bên trong là một xấp hình, anh lấy ra một tấm đã cũ, nhưng chẳng hề dính tí bụi nào, cô tò mò nhìn vào tấm ảnh.

– Em thấy không, đây là tấm hình mà Dì anh đã chụp lúc anh sinh ra, Dì kể vì mẹ yếu nên sinh lâu lắm, mà sinh lâu chắc là đau lâu em nhỉ, mà mẹ phiền thật, cứ la hét ầm ĩ cả lên, ai mà chẳng sinh. Dì còn nói, mẹ yếu lắm, nếu cứ cố sinh thì sẽ nguy hiểm cho người mẹ, bác sĩ đã nói như vậy rồi vậy mà mẹ vẫn cố cãi: “Không, con tôi phải ra đời, tôi phải sinh,” mẹ anh phiền thật đó.

Cô nhìn tấm hình, bàn tay cô nhẹ bổng, rồi cô nhìn anh, trong mắt anh chứa một điều gì đó rất lạ. Anh cẩn thận bỏ tấm hình đó qua một bên, lấy một tấm khác cho cô xem.

– Em nhìn nè, đây là bức ảnh chụp lần đầu tiên anh bú mẹ, anh chẳng thấy ai phiền như mẹ cả. Bà nội, bà ngoại nói cả rồi, mẹ yếu, không đủ sữa để cho anh, uống sữa bình đi, ở đó mà dưỡng sức, nhưng một hai cứ khư khư giữ anh vào lòng “Không, con con nhẹ cân, phải bú sữa mẹ mới tốt.” Ai nói gì cũng cãi em nhỉ, nếu không anh được uống sữa bình rồi, sữa bình phải ngon hơn chứ, mẹ anh phiền thật.

Bàn tay cô run run, cô thấy ánh mắt của người mẹ trong bức ảnh ánh lên vẻ rất hạnh phúc, hai bàn tay cô ta cứ giữ chặt đứa bé. Cô nhìn anh không nói gì cả.

– Còn nữa đây này – Anh lại lôi ra một tấm khác nhìn vào đó.

– Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, con nít hơn một năm ai chẳng chập chững biết đi, mẹ cứ làm như chỉ có con mẹ mới làm được điều đó không bằng. Ba kể mẹ cứ gặp ai là cũng hí hởn khoe “Thằng cu Tin nhà tôi đi được rồi, nó biết đi rồi đó.” Bộ mẹ không thấy phiền hay sao em nhỉ? – Bờ môi cô như muốn nói một cái gì đó nhưng cổ họng thì ứ nghẹn lại, bức ảnh đứa trẻ con chập chững đi về phía mẹ trong tấm hình, cô nhìn mãi. Ba còn kể, từ ngày anh bắt đầu bi bô tập nói rồi gọi được tiếng mẹ là nguyên những ngày sau là một chuỗi điệp khúc” Cu Tin gọi mẹ đi, gọi mẹ đi cu Tin,” mẹ phiền quá đi mẹ à, anh mỉm cười xoa nhẹ vào bức ảnh, mắt anh đang long lanh thì phải.

– Đây nữa, đây nữa này – Anh lôi ra nguyên một xấp, nhiều lắm, rất nhiều ảnh – Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, chụp làm gì mà lắm ảnh vậy không biết, lần đầu tiên anh vào mẫu giáo, có phiếu bé ngoan, rồi tiểu học, trung học, nhận bằng khen, em coi đi, đủ trò trên đời, coi hình của anh có mà đến tết mới xong, anh phì cười, “mẹ anh phiền nhỉ?”

Cô nhìn anh, anh không cười nữa, anh cầm một tấm hình lên nhìn vào đó rất lâu, cô thấy nó, một tấm hình rất đẹp, anh rất đẹp trong bộ áo tốt nghiệp cử nhân, anh lúc đó trông điển trai quá, cao ráo, nhưng…

– Em có thấy không? Tóc mẹ anh đó, rối em nhỉ? Còn áo quần nữa này, cũ mèm…- Cô nghe thấy giọng anh trở nên khác đi, không đều đều như lúc ban đầu nữa, đứt quãng. Cô nắm lấy tay anh.

– Năm 15 tuổi, ba bỏ mẹ con anh lại, rồi lúc đó, mọi thứ trong nhà trở nên không có điểm tựa, anh đi học, mẹ bắt anh phải học… Em không biết đâu, anh xin nghỉ nhưng mẹ không cho, phiền như vậy chứ. Mẹ cứ sáng sớm đi phụ quán cơm cho người ta, trưa ăn một chén cơm thừa trong quán để dư tiền cho anh học thêm ngoại ngữ, rồi chiều đến chạy đi giặt đồ cho những bà mẹ không phiền khác, để họ đi mua sắm, cà phê, giải trí…- Giọng anh lạc hẳn – Còn nữa em ạ, tối đến mẹ lại tiếp tục đi làm lao công đường phố, sáng sớm mới về chợp mắt được một tí thôi, vậy đó… Em thấy mẹ anh khỏe không?

“Tách”, một giọt nước rơi xuống trên tấm hình, mắt cô cũng nhòe đi, khác thật, một bà mẹ trẻ với gương mặt xinh đẹp lúc đứa con mới bi bô tập nói, và cũng với gương mặt phúc hậu đó nhưng giờ làn da đã nhăn đi, khuôn mặt gầy hẳn khi đứng cạnh cậu con trai lúc chuẩn bị ra trường.

– Anh à – Bàn tay cô nắm lấy bàn tay run run của anh.

– Em có thấy tay mẹ rất yếu không, anh chẳng bao giờ kể em nghe nhỉ. Khi năm tuổi, anh đùa nghịch chạy nhảy lung tung, lúc đuổi bắt cùng cô nhóc hàng xóm anh đã trượt chân ngã từ cầu thang xuống. Lúc đó, anh chẳng thấy đau một chút nào cả, chỉ nghe một tiếng kêu rất thân quen, em có đoán được không, anh đang nằm trên một thân thể rất quen…mẹ anh đó. – Cô sững người lại, nước mắt cô trào ra, rơi xuống ướt đẫm tay anh.

– Em à, mẹ anh phiền vậy đó, phiền từ khi anh chuẩn bị lọt lòng cho đến khi anh gần đón đứa con đầu tiên của mình, chưa hết đâu, mẹ sẽ còn phiền cả đời em ạ, bây giờ lớn rồi mẹ vẫn cứ lẽo đẽo theo anh dặn đủ thứ em không thấy sao, cơm phải ăn ba chén, đi xe phải chậm thôi, đừng có mà thức khuya quá. Mẹ anh phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé.

“Anh”, cô ôm chặt lấy anh, cô òa khóc nức nở, “em xin lỗi”, anh ôm lấy cô vỗ về, vỗ về như ngày xưa anh vẫn thường được làm như vậy.

“Choang” – Anh và cô chạy nhanh xuống bếp.

– Mẹ xin lỗi, mẹ nghe con thèm chè hạt sen nên mẹ đi nấu, nhưng… Giọng mẹ run run không dám nhìn về phía trước, cúi người nhặt những mảnh vỡ vừa rơi.

– Mẹ à – Cô chạy đến nắm lấy bàn tay xương xương của mẹ – Từ nay mẹ đừng phiền nữa nhé, để con phiền mẹ cho – Cô ôm chặt mẹ, nước mắt thấm đẫm vai áo mẹ, mẹ nhìn anh, anh nhìn cô trong lòng của mẹ.

“Mẹ đã không sinh lầm con và con cũng đã không chọn nhầm dâu cho mẹ, phải không ạ?”

Lung Việt (T.H)

Nga – Từ kẻ săn mồi sắp trở thành con mồi

Nga – Từ kẻ săn mồi sắp trở thành con mồi

Đỗ Ngà

3-5-2022

Dù là mãnh hổ hay mãnh sư mà nếu bị cắt đứt nguồn thức ăn, nó cũng sẽ là miếng mồi ngon cho kền kền hoặc thậm chí là mồi cho những con vật nhỏ nhất như ruồi hoặc giòi bọ. Đó là quy luật, quy luật này được con người áp dụng vào những cuộc chiến để thay đổi cục diện. Chính nhờ nó mà nhiều kẻ yếu đã quật ngã những tên khổng lồ hơn mình gấp nhiều lần.

Năm 220, tại trận chiến Quang Độ, Tào Tháo dùng 7 vạn quân đánh bại Viên Thiệu 70 vạn quân trong tay. Đây là cuộc chiến không cân sức nhưng kẻ thắng lại là kẻ yếu hơn. Nguyên nhân là do Tào Tháo phá được kho lương của địch. Chỉ đơn giản vậy thôi.

Dù thời nào, thì kế hoạch cắt nguồn lương thực của địch luôn là kết hoạch hiệu quả để triệt hạ sức mạnh kẻ thù. Việc quân đội Ucraina đánh vào các căn cứ hậu cần của quân Nga tại nước Nga cũng là chiến thuật đấy. Và hiệu quả trông thấy, quân Ucraina ngày càng chủ động hơn trong cuộc chiến không cân sức.

Ở tầm cao hơn, nước Mỹ cũng đang dùng cấm vận để “bóp bao tử” người Nga. Khi kinh tế Nga kiệt quệ thì nguồn tiền nuôi sống chính quyền Nga và nuôi sống quân đội Nga cũng bị bóp lại. Đây là cách gián tiếp làm suy yếu nội lực của quân đội Nga. Quân đội đã rệu rã, vũ khí đã lạc hậu, cần rất nhiều tiền để hiện đại hóa, tuy nhiên với việc bị “đói triền miên” thì quân đội Nga khó có cơ hội hiện đại hóa để theo kịp các cường quốc khác được. Trên cuộc đua này, Nga sẽ bị bỏ lại phía sau.

Hiện giờ Nga đang dùng lợi thế dầu mỏ để làm cho Phương Tây và Mỹ chưa thể cấm vận hoàn toàn nền kinh tế Nga vì nhiều quốc gia đang phụ thuộc vào nguồn khí đốt nước này. Nếu ngưng mua khí đốt của Nga, nền kinh tế Đức đang bị mắc kẹt. EU đang tiến tới cấm vận hoàn toàn đối với nước Nga theo lộ trình. Các quốc gia nhỏ trong EU tiêu thụ năng lượng ít nên việc chuyển đổi nguồn cung không khó khăn gì. Vấn đề lớn nhất là nước Đức – nền kinh tế lớn nhất Châu Âu, muốn cắt đứt nguồn cung khí đốt từ Nga, nước Đức phải có lộ trình.

Hiện nay, Đức đang rất nỗ lực để thực hiện điều đó. Vào ngày 24/2, ngày mà Nga xâm lược Ucraina, trên 50% lượng khí đốt nhập khẩu của Đức là từ Nga. Tuy nhiên, đến nay Đức chỉ còn nhập của Nga khoảng 35% và đang điều chỉnh giảm dần. Bù vào phần khí đốt đó, Na Uy và Hà Lan sẽ thay thế. Với nguồn dầu mỏ, thì ngày 24/2, Đức nhập từ Nga 12% nhưng nay giảm xuống chỉ còn 8%. Đến cuối tháng 5, Đức sẽ ngưng nhập hoàn toàn nguồn dầu mỏ từ Nga.

Khi EU giải quyết xong tài toán năng lượng thì lúc đó nước Nga sẽ bị cấm vận hoàn toàn. Khi đó, nền kinh tế Nga sẽ kiệt quệ chứ không được thong thả như bây giờ. Sợi dây thòng lọng kinh tế đang siết, và sức mạnh “cơ bắp” của Nga đang giảm đi một cách rõ rệt. Chỉ mới hơn 2 tháng mà từ vị trí kẻ săn mồi, nước Nga của Putin đang trở thành con mồi trong chiến lược của nước Mỹ và Phương Tây.

Ngay từ đầu, khi Nga hung hăng tấn công Ucraina, NATO phản ứng rất thận trọng, thậm chí có phần thờ ơ. Tuy nhiên, sau hơn 2 tháng, khi mà sức mạnh Nga thực sự được định vị là “con hổ giấy”, đồng thời quân Nga bị tiêu hao sinh lực khá nhiều thì NATO tiến thêm bước nữa là áp sát biên giới Nga bằng cách tập trận chung với Ba lan, Phần Lan, Estonia, Litva. NATO đang sẵn sàng chia lửa với Ucraina.

Ở mũi tấn công chính, Mỹ thông qua luật Lend and Lease (mượn và cho thuê) vũ khí. Song hành với đó, Mỹ bung gói viện trợ 33 tỷ đô. Mục đích là chuẩn bị cho quân Ukraine mở đòn phản công lại lực lượng Nga. Bên mạn đông, Nga bị NATO áp sát, với động thái này của NATO thì Nga không thể không điều quân đồn trú nơi đó để phòng ngừa.

Đấy là cách NATO phân tán sức mạnh quân đội Nga. Ở mặt trận chính, Ucraina đang được chiến đấu bằng vũ khí của Mỹ rất hiện đại và rất dồi dào. Chính vì thế, cố vấn của Tổng thống Ukraine – Volodymyr Zelensky đã không ngần ngại công bố ra toàn thế giới rằng “từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 6 Ucraina sẽ chuyển từ phòng thủ sang phản công”.

Thời gian tới, quân Nga khó tránh khỏi thân phận con mồi trước quân đội Ucraina. Trên bình diện quốc tế, nước Nga của Putin từ chỗ muốn nuốt chửng những quốc gia hướng đông của NATO và EU để hòng giành lấy vị thế cân bằng trước Mỹ thì nay đang trở thành con mồi của họ. Rồi sau chiến tranh, đẳng cấp của quân đội Nga bị giáng, cùng với đó, sức mạnh nền kinh tế Nga cũng bị hạ bệ nốt. Một cường quốc hung hăng như nước Nga cần phải hạ bệ nó thì thế giới tiến bộ được bình yên.

Putin là một kẻ vừa không biết người mà lại không biết ta, thì sẽ trăm trận trăm bại. Ảo tưởng sức mạnh cường quốc số 2 thế giới, Putin vác súng đi săn mồi nhưng cuối cùng ông ta trở thành con mồi cho kẻ khác. Chính Putin đã trao cho Mỹ cơ hội hạ bệ nốt vai trò cường quốc quân sự mà Nga đã thừa hưởng sau khi Liên Xô sụp đổ.

Năm 1991, Mỹ đánh sập chủ nghĩa CS ở Nga, đến hơn 30 năm sau, Mỹ hạ bệ vai trò cường quốc của nước Nga. Đây là thông điệp hay nhất mà Mỹ muốn gởi tới anh cường quốc mới nổi Trung Quốc. Như lời của bà Ngoại trưởng Anh Liz Truss gởi thông điệp đến Trung Quốc hôm ngày 27/4 rằng: “muốn trỗi dậy thì phải biết chơi theo luật”.

Vâng! Đấy cũng là thông điệp của Mỹ, và Mỹ làm thật chứ không phải chỉ nói bằng mồm. Trung Quốc nhìn “vật thí nghiệm Nga” mà biết tự lượng sức mình.

Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Asia Sentinel

Tác giả: David Brown

Song Phan, dịch

5-5-2022

Thủ tướng Phạm Minh Chính đang phát biểu tại một hội nghị năm 2021. Nguồn: VGP

Thách thức đối ngoại lớn nhất của Phạm Minh Chính tại thủ đô Hoa Kỳ

Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn quan chức cấp cao tới Washington trong tuần tới. Trước khi họ tham gia “Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt châu Á” ngày 12 và 13 tháng 5 của Tổng thống Joe Biden, hậu quả trực tiếp của việc Nga xâm lược Ukraine rất có thể sẽ chi phối các cuộc tham vấn song phương với những người đồng cấp Mỹ.

Cuộc chiến của Putin đã làm lung lay giả định cơ bản về vị thế quốc phòng của Việt Nam: Việc Nga sẽ tiếp tục là nhà cung cấp đáng tin cậy cho hệ thống vũ khí mà nước này cần để ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc. Nó (cuộc chiến của Putin) đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho mối quan hệ đôi bên cùng có lợi, cho cả Nga và Việt Nam.

Đó là một ràng buộc có từ thời Liên Xô, viện trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam khi họ chiến đấu để bảo đảm nền độc lập của Việt Nam và sau đó là thống nhất đất nước dưới sự thống trị của Hà Nội. Ở Việt Nam, Nga vẫn được tôn vinh là nước chủ trì viện trợ kinh tế hào phóng trong thập niên sau chiến tranh khi Việt Nam kết thúc, vật lộn trong việc xây dựng nền kinh tế chỉ huy kiểu Liên Xô. Vài thập niên sau, giờ đây đã thành công trong việc đổi tên nền kinh tế Việt Nam thành kinh tế “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng cảnh giác với tham vọng của Trung Quốc, lãnh đạo đất nước đã chọn dựa vào Moscow để có các hệ thống vũ khí công nghệ cao tương đối rẻ tiền, bao gồm tàu chiến, máy bay chiến đấu – ném bom, tàu ngầm tấn công, và hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển.

“Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình là ác mộng đối với Việt Nam, một mối đe dọa mà Hà Nội đã tìm cách chống đỡ qua việc xây dựng khả năng răn đe, tỏ lòng tôn kính và nhấn mạnh lợi ích kinh tế chung. Đó vừa là một chiến lược xưa cũ, từng cho thấy có hiệu quả khi Trung Quốc hành động phô trương, vừa là một loạt chính sách cho phép Việt Nam hiện đại duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng có chừng mực với nước láng giềng khổng lồ.

Tuy nhiên, giờ đây, Hà Nội không thể yên tâm về việc có trong tay một bộ hệ thống vũ khí được chế tạo ở Nga. Trong tương lai gần, Việt Nam khó có thể mua vũ khí của Moscow mà không kích động cái gọi là ‘lệnh trừng phạt thứ cấp’. Hà Nội có vẻ hiểu ra điều đó. Ông Chính đã đồng ý với ông Fumio Kishida, thủ tướng mới của Nhật hôm 30 tháng 4 rằng, “ở bất kỳ khu vực nào, việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực là khó có thể chấp nhận được“.

Chính và các đồng sự phải nói năng cẩn thận ở Washington. Ở đó, sự chú ý vẫn được tập trung vào cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Nhiều người vốn đang chỉ đạo cuộc đối đầu [cuộc chiến] ủy nhiệm với Nga, lại thiếu sự hiểu biết tinh tế về lợi ích của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong việc ủng hộ Ukraine, Việt Nam (dù có những lý do chính đáng) đã lỗi nhịp so với các nước bạn bè còn lại của Mỹ, và điều đó không xứng hợp với nhóm coi châu Âu là trung tâm trong việc thiết lập chính sách đối ngoại của Mỹ.

Việc thủ tướng Việt Nam có mặt tại Washington có thể làm dấy lên bình luận tiêu cực. Những người đối thoại gay gắt có thể hỏi, tại sao Mỹ không trừng phạt vụ Hà Nội mua các hệ thống vũ khí của Nga và chỉ trích việc Hà Nội không tham gia bỏ phiếu lên án cuộc chiến của Putin ở Liên Hiệp quốc.

Ông Chính được cho là có triển vọng sẽ kế vị người bảo trợ của mình, ông Nguyễn Phú Trọng, khi nào người đứng đầu đảng Cộng sản, hiện 78 tuổi, quyết định nghỉ hưu hoặc không thể tiếp tục công việc vì một cơn đột quỵ nữa. Các cuộc gặp ở Washington là sự kiểm nghiệm đối ngoại lớn nhất của Chính cho đến nay; đồng liêu lẫn đối thủ của ông sẽ chăm chú theo dõi.

‘Cẩn thận trong phát biểu” không có nghĩa là không nói gì. Sẽ là khôn ngoan nếu Chính thể hiện sự đồng cảm thật sự với Ukraine và tỏ sự thất vọng với Nga, một người bạn đáng tin cậy lâu năm của chế độ Hà Nội, đã “đi chệch hướng”. Ông nên khẳng định một cách thẳng thắn và dứt khoát rằng, Việt Nam đã dựa vào các hệ thống vũ khí mua của Moscow để bảo vệ lợi ích của mình trước những phần tử hiếu chiến ở Bắc Kinh. Ông có thể nói, đó là vấn đề mà ông hy vọng Mỹ có thể giúp giải quyết.

Chính quyền Biden tự hào về “chủ nghĩa hiện thực thực dụng”, nhưng những người đối thoại Mỹ dường như bị ám ảnh bởi lập trường giả vờ không chọn phe lâu nay của Việt Nam. Với quan hệ hợp tác song phương ngày càng sâu rộng và ngày càng lớn mạnh, nhằm mục đích làm giảm bớt tham vọng của Bắc Kinh ở biển Đông, Mỹ đã thúc ép Hà Nội nâng cấp mối quan hệ được mô tả là song phương. Họ nói, quan hệ đó phải là ‘chiến lược’, chứ không chỉ là ‘toàn diện’.

Giả định rằng, Bộ Chính trị Việt Nam đã “xử lý” (suy nghĩ kỹ về) các tác động đối với Việt Nam từ cuộc chiến của Putin ở Ukraine, thì một tuyên bố chung rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ từ nay trở thành ‘đối tác chiến lược’ sẽ có thể là một điều dễ dàng đối với Hà Nội.

Có nhiều khả năng là Tổng thống Biden và những người khác đối thoại với phái đoàn ông Chính sẽ thúc giục Việt Nam ngừng mua sắm vũ khí do Nga cung cấp và bảo dưỡng. Đáp lại, ông Chính có thể chỉ ra điều hiển nhiên: Nếu Washington muốn Hà Nội loại bỏ vũ khí của Nga, thì cũng nên giúp Việt Nam tìm cách khác để có đủ khả năng (như Ukraine), gia tăng khả năng phòng thủ lãnh thổ và chủ quyền.

Ấn Độ cũng phụ thuộc đáng kể vào các hệ thống vũ khí mua của Nga. Có lẽ Mỹ có thể thúc đẩy hợp tác ba bên để đáp ứng nhu cầu bảo trì và giúp cả Việt Nam lẫn Ấn Độ vượt qua các thách thức mua sắm quốc phòng trong tương lai.

Nếu Washington và Hà Nội đồng ý gọi quan hệ hai bên là chiến lược cũng như toàn diện, thì cả hai đều có trách nhiệm phải hành động phù hợp trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam vẫn là một trong số 11 nước bị Mỹ coi là ”nền kinh tế phi thị trường”. Nhãn hiệu đó đúng 25 năm trước nhưng bây giờ quả là vô lý; Việt Nam nên được loại khỏi danh sách.

Về phía Việt Nam, có một khiếu nại thương mại cần phải điều tra khẩn cấp, về các tấm pin năng lượng mặt trời được cho là sản xuất ở Trung Quốc và sau đó, sau gia công chút ít bề ngoài ở Việt Nam hoặc ở nước nào khác của Đông Nam Á, được xuất khẩu sang Mỹ. Nếu đúng – và có vẻ đúng phần nào – các nước đã cho phép sự thông đồng này, có nguy cơ bị trừng phạt nặng nề. Ở đây, ông Chính một lần nữa nên sẵn sàng với các dữ kiện. Nếu quả thật các nhà xuất khẩu của Việt Nam nằm trong số đang giúp cho sự gian lận các linh kiện tấm pin mặt trời do Trung Quốc sản xuất, thì Việt Nam nên nhanh chóng đóng cửa các nhà xuất khẩu này.

_______

Tác giả: David Brown là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, một cộng tác viên lâu năm của Asia Sentinel. Ông Brown có nhiều bài viết về các vấn đề chính sách công ở Việt Nam. Bản dịch này đã được ông Brown chỉnh sửa, dành cho độc giả người Việt, có thể có vài chi tiết khác với bản tiếng Anh.