VÀI NÉT TIỂU SỬ CỦA THÁNH GIOAN BOSCO

Carlo Ambrosio, SDB

Gioan Bosco sinh ngày 16 tháng 8 năm 1815, tại xóm Becchi, làng Castelnuovo d’Asti (nay là Castelnuovo Don Bosco), tỉnh Tôrinô; thuộc gia đình nghèo và mồ côi cha khi mới lên hai.  Mẹ Gioan là Bà Magarita.  Bà đã sớm dạy con biết lao động ngoài đồng áng và nhất là biết nhìn thấy Thiên Chúa qua những hiện tượng thiên nhiên.

Khi lên 9 tuổi, Gioan Bosco đã có một giấc mơ đầy tính tiên tri: nhờ sự hướng dẫn và trợ giúp của Mẹ Maria, ngài sẽ giáo dục thanh thiếu niên hư hỏng thành người tốt, có ích cho xã hội và Giáo hội.  Mẹ Magarita đã phải rất khổ cực và vất vả để Gioan Bosco có thể đi học và theo đuổi ơn gọi linh mục.

Gioan Bosco chịu chức linh mục ngày 5 tháng 6 năm 1841.  Cha linh hướng của ngài là cha Giuse Cafasso đã căn dặn: “Cha hãy rảo khắp thành phố và để ý nhìn chung quanh.”  Nhờ đó vị linh mục trẻ đã nhận ra sự cùng khổ của người nghèo, nhất là của thanh thiếu niên.

Hình ảnh về nhà tù đã gây cho Don Bosco một ấn tượng sâu xa và khiến ngài phải suy nghĩ.  Bởi thế, sau khi đi thăm nhà tù, ngài đã quyết định: “Tôi cần làm một việc gì đó để thanh thiếu niên khỏi phải vào tù.”

Thời bấy giờ, một số linh mục thường chờ đợi thanh thiếu niên tới nhà thờ hay phòng thánh để dạy giáo lý.  Cần phải có những hình thức tông đồ mới: việc tông đồ lưu động, nơi các nhà hàng, nơi cửa tiệm, nơi xưởng thợ, nơi công viên… Nhiều linh mục đã thử nghiệm.

Vào ngày 8 tháng 12 năm 1841, đứa trẻ đầu tiên đến với Don Bosco là cậu Bartôlômêô Garelli d’Asti.  Ba ngày sau, 9 em khác cùng đến với cậu.  Ba tháng sau, 25 em.  Rồi vào mùa hè 1842, con số là 80 em.  Thế là Nguyện xá đã bắt đầu.

Nhưng một số em không biết tìm đâu ra chỗ ngủ, ngoại trừ những nơi công cộng.  Don Bosco đã nhận ra công việc cấp bách và quan trọng là lo chỗ ngủ cho những em đó.

Vị ân nhân đầu tiên của Don Bosco không phải là bà Bá tước, nhưng chính là bà mẹ của ngài, một người nhà quê 59 tuổi, nghèo và mù chữ, nhưng đạo đức, đã lên Tôrinô với ngài để lo việc bếp núc và giặt giũ.

Giữa những em sống với Don Bosco, có một số đã bày tỏ nguyện vọng “được trở nên như ngài.”  Tu hội Salêdiêng được thành hình, với tên gọi là Tu hội Thánh Phanxicô Salê.

Mùa Thu năm 1853, xưởng thợ đầu tiên được thành lập.  Chính Don Bosco đứng ra dạy nghề cho các em.

Ngày 26 tháng 01 năm 1854, Tu hội Salêdiêng chính thức được thành lập.

Ngày 30 tháng 11 năm 1860, “đứa trẻ đầu tiên của Don Bosco,” Micae Rua trở thành linh mục.  Vào cuối đời, Don Bosco có thể nói rằng: gần ba ngàn linh mục đã xuất thân từ những con cái của mình.

Tháng 3 năm 1864, Don Bosco đặt viên đá đầu tiên cho Đền Thờ Đức Mẹ Phù Hộ tại Valdocco.  Tám năm sau, ngài khởi sự một “Đền Thờ” khác kính Đức Mẹ: Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Tháng 11 tháng 1875, những vị truyền giáo Salêdiêng tiên khởi lên đường đi Nam Mỹ.  Cùng năm ấy, các “Cộng Tác Viên”, Dòng Ba Salêdiêng, ra đời.

Trước khi qua đời, Don Bosco đã nói với các Cộng tác viên: “Không có lòng bác ái của các con, cha không làm được việc gì cả; nhờ lòng bác ái của các con, chúng tôi đã lau khô biết bao nước mắt và đã cứu được biết bao linh hồn.”

Nhưng công trình vĩ đại mà Don Bosco để lại cho Giáo Hội là “HỆ THỐNG GIÁO DỤC DỰ PHÒNG.”  Bí quyết của Hệ thống này là “Sống với thanh thiếu niên,” nhờ đó nhà trường được biến thành “gia đình.”  Toàn thể Hệ thống này có thể được tóm lại trong ba chữ: lý trí, tôn giáo và lòng thương mến.  Khi người ta không dọa nạt, nhưng trò chuyện; khi Thiên Chúa là “Chủ Nhà;” khi người ta không sợ hãi, nhưng muốn điều tốt, gia đình sẽ nảy sinh.

Don Bosco qua đời sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1888.  Với các tu sĩ Salêdiêng đang đứng chung quanh, ngài đã nói những lời sau đây: “Các con hãy muốn điều tốt cho nhau như là anh em.  Hãy làm điều tốt cho mọi người, nhưng không làm điều xấu cho ai cả…  Hãy nói với các thanh thiếu niên điều này: Cha chờ đợi tất cả trên Thiên Đàng.”

Carlo Ambrosio, SDB

Nguồn: https://thegioisaledieng.net  

From: langthangchieutim & & NguyenNThu


 

CÓ THỂ BAY LÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta”.

Một đêm yên tĩnh, có tiếng ngỗng trời bay trong đêm, R. Meredith vội vào nhà, viết xuống những cảm xúc. “Đàn ngỗng trời hoang dã bay về phía mặt trăng và mất hút vào chị Hằng; tuyệt vời! Tội nghiệp các chú ngỗng trời của tôi đang ‘hạnh phúc’ bì bõm trong ao! Chúng nghe tiếng gọi hoang dã của đồng loại như những mũi tên bắn vào tim. Cánh chúng yếu ớt rung lên; bản năng bay thôi thúc chúng, ‘Bay lên đi!’. Tiếng gọi thì thầm vang lên trong bộ ngực lông vũ; nhưng chúng không thể bay lên. Vấn đề đã rõ. Ruộng ngô và đồng cỏ quá hấp dẫn! Giờ đây, ước muốn bay của chúng chỉ làm chúng khó chịu. Những gì chúng an hưởng đang quyến rũ chúng với cái giá khá đắt: mất khả năng bay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa muốn giải thoát con người khỏi mọi ác thần bất cứ giá nào để nó ‘có thể bay lên’. Đó là những gì câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật. Những chi tiết Marcô kể lại khác nào cảnh trong phim kinh dị. Vậy mà, đó là một hành động yêu thương của Thiên Chúa; qua Chúa Giêsu, quyền năng và tình yêu Ngài thể hiện.

Biến cố Chúa Giêsu trừ quỷ cho thấy một sự thật hiển nhiên là ma quỷ đang hoạt động trong thế giới. Chúng có khả năng điều khiển, thao túng; hoặc ít nhất, cám dỗ con người. Chúng là những thiên thần sa ngã chống lại Thiên Chúa; giờ đây, căm thù loài người, và đang tìm cách tiêu diệt nó. Đây là một sự thật bạn và tôi phải nhận thức sâu sắc; dẫu thế, không lý do gì để chúng ta đánh mất hy vọng, nhượng bộ hoặc sợ hãi. Bởi lẽ, ma quỷ, cuối cùng sẽ phải khuất phục Thiên Chúa; chúng không thể làm gì được nếu Chúa không cho phép. Với sức mạnh của Ngài, bạn và tôi vẫn ‘có thể bay lên’. Tuy nhiên, cần nhận ra rằng, tà lực và ảnh hưởng của ma quỷ không hề nhỏ; và không ai có thể coi thường!

Với người lành thánh, ma quỷ có những chiến lược tinh quái hơn. Một trong những cám dỗ dành cho các ‘Kitô hữu trưởng thành’ là nó khiến họ quen nhờn với các ân huệ của Chúa. Bằng mọi cách, ma quỷ khiến các phúc lành của Chúa như là những gì hiển nhiên khiến chúng ta không còn nhận ra quyền năng và tình yêu quan phòng của Ngài. “Nếu các ngôi sao chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, mọi người sẽ thức suốt đêm để ngắm nhìn chúng. Đằng này, chúng thường xuyên xuất hiện hằng đêm nên không ai buồn ngước mắt nhìn chúng nữa. Tương tự như thế với những phúc lành của Chúa!” – Emerson.

Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng!”. Nghĩa là anh em đừng bưng tai bịt mắt trước những gì Thiên Chúa đã làm cho anh em! Bởi “Chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt!”.

Anh Chị em,

‘Bay lên đi!’. Như những chú ngỗng trời, chúng ta muốn bay lên. Việc bạn và tôi chiến đấu mỗi ngày chống lại cám dỗ của ‘những hạt ngô, cọng cỏ’ là cần thiết; và nhất là, một chỉ luôn hạ mình trước mặt Chúa, liên lỉ tạ ơn Ngài và tuyệt đối tin cậy. Khiêm tốn là chìa khoá cho cuộc chiến này, chìa khoá để vượt qua các cuộc tấn công và cám dỗ của ác thần cách này cách khác. Đặt niềm tin vào Chúa, bạn và tôi sẽ không bao giờ thất vọng. Quyền năng và tình yêu Ngài sẽ làm tất cả. Và chắc chắn, chúng ta vẫn ‘có thể bay lên!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đùa với lửa khi con thoả hiệp, nhượng bộ cám dỗ; xin hoán cải con, cho con biết luôn cảm tạ và sợ tội. Nhờ đó con ‘có thể bay lên’ trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

 KHI CHÚA GIÊSU NGỦ TRONG CƠN BÃO CUỘC ĐỜI CỦA CHÚNG TA

 Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R 

Trong đêm tối của đức tin, Thánh Têrêsa thành Lisieux xác tín Chúa Giêsu vẫn luôn ở với mình, nhưng cũng đau khổ khi Ngài dường như ngủ say và ẩn kín.

Thánh nhân đã miêu tả cảm giác này:

“Linh hồn của tôi giống như một chiếc thuyền mong manh bập bềnh mà không có người lái trong một vùng biển bão tố.  Tôi biết rằng Chúa Giêsu ở đó, ngủ trong thuyền của tôi, nhưng trời quá tối để tôi thấy Ngài.  Tất cả là bóng tối.  Giống như Chúa Giêsu trong cơn đau đớn của Ngài trong Vườn, tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi và không có sự giúp đỡ nào cho tôi trên trái đất hay trên thiên đàng.  Chúa đã bỏ rơi tôi” (Câu chuyện về linh hồn, 61).

Kinh nghiệm của Thánh Têrêsa giống với kinh nghiệm của các môn đệ trong Tin mừng Máccô chương 4 và Matthêu chương 8.

Đây là bản văn kinh thánh trong Macco chương 4:

“Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !”  Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người.  Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.  Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.  Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”  Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!”  Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.  Rồi Người bảo các ông: “Sao nhát thế?  Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin ư?”  Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Thưa Thầy, Thầy không quan tâm rằng chúng ta đang chết đến nơi rồi?”  Bao lâu trong những cơn bão của cuộc đời chúng ta có cảm giác như Chúa Giêsu đang ngủ như vậy?  Nếu ngay cả một vị thánh vĩ đại như Thánh Têrêsa cũng có thể cảm thấy loại bỏ rơi này, chúng ta không nên mặc cảm tội lỗi nếu chúng ta trải nghiệm điều gì đó tương tự.

Trong câu chuyện phúc âm, mọi thứ trở nên rất thảm khốc trước sự can thiệp của Chúa Giêsu.  Sóng đang đâm vào thuyền và lấp đầy nước, có nguy cơ bị chìm sớm.  Mặc dù vậy, Chúa Giêsu vẫn ngủ.  Các môn đệ trước tiên phải kêu lên với Ngài để được giúp đỡ.  Như Thánh vịnh 18:7 “Trong lúc đau khổ, tôi kêu lên: Lạy Chúa!  Tôi kêu lên với Thiên Chúa của tôi.”  Chúa nghe thấy sự đau khổ của họ.  Tiếng kêu khóc của họ, chứ không phải cơn bão, đã đánh thức Chúa Giêsu dậy.

Có ba điều cần lưu ý về cách Chúa Giêsu trả lời.

Đầu tiên, Ngài có quyền chỉ huy hoàn cảnh.  Chúa không làm cho con thuyền vững chắc hơn, hoặc giảm bớt cơn bão.  Chúa loại bỏ hoàn toàn vấn đề, mang đến một sự bình yên tuyệt vời.

Thứ hai, Ngài biến đổi tình hình qua lời nói của Ngài.  Sức mạnh của Ngôi Lời nhập thể nằm trong lời nói.  Chúa không cần phải cố gắng.  Chẳng hạn, Chúa không nhảy vào vùng sóng đánh dữ dội và kéo thuyền vào bờ.

Thứ ba, tác động biến đổi mà Ngài tạo ra mang tính toàn bộ – từ hoàn cảnh bên ngoài cho đến trái tim của các môn đệ.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ có niềm tin rằng sự hiện diện của Ngài là đủ.  Ngài muốn họ có niềm tin rằng Ngài đã nhận thức được tình hình, ngay cả khi Ngài dường như đang ngủ.

Giấc ngủ của Chúa có thể được coi là một bài kiểm tra đức tin của họ.  Nó cũng là một lời xác nhận răng: chỉ sự hiện diện của Chúa là đã đủ an toàn rồi.

Giấc ngủ vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu trải qua là giấc ngủ của tử thần.  Cuối cùng, trong trình thuật của phúc âm về giấc ngủ này, chúng ta rút ra sự an ủi lớn nhất.  Như bài giảng cổ xưa rất hay của Thứ Bảy Tuần Thánh:

Chuyện gì đang xảy ra vậy?  Hôm nay có một sự im lặng tuyệt vời trên trái đất, một sự im lặng vĩ đại, một sự im lặng tuyệt vời vì Đức vua đang ngủ; Trái đất vẫn còn bị trong sự kinh hãi, bởi vì Chúa đã ngủ trong xác thịt và nâng dậy những người đang ngủ từ thời xa xưa.  Chúa đã chết trong xác thịt, và âm phủ đã run rẩy.

Bài giảng gợi ý một lời giải thích cho giấc ngủ này: Chúa Giêsu bước vào giấc ngủ của sự chết để Ngài có thể ở cùng với những người đang ngủ say, những người cha thánh của Cựu Ước đang chờ đợi Ngài trong tình trạng lấp lửng.  Giống như Chúa đã lấy xác phàm để ở giữa những người sống, nên Ngài cũng mặc lấy giấc của sự chết mà Ngài cũng có thể ở cùng sự chết như vậy.

Chúa Giêsu không đánh thức chúng ta ra khỏi giấc ngủ tinh thần bằng cách lay chuyển chúng ta từ bên ngoài.  Ngài đi vào chính Ngài để đánh thức chúng ta từ bên trong.  Như bài giảng có nói:

Ta ra lệnh cho ngươi: Thức tỉnh đi hỡi kẻ còn đang ngủ, Ta đã không tạo ra ngươi để bị giam giữ như một tù nhân trong âm ngục.  Trỗi dậy từ cõi chết; Ta là sự sống của kẻ chết.  Trỗi dậy, hỡi con người, công trình của tay Ta làm nên, Trỗi dậy, vì người mang hình ảnh của Ta.  Hãy trỗi dậy, nào chúng ta hãy đi, vì Ta ở trong ngươi và ngươi ở trong Ta, cùng nhau chúng ta nên một mà không thể bị chia cắt.

Bóng tối của Thứ Bảy Tuần Thánh dẫn đến sự tươi sáng của Chúa nhật Phục Sinh.  Sự phục sinh thực sự có khởi đầu không phải trong ngôi mộ, nhưng trong khoảnh khắc linh hồn Chúa Giêsu bắt đầu bay lên từ sâu thẳm địa ngục.  Ngay cả khi Chúa Giêsu ngủ say, lúc đó, Ngài thực sự rất chủ động, trong địa ngục Ngài tuyên bố chiến thắng của thập tự giá, chà đạp ma quỷ và giải cứu những người cha thánh trong tình trạng Limbo.

Nếu Chúa Giêsu đôi khi dường như ngủ trong cuộc đời chúng ta, thì Ngài có thể sống động theo những cách mà chúng ta không thể nhìn thấy.  Chúa đang làm việc trong nhiều trường hợp.  Những kiểu trợ giúp mà chúng ta thường cần có công việc phải được thực hiện ở những nơi mà chúng ta không thể nhìn thấy như trái tim của những người thân bị ghẻ lạnh, tinh thần của một đứa trẻ bị giam cầm trong cơn nghiện, tâm trí và trái tim của các ông chủ, chủ nợ hoặc người thu tiền hóa đơn của chúng ta và trong tất cả những người có sức ảnh hưởng đến an toàn kinh tế của chúng ta.

Nếu sự giúp đỡ mà chúng ta cần nhất là trong việc chữa lành một căn bệnh về thể xác hoặc bệnh tâm thần thì chúng ta chắc chắn sẽ không thể nhìn thấy Chúa Giêsu đang làm việc.

Điều này tạo ra khả năng để chúng ta được ngạc nhiên.  Bởi vì mỗi Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có thể mong đợi được ‘niềm vui ngạc nhiên” của sự Phục Sinh.

Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R – chuyển ngữ
Nguồn: https://catholicexchange.com/when-jesus-sleeps-through-our-storms

 From: Langthangchieutim


 

GIỮA LÒNG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

“The Storm on the Sea of Galilee”, “Bão Trên Biển Galilê”, là một kiệt tác sơn dầu vẽ về “biển” duy nhất gần 400 tuổi của Rembrandt! Tiếc thay, từ 1990, nó bị đánh cắp; đến nay, vẫn biệt vô âm tín. Danh hoạ mô tả khoảnh khắc nhóm Mười Hai cầu cứu Chúa Giêsu khi thuyền của họ sắp chìm. Một số cật lực chống chọi; số khác co rúm vì sợ hãi hoặc lùi về mạn thuyền; và thật thú vị, Rembrandt, môn đệ 13, xuất hiện giữa bức tranh. Tác giả như muốn nói, “Từ giữa lòng thuyền, Ngài nhận ra tôi!”; và bạn, “Bạn sẽ ở đâu trong bão?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Lời Chúa hôm nay gợi lên những cơn bão cuộc đời. Nó có thể là cơn bão đang hất tung con thuyền Giáo Hội, đang vùi dập con tàu thế giới, hoặc đang muốn nhấn chìm con thuyền nan đời bạn. Trong cơn hỗn mang, bạn ở đâu? Ngài thấy bạn? Bạn có lắng đọng đủ để nghe Ngài trách yêu, “Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

Con thuyền là một hình ảnh thiết thực của Giáo Hội, nó phải vượt bão và đôi khi, dường như sắp chìm. Điều cứu lấy Giáo Hội không phải là kỹ năng và lòng dũng cảm của thuỷ thủ đoàn, mà là niềm tin! Niềm tin cho phép Giáo Hội rẽ sóng, tiến lên, cả trong bóng tối. Nó cho thấy sự chắc chắn về sự hiện diện của Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’; tay Ngài sẽ nắm lấy để kéo mỗi người chúng ta khỏi mọi nguy biến; và chúng ta cảm thấy an tâm khi có Ngài kề bên bất chấp những hạn chế và yếu nhược của chính mình. Chúng ta được an toàn khi mỗi người biết hướng về Giêsu, kêu cầu Ngài, vì Ngài là Đấng Cứu Độ.

Trong câu chuyện này, các môn đệ chỉ tập trung vào một điều, họ sắp chết! Nhưng Giêsu có đó, Ngài chờ được đánh thức. Để một khi chỗi dậy, Ngài sẽ trả lại sự yên tĩnh hoàn hảo! Điều quan trọng là chúng ta hướng mắt về Giêsu, Đấng đem lại yên tĩnh tuyệt đối cho linh hồn. Để được vậy, bạn phải tin rằng, “Từ ‘giữa lòng thuyền’ Ngài nhận ra tôi!”.

Trong cuộc sống, chúng ta rất dễ chán nản, dễ chỉ tập trung vào sự hỗn loạn. Một bất ổn dân sự, một vấn đề gia đình… và ngay cả một tội lỗi nghiêm trọng. Rất nhiều lý do để chúng ta rơi vào chiếc bẫy của sợ hãi, thất vọng và trầm cảm. Nhưng có khi nào bạn tự hỏi, “Lúc nào tôi gần Chúa nhất?”; câu trả lời, “Khi khổ đau”. Như vậy, từ trải nghiệm bão tố của các môn đệ, Chúa Giêsu mang đến một thông điệp rõ ràng và thuyết phục rằng: Ngài, hiện thân của bình an, đang ở ‘giữa lòng thuyền’. Chỉ cần tin! Đavít là một ví dụ. Sau khi Nathan nói cho biết tội của Đavít, ông đau buồn khóc lóc – bài đọc một. “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!”. Chúa đã thứ tha! Đó cũng là tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca, một kiệt tác của Đavít, một người biết tìm về ‘một Ai đó’ ‘giữa lòng thuyền’.

Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Trong con thuyền Giáo Hội và thuyền nan của cuộc đời mỗi người, Giêsu luôn có đó. Không bao giờ Ngài rời chúng ta, Ngài là Emmanuel; căn tính của Ngài là Cứu Độ, tên Ngài là Cứu Chúa. Đừng sợ đánh thức Ngài! Cần ghi nhớ, Ngài có sự chiến thắng cuối cùng; Ngài cho phép bão tố xảy đến để chúng ta biết nương tựa Ngài hơn. Khi cuộc sống không còn đáng sống, bế tắc, tuyệt vọng… bạn cần đào sâu đức tin vào Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’, Đấng sẽ viết chương cuối cùng cuộc đời của mỗi người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘văng khỏi thuyền’ khi bão ập xuống đời con; vì con tin rằng, ‘một Ai đó’ luôn có mặt ‘giữa lòng thuyền’ đời con, Ngài nhận ra con!”, Amen.

 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

KHÔNG PHẢI NGẪU NHIÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa!”.

Trong “Comme Des Cœurs Brûlants”, “Như Những Con Tim Cháy Bỏng”, A. Vidot tiết lộ lý do cải đạo của cô. “20 tuổi, tôi, sinh viên cần tĩnh lặng. Mua lại “phiếu đi nghỉ” tại một tu viện trên núi. Tôi điện thoại báo trước, tôi không đến để cầu nguyện; tôi chưa rửa tội. Họ nói, “Chúng tôi chờ cô!”. Ngay tối đầu tiên, sự quan tâm lắng nghe nhân ái của một nữ tu làm tôi bồi hồi. Nhưng động cơ thực sự là tôi nhận ra tình yêu của Chúa, một tình yêu duy nhất, đặc biệt. Bênêđictô 16 nói, “Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta hiện hữu như một sản phẩm vô nghĩa của một quá trình tiến hoá. Mỗi chúng ta được mong đợi, được yêu thương, mỗi chúng ta là cần thiết!”. Tôi cảm nhận điều này đến tận xương tuỷ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cũng thế, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà Giáo Hội mừng kính Timôthê và Titô ngay sau ngày kính thánh Phaolô; ‘không phải ngẫu nhiên’ mà hai người được chọn làm cộng sự viên của ngài; và càng ‘không phải ngẫu nhiên’ khi người đi gieo lại gieo được hạt vào đất tốt như Tin Mừng hôm nay đề cập. Vì lẽ, “Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa” như khẳng định của Phaolô – khởi đầu bài đọc một.

Timôthê và Titô được gọi là “sứ đồ của Sứ Đồ”. Quả vậy, trong buổi đầu ân sủng, các tông đồ đã xới được những rãnh sâu đầu tiên tại các vùng đất dân ngoại, gieo vào đó những hạt mầm mà những người đi sau sẽ tưới tẩm, vun xới và thu hoạch. Đó là những Kitô hữu có một nền giáo dục tốt, “Cha hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của con, lòng tin đã có nơi Lôít, bà ngoại con; nơi Êunikê, mẹ con, cũng như nơi con”.

Như vậy, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà Phaolô chọn Timôthê và Titô; cũng ‘không phải ngẫu nhiên’ Lôít và Êunikê được chúng ta, những người đọc thư này, tưởng nhớ. Hãy mơ về những gì Phaolô sẽ kể nếu ngài viết thư cho con cháu chúng ta và những ai Chúa trao vào tay chúng ta! Hãy là những người ‘tốt lành’ sẽ được “Kể cho muôn dân”, cho các thế hệ như Thánh Vịnh đáp ca nói đến. Với bài Tin Mừng, ‘không phải ngẫu nhiên’ Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai từng hai người đi trước Ngài vào các thành. Cũng ‘không phải ngẫu nhiên’ mà những người này được gọi, những người khác thì không!

Anh Chị em,

“Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa!”. Vidot còn nhắc lại lời của Bênêđictô 16, “Gốc ngọn của sự kiện chúng ta là Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một ý tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ các vị với Đấng mang cho cuộc sống bạn một chân trời mới! Và đó là một định hướng quyết định cho cuộc sống!”. Đích thực đây là điều Vidot đã sống! Cũng thế, Timôthê, Titô có mặt trên đời, làm Giám mục, không phải chỉ do Phaolô đặt tay hoặc do bà ngoại, người mẹ, hay một ai sắp đặt; nhưng “do ý muốn của Thiên Chúa”. Cũng thế, nhờ Chúa Kitô, chúng ta được yêu thương, được chọn gọi bởi Thiên Chúa, dẫu Ngài luôn ẩn mình. Vấn đề là bạn và tôi biết giữ cho mình một tâm hồn lặng đủ để nghe Ngài. Chỉ khi mối tương quan với Ngài trở nên sâu sắc, chúng ta mới đủ sức tin tưởng, phó thác và mềm mỏng thực hiện ý muốn yêu thương ngàn đời của Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà giờ này con đang ở đây với những gì con có, những gì con là. Đừng để con làm Chúa thất vọng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

CUỐN THEO THẦN KHÍ-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!”.

“Thập giá, cột thu lôi của ân sủng, làm tắt cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng của tình yêu Ngài! Trên đường Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi của ân sủng quật ngã, và người này đã ‘cuốn theo Thần Khí’ của Đấng Phục Sinh!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ một con người đã bị “cột thu lôi của ân sủng quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau biến cố chết và sống lại của Chúa Giêsu vào những năm đầu Kitô giáo. Bởi lẽ, ân sủng của Ngài đã biến đổi Phaolô, một con người đã để mình ‘cuốn theo Thần Khí’.

Phaolô cho biết, trước khi được Chúa tỏ mình, ông “đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”; tuy nhiên, theo cách rất phá hoại! Phaolô đàn áp những người tin “Đạo mới”; và rồi, cuộc hiện ra của Ngài trên đường Đamas với câu hỏi, “Saun, Saun, sao ngươi bắt bớ ta?”, kèm theo câu trả lời lạnh lùng, “Ta là Giêsu Nazareth mà ngươi đang bắt bớ” đã khiến Phaolô dừng bước – bài đọc một. Từ đó, Đấng Phục Sinh đã biến “Saun”, có nghĩa là ‘tìm kiếm, đòi hỏi và khát vọng’, thành một “Phaolô”, có nghĩa là ‘hèn mọn, nhỏ bé và khiêm tốn’. Phaolô đã chỗi dậy, tiến về phía trước, ‘cuốn theo Thần Khí’, phục vụ Chúa theo một cách rất khác. Thay vì bắt bớ những người tin, Phaolô loan báo tình yêu của Ngài như lệnh truyền, “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

“Tôi ngã xuống đất”; “Ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy”. Một nghịch lý mang nhiều ý nghĩa! Không chỉ trong bóng tối, con người không nhìn thấy; nhưng ngay cả trong ánh sáng, nó cũng mù loà! Lúc Phaolô tưởng mình sáng, đó là lúc tối tăm nhất đời ông. Phaolô buộc phải nhắm mắt để thấy rằng, sự bốc đồng theo kế hoạch riêng mình là mù tối, và tình yêu trong trái tim Đấng Phục Sinh thật ngời sáng. Ngài quật Phaolô xuống tận đất; để sau đó, nâng ông lên đến mức vị “Tông Đồ Dân Ngoại”. Thế nhưng, hình ảnh đẹp nhất vẫn là khúc phim người ta cầm tay dắt Phaolô vào thành, một ‘Phaolô chập chững’ trong hành trình của ‘một con người mới’ ‘cuốn theo Thần Khí’ trong Chúa Kitô!

Anh Chị em,

“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!”. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay – theo Đức Phanxicô – “Là một mệnh lệnh mang chiều kích truyền giáo của đức tin! Hoặc đức tin có chiều kích truyền giáo, hoặc không phải là đức tin. Đức tin không phải là điều gì đó chỉ dành cho riêng tôi, để tôi có thể lớn lên với nó: đây là một tà giáo ngộ đạo! Đức tin luôn dẫn bạn thoát ra khỏi chính mình, đi ra ngoài và truyền tải nó! Đức tin được truyền đạt, được cống hiến, trên hết bằng chứng tá, “Hãy đi, để mọi người thấy anh sống thế nào!”. Trong việc truyền bá đức tin, hành động vì đức tin, có Chúa luôn đồng hành với tôi. Tôi không bao giờ đơn độc. Chính Chúa, Đấng truyền đạt đức tin, ở cùng tôi; miễn sao tôi để mình được tự do ‘cuốn theo Thần Khí’ của Ngài!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì cột thu lôi ân sủng Chúa quật ngã con mỗi khi con mải mê chạy theo những phù phiếm của thế gian. Cho con mềm mại ‘cuốn theo Thần Khí’ mỗi ngày!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen


 

Lễ Thánh Phaolô trở lại – Cha Vương

  • Chúc một ngày an lành và mọi sự tốt đẹp trong bàn tay quan phòng của Chúa. Hôm nay 25/1 Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Phaolô trở lại, ta hãy xin cho được sự hoán cải trong tâm hồn. Xin một hy sinh nhỏ để cầu nguyện cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại.

Cha Vương

 Thứ 5: 25/01/2024

Toàn thể cuộc đời của Thánh Phaolô có thể nói hệ tại ở một biến cố — ngài được gặp Ðức Giêsu trên đường đi Damascus. Ngay khoảng khắc đó, mọi sự hăng say của một người nhiệt huyết như ngài đều trở nên vô ích, như quả đấm ngàn cân của một tay quyền anh bị hụt hẫng. Có lẽ ngài chưa bao giờ được gặp Ðức Giêsu, mặc dù chỉ lớn hơn Ðức Giêsu vài tuổi.

Nhưng ngài ghét cay ghét đắng những gì Ðức Giêsu chủ trương khi ngài bắt đầu bắt bớ Giáo Hội: “đi vào từng nhà và bắt bỏ tù những người đàn ông cũng như đàn bà” (CVTÐ 8:3b). Bây giờ, chính ngài được “đi vào”, được chiếm ngự, mọi năng lực của ngài được khai thác cho một mục đích — trở nên một người nô lệ cho Ðức Kitô trong sứ vụ hòa giải, thành một khí cụ giúp người khác cảm nhận được Ðấng Cứu Thế.

Câu nói sau đã xác định lập trường đức tin của ngài: “Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại” (CVTÐ 9:5b). Một cách huyền nhiệm Ðức Giêsu đã đồng hóa với dân của Ngài – là những người mà Thánh Phaolô trước đây đã từng săn đuổi như các tội nhân. Ngài nhìn thấy nơi Ðức Giêsu, sự hoàn tất một cách huyền nhiệm những gì ngài đang theo đuổi cách mù quáng.

Từ đó trở đi, công việc của ngài là “giúp mỗi người trở nên hoàn thiện trong Ðức Ki-tô. Vì đó mà tôi phải vất vả chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi” (Colossê 1:28b-29). “Vì tin mừng được loan báo cho anh chị em không chỉ bằng lời nói, mà còn trong quyền năng và trong Thánh Thần và với niềm xác tín sâu xa (1 Thess. 1-5a).

Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên sự rao truyền không mệt mỏi và ngài sống sứ điệp thập giá: qua sự rửa tội, người Kitô chết cho tội lỗi và được mai táng với Ðức Kitô; họ là người chết đối với những gì sai trái và không giúp đưa đến sự cứu chuộc của thế gian. Họ được tạo thành một tạo vật mới, được chia sẻ vinh quang của Ðức Kitô và một ngày nào đó họ sẽ được sống lại từ cõi chết như Người. Qua Ðức Kitô phục sinh, Thiên Chúa Cha tuôn đổ Thánh Thần trên họ, biến họ trở nên hoàn toàn mới.

Do đó thông điệp vĩ đại của Thánh Phaolô cho thế giới là: Bạn đã được Thiên Chúa cứu chuộc, không do bởi bất cứ gì bạn thi hành. Ðức tin cứu độ là món quà tặng cho những ai tận hiến cho Ðức Kitô một cách tuyệt đối, tự nguyện và cá biệt, mà sự tận hiến ấy mang lại kết quả trong “công việc” nhiều hơn là những gì luật lệ mơ tưởng. (Nguồn: Người Tín Hữu)

❦  “Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Côrintô 13:4-7).

Lạy Chúa, xin hãy dẫn dắt con đi từ cõi chết đến sự sống, từ lầm lạc đến chân lý. Xin hãy dẫn dắt con đi từ thất vọng đến hy vọng, từ sợ hãi đến tín thác. Xin hãy dẫn dắt con đi từ ghen ghét đến yêu thương, từ chiến tranh đến hòa bình. Xin hãy đổ đầy bình an trong trái tim chúng con, trong thế giới chúng con, trong vũ trụ chúng con.

(Nguồn:TGP Saigon) 

From: Do Dzung

LỄ THÁNH PHAOLÔ TRỞ LẠI – Soeur TÊRÊSA || Thành Danh 

DIỆT TRỪ SỰ DỮ – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Độc giả hôm nay cũng như những người chứng kiến sự kiện mà thánh Mác-cô thuật lại đều ngỡ ngàng và thú vị ở chi tiết: chính thần ô uế công khai tuyên xưng thân thế và sứ mạng của Đức Giêsu.  Theo khái niệm của Kinh Thánh, thần ô uế vừa tượng trưng cho ma quỷ Satan, vừa là lực lượng đối lập với những gì là thiện hảo, ngay lành và thậm chí còn đối lập với chính sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Thần ô uế đã tuyên xưng: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”  Bằng một mệnh lệnh, Chúa Giêsu đã bắt nó phải buông tha người bị nó ám.  Thánh Mác-cô hay diễn tả uy quyền của Chúa bằng cách ra lệnh cho các thế lực thiên nhiên hay ma quỷ, như trong Mc 4,39 Chúa đe gió và biển: “Im đi, câm đi”; Chúa ra lệnh cho người bại tay (x. Mc 3,5).  Chắc hẳn lời tuyên xưng của thần ô uế đã giúp nhiều người tin vào Chúa Giêsu, nhận ra Người là Đấng đến trần gian để xua đuổi thế lực của tối tăm, diệt trừ sự dữ và xây dựng một vương quốc thánh thiện, nhằm thánh hóa con người.

Thánh Mác-cô cho chúng ta một chi tiết đặc biệt nữa: Hội đường là nơi thánh thiêng của người Do Thái cũng giống như nhà thờ của các Kitô hữu ngày nay.  Vào mỗi ngày Sa-bát, mọi người đều tập trung ở đó để đọc và nghe Lời Chúa.  Chính Chúa Giêsu, khi trở về thăm quê hương Nagiarét, đã vào hội đường và đọc Kinh Thánh trước mặt cộng đoàn (x Lc 4,16-28).  Vậy mà, dưới ngòi bút tường thuật của thánh Mác-cô, nơi ấy cũng có thần ô uế ám ảnh.  Chính nơi thờ phượng thiêng liêng của người Do Thái cũng có sự hiện diện của Satan.  Với những chi tiết này, Thánh Mác-cô có ngầm ý khẳng định với chúng ta rằng, Chúa Giêsu đến để canh tân phụng vụ Do Thái đã trở nên lỗi thời và còn nhiều khiếm khuyết.  Sau này, chính Chúa Giêsu tuyên bố Người là Đền thờ đích thực.  Nền phụng vụ mới mà Chúa Giêsu đề nghị, đó chính là thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý.  Sự hiện diện của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi đền thờ hay hội đường, tình yêu thương của Chúa không phân biệt sắc tộc hay ngôn ngữ, nhưng ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Đức Chúa Trời.  Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, lời ca tụng tôn vinh Chúa phải xuất phát từ tấm lòng chân thành và phải đi đôi với thiện chí để nên trọn lành.

Sứ mạng của Đấng Thiên sai là đẩy lui quyền lực của bóng tối đang bao phủ nhân loại.  Chúa Giêsu đã đến trần gian để giải phóng con người khỏi ách kìm kẹp của ma quỷ, là quyền lực của tối tăm.  Người là ánh sáng trần gian đã bừng lên trong tăm tối để dẫn đưa con người về chính lộ.  Những người Do Thái chuyên tâm đọc Sách Thánh sẽ dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu chính là vị ngôn sứ mà Cựu ước đã loan báo.  Sách Đệ Nhị Luật ghi lại những lời giáo huấn của ông Môisen, vị thủ lãnh đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Aicập.  Trong những lời trăng trối cuối đời, ông Môisen đã nói đến một vị ngôn sứ Chúa sẽ gửi đến.  Vị này cũng đầy quyền uy để lãnh đạo dân như ông Môisen, và còn hơn cả Môisen nữa.  Sứ mạng của vị Ngôn sứ này là đem Lời Chúa làm lương thực nuôi dân chúng (Bài đọc I).  Chúa Giêsu chính là vị Ngôn sứ muôn dân mong đợi.  Ngài đến để thanh tẩy con người khỏi mọi tội lỗi, để thiết lập một nền phụng vụ đích thực, không còn những uế tạp trần tục, nhưng có khả năng thánh hóa con người.  Những người có mặt hôm đó tại hội đường, từ tâm trạng sững sờ đến trầm trồ thán phục: “Lời giảng dạy thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.  Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh.”

Hơn hai ngàn năm đã qua, Giáo Hội không ngừng loan báo Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và giải phóng con người.  Giáo Hội cũng đang tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, nhằm đem ơn cứu độ đến cho mọi dân tộc.  Loan báo Đức Giêsu cũng là sứ mạng của mỗi Kitô hữu.  Đó chính là nhiệm vụ chúng ta đã lãnh nhận khi được chịu phép Thanh tẩy.  Tuy vậy, trước khi nói đến loan truyền Tin Mừng cho người khác, mỗi chúng ta phải sống Tin Mừng trong cuộc sống cụ thể hằng ngày.  Trong con người của chúng ta, đang hiện hữu vừa ánh sáng vừa bóng tối, vừa hình ảnh của Thiên Chúa nhưng cũng vừa hình ảnh của Satan.  Chính vì thế mà chúng ta phải thanh tẩy bản thân mỗi ngày.  Ơn gọi nên thánh không phải là những điều quá sức con người, mà đó là những điều rất bình dị trong cuộc sống.  Thánh Phaolô đã cụ thể hóa đời sống Kitô hữu bằng cách khuyên mỗi người trong gia đình và trong cộng đoàn hãy chuyên tâm thực thi bổn phận của mình đối với Chúa và đối với tha nhân.  Người lập gia đình thì chăm lo việc gia đình.  Người tu hành thì chăm lo việc Chúa.  Những công việc đời thường, nếu được chu toàn với thiện ý và với tâm tình Đức tin, thì cũng góp phần làm cho chúng ta nên hoàn thiện (Bài đọc II).

Là Kitô hữu, chúng ta được tham dự vào chức ngôn sứ của Chúa Giêsu.  Mục đích của chức năng này là rao giảng Lời Chúa.  Được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu nhờ bí tích Thanh Tẩy, người Kitô hữu cũng đang cùng với Chúa Giêsu để diệt trừ sự dữ, đẩy lui quyền lực của tối tăm và làm cho ánh sáng cứu độ bừng lên nơi mọi nẻo đường của cuộc sống.  Những người dân thành Caphanaum chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu làm đã đồn ra khắp vùng.  Mỗi chúng ta khi cảm nghiệm những điều lạ lùng Chúa làm cho mình, hãy nỗ lực cố gắng để nói về Chúa cho mọi người xung quanh, để kể lại những kỳ công của Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

 QUAN HỆ TỐI THƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi!”.

“Tôi đã chuyển nhượng toàn bộ tài sản cho gia đình. Còn một điều tôi ước có thể mang lại cho họ nữa; đó là niềm tin vào Chúa Kitô! Nếu họ có Ngài, và tôi không có gì để cho họ, dù chỉ một xu, thì họ vẫn đã giàu rồi. Còn nếu họ không biết Chúa Kitô, không có Ngài, và tôi cho họ cả thế giới, họ thực sự vẫn nghèo!” – Patrick Henry.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy tầm quan trọng của việc “biết và có” Chúa Kitô của Patrick Henry. Chúa Giêsu chỉ ra mối ‘quan hệ tối thượng’ của chúng ta vốn cao hơn mọi mối quan hệ huyết thống. Đó là mối quan hệ với Thiên Chúa và những ai thuộc về Ngài.

Chúa muốn mối quan hệ của chúng ta thế nào? Trước hết, đó là mối quan hệ của sự tin cậy, tình yêu, sự cam kết, lòng trung thành, sự thuỷ chung, lòng tốt, sự chu đáo, lòng trắc ẩn, thương xót, sự giúp đỡ, khuyến khích, hỗ trợ, sức mạnh, sự bảo vệ và rất nhiều phẩm chất khác gắn kết mọi người lại với nhau. Và còn hơn thế, Thiên Chúa mời chúng ta đi vào mối ‘quan hệ tối thượng’ với Ngài – sự kết hợp của trái tim, khối óc và tinh thần với chính Ngài, tác giả và là nguồn cội của tình yêu.

Thiên Chúa là tình yêu! Tình yêu Ngài không bao giờ thất bại, không bao giờ quên, không bao giờ thoả hiệp, không bao giờ dối trá, không bao giờ làm ai thất vọng. Nó nhất quán, không lay chuyển, vô điều kiện và không gì có thể cản ngăn. Bạn có thể chọn lìa xa Thiên Chúa, nhưng không gì khiến Ngài bỏ rơi hoặc xử tệ với bạn. Ngài đeo đuổi, yêu thương đến cùng, kêu gọi chúng ta quay về bất chấp mọi lực cản. Bản chất của Ngài là yêu! Đó là lý do Ngài tạo dựng chúng ta nên giống hình ảnh Ngài – để kết hợp và chia sẻ tình yêu của cộng đồng Ba Ngôi – Cha, Con và Thánh Thần. Ngài muốn tất cả mọi quan hệ bắt nguồn từ ‘quan hệ tối thượng’ – tình yêu vô cùng của chính Ngài.

Xuống thế làm người, Chúa Giêsu, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, cống hiến cho chúng ta mối quan hệ cá nhân với chính Ngài. Ngài là mục tử hy sinh mạng sống vì đàn chiên; người cha mong đứa con hư trở về. Ngài hiến mình trên thập giá để chúng ta được thứ tha và phục hồi địa vị làm con và tình bạn với Thiên Chúa. Chính nhờ Ngài, chúng ta trở nên con trai con gái của Chúa Cha. Đó là lý do tại sao Ngài nói với các môn đệ, “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi!”.

Anh Chị em,

“Người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi!”. Một vị tử đạo đã nói, “Người thân duy nhất của một Kitô hữu là các thánh!” – tức là những người đã được cứu chuộc bằng máu của Chúa Kitô, được nhận làm con cái Thiên Chúa. Như vậy, những ai được rửa tội trong Chúa Kitô và sống như môn đệ Ngài sẽ bước vào một gia đình mới, một gia đình gồm các ‘thánh’ ở trần gian và các thánh trên trời. Chúa Giêsu thay đổi trật tự các quan hệ và chỉ ra rằng, quan hệ thực sự không chỉ là vấn đề máu huyết, mà còn hơn thế: trở nên con cái Chúa. Và điều này biến đổi tất cả các mối quan hệ, đòi hỏi một trật tự mới về lòng trung thành với Thiên Chúa, với Vương Quốc công chính và bình an của Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘thừa tiền’ mà ‘thiếu Chúa’; như thế, con mãi nghèo. Cho con ‘dư Chúa’ dù phải ‘hụt tiền’; vì dẫu vậy, con vẫn luôn luôn giàu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Ba Lời Nguyện Nhiệm Màu Cầu Cho Người Hấp Hối

 Nguyễn Hoàng Diễm

Kinh này rất cần thiết cho người sắp chết, và nên được đọc thường xuyên như việc thực thi lòng thương xót.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài là Con Thiên Chúa và Ðức Trinh Nữ Maria, là Thiên Chúa và là loài người! Ngài trong nổi sợ đổ mồ hôi máu cho chúng con trên Ðồi Olives để mang đến cho chúng con bình an, và đã dâng lên Thiên Chúa Cha chính cái Chết Cực Thánh của Ngài để cứu độ cho (người…) đang hấp hối này.

Nếu như vì tội lỗi của (người…) đang hấp hối đây, người đáng chịu án phạt đời đời, con nguyện xin Chúa cho (người…) này được tránh khỏi án phạt đó. Lạy Cha Hằng Hữu, qua Chúa Giêsu Kitô, Con yêu dấu của Cha, Ðấng đang sống và hiển trị trong sự hiệp nhất với Ngài và Chúa Thánh Thần bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài đã vâng lời chịu chết trên cây Thập Tự cho chúng con. Ngài đã hiến dâng trọn vẹn cho Thánh Ý của Ngài cho Chúa Cha trên trời để mang lại bình an và hiến dâng cái Chết Cực Thánh cho Cha trên trời để giãi thoát (người này ….) và để xóa đi những tội lỗi (người này) đã phạm.

Lạy Cha Hằng Hữu xin ban cho người này qua Chúa Giêsu Kitô con Cha, Ðấng đang sống và hiển trị với Ngài trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài đã giữ im lặng để nói qua miệng của các ngôn sứ rằng: Tôi đã nhận lấy Ngài qua Tình Yêu Vĩnh Cữu, đó là tình yêu đã đem Ngài từ Thiên Ðàng xuống trong cung lòng của Ðức Trinh Nữ, tình yêu đã đem Ngài từ thân xác của Ðức Trinh Nữ vào trong thung lũng của thế giới đầy khao khác này, tình yêu đã giữ Ngài 33 năm ở nơi trần thế, và như dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã ban tặng Thánh Thể như Của Ăn Thật và Máu Thánh như Của Uống Thật.

Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã bằng lòng bị bắt và bị điệu từ quan tòa này đến quan tòa khác. Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã bằng lòng nhận chịu án tử, và đã bằng lòng chịu chết, chịu mai táng và đã sống lại thật, và đã hiện ra cho Ðức Mẹ và các Thánh tông đồ.

Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã lên trời bằng quyền năng của Ngài ngự bên hữu Ðức Chúa Cha. Ngài đã ban Chúa Thánh Linh vào trong tim của các Tông Ðồ và tất cả những ai hy vọng và tin tưởng nơi Ngài.

Qua Dấu Hiệu của Tình Yêu Vĩnh Cữu, xin Ngài mở cửa Thiên Ðàng hôm nay và đón nhận (người này …) đang hấp hối đây… và mọi tội lỗi được tha của (người) này vào trong Vương Quốc của Thiên Chúa Cha trên trời, nơi người này sẽ cùng hưởng phúc với Ngài bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

* Nguồn Gốc:

Có một vị Giáo Hoàng ở Roma phạm nhiều tội lỗi. Chúa đã phạt Ngài với căn bịnh hiểm nghèo. Khi Ngài biết rằng Ngài đã sắp chết, Ngài triệu các Hồng Y, Giám Mục và các học giã đến và phán:

– ‘Các bạn thân mến ! Ðiều gì các bạn có thể giúp trấn an cho Ta trong lúc này đây vì ta sẽ chết, trong khi ta đáng chịu hình phạt đời đời vì tội lỗi của Ta?’

Không ai trả lời Ngài cả. Một người trong họ, một Cha phụ tá tên là John đáp:

– ‘Thưa Cha, tại sao Ngài lại nghi ngờ lòng thương xót của Thiên Chúa?’

Ðức Thánh Cha trả lời:

– ‘Lời an ủi nào con có thể cho Cha bây giờ khi Cha phải chết và sợ rằng Cha sẽ bị án phạt vì tội lỗi của Cha?’

Cha John đáp:

– ‘Con sẽ đọc ba lời nguyện cho Cha; con hy vọng Cha sẽ được an ủi và Cha sẽ nhận được lòng thương xót của Chúa.’

Vị Giáo Hoàng không thể nói thêm được lời nào cả. Cha phụ tá và mọi người quỳ xuống và đọc những lời kinh ở trên.

Trong khi đó, Ðức Thánh Cha từ trần. Cha phụ tá kiên trì cho đến giờ thứ ba và Ðức Thánh Cha hiện ra trong thân xác Ngài và trấn an Cha; vẻ mặt Ngài rạng rỡ như mặc trời, y phục Ngài trắng như tuyết, Ngài phán:

– “Bạn thân mến! Trong khi tôi đáng là đứa con bị nguyền rủa thì tôi đã trở thành đứa con được chúc phúc.

Khi Cha đọc lời nguyện thứ nhất, nhiều tội lỗi đã rời khỏi tôi như mưa từ Thiên Ðàng rơi xuống, và khi Cha đọc lời nguyện thứ hai, tôi đã được thanh tẩy, như người thợ bạc rèn vàng trong lửa nóng.

Tôi vẫn còn được thanh luyện thêm trong khi Cha đọc lời nguyện thứ ba. Và rồi tôi thấy Thiên Ðàng mở ra và Chúa giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha, Ngài nói với tôi:

– ‘Hãy đến đây, mọi tội lỗi con đã được tha rồi, con sẽ ở đây và ở lại trong Vương quốc của Cha Ta mãi mãi.

Với những lời nguyện này, linh hồn tôi lìa khỏi xác và được Thiên Thần Chúa dẫn về nơi vĩnh phúc.”

Khi nghe những lời này Cha phụ tá nói:

– ‘Ôi Ðức Thánh Cha! con không thể nói việc này với ai cả vì họ sẽ không tin con đâu.’

Ðức Thánh Cha phán:

– ‘Quả thật Cha nói cho con hay, Thiên Thần của Chúa đang đứng với Cha và đã viết những lời nguyện này bằng chữ vàng để an ủi mọi tội nhân.

Ðức Thánh Cha nói rằng những lời nguyện này nếu được đọc trong sự có mặt của một người rất tội lỗi đang lúc gần chết, sẽ trợ giúp họ với nhiều ân sủng và ngay cả giúp họ chịu đựng nơi luyện ngục để họ sẽ được giải thoát khỏi những trừng phạt do tội lỗi họ gây nên.

Những ai nghe đọc kinh này, sẽ không chết trong khốn khổ. Những ai gần chết, mà đọc hoặc nghe những kinh này, thì sẽ được 400 năm ân xá nếu phải chịu gia hình nơi luyện ngục vì tội lỗi họ. Cũng vậy, người đọc hoặc nghe kinh nguyện này, sẽ được biết trước giờ chết của họ. Amen!


 

Phải làm gì khi một người Công giáo muốn kết hôn với một Kitô hữu không Công giáo?-Cha Vương 

Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình, “dù năm tháng phai nhoà, cùng Chúa đi tình vẫn nồng”.

Cha Vương 

 Thứ 2: 22/01/2024

GIÁO LÝ:  Phải làm gì khi một người Công giáo muốn kết hôn với một Kitô hữu không Công giáo? Đây là cuộc Hôn phối “hỗn hợp” (mixed marriage, that is interdenominational), cần phải được Giáo quyền cho phép rõ ràng [qua phép chuẩn]. Hội thánh đòi đôi bên phải đặc biệt trung thành với Chúa Kitô, tránh gương xấu chia rẽ giữa đôi bên trong một gia đình nhỏ bé, và tránh dẫn đến chỗ bỏ thực hành đức tin. (YouCat, số 267)

 SUY NIỆM: Sự khác biệt về niềm tin giữa một bên Công giáo một bên được Rửa tội ngoài Công giáo không phải là ngăn trở không thể vượt qua được để kết hôn, khi cả hai đạt tới chỗ đóng góp chung cho nhau những gì mỗi bên đã nhận nơi cộng đoàn của mình, và giúp nhau biết cách mỗi bên trung thành với Chúa Kitô. (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1634)

❦  Phép chuẩn: Giáo luật của Hội thánh có nói đến phép chuẩn, đó là việc cho phép không giữ đúng luật Hội thánh. Chỉ có Giám mục hoặc Tòa Thánh có quyền ban phép chuẩn. (YouCat, số 267 t.t.)

 LẮNG NGHE: Chị em là những người vợ, chị em hãy phục tùng chồng, như vậy, dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở trinh tiết và cung kính của chị em. (1 Pr 3:1-2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con dâng lên Chúa những cặp vợ chồng đang sống trong cuộc Hôn phối “hỗn hợp”, xin cho họ biết gắn bó cả hai đạt tới chỗ đóng góp chung cho nhau những gì mỗi bên đã nhận nơi cộng đoàn của mình, và giúp nhau biết cách mỗi bên trung thành với Chúa Kitô.

THỰC HÀNH: Làm một thay đổi nhỏ trong cách ứng xử của mình để mang lại bình an và hạnh phúc trong môi trường sống.

From: Do Dzung

YÊU TRONG TÌNH CHÚA | LM NGUYỄN SANG – HƯƠNG LAN