Vô trách nhiệm và vô cảm

Vô trách nhiệm và vô cảm

Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều khuyết tật, nhưng hai khuyết tật chính, theo tôi, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là: Một, sự vô trách nhiệm của các cán bộ, kể cả các cán bộ lãnh đạo; và hai, sự vô cảm của dân chúng, kể cả các thành phần trí thức.

Đã có nhiều người viết và nói về sự vô cảm của dân chúng. Nói một cách tóm tắt, sự vô cảm ấy có ba biểu hiện chính.

Thứ nhất, vô cảm trước những đau khổ của người khác. Đã đành ở Việt Nam vẫn có những người quan tâm đến dân oan, đến những người bệnh tật và nghèo khổ trong xã hội. Nhưng rõ ràng đó chỉ là thiểu số, một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Còn đại đa số thì vẫn dửng dưng. Tai nạn xảy ra ngoài đường: người ta dửng dưng. Vô số người không có đủ cơm ăn, áo mặc: người ta dửng dưng. Bao nhiêu người bị chà đạp: người ta dửng dưng. Hình ảnh tiêu biểu nhất cho loại dửng dưng này là các youtube ghi hình ảnh một số học sinh bị bạn bè đánh đập một cách tàn nhẫn: Tất cả những người chung quanh đều yên lặng đứng nhìn, không có chút nỗ lực can thiệp hay thậm chí, cũng không bày tỏ một thái độ nào cả. Họ nhìn một cách hờ hững như không có chuyện bất bình thường nào đang xảy ra ngay trước mắt mình cả.

Thứ hai, vô cảm các các tệ nạn trong xã hội. Ai cũng biết xã hội Việt Nam đầy những tệ nạn. Tệ nạn từ trong nhà đến trường học và ngoài xã hội. Tuy nhiên số người thực sự quan tâm rất ít. Thấy kết quả điều tra của quốc tế về chất lượng sống, ở đó, Việt Nam bị xếp vào dưới đáy cùng của thế giới, thậm chí, còn thua cả Campuchia và Lào, cũng không có mấy người động lòng. Mỗi người hầu như chỉ nhìn vào sự thành công hay thất bại của bản thân mình, còn tệ nạn xã hội nói chung là thuộc về trách nhiệm của những ai khác.

Thứ ba, vô cảm trước tình hình của đất nước. Ở đây lại có nhiều khía cạnh. Kinh tế Việt Nam càng lúc càng sa lầy trong nợ nần: người ta mặc kệ. Giáo dục Việt Nam càng ngày càng xuống dốc: người ta mặc kệ. Văn hoá càng lúc càng suy thoái: người ta mặc kệ. Đạo đức càng ngày càng suy đồi: người ta mặc kệ. Quan trọng nhất, Việt Nam càng ngày càng đối diện với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược: người ta cũng mặc kệ. Tất cả những thái độ mặc kệ ấy có một cái tên chung: sợ chính trị. Ai cũng né tránh chính trị. Người ta phó thác chuyện chính trị, từ đối nội đến đối ngoại, cho chính phủ và đảng cầm quyền. Người ta thừa biết chính phủ và đảng cầm quyền cũng đang bế tắc, không tìm ra một phương hướng hay sách lược nào để giải quyết cả, người ta vẫn bất chấp.

Tôi có khá nhiều bạn bè thuộc giới trí thức trong nước. Hỏi chuyện, ai cũng biết tất cả những nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác.

Dân chúng như thế, còn cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo thì sao? Thì ở đâu cũng thấy một điều: Vô trách nhiệm.

Biển hiện đầu tiên của tinh thần vô trách nhiệm ấy được nhìn thấy trong công việc làm hàng ngày của họ. Ví dụ gần đây nhất là những chuyện liên quan đến cây xanh ở Hà Nội. Thành phố chủ trương chặt hơn 7000 cây xanh mà không hề nghiên cứu cẩn thận những cây nào là đáng chặt. Đến lúc dân chúng phản đối kịch liệt, người ta mới dừng lại. Sau đó, trồng cây thế. Hứa trồng cây vàng tâm nhưng thực tế lại trồng cây mỡ, một loại cây rẻ tiền hơn. Cũng chưa hết. Sau trận dông lốc vừa rồi làm hàng ngàn cây bị bứng gốc đổ nhào, người dân mới phát hiện rễ những cây mới trồng còn để nguyên cả bao ny lông chung quanh. Đến lúc dân chúng tố cáo, người ta mới lén lút để cào đất và cắt các bao ny lông ấy ra. Tất cả diễn tiến chặt cây rồi trồng cây ấy cho thấy điều gì? – Sự vô trách nhiệm. Không phải chỉ những người thợ chặt cây hay trồng cây vô trách nhiệm mà cả giới lãnh đạo của họ, thậm chí, lãnh đạo của cả thành phố cũng vô trách nhiệm.

Những hành động vô trách nhiệm ấy xuất hiện ở khắp nơi: xây đường thì chỉ vài tháng, hay có khi, vài tuần là bị sụp lún. Trồng trụ điện thì không có cốt sắt nên cứ gặp gió lớn là bị đổ. Dây điện treo lằng nhằng và lòng thòng ngay trên đầu dân chúng cũng không ai để ý.

Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ vô trách nhiệm đối với đất nước. Trong cái gọi là đất nước ấy, khía cạnh quan trọng nhất là độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ; trong khía cạnh ấy, yếu tố nòng cốt là các hiểm hoạ đến từ Trung Quốc. Chỉ nêu các sự kiện gần đây nhất làm ví dụ. Đó là việc Trung Quốc cho bồi đắp các bãi đá ngầm hoặc rạn san hô làm đảo nhân tạo. Việt Nam phản ứng ra sao? Cũng chỉ là những lời phản đối lấy lệ của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Ngay trên diễn đàn cuộc đối thoại Shangri-la ở Singapore vừa rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng không tham dự. Chỉ có Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh hiện diện. Nhưng ông Vịnh cũng không phát biểu gì cả. Ông chỉ làm một việc như ông tự nhận là “lắng nghe”. Như những diễn biến mới nhất liên quan đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông là thuộc trách nhiệm của ai khác.

Theo dõi tin tức từ báo chí những tháng gần đây, người ta thấy rõ quốc gia có phản ứng gay gắt nhất trước hành động xây đảo nhân tạo ở Trường Sa chính là Mỹ. Cho máy bay vờn qua vờn lại chung quanh các hòn đảo nhân tạo ấy là Mỹ. Tố cáo và phản đối âm mưu xây đảo nhân tạo ấy của Trung Quốc cũng là Mỹ. Vận động dư luận thế giới, đặc biệt các quốc gia thuộc nhóm G7, để mọi người thấy rõ âm mưu của Trung Quốc cũng lại là Mỹ. Việt Nam, từ trước đến sau, giữ một sự im lặng rất khó hiểu.

Dường như nhà cầm quyền Việt Nam xem chuyện mang Trung Quốc ra các toà án quốc tế là trách nhiệm của Philippines và lên án các hành động xây dựng đảo nhân đạo trái phép ở Trường Sa là nhiệm vụ của Mỹ. Giới chức Việt Nam thì chỉ khoanh tay đứng nhìn.

Khoanh tay thật ra cũng là một hình thức bó tay.

Bó tay ngay cả trước khi nỗ lực làm một cái gì đó là một sự bó tay rất vô trách nhiệm.

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

17 Tháng 6 2015

Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau:

« Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn.Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp. »


Và Nhà báo kết luận :
«Cái thâm độc của VC là như thế! ».

Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.

Quy chế tỵ nạn chánh trị ở Pháp

Nhắc sơ đến quý độc giả hải ngoại rằng từ ngày 30 tháng tư 1975 trở đi. Người Việt Nam đến ở Pháp có thể xin phép ở lại thường trú với quy chế là người tỵ nạn chánh trị. Quy chế tỵ nạn chánh trị được chứng minh bằng tư cách vượt biên trốn chạy ra khỏi biên giới nước Việt Nam của mình, …vượt biên bằng đường bộ, đường biển, vượt biển được tàu buôn vớt, hay vượt biên đến một trại tỵ nạn…Nhưng khi đến nước Pháp, nghĩa là khi được nước Pháp nhận rước vào, việc đầu tiên là làm đơn xin tỵ nạn, kể lể thống thiết nỗi khổ khi phải sống dưới chế độ Cộng sản và tuyên thệ không trở về quê cũ, nói rằng (hù dọa rằng) khi mình trở về nước mình, thì sẽ lãnh cái búa của Việt Cộng. Và cơ quan bảo vệ người tỵ nạn, ( tức là OFFRA – Office Français des Réfugiés et des Apatrides) sau khi mình tuyên thệ và ký tên hứa hổng về Việt Nam nữa, sẽ cấp cho cái thẻ tỵ nạn, gọi là thẻ OFFRA. Với cái thẻ nầy, người mang thẻ được chứng minh là người réfugié, tức là người tỵ nạn, và từ nay réfugié cũng là người apatride luôn, nghĩa là mình mất luôn cái quyền có một đất nước, có một tổ quốc, mình hết còn là người Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa nữa ( mà mình đã trốn chạy thục mạng thì cũng đâu cần có quốc tịch ấy làm gì ! Mình chỉ còn giữ cái (chủng) tộc Việt, cái Văn hóa, cái tập tục của người Dziệt mình đó thôi ! Từ nay mình nhận nhau, gọi nhau là người mình.

Từ ngữ tây Apatride là vô tổ quốc. Từ ngữ họp bởi tiếp ngữ đầu a = không, phi, hổng có, mậu, (thí dụ apolitique = phi chánh trị). patrie = tổ quốc. a-patride = mậu tổ quốc, phi tổ quốc, hổng có tổ quốc. Từ nay, khi đã vượt biên rồi, người gốc gác miền Nam Việt Nam ta, vì mất cái thẻ căn cước Việt Nam Cộng hòa ( mà dù có, cũng không ai nhìn nhận, vì Việt Nam Cộng hòa đã chết sau ngày 30 tháng tư năm 1975 rồi) và cũng chẳng có, hay chưa có cái chứng mình nhơn dân Việt Cộng nên khi đến Pháp. Sau vài ngày ói mữa, thoát chết, khát nước, bị hải tặc, lêng đêng sóng nước lưng trời, giữa biển cả hãi hùng …, sau một cuộc sống vài tháng, chen chúc nóng nực, chen lấn chầu chực phờ người…. ở một Pilau nào đó ở Mãlai, hay một trại kiểu Songkla ở Thái lan, hay trại gì gì đó… hoặc được tàu Đảo Ánh sáng rước, hoặc theo quy chế đoàn tụ gia đình kiểu tây giấy, tây thiệt, tây giả, tây dỏm … gì cũng được, nhưng khi làm thủ tục với Offra, lãnh giấy réfugié đều mất quy chế công dân Việt Nam và thành người apatride hết trọi.

Mà apatride ngon lắm, apatride và réfugié, là được giấy tạm trú nè (Carte de séjour temporaire), với giấy tạm trú nhận được giấy đi làm (Carte du travail). Có carte du travail, cũng như có thẻ xanh bên Mỹ, là có quyền tự kiếm ăn sanh sống, tự lập, tự chủ đời sống mình rồi !. Đi làm ! có quyền đi làm ! mà bên Tây nầy, có quyền đi làm là có trợ cấp Bảo hiểm Xã hôi (Sécurité Sociale), do ông chủ đóng tiền, do mình đóng tiền, (chút chút thôi),… do Nhà nước Chánh phủ Tây tổ chức : đi Bác sĩ gần như miễn phí ( 75 % chí phí được hoàn lại), nằm Nhà thương cũng gần như miễn phí (75 %), sản phụ sanh con, thì chắc chắc free rồi (100%), còn thuê nhà không trả nỗi thì có trợ cấp nhà, APL (Allocation Pour le Logement = một loại tiền housing kiểu Mỹ). Chưa kể một lô trợ cấp khác : trợ cấp con nhiều con ít, trợ cấp mẹ đơn chiếc không chồng mà phải nuôi con, đẻ con cho con bú thì trợ cấp cho con bú – allocation d’allaitement, không có sữa, hay sợ xệ vú không cho con bú mà phải đi mua sữa bò hay sữa bột (hiệu Guigoz chẳng hạn) thì có trợ cấp mua sữa. ..Nói tóm lại khi đã có giấy tỵ nạn tạm trú rồi thì cũng như dân tây local địa phương đẻ ở đây dzậy! Họ hưởng cái gì mình hưỏng cái đó. Có thẻ đi làm, có nghĩa là không phải bắt buộc phải đi làm. Tiếng Tây ba xí ba tú, chưa thông ? Tây cho đi học, thế là kể như đi làm, trợ cấp dzô đầy mâm. Hổng biết nghề vì hồi bên Việt Nam, chuyên ra Chợ cũ chạp áp-phe, bây giờ phải đi học nghề, Tây cho đi học. Mà đi học, thì kể như đi làm. Réfugié mới đến có quy chế đi học nghề, đi tìm nghề, chưa làm việc ngày nào cũng lãnh tiền đi học, ngang bằng tiền thất nghiệp. Dân Tấy nó làm thụt con mắt, điếc con ráy, mới được lãnh thất nghiệp, đây mình chưn ướt chưn ráo, ba xí ba tú, có tiền đi học tiếng Tây, học nghề học nghiệp vẫn lãnh tiền khỏe re ! Còn muốn đi du lịch, no problem, có cái giấy Thông hành – Titre de Voyage. Thẻ Du lịch, nghĩa Thẻ đi chơi ( Vì quyền du lịch đi lại là một Nhơn quyền). Quốc gia nào cần visa thì ta mua visa, quốc gia nào tư do đi lại như các quốc láng giềng Pháp ở Tây Âu là cứ đi thả giàn : Ý, Đức, Hòa Lan, Bỉ, Toà Thánh Roma, Đức mẹ Lộ Đức, Fatima, hành hương, du lịch chụp hình tự do…

Chỉ có một cái cấm: dù sao mình cũng là người tỵ nạn mà, là cấm đi du lịch ở các quốc gia gần Việt Nam, nơi mình bỏ xứ ra đi vì « nạn Cộng sản » Lào, Miên và Thái và dỉ nhiên là không đi về Việt Nam, vì mình đã khai là «hổng dìa khi còn bóng dáng Cộng sản là kẻ đã hành hạ mình » để nhận cái căn cước người vô tổ quốc và tỵ nạn.

Nói tóm lại, apatride , réfugié, tỵ nạn có tất cả quyền lợi như người bản địa, trừ một điểm là không phải công dân Pháp, không có quyền ứng cử, bầu cử thôi ! Nhưng thật sự phe ta cũng lè phè, sống theo Tây, bắt chước Tây thích ăn bánh mì Tây, nhưng thích ăn cái cùi (hay bánh mì thịt), thích ra la cà các tiệm cà-phê Tây nhưng để đánh lô tô và cá ngựa. Phần còn lại đời sống xã hội Tây, mặc kệ nó.

(Tây cũng có trò chơi tên là Kéno – người viết biết tên nhưng hổng biết chơi ra sao – ai biết viết lên báo chỉ dùm. Cá nhơn người viết có một cái ngu rất lớn là hổng biết luật lệ cờ bạc gì cả : hổng biết cờ tướng vì khó quá toàn chữ Tàu đã đành, hổng biết cờ échec của Tây, hổng biết cờ dame đánh sao ăn thua sao Tứ sắc không biết, xập xám cũng không, belote cũng chịu, bridge cũng “no-way”, biết đánh croix-zéro, làm chữ thập với vòng tròn chơi lúc thuở học trò thôi. Bạn dắt đi viếng Casino, ở Úc, ở Monaco, ở Las Vegas nhìn vào như nhìn trận đồ bát quái chẳng hiểu gì cả. Poker, phé nghe dzậy OK, nhưng cũng không hiều ra sao. Chắc bữa nào phải tìm một anh bạn chỉ giáo vài chiêu để nói chuyện với đời. Quê quá !)

Việt Kiều

Báo Ép phê khi đang cái tựa dùng từ « Việt kiều Pháp » là sai. Người tỵ nạn ở Pháp gốc Việt Nam không phải là Việt kiều. Vì đã là tỵ nạn là chúng ta đã là apatride rồi, chúng ta không có quốc tịch Việt Nam nữa. Chúng ta là người Việt, chứ chúng ta không phải là công dân Việt Nam, nghĩa là chúng ta không phải là người của nước Việt Nam.

Từ ngữ Việt kiều (les resortissants vietnamiens) nên dùng để gọi những người quốc tịch của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với Thông hành Việt Nam (từ Việt cộng gọi là Hộ chiếu). Việt kiều là người quốc tịch Việt cư ngụ tại Pháp và như vậy có giấy tạm trú của Pháp. Nhưng muốn được tạm trú, phải có giấy chứng nhận của Lãnh sự quán Việt Nam, chứng nhận họ là công dân Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, thông hành Việt Nam, phải hoặc là sanh viên ( có ghi danh ở đại học đóng tiền hoặc có học bổng) hoặc làm việc ở một cơ quan Việt Nam thuộc ngoại giao đoàn, hay có hợp đồng làm việc với một công ty địa phương (Pháp) hay ngoại quốc nhưng có địa chỉ tại địa phương (Pháp) và như vậy được cấp thẻ làm việc của Pháp, và đóng thuế lợi tức cho nước mình cư ngụ và làm việc làm nước Pháp. . Người có quốc tịch Việt Nam đi du lịch ba tháng qua Pháp, cũng không được gọi là Việt kiều, nên gọi là người Việt đi du lịch thôi. (les touristes vietnamiens).

3. Thẻ tạm trú, thể đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dìa Việt Nam chơi đây bây ? Lỡ đưa tay thề với thằng Tây là đến Tết Congo, còn thằng Việt Cộng là ta hổng dìa. Nhưng nhớ đồng nhớ ruộng, nhớ mắm con ba khía, nhớ con cá nướng trui, nhớ làng nhớ xóm…làm sao đây bây?

Dễ lắm : dễ ợt. Tòa Đại sứ Việt Nam Công sản ở Paris bèn tổ chức rất điệu nghệ. Mặc dù hồi đó, tụi bây bỏ tao ra đi theo tiếng gọi tư bản nhưng ngày nay tao cũng ráng thương tụi bây vì tình nghĩa khúc ruột ngàn dặm tha hương. Dễ lắm, tụi bây ráng dzô Hội Việt Kiều Đoàn kết (cựu Liên Hiệp Việt Kiều, cựu Việt Kiều Yêu nước Chống Mỹ Ngụy Cứu nước ). Vô Hôi Đoàn kết xong, vì Hôi có Travel Agency – Agence de Voyage của Hôi, Hội sẽ bán giấy đi du lịch Mã lai. Đến Mã lai, Toà Đại sứ CHXHCN Việt Nam sẽ cầp cho một cái giấy rời xuất cảng nhập cảng Mã lai/ Việt Nam/ Mã lai Aller Retour, Khứ hồi Round trip, giá phải chăng. Về Việt Nam incognito, chẳng ai biết, khi về Pháp cũng chẳng thằng Tây nào biết, mình đi du lịch Mã lai mà, báo hại mấy năm đó sao mà thông kê Mã lai thấy sao nhiều khách du lịch ở Pháp tới đông quá vậy ? nhưng sao các khách sạn hổng có khách phương Tây vãng lai ? Thế là dân tỵ nạn phe ta quên hết tất cả lời thề Kinh kha, « một ra đi không bao giờ trở lại », thiên hạ ùn ùn rủ nhau về Việt Nam. Người Việt tây giấy về đã đành, người tỵ nạn càng về đông hơn. Thoạt đầu còn mắc cở với đám bạn bè chống cộng, lén lén lút lút về …chơi tí, thăm má, thăm tía nay đã già . riết rồi cũng chả thành mắc cở gì nữa, bây giờ tranh nhau xem thằng nào về nhiều hơn thằng nào. Riết rồi, nếu lở tía má có mất, thì về xây mồ, sửa mả. Riết rồi … kẹt quá …ở lại hổng xong với bà xã, bỏ về thì nhớ …con nhỏ vừa mới quen. Rồi bắt đầu trong cộng đồng có những chuyện nho nhỏ « wánh ghen wánh tương » … ! Vài gia đình thôi, hổng bao nhiêu, một thiểu số mà !. Thiệt tình ! quý vị nghĩ coi, đi tù Cộng sản, học tập cải tạo tù đày gia đình không bể, ngon lành ; đi kinh tế mới cũng hổng bể, vượt biên cũng ngon lành hổng bể, qua Tây làm cu-li cực như con chó cũng hổng… Nay mới về Việt nam chợi có một hai chiến gì đó, thằng chả gặp con nhỏ, cà chớn, thế là gia đình bể.

Và một buổi đẹp trời ,Việt cộng nó chơi cú xí mứn ! Nó đưa cách danh sách những người tỵ nạn Việt Nam đi lậu về Việt Nam. Ô thôi bỏ mạng sa trường, thằng hành chánh Tây nó thật thà, thôi kệ tụi tỵ nạn, nó nhớ nhà, nostalgie… mà ! Nhưng Cơ quan Offra, nó đâu có chịu vậy, các anh đã hứa mà, … « Có Việt Cộng là tui hổng dìa ». Nhưng nay cac anh dìa. Mất mặt bầu cua, Offra cúp, không cấp thẻ tỵ nạn nữa !. Thế là mất cả, chì chài, ghe thuyền…mất quy chế tỵ nạn là hết đi làm, hết tạm trú, thường trú… Chỉ còn một cách hoặc về Việt Nam, hoặc vô quốc tịch Việt Nam (Cộng sản). Làm Công dân Công sản Việt Nam tại quốc nội hay làm Việt kiều tại Pháp. To be or not to be .. that is the question!

Chúng tôi đã nghe câu chuyện Việt Cộng chơi cú xí mứn nầy một lần vào năm 1988 rồi. Danh sách lúc ấy vào khoảng đô chưa đến 2000 người ? Nhưng lúc bấy giờ, Offra chơi đẹp, lờ đi và nói rằng từ nay, nếu có những chuyện cần thiết, tang ma, hôn lễ gì gì đó thì được phép về, nhưng phải xin phép và phải chứng minh đàng hoàng. Nhưng phe ta ngon lắm ! chả nhẽ đi sợ thằng Tây. Vả lại Việt Cộng cần tiền mình mà, cần mình về du lịch, chơi đâu cũng dzậy, chơi đây cho em nhờ. Mình hằng năm về ào ào, nó đâu có dại gì mà nó giết con gà đẻ trứng vàng. Nhưng than ôi, cũng tại vì tin cái thằng Bàng Quyên mà ngày hôm nay Tôn Tẩn què giò. Và Việt công chơi luôn một cú thứ hai, rồi cú thứ ba …và từ năm 1988 đến năm 2000, chơi tới luôn bác Tài: trên 22 ngàn tên tỵ nạn bị rút thẻ tỵ nạn.

Và kết quả của ngày nay, Việt kiều càng ngày càng đông vì vô dân Việt Công để ở lại làm ăn ở Pháp ( bắt buộc, vì kẹt giỏ, Có thề ở lại như thường trú nhờ có việc làm, với quy chế immigrant/di cư nhưng vẫn apatride). Và cũng nhờ vậy, người tỵ nạn gốc Việt cũng dzô dân Pháp ào ào cho nó phẻ. Bây giờ mỏa français rồi, mỏa dìa Dziệt Nam vã cẳng (vacances), mỏa hổng sợ chết thằng Tây nào cả. Ngày nay không biết mấy ai còn thẻ tỵ nạn Offra nữa không ? và chuyện dài carte de séjour temporaire chắc cũng chẳng mấy ai kể lể nữa.

4. Người Việt tỵ nạn / Việt Kiều

Nếu ai cắt cớ hỏi, ở Pháp có bao nhiêu người Việt Nam, chúng tôi đành chịu thua, không làm sao biết được, thứ nhứt là vì chánh sách Pháp đối với người ngoại quốc nhập tịch không có thống kê theo cộng đồng. Khi một người ngoại quốc đã nhập Pháp tịch, người ấy vào thống kê người Pháp và phía người ngoại quốc giảm đi một đơn vị. Vì không có thống kê kiểu cộng đồng nên không thể biết cộng đồng Việt Nam bao nhiêu người, còn muốn biết thành phần cộng đồng người Việt Quốc gia tỵ nạn Cộng sản sau năm 1975 trở đi thì càng khó nữa vì rất nhiều người vào Pháp tịch, thêm hồi tịch nữa ( những thành phần sanh ở Nam kỳ trước 1954). Chỉ biết chung chung người gốc Việt Nam chúng ta khá đông, ở nhiều xung quanh các thành phố lớn như Paris và vủng phụ cận, gọi chung là Île de France – tên đặc biệt của vùng phụ cận Paris, đừng dịch, đừng tìm hiểu. Île de France là Île de France, hổng phải Đảo Tây Đảo France gì cả. nó gồm Paris (tỉnh Seine số 75) rồi các tỉnh phụ cận, 77,78, 92,93,95, chúng tôi có dịp sẽ nói đến – Người Việt cũng có mặt ở Marseille rất sớm, hồi thời đệ nhứt thế chiến lận, Montpellier, Toulouse, Bordeaux, Lyon… Người Việt hội nhập rất tốt với dân bản xứ. Các thế hệ 2,3 có mặt đầy ở tất cả các nghề nghiệp. Nhưng rất ít người gốc Việt tham gia vào các đoàn thể chánh trị. Vì pour vivre heureux, vivons cachés( Muốn sống hạnh phúc ta nên sống kín đáo). Trái với cộng đồng người Việt ở Mỹ, người Việt ở Pháp sống rất kín đáo.

Nhưng người tỵ nạn Cộng sản ? nhưng tại sao có cái tin của báo Ép phê?

Người Việt tỵ nạn Cộng sản với các tin giựt gân của tờ báo Ép phê cho biết là một sự thật. Người Việt tỵ nạn Cộng sản ở Pháp phần đông không phải tỵ nạn chánh trị, họ chỉ là những người tỵ nạn kinh tế. Vì vậy khi làm ăn thoải mái ở Pháp rồi thì phải về khoe của với bà con bên nhà. Quyền lợi công dân bên Pháp rất bảo đảm. Người Việt Nam quen tằn tiện, 150 grammes thịt bò xào củ hành cả nhà ăn với cơm và nước mắm. Tây mỗi người một miếng bít tết 250 grammes, đủ so sánh rồi. dành dụm tậu nhà tậu cửa. Gia đình con cái lớn vẫn còn ở với cha mẹ. Con cái Tây 18 tuổi là nói đi ra khỏi nhà rồi.

Thiệt tình, theo kinh tế mà nói, thì người Việt phe ta hổng đem lợi nhuận gì cho Tây cả, ăn thì đi chợ Tàu ( nói chợ Việt nam cho đở tủi thân chứ thật sự hàng hóa Tàu nhiều hơn). Người Việt Nam mình ít tiêu thụ, hàng ăn uống thì á đông, sách báo thì cũng á đông, vừa xin, vừa photocopie, tranh ảnh trên tường trang trí thì lịch tàu lịch tây xin về, treo lẫn với hình chụp đi du lịch. Ít thấy nhà một người Việt nam nào có các tranh thật các họa sĩ, có chăng cũng copies căt từ báo. Đi làm, ăn tiền ông chủ Pháp, ăn tiền chánh phủ Phủ, bệnh hoạn có bảo hiểm xã hội Tây lo, đi Bác sĩ miễn phí, uống thuốc pharmacie Tây miễn phí, (lâu lâu cũng gặp người ghiền cạo gió bằng dầu cù là con cọp phải gời mua tận Mã lai hay Singapore, nhưng đó là trường
hợp rấy hiếm hoi, hi hữu).

Vậy thì sắm xế ? Xế thì có tiền đi xế xịn Mercedès. Xế ít tiền, đi xế Toyota, hay Hyundai, nói tóm lại cũng không mua xe Tây. Vây dư tiền làm gì ? dạ thưa , về chơi Việt Nam. Chơi đâu cũng vậy, chơi đây em nhờ. Giờ đây về Việt Nam, ở Hôtel 5 sao, ở Tây ở Mỹ sức mấy mà vào được những Palace 5 sao ấy. Sức mấy mà có bồi bếp phục vụ. Về Việt Nam có cả. Nào Mủi Né, nào Nha Trang… Người Việt ở Pháp, suốt một năm làm thợ, nghỉ hè, nghỉ Tết, về Việt Nam một tháng làm thầy, thôi cũng đặng !

Chỉ tôi nghiệp cho những người còn tâm huyết ký tên thỉnh nguyện với chánh phủ Mỹ, chánh phủ Úc xin hãy đặt điều kiện Nhơn quyền với chánh phủ Việt Nam. Người Việt tỵ nạn chúng ta có ai đặt điều kiện Nhơn quyền với Hà nôi không ? khi hằng năm gởi về 10 tỷ, khi hằng năm trở về du hý, du lịch ? Mình không thể nhờ người ta đấu tranh Nhơn quyền, cho Dân chủ cho Tự do của dân tộc mình khi mình hổng làm gì hết !

Ít hàng tâm sự cùng quý vị, có đụng chạm phật lòng ai, xin mở lòng tha thứ cho người viết.

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

Việt Nam và những điều kỳ lạ

Việt Nam và những điều kỳ lạ

Cao Huy Huân

26.02.2015

Đầu năm Ất Mùi, xin kính chúc các độc giả một năm mới thành công và thắng lợi. Vì là dịp đầu năm cho nên tôi cũng dành cho bài viết này những điều trăn trở nhất của mình về đất nước mà tôi sinh sống. Thời đại này là thời đại mở cửa ra thế giới, nhìn ra xung quanh và ngẫm nghĩ lại chính mình để thay đổi những điều đang cần thay đổi, điều chỉnh những cái chưa hay, bãi bỏ những cái trì trệ và phát huy những cái tốt đẹp. Ở xứ này, có nhiều điều rất kì lạ, kì lạ đến mức khó mà tìm thấy ở nơi nào trên thế giới. Vấn đề là những điều kì lạ này không phải tự nhiên mà có, mà tất cả đều xuất phát từ con người. Sau đây xin phép liệt kê những điều kì lạ đó.

1. Trên thế giới này chỉ có ba quốc gia áp dụng hình thức sổ hộ khẩu là Trung Quốc, BắcTriều Tiên và Việt Nam. Chưa biết hình thức này có ích lợi gì không nhưng ba quốc gia này cũng là những quốc gia bị liệt vào hàng không có nhân quyền. Thử tưởng tượng, đem khẩu hiệu “nhà nước của dân, do dân và vì dân” ra so sánh với sổ hộ khẩu thì bỗng dưng cái khẩu hiệu đó mất hiệu lực từ khi nào. Mặc dù là công dân của nước Việt Nam nhưng lại không được phép tự do chuyển chỗ ở trong vòng lãnh thổ Việt Nam, đi đâu cũng phải trình phải báo, đăng ký tạm trú tạm vắng.

2. Thêm một vấn đề nữa cũng liên quan đến cái hộ khẩu. Đại loại là nếu như Hoa Kỳ cũng áp dụng hình thức hộ khẩu như Việt Nam thì khi một người đang sinh sống ở Hawaii nhưng có hộ khẩu ở Alaska, thì khi người đó mua một chiếc xe ở Hawaii, vẫn phải tìm cách đưa chiếc xe đó về Alaska mà đăng ký lưu hành. Thật là khó khăn, mất thời gian, công sức và lãng phí biết bao nhiêu thứ chỉ vì cái hình thức nhảm nhí này. Cũng chả biết mục đích của hình thức đăng ký lưu hành phương tiện giao thông này có ý nghĩa gì, chỉ biết là nó vô cùng phiền toái và vô nghĩa.

3. Chưa có quốc gia nào trong mỗi chương trình đại học hay cao đẳng đều phải có chứng chỉ về lý thuyết triết học Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Các quốc gia khác không tuyên truyền về những lý thuyết đó cho tầng lớp trí thức tương lai của mình. Với họ, làm người tốt và có ích cho xã hội là đủ rồi. Nếu hỏi thử các bạn sinh viên xem có thích học những lý thuyết đó không, chắc chắn đa số câu trả lời sẽ là không. Bản thân tôi cũng từng học qua, vấn đề là thời gian đi học những môn đó, tôi chỉ đến cho có mặt điểm danh rồi ngồi dưới làm việc riêng, những sinh viên khác cũng như vậy, chả ai muốn lắng nghe những lý thuyết suông như vậy. Đến khi thi cử, thật xấu hổ, nhưng tôi phần học vẹt phần chuẩn bị tài liệu quay cóp chứ thật tình chẳng thể nào thấm nổi những lý thuyết đó vào đầu để mà trả lời câu hỏi. Mỗi sinh viên trung bình tốn 3 học kỳ cho các lý thuyết đó, và cuối cùng cái nhận được là con số không và sự mơ màng về giá trị nền thể chế.

4. Luật lao động quy định phải cung cấp sơ yếu lý lịch khi tham gia lao động thậm chí ở những doanh nghiệp nước ngoài. Trong sơ yếu lý lịch cần nêu rõ thông tin bản thân và gia đình trước và sau năm 1975 đã và đang làm gì. Thật sự cần thiết thông tin đó sao? Năng lực làm việc của một người thứ nhất không liên quan đến gia đình họ và thứ hai cũng chẳng liên quan gì đến cái năm 1975 đó. Và thực tế đã chứng minh, năng suất làm việc của dân Việt Nam được xếp hàng lè tè ở thế giới và khu vực. Chắc là có liên quan đến năm 1975.

5. Luật Việt Nam quy định không cho phép một người nam mang quốc tịch nước ngoài và một người nữ mang quốc tịch Việt Nam ở chung một phòng khách sạn khi hai người không có giấy chứng minh đã kết hôn với nhau. Tuy nhiên, nếu một người nam mang quốc tịch Việt Nam và một người nữ mang quốc tịch nước ngoài ở chung một phòng khách sạn thì không sao. Cũng chẳng có vi phạm gì nếu đó là hai người nam hoặc hai người nữ. Vậy cuối cùng, mục đích của cái luật đó là gì? Nếu luật đưa ra mà chẳng để có mục đích gì thì chẳng khác nào làm trò cười cho thiên hạ.

6. Mới đây Bộ Công thương ra nghị định mới về việc đóng thuế đối với hình thức kinh doanh qua mạng xã hội, mà phổ biến ở Việt Nam hiện là Facebook. Điều đáng nói là những quy định mới này rất mập mờ và khó áp dụng, ví như chuyện kinh doanh qua Facebook thì người bán hàng phải có nghĩa vụ đóng thuế thế nhưng khi được hỏi là hình thức quản lý và quy trình kiểm tra thuế như thế nào thì Bộ này lại đẩy trách nhiệm sang Bộ Tài chính. Sao các Bộ cứ thích làm khó nhau và làm khó người dân như vậy nhỉ?

Thực sự có những điều ở Việt Nam rất khó hiểu nhưng đến giờ vẫn còn áp dụng. Trên đây chỉ là một cơ số nhỏ mà tôi cảm thấy băn khoăn và e ngại nhất cho tình hình xã hội ở Việt Nam nhất. Chắc là còn nhiều điều kì lạ khác nữa nhưng trong vốn kiến thức nông cạn của tôi chưa khám phá ra hết. Đầu năm Ất Mùi chỉ xin cầu cho những điều kì lạ ở Việt Nam sẽ dần thay đổi và biến thành những điều bình thường. Để cho quốc thái, dân an, và mùa xuân luôn ở lại với đất nước mà đáng lẽ ra đã là số một ở châu Á như phát biểu của cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.

Việt Nam ‘câm lặng’ về vụ đốt tàu

Việt Nam ‘câm lặng’ về vụ đốt tàu

Quốc gia láng giềng của Palau là Indonesia thời gian qua đã cho nổ tung và làm chìm 41 tàu cá nước ngoài, trong đó có tàu Việt Nam.

Quốc gia láng giềng của Palau là Indonesia thời gian qua đã cho nổ tung và làm chìm 41 tàu cá nước ngoài, trong đó có tàu Việt Nam.

28.06.2015

Tổng thống một quốc đảo nhỏ bé nằm ở Thái Bình Dương cho biết “không nhận được hồi đáp” từ chính phủ Việt Nam liên quan tới các vụ bắt giữ và đốt cháy tàu cá của ngư dân Việt.

Ông Tommy Remengesau được trích lời nói rằng chính quyền Palau “không nhận được bất kỳ phản hồi tích cực nào từ chính phủ Việt Nam thông qua đại sứ quán ở Philippines”.

“Thậm chí việc yêu cầu người phiên dịch cho công dân của họ mà đại sứ quán cũng không trả lời. Thế nên, chúng tôi phải tìm người phiên dịch từ bên ngoài”, ông Remengesau nói.

Tổng thống Palau bày tỏ hy vọng rằng chính quyền Hà Nội sẽ ngồi vào bàn đàm phán để thảo luận về việc ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép trên lãnh hải của nước ông.

Ông Remengesau cũng nói rằng ông hy vọng Việt Nam hiểu được thông điệp rằng nước ông sẽ không bao giờ dung thứ việc đánh bắt hải sản trái phép.

Hà Nội chưa lên tiếng trước những lời chỉ trích của ông Tommy Remengesau. Nhưng Bộ Ngoại giao Việt Nam mới đây đã lên tiếng kêu gọi chính phủ các nước khác “đối xử một cách nhân đạo với các ngư phủ cũng như tàu cá của Việt Nam dựa trên luật pháp quốc tế cũng như đối xử nhân đạo đối với các ngư dân gặp nạn trên biển”.

Palau hôm 13/6 đã nổi lửa đốt 4 tàu cá của Việt Nam sau khi bắt giữ các tàu này vì đánh bắt hải sản trái phép. Trên khoang của các tàu này chở đầy cá mập, tôm hùm và hải sâm đánh bắt được trước đó.

Sau khi bị tịch thu thiết bị đánh bắt, một số các thuyền bị bắt giữ chuẩn bị đưa khoảng 77 thuyền viên về Việt Nam.

Tổng thống Palau, Tommy Remengesau, nói nước ông muốn gửi một thông điệp mạnh mẽ rằng Palau sẽ không dung thứ những kẻ mà ông gọi là “hải tặc tới ăn cắp nguồn cá của nước này”.

Tin cho hay, kể từ năm 2014, có ít nhất 18 tàu cá của Việt Nam đã bị Palau bắt giữ.

Palau nằm cách Philippines 970 km về phía đông, và là một trong các quốc gia nhỏ nhất thế giới với 20 nghìn dân sinh sống khắp hơn 250 hòn đảo.

Quốc gia láng giềng của Palau là Indonesia thời gian qua đã cho nổ tung và làm chìm 41 tàu cá nước ngoài, trong đó có tàu Việt Nam, đánh bắt trái phép trong lãnh hải của nước này.

Theo RNZI, AP, MOFA, VOA

Những cái cột đèn

Những cái cột đèn

Nguoi-viet.com

Huy Phương

Thời thơ ấu, ở trong một thành phố nhỏ, có hai thứ âm thanh luôn luôn ám ảnh tôi, đó là tiếng chuông chùa và tiếng còi tàu. Trong khi tiếng chuông chùa mang lại sự thanh thản, an nhiên cho những cuộc đời thầm lặng thì tiếng còi tàu luôn luôn thúc giục, kêu gọi thoát ra khỏi những cảnh đời trói buộc, như lời vẫy gọi cho những chuyến đi xa.

Một cột đèn tiêu biểu ở Hà Nội, Việt Nam. Những chiếc loa được gắn trên cột đèn là một thói quen phát xuất từ thập niên 1960, vì nhu cầu tuyên truyền của cuộc chiến thời đó. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Chẳng bao giờ “tôi thấy tôi thương những chuyến tàu,” trái lại từ sân ga, tôi thấy con tàu luôn luôn hăm hở như muốn bứt xiềng lao về phía trước. Tiếng máy phì phò, rít lên từng chặp như chính nó không chịu nỗi kìm hãm ngột ngạt, muốn bung ra, chạy về phía chân trời xa lạ, nhưng hẳn là mênh mông, đầy hy vọng.

Con tàu sẽ đi qua những cánh đồng bát ngát, hít thở lấy mùi vị của cỏ cây, đồng nội; con tàu sẽ chạy qua những nhịp cầu với dòng sông còn ngái ngủ, phủ đầy màn sương buổi sáng; con tàu sẽ chạy đến những thành phố xa lạ, mái ngói lô nhô đầy ánh nắng, gửi những tiếng còi dội vào vách núi, tỏa ra trên bờ cát trắng đang được vỗ về bởi những đợt sóng biển nhẹ nhàng.

Tôi có những người bạn đã may mắn, một ngày lên những con tàu ấy để ra đi. Khi trở lại, họ đã là một con người khác, những thay đổi dưới mắt tôi, là sự tươi tắn, tự tin và cả cuộc sống mới đã làm tôi thèm thuồng, mơ ước.

Còn tôi, trong tuổi ấu thơ, tôi trở về dưới mái nhà tù mù ánh điện vàng, ngạt thở với cái gia đình, nơi đó, tôi đã sinh ra và lớn lên. Mái ấm gia đình nào cũng thân quen, hiền hậu, quyến luyến, không ai muốn bỏ đi, nhưng với tôi là một khung cảnh buồn thảm, phiền muộn.

Những đứa trẻ vừa mới lên quá tuổi mười lăm vẫn thường ghét gia đình cũng như tâm trạng một người vừa đến tuổi trưởng thành muốn rời bỏ thành phố mình đang ở để đi đến một nơi khác. Cho đến một ngày kia, tôi đã được lên con tàu ấy, khởi đầu cho một chuyến đi xa. Rồi con tàu bỏ nhà ga, để lại tất cả ngôi nhà, con sông, chiếc cầu, những khuôn mặt thân quen, bạn bè, cùng những kỷ niệm của thời học trò. Tất cả hình ảnh hai bên con tàu đều chạy giật lùi về phía sau, xa dần, rồi khuất trong tầm mắt. Tôi không hề tiếc nuối, lưu luyến những gì giờ đây đã ở lại sau làn khói đen. Con tàu chạy mãi về phía trước, đi xa và xa mãi.

Không những chỉ đến Sài Gòn, từ Sài Gòn tôi đã vượt qua đại dương, đi hết nửa vòng trái đất, để đến những phương trời xa lạ, được tự do thở hơi mặn nồng của gió biển đại dương, hay may mắn nghe hương thơm của những cánh rừng lục địa.

Tôi có nhiều người bạn thời thơ ấu, sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà của cha mẹ, khi cha mẹ qua đời ở lại trong ngôi nhà ấy. Người bạn này trở thành thầy giáo và trở lại dạy ở ngôi trường cũ mình học, kết hôn với một cô giáo cùng trường và nuôi con cũng lớn lên trong ngôi nhà cũ, mái ngói đã rêu phong ấy. Ngôi nhà mà hai mươi năm về trước tôi đã đứng ở ngoài cổng gọi tên anh cùng đi học, hai mươi năm sau, trở về thành phố cũ, tìm thăm lại bạn ngày xưa, cũng đã gặp lại anh trong ngôi nhà ấy, có thể cũng được ngồi lại trên bộ “trường kỷ” ngày xửa ngày xưa ấy. Có khác chăng là chúng tôi đã lớn lên, trưởng thành mỗi người mỗi cách, và gần như định mệnh đã trói buộc anh, gần nửa cuộc đời, gắn bó với những gì, mà có lẽ đối với tôi, đã trở thành dĩ vãng. Trong câu chuyện, người bạn cũ của tôi đã thổ lộ ý nghĩ của anh, là được như tôi, không phải vì cái địa vị hay công việc tầm thường của tôi, mà chuyện được đi xa và sống xa cái thành phố này.

Đối với cư dân Huế, được sống ở Sài Gòn đã là một điều mơ ước. Đối với người Sài Gòn, những người vượt qua đại dương, đi đến những phương trời xa lạ, hẳn cuộc sống phải tốt đẹp, hạnh phúc hơn.

Trong cảnh đời thay đổi, nay sống, mai chết, cơn lốc của chiến tranh đã chia lìa, xô đẩy người ta đi xa, từ một ngọn nguồn, chia ra làm trăm hướng. Có những sự thay đổi khốc liệt đến ngỡ ngàng, đau xót, cảnh “thương hải, tang điền,” chuyện “sông kia rày đã nên đồng,”để một đêm trở mình xót xa thế sự, “giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!”

Thế nhưng vẫn có những người ở một chỗ, đứng một nơi, vẫn có những cuộc đời bất di bất dịch như một cái nhà ga nhỏ, ở một quận lỵ xa xôi nào đó, chứng kiến biết bao những chuyến tàu đi qua, hối hả với những tiếng máy hào hển, nhả những tàng khói đen trở lại, trong khi nhà ga vẫn đứng đó nhìn theo, và vì nhà ga không có đôi mắt nên không cảm thấy hơi cay mà nhỏ lệ.

Câu chuyện này làm tôi liên tưởng người cô già, trong khi anh em, con cháu đã tản mác hay lưu lạc bốn phương trời, cô vẫn còn ở đó, dưới mái từ đường cũ nát, nơi cô đã sinh ra và lớn lên, chịu cảnh thiệt thòi góa bụa, để lo hương khói và mồ mả cho ông bà, cha mẹ. Không có cô, ai còn lo được chuyện này!

Tôi còn nhớ rõ người đàn bà ngồi bán vé sau “guichet” của rạp chiếu bóng thường trực Vĩnh Lợi trên đường Bonard ngày nào, sau ngày gần một triệu người bỏ miền Bắc di cư vào Nam. Tôi nhớ rõ khuôn mặt và hình ảnh của bà, trong những ngày bỏ học cùng bạn bè chui vào rạp giữa một ngày Sài Gòn nóng bức. Lúc nào cũng thấy bà mặc một bộ y phục màu đen, không hề nghe bà nói, cũng chẳng bao giờ thấy bà cười. Hơn mười năm sau, sau khi lập gia đình, sinh con đẻ cái, vào quân đội, đi nhiều nơi, một ngày trở về thành phố, ngang qua rạp Vĩnh Lợi ngày xưa, tôi vẫn thấy bà lặng lẽ ngồi đó, như tôi đã thấy bà nhiều năm về trước. Hình như mọi sự thay đổi, xáo trộn ở ngoài kia, bà không có can dự hay bà không cần biết tới.

Tôi nghĩ đến những cái cột đèn cùng những số phận của nó.

Ngày xưa ở cái thành phố nhỏ, nhà chật, trời nóng, nhiều muỗi, lũ trẻ vẫn thường đem sách ra ngồi dưới vùng ánh sáng của ngọn đèn đường để học bài. Rồi lũ trẻ lớn lên, đỗ đạt, ra đời, mỗi người đi mỗi hướng, già đi hay thay đổi cùng thời gian. Chúng đã trở lại cái xóm cũ ấy đã bao lần, nhưng vô tâm, thờ ơ, có bao giờ nhớ tới hay nghĩ tới cái cột đèn ngày xưa đã cho bọn trẻ một vùng ánh sáng của chữ nghĩa trong thời thơ ấu.

Bây giờ những chiếc cột đèn không còn mang nguồn ánh sáng vàng vọt nữa, mà tràn đầy một vùng ánh sáng của ngọn đèn huỳnh quang, nhưng vẫn chôn chân nơi ấy, như mỗi số phận đã được an bài cho mỗi người.

Cũng những cái cột đèn đó, trên mình đã mang bao nhiêu khẩu hiệu, qua thời gian và thời đại, được cột trên mình với bao nhiêu sợi thép cứng, da thịt là vôi vữa trên thân thể đôi khi đã vỡ nát, có nơi lòi cả bộ xương sắt thép đã hoen rỉ.

Có những cái cột đèn mà số kiếp đọa đày, bỗng dưng một ngày nọ chịu mang trên mình bao nhiêu chiếc loa nặng nề, để từ đó nhận bao nhiêu lời nguyền rủa. Có thể ngày xưa, những chiếc cột đèn đó đã mang lại ánh sáng cho những vùng tăm tối, nhưng ngày nay chúng mang lại tai họa cho mọi người trong thành phố, với những âm thanh cuồng nộ, chát chúa, như giọng sủa hỗn xược của những con chó muốn chồm đầu vào khung cửa nhà người khác.

Có những chiếc cột đèn mà số phận hẩm hiu sinh ra và nằm cạnh chiếc cửa sổ nhà ai, có thể ngày xưa đã có lần hãnh diện, dù đêm đã khuya, còn rọi ánh sáng vào căn phòng của cô tiểu thơ nhà nọ, nhưng hôm nay lại mang đại họa lại cho cả gia đình này, khi mà người ta không thể bỏ đi, chạy trốn số phận cay nghiệt của định mệnh, đành phải ở lại với tai ương suốt cuộc đời còn lại.

Những cái cột đèn đã bị chôn chân, bị trói tay, không đường vùng vẫy, cựa quậy.

Những cái cột đèn chờ một trận động đất, một cơn bão lửa, hay một trận cuồng phong.

Tôi thấy tôi thương cho những cái cột đèn!

Những cái cột đèn chôn mình suốt đời theo cùng số phận.

Ðồng Nai: Chạy nước rút mua đất quanh phi trường Long Thành

Ðồng Nai: Chạy nước rút mua đất quanh phi trường Long Thành

Nguoi-viet.com

ÐỒNG NAI (NV) – Hàng trăm hecta đất gần khu vực dự kiến xây phi trường Long Thành đã được nhiều chủ đầu tư chuẩn bị sẵn để đợi “sóng” bất động sản.

Khảo sát của VNExpress, cách phi trường quốc tế Long Thành từ vài km đến 30km (cây số) có hàng chục doanh nghiệp chạy đua săn cơ hội ở “vùng đất hứa” này. Quy mô các dự án khá đa dạng từ nhỏ đến cực lớn đều đã xuất hiện khá dày đặc.


Một khu đất ở gần khu vực phi trường Long Thành đã có chủ. (Hình: VNExpress)

Cụ thể, cách phi trường tương lai 2-3km, tại huyện Long Thành đã lộ diện quỹ đất của hàng loạt dự án: Ruby Town 1.6 ha (hecta); Blue Topaz 4.5 ha; Aquamarine Town 20 ha; Victoria City 50 ha. Xa hơn 5-7 km có Long Thành Center 7 ha; Thung Lũng Xanh 45 ha. Ở phường Tam Phước, Biên Hòa, tập đoàn Tín Nghĩa và công ty Phú Tín đã chuẩn bị quỹ đất trên 50 ha, dự kiến triển khai thành hai giai đoạn.

Cách phi trường này khoảng 9 km, thuộc huyện Nhơn Trạch còn xuất hiện dự án Sunflower City có quy mô lên đến 150 ha. Chủ đầu tư dự án đã xây dựng thí điểm nhà ở cho chuyên gia thuê, từ quý II/2015 bắt đầu xây nhà cho khách hàng là công nhân. Gần đó, còn có dự án khá lớn là Detaco Nhơn Trạch, quy mô 47 ha.

Trong khi đó, khu vực có bán kính cách phi trường từ 10-30 km lại bùng nổ dự án quy mô lớn. Ðịa ốc Khang Ðiền chuẩn bị chuỗi dự án Mega lên đến 70 ha dọc theo trục đường cao tốc Sài Gòn-Long Thành-Dầu Giây. Ngoài ra, còn có hàng loạt dự án: Six Sense 55 ha, Khu dân cư Tam An 36 ha, Khu dân cư Thống Nhất 34 ha, Khu dân cư Long Tân và Ðiền Phước 100 hecta. Ðình đám nhất phải kể đến Ðại Phước có quy mô lên tới hơn 400 ha.

Ông Lê Vũ Tuấn Anh, phó tổng giám đốc công ty Thăng Long Real cho biết, không chỉ có các doanh nghiệp và đại gia địa ốc tranh nhau quỹ đất mà ngay cả nhà đầu tư cá nhân cũng không đứng ngoài cuộc.

Tuy nhiên, theo ông Ngô Quang Thắng, chuyên viên tư vấn đầu tư công ty chứng khoán FPTS, điều kiện cần và đủ để đua tranh quỹ đất ở khu vực này là các doanh nghiệp cần có nguồn lực tài chính dài hạn. Bởi không phải ai nắm giữ quỹ đất gần phi trường Long Thành là sẽ thành công vì mỗi dự án bất động sản phụ thuộc rất lớn vào năng lực triển khai của chủ đầu tư như: chính sách bán hàng, sức mạnh tài chính, quy hoạch dự án, đầu tư xây dựng…

Hơn nữa, phi trường Long Thành hiện mới chỉ được thông qua về mặt chủ trương, phải mất ít nhất vài năm nữa thì cơ sở hạ tầng xung quanh phi trường mới thành hình. Trong lúc đó, thị trường bất động sản Việt Nam có thể có biến động khó lường. (Tr.N)

Khủng hoảng rác ở Sài Gòn

Khủng hoảng rác ở Sài Gòn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-06-26

rac-622.jpg

Rác gắn liền với đời sống của người nghèo.

RFA

Your browser does not support the audio element.

Sài Gòn với một thuở mệnh danh hòn ngọc viễn đông, một thuở mà ông Lý Quang Diệu đã từng mơ một ngày nào đó sẽ biến quốc đảo Singapore thành một Sài Gòn khác. Thế rồi câu chuyện về Sài Gòn hoa lệ cũng nhanh chóng đi vào quá khứ, thay vào đó là một Sài Gòn chằng chịt đường dây điện, nhà cửa chồng chất lên nhau, những con đường kẹt xe luôn cho cảm giác Sài Gòn là một tổ mối quá tải và khi mùa mưa đến, những con đường lại hóa thành sông đen chảy ngược chảy xuôi, mang theo rác rưởi và mùi hôi thối tiến thẳng vào nhà dân. Nỗi khủng hoảng về rác ở Sài Gòn đã lên mức báo động đỏ.

Rác khắp nơi

Một cư dân Sài Gòn tên Thủy, chia sẻ với chúng tôi về nỗi quan ngại của chị trước cảnh Sài Gòn ngày càng phì đại những con đường rác: “Nhìn chung thì thành phố bây giờ cũng tương đối khá hơn nhưng khủng hoảng nhất vẫn là những chiếc xe chở rác của các công ty môi trường. Họ cứ mở nguyên cả một hộc rác sau đuôi xe, chạy từ đầu đường đến cuối phố, để lại mùi hôi thối thật là kinh khủng…”

” Thành phố bây giờ cũng tương đối khá hơn nhưng khủng hoảng nhất vẫn là những chiếc xe chở rác của các công ty môi trường. Họ cứ mở nguyên cả một hộc rác sau đuôi xe, chạy từ đầu đường đến cuối phố, để lại mùi hôi thối thật là kinh khủng.
-Bà Thủy”

Theo bà Thủy, vấn đề rác ở Sài Gòn hiện nay là vấn đề đáng báo động, mọi sự đã đi quá khả năng khống chế của con người. Sở dĩ nói như vậy bởi bà căn cứ trên hai yếu tố: Rác xã hội và; Rác tư tưởng. Mà thường thì rác xã hội đến sau rác tư tưởng. Giả thích thêm, bà Thủy cho rằng Sài Gòn giống như một cái hố rác khổng lồ chất đầy rác tư tưởng. Có một thứ chủ nghĩa vốn dĩ đã thành rác của thế giới tiến bộ từ lâu nhưng không may, Sài Gòn lại thành cái hố để chứa nó.

Nhiều con đường Sài Gòn trở thành nơi tập trung của rác vào những chiều cuối tuần. Tuy đã có những qui định về việc không vứt rác bừa bãi nhưng hầu như gười dân cứ vứt rác thoải mái, nơi nào cảm thấy tiện tay thì vứt, miễn sao không vứt vào nhà, ngõ và cửa nhà mình là được.

Và hệ quả của việc này là Sài Gòn dần trở nên phức tạp, mất hẳn vẻ hào hoa và diễm lệ một thuở. Thay vào đó là một Sài Gòn đầy rác xã hội. Ở khái niệm rác xã hội, bà Thủy cho rằng đó là những thứ rác tâm hồn. Khi con người trở nên khô cằn bởi đời sống cạnh tranh khốc liệt, thiếu tình người, cộng với sự hoài nghi, tệ nạn trộm cắp cũng như nạn tham nhũng có tính hệ thống đã phát triển đến độ “phát tiết” thành loại rác hằng ngày, biểu hiện qua những bịch rác mà người ta ném một cách vô tội vạ, vô tâm và vô văn hóa.

Là một người từng du học ở Nhật, bà Thủy cho rằng người Sài Gòn, chỉ riêng việc ứng xử về rác, đến ba trăm năm sau cũng chưa chắc sánh kịp người Nhật Bản. Bởi với người Nhật, các thùng rác luôn có ba lổ để phân loại rác công nghiệp, rác thô và rác phi công nghiệp. Trong lúc du học, bà học được của người Nhật thái độ yêu quí những người lao động nghèo. Trong đó có cả việc súc thật sạch các vỏ chai, bóp thật kĩ các vỏ lon cho gọn gẽ và phân loại từng thứ rác riêng trước khi bỏ vào thùng rác.

rac-400.jpg

Rác được phân loại để tái chế tại một cửa hàng ve chai. RFA PHOTO.

Hành vi phân loại tỉ mỉ từng loại rác không chỉ cho thấy trách nhiệm của mỗi người sau khi sử dụng một loại sản phẩm nào đó và thải những thứ phế bỏ vào xã hội, tự nhiên mà nó còn cho thấy tính sâu sắc, suy nghĩ đứng đắn của con người ở đây. Người ta không hô hào theo kiểu hãy bảo vệ, thương yêu và chia sẻ với người nghèo bằng miệng lưỡi đãi bôi mà người ta ý thức được trong từng chi tiết hành động nhằm đảm bảo người nghèo, người lao động bậc thấp không bị tổn thương. Rửa sạch vỏ chai, vỏ lon trước khi phân loại và bỏ vào thùng rác theo thứ tự từng loại là một hành vi thể hiện lòng yêu thương, nễ trọng và bình đẳng giữa con người với con người.

Còn với Sài Gòn hiện tại, người ta vứt rác vô tội vạ, chỉ cần thấy chỗ nào có thể vứt được là vứt. Đương nhiên vẫn có nhiều người ý thức và trăn trở về chuyện rác Sài Gòn. Nhưng rất tiếc con số này rất nhỏ. Con số vô tâm, vứt rác bừa bãi lại chiếm rất đông, thậm chí có người ngồi trên xe hơi mang biển số đẹp, xe hơi khủng ngang nhiên vứt rác xuống đường và họ xem thành phố giống như một bãi rác không bờ bến, muốn vứt thì cứ vứt, chẳng cần phải suy nghĩ!

Chính những nếp nghĩ hết sức ấu trĩ này đã mang lại cho Sài Gòn một bầu khí quyển chứa toàn mùi rác. Đó là chưa nói đến kiểu làm việc đậm chất cơ chế và quan liêu của một số công ty vệ sinh môi trường đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy rác, tranh chấp bãi đổ rác nhưng lại không nghĩ đến phương án xử lý rác. Vô hình trung, rác lại thành một thứ cơ hội để người ta đút lót, tham nhũng.

Và những con sông đen

Ông Trọng, một cư dân đang sống ở gần chợ Thị Nghè, buồn bã chia sẻ: “Bây giờ nhìn cũng khá hơn đôi chút nhờ nạo vét các con kênh. Tuy nhiên nhìn chung thì việc nạo vét vẫn không tới đâu bởi còn quá nhiều con kênh và dòng sông nước đen ngòm, hôi thối. Ý thức bảo vệ môi trường của người dân mình quá kém, khó có thể mà giữ được thành phố sạch đẹp nếu như ý thức người dân cứ lẹt đẹt như thế. Đó là chưa muốn nói đến những chuyện khác…”

” Ý thức bảo vệ môi trường của người dân mình quá kém, khó có thể mà giữ được thành phố sạch đẹp nếu như ý thức người dân cứ lẹt đẹt như thế. Đó là chưa muốn nói đến những chuyện khác…
-Ông Trọng”

Theo ông Trọng, mọi con sông ở Sài Gòn đã trở nên hết sức dơ bẩn, cho dù có nạo vét hay xử lý cách nào, tốn cả ngàn tỉ đồng cũng chỉ để làm sạch tạm thời rồi sau đó lại tiếp tục dơ dáy chứ không thể nào giữ được độ sạch lâu dài.

Sở dĩ có chuyện vô lý khi đất nước còn nghèo, ngân sách quốc gia còn eo hẹp nhưng nhà nước phải dùng tiền ngân sách từ thuế của dân để nạo vét sông để rồi vài năm sau đâu lại vào đó là do nhiều nguyên nhân. Ý thức người dân kém là một phần nhưng phần quan trọng hơn cả là môi trường chính trị không trong sạch.

Cũng theo ông Trọng, việc hạn chế rác rưởi tràn lan ở Sài Gòn không khó, việc đầu tiên là phải dọn sạch rác trong hệ thống chính trị. Một khi hệ thống chính trị không còn rác rưởi, tư tưởng người dân sẽ thông thoáng tỉ lệ và ý thức làm sạch môi trường chung quanh sẽ dần được phục hồi, thành phố sẽ tự dưng xanh, sạch, đẹp.

Để khẳng định vấn đề mình nói là có cơ sở, ông Trọng đưa ra mức cược gồm hai căn biệt thự ông đang sở hữu tại khu Phú Mỹ Hưng, Sài Gòn. Ông nói rằng nếu như hệ thống chính trị thực sự trong sạch mà Sài Gòn vẫn còn nhiều rác thì ông sẽ chung cho chúng tôi hai căn biệt thự.

Ngược lại, nếu hệ thống chính trị còn lắm chuyện rác rưởi như hiện tại mà Sài Gòn sạch rác thì ông chỉ cần chúng tôi chung cho ông đúng hai lon bia Heiniken. Đương nhiên chúng tôi không nhận lời thách thức cá độ này vì dù thắng hay thua thì cũng chẳng hay ho gì, thậm chí thêm đau đầu.

Nhưng dẫu sao thì vấn đề ông Trọng nêu ra cũng để lại ấn tượng sâu sắc với chúng tôi!

Diễn viên bị cướp khi đang đóng phim giữa Sài Gòn

Diễn viên bị cướp khi đang đóng phim giữa Sài Gòn

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Ðang cùng đồng nghiệp đóng phim trên chiếc xe hơi mui trần thì nữ diễn viên Kim Tuyến bị nhóm cướp áp sát, giật chiếc túi hàng hiệu. Camera gắn trên xe hơi đã ghi được hình ảnh tên cướp.

Theo Người Lao Ðộng, trưa 25 tháng 6, 2015, công an xã Bình Hưng xác nhận đã phúc trình công an huyện Bình Chánh, thành phố Sài Gòn, để làm rõ việc nữ diễn viên Kim Tuyến và Minh Luân trình báo việc bị cướp giật trên đường 9A, khu dân cư Trung Sơn, huyện Bình Chánh, lúc đang quay phim.


Nhờ có camera mà hình ảnh tên cướp được ghi lại rõ ràng. (Hình: Người Lao Ðộng)

Trên trang Facebook, diễn viên Kim Tuyến chia sẻ: “Báo động tình trạng cướp giật lộng hành… số là trong lúc Kim Tuyến thực hiện cảnh quay đường phố cùng diễn viên Minh Luân thì đã bị bọn ăn cướp dàn cảnh cướp giật… Nếu các bạn có quen biết thì né nhé hoặc inbox cho Kim Tuyến. Mong rằng sớm nhận được tin để lấy lại túi xách raccord và giấy tờ của Kim Tuyến bên trong…,” Kim Tuyến chia sẻ.

Trả lời báo Người Lao Ðộng, diễn viên Kim Tuyến và Minh Luân xác nhận chuyện 2 người bị cướp là có thật và kể lại tường tận sự việc. Kim Tuyến cho biết, khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, cô cùng đồng nghiệp Minh Luân tham gia một cảnh quay của phim “Hồn Lụa” trên xe hơi mui trần tại đường 9A, khu dân cư Trung Sơn, huyện Bình Chánh. Do yêu cầu cảnh quay ngoài trời nắng, máy quay được gắn trên đầu xe hơi nên hai người tự diễn, không có đoàn phim đi chung. “Trên đường có nhiều người đi xung quanh,” Kim Tuyến kể.

Xe đang chạy thì một xe máy vượt lên rồi đi chậm lại, khiến diễn viên Minh Luân phải dừng xe do sợ va chạm. Bất ngờ lúc này bên hông xe hơi xuất hiện xe máy của hai thanh niên khác áp sát, giật phăng chiếc túi xách để trên đùi của nữ diễn viên Kim Tuyến.

“Ðúng là xui xẻo thiệt! Ðang quay phim mà cướp cũng không tha… Bị 3 xe dàn cảnh, 1 xe chặn đầu, 1 xe chở tên cướp và 1 xe không đuổi theo… May là mình nhanh tay giữ cái iPhone nên không bị cướp nhưng bạn Kim Tuyến thì mất sạch,” Minh Luân chia sẻ.

Tuy không bị thương tích nhưng Kim Tuyến cho biết mình rất hoảng loạn và mất hết giấy tờ tùy thân như chứng minh thư, bằng lái xe và tài sản khoảng 40 triệu đồng. (Tr.N)

Nhà báo Phạm Chí Dũng bị bắt ở Sài Gòn

Nhà báo Phạm Chí Dũng bị bắt ở Sài Gòn

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, chủ tịch  Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, vừa bị bắt ở Sài Gòn lúc 8 giờ sáng Thứ Năm, 25 Tháng Sáu, giờ Việt Nam.

Nhà báo Phạm Chí Dũng. (Hình: Chuacuuthe.com)

Một nguồn tin của báo Người Việt thuật lời của Thụy My của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) cho biết, bà ‘nhận được một tin nhắn vỏn vẹn ba chữ: ‘Anh bị bắt.’

‘Ngay sau đó là một cuộc gọi ngắn gọn của Phạm Chí Dũng, cho biết sáng nay anh vừa ra khỏi nhà thì bị khoảng hai chục người dùng vũ lực buộc anh phải theo họ. Anh tỏ ra rất bình tĩnh.’

Nguồn tin này cho hay, ‘trước đó vài tiếng đồng hồ, anh Phạm Chí Dũng rất vui khi được tin TPA vừa được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua với số phiếu 60-38.’

Và thêm rằng: ‘Những cuộc gọi liên tiếp sau đó vào số điện thoại của anh, tất nhiên là không có hồi đáp – máy bị tắt, hoặc đổ chuông nhưng không ai bắt máy.’

Nhà báo Phạm Chí Dũng được xem là nhà quan sát về chính trị có tiếng ở Việt Nam. Ông cộng tác viết bài, trả lời phỏng vấn của hầu hết các đài phát thanh quốc tế Việt ngữ như RFI, BBC, VOA và RFA. Riêng trên báo Người Việt, ông thường có bài viết nhận định về tình hình Việt Nam cả trên Nhật báo mỗi Thứ Hai hàng tuần và trên Người Việt Online.

Phạm Chí Dũng sinh năm 1966, ông từng là nhà báo, là hội viên Hội Nhà văn thành phố Sài Gòn và từng là đảng viên cộng sản.

Ngày 5 tháng 12 năm 2013, ông Dũng làm đơn xin ra khỏi đảng, vì cho là:”Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân.”

Ngày 04 tháng 7 năm 2014, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tuyên bố thành lập và ông Phạm Chí Dũng được bầu làm chủ tịch.

Khái niệm thành lập hội bắt nguồn từ Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà blogger  Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) là thành viên chủ chốt. Tổ chức đó sau khi thành hình năm 2007, ông Nguyễn Văn Hải bị truy tố và tổ chức này tan vỡ.

Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Auskar Surbakti của đài ABC TV 24 Australian vào ngày 28 tháng 7 2014, Chủ tịch Phạm Chí Dũng nói : “Nếu họ có tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam thì họ không cần phải lập hội này. Hội này gồm những người mà muốn có tiếng nói độc lập, muốn chỉ trích những chính sách sai lầm của chính phủ.”

Hồi năm ngoái, nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng 5, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Paris, lần đầu tiên đã công bố danh sách « 100 anh hùng thông tin » năm 2014, gồm các nhà báo và blogger ở 65 quốc gia trên thế giới. Trong số ba người Việt Nam được vinh danh có ông Phạm Chí Dũng.

Ông Phạm Chí Dũng từng bị an ninh Việt Nam tịch thu hộ chiếu khi ông ra phi trường Tân Sơn Nhất đi tham dự cuộc hội thảo về vấn đề dân chủ và nhân quyền cùng buổi kiểm điểm nhân quyền UPR do Liên Hiệp Quốc tổ chức mà Việt Nam là một trong những nước phải trả lời việc này vào ngày 5 tháng 2, 2014 ở Geneva, do tổ chức UN Watch mời. (KN)

Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.

Margaret Thatcher

Tôi rời Cali đã lâu. Đủ lâu để bắt đầu thấy nhớ ánh nắng dịu dàng của Thung Lũng Hoa Vàng, và thèm tô phở gà (Nguyễn Huệ) trên phố Bolsa. Nắng Phnom Penh không chỉ chói chang mà còn nóng bỏng, và phở Nam Vang thì vô cùng nhạt nhẽo, và hoàn toàn không có mùi vị gì ráo trọi. Nó gần giống như cái thứ hủ tíu ăn liền ở một quán ăn xa xôi, nghèo nàn (nào đó) dù luôn có thịt bò tươi. Rất tươi và cũng rất dai, mười tô như chục.

Thiệt là hoạ vô đơn chí: nóng chịu không thấu; dở nuốt không vô. May mà có bia, đời còn dễ thương!

Có ai ngờ California (cứ tưởng là chốn tạm dung) lại có thể hoá “ngang” thành một thứ … quê hương thứ hai cho những hạt bụi đường viễn xứ, và mọi thứ đến từ “quê mình” đều bỗng trở nên gần gũi  – kể cả email.

Hôm rồi, ký giả Nguyễn Tuyển gửi thư tâm tình: “Tác giả Đèn Cù tới Quận Cam. Tôi có ngồi nói chuyện với ông ấy nhưng không được nhiều vì bận làm tin cho tờ báo. Ông có vẻ lạc quan, tin rằng chỉ hai ba năm nữa là chúng nó có thể sập. Dựa vào sự oán ghét, căm hận của người dân khắp nơi, ông ấy bảo Việt Nam như cái nồi nước sôi mà đậy nắp kín, thế nào cũng phải bung.”

Sự “lạc quan” của Trần Đĩnh khiến tôi nhớ đến một người cầm bút khác: Trần Khải Thanh Thủy. Mùa Hè năm kia, khi chúng tôi đang cùng Phan Quang Tuệ và Đỗ Thành Công ngồi bệt trước Lãnh Sự Quán (của nhà đương cuộc Hà Nội) ở San Francisco, cô bỗng nhỏ giọng nghiêm trang: “Chỉ vài tháng nữa là chúng nó đổ thôi. Qũy hưu trí cạn tiệt rồi, anh ạ.”

“Chúng nó” (rõ ràng) đã không “đổ” như Trần Khải Thanh Thuỷ mong đợi, và không chắc sẽ “xập” như Trần Đĩnh dự đoán. Chúng ta vẫn thường không nhìn thực tại như nó là mà chỉ như mình muốn. Đây là tâm cảm bình thường, và tự nhiên của mọi người trước hiện cảnh bức bối (và bí lối) hiện nay của đất nước.

Không phải ai cũng chia sẻ sự lạc quan và ước vọng của Trần Đĩnh và Trần Khải Thanh Thủy nhưng tất cả (tôi nói lại: tất cả) đều rất bi quan về tương lai của chế độ hiện hành. Chín mươi ngàn công nhân của Pouen, cùng đồng nghiệp ở những Long An, Tây Ninh, Tiền Giang đã lãng công (hồi tháng ba vừa qua) để phản đối điều 60 Luật BHXH  – điều luật chỉ cho phép người lao động nhận tiền BHXH một lần khi về hưu – chính vì họ nghi ngại về khả năng giữ tiền (và giữ quyền) của Nhà Nước trong những ngày tháng tới.

Ảnh: tuoitre.vn

Mọi giới chức có thẩm quyền, và có liên quan đến vấn đề BHXH, đều biết (rõ) như thế nhưng không ai dám thừa nhận như vậy. Tất cả đều chỉ nói dối quanh:

  • Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng: Việc công nhân phản ứng Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014 có nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do công tác tuyên truyền đến phổ biến pháp luật chưa tốt nên khi động đến lợi ích trước mắt là có phản ứng dù luật chưa có hiệu lực. Có lẽ đây là lời nói dối trơ tráo nhất của ông Hùng. Luật BHXH mới được cái quốc hội của ông ta thảo luận “chui” và thông qua “lén,” có dám cho ai biết đâu (cho tới khi công bố) mà bảo rằng “công tác tuyên truyền … chưa tốt.”
  • Thứ Thứ Trưởng Lao Động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân:  Cần làm cho người lao động hiểu rằng việc tích lũy để sau này có điều kiện hưởng lương hưu chắc chắn tốt hơn nhiều so với lĩnh một lần. Vấn đề không phải là “không hiểu” mà là “không tin,” Giời ạ! Ai cũng hiểu cả nhưng không ai tin rằng chế độ hiện tại có thể tồn tại đến “sau này” nên mọi người đều muốn nhận một cục tiền (và nhận liền) cho nó chắc ăn.
  • Vụ Phó BHXH Nguyễn Duy Cường: Không tính đến yếu tố trượt giá, nếu người lao động tích lũy đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để nhận lương hưu thì lợi ích thu được sẽ lớn gấp 4-5 lần so với việc nhận bảo hiểm xã hội một lần. Coi: “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt” / “Gửi Tiết Kiệm 20 Năm, Một Căn Hộ Còn Ba Tô Phở…” Tin tức hàng ngày nhan nhản như thế này trên mặt báo mà ông Cường lại nhất định “không tính đến yếu tố trượt giá” thì có bỏ mẹ con người ta không cơ chứ. Sao mà ông “tính” ngu vậy?
  • Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: Về quan điểm, mục tiêu khi xây dựng điều 60 Luật BHXH là đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phù hợp với xu hướng quốc tế, hướng đến chiến lược an sinh lâu dài cho người lao động.

Quả là đúng xu hướng quốc tế thật nhưng ở những quốc gia khác qũy BHXH được điều hành bởi một chính quyền khả tín. Cái Đảng và Nhà Nước thổ tả của bà Kim Ngân (tiếc thay) lại là một tập đoàn thống trị vô cùng bất nhân, bất nghĩa, và bất tín nên không hề có được chút tín nhiệm nào cả – từ bất cứ ai. Đừng nói chi đến chuyện “an sinh lâu dài cho người lao động,” ngay giờ đây đã có tiếng cảnh báo rồi: “ Việc nhà nước Việt Nam vỡ nợ chỉ còn là vấn đề thời gian, khi nào thì công bố chính thức mà thôi.”

  • Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền : Nội dung Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là phù hợp với xu hướng phát triển chung, đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Cũng như bà Kim Ngân, bà Hải Chuyền phát biểu không có gì sai. Cả hai bà, cùng tất cả qúi vị có chức danh thượng  dẫn, chỉ đều không chịu nói thật thôi.

Sự thực là ở Việt Nam, cũng như ở Tầu, không ai cảm thấy an tâm về hiện cảnh cả.

Hãy nghe Tiến Sĩ Alan Phan nói qua về tình trạng ở Tầu:

“Theo một nghiên khảo của Hurun Consulting Group tại Shanghai, có 64% nhà giàu tại Trung Quốc đã và đang lên kế hoạch để xin di cư ra nước ngoài. Nhà giàu được định nghĩa là có tài sản hơn 12 triệu RMB (hay khoảng 1.8 triệu USD). Điểm đến mong ước? Mỹ (52%), Canada (21%), Úc (9%) và châu Âu (7%). Hai phần ba số người trên sẵn sàng bỏ quốc tịch Trung Quốc.”

Nguồn ảnh:vnmedia.vn

Từ Ba Lan, nhà báo Maciej Michalek cũng có nhận xét tương tự:

  • Họ gửi con cái đi học nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài, cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để có được hộ chiếu của các nước khác, và cuối cùng, nếu có thể, họ di cư để tìm kiếm một nơi tốt hơn để sống. Điều này cho thấy sự thiếu tin tưởng giữa chính phủ và các doanh nghiệp, cũng như sự thiếu niềm tin vào tương lai của người dân Trung Quốc tại chính quê hương của mình.”

Hiện trạng Việt Nam, tất nhiên, cũng không thể khác.  Từ Hà Nội phóng viên Luke Bùi có bài tường thuật (“Người Giầu Ở Hà Nội Tìm Đường Sang Mỹ”) chi tiết:

“Trong bối cảnh nợ công của Việt Nam sắp vượt trần, phân hóa giàu-nghèo ngày càng cách biệt, đời sống xã hội có nhiều rủi ro, giới giàu có ở Hà Nội đang ráo riết tìm đường định cư ở Mỹ để bảo toàn khối tài sản.

Có mặt tại Hà Nội trong những ngày này, người ta không khó để bắt gặp những chiếc xe BMW, Bentley, Roll-Royce bóng lộn, trị giá cả vài trăm ngàn đô la xuất hiện ngạo nghễ trên những con phố chật hẹp. Nhưng trong tầm mắt của du khách cũng có cả những người buôn thúng, bán bưng chật vật với chuyện kiếm được dăm ba chục ngàn đồng mỗi ngày. Quang cảnh khiến người ta nhớ đến khái niệm ‘phồn vinh giả tạo’ mà một nhà thơ đã dùng để miêu tả thời thế…

Mà Hà Nội bây giờ không chỉ có mình Ciputra, người ta có thể kể thêm một loạt những The Manor, Indochina, Pacific Palace, Golden West Lake… như là minh chứng về đẳng cấp của giới thượng lưu tại thủ đô.

Nhưng đằng sau vẻ hào nhoáng ấy có khi là tâm thế bất an trước thời cuộc… Điều này được minh chứng trong thực tế. Gần đây, các buổi hội thảo giới thiệu chương trình đầu tư định cư EB-5 lấy thẻ xanh Mỹ được tổ chức dồn dập ngay tại thủ đô Hà Nội và thường không còn một chỗ trống.

Bình quân sau mỗi buổi hội thảo, công ty định cư làm thủ tục cho hàng chục khách hàng với phí dịch vụ khoảng hơn $40,000/trường hợp. Tuy vậy, theo một doanh nhân làm lĩnh vực môi giới định cư cho biết thách thức lớn nhất đối với công ty ông và các luật sư đối tác là chứng minh nguồn gốc tài sản của khách hàng…”

Nếu qúi bà (Nguyễn Thị Kim Ngân, Phạm Thị Hải Chuyền…) và qúi ông (Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Minh Huân, Nguyễn Duy Cường …) đều là những người nghèo, không ai có tài sản gì ráo trọi để mà phải lo tẩu tán, và tất cả đều tin tưởng tuyệt đối vào sự bền vững của chế độ mà mình đang phục vụ thì tôi xin chân thành ngỏ lời xin lỗi vì đã có  những lời lẽ xúc phạm đến qúi vị. Bằng không, tôi xin mượn ý của một nhà văn Việt Nam để kết thúc bài viết ngắn ngủi này:

“Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng dậy đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008).

Tác phẩm thượng dẫn đã được chuyển dịch sang Pháp ngữ (La Mer et le Matin-Pêcheur) bởi dịch giả Tây Hà, và được trao giải Henri Queffélec. Khi được biên tập viên Mặc Lâm ( RFA) yêu cầu tóm gọn đôi lời về cuốn sách này, tác giả đã phát biểu như sau:

“Tôi chỉ có thể tóm tắt lại như thế này, đây là sử thi, quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong quan hệ giữa người với người.”

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-23

  • RFA
  • 06232015-vn-new-wve-refuge-part3.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

File photo

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Trong phần một và hai thông tín viên Anh Vũ tại Bangkok và Tường An từ Paris đã đến với các bạn câu chuyện nơi dừng chân Thái Lan và những người tị nạn tại châu Âu và Úc. Trong phần cuối này là câu chuyện tại Bắc Mỹ của Kính Hòa từ Washington.

Triệt đường sống

Năm 2008 xảy ra vụ án Thái Hà, trong đó có việc tranh chấp tài sản đất đai giữa giáo hội công giáo và chính quyền Việt nam. Luật sư Lê Trần Luật là người đại diện cho Giáo hội công giáo. Sau phiên tòa, cơ quan an ninh đã gặp ông Luật và khuyên ông không nên theo đuổi những vụ án chính trị. Sau đó ông Luật bị cho là đã lợi dụng phiên tòa để tuyên truyền chống phá nhà nước.

Người ta đã tước bằng luật sư của ông Luật, và ông thường xuyên bị cơ quan công an mời làm việc. Theo ông nhớ lại thì trong khoảng thời gian 7 năm ông phải gặp cơ quan an ninh đến hơn 300 lần. Khi bị buộc phải chấm dứt hành nghề luật sư và cũng không tìm được việc làm nào khác, ông Luật lâm vào tình trạng rất khốn khó.

Khi biết được tình trạng này, cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị rằng ông có thể xin đi tị nạn chính trị. Đứng trước tương lai không sáng sửa của gia đình và bản thân ông Luật chấp nhận xin đi cứ trú chính trị tại Mỹ.

Năm 2007 blogger Uyên Vũ và những người đồng chí hướng sáng lập câu lạc bộ nhà báo tự do với mong muốn cổ võ cho tự do ngôn luận. Lặp tức ông và những người khác rơi vào tầm ngắm của cơ quan an ninh. Cuộc sống của hai vợ chồng blogger Uyên Vũ cũng bắt đầu rơi vào tình trạng như luật sư Lê Trần Luật. Ông Vũ kể lại:

“Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an.”

Ông Uyên Vũ không còn con đường nào khác là quyết định xin đi tị nạn chính trị. Sau nhiều khó khăn ngăn trở từ phía nhà nước Việt nam ông đến Hoa Kỳ vào năm 2014 và hiện sống tại San Diego, California.

” Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an

blogger Uyên Vũ”

Chuyện ra đi của ông Luật cũng không được dễ dàng. Cơ quan an ninh tìm nhiều biện pháp để xóa bỏ một hình ảnh tù chính trị và họ thường xuyên tuyên bố rằng ở Việt nam không có đàn áp chính trị. Ông Luật kể lại:

“Họ nói là nếu mà tôi muốn đi Mỹ thì họ sẽ tạo điều kiện cho tôi đi, bằng cách là họ cấp hộ chiếu và để tôi lên sân bay thoãi mái, với điều kiện là tôi muốn đi Mỹ chứ không phải tôi bị đàn áp về mặt chính trị.”

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Ông Luật từ chối điều này. Cuối cùng thì cơ quan an ninh Việt nam cũng cấp hộ chiếu và để gia đình ông lên đường sang Mỹ với lời nhắn gửi là đừng hoạt động gì ảnh hưởng tới hình ảnh của nhà nước Việt nam nếu muốn trở lại Việt nam sau này.

Để đối phó với những người mang quan điểm chính trị khác biệt, nhà cầm quyền Việt nam đã huy động một bộ máy an ninh khổng lồ. Ông Luật kể lại câu chuyện cơ quan an ninh điều tra nhân thân ông:

“Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình. Họ có thể bỏ ra hàng giờ hàng ngày để tiếp cận với bạn bè cũ, hồi học tiểu học, trung học của mình để tìm hiểu về cá tính, sở thích của mình.”

Ông Luật hiện sống tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon.

Vượt biên

Có những người tị nạn chính trị khác không thể lên máy bay từ Việt nam, họ phải chọn con đường vượt biên trái phép sang Campuchia, rồi Thái Lan, rồi từ đây họ được chấp nhận qui chế tị nạn để sang Bắc Mỹ.

” Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình

Luật sư Lê Trần Luật”

Anh Đặng Chí Hùng hiện sống tại Toronto, Canada là một trong số những người như vậy. Anh Hùng sinh ra trong một gia đình cả cha mẹ đều là đảng viên cộng sản. Tuy vậy anh có một nguyên nhân khá lý thú đã thúc đẩy anh trở thành một nhân vật bất đồng chính kiến với chế độ cộng sản. Điều này nằm ngay trong những thông tin tuyên truyền về sự vĩ đại của ông Hồ Chí Minh, và sự phủ nhận nền âm nhạc của miền Nam Việt nam trước năm 1975. Anh Hùng đặt ra câu hỏi là tại sao một nhân vật như vậy lại được hết lời ca ngợi, và một nền âm nhạc như vậy lại bị chế độ hắt hủi.

Nhưng sự kiện quan trọng làm cho anh Hùng có một quyết định chính trị chống lại chủ nghĩa cộng sản là những cuộc biểu tình chống Trung quốc xâm lược bị đàn áp. Anh kể lại:

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

“Khi Mỹ chuẩn bị đánh Iraq thì cộng sản Việt nam bắt bọn tôi phải xuống đường đi biểu tình chống Mỹ, nếu không đi biểu tình chống Mỹ thì sẽ trừ hạnh kiểm. Thật là kỳ lạ là tại sao Iraq thì lại biểu tình, còn người dân Việt nam mình bị Tàu giết thì không được đi biểu tình.”

Một người tù chính trị trẻ tuổi khác là anh Trương Quốc Huy. Anh Huy bị bắt giam sáu năm vì những bài viết bày tỏ chính kiến chính trị, cũng như tố cáo sự nhũng lạm của các quan chức địa phương. Anh kể lại hoàn cảnh của mình sau khi ra tù vào năm 2011:

“Tôi ra khỏi tù thì họ không cấp giấy chứng minh nhân dân cho tôi, luôn kềm kẹp phía trước nhà tôi. Tôi không đi làm được vì không có giấy tờ, họ kéo dài cái tình trạng đó rất lâu. Mà khi ra tù thì tôi cũng cần phải sinh sống.”

Anh Trương Quốc Huy, cũng như anh Đặng Chí Hùng đã chọn con đường đào thoát sang Thái Lan. Ở đây họ bị chính quyền Thái bắt giam theo yêu cầu từ phía Việt nam. Ngoài ra Hà nội cũng yêu cầu Thái Lan trục xuất họ về Việt nam. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của các tổ chức nhân quyền cũng như là Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Thái lan đã phải cân nhắc và cuối cùng trả tự do cho họ để lên đường đi tị nạn chính trị.

Cuộc sống và quê hương

Cuộc sống của những người tị nạn chính trị mới tại Bắc Mỹ được nhìn nhận với những góc độ vui buồn khác nhau. Anh Trương Quốc Huy, ông Uyên Vũ thấy rằng mình hòa hợp với cuộc sống mới khá dễ dàng. Một người tị nạn chính trị trẻ tuổi là anh Nguyễn Xuân Thủy, đến Mỹ tháng 6/2015 cũng bằng con đường vượt biên sang Thái Lan kể với chúng tôi ấn tượng của anh về cuộc sống mới từ Houston:

“Nó làm cho mình có cảm giác rằng tự do và khoáng đạt. Con người mình không bị để ý bị xoi mói nhiều, không bị đàn áp, tất nhiên là không bị công an đến nhà (cười.) Cảm thấy rất thoãi mái ở bên này.”

” Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết

Anh Trương Quốc Huy”

Luật sư Lê Trần Luật hiện đang làm việc tại một nhà máy ở Portland nói rằng:

“Anh cứ tưởng tượng khi một người tị nạn đến Hoa kỳ hay bất cứ một đất nước nào, thì họ giống như người mới sinh ra, tức là công việc làm thì không có, xe cộ thì không biết đi, đường sá cũng không biết, ngôn ngữ không nói được, cũng không nghe được.”

Tuy nhiên cái nhìn của họ về quê hương đã bỏ lại sau lưng khá giống nhau. Ông Uyên Vũ nói rằng không biết bao giờ ông mới trở về Việt nam trong căn cước của một người tị nạn chính trị, nhưng khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ ở Việt nam làm ông cứ mang hình ảnh Việt nam trong tâm khảm ngay trong cuộc sống hiện nay tại miền Nam California.

Anh Trương Quốc Huy rất xúc động khi được hỏi về Việt nam:

“Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết.”

Họ đều mong muốn sẽ quay về.

Anh Nguyễn Xuân Thủy, hiện đang chuẩn bị học đại học tại Texas nói:

“Mình không thể quay mặt đi được, mình không thể làm ngơ được, cái đó là cái nghĩa vụ, cái trách nhiệm tôi nghĩ là của tôi. Tôi chắc chắn là sẽ quay về, được như thế nào thì tùy ở sức lực của mình.”

Anh Đặng Chí Hùng thì nói là anh không phải là một nhà hoạt động chính trị, anh sẽ tìm kiếm một nghề để kiếm sống, nhưng hoạt động nhằm thay đổi Việt nam là một hoạt động đương nhiên mà mọi người như anh phải làm.

Còn cựu luật sư Lê Trần Luật nói khi kết thúc cuộc trao đổi với chúng tôi rằng ông mong về Việt nam càng sớm càng tốt. Ông mong rằng Việt nam phải đổi thay để có thể đón tất cả những người tị nạn chính trị trở về với đất mẹ.

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (phần 2)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (phần 2)

Tường An, thông tín viên RFA, Paris

RFA

06222015-vn-new-wve-refuge-part2.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nhà văn Dương Thu Hương vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh

Nhà văn Dương Thu Hương hiện ở Pháp vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh

File photo

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, đã có một làn sóng đông đảo người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài vì các lý do chính trị và kinh tế. Và từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển, tuy vậy sau gần 30 năm, trước việc chính quyền VN độc đoán và bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ, thì hiện tại vẫn có một làn sóng ngầm của không ít những người VN tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị hoặc vì những lý do khác.

Vậy, họ ra đi vì lý do gì, cuộc sống hiện nay của họ ra sao và họ sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ  đã  giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia. Trong bài này, Tường An sẽ gửi đến quý thính giả tâm tình của những người đã chọn Âu Châu và Úc làm nơi chốn định cư.

Cuộc đào thoát bằng thuyền để trốn khỏi chế độ độc tài Cộng sản 40 năm trước, nay vẫn tiếp diễn, với một hình thức khác, bằng những con đường khác. Nếu như những người tị nạn ở Thái Lan đa số vượt thoát bằng đường bộ qua ngã Campuchia thì Ở Âu Châu, người tị nạn chỉ có một con đường duy nhất bằng ngã hàng không.

Âu Châu

Cách đây 2 năm dư luận trong và ngoài nước xôn xao khi ông Đặng Xương Hùng, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ sĩ đã tuyến bố xin tị nạn chính trị ngày 18/10/2013 tại phi trường Charles de Gaulle của Pháp.  Lý do mà ông Đăng Xương Hùng quyết định từ bỏ Việt Nam là do bất mãn với chế độ Cộng sản, khi thấy nhà cầm quyền vẫn cương quyết bỏ ngoài tai những  kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu dân ý cho phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ của xã hội và của thế giới của nhiều đảng viên cũng như những người quan tâm đến đất nước. Trước những góp ý đó, đảng cộng sản Việt nam vẫn kiến quyết giữ điều 4 Hiến Pháp, kiên trì chủ nghĩ Mac-Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, ông Đặng Xương Hùng quyết định dứt khoát với 26 năm tuổi đảng để phản đối lại  chính sách của một nhà cầm quyền, mà theo ông, đang đưa đất nước đến 1 tương lai vô định, ông nói :

« Tôi là người trong cuộc, thuộc chính quyền và được hưởng những lợi ích của chính quyền ban cho, do đó trong tôi luôn luôn nuôi một hy vọng một ngày nào đó, đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ thay đổi thôi. Thế mà những năm tháng kéo dài, tôi hết thất vọng này đến thất vọng khác thì tôi mới thấy rằng đảng Cộng sản không hề muốn thay đổi, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm giữ điều 4, họ vẫn muốn nắm quyền lực, nắm độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam để chi phối toàn bộ đất nước cũng như dân tộc Việt Nam, do đó tôi đã quyết định ly khai và quyết định xin tị nạn »

” Những năm tháng kéo dài, tôi hết thất vọng này đến thất vọng khác thì tôi mới thấy rằng đảng Cộng sản không hề muốn thay đổi, đảng Cộng sản VN vẫn quyết tâm giữ điều 4, họ vẫn muốn nắm quyền lực, nắm độc quyền của đảng CSVN để chi phối toàn bộ đất nước cũng như dân tộc Việt Nam

ông Đặng Xương Hùng (Thuỵ Sĩ)”

Một người đối kháng khác cũng rất nổi tiếng với những bài viết vạch trần chế độ Cộng sản là nhà văn Dương Thu Hương. Năm 1994 bà đã từ chối cơ hội để xin tị nạn chính trị. Đến Pháp lần thứ nhì, năm 2006 bà bắt buộc phải ở lại Pháp trong một hoàn cảnh ngẫu nhiên. Nhà văn đối kháng Dương Thu Hương cho biết đã phải ở lại Pháp trong hoàn cảnh nào :

« Tôi không phải là người tị nạn như những người tị nạn bình thường khác. Năm 1994, khi chính phủ Mitterrand tồn tại, bà Danielle Mitterrand có đề nghị tôi ở lại tị nạn chính trị dưới sự bảo trợ và giúp đỡ của nước Pháp, lúc đó tôi có cảm ơn bà, nhưng mà tôi phải quay về. Cái nhóm của tôi toàn những người già thôi, tôi 50 tuổi vẫn được coi là trẻ nhất. Nhưng năm 2006 thì đã có một nhóm người khác trẻ hơn tôi nhiều lãnh đạo cuộc đấu tranh.Và vì vậy, tôi chủ ý đi ra nước ngoài để lao động cái phần của riêng tôi : văn học và một cuốn sách viết về lịch sử chiến tranh. Tôi không có dự định ở lại Pháp, nhưng năm 2007, trong một cuộc đi chơi ở Marseille tôi đã bị cướp giật hết giấy tờ. Sứ quán Việt Nam tìm thấy một cơ hội tuyệt vời để trả thù tôi nên dứt khoát không cấp lại visa và 3 năm trời tôi sống ở Paris như một con gián ngày, không dám đi đâu vì ở trong tình trạng không giấy tờ, sans papier.  Mãi đến 2010, tôi mới lấy được một cái giấy của người lao động. Vì lý do đó, hoàn toàn do những sự ngẫu nhiên mà tôi ở lại nước Pháp »

Ông Đặng Xương Hùng nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012

Ông Đặng Xương Hùng nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012

Úc Châu

Xa hơn nữa, tại miền Nam Bán Cầu, một lớp sóng thuyền nhân mới cũng đã vượt thoát khỏi Việt Nam để  tìm tự do. Từ Sydney, Úc châu. Anh Nguyễn Mười  cho biết lý do anh phải rời khỏi Việt Nam :

« Từ năm 1999-2000 em là phụ tá cho Cha Lý, khi Cha bị bắt em cũng có nhiều rắc rối với chính quyền, họ thường xuyên canh trước nhà của em, họ cản trở mọi công việc của em, nên em không thể sống được, nên em phải tìm cách rời Việt Nam để em đi vượt biên »

Do tinh hình kinh tế khó khăn chung của thế giới, các quốc gia không còn mở rộng vòng tay đón nhận người tị nạn như 40 năm về trước. Đối diện với những thủ tục hành chánh nhiêu khê là trở ngại lớn nhất trên con đường hội nhập của những người tị nạn sau này.

” Năm 2006 thì đã có một nhóm người khác trẻ hơn tôi nhiều lãnh đạo cuộc đấu tranh.Và vì vậy, tôi chủ ý đi ra nước ngoài để lao động cái phần của riêng tôi : văn học và một cuốn sách viết về lịch sử chiến tranh

nhà văn Dương Thu Hương (Paris)”

Nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012, Sau khi chấm dút nhiệm kỳ ông Đặng Xương Hùng về nước, 1 năm sau, ông trở lại Âu châu, chính thức xin tị nạn tại Thuỵ Sĩ ngày 28/10/2013. Gia đình ông đã có giấy cư trú. Cũng như bao hoàn cảnh tị nạn khác, gia đình ông cũng quen dần với cuộc sống nhập cư. Mặc dù với ít nhiều khó khăn trong buổi giao thời, ông vẫn từ chối nhận trợ cấp xã hội để không trở thành một gánh nặng cho chính quyền Thuỵ Sĩ, ông kể tiếp :

« Hiện nay thì vợ tôi đang đi làm. Còn tôi thì với cái kiến thức cũng như trình độ của mình, trong một chừng mực nào đó, thì tôi cũng chưa có một công viêc tương đối phù hợ với vị trí của mình. Dẫu sao thì tôi cũng ở ngay tại nơi mà tôi từng làm lãnh sự do đó tôi cũng vẫn còn lưỡng lự trong việc chọn công việc. Tôi cũng đang nghĩ trong vấn đề phải đào tạo lại để tìm được một công việc của tôi »

Với nhà văn Dương Thu Hương thì sự thay đổi không quá lớn lao, công việc hàng ngày của bà vẫn là sử dụng ngòi bút cho văn chương và góp phần vào sự thay đổi chế độ, bà nói :

« Công việc viết lách tôi cho đó là một phần ích kỷ của tôi, bởi vì  nó không liên quan gì vào cuộc tranh đấu của tôi cả, cho nên tôi cũng viết với đầy háo hức nhưng cũng đầy mặc cảm trong khi đó thì các đồng chí của tôi phải đấu tranh. Tuy nhiên, văn chương nó là cái hướng thoát cho tâm hồn đau khổ của tôi và cũng là niềm sung sướng nữa, bỡi vì nếu thành công thì nó cũng là một phần thưởng mà tôi cảm thấy xứng đáng. Tôi không viết hàng ngày, bỡi vì hàng ngày tôi cũng còn phải viết báo và làm những chuyện khác. Từ khi tôi ở đây thì trung bình cứ 3 năm tôi ra một quyển sách. Thế thôi ! đơn giản… »

Từ Việt Nam đi đường bộ đến Lào, vượt biên giới qua Thái Lan, từ Thái Lan dùng thuyền đến Christmas island ngày 28/10/2012 sau đó vào trại định cư ở Darwin và giờ đây tạm cư ở Sydney. Sau gần 3 năm trên nước Úc, tương lai anh Nguyễn Mười cũng như phần lớn những người tị nạn khác vẫn còn bấp bênh do chính sách cứng rắn của chính quyền đương nhiệm. Anh cho biết :

” Từ năm 1999-2000 em là phụ tá cho Cha Lý, khi Cha bị bắt em cũng có nhiều rắc rối với chính quyền, họ thường xuyên canh trước nhà của em, họ cản trở mọi công việc của em, nên em không thể sống được, nên em phải tìm cách rời Việt Nam để em đi vượt biên

Anh Nguyễn Mười (Úc)”

« Tình trạng của tụi em giờ cũng nằm trong sự chờ đợi thôi chứ tụi em cũng chưa biết như thế nào. Hồ sơ của em thì hiện tại cũng chưa được phép nộp giấy tờ để xin tị nạn và họ cũng chẳng có cho tụi em đi làm, chỉ cấp visa tạm thời 1 năm rồi họ xét tiếp »

Hầu hết những người tị nạn này đã ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản, ra đi để có thể tiếp tục cuộc đấu tranh ở một không gian khác. Nhưng, có những người hoàn toàn im lặng sau khi đã ổn định cuộc sống,  có những người vẫn tiếp tục đấu tranh.

Ông Đặng Xương Hùng tuyên bố trước các cơ quan tị nạn, vai trò mới của ông sẽ là cầu nối giữa người dân Việt Nam và Quốc tế để xé tan bức màn bưng bít thông tin của Cộng sản Việt Nam, ông nói :

« Sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam có những hình thái hết sức đặc biệt mà quốc tế  cũng cần phải lưu ý, đó là sự bưng bít giữa trong và ngoài. Người nước ngoài không biết tình hình đang diễn ra trong nước ra sao ? nhân dân Việt Nam đang sống như thế nào ? Cũng như là người dân Việt Nam không biết được những gì đang xảy ra ở thế giới văn minh bên ngoài. Tuy có những cải thiện nhưng nó cũng vẫn còn rất là hạn chế. Do đó tôi cũng nói với họ là tôi sẽ làm cầu nối giữa bên trong và bên ngoài, cho nên tôi đã tham gia những tổ chức mà có những tiêu chí đưa tình hình Việt Nam cho thế giới bên ngoài biết và đấu tranh để phấn đấu cho một nước Việt Nam có bầu cử tự do, có dân chủ , có nhân quyền, có văn minh để hoà nhập với cộng đồng quốc tế »

Từ Pháp, nhà văn Dương Thu Hương vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh, và dù ở cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất, bà vẫn còn nguyện vẹn một trái tim cho quê hương cũng như vẫn còn gắn kết chặt chẽ với những đồng đội trong nước , bà nói :

« Tôi luôn luôn là người trung thành với nhóm của tôi. Là nhóm chủ trương chiến đấu đến cùng với chế độ Cộng sản, nhưng vì tôi già hơn các cậu ấy nên tôi được quyền ra nước ngoài để làm một phần việc của tôi là văn chương. Thế nhưng mà khi tôi chưa chết và chưa lẫn lộn quá thì tôi vẫn tiếp tục giúp đỡ cho những đàn em và đồng chí của tôi. Có một thời gian tôi đã gác bút, bỡi vì có một sự nhầm lẫn trong một bài báo năm 2010. Nhưng sau đó, những người đàn em của tôi đã yêu cầu tôi phải quay lại chiến đấu cùng với họ, thì tôi lại lấy lại ngòi bút của tôi dưới cái tên Sơn Diệu Mai. Và bây giờ tôi nhận thấy rằng không thể từ bỏ cuộc tranh đấu để (mặc) cho các đồng đội của mình được Các cậu có việc của các cậu ấy, tôi có việc của tôi »

Dù vẫn còn rất hoang mang về số phận của mình trên miền đất mới, anh Nguyễn Mười cũng tiếp tục cuộc đấu tranh cho những tù nhân lương tâm khác bằng hình thức biểu tình hay ký kiến nghị mà giờ đây anh không còn phải sợ bất cứ một đe doạ nào. Anh cho biết :

« Từ lúc em đặt chân đến Úc đây, em được tự do ra ngoài thì những lúc biểu tình trên Canberra, vận động chữ ký , không chỉ riêng gì Cha Lý mà những người tù nhân lương tâm khác như Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, anh Dũng ở Nghệ An…em vẫn tham gia trong những chương trình vận động để áp lực nhà nước Việt Nam để họ thả những người đấu tranh cho Tự do Dân chủ cho Việt Nam »

Cuộc đổi đời nào không có những khó khăn ban đầu ? Việc chọn một đất nước không phải là quê hương của mình để có cơ hội tiếp tục cuộc đấu tranh, với nhiều người không phải là một chọn lựa dễ dàng.

Qua hai bài vừa qua, Anh Vũ và Tường An đã tường trình câu chuyện của những người tị nạn ở Á Châu, Âu châu và Úc châu. Trong phần cuối của loạt bài này, phóng viên Kính Hoà sẽ tường trình về con người và cuộc sống của những người tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ và Canada.