Quan tham mới là cội rễ sinh ra Vấn Đề

 Chau Trieu

Nếu không có quan tham chống lưng, thì bà Lan nói riêng và các đại gia bất động sản khác nói chung, không thể “tay không bắt giặc”… Giàu nhanh, giàu khủng…

Nghĩa là nếu bà Lan hay bất cứ đại gia bất động sản nào bị cho là có tội trong việc làm ăn bất chính, thì đa phần tội đó nhẹ hơn hoặc bằng tội quan tham, khó có thể nặng hơn. Quan tham mới là cội rễ sinh ra Vấn Đề. Vì nếu quan không tham thì Vấn Đề đã bị triệt tiêu ngay từ lúc mới manh nha…

Và hình như, từ lúc khởi sự đốt lò đến nay chưa thấy quan tham nào bị dựa cột?

Nguyen Khan


 

23 Điều Vô Lý Chỉ Có Ở Việt Nam-Ku Búa

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

1. Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là thiên đường cộng sản. Đó là Việt Nam, Trung Quốc và….Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước của mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, kt3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền.

 

2. Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu vè đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.

3. Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.

4. Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trợ quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hang. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.

5. Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.

6. Đi “xin việc” ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phỉ ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?

7. Đi làm tự thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận TỔ QUỐC địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?

8. Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy vô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi “hộ khẩu con đâu?”. Thấy có ngu không?

9. Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.

10. Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy 1 giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.

11. Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác Hồ vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác Hồ hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết.

12. Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?

13. Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND.

14. Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dùng gì để chùi *** ta? (vì giới phụ nữ khiếu nại nhiều quá nên ngày nay có một số toilet đông đảo người dùng có một bàn trực chuyện bán giấy vệ sinh ).

15. Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói : “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.”

16. Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh? Chỉ thấy ở VN

17. Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.

18. Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.

19. Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm súng, chưa bao giờ có kinh nghiệp chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.

20. Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền (ngay cả việc đổ hoặc hốt rác trên đường phố), cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?

21. Đánh thuế kinh doanh trên facebook. Cái này miễn ý kiến.

22. Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được

.23. Và cuối cùng, Đảng Cộng Sản đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì? Cuộc chiến đó có nghĩa gì?

●Ku Búa


 

Tấm lòng của người đàn bà bán ve chai-Truyen ngan

Kim Dao Lam

Fb Hương Nguyễn

Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Vinh Phan


 

Bắt nóng Ủy Viên Trung ương: Trần chậm hay Tô nhanh?

Ba’o Tieng Dan

Blog RFA

Gió Bấc

21-3-2024

Tính đến nay mới hơn nửa nhiệm kỳ, kể cả Võ Văn Thưởng thì đã có 18 ủy viên trung ương đảng trong đó có đến 4 ủy viên bộ chính trị khóa 13 bị ngã ngựa bằng nhiều hình thức: Cho thôi giữ chức, về hưu theo nguyện vọng; bị kỷ luật cách chức, khai trừ, bị đình chỉ…

Theo độ nóng sát phạt của lò ông Tổng, Ủy viên Trung ương bị bắt giam không còn là chuyện lạ. Thậm chí ở khóa 12, Đinh La Thăng là ủy viên Bộ Chính Trị cũng bị bắt giam, nhiều lần ra tòa lãnh án.

Cụ Tổng và các quan chức tuyên giáo từ trên xuống dưới luôn xoen xoét tự hào: Chống tiêu cực, tham nhũng không có vùng cấm, dù là thành phần tinh hoa được đảng sàng lọc, bồi dưỡng, học tập rèn luyện theo đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi bị lộ dính vào tham nhũng thì đều xử lý nghiêm.

Tuy nhiên, trong thể chế chính trị mà cán bộ có ba mức: Tín nhiệm, tín nhiệm cao, tín nhiệm thấp, lại có luật ngầm bí mật nào đó, việc xử lý sai phạm đảng viên, nhất là đảng viên cao cấp, luôn phải tuân theo trật tự nghiêm nhặt là kỷ luật đảng trước, pháp luật sau. Cái luật ngầm ấy làm cho việc chống tham nhũng bị chậm chạp, kéo dài. Đa phần trường hợp sai phạm xảy ra lâu đời từ tám hoánh, cán bộ tham nhũng đã lên chức hoặc hoán chuyển đơn vị nhiều lần mới bị xử lý bắt giam.

Ông Trần Văn Minh, Bí thư Bình Dương sai phạm đất công, đất tư, xây nhà không phép lấn sông đã bị Trương Châu Hữu Danh phanh phui từ lúc còn làm chủ tịch UBND tỉnh ở khóa 12, ấy vậy mà vẫn vòng vèo lên chức Bí thư lọt vào trung ương đảng khóa 13 rồi mới bị kiểm tra, kỷ luật đảng, sau đó mới bị bắt giam (1).

Mới đây thôi, trong vụ án xăng dầu Xuyên Việt Oil mở rộng, đảng đã kỷ luật cách chức, khai trừ ông Lê Đức Thọ, ủy viên trung ương, Bí thư Bến Tre vì “đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương trong việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; giải trình nguồn gốc và biến động tài sản không trung thực, không đúng quy định.

Vi phạm của ông Lê Đức Thọ mang tính hệ thống, kéo dài trong nhiều năm, đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận xấu, bức xúc, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, mất uy tín cá nhân” (2).

Những vi phạm đó phát sinh từ thời ông làm ngân hàng, đâu liên quan tới tỉnh Bến Tre. Cũng phải chờ đảng khai trừ xong, đến tháng 12-2023, ông Thọ mới bị bắt giam.

Chính vì trật tự đảng trước, nhà nước sau nghiêm nhặt đó, nên khóa này Trung ương đảng và Quốc Hội phải họp bất thường, lu bù như đám cưới chạy tang để cách chức hoặc bắt giam các Ủy viên Trung ương. Phiên bất thường đầu tiên để cách chức khai trừ, bắt giam hai ông Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long và Chủ tịch Hà Nội Chu Ngọc Anh… chỉ trong một ngày. Phiên bất thường thứ hai là cho hai ông Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam thôi giữ chức. Kế đến là ông Nguyễn Xuân Phúc.

Với ông Trần Đức Quận, Bí thư Lâm Đồng, tuy không phải họp Trung ương bất thường nhưng ngày 24-1-2024 khởi tố, bắt giam vẫn trùng khớp với ngày Ủy ban Kiểm tra họp xét đề nghị kỷ luật ông Quận. Quy tắc đảng trước, nhà nước sau vẫn được bảo đảm (3).

Điều oái oăm là ngay trong ngày tôn vinh phụ nữ 8-3, Tô Đại Tướng đã xé rào, khởi tố bắt giam người đẹp Hoàng Thị Thúy Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, trong khi chưa hề bị đảng nhắc nhở tiếng nào. Sự kiện gây chấn động vì trước đây dư luận có quá nhiều tai tiếng về sự thăng tiến thần tốc cũng như năng lực và sinh hoạt, lối sống của Hoàng Thị Thúy Lan. Báo chí lề phải từng đăng thông tin một quan chức trẻ đã đột tử sau khi ngủ qua đêm ở biệt phủ của bà Bí thư.

Từ lâu, mạng xã hội đã châm chọc ví von cái tên Lan với nhân vật nữ trong tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan được soạn giả Trần Hữu Trang chuyển thể thành vở cải lương Chuyện Tình Lan và Điệp rất nổi tiếng ở Việt Nam gần một thế kỷ qua. Ây vậy mà Lan vẫn vững như bàn thạch.

Sai phạm nhận hối lộ của Lan liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Hậu (còn gọi Hậu “Pháo”, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn) vừa mới được khởi tố. Vụ án đã kéo theo nhiều quan chức hàng đầu hai tỉnh Vĩnh Phúc và Quảng Ngãi, đặc biệt là ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, từng là Bí thư Quảng Ngãi tiền nhiệm. Việc bắt Lan như cú đấm knock-out hoàn toàn bất ngờ.

Mãi đến 10 ngày sau, kỳ họp thứ 38 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương mới kết luận, người đẹp Thùy Lan có vi phạm và đề nghị cơ quan thẩm quyền xem xét kỷ luật. Phải mất hai ngày nữa, trong phiên họp Trung ương bất thường ngày 20-3, Lan mới bị đảng “cắt dây chuông” Ủy viên Trung ương, các chức danh khác kể cả đảng viên. Ông Thưởng được đảng “nhân văn”, chấp thuận cho thôi tất cả mọi chức vụ, nhưng không bị khai trừ đảng (4).

Vì sao có hiện tượng lạ lùng này? Tô Lâm quá nhanh tay hay Trần Cẩm Tú chậm chân? Bắt giam Ủy viên Trung ương trước khi bị đảng xử lý là chủ trương mới, luật mới của “chiến dịch đốt lò” của Tổng Trọng, hay là hành vị tự phát của Tô Lâm?

Vì sao phải bắt giam cấp bách người đẹp tên Lan và các đồng phạm mà không chờ đến cuộc họp bất thường như các Ủy viên Trung ương khác?

Với người dân thì đây chỉ là thắc mắc cho vui. Bắt trước, bắt sau, bắt nhiều, bắt ít, không liên can gì đến họ. Trong thể chế độc đoán này, mọi chức tước đều được bán, mua, đổi chác, thỏa hiệp giữa các cá nhân, phe nhóm trong giới lãnh đạo chóp bu.

Người ta dư hiểu rằng đã leo vào đến “nhà đỏ” thì không có bàn tay nào trong sạch. Ai cũng có thể là học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, đạo đức sáng ngời và khi bị lộ ai cũng đều là những con hạm khổng lồ, nuốt trọn hàng chục, hàng trăm dự án đất đai, tài sản hàng ngàn tỉ. Chỉ vài tháng trước đây, báo Nhân Dân của đảng đã long trọng đưa tin, kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 28 chức danh tại Kỳ họp thứ 13, Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, nhiệm kỳ 2021-2026, Bí thư Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan đạt gần 98% số phiếu tín nhiệm cao, chiếm tỉ lệ cao nhất (5).

Nhưng với các quan chức cao cấp trong “nhà đỏ”, sự phá vỡ nguyên tắc đảng trước, luật pháp sau, sẽ có tác động rất lớn. Quyền lực của phe nhóm công an sẽ tăng thêm một bước mới, có thể khuynh đảo chính trường.

Điều rõ ràng nhất là, ngay sau khi Hoàng Thị Thúy Lan bị bắt, Võ Văn Thưởng bị tước mọi quyền hành, không còn xuất hiện trên báo chí. Ngay công việc mang tính nghi lễ thuần túy là tiếp đại sứ Lào, được giao cho bà Trương Thị Mai, người không hề có danh vị gì về ngoại giao nhà nước, là thất thố ngoại giao khó giải thích. Chuyến thăm và làm việc của Quốc vương và Hoàng hậu Hà Lan bị hoãn đột ngột, như vết chém khó hàn gắn vào quan hệ ngoại giao hai nước.

Diễn biến này cho thấy, cuộc chiến cung đình trước thềm đại hội 14 sẽ rất căng thẳng, tàn khốc. Các phe nhóm sẽ tranh giành quyền lực các ghế tứ trụ một mất một còn. Những tiêu chuẩn về năng lực, phẩm chất cán bộ mà Tổng Trọng và Tiểu ban Nhân sự đã công bố chỉ là món đồ chơi. Chiến thắng thuộc về kẻ mạnh, nắm được yếu huyệt của đối phương.

Phạm Bình Minh, Trần Tuấn Anh và đến lượt Võ Văn Thưởng… bị cưa ghế hoàn toàn, không phải vì những vi phạm chung chung như đã được nêu. Thậm chí có thể phần nào đó họ còn sạch sẽ hơn những nhân vật đang quyền, đang chức. Họ bị loại chính là bởi có đủ các tiêu chuẩn hình thức lọt vào tứ trụ nhưng thuộc về phe yếu, phải chấp nhận rời sân, nhường cuộc chơi cho người khác.

Chú thích:

1- https://baochinhphu.vn/bat-tam-giam-nguyen-bi-thu-tinh-uy-binh-duong-tran-van-nam-102297111.htm

2- https://tuoitre.vn/cach-chuc-tat-ca-chuc-vu-trong-dang-cua-bi-thu-tinh-uy-ben-tre-le-duc-tho-20231002120150104.htm

3- https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/cho-thoi-chuc-2-can-bo-cap-cao-khai-tru-ra-khoi-dang-2-nguyen-bi-thu-tinh-uy-119240131151339799.htm

4- https://tuoitre.vn/khai-tru-dang-cuu-bi-thu-vinh-phuc-hoang-thi-thuy-lan-20240318170422968.htm

5- https://nhandan.vn/chu-tich-uy-ban-nhan-dan-tinh-vinh-phuc-co-qua-nua-tong-so-phieu-tin-nhiem-thap-post787729.html


 

XỨ SỞ CỦA NHỮNG NGƯỜI KHỔ HẠNH

Kim Dao Lam

Fb Luân Lê

Chúng ta đi đến đâu cũng thấy có nhiều kẻ trộm cắp, mọi tầng giới đều xuất hiện những kẻ ăn cắp của người khác: từ đồ ăn tới các món đồ cỏn con trong siêu thị, nhà xưởng, ở khắp các quốc gia khác đều có những tấm biển cảnh báo bằng tiếng Việt về việc cấm trộm cắp hoặc lấy đồ ăn thừa hay xả rác bừa bãi.

Giới quan chức ăn cắp mọi thứ có thể nhờ vào chức vụ chúng có. Giới trí thức ăn cắp phát minh hay sáng chế, dữ liệu hoặc công sức của người khác nhưng chỉ lấy những thứ ít có giá trị để cống hiến mà chủ yếu để thủ đắc tư lợi. Giáo dục đánh cắp sự thật và tương lai của người học. Giáo đạo lấy cắp lòng từ bi tín nghĩa. Luật pháp đánh cắp tiếng nói và lòng quả cảm của con người chân chính. Mọi tầng lớp người đều trộm cắp bằng cách này hay cách khác.

Nhưng có một điều nổi bật lên trong các hành vi ăn cắp của con người nơi vùng đất này là họ thường chỉ trộm cắp vặt liên quan tới vật chất hữu hình, đến cả đôi dép, chậu hoa hay món đồ ăn họ cũng tìm cách lấy từ người khác. Mọi thứ diễn ra chỉ cho chúng ta một cảm tưởng rằng ta như một xứ sở của những kẻ chết đói và hầu hết là vì miếng ăn vậy. Học lắm bằng cấp xong cuối cùng cũng chỉ đi ăn cắp bằng mọi cách.


 

LƯƠNG Ở VIỆT NAM, BẠN CHỈ TỒN TẠI CHỨ KHÔNG THỂ SỐNG…!

Tôi đang tìm việc cho nên coi mức lương cùng vị trí hiện tại. Thật sốc khi biết rằng mức lương ở Việt Nam quá thấp. Bạn chỉ có thể tồn tại qua ngày thôi chứ khó mà có cuộc sống đầy đủ được.

Sau đây là vài điều bạn cần biết.

  1. Một người lao động phổ thông chỉ kiếm được trung bình 5 triệu VND mỗi tháng.
  2. Lương nhân viên văn phòng bình quân chỉ 7 đến 10 triệu.
  3. Chỉ những vị trí cao cấp, chuyên viên, quản lý hay giám đốc trở lên mới có mức 30 triệu/tháng.
  4. Ngoài những công việc bình thường thì chỉ người nổi tiếng, ca sĩ, diễn viên hay các KOL mới có thu nhập cao.

Khi coi những còn số này thì khó mà hiểu được vì sao các quán trà sữa hay cà phê lúc nào cũng đông hay vì sao iPhone luôn bán chạy. Tôi không hiểu được sự thịnh vượng hiện tại đến từ đâu.

Đi đâu cũng thấy ai dùng điện thoại đời mới, xe mới, quần áo mới, tháng kia du lịch và bây giờ sắp đi chơi. Nhưng hỏi ra thì lương chỉ tầm 5-10 triệu. Vậy mà lối sống nhìn bề ngoài cao hơn ở những nước khác. Đây có lẽ là một trong những điều bí ẩn khó giải thích nhất ở Việt Nam.

Người nước ngoài khi đến đây và thấy sự tiêu xài và nghĩ rằng đất nước đang phát triển. Nhưng nếu bạn sống ở đây đủ lâu thì cũng sẽ hiểu tâm lý và tư duy của người dân nơi này. Họ dùng đa phần thu nhập của mình để lo cho vẻ bề ngoài. Họ có thể ăn mì gói hay sống trong căn phòng trọ chật chội nhưng phải đi trà sữa và dùng iPhone. Đối với họ, đó là cuộc sống.

Chỉ là sự so sánh nhẹ thôi. Sẽ có nhiều bạn có thu nhập cao hơn, nhưng ở đây đang nói về mức bình quân. Thì rõ ràng với thu nhập hiện tại thì có làm đến chết cũng không đủ tiền mua nhà.

Có bao giờ bạn từ hỏi vì sao mọi thứ lại như vậy. Một nhân viên văn phong với mức lương ngàn đô mỗi tháng cũng khó mua được nhà. Trong khi ở nước khác, một người lao động bình thường cũng có thể một căn trả góp và tích lũy lượng tài sản không nhỏ.

Lỗi không phải ở bạn, mà đây là vấn đề chung của cả nước. Vậy người Việt Nam có thu nhập thấp vì họ kém cỏi hay vì cơ chế này đang kìm nén sự phát triển của họ. Cho nên dễ hiểu vì sao các người trẻ lại ra đi. Vì cũng công việc đó nhưng họ có thể kiếm gấp 10-20 số tiền ở xứ khác. Còn nếu ở lại thì chẳng khác gì làm không dư suốt đời.

Người Việt có thể làm giàu và thành công ở bất cứ nơi đâu, trừ trên chính quê hương của họ. Hỏi tại sao…?

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

From: Tu-Phung


 

Công luận nói gì vụ Võ Văn Thưởng mất ghế?

Ba’o Dat Viet March 20, 2024

Võ Văn Thưởng yểu mệnh với ghế chủ tịch nước

Sau khi báo đảng hôm 20/3 xác nhận tin Võ Văn Thưởng mất ghế chủ tịch nước vì “có vi phạm, khuyết điểm gây dư luận xấu”, công luận lập tức bày tỏ sự ngán ngẩm về công tác cán bộ của đảng. Không ngoài dự đoán, Võ Văn Thưởng bị đảng cho nghỉ chỉ sau một năm ngồi ghế chủ tịch nước vì dính vụ án liên quan tập đoàn Phúc Sơn của Hậu “Pháo”. Tuy vậy, báo đảng được lệnh không đề cập chi tiết “nhạy cảm” này. Việc Thưởng “tự nguyện xin nghỉ” được hiểu là ông này được đảng đảm báo tránh cho nguy cơ dính vòng lao lý, vì dù gì cũng thuộc hàng “tứ trụ”. Luật sư Lê Quốc Quân nhận xét: “Trung ương đồng ý cho ông Võ Văn Thưởng “thôi” chức. Nhân dân bị “phế truất” nguyên thủ của mình, chỉ tò mò đứng nhìn.” Bác sĩ Võ Xuân Sơn ở TP.HCM bình luận: “Một đất nước mà chỉ trong khoảng 14 tháng đã có hai ông chủ tịch nước liên tiếp phải từ chức vì sai phạm. Có nên gọi đất nước ấy là ổn định về chính trị hay không? Và, những người đưa các ông ấy lên chức vụ đó có phải chịu trách nhiệm gì không?” Reuters hôm 20/3 bình luận: “Những thay đổi lãnh đạo lớn ở nhà nước độc đảng gần đây đều có liên quan đến chiến dịch đốt lò, chống hối lộ trên diện rộng, nhằm mục đích dập tắt nạn tham nhũng tràn lan, nhưng cũng bị các nhà chỉ trích nghi ngờ là một công cụ cho đấu đá chính trị, thanh trừng phe phái. Thưởng, 53 tuổi, mất tích cả tuần sau khi Bộ Công an Việt Nam thông báo bắt giữ cựu chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi, vì cáo buộc tham nhũng. Ông này từng là thuộc cấp khi Thưởng còn là bí thư tỉnh ở đó.” Thưởng được nhiều người coi là thân cận với Nguyễn Phú Trọng, nhân vật quyền lực nhất Việt Nam, người bày ra cái gọi là “đốt lò”. Năm ngoái, Nguyễn Xuân Phúc mất ghế vì đảng đổ lỗi cho ông về “những vi phạm, sai trái” của các quan chức dưới quyền, phải mất một tháng rưỡi để Thưởng được cho làm người kế nhiệm. Cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay có thể được giải quyết tốt đẹp bằng cuộc bổ nhiệm chủ tịch nước nhanh chóng, nhưng vẫn tồn tại rủi ro là việc liên tục thay đổi lãnh đạo cấp cao sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý kinh doanh ở một quốc gia phụ thuộc nhiều vào đầu tư nước ngoài.
 

SÀI GÒN TAN TẦM VÀ TIẾNG SÁO CÔ GÁI -(Bài ảnh Lê Minh Hạ)

Trần Xuân Thái   

Lại là một phụ nữ Miền Tây, nhưng không phải bà lão bán đu đủ quê Long An hôm qua (tôi đăng ở stt trước). Lần này là bé Thiên, một cô gái trẻ chỉ mới tuổi vị thành niên. Em quê Cà Mau, và tiếng sáo của em đã khiến khoảng cách giữa Sài Gòn và Cà Mau thiệt rất gần. Đúng là Cà Mau không xa lắm mà, phải không bé Thiên?

Thương quá xá là thương!

SÀI GÒN TAN TẦM VÀ TIẾNG SÁO CÔ GÁI MÙ

(Bài ảnh Lê Minh Hạ)

Sài Gòn tan tầm, ngang qua công viên Tao Đàn, chen giữa tiếng xe tiếng còi ồn ả, vẳng tiếng sáo ai vang lên tha thiết quá! Lại đúng lúc đang miên man nhớ về Cà Mau thì tiếng sáo cứ khiến tôi muốn hát thành lời: Nghe nói cà mau xa lắm… Tiềng sáo nghe da diết, như mênh mang một nỗi niềm!

Lần theo tiếng sáo, tôi ngỡ ngàng nhận ra đó là tiếng sáo của một cô gái mù! Em đứng một góc công viên, nhỏ nhắn xinh xắn trong chiếc váy nhạt màu, trông rất duyên dáng, đứng mải miết thổi cho tới khi khách qua đường tôi lên tiếng thăm hỏi.

Em người Cà Mau, ở huyện Trần Văn Thời. Mấy năm nay lên Sài Gòn ở trọ, học thổi sáo, mưu sinh với một niềm tin mãnh liệt về một ngày mai sẽ nhìn thấy được mặt trời!

Năm 14 tuổi, e bị tai nạn giao thông, bị tổn thương mắt. Lúc đó cha em ko biết, theo lời người ta chỉ, nhỏ mật gấu thôi! Rồi thì em mù hẳn. 14 năm rồi! Em nói mắt em bị teo võng mạc. Em nói 14 năm sống trong bóng tối em đã quen rồi, không có thời gian buồn nữa, em chỉ dành thời gian để nghĩ với tình trạng của mình thì sẽ mưu sinh như thế nào cho ổn nhứt! Và em chọn nghề thổi sáo để bá.n từng cây viết bi! Nếu lỡ có ế, thì cũng thổi lên cho đỡ nỗi nhớ quê!

Em nghe nói gần đây có tin là tình trạng bệnh mắt như em sẽ được chữa, nhưng chỉ ở nước ngoài! Em lại nuôi hy vọng! Ngày ngày, em lại cầm ống sáo, thuê xe ôm chở đi khắp các ngã tư Sài Gòn, thổi sáo cho người đi đường nghe mà chú ý đến em! Để thấy được mặt hàng của mình là cây bút bi!

5 ngàn đồng một cây bút bi để chuyên chở một giấc mơ một ngày mai nhìn thấy lại cuộc đời!

Hôm nay lần đầu tiên em ra tới công viên Tao Đàn!

Hỏi sao em đứng khuất 1 góc nếu ko để ý sẽ không thấy, em nói bác tài Grab đặt em xuống đâu thì em đứng đó thôi! Tôi dắt em qua chỗ sáng đèn hơn cạnh lối vô công viên, đối diện số 200 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1.

Tạm biệt em, tôi mong chúc em bán được nhiều hơn! Nhưng cũng lo lo, chẳng biết cái chỗ mình dắt em tới có thực sự đông người, dễ nhìn thấy em không nữa!

Chào tạm biệt tôi, em cười, rồi tiếp tục đưa sáo lên tiếp tục bài đang dang dở. Tôi vào ghế đá công viên gõ mấy dòng, trong tiếng sáo của em!

Bài Áo mới Cà Mau lại vang lên, âm thanh giữa vòm cây của công viên nghe rõ lắm, nhưng không biết là người đi đường có nghe được tiếng sáo của em không?

Sài Gòn đã lên đèn, không biết, bao lâu nữa, em sẽ nhìn thấy được đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ?

Sài Gòn của chúng ta rộng lắm! Anh cũng là người nhập cư như em, cũng nuôi bao ước vọng! Và Sài Gòn luôn có đủ chỗ cho tất cả những ước mơ!

Em tên Thiên, rồi sẽ có ngày em nhìn thấy lại bầu trời, Thiên há!

** Ngẫm:

Những gì tôi – Trần Xuân Thái – chép lại ở đây chỉ là phần nổi của một câu chuyện buồn dài tập nhưng đầy triết lý sống. Em đã mang đến cho cuộc đời một cơ hội, để mở lòng mình ra mà chia sớt, làm vơi đi nỗi đau mà bản thân em đã và đang phải gánh chịu. Hãy đến với Thiên một lần đi, để mở rộng lòng mình vậy!


 

Võ Văn Thưởng, anh đã bị lộ

March 16, 2024

Ba’o Dat Viet

Võ Văn Thưởng được Nguyễn Phú Trọng tin dùng

Trường hợp ông Võ Văn Thưởng vừa gặp “sự cố” là một trong những ví dụ chua chát nhất về cách lựa chọn nhân sự lãnh đạo của ông Trọng. Và nếu như ông không cố tình giấu giếm khuyết điểm của ông Thưởng thì hôm nay đâu có đến nông nỗi này?

Hôm 14 Tháng Ba, mạng xã hội và các diễn đàn chính trị của người Việt Nam “nóng” lên vì những đồn đoán cho rằng ông Thưởng sắp nộp đơn xin thôi chức, do liên quan tới bê bối về tham nhũng. Sự việc xảy ra dưới thời ông Thưởng làm bí thư Tỉnh Ủy Quảng Ngãi, trong giai đoạn từ Tháng Tám, 2011 đến Tháng Tư, 2014.

Điều vừa kể khiến công luận và giới phân tích hết sức ngạc nhiên, vì lâu nay ông Thưởng được đánh giá là một nhân vật khá trong sạch, vì hầu như chưa có các bê bối liên quan đến tiền bạc.

Một câu hỏi đặt ra: Ông Thưởng vì sao ra nông nỗi này và ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm?

Theo giới phân tích, đây chính là hệ quả của cách lựa chọn nhân sự vô trách nhiệm, mang tính cục bộ bè phái của ông Trọng, trên cương vị trưởng Tiểu Ban Nhân Sự các kỳ đại hội đảng.

Tại sao một sai phạm nhận tiền từ nhà thầu để xây dựng nhà thờ tổ của ông Thưởng lớn và tày đình như vậy nhưng trong một thời gian dài không bị cơ quan phòng chống tham nhũng và tiêu cực mà ông Trọng là người đứng đầu phát hiện và xử lý kịp thời?

Phải chăng đó là lý do tại Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa 13 (Tháng Mười, 2023), truyền thông nhà nước Việt Nam đưa tin tập thể Ban Chấp Hành Trung Ương đã phê bình Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng có rất nhiều sai phạm trong việc đưa vào ban chấp hành nhiều nhân sự không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định.

Trong thời gian diễn ra hội nghị, Đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) đăng một bài viết có nhan đề: “Lựa chọn cán bộ đủ đức, đủ tài đưa vào Ban Chấp Hành Trung Ương khóa mới.” Đây là hiện tượng chưa từng có. Đáng chú ý, bài viết trích dẫn những phát biểu phê phán của các quan chức đương nhiệm cũng như đã nghỉ hưu thuộc Hội Đồng Lý Luận Trung Ương, một cơ quan do ông Trọng trực tiếp quản lý.

Công tác nhân sự của ông Trọng trong thời gian gần đây cho thấy trên thực tế số lượng các lãnh đạo cao cấp bị khởi tố bắt giam tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng minh phẩm chất nhân sự cấp cao do ông Trọng chọn lựa là rất có vấn đề.

Trường hợp ông Võ Văn Thưởng vừa gặp “sự cố” là một trong những ví dụ chua chát nhất về cách lựa chọn nhân sự lãnh đạo của ông Trọng. Và nếu như ông không cố tình giấu giếm khuyết điểm của ông Thưởng thì hôm nay đâu có đến nông nỗi này?

“Sự cố ngã ngựa” của ông Thưởng lộ ra hình ảnh với cơ chế chọn lựa nhân sự lãnh đạo cấp cao độc đoán, thiếu giám sát trong nội bộ đảng CSVN. Vậy thì có lẽ 100% các lãnh đạo cấp cao khác của đảng sẽ không thể trong sạch và cũng vẫn chỉ là các nhân sự tham nhũng nhưng chưa bị lộ mà thôi.

Thanh Hà/Người Việt


 

 Rò rỉ thư mời họp Quốc Hội Việt Nam bãi nhiệm Võ Văn Thưởng

Ba’o Nguoi-Viet

March 17, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một văn bản bị rò rỉ qua mạng xã hội hôm 17 Tháng Ba cho thấy Quốc Hội Việt Nam sẽ tổ chức “kỳ họp bất thường” dự kiến diễn ra hôm 21 Tháng Ba, để “xem xét, quyết định công tác nhân sự thuộc thẩm quyền của Quốc Hội.”

Văn bản nêu trên được nhìn thấy có đóng dấu đỏ và chữ ký của ông Bùi Văn Cường, tổng thư ký Quốc Hội Việt Nam.

Ông Võ Văn Thưởng, chủ tịch nước Việt Nam, ôm người tiền nhiệm Nguyễn Xuân Phúc cách đây một năm khi nhận bàn giao công việc tại phủ chủ tịch. (Hình: VietNamNet)

Đáng lưu ý, ở góc trái phía dưới của văn bản, có yêu cầu những người nhận thông báo “không được phép sao chụp.”

Tuy thông báo của Quốc Hội Việt Nam không đề cập chi tiết về việc “xem xét, quyết định công tác nhân sự” đối với ai, giới quan sát tin rằng đây là một hoạt động trong quy trình bãi nhiệm ghế chủ tịch nước của ông Võ Văn Thưởng.

Nhiều khả năng vào một ngày trước đó, hôm 20 Tháng Ba, trung ương đảng sẽ nhóm họp hội nghị bất thường để quyết định số phận của ông Thưởng rồi sau đó mới chuyển kết quả cuộc họp qua Quốc Hội, để các đại biểu “đồng thuận” bãi nhiệm ông này với “đa số phiếu.”

Quy trình bãi nhiệm ông Thưởng được dự báo sẽ diễn ra y hệt như đối với ông Nguyễn Xuân Phúc, người tiền nhiệm của ông Thưởng, cách đây một năm.

Ngày 17 Tháng Giêng, 2023, cũng chính ông Bùi Văn Cường phát đi thông cáo y hệt như vậy, về dự kiến chương trình kỳ họp bất thường “để xem xét nội dung về công tác nhân sự thuộc thẩm quyền của Quốc Hội.”

Đến ngày họp thì mới cụ thể là “xem xét miễn nhiệm Chủ Tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc.”

Điều ly kỳ là tại buổi bàn giao công việc tại phủ chủ tịch cho ông Thưởng, ông Phúc đã tranh thủ lên tiếng thanh minh cho vợ con liên quan đến vụ Việt Á: “Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp giám đốc Việt Á. Điều này đã được Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết luận rõ ràng.”

Văn bản bị rò rỉ hôm 17 Tháng Ba về “kỳ họp bất thường” của Quốc Hội Việt Nam dự kiến diễn ra hôm 21 Tháng Ba. (Hình: Chụp qua màn hình)

Tình huống ngoài kịch bản ban đầu này khiến một số báo như tờ Tuổi Trẻ phải lập tức xóa phát ngôn của ông Phúc theo chỉ đạo của Ban Tuyên Giáo Trung Ương.

Khó có khả năng ông Võ Văn Thưởng hành xử tương tự ông Phúc khi bàn giao cho người kế nhiệm, nhiều khả năng là một trong hai người – bà Trương Thị Mai (thường trực Ban Bí Thư kiêm trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương) và ông Tô Lâm (bộ trưởng Bộ Công An Việt Nam). (N.H.K) (đ.d.)


 

 Phạt chậm trả tiền nợ thẻ tín dụng

 Ba’o Tieng Dan

Võ Xuân Sơn

16-3-2024

Câu chuyện sử dụng thẻ tín dụng “quên” trả tiền sau 11 năm phải trả hơn 1000 lần số nợ gốc đang rất ồn ào. Nhiều người cho rằng ngân hàng Eximbank đã có vấn đề về đạo đức kinh doanh trong việc này.

Việc Eximbank có vấn đề về đạo đức kinh doanh hay không thì tôi không bàn vì tôi không biết cụ thể trường hợp này. Eximbank liên quan đến một câu chuyện buồn của tôi.

Hồi dịch, tôi lên Đà Lạt ở. Càng về sau, việc đi lại giữa Sài Gòn và Đà Lạt càng khó khăn. VCB đã tích cực hỗ trợ chúng tôi, đồng ý cho chúng tôi sử dụng các phương tiện mạng để gởi ủy nhiệm chi, nhưng do phải chi nhiều khoản, như hỗ trợ nhân viên, rồi lại mua rau và các thực phẩm khác gởi về Sài Gòn, thời gian lại dài hơn dự kiến rất nhiều, tài khoản công ty và tài khoản cá nhân của tôi ở VCB đã cạn.

Trong khi đó thì Eximbank không chấp nhận cho chúng tôi làm như ở VCB. Tình hình quá khó khăn. Về việc mua rau, sau này là làm oxy, tôi đã kêu gọi trên mạng, và được mọi người ủng hộ. Nhưng còn khoản chi cho công ty tôi đâu có thể nhờ ai. Vậy là tôi thử một cách, là viết ủy nhiệm chi, ký và đóng dấu sẵn, rồi gởi về Sài Gòn trong các thùng rau, thịt.

Lần đầu, tôi chỉ gởi thử ủy nhiệm chi với số tiền nhỏ trong một cái thùng. Một câu chuyện đau lòng khác đã xảy ra. Những thùng hàng đó đã không đến được tay người nhận. Theo lời kể thì anh lái xe đã phải liều mình giành giật mới giữ lại được một cái thùng của tôi. May mắn, đó chính là cái thùng có ủy nhiệm chi ký và đóng dấu sẵn. Sau đó, tôi đã không dám mạo hiểm gởi tiếp. Cho nên, mặc dù có tiền, nhưng vẫn không thể lấy ra để xài được.

Trong khi đó thì nguyên bộ chìa khóa nhà tôi bị mất trong một thùng khác. Tôi định gởi chìa khóa về để nhờ nhân viên vô nhà lấy số tiền mặt dự phòng ở nhà để chi xài trong dịch. Sau đó, tôi đã phải kiên quyết về lại Sài Gòn, chấp nhận nguy cơ phải lang thang hoặc bị bắt cách ly tập trung, khi Lâm Đồng chỉ được ra mà không được vô lại, còn Sài Gòn thì không cho vô.

***

Nhân đây, tôi kể câu chuyện của mình liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng và bị quá hạn.

Hồi đó, do bệnh viện tôi mở tài khoản trả lương cho chúng tôi ở VCB, nên sau này, tôi thường mở tài khoản và dùng thẻ của VCB. Tuy nhiên, có lẽ do quan hệ của tôi với VCB khá tốt, nên các thẻ tín dụng của tôi mở ở ngân hàng này đều có mệnh giá khá lớn, dù chỉ là tín chấp. Để tránh bị mất tiền nếu có kẻ hack thẻ của mình, tôi muốn mở một thẻ tín dụng có mệnh giá thấp, để sử dụng giao dịch qua mạng.

Khi ấy, có một bệnh nhân của tôi, là giám đốc một chi nhánh của một ngân hàng khác. Anh này ngoài chuyện khám bệnh, lại rất tích cực chào mời tôi bằng cách cho nhân viên đến tận phòng khám, mở một thẻ tín dụng Master mệnh giá 20 triệu đồng theo ý của tôi.

Ở VCB, tôi thanh toán tiền xài thẻ tín dụng tự động. Do vậy, tôi mở một tài khoản ở ngân hàng đó, chuyển vô một số tiền, làm tài khoản thanh toán tự động, để tránh quên thanh toán. Lâu lâu tôi mở ra kiểm tra, nếu tài khoản thanh toán cạn tiền, thì tôi lại rót thêm vô.

Một thời gian sau, anh bệnh nhân của tôi nghỉ không làm ở ngân hàng đó nữa. Sau đó vài tháng, một hôm, tôi thấy cái tin nhắn ngân hàng gởi cho tôi liên quan đến thẻ tín dụng mấy bữa trước đó có gì lạ lạ. Sau khi xem kỹ, và nhờ bà xã xem lại, thì ra là do tài khoản của tôi không đủ tiền, nên số tiền xài thẻ tín dụng của tôi tháng đó trả chưa hết, còn lại hơn 1 triệu đồng.

Tôi chuyển tiền vô tài khoản. Mấy hôm sau vẫn không thấy trừ số tiền còn lại. Tôi ra ngân hàng để hỏi. Lúc ấy tôi mới té ngửa. Mặc dù tôi thiếu nợ có hơn 1 triệu đồng (khoảng 1,1 hay 1,2 triệu gì đó), và mới thiếu nợ có vài hôm, nhưng số tiền phạt áp dụng trên toàn bộ số tiền tôi xài trong tháng đó (khoảng gần 20 triệu đồng), và được tính từ đầu tháng hay từ thời điểm tôi xài thẻ (lâu rồi tôi nhớ không chính xác chi tiết này), và tính đến ngày tôi ra ngân hàng (chứ không phải ngày tôi nạp tiền vô tài khoản).

Và tổng số tiền tôi phải nộp phạt và trả nợ là hơn 3 triệu. Gần gấp 3 lần số tiền thiếu, và mới chỉ thiếu khoảng 1 tuần. Trong quá trình làm việc xung quanh vụ đó, tôi có cảm giác ngân hàng giăng sẵn các điều khoản, rồi ngồi chờ tôi mắc lỗi trong thanh toán tiền xài thẻ tín dụng để phạt.

Trong khi đó, chỉ vì khoản tiền mà họ cho mượn không tính lãi (dù có tính phí, và phí khá cao, thường là cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường), mà cũng chỉ thỉnh thoảng tôi mới mượn (xài thẻ tín dụng của họ để thanh toán tiền mua đồ qua mạng), tôi đã phải giam một khoản tiền lớn hơn số tiền tôi mượn của họ trong cái tài khoản dùng để trả tự động, để tránh bị phạt vì quên. Mặc dù vậy, chỉ cần một sơ sót nhỏ, là họ chặt mình liền. 3 triệu đồng không lớn, nhưng nó làm cho tôi ngộ ra nhiều điều.

Tôi đã rất kiên quyết đóng cái thẻ tín dụng và cả tài khoản ngân hàng đó lại, mặc dù việc đó không dễ dàng gì. Đến đó thì tôi nhận ra họ là ai.

PHẠM QUỲNH (1892-1945)

Nguyễn Thủy Nguyên   HÀ NỘI NGÀY THÁNG CŨ

MTH- Năm 1992 ở Paris, tôi được đến dự buổi báo cáo luận án Tiến sĩ của bà Phạm Thị Viên, con gái học giả Phạm Quỳnh, về những đóng góp của ông với chữ quốc ngữ và trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Phạm Quỳnh rất giỏi sử dụng tiếng mẹ đẻ, giỏi chữ Hán và tiếng Pháp, là người Việt Nam đầu tiên trong lịch sử diễn thuyết bằng tiếng Pháp trước Viện Hàn lâm Pháp Quốc khi ông mới 30 tuổi. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông là tác giả câu nói nổi tiếng “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn”. Ông cho rằng tiếng nói gắn liền với vận mệnh dân tộc, tổ quốc. Nhờ giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ trong suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc mà dân tộc ta không bị Hán hoá và do đó không trở thành một dân tộc ít người của Trung Quốc. Ông viết: “Người Tàu cai trị ta hơn ngàn năm; văn hoá Tàu, ta đổi theo; phong tục Tàu, ta bắt chước; duy tiếng ta, ta nói; ta không nói tiếng Tàu.”

Phạm Quỳnh sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi, Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.

Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đỗ đầu bằng Thành chung, Trường trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi, nay là Chu Văn An ). Năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.

Từ năm 1916, ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút kỳ cựu của Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932; tuyên truyền cho tư tưởng “Pháp Việt đề huề”. Cũng trong thời kỳ 1924–1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội.

Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức. Ông Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội; và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.

Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.

Năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine.

Từ năm 1925–1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926 ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ.

Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội.

Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền, thôi không làm chủ bút Nam Phong tạp chí nữa. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại(1942–1945).

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.

Trước đây, cũng có nhiều người cho rằng ông gắn bó với các chủ trương chính trị của thực dân Pháp. Ông bị coi là “ru ngủ” thanh niên trí thức trong cái “hồn nước” mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí hướng làm cách mạng chống Pháp. Trong một thời gian dài, quan điểm chính thống của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi ông là tay sai đắc lực của Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Phạm Quỳnh bị Phan Hàm và Võ Quang Hồ bắt giữ theo lệnh khẩn của Mặt trận Việt Minh và áp giải ra khỏi Huế cùng với Ngô Đình Khôi (anh cùng cha khác mẹ với Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi). Ba người bị xử bắn không lâu sau đó.

Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”.

Phạm Quỳnh được coi là người đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận. GS Dương Quảng Hàm đánh giá các công trình của ông là đã “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”.

Ông là tác giả và dịch giả nhiều bài viết và sách văn học, triết học, cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt và tùy bút. Gần như toàn bộ các tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong. Nhiều bài sau đó in lại thành sách do Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội xuất bản.

 

Các tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại:

Dịch thuật

Bao gồm các tác phẩm luận thuyết, phương pháp luận, sách cách ngôn, kịch bản và thơ văn… Ông dịch các đoạn văn và tác phẩm từ tiếng Pháp, chủ yếu thiên về triết học, như triết học của Descartes. Tuy nhiên, ông cũng có dịch một số tác phẩm nghệ thuật như kịch của Corneille.

Khảo luận

Phần quan trọng nhất trong các tác phẩm của Phạm Quỳnh là các tác phẩm khảo cứu. Ông nghiên cứu trong các sách chữ Nho, sách tiếng Pháp, và viết lại những bài chuyên khảo bằng tiếng Việt. Có ba ngành ông chú trọng là:

Các học thuyết Âu Tây, như trong Văn minh luận, Khảo về chính trị nước Pháp, Lịch sử và học thuyết của Rousseau, Lịch sử và học thuyết của Montesquieu, Lịch sử và học thuyết của Voltaire, v.v…

Học thuật Á Đông, những bài về triết học và tôn giáo Á Đông như Phật giáo lược khảo, Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng, v.v…

Văn hóa Việt Nam, với chủ đề trải rộng từ Tục ngữ ca dao, tới Việt Nam thi ca, tới Văn chương trong lối hát ả đào.

Nhiều tác phẩm của ông liên kết những học thuật Âu Tây và phân tích, so sánh chúng với các khái niệm quen thuộc của người Việt Nam. Như trong bài Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng ông có phần phân tích và so sánh giữa quan niệm người quân tử của đạo Khổng và người “chính nhân” (là chữ ông dùng cho l’honnête homme) trong văn hóa Pháp. Hay như ông có những bài Văn hóa Pháp đối với tiền đồ nước Nam hoặc Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam.

Văn du ký

Ông viết nhiều du ký ghi lại những điều quan sát, nhận định, nghị luận trong các chuyến du lịch đi Pháp và đi các vùng đất Việt Nam như:

Mười ngày ở Huế (1918)

Một tháng ở Nam Kỳ (1919)

Pháp du hành trình nhật ký (1922)

Từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam:

Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học – 2001

Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2003

Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004

Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007

Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007

Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Gia đình

Ông có một người vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con (3 người mất từ nhỏ). Trong đó:

– Người con cả là Phạm Giao (sinh năm Tân Hợi 1911), kết hôn với bà Nguyễn Thị Hy, con gái ông Nguyễn Văn Ngọc (về sau bà Hy kết hôn với ông Trần Huy Liệu), sinh được hai người con, một gái, một trai.

– Phạm Thị Giá (sinh năm Quý Sửu 1913), vợ của quan Đốc học trường Thăng Long Tôn Thất Bình.

– Phạm Thị Thức (sinh năm Ất Mão 1915), vợ của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ. Hai ông bà có người con trai là Đặng Vũ Minh, Giáo sư Tiến sĩ, Chủ tịch Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam.

– Phạm Bích (nam, sinh năm Mậu Ngọ 1918), Tiến sĩ Luật đã mất ở Thụy Sĩ.

– Phạm Thị Hảo (sinh năm Canh Thân 1920), vợ Dược sĩ Phùng Ngọc Duy, hiện sống tại Washington D.C., Hoa Kỳ.

– Phạm Thị Ngoạn (sinh năm Tân Dậu 1921), Tiến sĩ Văn chương, vợ của nhà văn Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng.

– Phạm Khuê (nam, sinh năm Ất Sửu 1925), cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nguyên Viện trưởng Viện Lão khoa, nguyên Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam; Đại biểu Quốc hội khóa X.

– Phạm Thị Hoàn (sinh năm Mậu Thìn 1928), từng là ca sĩ. Chồng bà là nhạc sĩ Lương Ngọc Châu (cháu nội chí sĩ Lương Văn Can), tác giả những ca khúc như Tiếng hát lênh đênh, Một đi không trở về…

– Phạm Tuyên (nam, sinh đầu năm 1930, tuổi Kỷ Tỵ), nhạc sĩ, Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội.

– Phạm Thị Diễm (Giễm) (sinh năm Tân Mùi 1931) định cư tại Pháp.

– Phạm Thị Lệ (sinh năm Giáp Tuất 1934) định cư tại Pháp.

– Phạm Tuân (nam, sinh năm Bính Tý 1936) định cư tại Hoa Kỳ.

– Phạm Thị Viên (sinh năm Mậu Dần 1938) định cư tại Pháp

Ngày 28 tháng 5 năm 2016, hội đồng họ Phạm Việt Nam phối hợp cùng gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu mộ phần và dựng tượng Phạm Quỳnh tại Thành phố Huế. Bức tượng bán thân Phạm Quỳnh do chính người cháu ngoại của ông là kiến trúc sư Tôn Thất Đại thiết kế với chiều cao 60 cm, bề ngang 50 cm, được đặt ở bục cao gần 2 m nằm ngay sau ngôi mộ ông ở trước chùa Vạn Phước (phường Trường An, Thành phố Huế). Phía trước bia mộ được ốp tấm bia đá đen khắc ghi câu nói nổi tiếng của ông: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn”.

Phạm Quỳnh đánh giá tiếng Việt bình dân [ông gọi là tiếng Nôm, tiếng ta] rất phong phú về ngữ âm và từ ngữ. Ông viết: Người nào hay chê tiếng Việt là nghèo hãy về nơi dân thôn hay ra chốn chợ búa, nghe bọn phụ nữ nói năng. Tôi tưởng các bậc tu mi [đàn ông]phải ghê cái tài hùng biện của các bạn quần trồi [đàn bà]… [điều đó] đủ chứng minh rằng tiếng Việt ta giàu biết bao nhiêu. Hãy thử nghe hai người đàn bà nhà quê nói chuyện hay cãi nhau, từ đầu chí cuối toàn là phươngngôn tục ngữ cả, cứ từng hồi, từng tràng, như một bài diễn thuyết trường thiên. Trong quốc âm ta có nhiều tiếng rắp đôi hay lắm [ví dụ láo nháo, xoen xoét], hay vô cùng, tưởng không có tiếng nước nào bằng.

Văn tiếng Nôm thường là văn truyền khẩu trong dân gian; ông nhận xét: Tuy không có sách nào biên chép, nhưng tôi dám quyết đó là một thứ văn chương rấtphong phú, tưởng không nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Tiếng ta thật giàu có mà lại tinh tế nữa.

Ông mạnh dạn vạch ra sai lầm suốt mấy nghìn năm của giới trí thức nước ta –– coi thường ngôn ngữ mẹ đẻ, tức tiếng Nôm, văn Nôm; họ “chung kiếp học mướn viết nhờ” (suốt đời học đạo Khổng Mạnh, viết chữ Hán); người coi trọng văn Nôm như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm quá ít. Các cụ ta ngày xưa vì say đắm chữ Tàu nên lãng bỏ tiếngNôm, để cho con cháu ngày nay khổ vì có nước mà không có văn. Ông kêu gọi: Các cụ đã xao lãng, bọn ta phải chăm chú. Ngày nay người nào chịu viết văn Nôm là làm một việc công đức; người nào chịu đọc văn Nôm là làm một việc nghĩa vụ vậy. Công đức, nghĩa vụ ấy, người có lòng có dạ với nước nhà, há lại chẳng nên vui vẻ mà làm ư? Quan điểm tiến bộ, yêu nước ấy của ông trái với quan điểm của nhiều trí thức Hán học và Tây học đương thời: coi thường văn tiếng Việt, sùng bái văn Tàu hoặc Pháp.

Phạm Quỳnh nhận định đúng về mặt mạnh của tiếng Việt là ngữ âm rất phong phú. Ngôn ngữ học hiện đại cho biết tiếng Việt có số lượng âm tiết không xét thanh điệu (tức “khuôn âm tiết”, syllable) nhiều gấp chục lần tiếng Hán (4312 so với 415), nhờ thế tiếng Việt thích hợp dùng loại chữ viết dễ học là chữ biểu âm (phonogaph), còn tiếng Hán thì không. Kết quả là từ giữa thế kỷ 17 dăm vị giáo sĩ người Âu đã thành công chuyển đổi chữ Nôm thành loại chữ biểu âm Latin hoá (về sau gọi là chữ Quốc ngữ). Trong khi đó ở Trung Quốc, chính phủ và toàn dân bỏ ra ngót 100 năm tiến hành Latin hoá chữ Hán mà bất thành, rốt cuộc đành phải bỏ dở (từ 1986).

Tiếng Việt cũng rất phong phú về từ ngữ, bởi lẽ khi dùng ngôn ngữ biểu âm, ai cũng có thể tự do chắp các ngữ âm lại thành từ ngữ mới. Còn Hán ngữ có kho chữ Hán làm sẵn từ mấy nghìn năm trước, tất cả mọi người chỉ được dùng trong phạm vi số chữ ấy, không được làm chữ mới.

Tuy bênh vực tiếng Nôm nhưng Phạm Quỳnh cho rằng Tiếng ta giàu về phần cụ tượng [hình tượng] mà nghèo về phần trừu tượng…Bởi vậy tiếng ta sở trường về lối vận văn [văn vần, như thơ ca, vè, hát nói], còn lối tản văn [văn xuôi] là văn nghị luận thuyết lý thì vụng lắm. Những danh từ về nghĩa lý nếu không mượn chữ Nho[tức từ Hán Việt] thì không đủ tiếng mà dùng… Nói đến nghĩa lý thì các cụ ta toàn dùng Hán văn cả, cho rằng tiếng nước nhà là nôm na thô thiển. Thành ra tiếng ta[hiểu là chữ Nôm] xưa nay không bao giờ được cái danh dự dùng làm văn tự [chữ viết] để truyền bá học thuật. Danh dự ấy toàn thuộc về chữ Hán. Thật là những nhận xét rất xác đáng về ngôn ngữ học. Đúng thế, văn học chữ Nôm chủ yếu là thơ ca, hiếm có tác phẩm văn xuôi. Tác phẩm nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học nước ta – Truyện Kiều, là truyện thơ, mượn nội dung của Trung Quốc, chủ yếu hay ở ngôn ngữ.

Phạm Quỳnh cho rằng tiếng Việt có sức sống vô cùng lớn, vì có thể mượn từ ngoại lai để làm giàu kho từ ngữ của mình. Nhờ mượn chữ Tàu [hiểu là từ Hán Việt] mà tiếng Việt mỗi ngày một giàu thêm; mượn chữ Tàu thì mượn bao nhiêu cũng có thể tiêu hoá được… không kể ngày nay đôi khi có thể mượn thêm chữ Tây nữa. Đúng vậy, ngót nghìn từ Hán-Nhật do người Nhật đặt ra vào cuối thế kỷ 19, khi du nhập nước ta cũng được người Việt Nam tiếp nhận, sử dụng toàn bộ.

Phạm Quỳnh nhận thức rất đúng về tính chất ngôn ngữ Việt. 100 năm trước, ông viết: Tiếng Việt Nam ta là một thứ tiếng độc vận, khác với các tiếngÂu Mỹ là những tiếng liên vận. Độc vận là đọc rời từng vần một, mỗi chữ là một vần [tức âm tiết]… Tiếng ta và tiếng Tàu mỗi vần là một tiếng, mỗi tiếng là một chữ. Cách giải thích như thế thật mạch lạc, dễ hiểu, uyên bác.

Ngày nay ta biết rằng tiếng Việt và tiếng Hán thuộc loại ngôn ngữ đơn âm tiết (monosyllabic, ông gọi là độc vận), mỗi tiếng một âm tiết. Vì thế hai thứ tiếng này “ngốn” rất nhiều âm tiết. Như trên đã nói, tiếng Việt vốn dĩ giàu âm tiết, cho phép làm được chữ viết biểu âm. Tiếng Hán quá nghèo âm tiết, chỉ thích hợp dùng chữ biểu ý (ideograph). Phần lớn ngôn ngữ trên thế giới thuộc loại đa âm tiết (multisyllabic, ông gọi là liên vận), ví dụ từ tiếng Nhật “Bushido”, tiếng Anh “Potato”, tiếng Nga “Rodina” đều có 3 âm tiết ghép theo kiểu tổ hợp (chỉnh hợp), có thể làm ra rất nhiều âm đọc, vì thế thích hợp dùng chữ biểu âm.

Phạm Quỳnh đánh giá đúng: nước ta không tồn tại nhiều tiếng địa phương khác nhau quá xa: Cứ thực mà nói, dân Việt Nam ta thật được hơn các dân tộc khác là chỉ có một thứ tiếng trong cả nước, người Việt Nam đi đến đâu cũngcó thể nghe hiểu được không khó gì. Ấy là ta chưa có văn chương sách vở gì nhiều, nếu có nhiều sách vở văn chương thì tiếng nói còn nhất trí hơn nữa. (Trong khi đó, tại Trung Quốc đến cuối năm 2000 mới có 80% số dân dùng Tiếng Phổ thông thống nhất toàn dân).

Phạm Quỳnh nhận thức đúng về chữ Hán và mối quan hệ giữa chữ Hán với tiếng Việt: Chữ Hán tuy phát tích từ Tàu mà từ thượng cổ đã không phải là văn tự riêng của một dân tộc Tàu. Chính nước Tàu ngày xưa cũng không phải là một nước, thực là một “thế giới” gồm nhiều nước. Mỗi dân có một tiếng nói riêng, có dân độc lập rồi vẫn chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Chữ Hán là khí cụ để truyền bá cái văn hoá ấy. Nó là một thứ chữ viết, không phải là một thứ tiếng nói, đem vào nước nào thì đọc theo thanh âm của nước ấy; chữ là chữ chung, nước nào cũng học chữ ấy mà đọc khác đi, nghe nhau không hiểu, phải viết ra chữ mới hiểu được.

Đúng thế, người Việt Nam, người Nhật, người Triều Tiên đều đọc chữ Hán theo âm của mình. Ông cho rằng nước ta chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa lâu đời quá nên tiếng Việt có quan hệ mật thiết với chữ Hán, vì vậyAi muốn gây dựng tiếng ta thành một nền quốc văn xứng đáng thì không thể nào đoạn tuyệt được cái cổ điển của ông cha ta, mà cái cổ điển ấy, ngoài chữ Nho thì không kiếm đâu được. Người nước ta không thể bỏ chữ Nho [tức từ Hán Việt]. Văn kỹ thuật, văn nghị luận càng cần phải mượn từ Hán Việt, vì tiếng Nôm không đủ dùng; chớ nên vì ghét người Tàu về chính trị, kinh tế mà ghét cả từ Hán Việt có gốc chữ Tàu. Thật là một quan điểm sáng suốt!

Rõ ràng, từ Hán Việt chiếm khoảng một nửa vốn từ tiếng ta, vả lại ngày nay đã Việt Nam hoá tới mức khó phân biệt với từ thuần Việt, càng không thể bỏ được.

Phạm Quỳnh ra sức đề cao chữ Quốc ngữ và đi đầu phong trào dùng chữ Quốc ngữ. Ông nói chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ của người Việt Nam, là cái bè cứu vớt chúng ta trong biển trầm luân. Học giả Dương Quảng Hàm đánh giá các bài viết bằng chữ Quốc ngữ của Phạm Quỳnh đã “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”. Rõ ràng, chữ Quốc ngữ tuy mới chính thức sử dụng được hơn 100 năm nhưng đã góp phần quyết định đưa nền văn minh Việt Nam lên một tầng cao chưa từng thấy, hoà nhập văn minh nhân loại, giành được những thành tựu bỏ xa mấy nghìn năm trước.

Cuối cùng, Phạm Quỳnh đưa ra đường lối đúng đắn phát triển ngôn ngữ Việt: xây dựng nền Quốc học Việt Nam trên cơ sở nền Quốc văn bằng tiếng Việt có kết hợp sử dụng đúng mức từ Hán Việt và từ Pháp văn. Ông nói nước ta tất phải có nền quốc học riêng của mình, có thế nước nhà mới thật là được độc lập về đường tinh thần. Ta xưa nay chưa có nền quốc học, đó là do Kẻ thượng lưu thì học mướn viết nhờ, chung kiếp làm nô lệ tinh thần cho người [người nước ngoài]. Kẻ bình dân thì để mặc cho tối tăm dốt nát, không hề được chịu cái ảnh hưởng giáo hoá của người trên, vì trên dưới cách biệt nhau, dường như không cùng nhau nói một thứ tiếng vậy.”

Đúng vậy, ngày xưa nước ta tồn tại tiếng nói của tầng lớp trên (kiểu “nói chữ”, bắt chước lối nói “văn ngôn” của người Hán, chỉ dùng từ gốc Hán, ai không biết chữ Nho nghe không hiểu), và tiếng Việt bình dân mà Phạm Quỳnh gọi là tiếng Nôm. Ông nêu ví dụ: Bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo rất hay, nhưng tiếc thay lại làm bằng chữ Nho, dẫu trong hàng tỳ tướng có lẽ cũng nhiều người không hiểu hết lời lẽ, nói chi đến trong dân gian. Nếu bài đó viết bằng tiếng [chữ] Nôm thì giọng văn hùng tráng đó lại còn thấm thía biết bao nhiêu, không những cảm các tỳ tướng mà lại cảm đến cả ba quân… còn cảm đến cả dân chúng nữa.

Đúng thế! Các học giả Việt Nam thời xưa rất ít viết bằng chữ Nôm. Đó là do Các cụ đời trước quá sùng thượng chữ Hán, không chịu viết bằng tiếng nước nhà. Văn thơ chữ Hán không phải là thứ của ta, phải dịch ra tiếng Nôm thì dân chúng mới hiểu. Vì thế ông chủ trương Muốn cho nước Nam có quốc học thì phải có quốc văn bằng tiếngNam, và kịch liệt phản đối quan điểm xây dựng nền quốc học trên cơ sở mượn dùng tiếng nước ngoài, bởi lẽ mượn tiếng người thì mượn cả tư tưởng của người, mượn cả học thuật của người rồi đến mượn cả tính tình phong tục của người nữa.

Dĩ nhiên, đã đề cao tiếng Nôm thì tất nhiên phải đề cao vai trò của văn chữ Nôm. Hàn Thuyên, tác giả đầu tiên của chữ Nôm, được ông ca ngợi “Vơ vẩn tơ vương hồn Đại Việt. Thanh tao thép lột giọng Hàn Thuyên”…Hai câu ấy thực là gồm cả các hy vọng tối thiết của bọn ta. Than ôi, vì sao mà ta khắc khoải trong lòng, băn khoăn trong dạ, vì sao ta mong mỏi mà tủi thương? Chẳng phải là từ xưa tới nay ta chưa từng được đem cái giọng Hàn Thuyên này mà diễn cái hồn Đại Việt kia ư? Khi được ngâm văn thơ Nôm, trong lòng ông có cái cảm vô hạn, tưởng như hồn xưa của đất Việt ta còn phảng phất đâu đây.

Chữ Nôm dù chưa được hoàn thiện do bị tầng lớp vua quan không thừa nhận, nhưng nhờ có chữ Nôm mà Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương v.v… đã viết nên một trang sáng ngời trong lịch sử văn học nước nhà. Không có chữ Nôm thì ta không thể biết tổ tiên mình mấy trăm năm trước nghĩ gì, nói thế nào, dùng từ thế nào. Hãy đọc mấy câu thơ chữ Nôm “Chơi cho liễu chán hoa chê, Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời….Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như nước suối mới sa nửa vời.” thì đủ biết tiếng Việt ngày xưa đã rất phát triển, chẳng khác gì lắm tiếng Việt hiện nay. Cho nên phát minh chữ Nôm thực là một sáng tạo kiệt xuất về ngôn ngữ học của tổ tiên ta.

Tuy đề cao tiếng Việt nhưng Phạm Quỳnh chủ trương rất đúng là nên sử dụng thêm từ Hán Việt ở mức vừa phải. Ông phản đối quan điểm cực đoan vì muốn bảo tồn tiếng thuần Việt mà bỏ hết từ Hán Việt (ông gọi là chữ Nho). Ông nêu ví dụ: Nếu nói “Ông vua Việt Nam đi chơi Bắc Kỳ nay đã về kinh rồi”, nghe sống sượng quá… Nếu dùng mấy chữ Nho [hiểu là từ Hán Việt] mà nói “Hoàng thượng ngự giá Bắc Kỳ, nay đã hồi loan”, có phải là lời văn trang trọng biết bao!

Những khảo sát trên đây của chúng tôi dù còn chưa đầy đủ và sâu sắc nhưng cũng đủ chứng tỏ Thượng Chi Phạm Quỳnh đích thực là nhà ngôn ngữ học của nước ta, hơn nữa, là người đi đầu nghiên cứu ngôn ngữ Việt, đề cao ngôn ngữ Việt. Những tìm tòi, sáng tạo và quan điểm của ông trên lĩnh vực ngôn ngữ đáng để chúng ta nghiên cứu học hỏi.

(Tham khảo, trích dẫn Từ điển bách khoa, Nguyễn Hải Hoành (Nghiên cứu quốc tế) và các báo tạp chí tiếng Việt)

Hình 1- Học giả Phạm Quỳnh

Hình 3- Từ trái qua: Nhà văn Phạm Duy Tốn, học giả Phạm Quỳnh và học giả Nguyễn Văn Vĩnh tại Paris năm 1922.

Hình 2- 5 vị Thượng thư thời vua Bảo Đại, từ trái qua phải: Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.

(*) Bài và ảnh – Nguồn từ fb Minh Tran Hop