Nhà hoạt động Trương Minh Tam đi tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ

 

Nhà hoạt động Trương Minh Tam đi tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ

Ông Trương Minh Tam. (Hình: Facebook Trương Minh Tam-Ngày Mới)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Nhà hoạt động Trương Minh Tam vừa từ phi trường quốc tế Nội Bài lên đường đi tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ.

Chiều 31 Tháng Giêng, sau khi đã quá cảnh ở Đài Bắc, Đài Loan, ông Tam công bố tin ông đi tị nạn trên trang Facebook cá nhân với sự sắp đặt của nhân viên Tổ Chức Di Trú Quốc Tế (IOM).

Dường như ông Tam rời khỏi Việt Nam không phải với hộ chiếu trong tay, vì ông viết rằng “nhân viên IOM trao cho tôi túi IOM – chiếc túi chứa đựng toàn bộ số phận tương lai của tôi và nó có giá trị như một tấm visa đặc biệt để vào Hoa Kỳ khi trong tay tôi không có bất kỳ giấy tờ gì chứng minh tôi là tôi.”

Ông Tam cũng viết thêm: “Tôi lần đầu đáp xuống phi trường Đài Bắc. Cơn mưa nhẹ nhàng thanh thản và tôi đứng ngắm nó. Phía sau lưng tôi là Việt Nam, tôi đã rời nó không biết ngày nào trở về. Nhưng lòng tôi lúc này như cơn mưa. Tôi băn khoăn nhưng tôi không hận thù về quá khứ.”

“Tôi không sao quên quá khứ khi tôi đã từng bị bốn nhân viên công vụ của nhà nước Việt Nam làm nhục tôi ở trại giam Hoả Lò và công an Hà Tĩnh khi tôi là người đồng tính. Tôi không quên nhưng tôi chỉ nhớ để hiểu rằng tôi đang sống giữa nhân gian này thật nhỏ bé, bất lực, khổ đau, hạnh phúc… Nhưng điều đó ăn nhậu gì khi tôi vẫn sống đây với tất cả sự bình thản như khói như mây!”

Bộ hồ sơ do IOM trao cho ông Trương Minh Tam. (Hình: Facebook Trương Minh Tam-Ngày Mới)

Hồi Tháng Năm, 2016, ông Trương Minh Tam (sinh năm 1970), thành viên của phong trào Con Đường Việt Nam, bị công an bắt giam sáu ngày cùng lúc với Chu Mạnh Sơn. Hai ông này bị cáo buộc “xúi giục hàng ngàn người đi biểu tình vì môi trường hôm 1 Tháng Năm, 2016.”

Thời điểm đó, ông Tam cho hay chính quyền phải thả ông sau vài ngày giam giữ vì “không có đủ bằng chứng để truy tố, cũng như một phần do áp lực từ công luận.”

Tháng Tư, 2016, ông Tam được ghi nhận xuất hiện tại Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, để đưa tin về vụ cá chết hàng loạt tại vùng biển miền Trung trước thời điểm Hà Nội công bố thảm họa này do công ty Formosa gây ra.

Hồi năm 2017, ông Tam bị báo điện tử VOV của Đài Tiếng Nói Việt Nam đưa cáo buộc “nhận tiền của các tổ chức phản động để thu thập thông tin, phát tán hình ảnh trên mạng Internet nhằm kích động người dân, gây phức tạp tình hình an ninh chính trị.”

Báo Công An Nghệ An hồi Tháng Mười Một, 2017 viết: “Trương Minh Tam thường xuyên được tổ chức Con Đường Việt Nam – một tổ chức ngoại vi của Việt Tân hỗ trợ, trả lương khoảng $400/tháng để hoạt động theo chỉ đạo của chúng. Trương Minh Tam và những người khác đã hoạt động dưới sự chỉ đạo của tổ chức phản động, móc nối, cấu kết với nhiều đối tượng cực đoan, kích động quần chúng tổ chức các cuộc tuần hành, biểu tình phản đối Formosa ở Nghệ An và Hà Tĩnh thời gian qua.” (T.K.)

Ông Trời không đoạt mạng ai. Công an đoạt mạng người dễ như ngồi bàn nhậu.”

V Phung Phung shared Hoa TD‘s post.
 
Image may contain: text
Hoa TD

 

“Không riêng Luân, nhiều người đi cung cũng được điều tra viên đưa cho tờ giấy trắng, gạ ký. Chẳng mấy ai đủ gan từ chối. Phần vì sợ, phần vì nhẹ dạ. Ký khống, coi như đã giúp kẻ tống giam mình quyết định số phận và sinh mạng mình. Nhiều bản án tử hình được tuyên dễ dàng từ những bản ký khống mà ra. Thế mới biết, trên đời to nhất, ghê gớm nhất là công an. Chứ không phải ông Trời. Dứt khoát là thế. Ông Trời không đoạt mạng ai. Công an đoạt mạng người dễ như ngồi bàn nhậu.”

Phạm Thanh Nghiên – Những mảnh đời sau song sắt, tr. 84  

Giấc mơ Việt Nam.

Huỳnh Phi Long shared Le Anh‘s post.

 

Image may contain: 1 person, smiling, text

Le AnhFollow

Giấc mơ Việt Nam.

Nguyễn Thủy Tiên

“CHỈ CÓ SÚC VẬT MỚI CÓ THỂ QUAY LƯNG LẠI NỖI ĐAU KHỔ CỦA ĐỒNG LOẠI MÀ CHĂM LO RIÊNG CHO BỘ LÔNG CỦA MÌNH!” (Karl Marx)

Tôi đã thấy:

Có những thân phận người dân vì quá nghèo không thuê nổi một chiếc xe oto để đưa xác người thân về họ đành chở người thân bằng xe máy.

Nhưng đảng sẵn sảng bỏ ra 1400ty để xây dựng nghĩa trang cho cán bộ cấp cao
Và tôi đã nhìn thấy:

Những trẻ em vùng cao, cơm không có ăn, áo không có mặc trong mùa đông giá lạnh.

Nhưng đảng sẵn sàng phê duyệt xây dựng những tượng đài trăm tỷ, nghìn tỷ. Sẵn sàng bắn pháo hoa vào những lẽ kỷ niệm hàng trăm tỷ chỉ để “biết đâu khi ngắm pháo hoa người ngheo quên cái đói cái nghèo”

Tôi đã nghe:

Hàng chục nghìn tỷ đã bỏ ra để đào tạo ra hàng nghìn giáo sư tiến sỹ nhưng…
Tiến sỹ nước mình không có công trình nào đóng góp cho nhân loại, sự phát triển của đất nước, một đất nước không chế tạo nổi ốc vít vì chi phí quá cao.

Trong khi đó người nông dân lại tự chế tạo được máy bay, tàu ngầm các thiết bị mang tính thực tiễn cao trong cuộc sống. Vậy hàng chục nghìn tỷ bỏ ra để làm gì?

Tôi đã đọc

Chưa có đất nước nào chăm sóc, bảo vệ trẻ em tốt như nước ta 
Nhưng trẻ em thất học còn quá nhiều, bị lạm dụng tình dục nhưng những kẻ tội phạm vẫn được bao che.
………..
Tôi mơ, một giấc mơ tôi tin la có thật, những người có lương tri đồng lòng đứng lên để đòi lại quyền lực thật sự về phía nhân dân.

Tôi có một giấc mơ
(Manh Kim)

Tôi mơ lòng tự ái dân tộc xen lẫn tự hào dân tộc được dồn hết vào việc phát kiến canh tân đất nước

Tôi mơ Việt Nam có thể “trả thù lịch sử” bằng việc “dội bom” xuống khắp Trung Quốc bằng hàng hóa và dịch vụ từ những công ty có tên “Hai Bà Trưng”, “Trần Hưng Đạo”, “Lý Thường Kiệt”… (như cách Nhật từng “trả thù” Mỹ sau Thế chiến thứ hai bằng chiến dịch “oanh tạc” hàng hóa khiến báo chí Mỹ phải khóc lên rằng “Nước Mỹ đang bị xâm lược”!)

Tôi mơ Việt Nam có thể trả được mối hận Hoàng Sa bằng việc có một công ty khổng lồ mang tên “Hoàng Sa” đặt tại Bắc Kinh thuê mướn hàng ngàn công nhân Trung Quốc
Tôi mơ Việt Nam có những “đại gia” có khả năng và tài kinh lược thu tóm được những siêu thị lớn nhất Thái Lan, Philippines hoặc Indonesia…

Tôi mơ Việt Nam có một hãng hàng không có thể đặt tất cả các hãng hàng không khu vực “dưới chân mình” như cách Singapore Airlines đạt được

Tôi mơ có những doanh nhân làm ăn lương thiện không chỉ vun đắp kinh tế quốc gia mà còn xây dựng tinh thần trách nhiệm cộng đồng

Tôi mơ Việt Nam có những giáo sư đại học được thỉnh giảng ở Harvard, Princeton,… theo cách như các giáo sư Việt Nam trước 1975 từng được
Tôi mơ Việt Nam xây dựng được nền giáo dục nhân bản, khai phóng và tự do

Tôi mơ Việt Nam có một nền y tế đủ tử tế và một nền y học đủ mạnh để tạo ra những nghiên cứu đột phá chấn động

Tôi mơ Việt Nam có một nền kỹ nghệ tự lực tự cường

Tôi mơ bàn ăn Việt Nam có thực phẩm sạch, người dân sống trong bầu không khí sạch và những đứa trẻ được tắm trên dòng sông sạch

Tôi mơ Việt Nam có một nhân vật có thể mang lại những phát kiến kỹ thuật làm thay đổi xã hội – một người thôi cũng được. Tôi mơ Việt Nam có một tiến sĩ làm thay đổi được nhận thức lẫn tư duy xã hội – một tiến sĩ thôi cũng được. Tôi mơ Việt Nam có một sử gia mang lại ánh sáng lịch sử cho thế hệ trẻ – một sử gia thôi cũng được

Tôi mơ người dân không còn lo lắng tìm cách bỏ nước mà đi và những người xa nhà đều trở về để cùng nắm tay kiến thiết quê hương

Tôi mơ những con người máu đỏ da vàng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau đều cùng ngồi lại với nhau bằng tinh thần hòa ái

Tôi mơ nước mắt những bà mẹ già và những cô vợ trẻ sẽ khô đi, khi người thân họ được thả ra khỏi những nhà tù nhuộm đen lương tâm

Tôi mơ Việt Nam luôn có nụ cười, những nụ cười suốt chiều dài chữ S – những nụ cười rạng rỡ của một “VIỆT NAM MỚI”

FB Nguyễn Thủy Tiên

Cộng sản tấn công Huế

Cộng sản tấn công Huế

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Do quyết định sửa đổi âm lịch của nhà cầm quyền Bắc Việt Nam (BVN), ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở BVN theo âm lịch mới là ngày 30 tháng Chạp ở Nam Việt Nam (NVN). Trong ngày nầy, bài thơ của Hồ Chí Minh dùng làm lệnh tổng tấn công của cộng sản (CS) vào các thành phố ở NVN, đã được đài phát thanh Hà Nội truyền đi suốt ngày, nhưng các đơn vị bộ đội CS ở NVN, vẫn không nổi dậy cùng một lần vào tối hôm đó, mà có nơi sớm, có nơi trễ.

  1. Toàn cảnh

Cuộc tấn công diễn ra sớm nhứt tại Nha Trang đúng 0 giờ đêm Giao thừa rạng mồng Một Tết Mậu Thân theo lịch NVN, tức đêm 29 rạng 30-1-1968. Sau đó nửa giờ xảy ra tại Quảng Nam, Bình Định… Tại Quảng Nam, CS pháo kích vào trại định cư Trà Kiệu, ở phía Nam thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số. Cộng sản rút lui trễ nhất tại Huế vào ngày 25-2-1968. 

Như vậy cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của CS diễn ra trong gần một tháng. Trong suốt tháng nầy, CS tấn công 44 địa điểm tại các thị trấn, tỉnh lỵ và thành phố sau đây:

Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín (Tam Kỳ), Quảng Ngãi. (Vùng I Chiến thuật) 

Bình Định, Bình Thuận, Tuyên Đức (Đà Lạt). (Vùng II Chiến thuật) 

Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Biên Hòa, Long Bình, Bình Dương, Bà Rịa. (Vùng III Chiến thuật) 

Phong Dinh (Cần Thơ), Vĩnh Long, Kiến Hòa, Định Tường, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Gò Công, Bạc Liêu. (Vùng IV Chiến thuật) 

Trong số những nơi bị CS tấn công, hai địa điểm quan trọng nhứt mà CS nhắm tới là hai thành phố Sài Gòn và Huế. 

Sài Gòn là thủ đô của VNCH. Bộ máy chính quyền trung ương đóng tại đây. Sài Gòn còn là nơi tập trung trụ sở các tòa đại sứ, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước. Cộng sản quyết tấn công Sài Gòn mạnh mẽ để gây tiếng vang lớn trên thế giới. 

Vì tầm quan trọng của mặt trận Sài Gòn, CS tung vào đây bộ chỉ huy cao cấp nhứt như Nguyễn Văn Linh (bí thư mặt trận Sài Gòn), Võ Văn Kiệt (phó bí thư), Trần Văn Trà (chỉ huy phó Lực lượng võ trang Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MTDTGP), Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh… (Chính Đạo, Mậu Thân 68: thắng hay bại, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1998, tr. 173).

Cộng sản mở cuộc tấn công Sài Gòn vào lúc 2 giờ sáng mồng 2 Tết, tức rạng ngày 31-1-1968, đánh vào Dinh Độc Lập, tòa đại sứ Hoa Kỳ, đài Phát thanh Quốc gia, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, và nhiều vị trí vùng phụ cận. 

Lúc đó, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về Mỹ Tho nghỉ Tết tại quê vợ. Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã nhạy bén chỉ huy chận đứng được mũi đánh chiếm đài Phát thanh Quốc gia của CS (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd. tr. 183), vì nếu CS chiếm được đài nầy, phát thanh trên toàn quốc lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, thì tai hại về ngoại giao và nội trị không thể nào lường được. 

Tuy bị bối rối lúc đầu, nhưng quân đội VNCH phản ứng kịp thời, làm chủ tình hình ngay trong ngày mồng 3 Tết. Các đơn vị CS thất bại, phải lần lượt rút ra khỏi vòng đai thành phố Sài Gòn trong vòng một tuần lễ. 

  1. Huế trước Mậu Thân

Thành phố bị CS chiếm lâu nhứt và bị thiệt hại nặng nhứt về nhân mạng cũng như tài sản là thành phố Huế. Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên, cách sông Bến Hải, ranh giới Bắc và Nam Việt Nam, khoảng 80 cây số về phía nam. Các khuynh hướng chính trị của dân chúng Huế lúc đó có thể sơ lược như sau:

Huế là kinh đô của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945). Vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945), bị Việt Minh áp lực và phải thoái vị vào tháng 8-1945. Tuy vậy, ảnh hưởng của triều Nguyễn ở Huế vẫn còn khá mạnh, do con cháu của hoàng gia cũng như con cháu của những quan lại triều đình cũ còn sống ở Huế khá đông. Hội đồng Nguyễn Phúc tộc, hậu thân của Tôn nhơn phủ, dưới sự lãnh đạo tinh thần của cựu hoàng thái hậu, tức Đức bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại, vẫn tiếp tục sinh hoạt. Vào thời điểm năm 1968 (mậu thân) những người nầy hy vọng cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó cư ngụ ở Pháp, có thể đóng một vai trò quan trọng đáp ứng giải pháp hòa giải giữa các bên lâm chiến ở Việt Nam.

Huế là trung tâm Phật giáo lâu đời với những ngôi chùa danh tiếng như Báo Quốc, Từ Đàm, Thiên Mụ, Từ Hiếu, Tường Vân… Chùa Báo Quốc còn là một Phật học viện lớn nhứt và lâu đời nhứt miền Trung, nơi đào tạo nhiều tu sĩ Phật giáo sau nầy đi hoằng pháp và trụ trì các chùa trên toàn VNCH. Các tăng sĩ Phật giáo xuất thân từ các chùa ở Huế như hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ, giữ những chức vụ cao cấp trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, được thành lập theo Hiến chương ngày 4-1-1964, và được chính phủ thừa nhận bằng sắc luật số 14/5 ký ngày 14-3-1964. Một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu thường khuyến khích sinh viên học sinh biểu tình chống chính phủ, đòi hỏi hòa bình, trung lập. 

Huế cũng là nơi có Tòa Tổng giám mục, một địa phận Ky-Tô giáo La Mã được thành lập vào năm 1850. Đại chủng viện Kim Long, thường được gọi là chủng viện Xuân Bích, do các linh mục tu hội Saint Sulpice (phiên âm là Xuân Bích) giảng dạy, chuyên đào tạo các linh mục. Tổng thống Ngô Đình Diệm, gốc người Quảng Bình nhưng sinh sống từ nhỏ tại làng Phủ Cam, một vùng Ky-Tô giáo La Mã nổi tiếng ngoan đạo ở cố đô. 

Huế là địa bàn hoạt động khá mạnh của các đảng Việt Quốc và Đại Việt. Đại Việt đã từng tổ chức chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), gần Huế để chống chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm vào các năm 1954-1955.

Huế là chốn cựu đô, nên hệ thống giáo dục ở đây lâu đời và rộng rãi. Ngoài trường Quốc Học được thành lập từ năm 1898, các trường trung học khác cũng khá lâu đời và đông học sinh, kể cả các tư thục. Hơn nữa, phải kể thêm các trường do các tu sĩ đảm trách như hệ thống trường Bồ Đề của Phật giáo, và các trường Ky Tô giáo La Mã như trường Thiên Hựu (Providence), trường Bình Linh (Pellerin), và trường Jeanne d’Arc (nữ trung học của dòng Thánh Phaolô thành Chartres.) 

Tại Huế, tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập viện đại học năm 1957. Viện đại học nầy là trung tâm văn hóa thu hút sinh viên khắp các tỉnh miền Trung về đây theo học. Sinh viên càng ngày càng đông, và thường tham gia cũng như tổ chức các cuộc biểu tình tại Huế chống chính phủ từ 1963 đến 1967. 

Cũng tại Huế, “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” ra đời năm 1964 trong đó có một số giáo sư và giảng viên Viện đại học Huế như Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần, Hoàng Văn Giàu… Báo Lập Trường của nhóm nầy ủng hộ những quan điểm hòa bình và trung lập của một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu miền Trung. Hội đồng nầy được xem là đã góp tay vào việc kích động các cuộc biểu tình dữ dội tại Huế chống Hiến chương Vũng Tàu của Nguyễn Khánh năm 1964.

Những cuộc biểu tình ở Huế thường do Tổng hội sinh viên Huế tổ chức. Sinh viên luôn luôn hăng hái và bồng bột. Trong giới sinh viên, có thể có sự trà trộn các phần tử thân cộng, hay CS trá hình, mà sinh viên lúc đó không nhận chân được. Cao độ của các cuộc biểu tình nầy là cuộc đốt phá Phòng Thông tin Hoa Kỳ (U.S.I.S. = United States Information Services) tại Huế ngày 1-6-1966 trên đường Lý Thường Kiệt. 

Trong vụ “biến động miền Trung” sau đó, một số nhà lãnh đạo Phật giáo ở Huế chống đối chính phủ bằng cách kêu gọi Phật tử đưa bàn thờ Phật xuống đường để cản trở lưu thông trong thành phố. Tuy nhiên, hành động quá khích nầy không được đồng thuận trong giới Phật tử, nên it người hưởng ứng tuy bề ngoài rầm rộ. 

Trật tự tại Huế và các tỉnh miền Trung được vãn hồi vào cuối tháng 6-1966 khi chính phủ trung ương gởi Thủy quân lục chiến và Cảnh sát dã chiến tăng viện, thẳng tay dẹp tan các cuộc rối loạn. Sau sự kiện nầy, một số trí thức, thanh niên, sinh viên lo sợ bị chính quyền VNCH bắt giam, đã “nhảy núi”, bỏ trốn lên rừng chạy theo CS. Những người nầy sẽ có mặt trong đoàn quân CS tấn công Huế vào dịp Tết Mậu Thân.

Cũng sau vụ “biến động miền Trung”, chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh thuộc Quân đoàn I tại Vùng I Chiến thuật quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bị thuyên chuyển. Đại tá Ngô Quang Trưởng, thuộc Sư đoàn Nhảy dù, được bổ nhiệm thay thế. 

Bộ tư lệnh Sư đoàn I BB đóng ở Mang Cá, phía bắc hoàng thành Huế. Ngày 4-2-1967, đại tá Trưởng được vinh thăng chuẩn tướng. Chính trong thời gian chuẩn tướng Trưởng đang chỉ huy Sư đoàn I BB, thì CS mở cuộc tấn công vào thành phố Huế nhân dịp Tết Mậu Thân (1968).

Do tình hình Huế phức tạp sau vụ “biến động miền Trung”, phía CS hy vọng Huế đủ chín mùi cho một cuộc tổng khởi nghĩa nếu cuộc tổng tấn công xảy ra. Từ đó, CS chuẩn bị khá kỹ lưỡng mặt trận Huế không khác gì mặt trận Sài Gòn.

  1. Cuộc tổng tấn công

Trước Tết Mậu Thân, chỉ huy đặc khu Trị-Thiên-Huế (tức Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế) của CS là thiếu tướng Trần Văn Quang. Trần Văn Quang cử Lê Minh, bí thư tỉnh uỷ đảng Lao Động (Cộng Sản) tỉnh Thừa Thiên-Huế, phụ trách mặt trận Trị-Thiên. 

Minh chia mặt trận Trị-Thiên thành 3 khu vực: mặt trận Quảng Trị giao cho Hồ Tú Nam phụ trách; mặt trận Phú Lộc (phía nam Thừa Thiên) giao cho một cán bộ tên Chi chỉ huy; còn mặt trận Huế, quan trọng nhất, do Lê Minh đích thân đảm nhận. Minh lại chia Huế thành hai điểm để tấn công: phía bắc Huế (tả ngạn sông Hương), và phía nam Huế (hữu ngạn sông Hương Huế)

Cánh quân phía bắc Huế do một người tên Thu chỉ huy, Trần Anh Liên làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn 6 (gọi là E-6, gồm có 3 tiểu đoàn), thêm 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội pháo và du kích hai quận Hương Trà và Hương Điền. Cánh quân nầy xuất phát đúng vào tối Giao thừa (29-1-1968) từ rừng núi tây Huế, chia làm 4 mũi đánh vào cửa Chính Tây (nằm về tay trái hoàng thành từ Kỳ đài nhìn vào), cửa An Hòa (cửa Tây Bắc), Kỳ đài (cột cờ trước Ngọ môn), sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Cộng quân làm chủ ngay được cửa Chính Tây, cửa An Hòa và Kỳ đài, nhưng thất bại ở sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Đồn Mang Cá lúc đó là nơi đặt bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh do chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng đứng đầu. Đồn Mang Cá là điểm tựa vững vàng để quân đội VNCH cũng như Đồng minh tổ chức phản công trở lại.

Qua cửa Chính Tây, CS tiến chiếm Đại nội. Cộng sản dùng bờ thành Đại nội để bảo vệ Kỳ đài, nơi đó, ngày 31-1 (mồng 2 Tết), CS treo một lá cờ lớn của MTDTGPMNVN. (Don Oberdorfer, TET, New York: A Da Capo Paperback, 1971, tr. 230.) Theo tài liệu của CS thì đây là cờ của Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam (Chính Đạo Mậu Thân, sđd. tr. 126). Trong bài tham luận trình bày tại Huế ngày 15-12-2007, tác giả Nguyễn Đắc Xuân, theo tài liệu của đảng bộ Huế, cũng cho rằng đây là cờ Liên minh. Không ai lạ gì việc những người trong nước đều phải nói theo đảng CS. 

Tuy nhiên, cần chú ý rằng ngày 31-1, tức là ngày CS treo cờ ở Kỳ đài, Liên minh nầy chưa được thành lập, làm sao có cờ ? Ở những nơi khác, Sài Gòn hay bất cứ thành phố nào ở miền Nam, không ai thấy hay biết gì về lá cờ Liên minh. Liên minh nầy chỉ là một mặt trận chính trị, giống như Mặt trận Tổ Quốc của Hà Nội, không thể được quân đội cộng sản treo cờ. 

Từ Kỳ đài, CS tiến quân theo mé bờ tả ngạn sông Hương (tức bờ phía bắc), chiếm đồn Cảnh sát chợ Đông Ba, bắt tay với một cánh quân CS khác cũng của E-6, làm chủ hoàn toàn khu vực Đông Ba, Gia Hội.

Cánh quân phía nam Huế, hay bên hữu ngạn sông Hương, tức bên có tòa tỉnh trưởng, các trường Đồng Khánh, Quốc Học, do Thân Trọng Một chỉ huy, Nguyễn Vạn làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn E-9 của sư đoàn 309, trung đoàn 5 (4 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn pháo, và 4 đội đặc công. (Chính Đão, Mậu Thân…,sđd. tr. 108-110. Chính Đạo trích dẫn từ tài liệu của Thành uỷ CS Huế, Huế, Xuân 1968.)

(Võ Hương An trình bày.)

Cánh quân nầy dự định xuất phát tối Giao thừa (29-1), nhưng vừa xuất phát thì bị phi cơ thám thính Mỹ phát hiện và bị pháo kích, phải lẩn tránh, nên tiến chậm. Sáng mồng 1 Tết (30-1) cánh quân nầy mới tiếp tục tiến về phía thị xã Huế. 

Sau 4 ngày giao tranh, CS chiếm gần hết vùng hữu ngạn thành phố Huế cho đến lao xá Thừa Phủ (gần sát tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên). Cộng sản thả khoảng 2,000 tù nhân đang bị giam trong lao xá. Những người nầy liền được CS võ trang để tiếp tay cho CS. 

Quân đội VNCH chỉ còn giữ đài Phát thanh, tiểu khu Thừa Thiên, bản doanh MACV (Hoa Kỳ) đặt ở khách sạn Thuận Hóa, và Bến tàu Hải Quân, bên bờ nam sông Hương (hữu ngạn). Nếu đi từ phía chợ Đông Ba (tả ngạn), theo cầu Trường Tiền qua bờ phía hữu ngạn, đi thẳng là đường Duy Tân dẫn đến An Cựu. Ngay tại chân cầu, đầu đường Duy Tân, phía tay mặt là đài Phát thanh, phía tay trái, cách khoảng trên 500 thước là Bến tàu Hải quân (gần khách sạn Hương Giang). 

Đi thẳng từ cầu Trường Tiền về An Cựu, dọc theo đường Duy Tân (trước 1975) phía bên trái, cách cầu khoảng 500 thước là Tiểu khu Thừa Thiên và khách sạn Thuận Hóa, nơi đóng trụ sở của MACV, viết tắt của chữ Military Assistance Command, Vietnam, tức Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam.

  1. Tổng khởi nghĩa thất bại

Về phương diện chính trị, ngay sau khi chiếm vùng tả ngạn (phía bắc Huế, vùng Thành nội, chợ Đông Ba…), ngày mồng 2 Tết (31-1), CS liền tổ chức cầm quyền. Uỷ Ban Nhân Dân (danh xưng của CS) trong Thành nội gồm hai quận, do Nguyễn Hữu Vấn (giáo sư âm nhạc), làm chủ tịch quận 1, và Nguyễn Thiết (sinh viên Đại học Luật khoa), làm chủ tịch quận 2. Phía hữu ngạn, CS không lập kịp các uỷ ban nhân dân, chỉ chú tâm vào việc lùng bắt và kiểm soát tù hàng binh.

Ngày mồng 3 Tết (1-2-1968), đài phát thanh Hà Nội loan báo thành lập tổ chức Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ Và Hòa Bình tại Huế do Lê Văn Hảo, giáo sư Đại học Văn khoa Huế, làm chủ tịch, và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký. (Chính Đạo, Mậu Thân…sđd. tr. 131. Thụy Khê, “Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế”, phỏng vấn trên đài RFI, 12-7-1997, đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 36, tháng 8-9-1997, tt. 197-200.) 

Cần phân biệt ở đây, Lê Văn Hảo làm chủ tịch Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ…tại Huế. Còn trên toàn miền Nam, Liên Minh nầy do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch. Đài phát thanh Hà Nội cũng thông báo ngày 14-2-1968, Lê Văn Hảo được đưa lên làm chủ tịch chính quyền cách mạng Huế. Phó chủ tịch là bà Đào Thị Xuân Yến (còn gọi là bà Tuần Chi), và Hoàng Phương Thảo (Thường vụ Thành uỷ CS). (Chính Đạo, Mậu Thân,sđd. tr. 131.)

Nguyễn Đắc Xuân, khi còn là sinh viên sống tại Huế, đã từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” vào năm 1966 để chống chế độ “Thiệu Kỳ”, rồi bỏ trốn theo CS, nay trở lại Huế, phụ trách đội “Công tác Thanh niên”. Xuân được CS giao nhiệm vụ tổ chức “đoàn Nghĩa binh”, gồm những quân nhân Cộng Hòa bị kẹt trong vùng CS tạm chiếm, gọi là “Quân nhân Sư đoàn 1 ly khai”.

Ngày 4-2-1968 (mồng 6 Tết), đoàn nầy ra thông cáo đả kích chế độ “Thiệu Kỳ”, nhưng sau đó đoàn bị CS phân tán ngay, vì sợ các quân nhân trong đoàn nầy quay lại chống CS. Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức đội “Nghĩa binh Cảnh Sát”, giữ nhiệm vụ ngăn chận không cho dân di tản khi quân đội VNCH và Đồng minh phản công.

Những đơn vị an ninh của CS hoạt động mạnh sau khi cộng quân tạm chiếm Huế. Những đơn vị nầy do một người tên Lê (Tư) điều khiển chung, còn Tống Hoàng Nguyên phụ trách tả ngạn, và Nguyễn Đình Bảy (Bảy Khiêm) lo phía hữu ngạn. Những đơn vị nầy truy lùng và bắt giết tất cả những nhân viên chính quyền VNCH và nhân viên làm việc tại các cơ quan Hoa Kỳ, hoặc những người cộng tác với Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA: Central Intelligence Agency). Chính những đơn vị an ninh nầy là tác giả của những cái chết thê thảm tại Huế, nhứt là lúc CS chuẩn bị rút lui.

Trái với dự đoán của CS, tuy dân chúng bị ép buộc phải dự những cuộc hội họp, mít tinh do CS tổ chức, nhưng dân chúng không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa do CS đề ra. Rõ nét nhứt là dân chúng không đi theo du kích CS, mà bỏ chạy qua các vùng do quân đội VNCH kiểm soát ở khu vực Mang Cá, hay trường Kiểu Mẫu gần trường Đại Học Sư Phạm, hoặc khu vực phi trường Phú Bài, cách Huế khoảng trên 10 cây số về phía nam. 

Đặc biệt, chỉ trừ những quân nhân về thăm nhà bất ngờ bị du kích CS bắt được, hầu hết các quân nhân nghỉ Tết ở Huế đều kiếm cách liên lạc hay gia nhập các đơn vị tác chiến gần nhứt để cầm súng chống CS, chứ không gia nhập hay chạy theo du kích CS. Các đơn vị hành chánh nhỏ cũng kiếm cách phòng thủ để chận đứng sự thâm nhập của du kích CS.

Như thế, cuộc tổng khởi nghĩa theo dự tính của CS hoàn toàn thất bại và không xảy ta.

(Toronto, 12-2-2018)

Trần Gia Phụng

danlambaovn.blogspot.com

Blogger Mẹ Nấm bị chuyển trại tù xa nhà trong ngày cận Tết

Blogger Mẹ Nấm bị chuyển trại tù xa nhà trong ngày cận Tết

Hai người con của blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cầm bảng ghi những dòng chữ bày tỏ cảm xúc khi hay tin mẹ bị đày đi trại tù khác ở Thanh Hóa, rất xa nhà. (Hình: FB Nguyễn Thị Tuyết Lan)

NHA TRANG, Việt Nam (NV) – Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – người đang bị CSVN cầm tù với bản án 10 năm, đã bị chuyển trại tù từ Khánh Hòa ra trại tù số 5 ở miền núi tỉnh Thanh Hóa, cách nhau hơn 1,100 km, đúng vào ngày 27 Tháng Chạp, khi Tết Mậu Tuất cận kề.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ của blogger Mẹ Nấm đến trại tù tỉnh Khánh Hòa để thăm nuôi theo lịch thì mới biết con gái bị chuyển trại chứ bà không hề được báo trước.

 

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan cho hay trên trang facebook cá nhân rằng sáng Thứ Hai, 12 Tháng Hai, 2018, (tức ngày 27 tết) bà mang các thứ đã chuẩn bị trước đó đến nhà tù tỉnh Khánh Hòa thăm con gái Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nhưng con gái bà đã bị đày tới nhà tù khét tiếng dữ dằn, trại tù số 5 tại huyện miền núi Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nơi từng giam cầm nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cô Phạm Thanh Nghiên và nhiều nữ tù nhân lương tâm nổi tiếng khác.

“Tôi nhận được tin Quỳnh đã bị đày ra tận trại 5, Thanh Hóa. Không một văn bản giấy tờ, công an trại giam Khánh Hòa chỉ thông báo bằng miệng khi tôi đến. Hôm nay đã là 27 Tết rồi, họ có cần phải tàn ác thế với gia đình chúng tôi?” Bà Tuyết Lan viết trên trang facebook.

Trước đó một tuần, cũng ngày Thứ Hai, 5 Tháng Hai, 2018, bà Tuyết Lan đi thăm Quỳnh nhưng công an không một lời thông báo. “Họ cố tình chờ đến sát Tết, sau khi đã đưa mẹ của Nấm Gấu đi thật xa chúng nó rồi mới cho gia đình tôi được biết.” Bà Tuyết Lan viết.

Phẫn uất vì sự cư xử độc ác của nhà cầm quyền, bà Tuyết Lan cho hay bà đã lớn tuổi, vừa phải nuôi nấng hai cháu nhỏ, lại còn phải săn sóc bà mẹ già trong khi phải thăm nuôi con gái trong tù và lại còn bị đày đi rất xa nhà. “Chính quyền này biết rõ điều đó hơn ai hết, nhưng họ vẫn cố tình đầy Quỳnh ra tận ngoài Bắc sau khi đã giáng lên cả gia đình chúng tôi bản án 10 năm tù.”

“Trại 5 Thanh Hoá khét tiếng về sự heo hút, mới đây tôi đọc báo còn thấy tin nó bị cô lập trong dòng nước lũ, với sức khỏe của con tôi hiện nay làm sao để chống chọi và chịu đựng được ở một nơi như thế? Chẳng phải họ đang muốn giết con tôi mà không cần dùng dao súng, muốn nó chết dần trong tù đày khổ ải hay sao? Bản án 10 năm không đủ khiến họ hả hê, nước mắt chia lìa mẫu tử không khiến họ cảm thấy một chút dao động, vào ngày 27 Tết họ tiếp tục đâm thêm nhát dao cho chúng tôi bằng chết,” bà Tuyết Lan viết trên Facebook.

Blogger Mẹ Nấm tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30 Tháng Mười Một, 2017, khi bị tuyên y án 10 năm tù. (Hình: Getty Images)

Blogger Mẹ Nấm nổi tiếng với những bài viết sắc xảo về các vấn đề thời sự tại Việt Nam trên trang facebook cá nhân. Bà tham gia vận động nhân quyền, tranh đấu cho tự do ngôn luận suốt nhiều năm qua không ngừng nghỉ nên đã từng bị công an CSVN cô lập, khủng bố, hành hung rất nhiều lần. Bà từng biểu tình một minh mỗi khi hay tin có một người nào tham gia vận động dân chủ hóa đất nước bị bỏ tù. Cả bà cũng không thoát.

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, năm nay 39 tuổi, là thành viên điều hành của nhóm “Mạng Lưới Blogger Việt Nam,” thành viên của các tổ chức “Người Việt Yêu Nước” và “Tuyên Bố Công Dân Tự Do.” Bà tích cực tham gia bày tỏ chống đối công ty gang thép Formosa xả chất thải độc hại làm chết một vùng biển rộng lớn suốt 4 tỉnh miền Trung. Bà cũng từng soạn tổng kết một tài liệu tố cáo công an CSVN đã tra tấn nhục hình bức cung chết hàng chục người mỗi năm.

Bà bị bắt ngày 10 Tháng Mười, 2016, rồi bị kết án 10 năm tù hồi năm ngoái mà có luật sư phát biểu một thứ bản án “nặng hơn án giết người” của người khác. Năm 2012, Trung Tá Công An CSVN Nguyễn Văn Ninh chỉ bị kết án có 4 năm tù dù ông ta dùng gậy cao su đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, chỉ vì ông ta cự cãi chuyện đội mũ bảo hiểm.

Các tù nhân lương tâm thường bị chế độ Hà Nội đày đi rất xa nơi sinh sống của gia đình họ, gây khó khăn và tốn kém rất lớn cho sự thăm viếng. Tù nhân bị kết án ở miền Bắc thì bị đày xuống miền Trung hay miền Nam. Tù nhân miền Nam thì bị đày ra Bắc hay miền Trung.

Sau khi bị y án 10 năm tù qua phiên xử phúc thẩm cuối Tháng Mười Một, năm 2017, cũng như sau phiên xử sơ thẩm mấy tháng trước đó, Liên Âu, chính phủ Mỹ cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế lên án mạnh mẽ việc bỏ tù blogger Mẹ Nấm.

Gần 40 trí thức trên thế giới, nhiều người rất nổi tiếng đã cùng đứng tên trên một lá thư kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do cho bà cũng như bà Trần Thị Nga (bị kết án tù 9 năm) và các tù nhân lương tâm khác. Chế độ Hà Nội không coi những can thiệp như thế có tác dụng trừ phi có sự trao đổi đem lại lợi lộc gì cho họ.

Năm 2010, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) trao giải Hellman Hammett vì những hoạt động bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Năm 2015, Tổ Chức Bảo Vệ Quyền Dân sự trao cho cô Giải Thưởng Của Năm. Bà cũng được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trao tặng giải “Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm” trên thế giới vào Tháng Ba, năm 2017, khi đang ở trong tù. (TN)

BẠN HỎI : TẠI SAO ĐẢNG CS LÃNH ĐẠO YẾU HÈN NHƯ THẾ MÀ HỌ LẠI NẮM ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN LÂU NHƯ VẬY .

V Phung Phung shared Nguyễn Thanh‘s post.
 
 
 
Image may contain: outdoor
Nguyễn Thanh

 

BẠN HỎI : TẠI SAO ĐẢNG CS LÃNH ĐẠO YẾU HÈN NHƯ THẾ MÀ HỌ LẠI NẮM ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN LÂU NHƯ VẬY .

Đáp : 
Vũ khí giúp CS nắm được chính quyền gồm 3 vũ khí cực kỳ lợi hại
1 . Vũ khí tuyên truyền dày đặc
2 . Nói láo ,xảo trá ko biệt ngượng mồm và họ biết vẽ ra 1 xhcn tốt đẹp đầy hứa hẹn .
3 . Họ dùng bạo lực cai trị

Nguyên nhân giúp Việt Minh lên nắm được chính quyền vào năm 1945 là do : 
– Có một khoảng trống về quyền lực 
– Chính quyền vua Bảo Đại đang suy yếu và xin rút lui ,nhường quyền cho Việt Minh lãnh đạo để giành độc lập ( vì giai đoạn này ảnh hưởng của đảng Việt Minh lớn và được sự ủng hộ lớn từ nhân dân )
– Nạn đói 1944 – 1945 đã làm gần 2 triệu đồng bào chết đói .Làm cho nhân dân tức giận chính quyền ,và căm thù phát xít Nhật . Họ khát khao thay đổi chính quyền ,và đuổi Nhật ,Pháp để dành độc lập . 
– Ngày 14- 8 – 1945 Nhật đã đầu hàng đồng minh .

Trong thời kỳ chống Pháp ,chống Nhật chỉ có Đảng Việt Minh là hoạt động mạnh nhất ,có kỷ luật ,có kỷ cương ,và đường lối chiến lược rõ ràng . Họ sẵn sàng đạp đổ ,tiêu diệt các đảng phái khác để giành vị trị lãnh đạo chủ chốt .( tham khảo hồi ký 1 cơn gió bụi của Trần Trọng Kim ) .Nhưng năm 1945 Việt Minh chỉ thống nhất được Bắc kỳ và Trung Kỳ ,Nam kỳ vẫn bị Pháp cai trị .

Chủ thuyết của CS họ chỉ phục vụ cho lý tưởng của CS quốc tế ,cho 1 XHCN đại đồng chứ không có tinh thần Dân Tộc quốc gia ,cho nên họ sẵn sàng tiêu diệt các đảng phái khác để phục vụ cho lý tưởng cs . Cho nên người CS ko có hòa hợp và liên kết với đảng phái khác ,vì vậy CS họ tìm cách tiêu diệt những đảng phái chống lại họ ,ko theo họ . Ông Lê Duẩn từng phát biểu tại Nga rằng ” VN đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và TQ ” .

Cải cách ruộng đất 1954 ở Miền Bắc ,với chiêu bài dành đất lại cho người nghèo chỉ qua là 1 chiến lược tiêu diệt tận gốc tầng lớp tri thức tiến bộ ,tàn dư phong kiến để xây dựng 1 XHCN hoàn toàn mới ,ko có vật cản con đường đi lên XHCN của họ . Lấy tầng lớp nông dân ,bần cố nông ít chữ ,ít hiểu biết để dễ mị dân ,dễ cai trị ,dễ nhồi sọ .Triết lý của Mao Trạch Đông là ” Tri thức là cục phân ” đã minh chứng cho chính sách tiêu diệt tận gốc tri thức .

Sau khi dànhđược chính quyền phía bắc ,họ bắt đầu tẩy não người Dân bằng những chiêu bài triết lý Mác – Lê vĩ đại ,sáng suốt ,tài tình và tư tưởng Mao trạch Đông .Họ xây dựng hình tượng cụ hồ vĩ đại ,thật đẹp thật hoàn hỏa để Nhân Dân tôn thờ và thần tượng như 1 vị thánh .Chủ nghĩa CS họ chỉ xem Mác – Lê là ông cụ tổ tiên của họ thôi.

Để thực hiện âm mưu cướp được Miền Nam VN ,người CS tiếp tục dùng tuyên truyền dày đặc và nhồi sọ người Dân rằng ” Miền Nam đang bị Mỹ xâm lăng ,đồng bào đang bị Ngụy kiềm kẹp và kéo lê máy chém khắp Miền Nam tàn sát đồng bào của mình ” . Vì vậy đồng bào Miền Bắc phải lên đường giải phóng MN thống nhất đất nước để đi lên XHCN tươi đẹp. Thông tin không có ,đất nước đang chia cắt ,họ dùng bạo lực cai trị và gắn trên đầu người Dân cái vòng kim cô khống chế não người Dân bằng chính sách giáo dục ngu dân ( ko biết tư duy ,chỉ theo và nghe đảng như những con robot ) .Cho 1 lực lượng nằm vùng bên trong để chống phá ,ép Mỹ dùng quân sự can thiệp vào Miền Nam để có lý do đi giải phóng MN .

Sau khi cướp được MN ,phía CS tiêu diệt tận gốc thể chế chính quyền chế độ cũ bằng chiêu bài đi tù cải tạo hòng che mắt Thế giới . Tù cải tạo thực chất dùng để trả thù và đày đọa họ làm cho họ ko còn ý chí đấu tranh ,kháng cự lại . Chiến dịch đánh tư sản, đẩy đi vùng kinh tế mới chỉ là chiêu bài được cướp tài sản công khai ,làm suy yếu lực lượng này trỗi dậy trong tương lai .Kiềm kẹp người MN bằng kinh tế làm cho họ trở thành giai cấp vô sản hoàn toàn .Kiềm kẹp về lý lịch để họ ko thể bước chân vào chốn quan trường .

– Người CS vẫn tồn tại vững chắc là nhờ kênh truyên tuyền mạnh suốt hơn 70 năm cầm quyền .
– Nền giáo dục ngu dân giúp người Việt không có khả năng tư duy độc lập ,bị họ điều khiển và dắc mũi như những con bò ngu xuẩn . 
– Họ dùng bạo lực để khống chế tranh đấu người Dân 
– Họ bóp ghẹt người Dân bằng thuế phí nặng nề 
– Họ sử dụng lãnh đạo ngu dốt dễ sai bảo 
– Thể chế độc tài giúp mỗi ông quan là 1 ông vua cai trị 1 vùng đất .Và sẵn sàng dùng bạo lực đàn áp Dân để bảo vệ quyền lợi cho họ .
– Sau khi chính sách tuyên truyền mất tác dụng để mị Dân ,họ chuyển sang kế sách vô cảm hóa người Dân. Làm cho Dân thờ ơ trước thực trạng của XH .

Người CS tuy họ không có khả năng lãnh đạo đất nước phát triển kinh tế đất nước mạnh .Nhưng họ có khả năng mị dân ,khống chế tư tưởng tranh đấu của Dân và biết cúi đầu luồn cúi ,nịnh bợ Trung cộng để được nâng đỡ .

Đôi Dòng Với Anh Gia Quốc.

 
 
Van Pham shared Phạm Thành‘s post.

Muốn đấu tranh kiểu gì cũng được…. miễn đó là công việc chủ lực của người dân quốc nội…. đừng trông ngóng hải ngoại, vì thực ra họ chỉ có thể yểm trợ cho quốc nội. Bởi họ không có nhu cầu tranh đấu dân chủ, tự do cho chính họ…. Một khi không phải là mục tiêu sống còn, thì ai đòi hỏi hay bắt buộc họ phải lao vào sống chết để đấu tranh?!!!

 
Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting and indoor
Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting and indoor
Phạm Thành added 2 new photos — with Trần Thị Thảo and 14 others.

 

Đôi Dòng Với Anh Gia Quốc.

Anh Gia Quốc từ nước Mỹ xa xôi đến chơi nhà. Chúng tôi nói, Việt kiều có 4 triệu người ở xứ sở tự do mà chưa hình thành được một thể lực đủ mạnh để đối trọng với cộng cầm quyền Việt Nam. Ấy mà các bạn thường xuyên có bài phê phán phong trào đấu tranh cho dân chủ ở trong nước rằng: chưa có thủ lĩnh, chưa liên kết và rất dễ vỡ. Anh Quốc nói, ở nước ngoài cũng có thế lực đó, nhưng cũng chưa mạnh và cũng chưa đoàn kết được. Chúng tôi nói với anh Quốc rằng, nhóm chúng tôi đấu tranh, mục tiêu xa cũng là đấu tranh cho dân chủ, nhưng trước hết phải bấng cái gốc độc tài, toàn trị của đảng cộng sản đi cái đã. Cái gốc ấy mà còn, chẳng có mầm mống dân chủ nào có thể phát triển đươc. Còn lấy mục tiêu dân chủ ra để khai dân trí và đợi cho trí của người dân được mở ra thì có lẽ phải trăm năm nữa, cách mạng dân chủ ở Việt Nam mới xảy ra.

Cộng sản Việt Nam sụp đổ là tự nó sụp đổ do hết nguồn lực, đời sống người dân khó khăn, chẳng hạn; hoặc là có biến động lớn của thế giới tác động đủ mạnh buộc nó phải sụp đổ, hoặc là cả hai tạo ra áp lực dẫn đến nó phải sụp đổ. Những người đấu tranh chỉ góp một phần nhỏ tạo nên sự sụp đổ đó mà thôi. Vấn đề quan trọng là khi cộng sản sụp đổ thì những người đấu tranh giải thể cộng sản cầm quyền có đủ lực lượng để cướp chính quyền từ tay cộng sản hay không? Nhóm tôi quan tâm nhiều đến vấn đề này, dồn tâm trí cho mục tiêu này, vì chúng tôi tin rằng, sự sụp đổ của độc tài cộng sản Việt Nam tất yếu sẽ dẫn đến dân chủ cho Việt Nam. Vì rằng, dân chủ là cở sở để bảo toàn mạng sống, của cải và quyền sống của bất kỳ ai.

Vì vậy, đầu tư cho công cuộc đấu tranh giải thể cộng sản cầm quyền cần thiết và mạng giá trị hiện thực hơn đầu tư cho khai trí về dân chủ.

27 TẾT ĐI THĂM – NHẬN ĐƯỢC TIN CON ĐÃ BỊ CHUYỂN TRẠI XA

Hoa Kim Ngo shared Tuyet Lan Nguyen‘s post.
 

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị chuyển đi trại 5 Thanh Hoá mà không thông báo cho gia đình.

Sự tàn ác của nhà cầm quyền ngày càng tàn độc.

 
Image may contain: 2 people, people standing and outdoor
Tuyet Lan Nguyen

 

27 TẾT ĐI THĂM – NHẬN ĐƯỢC TIN CON ĐÃ BỊ CHUYỂN TRẠI XA

Sáng nay theo lịch thăm nuôi tôi mang theo đồ đạc đã chuẩn bị trước đó đến trại giam để thăm con. Khi đến Trại giam tỉnh Khánh Hoà thì tôi nhận được tin Quỳnh đã bị đầy ra tận trại 5, Thanh Hoá. Không một văn bản giấy tờ, công an trại giam Khánh Hoà chỉ thông báo bằng miệng khi tôi đến. Hôm nay đã là 27 Tết rồi, họ có cần phải tàn ác thế với gia đình chúng tôi?

Thứ hai ngày 05/02/2018 . Tôi đi thăm Quỳnh họ không một lời thông báo. Họ cố tình chờ đến sát Tết, sau khi đã đưa mẹ của Nấm Gấu đi thật xa chúng nó rồi mới cho gia đình tôi được biết.

Nếu như tôi là tôi của chục năm về trước, nếu như tôi cần phải lo cho các cháu tôi, Nấm và Gấu, thì dù họ có chuyển con tôi đi đến đâu tôi cũng không quan tâm, tôi có thể đi bất cứ nơi nào để thăm nom con mình. Nhưng bây giờ tôi đã hơn 60, không chỉ có cháu nhỏ con tù mà trên vai còn có mẹ già phải gánh. Chính quyền này biết rõ điều đó hơn ai hết, nhưng họ vẫn cố tình đầy Quỳnh ra tận ngoài Bắc sau khi đã giáng lên cả gia đình chúng tôi bản án 10 năm tù.

Trại 5 Thanh Hoá khét tiếng về sự heo hút, mới đây tôi đọc báo còn thấy tin nó bị cô lập trong dòng nước lũ, với sức khỏe của con tôi hiện nay làm sao để chống chọi và chịu đựng được ở một nơi như thế? Chẳng phải họ đang muốn giết con tôi mà không cần dùng dao súng, muốn nó chết dần trong tù đày khổ ải hay sao?

Bản án 10 năm không đủ khiến họ hả hê, nước mắt chia lìa mẫu tử không khiến họ cảm thấy một chút dao động, vào ngày 27 Tết họ tiếp tục đâm thêm nhát dao cho chúng tôi bằng chết.

Tịch thu sách ‘nhạy cảm chính trị’ gửi về từ nước ngoài!!!

Van Pham

Tại sao chế độ đảng cướp mafia HCM sợ sách báo & các mạng xã hội từ nước ngoài??? Bởi chế độ sống sót dựa trên dối trá, lừa bịp và bạo lực!!!

**************

Tịch thu sách ‘nhạy cảm chính trị’ gửi về từ nước ngoài!!!

Cục Hải quan Đà Nẵng vừa tịch thu 4 bưu kiện gửi từ nước ngoài về, trong đó có một số cuốn sách mà cơ quan này cho rằng nếu để lưu hành, sẽ tạo ra “nhận thức sai lệch về lịch sử cuộc chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, cũng như các vấn đề dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam hiện nay”.

Những cuốn sách bị tịch thu vì lý do “nhạy cảm chính trị” bao gồm: Cuốn “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family” của nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Nguyễn Quí Đức; cuốn “Chính Trị Bình Dân” của nhà báo Phạm Đoan Trang; cuốn “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” của tác giả Mark Bowden, theo báo Tin Tức.

Tất cả ba cuốn sách trên đều được xuất bản tại Mỹ và được bán trên trang mạng Amazon.

Trong cuốn “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family”, nhà báo từng làm việc cho nhiều cơ quan truyền thống quốc tế ở Mỹ kể lại câu chuyện của chính gia đình ông trong thời Chiến tranh Việt Nam. Theo giới thiệu của Amazon, cuốn sách “cho chúng ta nhìn thấy cuộc chiến Việt Nam qua đôi mắt của một đứa trẻ, sự túng quẫn sau khi Cộng sản lên cầm quyền, và những chật vật, gian khổ của di dân”. Cuốn sách được tổ chức Words Without Border đề cử là một trong 8 cuốn sách cần đọc để hiểu về Việt Nam và cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Cuốn “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” là cuốn sách đầu tiên của tác giả Mark Bowden kể từ khi cuốn Black Hawk Down của ông trở thành cuốn sách bán chạy nhất trong danh sách uy tín của New York Times. “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” kể về cuộc tấn mang tính bước ngoặt trong cuộc chiến Việt Nam, Tết Mậu Thân 1968.
Bìa sách cuốn “Chính Trị Bình Dân” của tác giả Phạm Đoan Trang.
Bìa sách cuốn “Chính Trị Bình Dân” của tác giả Phạm Đoan Trang.

Trong khi đó, “Chính Trị Bình Dân” là cuốn sách mà nhà báo Phạm Đoan Trang viết với mong muốn đánh tan định kiến tai hại “chính trị là xấu xa, thủ đoạn” đã bám rễ vào nhận thức của nhiều người dân Việt Nam. Tác phẩm được giới trí thức hoạt động xã hội đánh giá cao về cả nội dung, phong cách viết và mức độ cần thiết của nó trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam.

“[Sách] Chính trị mà Việt Nam xuất bản sau năm 1975 phần lớn là viết về quan điểm của Đảng Cộng sản và dành cho các đảng viên. Còn xuất bản sách về chính trị thì hoàn toàn vắng bóng. Chính vì vậy, tôi đánh giá đây là một tác phẩm rất quan trọng. Nó mở ra một lối cho chính trị đi vào tầng lớp bình dân. Ai cũng có thể tiếp cận nó qua những câu chuyện bình dân và thực tế”. Blogger Phạm Lê Vương Các nhận định với VOA.

Tin cho hay các cuốn sách trên được gửi về Hà Lan, Ba Lan và Mỹ trong 4 bưu kiện, mỗi bưu kiện chỉ có một cuốn sách, tới các địa chỉ cá nhân ở Đà Nẵng và Huế.

Hải quan Đà Nẵng cho biết đã báo cáo lãnh đạo và phối hợp với cơ quan chức năng để có các bước xử lý tiếp theo.

Những cuốn sách bị tịch thu gồm: “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family”, “Chính Trị Bình Dân” và “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam”
VOATIENGVIET.COM
 

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ QUA PHÂN TÍCH CỦA MỘT HỌC GIẢ MỸ

Hoang Le Thanh added 5 new photos — with Phan Thị Hồng.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ QUA PHÂN TÍCH CỦA MỘT HỌC GIẢ MỸ

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn

– “Đây là một bản đồ hiếm hoi về Việt Nam vào thế kỷ 19, là một trong những dẫn chứng ủng hộ cho tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng ý nghĩa của nó còn vượt xa giá trị chứng lý của Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo này”. 
Học giả HAROLD E. MEINHEIT (Hoa Kỳ).

* Tấm bản đồ nổi tiếng

An Nam đại quốc họa đồ là tờ bản đồ có kích thước 84 x 45 cm (ảnh 1), phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838.

Tác giả cuốn từ điển này là Jean-Louis Taberd (1794 – 1840), Giám mục đại diện Tông tòa ở Nam Kỳ dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1841).

Đây là một bản đồ đặc biệt, trước tiên là bởi tên của nó. Bản đồ do một giám mục người Pháp thực hiện, nhưng tên của bản đồ được viết bằng 3 ngôn ngữ: 安南大國畫圖 (chữ Hán), AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (chữ Quốc ngữ) và TABULA GEOGRAPHICAIMPERII ANAMITICI (chữ Latin), trong khi tất cả địa danh trên bản đồ, kể cả các địa danh thuộc Trung Hoa, Lào và Campuchia, đều được viết bằng chữ Quốc ngữ, còn Chú dẫn (Legenda) thì sử dụng cả chữ Quốc ngữ, chữ Latin và chữ Pháp.

Điều đặc biệt thứ hai là trên bản đồ có vẽ hình một cụm đảo ở giữa biển Đông, nằm ở phía bắc vĩ tuyến 16oBắc, phía đông kinh tuyến 110oĐông, có dòng tiêu danh: “Paracel seu Cát Vàng” (Paracel hoặc Cát Vàng). Dòng chữ này đã khẳng định nhóm đảo Paracel theo cách gọi của người phương Tây chính là (nhóm đảo) Cát Vàng (hay Hoàng Sa) theo cách gọi của người Việt đương thời.

Ngoài dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” ghi trên An Nam đại quốc họa đồ, trong bài viết Note on the Geography of Cochin China (Ghi chép về địa lý Nam Kỳ) in trên The Journal of the Asiatic Society of Bengal (vol. 6, part II, p.745), xuất bản tại Calcutta vào năm 1837, Giám mục Jean-Louis Taberd còn chỉ rõ:

“The Pracel or Paracels is a labyrinth of a small islands, rocks, and sand-banks… The Cochin Chinese called them Cón Váng… In 1816, he (king Gia Long) went with solemnity to plant his flag and take formal possess of these rocks, which it is not likely any body wil dispute with him”.

[Pracel hay Paracels là một mê cung của những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát… Những người dân xứ Cochin China (Đàng Trong) gọi là Cồn Vàng… Năm 1816, vua (Gia Long) đã (cho người) đến long trọng cắm cờ và chính thức tuyên bố chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông].

Dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” ghi trên An Nam đại quốc họa đồ cùng với những chú giải trong bài nghiên cứu nói trên của Giám mục Jean-Louis Taberd đã khiến cho tờ bản đồ này trở nên nổi tiếng ở Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Theo nhiều nhà nghiên cứu, đó chính là bằng chứng chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, được một giáo sĩ phương Tây công bố với thế giới từ nửa đầu thế kỷ XIX.

Tuy nhiên, học giới Việt Nam từ trước đến nay dường như chỉ mới chú ý đến khía cạnh “chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” được phản ánh trên An Nam đại quốc họa đồ, mà bỏ qua những chi tiết quan trọng và thú vị khác có trên tờ bản đồ lừng danh này.

***

An Nam đại quốc họa đồ qua phân tích của một học giả người Mỹ.

Mới đây, The Portolan, tạp chí của Hội bản đồ Washington (Mỹ), số 97, ấn hành cuối năm 2016 (ảnh 2) đã đăng tải bài khảo cứu rất công phu về An Nam đại quốc họa đồ có tựa là The Bishop’s Map Vietnamese and Western Cartography Converge (Tấm bản đồ Việt Nam của vị Giám mục và sự hội tụ ngành bản đồ học phương Tây).

Tác giả bài khảo cứu này là Harold E. Menheit, cựu viên chức ngoại giao Mỹ, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở châu Á, trong đó có Việt Nam, hiện là thư ký của Hội bản đồ Washington.

*

Trong bài khảo cứu dài 13 trang với nhiều hình ảnh minh họa, học giả Harold E. Menheit đã phân tích và đánh giá toàn diện về An Nam đại quốc họa đồ. Mượn lời tự nhận xét của chính của Giám mục Jean-Louis Taberd về bản đồ này:

– “Mặc dù bản đồ này không phải là không sai sót, nhưng tôi nghĩ rằng nó là, và có thể… là tốt nhất và chi tiết nhất mà trước nay chưa hề xuất hiện”

Để làm đề dẫn cho bài khảo cứu của mình, Meinheit khẳng định:

– “Đây là một bản đồ hiếm hoi về Việt Nam vào thế kỷ 19, là một trong những dẫn chứng ủng hộ cho tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng ý nghĩa của nó đã vượt xa giá trị chứng lý của Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo này”.

Theo ông, bản đồ này là một thành tựu nổi bật trong sự kết hợp giữa bản đồ hành chính truyền thống của Việt Nam với bản đồ học phương Tây. Không chỉ là một bản đồ hành chính đơn thuần, An Nam đại quốc họa đồ đã cung cấp một “bản chụp nhanh” (snapshot) về toàn xứ Đông Dương trong những thập niên đầu của thế kỷ 19, khi mà vương triều Nguyễn đã xác lập vị thế của mình trong một đất nước Việt Nam thống nhất, trước khi đương đầu với cuộc xâm lược của người Pháp.

Bài khảo cứu của Meinheit đề cập nhiều nội dung: lai lịch tấm bản đồ; thân thế của tác giả bản đồ là Giám mục Taberd và chính sách “cấm đạo” dưới triều Minh Mạng; quá trình mở rộng lãnh thổ Việt Nam và chính sách của triều Nguyễn đối với hai láng giềng là Campuchia và Lào; đánh giá của Taberd về kỹ thuật vẽ bản đồ của người Việt và nỗ lực sử dụng chữ Quốc ngữ để định danh và chú giải trên tấm bản đồ vẽ theo kỹ thuật phương Tây của mình; dịch các địa danh bằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ trên các bản đồ hành chính thời Nguyễn để định danh cho các địa điểm ở Việt Nam, Lào, Campuchia và vùng lãnh thổ phía nam Trung Hoa; định vị các khu vực cư trú của các sắc dân thiểu số ở Việt Nam lúc bấy giờ trên bản đồ này, như người Hrê ở phía tây Quảng Ngãi, người Stiêng ở miền đông Nam Kỳ và các bộ tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Meinheit đánh giá đây là “một bản đồ nhiều mục đích” (a map of many purposes) và cho rằng dù Giám mục Taberd đặt ra mục đích cao nhất là “phục vụ cho lợi ích khoa học”, thì dù muốn hay không bản đồ này cũng được các giáo sĩ phương Tây coi là một phương tiện trong hành trình truyền giáo ở Đông Dương.

Tiếp đến, bản đồ này đã được các nhà thực dân người Pháp coi là nguồn thông tin chính về địa lý và hành chính của toàn xứ Đông Dương, với độ chính xác và tin cậy cao nhất.

Do vậy bản đồ đã được tái bản tại Paris vào năm 1862, khi người Pháp ký với triều đình Huế bản Hòa ước Nhâm Tuất, buộc nhà Nguyễn công nhận sự hiện diện của người Pháp ở Nam Kỳ.

Sau đó, nó được tái bản theo chỉ thị của Prosper de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp, để phục vụ cho các doanh nghiệp thuộc địa ở Đông Dương.

Và bây giờ, “trong thế kỷ 21, bản đồ của Giám mục Taberd lại đảm nhiệm một vai trò chính trị mới trong các cuộc đụng độ triền miên bởi các tuyên bố về tranh chấp chủ quyền ở biển Đông” như nhận định của Harold E. Meinheit về An Nam đại quốc họa đồ.

Harold E. Meinheit cho rằng:

– “Các cuộc xung đột về chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông đã mang lại một danh tiếng mới cho bản đồ của Đức Giám mục, mà hiện nay được coi là bằng chứng củng cố yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974”.

Ông đã mô tả vị trí của quần đảo Paracel trên bản đồ, cùng với dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” khẳng định người Việt đã đặt tên cho quần đảo này là Cát Vàng từ rất sớm, đồng thời trích dẫn những đoạn quan trọng trong bài Note on the Geography of Cochin China của Giám mục Taberd in trên The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1937, cũng như dựa vào hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine của Jean-Baptiste Chaigneau xuất bản ở Paris năm 1820 để xác thực việc vua Gia Long đã cho người ra Hoàng Sa cắm cờ và tuyên bố chủ quyền vào năm 1816.

Đó chính là bằng chứng chứng minh yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, và là một giá trị “không được tính đến” khi Giám mục Jean-Louis Taberd thực hiện bản đồ này.

Ngoài ra, theo Harold E. Meinheit, tấm bản đồ này còn có một giá trị vô cùng quan trọng là nó đã khẳng định cương vực lãnh thổ của một nước Đại Nam hùng mạnh dưới triều Minh Mạng, thống nhất từ Bắc chí Nam, quản lý từ vùng rừng núi phía tây đến vùng biển và các đảo xa về phía đông, và cho thấy “đế chế Việt Nam” (An Nam quốc seu Imperium Anamiticum) đã kiểm soát những phần lãnh thổ bên ngoài cương giới chính thức của Việt Nam đương thời, bao gồm một nửa Campuchia, các tiểu quốc thuộc Lào và phần lãnh thổ đáng kể trong lưu vực sông Mekong mà ngày nay thuộc vùng đông bắc Thái Lan.

Trong bức thư gửi kèm cuốn tạp chí The Portolan có in bài viết của mình cho người viết bài này, học giả Meinheit cho biết tại Hội chợ bản đồ quốc tế Chicago diễn ra vào tháng 10/2016, một ấn bản của An Nam đại quốc họa đồ (in năm 1838) đã được bán với giá 13.000 dollars Mỹ.

Có lẽ đó cũng là một “giá trị khác” mà Giám mục Jean-Louis Taberd cũng “không nghĩ đến” khi xuất bản tấm bản đồ này vào năm 1838.

Ts. Trần Đức Anh Sơn. Anh Son Tran Duc

***

Ảnh 1: An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1838. Bản đang lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris – Ảnh: Trần Đức Anh Sơn.

Ảnh 2: The Portolan, tạp chí của Hội bản đồ Washington (Mỹ), số 97, ấn hành cuối năm 2016 (ảnh 2) đã đăng tải bài khảo cứu rất công phu về An Nam đại quốc họa đồ có tựa là The Bishop’s Map Vietnamese and Western Cartography Converge (Tấm bản đồ Việt Nam của vị Giám mục và sự hội tụ ngành bản đồ học phương Tây).

Ảnh 3: Bài khảo cứu công phu của học giả Harold E. Meinheit “The Bishop’s Map – Vietnamese and Western Cartography Converge” (Tấm bản đồ của vị giám mục – Sự hội tụ của ngành bản đồ học Việt Nam và phương Tây).

Ảnh 4&5: Học giả Harold E. Meinheit và tác giả – Ts. Trần Đức Anh Sơn – tại Mỹ – Ảnh do Trần Đức Anh Sơn cung cấp

[Bài đăng trên Tuổi Trẻ ngày 10/2/2017]
https://tuoitre.vn/an-nam-dai-quoc-hoa-do-duoi-mat-hoc-gia-…

No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: text
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 2 people, people sitting and indoor