Triều Tiên nhờ thế giới giúp gạo
Triều Tiên vừa buộc phải cầu xin thế giới trợ giúp giữa lúc lũ lụt hoành hành ở nước này, chỉ vài ngày sau vụ thử hạt nhân gây tranh cãi

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Thế Giới
Triều Tiên vừa buộc phải cầu xin thế giới trợ giúp giữa lúc lũ lụt hoành hành ở nước này, chỉ vài ngày sau vụ thử hạt nhân gây tranh cãi
Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu
Phạm Văn Tuấn
Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và România.
Romania là nước Đông Âu duy nhất lật đổ chế độ Cộng sản của mình bằng bạo lực
Nổi tiếng nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, biểu tượng của việc thống nhất nước Đức vào năm 1990.
Việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô
1- Ba Lan
Ba Lan là một lãnh thổ bằng phẳng nằm tại miền trung của châu Âu, rộng bằng nước Mễ Tây Cơ và có dân số là 37 triệu người. Từ 1,000 năm về trước và qua thời Trung Cổ, Ba Lan đã là một vương quốc quan trọng cho tới cuối thế kỷ 18, xứ sở này đã bị xóa tên trên bản đồ, bị chia ba giữa ba cường quốc là Nga, Áo và Phổ. Nhưng rồi người dân Ba Lan đã vùng lên, giành độc lập vào năm 1918.
Vào tháng 9-1939, đất nước Ba Lan lại bị dẫm nát bởi quân đội nước ngoài: quân đội Quốc Xã Đức tiến vào từ hướng tây và quân đội Xô Viết từ hướng đông. Ba Lan đã là bãi chiến trường, là địa điểm của rất nhiều trại tập trung mà xấu xa nhất là trại Auschwitz, chuyên việc tận diệt các kẻ chống đối, các tù binh, các người Do Thái.
Sau Thế Chiến Thứ Hai, Ba Lan đã lấy lại được phần đất đã mất trước kia do Quốc Xã Đức chiếm, nhưng từ năm 1948, các người cộng sản đã nắm được chính quyền, tạo nên một thể chế cộng sản theo kiểu mẫu Liên Xô. Tới năm 1956, không lâu sau khi ông Nikita Khrushchev tố cáo các tội ác khủng khiếp của Stalin, do tinh thần quốc gia tiềm ẩn, do lòng bất khuất và do nỗi bất mãn về kinh tế, người dân Ba Lan đã nổi dậy tại tỉnh Poznan. Các bạo loạn trong xứ đã làm cho Bộ Chính Trị phải thay đổi và ông Wladyslaw Gomulka được đưa ra lãnh đạo Đảng. Ông Gomulka liền bỏ chương trình tập thể hóa các nông trại, cho nới lỏng một số luật lệ và cải thiện liên lạc với Nhà Thờ Công Giáo. Nhưng trong cuộc nổi dậy của các công nhân tại Gdansk vào tháng 12-1970, các công nhân này đã bị đàn áp một cách tàn nhẫn, ít nhất có 44 người bị giết. Ông Gomulka sau đó bị thay thế bởi ông Edward Gierek, một người tìm cách hòa hoãn với khối tây phương. Nhưng tình trạng kinh tế tuột dốc đã gây nên nhiều làn sóng phản đối mới vào năm 1976.
Năm 1978, người dân Ba Lan lại vui mừng vì vị Tổng Giám Mục miền Cracow trở nên Đức Giáo Hoàng John Paul II. Sự kiện này đã đóng một vai trò gián tiếp trong việc khai tử chế độ Cộng Sản tại Đông Âu bởi vì trong các năm dài sống dưới chế độ cộng sản, người dân Ba Lan vẫn duy trì niềm tin Công Giáo Catholic, họ lấy lại can đảm để đương đầu với các kẻ cầm quyền độc ác.
Ngày 14 tháng 8 năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity Trade Union) ra đời và ông Lech Walesa, một người thợ điện, là lãnh tụ của phong trào đòi Dân Chủ cho đất nước Ba Lan. Hoạt động của Công Đoàn kể trên đã chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Edward Gierek và ông Wojciech Jaruzelski thay thế. 15 tháng phát triển của Công Đoàn Đoàn Kết cũng là “điềm báo tử” cho chế độ Cộng Sản tại Ba Lan. Với số đoàn viên lên tới 10 triệu, Công Đoàn Đoàn Kết đã là một tổ chức có thực lực để đòi hỏi các cuộc bầu cử tự do và một chính quyền hợp pháp không cộng sản. Vào ngày 13-12-1981, dưới áp lực của Liên Xô lúc đó do ông Leonid Brezhnev lãnh đạo, Tướng Jaruzelski phải công bố tình trạng quân luật, giải tán Công Đoàn Đoàn Kết, bắt giam các lãnh tụ và các người hoạt động cho Công Đoàn, ra lệnh hủy bỏ mọi hình thức cởi mở mới được ban hành, tuy nhiên những mệnh lệnh này chưa thực sự tiêu diệt được Công Đoàn Đoàn Kết.
Khi ông Mikhail S. Gorbachev lên nắm quyền tại Liên Xô, khi các áp lực Xô Viết tại Ba Lan giảm đi, Công Đoàn Đoàn Kết đã lấy lại được khí thế cũ. Mùa xuân năm 1989, Công Đoàn đã được chính thức công nhận và đã thắng gần hết các ghế đại biểu trong các cuộc bầu cử.
Tháng 8-1989, Ba Lan là nước đầu tiên có một thủ tướng không cộng sản kể từ năm 1948, đó là ông Tadeusz Mazowiecki, một nhà trí thức Catholic và cũng là một người bạn thân của ông Lech Walesa. Chính phủ mới này tập trung vào việc cải tổ kinh tế nên đã đưa ra nhiều biện pháp khắc khổ để khắc phục nạn lạm phát và đưa đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tới mùa hè năm 1990, sau khi các người cộng sản bị gạt sang một bên rồi, nội bộ của Công Đoàn Đoàn Kết lại bị tách ra làm hai: phe khuynh hữu với ông Lech Walesa và phe khuynh tả với ông Mazowiecki nhưng cuối cùng ông Lech Walesa đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1990.
Vào tháng 10 năm 1991 là cuộc bầu cử Quốc Hội tự do đầu tiên nhưng trong các năm sau, nước Ba Lan đã có rất nhiều đảng phái, có 5 thủ tướng, gặp nạn lạm phát và cảnh thất nghiệp cao, hàng ngàn nông trại trên bờ phá sản.
2- Đông Đức
Nước Đức là quốc gia giàu có và đông dân nhất châu Âu, hiện nay gồm 77.5 triệu người. Nước Đức có lịch sử chính trị từ thời Vua Charlemagne, giống như nước Pháp, nhưng các lãnh địa đã bị chia rẽ và chỉ hợp lại thành một quốc gia thống nhất vào năm 1871. Sau đó Thủ Tướng Otto Bismark và các nhà lãnh đạo khác đã cố công theo đuổi các chính sách bành trướng lãnh thổ, dẫn tới Thế Chiến Thứ Nhất vào năm 1914. Sau khi thất trận, nước Đức lại cố gắng vươn lên rồi dân tộc Đức vì bị thất vọng về kinh tế suy kém, đã trông nhờ vào nhà độc tài Adolf Hitler.
Vào năm 1945, nước Đức Quốc Xã thất trận nên lãnh thổ Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô. Ba khu vực phia tây được phối hợp lại năm 1949 thành nước Cộng Hòa Liên Bang Đức hay nước Tây Đức rồi không lâu sau đó, Liên Xô cũng tạo nên nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (the German Democratic Republic) hay còn gọi là nước Đông Đức.
Trong nửa thời gian đầu, Đông Đức ở dưới quyền cai trị cứng dắn của ông Walter Ulbricht, với đường lối thù nghịch Tây Đức và cao điểm của sự đối đầu là việc xây dựng nên Bức Tường Bá Linh. Vào nửa giai đoạn sau dưới quyền của ông Erich Honecker, Đông Đức đã dịu bớt sự căng thẳng vì chính sách hòa hoãn “Ostpolitik” giữa hai miền nước Đức của ông Willy Brandt.
Giống như nước Đức bị chia cắt vào năm 1949, thành phố Bá Linh cũng bị phân chia và một khu vực của thành phố này thuộc về Đông Đức. Tuy nhiên, đường ranh giữa hai khu vực Đông và Tây Bá Linh vẫn là khe hở của Tấm Màn Sắt và các người sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức thường trốn qua Tây Đức bằng khe hở này. Ngày 13 tháng 8 năm 1961, để chặn đứng những người vượt biên, chính quyền Đông Đức đã cho dựng nên Bức Tường ngăn cách Đông và Tây thành phố Bá Linh. Tại bức tường cao xây bằng bê-tông trên có hàng rào kẽm gai này, binh lính Đông Đức được lệnh bắn bỏ những người tìm cách leo qua tường, tìm tự do. Theo ước lượng vào năm 1992, đã có hơn 200 người dân Đông Đức bị bắn chết.
Tại Đông Đức về kinh tế, người dân giàu có hơn tất cả các dân tộc theo xã hội chủ nghĩa khác, nhưng họ vẫn bất mãn khi so sánh với mức sống của người dân anh em Tây Đức, bất mãn khi không được phép đi ra nước ngoài. Vào mùa hè năm 1989, hàng ngàn người Đông Đức đã vượt sang nước Hungari và tràn vào các tòa đại sứ của Tây Đức tại hai thành phố Prague và Warsaw. Hàng triệu người trên thế giới đã chứng kiến cảnh tượng này trên màn ảnh vô tuyến truyền hình: đây là cảnh “bỏ phiếu bằng chân” của những người sống trong chế độ cộng sản! Tới tháng 9-1989, số người biểu tình tại các thành phố của Đông Đức đã gia tăng rất cao, họ hát câu “chúng tôi muốn ở lại” và đòi hỏi chính quyền cộng sản phải thay đổi đường lối cai trị. Ông Erich Honecker vì thế phải từ chức, thay thế bằng ông Egon Krenz và các nhà lãnh đạo Đông Đức phải ra lệnh mở Bức Tường Bá Linh. Trong vài ngày, hàng triệu người dân Đông Đức đã vượt qua khu Tây Bá Linh. Một câu chuyện vui kể lại rằng khi ông Erich Honecker tỉnh dậy, thấy khu Đông Bá Linh không còn bóng người nhưng vẫn còn thắp đèn sáng, ông bèn tới Bức Tường Bá Linh và thấy một mẩu giấy ghi rõ câu : “ai đi sau cùng nhớ tắt đèn”.
Kể từ khi ông Egon Krenz quản trị Đông Đức, xứ sở này trong nhiều tháng vẫn chìm vào trong các rối loạn chính trị. Tháng 3 năm 1990, đã có các cuộc bầu cử tự do đầu tiên và Công Đoàn Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (the Christian Democratic Union), một đảng phái mới được thành lập của những người Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Tây Đức, đã chiếm được 41% số phiếu. Trong khi đó tại Tây Đức, Thủ Tướng Helmut Kohl không ngừng theo đuổi chương trình thống nhất nước Đức vì vậy vào tháng 3-1990, tại thành phố Bonn đã diễn ra các cuộc thảo luận “Hai cộng Bốn”, gồm 2 nước Đông và Tây Đức với 4 nước chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai là Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô rồi vào ngày 12-9-1990, cả 6 nước kể trên đã ký tên vào “Hiệp Ước ổn định cuối cùng đối với nước Đức” (the Final Settlement with Respect to Germany) và sự kiện này chính thức chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai.
Hiệp ước Ổn Định kể trên đã mở đường cho việc thống nhất nước Đức, và bắt đầu từ nửa đêm ngày 2-10-1990, nước Đông Đức không còn hiện hữu nữa mà trở thành 5 tiểu bang mới của Cộng Hòa Liên Bang Đức.
Kể từ ngày thành lập 7-10-1949, xứ sở cộng sản Đông Đức với dân số 16 triệu người và diện tích bằng tiểu bang Tennessee, với tên gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đã cáo chung sau khi tồn tại được 40 năm và 360 ngày!
3- Tiệp Khắc
Tiệp Khắc là quốc gia nằm giữa châu Âu, gồm ba xứ hợp lại là Bohemia, Moravia và Slovakia. Từ nhiều thế kỷ, Tiệp Khắc vẫn theo đuổi nền dân chủ cho tới khi bị Đức Quốc Xã tấn công vào năm 1938. Sau khi nước Đức bị thua trận, một chính quyền Cộng sản theo Stalin được thiết lập tại Tiệp Khắc từ tháng 2-1948 tới đầu thập niên 1960. Vào lúc này và do nền kinh tế suy sụp, các người cầm quyền cộng sản đã tìm cách cải tổ kinh tế và nới lỏng các kiểm soát chính trị. Tiến trình cải cách đã đi tới cao điểm gọi là “Mùa Xuân Praha” (the Prague Spring) của năm 1968 do nhân vật cộng sản cải cách lãnh đạo tên là Alexander Dubcek.
Ông Alexander Dubcek (1921-92) chào đời vài tháng sau khi cha mẹ của ông từ thành phố Chicago, Hoa Kỳ, trở về xứ Slovakia. Ông Dubcek đã trải qua tuổi trẻ tại Liên Xô. Đầu năm 1968, ông Dubcek công bố một chương trình cải tiến gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa với bộ mặt con người” (Socialism with a human face). Trong thời gian 8 tháng dễ thở này, từ tháng 1 tới ngày 20-8-1968, ông Dubcek là hình ảnh của hy vọng cho người dân Tiệp Khắc. Liên Xô, dưới quyền lãnh đạo của ông Leonid Brezhnev, coi các cải tiến tại Tiệp Khắc là “quá nguy hiểm” cho thể chế cộng sản, nên đã đàn áp phong trào “Mùa Xuân Praha” bằng 500,000 quân thuộc Minh Ước Warsaw (the Warsaw Pact).
Warsaw là liên minh quân sự được thành lập năm 1955 để đối đầu với khối Nato. Các thành phần ban đầu của Minh Ước Warsaw gồm 8 nước: Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Hungari, Romania, Bulgaria, Albania và Liên Xô. Hành động quân sự duy nhất của liên minh này là cuộc xâm lăng Tiệp Khắc vào tháng 8-1968 trong đó Romania không tham gia. Vào đầu thập niên 1960, nước Albania không tham dự vào liên minh Warsaw rồi chính thức rút lui vào năm 1968. Minh Ước Warsaw bị giải thể vào tháng 7-1991.
Năm 1987, khi bị hỏi về sự khác biệt giữa “Mùa Xuân Praha” của ông Dubcek và các chương trình “Glasnost” và “Perestroika” của ông Gorbachev, người phát ngôn thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đã trả lời rằng: “19 năm”!
Sau khi ông Alexander Dubcek bị bắt về giam tại Liên Xô và phong trào “Mùa Xuân Praha” bị dẹp tan, một nhân vật cộng sản cứng dắn mới lên nắm quyền tại Tiệp Khắc, đó là ông Gustav Husak. Từ nay, tất cả những người có khuynh hướng cải tiến đều bị thanh trừng, hầu như mọi người dân Tiệp Khắc đều thu mình lại để được an toàn, thế nhưng vẫn còn một số ít người rất can đảm, cả nam lẫn nữ, đã tập hợp lại một cách lỏng lẻo để tạo nên một nhóm chống đối các kẻ đàn áp: “Nhóm Hiến Chương 77” (The Charter 77).
Vào khoảng đầu tháng 1 năm 1977, một nhóm 242 người bất đồng chính kiến gốc Tiệp và Slovak, đã họp lại và ký tên vào một bản Tuyên Ngôn (manifesto) qua đó họ liệt kê các đòi hỏi căn bản về Nhân Quyền (basic human rights). Mặc dù đã được viết bằng những từ ngữ thận trọng, bản Hiến Chương 77 đã gây nên các hành động giận dữ của chính quyền Cộng Sản Tiệp Khắc: các người ký tên trong đó có ông Vaclav Havel, đều bị bắt, bị lưu đầy, bị xách nhiễu nhưng những nhân vật anh hùng này đã là hạt nhân cho phong trào phản kháng 12 năm về sau tại Tiệp Khắc.
20 năm sau ngày quân đội của Hiệp Ước Warsaw xâm lăng Tiệp Khắc, đã có vào khoảng 20,000 người biểu tình đòi dân chủ, chống lại chế độ Cộng Sản vào ngày 21-8-1988 trước sự ngỡ ngàng của công an và đảng cộng sản cầm quyền. Đây là cuộc phản đối lớn nhất kể từ năm 1969 và cảnh sát đã phải dùng hơi cay để giải tán, 400 người bị bắt.
Tại thành phố Prague, cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra từ ngày 15 tới ngày 20-1-1989 và cảnh sát cộng sản đã phải dùng dùi cui, hơi cay, vòi nước và chó dữ để dẹp biểu tình. Trong số người bị bắt lại có ông Vaclav Havel. Ngày 21-2, ông Havel bị tuyên án 8 tháng tù vì có hành vi “chống nhà nước và xã hội chủ nghĩa”. Nhiều người bất đồng chính kiến khác cũng bị tuyên án tương tự. Rồi 2,000 thanh niên đã tham gia biểu tình đòi dân chủ vào ngày 1-5-89, họ cũng bị đàn áp. Tới ngày 17-5-89, ông Havel được thả khỏi nhà tù vì đã “học tập tốt” theo lời của chính quyền cộng sản, nhưng thực ra là do sự chỉ trích của khối Tây Phương. Rồi 35,000 người bất đồng chính kiến, phản đối chế độ Cộng Sản, đòi hỏi Dân Chủ, đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu phải “thay đổi tận gốc không khí xã hội và chính trị”.
Các biểu tình phản kháng vẫn tiếp tục diễn ra tại Prague vào các ngày 28-8, 17-11, 20-11, 27-11-1989 rồi tới ngày 29-11, chính quyền cộng sản phải công nhận hủy bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Ngày 10-12-1989, một chính quyền liên bang mới được thành lập và chủ tịch Husak từ chức. Ông Alexander Dubcek được bầu làm chủ tịch của Quốc Hội Liên Bang ngày 28-12 rồi ngày hôm sau, ông Vaclav Havel được bầu làm Tổng Thống của nước cộng hòa.
Ông Havel đã thăm viếng Moscow vào hai ngày 26, 27-2-1990 và ký với ông Gorbachev một thỏa ước theo đó 73,500 quân Xô Viết phải rút khỏi Tiệp Khắc vào tháng 7 năm 1991. Nước Tiệp Khắc vào giai đoạn này đã gặp rất nhiều vấn đề khó giải quyết, chẳng hạn làm sao loại bỏ “giới cầm quyền cũ Nomenclatura” (nhóm cựu đảng viên C.S.) ra khỏi các chức vụ cao, làm sao tháo gỡ được hệ thống kinh tế chỉ huy phức tạp và nặng nề và làm sao giải quyết êm đẹp các căng thẳng quốc gia với xứ Slovakia, rồi cuối cùng, nước Tiệp Khắc bị chia làm hai xứ riêng rẽ vào tháng 1-1993: đó là hai nước cộng hòa Tiệp (Czech) và Slovak
4 . Hungari
Hungari là một quốc gia tại miền trung của châu Âu với diện tích nhỏ hơn tiểu bang Indiana và dân số 10 triệu người. Người Hungari có nguồn gốc từ bộ lạc du mục thiện chiến Magyar, từ châu Á tới châu Âu vào thế kỷ thứ 9 để rồi lập nên một vương quốc quan trọng. Khi đế quốc Áo-Hung bành trướng vào thế kỷ 19, Hungari là một miền đất tự trị, phát triển cho tới cuối Thế Chiến thứ nhất, khi đó hai phần ba diện tích bị cắt xén thành nước Tiệp Khắc, một phần của Nam Tư và một phần của Romania. Ngày nay, những người dân gốc Hungari vẫn còn sinh sống tại các quốc gia kể trên và đông đảo nhất tại vùng Transylvania thuộc nước Romania.
Vào thập niên 1930, nhà độc tài Adolf Hitler đã hứa sẽ trả lại các miền đất mà Hungari bị mất vì Hiệp Ước Trianon, cho nên vào năm 1941, Hungari đã giúp Hitler tấn công Nam Tư và tham gia vào khối Trục. Tới năm 1943, Hitler không coi Hungari là một nước đồng minh, đã chiếm đóng nước này vào tháng 3-1944 rồi sau đó, nửa triệu người Do Thái sinh sống tại Hungari đã bị chở tới các trại tập trung đặt trên nước Đức và bị giết trong các phòng hơi ngạt.
Sau khi Đức Quốc Xã thua trận, các người cộng sản Hungari đã chiếm chính quyền với sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô. Ông Mathias Rakosi là lãnh tụ đảng Cộng Sản và cũng là người đứng đầu chính quyền Hungari, đã cai trị xứ sở này như một nhà độc tài. Chính sách cai trị khắc nghiệt của ông Rakosi đã khiến cho nền kinh tế Hungari đi dần tới chỗ kiệt quệ và dân chúng đều bất mãn.
Năm 1953, ông Imre Nagy làm Thủ Tướng, Rakosi làm chủ tịch đảng Cộng Sản. Ông Nagy đã nới lỏng các kiểm soát, cho dân chúng Hungari đôi phần tự do hơn để cải thiện đời sống nhưng các cải tiến này đã bị ông Rakosi và các đảng viên cộng sản khác chống đối. Ông Nagy bị loại khỏi chính quyền và bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1955. Các chính sách khắc nghiệt của ông Rakosi một lần nữa lại được áp đặt lên xứ sở Hungari khiến cho các thanh niên, các nhà văn… đều phản đối, nhất là về phạm vi nhân quyền và tự do tư tưởng, vì thế ông Rakosi bị loại khỏi chức vụ chủ tịch đảng Cộng Sản vào giữa năm 1956 nhưng các chính sách khắc nghiệt vẫn còn được duy trì khiến cho đã xẩy ra một cuộc nổi dậy, chống đối, tại thành phố Budapest.
Cuộc cách mạng này đã lan ra khắp nước Hungari. Nhân dịp này nhiều tù nhân chính trị đã được trả tự do trong đó có cha Joseph Cardinal Mindszenty là người đứng đầu nhà thờ công giáo Catholic tại Hungari, đã bị giam cầm từ năm 1949. Cuộc nổi dậy của người dân Hungari đã khiến cho ông Imre Nagy lại trở nên Thủ Tướng và ông Nagy đã tuyên bố Hungari là một quốc gia trung lập, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại được vài ngày, vì vào tháng 11 năm đó, quân đội Liên Xô đã tràn vào nước Hungari, đàn áp cuộc cách mạng. Số người bị giết trong cuộc tàn sát này từ 6,500 tới 32,000 người. Khoảng 250 người tích cực trong cuộc cách mạng kể trên, kể cả ông Imre Nagy, đã bị Liên Xô hành quyết vào năm 1958. 200,000 người Hungari đã bỏ xứ, chạy trốn.
Sau cuộc Cách Mạng năm 1956, Liên Xô đã kiểm soát chặt chẽ xứ Hungari và ông Janos Kadar là lãnh tụ đảng Cộng Sản mới, lãnh chức Thủ Tướng từ năm 1956 tới 1958 rồi từ năm 1961 tới 1965. Vào thập niên 1960, ông Kadar đã nới lỏng các kiểm soát về kinh tế, văn hóa và xã hội khiến cho chế độ cộng sản Hungari được coi là tiến bộ nhất. Năm 1987, ông Karoly Grosz được chọn làm Thủ Tướng rồi làm lãnh tụ đảng, thay thế ông Kadar. Vào cuối thập niên 1980 này, quyền lực của đảng Cộng Sản Hungari bị suy giảm, các đảng phái khác bắt đầu hoạt động trở lại. Vào tháng 6-1989, đảng Cộng Sản Hungari phải thảo luận với các đảng phái đối lập. Họ đã xét lại cuộc cách mạng năm 1956 và tuyên bố rằng vụ xét xử ông Imre Nagy và các đồng chí vào năm đó bị coi là bất hợp pháp và cuộc nổi dậy năm 1956 không bị coi là “phản cách mạng”. Ông Nagy và các đồng chí cũ được phục hồi danh dự và chôn cất long trọng vào tháng 6-1989.
Mùa hè năm 1989, Hungari đã mở cửa biên giới với nước Áo khiến cho hàng ngàn người Đông Đức đã tràn qua các nước tây phương. Ngày 10-3-1990, Hungari đã ký với Liên Xô một thỏa ước về rút toàn bộ 52,000 quân Xô Viết ra khỏi lãnh thổ Hungari vào tháng 7-1991và xứ sở này chuyển sang chính thể dân chủ đa đảng, có Quốc Hội và Tổng Thống. Đảng Cộng Sản Hungari mặc dù đã cải tổ nội bộ, kể từ tháng 4-1990 chỉ chiếm được 11 % số phiếu bầu. Cũng từ năm 1990, Hungari đã theo đuổi các chính sách cải tổ kinh tế, tư hữu các xí nghiệp và trả lại đất đai cho nông dân.
5. Albania
Albania là quốc gia nghèo nhất của châu Âu, có diện tích vào khoảng tiểu bang Alabama với dân số hơn 3 triệu người. Albania tiếp giáp với các nước Nam Tư, Macedonia, Hy Lạp và biển Adriatic.
Qua nhiều thế kỷ bị nước ngoài đô hộ, người dân Albania vẫn giữ được bản tính dân tộc nên đã giành được độc lập vào năm 1920 rồi tới Thế Chiến Thứ Hai, quốc gia nhỏ bé này bị Phát Xít Ý xâm lăng vào tháng 4-1939, rồi bị sát nhập vào nước Ý. Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, có ba lực lượng kháng chiến chính trong xứ Albania: a) tổ chức Cộng Sản gọi là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NLF (the National Liberation Front) do Enver Hoxha lãnh đạo, b) lực lượng bảo hoàng gọi là Phong Trào Hợp Pháp (Legality) do Abas Kupi điều khiển, c) phong trào quốc gia gọi tên là Balli Kombetar do Midhat Frasheri chủ trương. Cả ba nhóm quân sự này vừa đánh quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng, vừa đánh lẫn nhau.
Năm 1944, lực lượng Đức Quốc Xã bị đánh bật ra khỏi Albania và các người Cộng Sản kiểm soát được đất nước. Ông Hoxha đã thiết lập nên tại Tirana một chính quyền cộng sản và lãnh đạo đất nước với chức vụ Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản từ năm 1953. Ông Enver Hoxha (1908-1985), đã cai trị xứ Albania cho tới khi chết. Ông ta ủng hộ các chính sách của Joseph Stalin, nhà độc tài của Liên Xô. Từ nay, mọi ruộng đất đều bị tập trung thành các nông trại tập thể, các người chống đối đều bị cầm tù, các tài sản tư nhân bị tịch thu, mọi cơ sở tôn giáo đều bị đóng cửa, các hoạt động văn hóa và trí thức đều phải theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Ông Hoxha đã cô lập xứ Albania, không cho giao tiếp với các quốc gia khác. Chính sách giới hạn mọi tự do cá nhân tại Albania đã khiến cho xứ sở này trở thành quốc gia nghèo đói nhất châu Âu, trong khi đó các đảng viên cộng sản vẫn tự hào rằng Albania là quốc gia duy nhất trên thế giới theo đúng các giáo điều Mác Xít Lê Nin Nít!
Khi Albania giành được độc lập vào năm 1944, đảng Cộng Sản Nam Tư đã giúp đỡ các đảng viên cộng sản Albania tổ chức lại Mặt Trận Giải Phóng NLF nhưng tới năm 1948, sự rạn nứt đã xẩy ra giữa Nam Tư và Liên Xô khiến cho Nam Tư bị trục xuất khỏi Khối Cominform, một tổ chức gồm các đảng cộng sản châu Âu do Liên Xô lãnh đạo. Vào lúc này, Albania theo Liên Xô nên đã tuyệt giao với Nam Tư.
Vào đầu thập niên 1960, đã xẩy ra một dạn nứt khác giữa Liên xô và Trung Cộng do khác biệt về cách giảng giải các giáo điều Cộng sản. Trung Cộng đả phá Liên Xô vì đã tìm cách sống chung với các quốc gia tây phương và Albania ủng hộ lập trường của Trung Cộng. Vào năm 1961, Albania đoạn giao với Liên Xô. Từ đó Trung Cộng cung cấp mọi trợ giúp cho Albania kể cả trợ giúp kỹ thuật. Tới cuối thập niên 1970, các nhà lãnh đạo cộng sản Albania lại chỉ trích Trung Cộng là đã không theo đúng các giáo điều Cộng Sản, đã liên lạc với Nam Tư và Hoa Kỳ. Trung Cộng bèn phản ứng lại bằng cách cắt hết viện trợ cho Albania.
Năm 1985, ông Enver Hoxha chết sau khi đã cai trị Albania hơn 40 năm, đã bắt mọi người dân Albania phải thành kính tôn sùng lãnh tụ. Ông Ramiz Alia, nguyên là chủ tịch nước từ năm 1982, đã kế tiếp ông Hoxha làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản.
Từ năm 1989, vì các quốc gia cộng sản Đông Âu bắt đầu tan rã nên xứ Albania cũng bị ảnh hưởng. Các cuộc biểu tình đã xẩy ra tại thủ đô Tirana, một sự việc không hề có trong 46 năm trường, một phần là do sự giảm bớt bóp nghẹt của cơ quan công an mật vụ Sigurimi. Vào mùa xuân năm 1990, chủ tịch Ramiz Alia công bố một chương trình “dân chủ hóa”, cho phép nông dân được quyền canh tác trên các mảnh đất tư hữu, chấp nhận việc du lịch ra nước ngoài và cho phép dân chúng thực hành tôn giáo tại gia đình. Một cải tiến khác của Albania là trả tiền thưởng cho các công nhân làm việc chăm chỉ, để sản xuất ra nhiều mặt hàng hơn. Thế nhưng, những cải cách này chưa thực sự mang lại các kết quả tốt.
Vào tháng 7-1990, 5,000 người Albania đã xuống đường, phản đối chính quyền Cộng Sản, đập phá các tòa đại sứ để yêu cầu được ra các nước ngoài. Nhiều người liều mạng băng qua biên giới Nam Tư và Hy Lạp mà không có giấy tờ, để tìm tự do và tránh các hiểm nghèo kinh tế. Các xáo trộn vẫn tiếp tục tới cuối năm 1990 khiến cho đảng cộng sản cầm quyền phải đồng ý để các đảng phái chính trị khác tham gia vào các cuộc bầu cử đa đảng, diễn ra vào tháng 3-1991. Sau cuộc bầu cử này, đảng cộng sản thắng nhiều phiếu bởi vì các lực lượng đối lập đã không được tổ chức cẩn thận. Các bạo loạn chống cộng sản vẫn diễn ra tại Albania khiến cho một chính phủ mới được thành lập, bao gồm bên trong 9 nhân vật độc lập.
Cuộc bầu cử kế tiếp diễn ra vào tháng 3-1992 và lần này, Đảng Dân Chủ Albania đối lập (the Albanian Democratic Party) đã thắng lớn trên toàn quốc. Ông Sali Berisha, một y sĩ giải phẫu tim, 47 tuổi, trở nên Tổng Thống không cộng sản đầu tiên vào tháng 4-1992. Sau khi trở thành nhà lãnh đạo của xứ Albania, ông Sali Berisha đã thực hiện nhiều chuyến công du ra các nước ngoài để xin trợ giúp, ngõ hầu ổn định xứ sở Albania quá nghèo đói.
6. Bulgaria
Bulgaria là một quốc gia thuộc vùng Balkan, lãnh thổ nhiều đồi núi này có diện tích vào khoảng tiểu bang Tennessee và dân số 9 triệu người, tiếp giáp với các nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ kỳ ở phía nam, Nam Tư và Macedonia ở phía tây, Romania ở phía bắc và Biển Đen (the Black Sea) ở phía đông. Thủ đô của Bulgaria là thành phố Sofia, được người La Mã xây dựng nên vào thế kỷ thứ 2. Người Bulgaria có nguồn gốc pha trộn của các bộ lạc Slavic và Bulgars, và bộ lạc sau này từ Trung Á tới xâm chiếm bán đảo Balkan vào thế kỷ thứ 9. Bulgaria bị cai trị bởi các người nước khác và cuối cùng bị chinh phục bởi đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman. Năm 1878, nước Bulgaria giành được độc lập nhờ sự trợ giúp của người Nga vì thế người Bulgaria thường có thiện cảm với dân Nga.
Năm 1912, với hy vọng giành lại miền đất đã mất vì Hiệp Ước Berlin, Bulgaria cùng với các nước khác thuộc vùng Balkan tham gia vào trận chiến đánh đuổi quân đội Ottoman ra khỏi châu Âu và đây là Cuộc Chiến Balkan thứ nhất. Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ thua trận, các nước chiến thắng lại tranh chấp nhau và vào năm 1913, Bulgaria tấn công Serbia và Hy Lạp trong Cuộc Chiến Balkan thứ hai. Vì bị thua trong cuộc chiến này, Bulgaria bị mất phần đất đã giành được trong cuộc chiến trước.
Trong Thế Chiến Thứ Nhất, Bulgaria đứng về phe Đức vì hy vọng chiếm lại các phần đất đã mất nhưng đã thất bại. Tới Thế Chiến Thứ Hai, Bulgaria là đồng minh của Đức và Ý. Ngày 8-9-1944, quân đội Liên Xô xâm chiếm Bulgaria và các người cộng sản đã giành được chính quyền. Từ đây, các người dân bị phe cộng sản coi là chống đối đã bị giết, bị gửi đi các trại tù cải tạo, quyền tư hữu của dân chúng bị hủy bỏ, mọi tự do trong xứ bị giới hạn. Năm 1946, lãnh tụ cộng sản Georgi Dimitrov trở nên nhà cai trị xứ Bulgaria. Năm 1947, Bulgaria phê chuẩn Hiến Pháp giống như Hiến Pháp của Liên Xô rồi tới năm sau, 1948, các người cộng sản kiểm soát được hoàn toàn đất nước này. Ông Dimitrov chết vào năm 1949, năm sau ông Vulko Chervenkov lên nắm quyền. Từ năm 1950, nền kỹ nghệ của Bulgaria đã gia tăng nhưng mực sống của người dân xuống thấp dần.
Năm 1954, ông Todor Zhivkov (1911- ) trở nên lãnh tụ đảng Cộng Sản và đã cầm quyền từ năm này tới tháng 11-1989. Trong số các lãnh tụ cộng sản Đông Âu, ông Zhivkov là kẻ tham quyền cố vị lâu thứ hai, chỉ đứng sau ông Enver Hoxha của xứ Albania. Ông Zhivkov là lãnh tụ cộng sản đầu tiên bị xét xử công khai vào tháng 9-1992 vì lạm quyền và thâm lạm của công rồi bị kết án 7 năm tù quản thúc. Hai lãnh tụ khác là ông Nicolae Ceausescu bị xử bắn ngay sau một phiên tòa quân sự vào năm 1989 và ông Erich Honecker, cựu chủ tịch Đông Đức, bị kết án vào cuối năm 1992.
Vào năm 1962, ông Zhivkov trở nên chủ tịch nước Bulgaria, đã theo đường lối thân Liên Xô. Trong thời gian Bulgaria sống dưới chế độ cộng sản, người dân phải chịu đựng mọi thiếu thốn về các nhu yếu phẩm căn bản và các dịch vụ sơ đẳng, khiến cho một số nhân viên chính quyền cộng sản cũng phải căm hờn đường lối bóp nghẹt của Liên Xô. Năm 1965, ông Zhivkov thoát nạn sau một cuộc đảo chính quân sự không thành.
Tới cuối thập niên 1980, các chính sách cởi mở tại Liên Xô đã ảnh hưởng đến xứ Bulgaria. Vào tháng 10-1989, các nhóm phản đối chính quyền cộng sản đã xuất hiện tại thành phố Sofia nhân một cuộc hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại đây, bởi vì sự hiện diện của một số đại biểu ngoại quốc đã khiến cho giới cấm quyền cộng sản phải nhẹ tay trong việc đàn áp. Rồi tới ngày 3-11 năm đó, 4,000 người đã biểu tình trước Quốc Hội, đây là cuộc phản kháng lớn nhất kể từ năm 1947.
Người dân trong nước Bulgaria đã biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Zhivkov, đòi hỏi dân chủ và một số tự do căn bản. Cuộc phản kháng đã bắt đầu từ bên trong nội bộ đảng Cộng Sản, do Bộ Trưởng Ngoại Giao là ông Petar Mladenov. Do áp lực từ Liên Xô, ông Zhivkov phải rút lui khỏi chính quyền vào tháng 11-1989 và ông Mladenov trở nên chủ tịch đảng và chủ tịch nước.
Từ tháng 1-1990, do các bất mãn từ dân chúng, đảng Cộng Sản bị bớt dần độc quyền và chịu chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng. Tháng 4 năm đó, đảng Cộng Sản Bulgaria đổi tên thành Đảng Xã Hội rồi cũng vào tháng 4, Quốc Hội bầu lại ông Mladenov làm chủ tịch nước. Tháng 6-1990, các cuộc bầu cử tự do, đa đảng, được tổ chức lần đầu tiên tại Bulgaria sau 44 năm. Đảng Xã Hội đã chiếm được nhiều phiếu nhất, sau đó là đảng Liên Hiệp Các Lực Lượng Dân Chủ UDF (Union of Democratic Forces). Tới tháng 7, các sinh viên lại biểu tình, phản đối ông Mladenov, họ dựng nên các căn lều trong “Vùng Không Cộng Sản” (a Communist free zone) thuộc thành phố Sofia. Tháng 8-1990, ông Zhelyu Zhelev thuộc lực lượng UDF được Quốc Hội bầu làm Tổng Thống xứ Bulgaria và đây là vị nguyên thủ loại “không cộng sản” đầu tiên, kể từ năm 1944. Từ năm 1991, đảng Cộng Sản Bulgaria tự hủy diệt dần dần.
Nguồn bài đăng
Người Việt trả tới hơn 30.000 bảng Anh cho các đường dây buôn người để vào Anh, với hy vọng sẽ có một cuộc sống ‘vương giả’ ở nước này, một báo cáo mới cho hay.
Theo báo cáo của Trưởng Cao ủy chống Nô lệ tại Anh Quốc ông Kevin Hyland, có một hệ thống đưa lậu người Việt sang Anh với hai mức giá khác nhau, phóng viên chuyên về nội vụ của Press Association, Hayden Smith viết.
Bài viết mô tả rằng những ai chọn dịch vụ “cao cấp” sẽ phải trả khoảng 33.000 bảng Anh và được hứa hẹn sang Anh với con đường ngắn nhất và mức rủi ro thấp nhất.
Còn những ai chọn dịch vụ “phổ thông” nộp từ 10 nghìn đến 20 nghìn bảng.
Báo cáo này mô tả việc đưa người lậu vào Anh như một ngành kinh doanh lớn, và đưa ra bằng chứng rằng các tổ chức buôn lậu người ở Việt Nam phóng đại về độ tin cậy với dịch vụ của họ và các nguồn lợi ích tài chính có thể kiếm được ở Anh.
Văn bản này dẫn lời của một người được phỏng vấn cho biết cô ta trả 25.000 USD (khoảng 19.000 bảng) cho đường dây buôn người nhưng con đường sang Anh và kết quả “không được như lời quảng cáo”.
Người phụ nữ này nói:
“Tôi được hứa hẹn là cuộc sống tương lại sẽ như một bà hoàng ở Anh (a queen in the UK), thức ăn ngon, quần áo đẹp, công việc nhẹ nhàng với mức lương cao.”
“Tôi kỳ vọng sẽ có một mức sống cao. Tôi lên máy bay, sau đó lên xe hơi rồi xe tải – nhưng tôi không biết họ đã đưa tôi đi qua những nước nào.”
“Tôi đi mất hai tháng. Không có chuyện bạo lực hay bóc lột trên đường nhưng chuyến đi đó rất vất vả. Chuyến đi tốn kém hơn thỏa thuận lúc đầu và tôi không có được công việc mà họ hứa hẹn với tôi.”
Ricardo Hausmann
Biên dịch: Trịnh Ngọc Thao | Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng
Trong cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vội vã hôm 16 tháng 7 dưới sự bảo hộ của phe đối lập kiểm soát Quốc hội để phản đối lời kêu gọi thành lập Hội đồng Lập hiến Quốc gia của Tổng thống Nicolás Maduro, hơn 720.000 công dân Venezuela đã bỏ phiếu ở nước ngoài. Trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2013 chỉ có 62.311 người bỏ phiếu như vậy. Bốn ngày trước cuộc trưng cầu dân ý, 2.117 thí sinh đã tham gia cuộc sát hạch giấy phép hành nghề y tế của Chile, trong đó có gần 800 người Venezuela. Và ngày 22 tháng 7, khi biên giới với Colombia được mở lại, 35.000 người Venezuela đã băng qua cây cầu hẹp giữa hai nước để mua thực phẩm và thuốc men.
Người dân Venezuela rõ ràng muốn rời đi – và không khó để biết được lý do tại sao. Truyền thông trên khắp thế giới đã đưa tin về Venezuela, miêu tả những tình cảnh thực sự khốn cùng, với những hình ảnh về sự đói khát, tuyệt vọng, và giận dữ. Trang bìa của tờ The Economist số ngày 29 tháng 7 đã tóm gọn tất cả trong một câu: “Venezuela trong cơn hỗn loạn”.
Nhưng đó chỉ là một cuộc suy thoái thông thường hay còn điều gì khác nghiêm trọng hơn?
Chỉ số được sử dụng thường xuyên nhất để so sánh các cuộc suy thoái là GDP. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, GDP của Venezuela năm 2017 giảm 35% so với năm 2013, hay 40% tính theo đầu người. Đó là sự sụt giảm đáng kể, lớn hơn cả Đại Suy thoái 1929–1933 ở Mỹ, khi GDP của Mỹ ước tính giảm 28%. Nó cũng lớn hơn một chút so với sự sụt giảm tại Nga (1990–1994), Cuba (1989–1993), và Albania (1989–1993), nhưng nhỏ hơn so với các nước Xô viết cũ trong giai đoạn chuyển đổi, như Gruzia, Tajikistan, Azerbaijan, Armenia, và Ukraine, hay các nước chìm trong chiến tranh như Liberia (1993), Lybia (2011), Rwanda (1994), Iran (1981), và gần đây nhất là Nam Sudan.
Nói cách khác, thảm họa kinh tế tại Venezuela lớn hơn bất kỳ thảm họa nào trong lịch sử của Mỹ, Tây Âu, và phần còn lại của Mỹ Latinh. Thế nhưng những con số đó vẫn còn đánh giá khá dè dặt về quy mô của sự sụp đổ, như công trình mà tôi đang tiến hành cùng Miguel Angel Santos, Ricardo Villasmil, Douglas Barrios, Frank Muci, và Jose Ramón Morales tại Trung tâm Phát triển Quốc tế tại Đại học Harvard tiết lộ.
Rõ ràng, sự sụt giảm 40% GDP đầu người là sự kiện hiếm khi xảy ra. Nhưng một vài nhân tố khác đang làm cho tình trạng tại Venezuela ảm đạm hơn. Đầu tiên, dù sự sụt giảm GDP Venezuela (theo giá cố định) từ năm 2013 đến năm 2017 bao gồm sự sụt giảm 17% sản lượng dầu mỏ, nó lại không tính tới mức giảm giá dầu tới 55% trong giai đoạn đó. Xuất khẩu dầu giảm 2.200 USD trên mỗi đầu người từ năm 2012 đến năm 2016, trong đó 1.500 USD là do giảm giá dầu.
Đó là những con số khổng lồ, khi mà thu nhập bình quân đầu người của Venezuela năm 2017 chưa đến 4.000 USD. Nói cách khác, trong khi GDP đầu người giảm 40%, thu nhập quốc gia, bao gồm ảnh hưởng của giá cả, giảm tới 51%.
Các nước thường đề phòng những cú sốc giá âm như vậy bằng cách để dành một khoản tiền lúc thuận lợi và vay mượn hoặc sử dụng những khoản tiết kiệm đó khi gặp khó khăn, để nhập khẩu không cần suy giảm nhiều như xuất khẩu. Nhưng Venezuela đã không thể làm như vậy, bởi vì nước này đã dùng cuộc bùng nổ giá dầu để tăng gấp sáu lần nợ nước ngoài. Sự hoang phí trong lúc thuận lợi đã không để lại nhiều tài sản thanh toán được trong lúc khó khăn, và các thị trường đã không sẵn lòng cho một nước “nợ như chúa Chổm” vay thêm tiền.
Thị trường đã đúng: Venezuela hiện là nước vay nợ nhiều nhất thế giới. Không nước nào có khoản nợ công nước ngoài lớn hơn Venezuela tính theo tỷ lệ GDP hoặc theo tỷ lệ xuất khẩu, hay phải đối mặt khoản tiền lãi lớn hơn nước này tính theo tỷ lệ xuất khẩu.
disabled in your browser.</div></div>
Tuy nhiên, như Romania thời Nicolae Ceauşescu những năm 1980, chính phủ Venezuela đã quyết định cắt giảm nhập khẩu trong khi vẫn đang phải trả lãi nợ nước ngoài, liên tục làm bất ngờ thị trường, vốn đang mong chờ một sự tái cơ cấu. Hệ quả là nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tính theo đầu người đã giảm 75% trên thực tế (đã điều chỉnh lạm phát) trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, và giảm sâu hơn nữa trong năm 2017.
Sự sụp đổ đó chỉ có thể so sánh được với Mông Cổ (1988–1992) và Nigeria (1982–1986) và lớn hơn mọi sự sụt giảm nhập khẩu tính trong bốn năm trên toàn thế giới kể từ năm 1960. Trên thực tế, các con số của Venezuela không hề cho thấy có sự giảm nhẹ: sự sụt giảm trong nhập khẩu gần như tương đương với sự sụt giảm trong xuất khẩu.
Hơn nữa, do việc áp đặt hạn chế nhập khẩu của chính quyền đã dẫn tới tình trạng thiếu hụt nguyên liệu thô và đầu vào trung gian, sự sụp đổ trong nông nghiệp và công nghiệp chế tạo thậm chí còn lớn hơn sự sụp đổ của tổng GDP, cắt giảm thêm gần 1.000 USD bình quân đầu người trong các mặt hàng tiêu dùng sản xuất trong nước.
Các số liệu thống kê khác cũng chứng thực cho bức tranh thảm khốc này. Doanh thu thuế ngoài dầu mỏ đã giảm tới 70% trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Và lạm phát gia tăng đã kéo theo sự sụt giảm thực tế 79% trong ngân quỹ của hệ thống ngân hàng trong cùng kỳ. Tính theo tỷ giá thị trường chợ đen, mức giảm lên đến 92%, từ 41 tỷ USD xuống còn 3,3 tỷ USD.
Tất yếu mức sống cũng đã sụp đổ. Mức lương tối thiểu – cũng là thu nhập của người lao động trung bình tại Venezuela do tỷ lệ người có thu nhập tối thiểu lớn – đã giảm 75% (theo giá cố định) từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2017. Tính theo đô la Mỹ theo tỷ giá thị trường chợ đen thì mức lương đó đã giảm 88%, từ 295 đô la Mỹ một tháng xuống còn 36 đô la Mỹ.
Tính theo đơn vị calo rẻ nhất có thể, mức lương tối thiểu đã giảm từ 52.854 calo/ngày xuống còn 7.005 calo/ngày trong cùng giai đoạn, tương đương 86,7% và không đủ để nuôi sống một gia đình năm người, giả sử tất cả thu nhập đều dùng để mua thực phẩm đem lại mức calo rẻ nhất. Với mức lương tối thiểu đó, người dân Venezuela không mua được 1/5 lượng thực phẩm mà người Colombia vốn nghèo hơn trước đây có thể mua được với thu nhập tối thiểu của họ.
Tình trạng nghèo về thu nhập đã tăng từ 48% năm 2014 lên 82% năm 2016, theo một cuộc khảo sát được thực hiện bởi ba trường đại học danh giá nhất tại Venezuela. Cũng nghiên cứu này cho thấy 74% người dân Venezuela bị sút cân trung bình 8,6 kg. Cơ quan theo dõi sức khỏe Venezuela báo cáo tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân tăng 10 lần và ở trẻ sơ sinh tăng 100 lần tại các bệnh viện trong năm 2016. Thế nhưng chính quyền Tổng thống Nicolás Maduro vẫn liên tục bác bỏ các đề xuất hỗ trợ nhân đạo.
Cuộc tấn công công khai của chính quyền Maduro vào tự do và dân chủ xứng đáng nhận được sự quan tâm lớn hơn từ cộng đồng quốc tế. Tổ chức các nước châu Mỹ và Liên minh Châu Âu đã đưa ra các báo cáo phê phán gay gắt, và Hoa Kỳ gần đây đã ban hành các biện pháp trừng phạt mới.
Nhưng các vấn đề của Venezuela không chỉ là về chính trị. Việc giải quyết thảm họa kinh tế chưa từng có mà chính phủ gây ra cũng sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ đồng bộ từ cộng đồng quốc tế.
R.H.
*
Ricardo Hausmann, cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, là Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế tại Đại học Harvard và là Giáo sư Kinh tế học tại Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard.
Nguồn bản gốc: Ricardo Hausmann, “Venezuela’s Unprecedented Collapse,” Project Syndicate, 31/07/2017.
Nguồn bản dịch: http://nghiencuuquocte.org/2017/09/07/su-sup-chua-tung-co-cua-venezuela/
Một tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ tiết lộ rằng lãnh đạo các trại giam của Triều Tiên cổ vũ lính canh đánh các tù nhân đến chết hoặc bỏ đói đến mức tồi tệ, theo Fox News.
Tài liệu cho biết thông tin chi tiết được thu thập từ 6 trại giam, trong đó có những trại có tới 50.000 tù nhân, phần lớn bị bắt vì tội phạm chính trị.
Ủy ban Điều tra Nhân quyền của Liên Hợp quốc đã chuẩn bị thông tin để công bố vào ngày thứ Sáu, cho thấy các tù nhân phải vật lộn để có được một bữa ăn tử tế tại các trại giam hàng ngày.
“Bị bỏ đói là tình trạng phổ biến của các tù nhân, khiến họ buộc phải bắt chuột, ếch và rắn để ăn,” báo cáo cho biết.
Một cựu lính canh trại giam là Ahn Myong-chol cho biết các tù nhân trông giống như “những bộ xương di động”, “những người lùn” hay “những kẻ tàn tật” trong mớ quần áo rách rưới, và khoảng 1.500-2.000 người trong số họ sẽ chết vì thiếu ăn mỗi năm.
Theo báo cáo của Liên Hợp quốc, Triều Tiên thiếu thốn lương thực trầm trọng, với khoảng 70% dân số đang đói ăn, tương đương khoảng 18 triệu người.
Jun Heo, một lính canh từng bị đưa đến trông một trại giam khi còn ở tuổi thiếu niên, chia sẻ với Fox News rằng anh buộc phải thực hiện công việc đánh đập và tra tấn liên tục các tù nhân. Những tiếng khóc và la hét là cảnh thường thấy trong trại giam. Các tù nhân bị buộc phải làm việc chăm chỉ trong 14 tiếng đồng hồ liên tục.
Còn cựu lính canh Ahn cho biết anh và các lính canh khác được khích lệ coi các tù nhân là tầng lớp thấp hơn con người và đánh đập họ như một sự trừng phạt.
“Số tù nhân chết vì bị đánh đập cao đến nỗi có thời điểm các lính canh được khuyến khích phải bớt bạo lực”, bản báo cáo viết.
Các tù nhân bị phân công làm những công việc nặng nhọc như khai thác than và sản xuất xi măng, và họ thường chết do tai nạn lao động.
Một báo cáo chưa được kiểm chứng cũng cho biết một địa điểm thử nghiệm hạt nhân đang được xây dựng trong một nhà tù.
Triều Tiên đã cho bắt giam những công dân phạm tội mà họ gọi là nói xấu chế độ và nhà lãnh đạo Kim Jong Un, lan truyền tin tức của các phương tiện truyền thông Hàn Quốc, hay ăn cắp gạo hoặc vật nuôi.
Một báo cáo của Nhóm Công tác Tư pháp Xuyên quốc gia tại Seoul hồi vào tháng 7 cho biết Triều Tiên đã thực hiện những vụ tử hình “những kẻ phạm tội” ở các nơi công cộng như trường học và các chợ cá nhằm tìm cách “thấm nhuần bầu không khí sợ hãi” đối với các công dân.
Sự tàn bạo của các trại tù Triều Tiên cũng đã được quốc tế hiểu rõ thêm cách đây không lâu khi sinh viên người Mỹ Otto Warmbier được đưa trở lại Mỹ trong tình trạng hôn mê sau khi bị Triều Tiên bắt giữ hơn 1 năm. Anh bị kết án 15 năm lao động khổ sai vì ăn cắp một khẩu hiệu chính trị tại một khách sạn ở Bình Nhưỡng. Warmbier chết 6 ngày sau khi về Mỹ do não bị tổn thương nặng.
Báo cáo về tình trạng tù nhân trong trại giam Triều Tiên có nhiều điểm rất giống với tại quốc gia đồng minh Trung Quốc, nơi các tù nhân cũng bị tra tấn bằng các biện pháp hà khắc,đặc biệt là bộ phận các tù nhân lương tâm.

Thành phố Houston, tiểu bang Texas, Mỹ, bắt đầu áp dụng lệnh giới nghiêm ban đêm khi vẫn đang nỗ lực đương đầu với hậu quả của Bão Harvey.
Bão Harvey trút xuống lượng mưa kỷ lục, làm hư hại nhà cửa ở nhiều khu vực rộng lớn tại Houston.
Tin tức nói đến nay hơn 20 người đã thiệt mạng.
Thị trưởng Houston, ông Sylvester Turner nói cơn bão lại gây lở đất một lần nữa ở tiểu bang Louisana sau khi tàn phá ngoài khơi vùng Vịnh Mexico.
Thành phố New Orleans, nơi chịu thiệt hại nặng nề của bão Katrina năm 2005, đang chuẩn bị phải hứng chịu lượng mưa 25cm trong 36 giờ, với nguy cơ lũ quét rất cao.

Lệnh giới nghiêm ở Houston, thành phố đông dân thứ tư ở Mỹ, có hiệu lực từ 00.00 đến 05.00 giờ địa phương, được áp dụng chưa biết cho tới khi nào.
Các tình nguyện viên cứu hộ, lực lượng phản ứng nhanh và những người từ nhà đi làm hoặc từ nơi làm trở về nhà được miễn khỏi lệnh này.
Ông Turner nói lệnh giới nghiêm có thể giúp ngăn ngừa tình trạng đột nhập các ngôi nhà mà gia chủ đã phải đi sơ tán để trộm cắp, hôi của, và nhằm “ngăn chặn các hành động tội phạm có thể xảy ra”.
Giới chức thành phố cho hay đã có một số trường hợp hôi của, cướp giật có vũ trang và có kẻ giả danh làm cảnh sát.
Hàng ngàn người đã phải rời nhà đến các trung tâm tạm trú khẩn câấp vì tình trạng ngập lụt nghiêm trọng.

Tổng thống Donald Trump tới bang Texas hôm thứ Ba để trực tiếp thị sát các thiệt hại do bão Harvey gây ra.
Ông và Đệ nhất Phu nhân Melania Trump đến thành phố Corpus Christi, nơi bão Harvey gây lở đất hôm thứ Sáu tuần trước 25/6.
Ông Trump nói ông muốn nỗ lực cứu trợ bão Harvey làm gương cho cách phản ứng với các cơn bão.
“Chúng ta muốn làm việc này tốt hơn bao giờ hết.
“Cơn bão này, chuyện đã xảy ra là chưa từng thấy. Nhưng các vị biết không, nó đã xảy ra ở Texas và không có gì là Texas không xử lý được.”

Ông sẽ không đến Houston. Nhà Trắng nói ông không muốn làm gián đoạn công tác cứu hộ khẩn cấp.
Lượng mưa ở Texas lập kỷ lục mới ở đại lục Mỹ, Cơ quan Khí tượng Quốc gia Mỹ cho hay hôm thứ Ba 29/8. Đồng hồ đo lượng mưa ở Cedar Bayou đo được lượng mưa đạt gần 1,3m tính từ thứ Sáu 25/8.
Tới nay, hơn 13.000 người đã được cứu trợ ở những khu vực bị ảnh hưởng.
Dự kiến hơn 30,000 người tại Houston và vùng Vịnh sẽ di tản vào các tòa nhà kiên cô dùng làm trại tạm cư an toàn.
Dự kiến sau trận bão sẽ có 450,000 người xin trợ cấp liên bang, trong khi hiện nay 13 triệu người từ Houston tới New Orleans đang đội mưa, lô nước.
Người ta dự đoán sau trận bão sẽ có nhiều ngàn người từ bỏ Houston, dọn sang nơi khác để tìm việc, vì kinh tế thành phố sẽ cần thời gian để hồi phục.
Viên chức cơ quan ứng phó khẩn cấp liên bang (FEMA) mô tả tình hình ngập lụt do bão Harvey gây ra tại Houston và tại nơi khác trong tiểu bang Texas là chưa từng thấy.
Tiểu bang Louisiana đã ban hành tình trạng khẩn cấp tại thành phố New Orlenas và vùng phụ cận trong khi bão đang tiến theo hướng đông bắc.
Nếu mưa tiếp tục như dự kiến với vũ luợng 50 inches, tình thế tại Texas sẽ trở nên tệ hại hơn nữa – cảnh sát truởng Art Acevedo tại Houston lên tiếng sáng Thứ Hai kêu gọi mọi công dân tiếp sức.
Ưu tiên của nhà chức trách Houston là mọi người lâm nguy đuợc tiếp cứu – ông Acevedo tuyên bố “Không ai trong chúng tôi đầu hàng”.
Ông xác nhận mới nhận đuợc 185 yêu cầu giải cứu, và khuyên dân đừng mất tin tưởng trong lúc chờ đội. Khoảng 2000 người đã đuợc tiếp cứu từ nước lụt tính đến sáng Thứ Hai.
Trong khi đó thị trưởng Sylvetsr Turner công bố danh sách các loại vật dụng đang cần tại các trung tâm tạm trú, gồm tã lót, sữa nhi đồng, thực phẩm, thuốc men – thị trưởng Houston cũng xác nhận cần tình nguyện viên giúp việc tại 1 số nơi.
Theo lời ông Turner, hiện có 5500 người tại các nhà tạm trú, và nhân số đang tăng – ông cảnh báo: tình hình có thể thay đổi từng giờ.
Đội trưởng cứu hoả Samuel Pena báo tin: 290 người đuợc cứu trong đêm chủ nhật rạng sáng Thứ Hai. Tổng đài khẩn cấp 911 đã nhận 75,000 cú điện thoại kêu cứu tính đến 9 giờ sáng Thứ Hai. Tin dự báo thời tiết cho biết mưa tiếp tục ít nhất đến Thứ Năm. Thống đốc Greg Abbot đã huy động toàn thể 12,000 người của vệ binh quốc gia tiếp sức các lực luợng khẩn cấp – ông đuợc giới quan sát đánh giá là hành động hiệu quả.
BERLIN (NV) – Các công tố viên của Ðức cho hay, một người đàn ông tham gia vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh hồi tháng trước đã bị bắt giữ ở Cộng Hòa Czech và được giao cho các nhà điều tra Ðức, theo hãng thông tấn AP.
AP cho hay, người bị bắt là một công dân Việt Nam tên Long N.H, 46 tuổi. Ông Long bị bắt ở Cộng hòa Czech ngày 12 và giao cho Ðức hôm 24 Tháng Tám. Nghi can này bị cáo buộc đã thuê một chiếc xe van ở thủ đô Prague của Czech và lái sang Berlin hôm 20 Tháng Bảy để thực hiện vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh vào ngày 23 Tháng Bảy.
Các công tố viên Ðức nói rằng nghi can bị cáo buộc làm gián điệp và bắt người bất hợp pháp.
Trước đó, theo tin của BBC, một người đàn ông gốc Việt tên là Ho. N. T., làm việc tại cơ quan nhập cư và tỵ nạn của Ðức, và đã bị đình chỉ để điều tra vì nghi ngờ cung cấp thông tin cho an ninh Việt Nam.
Nghi can Ho. N. T. bị nghi ngờ là đã cung cấp “thông tin” cho nhóm an ninh Việt Nam, gồm bảy người, đã đến Berlin vào Tháng Bảy để bắt giữ và bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.
Chính quyền Ðức đã buộc tội cơ quan tình báo Việt Nam và Ðại Sứ Quán Việt Nam liên quan đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh hôm 23 Tháng Bảy, đồng thời trục xuất một nhân viên tình báo của Việt Nam làm việc tại tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Ðức.
Theo BBC, Bộ Ngoại Giao Ðức xác nhận qua lời một phát ngôn viên rằng hôm 17 Tháng Tám, cuộc họp cao cấp đầu tiên giữa chính phủ Ðức và chính phủ Việt Nam về vụ Trịnh Xuân Thanh đã diễn ra tại Berlin.

Trước các cáo buộc của phía Ðức, là Trịnh Xuân Thanh (người đang xin tị nạn tại Ðức) bị bắt cóc, phía nhà cầm quyền Việt Nam và báo chí trong nước vẫn hoàn toàn im lặng.
Hôm 31 Tháng Bảy, Bộ Công An Việt Nam loan báo, Trịnh Xuân Thanh đã tìm đến “Trực Ban Hình Sự” của bộ này để xin đầu thú.
Ba ngày sau, hôm 3 Tháng Tám, Trịnh Xuân Thanh xuất hiện trên đài truyền hình Việt Nam (VTV) trong chương trình thời sự vào lúc 7 giờ tối “thú tội” về việc bỏ trốn sang Ðức vì “lo sợ trước kết luận về vi phạm và phải chịu trách nhiệm là người đứng đầu trong thua lỗ của PVC.”
Ðây cũng là lần đầu tiên và duy nhất người ta nhìn thấy ông Trịnh Xuân Thanh kể từ khi Bộ Công An Việt Nam loan báo tin ông này ra “đầu thú.”
Việc ông Thanh xuất hiện trên đài truyền hình quốc gia có số khán giả đông nhất ở Việt Nam xảy ra chỉ một ngày sau khi chính phủ Ðức cáo buộc tình báo Việt Nam bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh ở Berlin.
Truyền thông tại Việt Nam không đề cập đến cáo buộc của Bộ Ngoại Giao Ðức.
Tại cuộc họp báo tại Hà Nội hôm 3 Tháng Tám, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói rằng “lấy làm tiếc về phát biểu của Bộ Ngoại Giao Ðức ngày 2 Tháng Tám về vụ việc của ông Trịnh Xuân Thanh” nhưng lại không cho biết nội dung “phát biểu của Bộ Ngoại Giao Ðức” là gì.
Ông Trịnh Xuân Thanh, 51 tuổi, người từng là đại biểu Quốc Hội Việt Nam, đồng thời từng là phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, đột nhiên biến mất hồi Tháng Chín năm ngoái, trước khi Bộ Công An Việt Nam xác định ông là nghi can trong vụ án “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.”
Tháng Hai năm nay, sau một phiên xử năm cá nhân từng là thuộc cấp của ông Thanh, hoặc có liên quan đến vụ thất thoát 3,200 tỉ đồng của Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí (PVC) vào thời điểm ông Thanh là bí thư, kiêm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của PVC, tòa khu vực Hà Nội của Tòa Án Tối Cao đã khởi tố ông Thanh thêm một tội nữa là “tham ô.”
Trịnh Xuân Thanh bị Bộ Công An phát lệnh truy nã quốc tế khi biết ông đã trốn ra nước ngoài. Sau khi chạy trốn, Trịnh Xuân Thanh được cho là đã gởi bức thư ngỏ cho Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng CSVN tuyên bố ra khỏi đảng và lại còn nói “không tin vào sự chỉ đạo của đồng chí tổng bí thư” Nguyễn Phú Trọng nữa. (KN)
Hồng Kông: Hàng chục ngàn người biểu tình phản đối bỏ tù các nhà hoạt động dân chủ
Bộ ba nhà hoạt động dân chủ gồm Hoàng Chi Phong, Nathan Law và Alex Chow hôm thứ Năm (17/8) đã bị tòa phúc thẩm tuyên án từ 6 đến 8 tháng tù giam và không được tham gia chính trị trong vòng 5 năm tới. Điều này đã giáng một đòn chí mạng tới mục tiêu đấu tranh cho quyền phổ thông đầu phiếu tại Hồng Kông của Hoàng Chi Phong và những người bạn. Đồng thời, bản án này cũng khiến ngoại giới dấy lên vấn đề chính quyền trung ương Trung Quốc ngày càng can thiệp sâu hơn vào hệ thống chính trị của Đặc khu Hồng Kông.
MANILA, Philippines (AP) — Một giới chức cao cấp trong hàng giáo phẩm Công Giáo tại Philippines hôm Chủ Nhật cho hay chuông nhà thờ sẽ đổ mỗi tối trong vòng ba tháng tới, khắp khu vực phía Bắc do ông quản nhiệm để bày tỏ sự lo ngại về việc gia tăng các vụ các vụ cảnh sát bắn chết nghi can ma túy.
Tổng Giám Mục Socrates Villegas nói rằng chuông nhà thờ sẽ đổ 15 phút hàng đêm khắp giáo phận do ngài cai quản từ hôm Thứ Ba cho tới ngày 27 Tháng Mười Một, để đánh thức người dân “vốn đã trở nên hèn nhát khi không dám bày tỏ sự giận dữ trước hành vi ma quỷ.” Thời điểm khởi sự và chấm dứt việc đổ chuông này trùng vào tháng lễ “Tháng Các Linh Hồn” của Giáo Hội Công Giáo.
Quyết định này được đưa ra sau khi có hơn 80 nghi can ma túy và các tội phạm khác bị cảnh sát bắn chết ở Manila và tỉnh Bulacan chỉ trong ba ngày hồi tuần qua, khoảng thời gian đẫm máu nhất kể từ khi Tổng Thống Duterte phát động chiến dịch diệt trừ ma túy hôm Tháng Bảy năm ngoái.
“Việc đổ chuông là để kêu gọi ngưng tình trạng chấp nhận việc giết chóc này,” theo Tổng Giám Mục Villegas.
“Đất nước chúng ta trong hoàn cảnh hỗn loạn. Kẻ giết người được thăng thưởng trong khi người bị giết bị trút hết mọi tội lỗi. Xác chết không thể nào bênh vực cho chính mình trước cáo buộc là đã ‘chống cự’”, ngài cho hay.
“Tại sao chúng ta không còn cảm thấy kinh hoàng bởi tiếng súng và máu chảy tràn lan trên lề đường? Tại sao không ai lên tiếng phản đối ma túy được đưa vào từ Trung Quốc?” Tổng Giám Mục Villegas đặt câu hỏi, nhắc tới việc những chuyến hàng ma túy được chuyển qua cảng Manila, trước mắt các giới chức quan thuế do ông Duterte bổ nhiệm. (V.Giang)
ĐUỔI KỊP MÔNG CỔ
Nguyễn Xuân Hưng
1.Tôi hỏi 100 người, thì đến 97 người bảo: Mông Cổ ấy à? nghèo lắm hả?
Sai. Khái niệm về một nước Mông Cổ nghèo khó đã ngự trị trong đầu óc dân
Việt Nam từ xa xưa, từ cái thời cùng phe XHCN. Nhà văn Tô Đức Chiêu bảo
tôi rằng :
“Tao đã đi Mỹ, Ai Cập, Ả rập xê út, Nga và Đông Âu, không kể châu Á như
Tàu, Thái… Tức là gần hết thế giới, nhưng khi đi Mông Cổ, mới thấy mình
khám phá ra một thế giới mới, nếu có dịp, tao đi 2 -3 lần nữa”.
Tôi thấy thế nên cũng đã theo, đi Mông Cổ một chuyến.
Mở ngoặc ngay là, khi anh (du lịch) đến đâu, anh phải tự vấn ta đến đấy để
làm gì, muốn biết gì. Nói chung là nên đi phượt. Tôi có bài học kinh nghiệm
về việc này, có 1 cậu trẻ đi cùng đến thảo nguyên Mông Cổ, cậu thốt lên
chán nản: Ơ, đâu cũng như đâu, mênh mông cả, chả thấy cái gì. Vấn đề là cái
gì?
Sau chuyến đi Mông Cổ, tôi rút ra kết luận, 30 năm nữa (hoặc hơn) không
biết Việt Nam mình có đuổi kịp Mông Cổ hay không?
Mông Cổ diện tích gấp hơn 6 lần nước Việt Nam, dân số hơn 3 triệu người
(bằng 1/2 Hà Nội). Mà 1/2 dân số ở thủ đô Ulan Bato. Hãy tưởng tượng hơn 1
triệu người ở rải rác trên lãnh thổ gấp 6 lần Việt Nam.
Mông Cổ có đặc biệt là có biên giới với Nga và Trung Quốc. Họ bị kẹp giữa 2
nước lớn, nên phải chọn 1, lịch sử đã chứng tỏ họ chọn đúng, chọn nước Nga
để tránh nước Tàu kẻ thù. Chính chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới
Thạch khuất phục trước chính phủ Stalin, mà công nhận Mông Cổ độc lập.
Chuyện này chính phủ Mao cay cú ra mặt, công khai gọi Mông Cổ là Ngoại
Mông, còn phần lãnh thổ Mông Cổ bị mất từ thời Nguyên triều, thì TQ gọi là
Nội Mông (họ vẫn nhận đó là nước họ). Cấp độ cay cú ăn thua và nhòm ngó còn
hơn một bậc so với Việt. Người TQ chưa gọi Quảng Đông là Nội Việt, mặc dù
vẫn dùng từ Việt gọi Quảng, Việt ngữ là tiếng Quảng, họ chưa gọi Việt Nam
là Ngoại Việt. Nói thế để biết mức độ nguy hiểm chênh vênh của con ngựa
Mông Cổ trước con sói Trung Quốc.
Ở Mông Cổ, tôi được nghe câu chuyện tiếu lâm.
Một người Mông Cổ gặp một người Nhật. Người Nhật cám ơn người Mông, vì bài
học của Nguyên triều, nên nước Nhật quyết định không chiếm Trung Quốc nữa.
Nếu chiếm nó, có lẽ nước Nhật đã thành Trung Quốc rồi. Đó là một câu chuyện
tiếu lâm cay đắng mà không thể cười.
Ân oán giang hồ với người Tàu thì rất nhiều. Chỉ kể 1 chuyện. Các công ty
xây dựng ở Ulan Bato, và nói chung các công ty khác cần nhân công, thì đều
thuê nhân công TQ, vì người TQ sinh sôi như cỏ dại, ở đâu họ cũng mò đến.
Nên các công ty có quy định, chỉ được thuê dưới 6 tháng, mà trong 1 năm
không được thuê quá 1 lần. Nên người Tàu được thuê làm phải đi về TQ ngay
sau khi hết hạn visa. Cảnh sát Ulan Bato rất dễ dãi với người Việt sinh
sống ở thủ đô của họ, hình như có 7000 người, nhưng riêng người TQ thì phải
thống kê rất cụ thể. Người bạn Mông Cổ nói với tôi: *“Việc lớn nhất của
cảnh sát là đuổi người Trung Quốc hết hạn cư trú”*.
Đúng vậy, do đó họ không có tình trạng kẹt xe, không có tệ nạn nhiều, việc
chính là không để lọt một *“cái trứng tu hú*”.
Chuyện này 30 hay 50 năm nữa, Việt Nam cóc làm được, mà cũng chả thể làm.
2.
Nhìn trên phim ảnh, thấy thảo nguyên là những dải đất trùng điệp, cây cỏ
lưa thưa, nếu chỉ có thế là chưa biết gì về thảo nguyên Mông Cổ cả. Hồi tôi
đi tầm tháng 7 dương lịch, là tháng đã hết cỏ rậm. Cỏ rậm thì đến ống chân,
đến đầu gối, còn khi chuẩn bị vào đông, cỏ bị đám gia súc gặm gần hết. Chỉ
còn cỏ thấp và cỏ tái sinh.
Nói từ “cỏ” với người Việt, cũng không ổn. Cỏ của Việt Nam là thứ chả để
làm gì. Điều này lỗi ở các nhà làm ngôn ngữ khoa học, địa lý. Đáng lý nên
dùng từ “thảo mộc thân mềm” hay cái gì đó khác với “cỏ”. Cúi nhìn xuống,
hàng trăm hàng nghìn loài cây gọi là cỏ rất khác nhau, riêng hình lá cũng
thiên hình vạn trạng. Nếu vò vài cái lá rồi đưa lên mũi, sẽ thấy nhiều mùi
vị rất khác. Mùi thơm thoang thoảng, mùi hắc, mùi nồng… Thực sự đó là một
thế giới cây thuốc và loại cây như rau thơm ở VN, chứ không phải cây cỏ
thông thường. Gia súc Mông Cổ từ hàng nghìn năm nay ăn thứ cỏ đó. Sau khi
đi thảo nguyên, tôi mới lý giải được việc ở Mông Cổ, người ta ăn rất ít
rau, ăn rất nhiều thịt, ngay cả người Việt ở xứ ăn rau, đến Mông Cổ ăn toàn
thịt, mà tiêu hóa bình thường, không bị táo bón. Bởi vì lũ gia súc ăn thứ
cỏ thiên nhiên hoang dã bổ béo thơm lừng như hàng nghìn năm nay nó vẫn ăn.
Không như gia súc ở nơi nuôi công nghiệp.
Mông Cổ ngày nay vẫn du mục và người ta tự hào vì nếp sống du mục này. Ông
Chủ tịch Hội Hữu nghị Mông -Việt nói tiếng Việt sõi như người Việt, bảo
tôi, rất may là thảm họa tập thể hóa, định canh định cư xảy ra rất nhanh,
rồi thảo nguyên lại có sức sống quay lại nếp xưa.
Nếu ai đã đọc *Tô-tem sói*, của một nhà văn Trung Quốc (quyển này vang dội
một thời trên văn đàn TQ) thì biết thảo nguyên *Nội Mông* đã bị tàn phá
kinh khủng như thế nào.
Họ (hững người TQ theo Mao) dồn hết dân du mục vào các hợp tác, triệt phá
cách sinh hoạt truyền thống. Họ mang hàng sư đoàn lính tới bắn sói. Sói là
con vật thiêng của người Nội Mông, khi người chết, người ta kéo xác cha mẹ
để ra một chỗ cho sói ăn. Người TQ Mao-ít bắn sói, thế là thỏ làm giặc, lại
phải giết thỏ, lạc vào cái vòng quẩn. Họ còn đưa người Hán đến sinh sống,
khiến thảo nguyên Nội Mông gần như bị tiêu diệt. Trong quyển sách ấy, tác
giả cũng nói, nhìn sang Ngoại Mông xanh tươi mà tiếc…
Nhìn thảo nguyên thì mênh mông, nhưng hoang dã hàng trăm thứ thú hoang vẫn
ngày đêm sinh sống, tuân thủ cân bằng sinh thái của nó. Người Mông Cổ ngày
nay có xe ô tô tải, có điện thoại di động, kéo theo cái nhà, và đàn gia
súc, đi lang bạt trên thảo nguyên theo nhu cầu của gia súc. Thảo nguyên
mênh mông, mình nhìn đâu cũng như đâu, nhưng chúng tôi đã được một chú bé
12 tuổi đưa từ thị trấn, đi xuyên 25 km đến đúng chỗ lều của bố mẹ chú bé.
Hôm đi thảo nguyên, chúng tôi được đón tiếp Chủ tịch huyện đến chơi, cũng
vì biết có khách Việt. Ông nói huyện ông có gần 80 hộ, diện tích huyện, khi
đó làm phép so sánh, gần bằng tỉnh Hưng Yên cộng với Thái Bình. Chủ tịch
huyện biết cả 80 hộ luôn. Quy định của họ chăn thả không giới hạn, nên có
lúc có hộ gia đình chăn thả ở huyện khác (miễn là đăng ký vẫn ở huyện này).
Chủ tịch người Đảng Dân chủ, alo gọi đồng chí Bí thư huyện ủy Đảng Nhân dân
(đảng cộng sản cũ) thì đồng chí đang chăn ngựa, bèn cưỡi ngựa về. Bí thư
huyện ủy đảng nào cũng làm nông dân cả và chả chức vụ gì, cười hề hề đúng
là ông chăn ngựa.
Riêng chuyện này, 50 năm nữa Việt Nam có theo kịp không?
3.
Người Mông Cổ có một niềm hãnh diện đã mất, đó là đã từng bá chủ thế giới,
và còn một niềm kiêu hãnh vẫn còn, đó là sữa ngựa.
Thế giới văn minh và ở các nước phát triển có chỉ tiêu bao nhiêu lít sữa bò
cho đầu người, thứ sữa đó người Mông Cổ chỉ làm lương khô, làm nguyên liệu
chế biến, vì họ uống sữa ngựa. Hình như chỉ Mông Cổ dùng sữa ngựa làm thực
phẩm chính yếu. Nó là nguồn gốc sức mạnh của các chiến binh từ xưa, và
khiến người MC cao lớn.
Ngựa là gia súc chủ yếu ở thảo nguyên. Một hộ thường có vài trăm đến vài
ngàn ngựa, thêm cừu và dê. Bao giờ cừu cũng đi kèm dê. Mùa đông cừu nằm
trên giữ ấm cho dê moi cỏ chia nhau. Không có cừu dê chết rét, không có dê
cừu chết đói. Kiểu chăn thả thiên nhiên ấy khác xa nông trại hiện đại. Kiểu
vắt sữa ngựa cũng khác vắt sữa bò. Vì khi vắt sữa, luôn luôn có con ngựa
con đứng cạnh. Người MC tôn thờ ngựa vì cả đức tính này, không buông tuồng
vô cảm như bò, cứ vắt là ra sữa bất kể thế nào. Sữa ngựa làm bia, làm thức
uống, nên con ngựa là đầu cơ nghiệp. Bò chỉ là loại thêm. Bò MC lông dài
như voi mamut. Bây giờ cũng thoái giống, người MC buồn vì bò lông ngắn, còn
gì là bò nữa.
Gia súc nuôi, thịt là thứ phẩm. Chính phẩm là lấy lông và da. Len MC đắt
kinh khủng. Hình như hàng lông da là chủ lực xuất khẩu.
Cái lều Mông Cổ thật sự là một thứ thú vị. Cứ nói “lều” thì khó hình dung,
đến mới thấy đó là cái biệt thự giữa thảo nguyên. Bây giờ lều có nhiều
loại, từ 300 đến 30.000 đô Mỹ. Người TQ quá khôn, họ làm lều bán cho người
Mông Cổ.
Trong cái lều Mông, tài nhất là cái bếp ở chính tâm nhà, tâm vòng tròn.
Chất đốt bằng phân gia súc, thông hơi làm nhiệm vụ trụ chống giữa. Vào lều
không nhận ra có bếp.
Người nông dân du mục cũng có vấn đề nan giải, đó là sinh ra và nuôi dạy
trẻ. Du mục xa trung tâm thị trấn, nên nếu đẻ bất thường thì cấp cứu rất
khó. Khi con 6 tuổi, phải cho nó đi học, thì nhà mất 1 người thường là mẹ
hay chị lớn phải đưa lên thị trấn làm 1 cái lều ở nuôi con 1-2 năm mới yên
tâm gửi con học nội trú. Ở các thị trấn thị tứ cứ thấy các cụm lều, đó là
những người đi nuôi con học. Vì vậy, mà nhà nghèo hoặc quan điểm cũ chỉ cần
đọc chữ, trẻ thất học.
Hình như chính việc hiếm người mà du mục có truyền thống quý người. Phụ nữ
đẻ con là quý, con ai không quan trọng. Mấy ông Mông Cổ bảo, cộng đồng du
mục có lệ, khách quý cao tuổi thì chủ nhà mời đầu dê. Thịt con dê, cái đầu
là quý nhất. Còn khách trẻ và trung niên thì chủ nhà bảo con gái sưởi ấm cả
đêm. Tôi không ở qua đêm ở thảo nguyên, nhưng nghe kể lại, các nhà văn Trần
Nhương, Tô Đức Chiêu, Thúy Toàn có ngủ đêm thảo nguyên và được coi là khách
quý trung niên. Vấn đề là các bác ấy có chịu đựng được mùi mồ hôi người ăn
thịt cừu, uống sữa ngựa và 3 tuần mới tắm không thôi.
Người MC rất có ý thức giữ gìn môi trường thảo nguyên. Tôi khá ngạc nhiên.
Mọi người picnic thu dọn rác tống lên xe về bãi rác ngoại ô vứt. Họ nói
tivi có nhiệm vụ quan trọng nhất là tuyên truyền giữ sạch thảo nguyên. Và
việc này chỉ có từ khi cách mạng dân chủ đa đảng. Người lái xe dẫn chúng
tôi mặc dù xe chật, kiên quyết mang bao tải rác trên xe để về đến bãi rác
ngoại ô.
Ở Ulan Bator, anh là công chức, lập tức được cấp 0,99 ha ở ngoại ô làm nhà
nghỉ. Cuối tuần, chiều thứ 6, lũ lượt xe rời thủ đô ra ngoại ô. Thứ 7, Chủ
nhật thủ đô vắng thênh thang. Tối CN, lại rồng rắn về thành phố. Nếu không
phát động giữ thảo nguyên thì chả mấy chốc thảo nguyên nghìn đời thành bãi
rác. Và họ đã làm được rất tốt. Tương tự thảo nguyên của họ là rừng là biển
của người Việt, than ôi, chúng ta đã cư xử như là tự phá hủy cơ thể!
Đuổi kịp Mông Cổ ư?
Không bao giờ!
BARCELONA, Tây Ban Nha (NV) – Một chiếc xe van màu trắng, chạy tốc độ nhanh, phóng lên lề đường tại khu lịch sử Las Ramblas, Barcelona, Tây Ban Nha, hôm Thứ Năm, làm ít nhất 13 người chết và 50 người bị thương, CNN trích nguồn tin chính phủ Tây Ban Nha cho biết.
Cảnh sát Tây Ban Nha gọi đây là tấn công khủng bố.
Một tài xế taxi, tên là Oscar Cano, chứng kiến vụ tấn công và kể với đài truyền hình TV3 là chiếc xe van chạy nhanh, phóng lên lề đường bên này rồi phóng qua lề đường bên kia.
Màn ảnh đài truyền hình CNN cho thấy, cảnh sát được điều động tới khu vực để truy lùng nghi can.
CNN cũng cho biết, cảnh sát bắt được hai nghi can, và có thể còn nghi can khác nữa đang lẩn trốn.
Hiện tại, cảnh sát phong tỏa khu vực, yêu cầu các cửa hàng và trạm xe điện xung quanh khu vực đóng cửa.
Cảnh sát cũng yêu cầu mọi người tránh xa khu vực. Trong khi đó, một trực thăng quần trên bầu trời.
Cảnh sát vùng Catalan tweet ra cho biết “có nhiều người chết và bị thương,” nhưng không đưa ra con số cụ thể.
Nhật báo La Vanguardia ở Barcelona nói có một người chết và 20 người bị thương.
Đài truyền hình RTVE đăng một tấm hình cho thấy, có ba người nằm dưới đất, đang được cảnh sát và những người khác giúp.
Các băng video khác cho thấy có năm người nằm trên đường, và nhiều người khác la lớn kêu gọi giúp đỡ.
Ngay lập tức, Tổng Thống Donald Trump của Mỹ tweet ra phản ứng của ông.
“Hoa Kỳ lên án cuộc tấn công khủng bố tại Barcelona, Tây Ban Nha, và sẽ làm tất cả những gì cần thiết để giúp đỡ. Hãy cứng rắn và mạnh mẽ hơn, chúng tôi thương các bạn,” nhà lãnh đạo Mỹ tweet.
Las Ramblas, một con đường có nhiều quày bán hàng và cửa tiệm nằm ngay trung tâm Barcelona, là một trong những nơi thu hút khách du lịch nhiều nhất.
Du khách có thể đi bộ trên lề đường rộng lớn, trong khi xe hơi chạy giữa đường, và có thể chạy cả hai hướng. (Đ.D.)