NGÀY 30/4, NÊN VUI HAY BUỒN ?

Image may contain: one or more people and text

Phan Công Hải

NGÀY 30/4, NÊN VUI HAY BUỒN ?

Việt Kiến

Tôi sinh ra sau ngày 30/4 ở một thành phố miền Bắc. Ký ức về tuổi thơ của tôi là một thành phố xám xịt, và nghèo. Cái nghèo khiến cho cuộc sống ít nhiềm vui, không bánh kẹo, không đi chơi. Lớn lên một tí thấy một vài nhà có xe Cub 81, Honda 67 hay những chiếc xe Simson của nước Đức cộng sản là cả xóm đã râm ran, nhìn đã thấy sướng mắt, thèm muốn.

Vậy mà hồi đó, sau này tôi mới biết Sài Gòn đã có một đô thị văn minh, phát triển với nền kinh tế đa dạng, sôi động, cấu trúc đô thị hiện đại. Bây giờ nhìn lại những bức ảnh tôi thấy một sự nối tiếc dâng trào. Bởi cho tới hôm nay, cái thành phố Hồ Chí Minh so Sài Gòn năm xưa chỉ là một bãi rác so với một vườn hoa. Cái gì mang tới sự khác biệt ghê gớm vậy, sau bao nhiêu năm xây dựng mà chúng ta chỉ có một thành phố ngập trong nước hỗn loạn, tắc đường và người dân rất nhếch nhác, nghèo khổ.

Với đô thị Sài Gòn và những người miền Nam ở lại, họ bị tước mất một đô thị trật tự, văn hóa, và nền kinh tế hài hòa và thay vào đó là một xã hội độc đoán, sự chiếm đoạt nhà cửa, đất đai của những người cầm quyền từ miền Bắc đi vào. Ngày 30/4 đã hủy diệt những văn hóa, nếp sống và lối sống đô thị quy củ mà người Việt được kế thừa và hội nhập với các nước phương Tây phát triển như Pháp và Mỹ để trở về với sự độc tài, tăm tối của tư duy của xã hội Nho Giáo, thứ đã kìm kẹp người dân Việt gần 2000 năm. Trong chỉ 1,2 năm sau khi chiếm đóng Sài Gòn, chế độ CS đã phá hủy hoàn toàn nền kinh tế, xã hội hài hòa, cùng với giáo dục, văn hóa, pháp luật của miền Nam. Chính ngày 30/4 đã tạo cho họ một sự tự hào , hãnh diện, ngạo mạn của kẻ chiến thắng. Và họ đâu biết khi đó họ trở thành những kẻ phá hoại kinh khủng nhất. Trong một chuyến du lịch Singapore chúng tôi nói vui, nếu cho chính quyền Việt Nam quản lý Sing thì chỉ 10 năm sau Sing sẽ trở thành Việt Nam. Bi kịch là khi đưa cho những kẻ ngu xuẩn, tăm tối sự chiến thắng và tự hào và ngày 30/4 chính là điều đó.

VĂN HÓA QUYẾT ĐỊNH HÀNH ĐỘNG.

Khi Tần Thủy Hoàng đánh thắng nước Triệu năm 228 trước CN, nhà Tần đã lừa quân dân nước Triệu là sẽ tha mạng sống song sau đó thì chôn sống 400.000 quân nước Triệu. Đây là một tội ác kinh tởm song nền văn hóa Nho Giáo chấp nhận điều đó với câu “ý vua là ý trời”. 
Đa số người miền Nam khi ủng hộ CS đánh du kích họ cũng nghĩ rằng CS sẽ phát triển đất nước sau khi chiếm được miền Nam. Và chính người CS cũng đã nghĩ đúng như lời lãnh tụ Hồ Chí Minh của họ, thống nhất đất nước xong ta sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn…Song không phải, người CS hầu hết không hề hiểu chủ nghĩa CS cũng chỉ là một dạng cải biến của chủ nghĩa Quân chủ chuyên chế cùng với văn hóa Nho giáo. Cái nó khích lệ và lợi dụng nhân dân là sự căm thù và hiếu chiến. Và sau khi bọn đầu sỏ thu được quyền lực cai trị rồi thì nhân dân lại xuống bùn đen. Đó là lý do chủ nghĩa CS chỉ được nhiệt thành đón nhận ở những nơi tăm tối và độc tài nhất trên trái đất chứ không hề được chấp nhận ở những nơi văn minh, phát triển.

CS Bắc Việt đã hành xử với người miền Nam không khác gì Tần Thủy Hoàng hơn 2200 năm trước. Tất cả quân nhân, cán bộ của MNCH đều bị tù đày gọi là trại cải tạo và cùng chịu thảm cảnh với họ là gia đình họ, như vậy có thể nói, CS Bắc Việt đã trút sự trả thù lên khoảng 6 -10 triệu người miền Nam ( một con số kinh hoàng) . Bởi vì khi Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam để lại tới 980.000 quân nhân trong quân đội VNCH và con số người được di tản chỉ khoảng hơn 130.000 người tức có tới khoảng 850.000 quân nhân và cả 800.000 gia đình của họ bị tai họa này . Chỉ vài ngày sau khi chiếm trọn miền Nam, những người CS đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù bằng thủ đoạn vô cùng hèn hạ là bảo họ đi học tập cải tạo trong 10 ngày. 
Đọc thêm trong bài viết khá đầy đủ này: https://www.nguoi-viet.com/…/trai-cai-tao-cua-csvn-sau-nam…/

…“Vợ con của những người bị bắt đi “cải tạo” cũng trở thành nạn nhân của các biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Họ bị đuổi khỏi nơi cư trú và phải đi vùng kinh tế mới giữa những rừng núi hoang vu không có một chút tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Con cái họ bị kỳ thị gắt gao khi thi cử và không được phép vào đại học. Nhà cửa của họ bị cán bộ Cộng Sản chia nhau chiếm đoạt, tiền bạc của họ ở ngân hàng cũng không được phép lấy ra”…
Như vậy ngày 30/4 đã cho phép sự điên rồ của chủ nghĩa CS được áp đặt trên toàn Việt Nam. Họ đã lòi cái bản mặt thật sự của họ, chỉ là một lũ cướp của giết người dựa trên lý thuyết CS, họ không có tình đồng bào, dân tộc và nó thực sự là một chủ nghĩa hủy hoại dân tộc.

Những người lính Bắc Việt, phần lớn vì hoàn cảnh ngu dốt, bị lừa gạt mà trở thành người xâm lược miền Nam. Những người đã ngã xuống quả thực đáng thương, họ chết trong khi tưởng mình hy sinh vì đất nước. Những người còn sống, thật thảm hại cho họ, bao năm qua họ vẫn hát , vẫn vui mừng cho ngày đã diệt gọn được đồng bào và xã hội miền Nam. 
Những tai họa lớn hơn của dân tộc ta đã bắt đầu từ ngày 30/4/1975. Bởi vì sau đó chính CS mới từng bước hiểu được họ là ai khi đẩy đất nước vào trong một giai đoạn tăm tối, đói khát kinh hoàng. Khiến mọi giấc mơ về thiên đường CS đều vỡ vụn. Và cuộc bỏ nước ra đi, thực ra không phải chạy khỏi đất nước mà chạy khỏi chế độ CS. Một chế độ chỉ nuôi dưỡng hận thù chiến tranh và không có khẳ năng sản xuất lương thực để tồn tại. Khoảng hơn 2 triệu người không chỉ người miền Nam mà cả người miền Bắc đã vượt biên tìm đường sống và khoảng 500.000 người đã bỏ mình trên biển cả hoặc bị hải tặc bắt giết. 
Có thể tìm hiểu bài viết ở đây: http://nguoiviethaingoai.org/ditan.html

Nếu xét về những vay nợ, nghiệp quả trong lịch sử thì điều này hoàn toàn xứng đáng với dân tộc Việt Nam. Để họ hiểu được tình cảnh của những dân tộc mất nước, và những dân tộc không có khả năng kiến tạo một đất nước hòa bình, tự do. Dưới sự xâm chiếm của người Việt đã có bao nhiêu dân tộc bị đày đọa, tiêu diệt để đất nước ta có hình hài chữ S như bây giờ ?. Tình cảnh của những dân tộc đó từ khi ghép vào bản đồ nước Việt ra sao ? Thảm cảnh của việc chặt đầu người Chăm thời Minh Mạng và những cuộc nhồi da xáo thịt của chính dân tộc mình một cách dai dẳng cũng là một hình thức Nhân và Quả.

NGÀY 30/4 KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGÀY CHIẾN THẮNG

– Nó là ngày đóng lại của một cuộc nội chiến kéo dài, trong đó kẻ sắt máu, hiếu chiến và tàn bạo hơn đã chiến thắng những người đồng bào miền Nam. 
– Nó là ngày giúp chủ nghĩa CS áp đặt trên toàn Việt Nam. Đây là thứ chủ nghĩa khiến mọi dân tộc bị nó cai trị đều nghèo đói, chia rẽ và toàn dân trở thành nô lệ cho một nhóm người ăn trên ngồi trốc. Đối với các nước nhỏ thì nó báo hiệu một gian đoạn mất chủ quyền, mất nước. 
– Nó là ngày toàn bộ người dân miền Nam mất quyền làm người, mất hết niềm tự hào được sống độc lập trong một đất nước tự do, phát triển và tương đối dân chủ. Để trở thành dân của một nhà nước toàn trị, đói nghèo. 
– Nó là ngày mà toàn bộ người miền Bắc tưởng rằng họ chiến thắng song kỳ thực là họ thất bại, khi kể cả những người góp công cho chiến thắng đó đều nhận ra mình trắng tay, khi người thân đã bỏ mình trong chiến tranh hay trở về không được đãi ngộ xứng đáng. Và hiện nay họ là nạn nhân của một chế độ cướp bóc và bán nước.
– Nó tiếp tục đẩy toàn bộ Việt Nam vào các cuộc chiến tranh với Khơ Me Đỏ ở Cam Phu Chia dưới sự giật giây của quan thầy Tàu và chiến tranh với giặc Tàu phía Bắc. Người Việt sau một thời gian đánh nhau với kẻ thù truyền kiếp giặc Tàu do có sự hậu thuẫn của Liên Xô thì đến nay chính quyền CS lại quay lại làm kẻ thù của nhân dân và dâng đất nước cho Tàu để duy trì sự tồn tại. Khi Tàu giúp Bắc Việt xâm lược miền Nam là để mở rộng đất nước cho nó chứ không nhằm để Việt Nam phát triển độc lập, và để chiếm đóng miền Nam, người CS đã gán giang sơn gồm biển đảo, đất liền để lấy súng đạn . Đó là một con đường đẩy dân tộc và chỗ chết mà bản thân người CS cũng không ý thức được hết. 
– Nó là ngày khiến dân tộc ta mãi chưa thấy con đường hàn gắn tình thương dân tộc, do vẫn nằm dưới sự áp đặt suy nghĩ, tư tưởng của người CS. Bởi vì người CS nuôi dưỡng hận thù để chia rẽ dân chúng chứ không bao giờ muốn người dân gắn bó với nhau. Bằng chứng là họ tiếp tục ngược đãi quân dân miền Nam và họ luôn tổ chức ăn mừng 30/4 rầm rộ.

Bi kịch này sẽ không dừng lại nếu chúng ta không hiểu bản chất của SỐ PHẬN và quán tính VĂN HÓA. Chúng ta có thể thay đổi số phận đó nếu hiểu thấu nỗi đau, ý nghĩa của ngày 30/4 này để cùng hối cải, đau đớn để tìm ra con đường hàn gắn vết thương và thay đổi văn hóa tránh xa sự độc tài, hiếu chiến của văn hóa Nho giáo và cộng sản. Với tôi 30/4 là một ngày vô cùng đen tối và đau đớn với tinh thần tự do của người Việt Nam. Viễn cảnh của ngày rơi vào nô lệ và mất nước cũng không còn xa và 30/4 là một cột mốc trên con đường tăm tối đó. 
Đây là những câu nói cực kỳ chính xác khi nhận định về ngày 30/4 của tổng thống Ronald W. Reagan

“Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau.”
“Chúng ta đang chiến đấu với một đối thủ nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại, và nếu chúng ta thua trong cuộc chiến này, chúng ta sẽ mất đi sự tự do, lịch sử sẽ ghi nhận lại rằng những người có nhiều thứ để mất nhất đã làm ít nhất để ngăn chặn nó.”
Và câu nói nổi tiếng trong cuốn Chính Đề Việt Nam : “Cộng Sản Bắc Việt tự đặt mình trước một viễn cảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta mà còn đe dọa đến sự tồn vong của dân tộc. 
Giả sử Nam Việt Nam bị Bắc Việt thôn tính, thì Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.”

BỨC THƯ CỦA KẺ TỬ TÙ & SUY NGẪM CHO NỀN GIÁO DỤC ….!

 

Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 2 people, eyeglasses and closeup
Image may contain: 4 people, people standing

Lê Hồng Song

BỨC THƯ CỦA KẺ TỬ TÙ & SUY NGẪM CHO NỀN GIÁO DỤC ….!

“Giáo dục là vũ khí lớn mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi thế giới, và cũng là món qùa, là tài sản vô giá đối với con người !”
Trên đây là một trong muôn ngàn câu chuyện giáo dục và định hướng cho con người !

Một tử tù đang chờ thi hành án, trước khi ra pháp trường anh cầu xin một điều ước cuối cùng là một cây bút chì và một tờ giấy. Sau khi viết trong một vài phút, anh nhờ công an bảo vệ nhà tù gửi giúp bức thư này cho người mẹ ruột của mình.

Trong thư anh viết :

Mẹ, nếu có công lý trong thế giới này, con và mẹ nên bị kết án từ hình cùng nhau. Mẹ cũng có tội như con vì những gì con đã làm.

Mẹ hãy nhớ lại đi, khi con ăn cắp chiếc xe đạp của thằng bé gần nhà. Mẹ đã giúp con giấu chiếc xe đạp đó đi để bố không nhìn thấy nó.

Mẹ có nhớ lần con lấy trộm tiền từ ví của người hàng xóm không? Mẹ đã đi siêu thị mua sắm cùng với con.

Mẹ có nhớ ai đã bênh vực con khi con cãi lại bố đến nỗi bố phải bỏ đi không? Bố chỉ muốn sửa dạy con vì con đã gian lận trong bài thi và cuối cũng là con bị đuổi học.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ, không lâu sau con đã trở thành một thiếu niên hư nghịch và bây giờ con đang là một tử tù chờ thi hành án.

Mẹ ơi, lúc đó con chỉ là một đứa trẻ con cần được bao biện, nhưng cái thực sự con cần là đúng sai và được sửa trị.

Nhưng thôi, con tha thứ cho mẹ! Con chỉ muốn viết thư này để nó có thể đến được nhiều người khác đang làm cha làm mẹ, với hi vọng rằng, họ có thể nhận ra điều tạo nên người tốt kẻ xấu trên thế giới này là sự giáo dục.

Cảm ơn mẹ đã cho con cuộc sống và cũng đã giúp con đánh mất nó.

Đứa con tử tù của mẹ.
–//–
Hình ảnh trong bài viết chỉ có tính minh họa..

“Kỷ niệm” 44 năm sau ngày chiếc xe tăng húc sập cổng Dinh Độc lập, mọi thứ đều tăng…

“Kỷ niệm” 44 năm sau ngày chiếc xe tăng húc sập cổng Dinh Độc lập, mọi thứ đều tăng. Giá xăng tăng, giá điện tăng, học phí tăng, viện phí tăng, tỷ lệ người xếp hàng xin visa nước ngoài tăng, tỷ lệ đảng viên cộng sản “bỏ của chạy lấy người” tăng… Chưa kể chùa chiền tăng, tỷ lệ mê tín dị đoan tăng, tỷ lệ hiếp dâm trẻ em tăng, tỷ lệ học sinh đánh nhau tăng, tỷ lệ trộm cắp giết người tăng, tỷ lệ tai nạn giao thông tăng, tỷ lệ nữ vị thành niên phá thai tăng… Chưa kể tỷ lệ viên chức phát biểu nhảm nhí tăng, tỷ lệ cướp đất tăng, tỷ lệ phá rừng tăng, tỷ lệ phá biển tăng…

Có những thứ “tăng” kỳ lạ nữa. Tỷ lệ bỉ ổi tăng, tỷ lệ trơ trẽn tăng, tỷ lệ mặt dày tăng, tỷ lệ bất lương tăng, tỷ lệ ngụy quân tử tăng… Còn nữa, tình trạng báo chí bị bịt miệng tăng, tỷ lệ tù nhân lương tâm tăng, tỷ lệ người chết trong đồn công an tăng… Chưa hết, tỷ lệ “gia đình trị” cũng tăng!

Chiếc xe tăng 30-4 đã thực hiện một “nhiệm vụ lịch sử” không thể nào kinh khủng hơn. Nó đã húc không chỉ sập một cánh cổng. Nó đã phá tan một quốc gia. Nó đã nghiền vụn một nền văn hóa. Và bánh xích của nó, vẫn đang kêu ken két, còn tiếp tục nghiến nát những thứ vốn đã bị nó nghiến banh từng mảnh!

Sau 44 năm, nó vẫn cho thấy nó chỉ là cái bánh xích sét gỉ với một sức mạnh thô lỗ. Nó không có trí tuệ. Đến lúc nào đó nhiệm vụ lịch sử của nó sẽ phải khép lại. Nó phải bị vứt ra biển, như những chiếc trực thăng trong những ngày tháng 4-1975. Chỉ sự biến mất vĩnh viễn của nó mới đem lại mùa xuân mới trên quê hương này.

Mạnh Kim

Con thuyền cộng sản sắp lật

Con thuyền cộng sản sắp lật

Trung Nguyễn

26-4-2019

“Con chó già” là ai?

Mấy hôm trước, bạn tôi đang đứng trên vỉa hè một quận trung tâm, cạnh đó có một cặp vợ chồng già đang ngồi hóng mát. Bỗng bạn tôi nghe cụ ông hỏi cụ bà: “Bà này, con chó già đó chết chưa?”. Câu hỏi khiến bạn tôi chú ý và lắng nghe coi hai ông bà nói gì, thì ra “con chó già” lại là Tổng bí thư – Chủ tịch nước, gọi tắt là Tổng – Chủ Nguyễn Phú Trọng.

Thấy bạn tôi lắng nghe cuộc hội thoại, ông bà cụ liền bắt chuyện với bạn tôi. Thực sự họ đã dùng những từ ngữ đầy căm thù dành cho giới lãnh đạo Cộng sản. Cụ bà còn tỏ ra lo lắng không biết đến khi cụ mất thì có kịp thấy chế độ đảng trị Cộng sản sụp đổ chưa? Cụ ông liền trấn an cụ bà, nói là nền cai trị của đảng Cộng sản sẽ sụp đổ sớm thôi. Hai cụ sẽ tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chế độ “chuyên chính vô sản” trên đất nước Việt Nam này.

Khi nghe bạn tôi kể lại câu chuyện này, tự dưng tôi nhớ lại lời của chính Tổng – Chủ “Mình phải có thế nào người ta mới thế chứ”. Nếu ông Trọng nghe được lời của hai ông bà cụ nguyền rủa ông thế nào, chắc ông cũng không muốn sống tiếp một cách nhục nhã như vậy. Nhìn những bình luận trên mạng xã hội trước thông tin ông Trọng có vấn đề sức khỏe thì thấy lòng dân vui mừng trước việc các lãnh đạo Cộng sản … đi gặp “cha già dân tộc” như thế nào.

Con vua thì lại làm vua

Thôi thì cứ cho hai ông bà cụ thuộc thế hệ trải qua nội chiến Quốc – Cộng và hai cụ thuộc “bên thua cuộc” nên căm thù Cộng sản đi. Thế thì thế hệ trẻ Việt Nam sinh sau năm 1975 sẽ tin vào những gì mà chế độ Cộng sản tuyên truyền?

Thật ra, bản thân tôi cũng từng bị nhồi sọ về “công lao trời biển” của đảng Cộng sản và Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, tôi đã lờ mờ nhận ra vấn đề khi bản thân tôi và bạn bè tôi đậu điểm rất cao vào đại học nhưng học bổng của các công ty nhà nước lại chỉ ưu ái cho con cán bộ cộng sản cao cấp “văn dốt võ nhát” được nhận học bổng đi du học, còn chúng tôi bị gạt ra. Sự bất công thuở mới vào đời đó khiến tôi thấy được chế độ Cộng sản không hề công bằng và tốt đẹp như tuyên truyền, mà chỉ là dối trá và bất công.

Sau bao nhiêu năm, vụ việc được lặp lại ở mức độ trắng trợn và đê tiện hơn. Con em quan chức Cộng sản được nâng điểm ở mức độ phi lý, thậm chí 0 điểm cũng trở thành “thủ khoa đại học”. Tôi có thể hình dung sự phẫn nộ của giới trẻ Việt Nam khi biết những thông tin này. Các em phải trải qua nhiều cực nhọc để luyện thi đại học, thế nhưng các em bị gạt ra ngoài để nhường chỗ con em bè lũ cai trị. Các em phải hy sinh tương lai của mình để mang lại “hạnh phúc cho dân tộc”, như lời của bà Phó bí thư thành ủy TPHCM Nguyễn Thị Quyết Tâm “Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc”.

Nên nhớ, vụ việc nâng điểm này chỉ mới đổ bể trong năm nay. Chắc chắn tình trạng này đã diễn ra trong nhiều năm trời nhưng ở mức độ nhỏ hơn. Sau bao nhiêu năm không bị lộ thì đám quan chức đã trở nên chủ quan và liều lĩnh khi nâng điểm quá mức. Những học sinh dốt đặc lại trở thành thủ khoa, đã khiến các bạn học cùng lớp phẫn nộ và mọi chuyện lộ ra từ đó.

Một người em của tôi đã phải luyện thi đại học 3 năm trời mới đậu vào trường Y. Nếu em sinh ra là con của lãnh đạo cộng sản thì có lẽ em đã không mất nhiều thời gian như vậy. Chế độ Cộng sản đã tước đoạt hết niềm tin của giới trẻ về một xã hội, trong đó mọi người có cơ hội bình đẳng như nhau.

Khi niềm tin vào sự công bằng không còn thì người dân chỉ còn biết dựa vào hầu đồng, thần thánh, bùa chú, giải vong, cúng sao giải hạn,… Đó là cội rễ của hiện tượng mê tín phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện nay. Còn những ai có điều kiện hơn thì họ tìm cách đi định cư ở những quốc gia “tư bản thối nát” như Bắc Mỹ, châu Âu, châu Úc.

Con thuyền sắp bị lật

Nói thẳng ra, đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh mất niềm tin và sự ủng hộ của đại đa số người dân, từ các ông bà cụ tới các em học sinh, sinh viên, thanh niên trẻ tuổi. Chính ông Trọng đã thừa nhận tình trạng “chán đảng, khô đoàn, nhạt chính trị” hiện nay.

Trong lịch sử, trước khi một chế độ diệt vong luôn có những sự kiện chấn động nhân tâm, “thay vua đổi chúa” liên tục vì không còn ông vua nào đủ uy quyền với các phe nhóm khác nhau trong tập đoàn thống trị.

Các quan chức Cộng sản cao cấp liên tục chết một cách đáng ngờ như Nguyễn Bá Thanh, Phạm Quý Ngọ, Trần Đại Quang,… và bây giờ là đủ thứ tin đồn về sức khỏe của Nguyễn Phú Trọng. Đó là dấu hiệu cho thấy các “đồng chí” Cộng sản đang tàn sát lẫn nhau và sự diệt vong của chế độ đã đến gần.

Ảnh minh họa. Nguồn: VNReview

Điều kiện cần đã có. Giá điện, xăng liên tục tăng phi mã sẽ là điều kiện đủ để nhân dân tiễn đưa chế độ độc đảng toàn trị về với Các Mác, Lênin.

Chính ông Trọng từng nói văn vẻ: “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước”. Đảng Cộng sản chưa bị lật nên còn chưa biết sức dân đâu. Nhưng giới cai trị sẽ sớm biết sức mạnh đó thôi, y như đám cai trị bên Venezuela, Sudan, Algeria đang nếm trải.

THƯƠNG DÂN,DÂN LẬP ĐỀN THỜ..,HẠI DÂN ,DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG….

Lê Hồng Song
THƯƠNG DÂN,DÂN LẬP ĐỀN THỜ..,

HẠI DÂN ,DÂN ĐÁI NGẬP MỒ THỐI XƯƠNG….

Đó không phải là lời hăm dọa theo kiểu phổ biến đời nay giữa các „đại ca“, „đại gia“, „đại quan“. Đó là câu ca dao dân gian Việt Nam đã lưu truyền hơn sáu trăm năm nay, và hẳn sẽ còn lưu truyền mãi mãi.

Câu ca dao đó xuất hiện từ triều đại nhà Hồ (1400-1407) .

Năm 1397, Hồ Quý Ly, tể tướng dưới triều đại nhà Trần, đã cho xây dựng khu thành đá tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa bây giờ. Thành đá này về sau được gọi là Thành Nhà Hồ.

Năm 1398, thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long về Thanh Hóa. Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, lên ngôi vua và đặt tên nước là Đại Ngu. Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô. Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là Thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai.

Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á, là một trong rất ít còn lại trên thế giới và đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại.

Ngôi thành đá kiên cố, hơn 600 năm xem ra vẫn còn chắc vững lắm. Thế mà cái thời đại đẻ ra ngôi thành đó, tức nhà Hồ, lại sụp đổ nhanh chóng đến bất ngờ.

Theo nhà văn, nhà Sử học Hoàng Quốc Hải, (tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử về thời đại nhà Lý và nhà Trần, cũng là người am hiểu sâu sắc lịch sử thời kỳ Lý-Trần-Lê, trong đó có giai đoạn nhà Hồ nắm quyền), Hồ Quý Ly là người điêu trá và tàn bạo. Vốn liếng chính trị ông gây dựng trên cái nền của lòng dân chán ghét, nội bộ chia lìa, tất cả những yếu tố khiến cho sức mạnh quốc gia dần đi vào thế bại liệt. Và cái thế nước lụi tàn ấy, làm sao mà che bịt được những đôi mắt gian giảo của bầy ác thú phương Bắc.

Triều đại nhà Hồ đã tiến hành những cuộc tàn sát khủng khiếp đối với những người chống đối.Thậm chí, chỉ có ý nghĩ không tùng phục mà có kẻ tố giác, cũng bị rơi đầu. Quân lính luôn luôn hành quân đàn áp nhân dân nổi dậy từ khắp mọi nơi, cả nước tràn ngập không khí tang tóc và tù ngục. Lòng dân oán hận triều đình đến cùng cực, chia rẽ đến tột cùng, đói khổ đến tột cùng.

Để cho đất nước rơi vào thảm cảnh đó, cũng có nghĩa tự mình tạo điều kiện tốt nhất cho giặc ngoài vào xâm lấn, và cũng có khác chi tự mình đem nước dâng cho giặc.

Đúng vào thời điểm bi đát nhất của nước mình, thì nhà Minh đem 40 vạn quân vào xâm lược nước ta. Chỉ vài trận ra quân, giặc Minh đã đánh sập triều đình nhà Hồ. Và chỉ năm, sáu tháng sau, từ khi quân Minh vào cõi, cả ba cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đều bị giặc Minh bắt đem về Kim Lăng.

Nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng như vậy, chỉ có một nguyên nhân duy nhất có thể cắt nghĩa là bởi họ khinh dân, họ chống lại nguyện vọng chân chính của toàn dân, và vì thế cả dân tộc không hợp tác với họ, khiến họ bị diệt vong.

Có một giai thoại nổi tiếng, khi Hồ Quý Ly nói với con trai Hồ Nguyên Trừng: “Ta ước sao có được một trăm vạn quân để chống lại quân Minh”. Trừng đáp: “Thưa cha, quân không sợ thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Vậy là bài học muôn thuở, vẫn là BÀI HỌC LÒNG DÂN.

Ngày nay về Vĩnh Lộc, xứ Thanh, ta còn nghe được vô vàn các câu chuyện đau lòng trong quá trình xây thành đá. Và nhân dân căm phẫn Hồ Quý Ly tới mức khắp tỉnh Thanh Hóa không hề có một am, miếu nào thờ ông. Ngay chân thành, dân dựng ngôi đền thờ người đốc công bị Hồ Quý Ly chém đầu với tội dạnh: chậm tiến độ.

Ngay cả nơi vị tướng trẻ Trần Khát Chân bị nhà Hồ giết ở núi Đôn, dân lập tới hai ngôi đền để thờ ông. Cả tỉnh Thanh Hóa có hơn 70 đền thờ Trần Khát Chân. Chỉ riêng điều đó đủ biết nhân dân đánh giá Hồ Quý Ly có công hay có tội. Vì vậy trong dân gian vùng Thanh – Nghệ mỗi khi bình phẩm một nhân vật lịch sử nào, họ thường đọc câu ca dao quen thuộc:

Thương dân dân lập đền thờ
Hại dân dân đái ngập mồ thối xương.

Có ông quan thời nay hình như cũng cảm thấy „ơn ớn“, nhưng là quan, có đâu nghe dân dễ thế, nên chi, vị ấy phán: dân thì muôn người vạn ý, biết đâu mà chiều

http://www.bvd-vn.de/…/1102-thuong-dan-dan-l-p-d-n-th-h-i-d…

Hình: Internet

Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 1 person
Image may contain: 4 people, people smiling, text

Đưa bộ môn ‘Trịnh Công Sơn học’ giảng dạy cho sinh viên có hợp lý?

Tôi thú thật là tôi nghe đế cái môn ‘Trịnh Công Sơn học’ thì tôi rất buồn cười, vì cái thứ nhất nó làm cho tôi… thứ thật là tôi thấy choáng váng, và nó là một hình thức mang tính chất phản khoa học, phi nghệ thuật…-Nhà báo Nguyễn Ngọc Già

Tiếng Sáo Thiên Thai – [Thế Lữ & Phạm Duy – Ngọc Hạ & Quang Ngọc ] – Dau Nguyen 

 httpv://www.youtube.com/watch?v=kmHgk12GVJU&list=PLYNu2WsZ1JUhQ7J1GGZCKRwWY41IaYbRS

Tiếng Sáo Thiên Thai – [Thế Lữ & Phạm Duy – Ngọc Hạ & Quang Ngọc ] – Dau Nguyen 

 “Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ, Đường thế đồ gót rỗ ky khu . . .” (Cung Oán). Và, chốn thiên thai vẫn còn trong trí tưởng của nhân loại. Nơi mà con người khổ đau luôn mơ ước được nhìn thấy, được bước vào. Mời quý vị mở “Tiếng Sáo Thiên Thai” để cùng hai chàng Lưu Nguyễn tìm về với cảnh vật tuyệt mỹ, với tiếng sáo dặt dìu, với mối duyên lành thần tiên dang dở . . . “Tiếng Sáo Thiên Thai”. Thơ: Thế Lữ. Nhạc: Phạm Duy. Tiếng hát: Ngọc Hạ & Quang Ngọc. Hình ảnh & Video clips: Internet. Thực hiện nhạc cảnh: Dậu Nguyễn. 

HÃY NHÌN XEM 

HÃY NHÌN XEM 

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã.  Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm.  Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua.  Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không làm đau như xưa.  Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo.  Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn.  Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng:  Thầy chính là Ðấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết.

Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì.  Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem.  Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc.  Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau.  Nhưng nếu không có chúng thì cũng chẳng có phục sinh.  Chẳng cần phải xóa đi khỏi ký ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhã.

Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của mình.  Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích.  Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành.  Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo.  Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không? 

Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương.  Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó.  Hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh.  Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một Tình Yêu.  Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.  Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.  Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình.  Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin.  Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy.  Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.

Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.  Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma,  nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác.  Cần tập thấy Chúa để rồi tin.  Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai biết thấy nên tin.

***********************************

Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi, dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người – cũng như con – đang cần một người bạn. 

 Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.  Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.  Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh. 

 Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.  Và con sẽ về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Một chế độ man rợ đã thắng một nền văn minh

Image may contain: 1 person, smiling, text

Tuong Dang is with Mary Nguyen.

Nhà văn cộng sản Dương Thu Hương đã thốt lên khi chứng kiến tận mắt mình khi đến Sài Gòn sau 30/4/1975

Đây là một sự thật , vì còn một bằng chứng mà các bạn trẻ sinh sau 1975 nhìn ra là : bắc Hàn và Nam Hàn hiện nay . Thậm chí trước 1975 , Đại Hàn chỉ là đàn em của VNCH . Thời gian có thể qua đi , nhưng những giá trị lịch sử cần phải rõ ràng và chính xác .

Sự thật muôn đời vẫn là sự thật !

Bị đột quỵ và nghĩ tới Chủ tịch nước (*)

Bị đột quỵ và nghĩ tới Chủ tịch nước (*)

Từ Thức

18-4-2019

Một người bạn bị AVC (đột qụy). Nhờ cứu cấp kịp thời và nhờ y khoa hiện đại, ông ta thoát chết. Nhưng thay đổi hoàn toàn, trở thành một người khác.

Vốn là người nóng nẩy, trở thành một người điềm đạm. Một người ích kỷ, huyênh hoang, coi mình là cái rốn của trái đất, ngày nay nghĩ tới người khác, suốt ngày ngồi, lục cuốn sổ điện thoại rách bươm, gọi hỏi thăm người này người kia, muốn biết tin ai còn ai mất. Một người khắt khe, câu chấp, ngày nay bao dung.

Gần kề với cái chết, ông ta hiểu đời sống hơn, biết cái gì là chính yếu, cái gì là phụ. Ông ta nói: cũng may mà mình bị AVC, mở mắt trước khi chết. Ngồi uống café với ông bạn, tự nhiên nghĩ tới ông Chủ tịch nước.

Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: Getty Images

Nếu thoát nạn, nếu ra khỏi nhà thương bình an, ông Chủ tịch trở thành một người khác? Nếu ông ta nghĩ Đảng mình hoành hành như vậy cũng đủ rồi. Lâu la, phe đảng của mình vơ vét như vậy cũng quá rồi, dư sống phe phỡn 9, 10 thế hệ. Đất nước tan hoang như vậy cũng tệ quá rồi. Xã hội không thể bệ rạc hơn nữa, suy đồi hơn nữa.

Nếu ông ta, giữa lúc gần đất xa trời, nghĩ tới những người một sớm một chiều mang kiếp màn trời, chiếu đất vì đầy tớ đã quá tham lam. Nghĩ đến những người đáng tuổi con cháu mình, đang nằm mục xương trong tù, chỉ vì muốn môi trường sạch, muốn đất nước không bị đô hộ, dân tộc không trở thành nô lệ.

Nếu ông ta nghĩ ở thời đại Internet, cái trò hề XHCN không lường gạt được ai nữa, kể cả những kẻ ngu xuẩn nhất.

Nếu ông ta chợt rùng mình, nghĩ mình đang bán giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại, ngàn sau sử sách sẽ không quên. Nếu…

Trong một lúc mơ mộng, nghĩ quẩn như vậy. Nhưng café làm tỉnh ngủ, biết rằng sẽ không có chuyện đó. Óc não người CS không phải là óc não bình thường.

Và ngay cả nếu bệnh đột qụy làm nổ tung cái vỏ cứng, để óc não ông già trở lại bình thường, nếu một phép lạ khiến ông già suy nghĩ như một người dân bình thường, ông ta sẽ bị cả guồng máy nghiền nát…

Quay đi quay lại, động lực duy nhất để thay đổi đời sống của người dân vẫn là người dân. Không có phép lạ.

(*) Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Image may contain: 1 person, standing and hat
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Huỳnh Chí Viễn •Thứ Tư, 24/04/2019 •

Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

*

Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

1. Cha mẹ không tiếc tiền của và công sức chạy trường cho con và bắt con đi học thêm từ sáng tới tối để dạt được danh hiệu học sinh giỏi nhưng hiếm có ai chịu học cùng con và dạy con học.

2. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.

3. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.

4. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.

5. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.

6. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.

7. Những người tự cho mình là trí thức không hề quan tâm đến những vấn đề chính trị-xã hội và cũng không hề có tinh thần phản biện và tiếp nhận thông tin đa chiều. Ngoài giờ làm họ về nhà xem hài nhảm hoặc ra quán lai rai nhậu nhẹt cho tới khuya. Còn lại mọi chuyện liên quan đến vận mệnh dân tộc, họ vẫn yên tâm để cho đảng và nhà nước lo.

8. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…

9. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.

10. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

Là một dân tộc có truyền thống hiếu học, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao lại tiếp tục làm ngơ trước một hành động chà đạp giáo dục như thế này? Đã đến lúc chúng ta ngưng huyễn hoặc mình và đối diện với sự thật.

Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1 & ThuNNguyen