Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Cũng may Cô Vid kịp thời
Ngăn Tàu Hán hóa giống nòi Việt Nam,
Không cho Đảng Tặc Hồ làm
Tay sai bán nước dâng hàm thú kia.

“Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên.” (Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã).

RFA.ORG

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng nh…

BẠN TA              

 BẠN TA                           

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó  

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi

Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi 

Vui được biết, Bạn bình an vui sống

 

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó! Tôi còn đây! Phúc lắm!

 SƯƠNG LAM

From: TU-PHUNG

 CẢM NGHIỆM TUỔI GIÀ

 CẢM NGHIỆM TUỔI GIÀ

Tác giả: Vũ Huy Thiện

Vũ Huy Thiện, Dallas

( Chúng ta nay hầu hết đà già rồi …Vì thề kẻ hèn này, trước hết cám ơn Tiến sĩ Trần An Bài, vì đã được nghe Bài nói chuyện của Ông, và rất tâm đắc, nên bây giờ xin dựa vào cái khung bài của Ông đã đọc tại Hội nghị người Già, và cũng xin mượn luôn cả cái Nhan đề của Ông nữa để ghi thêm đôi điều và một vài cảm nghỉ về tuổi già cho anh em cùng tưởng lãm).

Đêm qua trong một giấc mơ, tôi thấy mình đang thao thao bất tuyệt về một vài cảm nghiệm Tuổi Già. Vì thế, thức dậy phải ghi ngay ra để khỏi quên… Và đây, xin trình làng:

Kính thưa… và toàn thể Qúy Vị,

Trước hết, xin cám ơn Qúy Vị đã cho tôi vinh dự được trình bày đề tài tuổi già trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Bản thân nay cũng đã già. Tôi còn nhớ khi còn nhỏ, thấy Ông Nội mình lúc đó sáu mươi mấy tuổi… thấy Ông tôi đạo mạo và oai vệ quá. Tôi thầm nghĩ:

“Giá mà mình cũng sống đến sáu mươi tuổi thì hay lắm nhỉ” và hôm nay nhìn lại, cảm thấy như mới ngày nào mình còn trẻ… thế mà nay đã hơn “tám bó” rồi…

Trình bày về tuổi già” trước một số đông qúy vị hầu hết trên lục tuần, hoặc ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, hay cao hơn nữa, làm sao tránh khỏi lúng túng. Nhưng tôi vẫn mạnh dạn thưa cùng qúy vị đôi điều về tuổi già.

-Cái cảm nghiệm đầu tiên của tôi về tuổi già là sắc diện và tính tình bắt đầu thay đổi rất nhanh. Làm cho chúng ta sắc diện thì thành “tóc bạc da mồi”, tính tình thì lẩm ca lẩm cẩm. Tuy nhiên, chúng ta cùng nhau điểm qua những yếu tố tích cực và tiêu cực của tuổi già:

  1. Trước hết, chúng ta cùng nhìn đến những cái hay cái đẹp và những điểm tích cực của tuổi già:
  2. Quan niệm chung về tuổi già:

Tự ngàn xưa, trong Kinh Thánh cũng như các cụ nhà ta thường lấy cái mốc 70 làm chuẩn cho tuổi đời: Nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là hiếm ai sống được bảy mươi tuổi.

Kinh Thánh cũng cùng một quan điểm khi nói:

“tuổi thọ trong ngoài bảy chục, Mạnh giỏi chăng là được tám mươi, Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi”. (Tv.89, 10)

  1. Tuổi già là một ân huệ.

Kinh Thánh đã ca tụng tuổi già vì tuổi già là hồng ân của Thiên Chúa, là phúc lành của Chúa (x. St 11, 10-32) người già được kính trọng bởi “người đầu bạc thì khôn ngoan” (Kn 4, 7-15).

Sách Châm ngôn viết: “đầu bạc là một triều thiên vinh dự” (Cn 16,31)3.

Thánh vịnh 92 cũng ca tụng:

Già cỗi rồi vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn,(TV 92,15) Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng nói: “Được sống đến tuổi già là một ân huệ. Không phải vì tất cả mọi người có thể sống đến tuổi này, nhưng vì trước hết, tuổi già cho chúng ta khả năng đánh giá quá khứ, được hiểu và sống mầu nhiệm Phục sinh một cách sâu xa hơn, và được trở nên kho tàng kinh nghiệm quý báu cho Giáo hội”.

  1. Tuổi già thì Đạo Đức.

Chúng ta hãy đọc một đoạn trong Lá thư mục vụ cho những người công giáo cao niên của Hội đồng Giám mục Hoa kỳ: “Trong khi mọi người đều được mời gọi nên thánh, để “kết hợp thân mật chặt chẽ với Đức Kitô”, thì sự quan tâm đạo đức thường thừa nhận rằng lời mời gọi này quan trọng hơn đối với các vị cao niên. Nhiều người trong quí vị bây giờ đã có nhiều thời giờ và hoàn cảnh thuận tiện để suy nghĩ sâu xa hơn và hành động với cái nhìn có nhiều tính cách luân lý hơn. Với nhiều người già, thánh lễ hằng ngày là trung tâm của đời sống tinh thần và là cơ hội để gặp gỡ và làm bạn với nhiều người cùng lứa tuổi. Nhiều vị cũng biết cầu nguyện dưới hình thức suy gẫm mà lời nói không còn cần thiết nữa, chỉ còn im lặng bình tâm lắng nghe tiếng Chúa. Sự giảm yếu của các giác quan cũng có thể xảy ra trong tuổi già thường được coi là tiêu cực, nhưng đôi khi đó lại hữu ích cho việc suy gẫm. Nhiều vị lại thích tìm hiểu và gia nhập những nhóm học hỏi Kinh Thánh, nhóm chia sẻ đức tin hoặc những nhóm huấn luyện đức tin cho người trưởng thành.”

Quả thật, Con người sinh ra, sống và phải già đi, đó là lẽ thường trong cuộc sống con người, nhưng tuổi già phải có một cái gì để lại, Vì thế George Granville nói: “

Tuổi trẻ là mùa của yêu thương, Tuổi già là mùa của ĐẠO ĐỨC.

Tuổi già có thể trở thành một giai đoạn qúi nhất của cuộc đời. Có người nói: “

Chúa định cho sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi trẻ là ở thể chấtNhưng sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi già là trong tâm linh.”

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, dù rằng đã già nua nhưng ngài cũng vẫn là một thần tượng cho cả giới giới trẻ cũng như người già. Vì thế, trong Phẩm giá của Người già, The Dignity of Older people viết:

Đức Giáo hoàng Gioan Phalô II sống tuổi già của ngài với sự tự nhiên thoải mái dễ chịu. Ngài không che giấu gì hết, mà còn biểu lộ ra cho mọi người biết. Với sự hết sức chân thành, ngài nói:“Tôi là một linh mục già yếu”. Ngài sống tuổi già của ngài trong niềm tin. Ngài không hề để ngài bị giới hạn bởi tuổi tác”.

4-Người già thì Khôn ngoan và kính sợ Chúa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rước Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân

Sách Huấn ca ví người già như cành lá của cây khôn ngoan:

  1. rễ của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa Cành lá của khôn ngoan là cuộc đời trường thọ. (Hc.1,20)

5- Người già biết lo liệu, phán đoán và giàu kinh nghiệm.

Về vấn đề này sách Huấn ca viết như sau:

  1. trẻ con không lo dành dụm, về già lấy đâu ra mà có? người khôn ngoan phán đoán, bậc lão thành chỉ bảo, thật đẹp đẽ biết bao! sự khôn ngoan của các vị bô lão, tư tưởng và ý kiến của các bậc danh nhân thật đẹp đẽ chừng nào! giàu kinh nghiệm là triều thiên hàng bô lão lòng kính sợ Đức Chúa là niềm hãnh diện của các ngài. (Hc.25,3-6)

Sách châm ngôn cũng ca ngợi người già:

Mái đầu bạc là triều thiên vinh hiển (Cn 16,31)

Sách Khôn Ngoan viết:

“Tuổi già đáng kính trọng, không phải vì trường thọ, cũng không phải vì cao niên, nhưng vì người đầu bạc thì khôn ngoan.”

Sách Khôn Ngoan còn nói thêm:

“Người tuổi già thì đẹp lòng Chúa, được Chúa yêu dấu. (Sách Khôn ngoan, 4:7)

Vài điểm tiêu cực nổi bật:

  1. Tuổi già hay quên và lẩm cẩm:

Cái cảm nghiệm hiển nhiên về vấn đề này là bắt đầu quên, bắt đầu lẩm cẩm. Kinh nghiệm bản thân, có những lần rõ ràng khi ra khỏi nhà, đã khóa cửa cẩn thận, mà khi đã đi được một đoạn đường, sao tự nhiên mình quên hẳn không nhớ ra là đã khóa chưa; thế là buộc lòng phải quay trở lại… tôi có thể nghĩ khá lâu mới nhớ được tên một người bạn, quên ngay một việc mình định làm, tìm không thấy đồ vật mình vừa đặt xuống, không nhớ mình đã làm việc đó chưa, nhưng một lúc sau thì có thể nhớ lại.

Một ví dụ khác: Vừa ở trong phòng ra ngoài định lấy cái gì đó, thế mà khi đã ra ngoài lại quên bẵng đi, không biết đến đó làm gì. Ðứng một hồi mới nhớ ra được: “À, thì ra định lấy cái…!” Hơn nữa, nhiều khi vừa nói một vấn đề nào đó rồi mà tưởng chưa nói, lại lập lại, khiến cho người nghe phát ngán.

Nhất là khi nói chuyện thì cứ nói vòng vo Tam quốc, rào trước đón sau, nói mãi mà chưa vào đề, khiến cho người ta dễ bực mình.

Ấy thế nhưng, có những vấn đề không đáng nhớ thì lại nhớ dai. Nhất là những chuyện ngày xưa, đúng như người ta thường bảo, người già thì hay sống với quá khứ.

Vâng, “già sinh tật, đất sinh cỏ”. Ở tuổi già, những điều đáng nhớ thì lại quên, mà những điều đáng quên thì lại nhớ. Để tuổi già được bình an thư thái, chúng ta phải nhất quyết quên đi những hận thù quá khứ.

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng đã nói:

Trí nhớ của Chúa rất tồi, nhiều khi Ngài chẳng nhớ gì cả. Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy nhan nhản những câu chuyện tương tự về “bệnh” quên của Chúa. Trước giờ Chúa bị đóng đinh, có anh trộm lành nói rằng: “Lạy Thầy, khi nào Thầy về nước Thiên Ðàng, xin nhớ đến con cùng!” Nếu chúng ta ở vào địa vị Chúa thì dù có tha cũng phải hạch sách, cảnh cáo anh trộm lành này, chứ đâu có tha cách dễ dàng được: “Anh có biết rằng anh đi ăn trộm, anh làm khổ cho bao nhiêu gia đình, anh phải đền tội đã rồi mới được tha!”. Nhưng Chúa thì không như vậy, Ngài đã trả lời ngay cho anh: “Ta bảo thật, ngày hôm nay, ngươi sẽ được cùng ta ở trên nước Thiên Ðàng.” Chúa quên hết tội lỗi của anh kẻ trộm, cho nên anh ta lại trộm luôn cả nước Thiên Ðàng. Đó là thánh trộm lành tên Dismas..(?).

Vậy chúng ta hãy bắt chước Chúa: Quên đi hết những lỗi lầm, những bực bội đối với anh em chúng ta.

  1. Tuổi già hay tủi thân và cô đơn:

Cảm nghiệm thứ hai của tuổi già là hay tủi thân và sợ cô đơn. Tại sao lại hay tủi thân? Vì nay tuổi già sức yếu, làm không được nữa thì phải nhờ con cháu. Mà nhờ vả chúng nó, thì nó không chịu làm, hoặc nếu có, thì làm một cách miễn cưỡng, lại còn la mắng mình nữa. Như nay không lái xe được nữa, nhờ con cháu chở đi nhà thờ thì có khi chúng chở và cũng có lúc chúng nó nói ở nhà đọc kinh cũng đủ rồi, việc gì cứ phải đến nhà thờ hoài vậy… Thế là tủi thân. Buồn ơi là buồn!

Lại còn cảnh cô đơn nữa. Nay về già, ngồi một chỗ, nói không ra hơi, nói chuyện nọ xọ sang chuyện kia, chẳng con cháu nào muốn nghe nữa. Có gọi chúng nó đến thì rồi lấm la lấm lét, câu trước câu sau, chúng nó cũng lỉnh đi luôn. Ðối với những cụ còn đủ cặp, thì sớm tối còn thủ thỉ với nhau được. Ông xướng bà họa, ông “Kính Mừng” bà “Thánh Ma”, kể ra cũng còn đỡ, nhưng khi goá bụa, thì sự cô đơn buồn tủi càng ghê gớm hơn nữa.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khích lệ người già vui sống và đồng thời đề cao giá trị người già trong xã hội và Giáo Hội. Ngài nhắn nhủ người già đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều. Ngài nhấn mạnh rằng:
Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng. Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống, thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn. Ước gì trên khuôn mặt chúng ta, luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, và không bao giờ buồn sầu”.

Ngài cũng nhắn nhủ người già đừng bao giờ nản chí:

“Anh chị em là một sự phong phú cho xã hội, cả khi gặp đau khổ và bệnh tật. Giai đoạn này trong cuộc sống là một hồng ân để đào sâu quan hệ với Thiên Chúa. Anh chị em đừng quên rằng trong số những nguồn lực quí giá mà anh chị em có, điều thiết yếu là kinh nguyện. Anh chị em hãy trở thành những người chuyển cầu nơi Thiên Chúa, cầu nguyện trong sự tin tưởng và kiên trì. Anh chị em hãy cầu nguyện cho Giáo Hội, cho tôi nữa, cho các nhu cầu của thế giới, cho người nghèo, để thế giới không còn bạo lực nữa”.

  1. Tuổi già bất lực:                                                                                                     chân đó, nhưng chân không đủ sức để di chuyển thân xác từ chỗ này đến chỗ kia. Có tay đó, nhưng tay không còn khả năng cầm giữ một vật gì cho chắc. Có tai đó, mà có khi người ta hét bên tai cũng không nghe thấy gì. Có mắt đó, mà không còn xác định được người hay vật ngay trước mặt mình. Ðó là tình trạng bất lực.

Tuy tới tuổi già, thân xác và tinh thần sẽ lâm vào tình trạng bất lực. Nhưng có một khả năng tâm linh không trở thành bất lực. Ðó là khả năng cầu nguyện và kết hợp với Chúa.

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong thư gửi cho những người già vào năm 1999, đã tâm sự với các tu sĩ già rằng:

“Hội Thánh tin tưởng nơi phần đóng góp của anh em qua lời cầu nguyện liên lỉ, chờ đợi các lời khuyên già dặn kinh nghiệm cụ thể của anh em, và chứng tá cho Tin Mừng mà anh em sống hằng ngày làm giầu cho Hội Thánh.”

  1. Tuổi già giống trẻ thơ?

Nếu đem so sánh hình ảnh một em bé mới sinh ra với một cụ già thập tử nhất sinh, người ta thấy khác nhau một trời một vực. Em bé như chiếc bông hoa xinh tươi mới nở. Còn cụ già như chiếc hoa đã héo tàn.

Tuy nhiên, trong cái khác biệt già trẻ đó, tôi vẫn thấy có những điểm tương đồng rất ngộ nghĩnh:

– Một bé thơ không thể tự ăn uống được và thức ăn phải là đồ lỏng. Một cụ già ăn uống cũng phải có người đút và cụ cũng không thể ăn thức ăn cứng được nữa.

– Một em bé cần phải mặc tã thì một cụ già cũng cần phải mang cái thứ đó khi không còn khả năng kiềm chế bộ phận bài tiết của mình.

– Một em bé ăn rồi lại nhắm mắt ngủ li bì thì một cụ già nằm trên giường bệnh cũng y hệt như vậy.

– Một em bé thường hay hờn hay dỗi, có khi còn giả vờ đau đớn để được mẹ vỗ về an ủi. Các cụ đến tuổi về già tính nết cũng y hệt như vậy, động một tí là hờn là dỗi, bỏ cơm không chịu ăn, bắt phải năn nỉ muốn đứt hơi mới chịu ăn trở lại. Có những cụ đau yếu được các con thay phiên săn sóc y như thể ra mặt nhõng nhẹo, giận hờn, đòi này đòi kia đủ thứ, hỏi gì cũng chỉ nhắm mắt, không thèm trả lời, ra điều mệt mã lắm.

– Khi Chúa Giêsu nói rằng chỉ những người giống như trẻ thơ mới được vào nước Thiên Ðàng. Nhiều cụ sợ không được lên Thiên Ðàng vì làm sao già lụ khụ mà giống trẻ thơ được. Vậy thì hôm nay, các cụ yên trí, các cụ cũng có nhiều điểm giống trẻ thơ lắm! Nước thiên đàng là của các cụ bé thơ” đấy!

  1. Tuổi già hay bệnh tật

Tuổi già gắn liền với bệnh tật. Phật giáo nói rằng trên đời có 4 cái khổ: Sinh, Bệnh, Lão, Tử.

Đúng là có trẻ thì có già, mà già thì tất nhiên có Bệnh và rồi dẫn tới Tử. Khi phải đối diện với đau khổ, con người cố gắng tìm cách xa lánh nó, hoặc có tôn giáo dạy cách diệt trừ nó. Nhưng hỏi rằng xưa nay đã có ai trên đời diệt được Sinh, Bệnh, Lão, Tử chưa?

Ðạo Công Giáo dạy con người phải thánh hoá khổ đau, biến khổ đau thành tình thương và rồi khổ đau sẽ trở thành niềm hoan lạc. Ðời sống của các thánh đều chứng minh rằng các ngài đã không sợ đau khổ, trái lại, vì lòng yêu Chúa và yêu tha nhân, chính các ngài đã chấp nhận chịu đau khổ cho chính mình.

Nhưng, còn việc Sinh, Tại sao lại nói Sinh là một trong 4 cái khổ?

Chúng ta biết chắc rằng mỗi khi một em bé được sinh ra, cả gia đình mừng rỡ. Vì Sự sống là một ơn huệ cao trọng nhất Chúa ban cho loài người. Trong thư của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngày 1-10-1999, gửi riêng cho người già, với tâm hồn thi sĩ, Ngài đã viết rằng:

“Chỉ cần nhìn cảnh vật thay đổi quanh năm, trên núi đồi, trên đồng bằng, trên đồng cỏ, trong thung lũng, trong rừng rậm, trên cỏ cây, thì đủ hiểu. Có sự tao phùng giữa nhịp sống của con người và các chu kỳ của thiên nhiên, mà con người là một thành phần.”

Về những đau khổ do bệnh tật gây ra, ÐGH Gioan Phaolô II cũng đã nói với các bệnh nhân rằng:

“Chính tình yêu Kitô giáo mang lại giá trị và ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, cả khi tật nguyền bệnh hoạn, lấy mất đi sự toàn vẹn của thân xác. Thưa anh chị em, như Chúa Kitô trên Thập giá, anh chị em thật mạnh mẽ.”

Nói đến đây, tôi nhớ lời Ngôn sứ Isaia: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” Mt. 8,17.

Vậy là các cụ hãy quẳng gánh lo đi các cụ nhé!

  1. Tuổi già và sự Chết

Ngày xưa, có lẽ những người thuộc thế hệ già như chúng ta thường nghe trong kinh bổn có hai chữ: “Tứ chung”. Vâng, đó là bốn cái cuối cùng của con người: Chết, Thiên đàng, hoả ngục, và phán xét, mà mọi người phải trải qua.

Nhưng có một điều chắc chắn ai trong chúng ta cũng đã thấy và chứng kiến cái chết của nhiều người trong đó có những người thân; nó hiển nhiên phải xẩy đến, nhưng không biết khi nàoĐúng thế, Tình trạng này chắc chắn phải xảy đến, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ được. Vậy, Chúng ta phải chuẩn bị, để một ngày không xa, khi chúng ta phải đối mặt với nó.

Tuy có nhiều người chết trong lúc còn trẻ vì tai nạn, vì bệnh tật. Nhưng tuổi già thì gắn liền với sự chết. Thêm một tuổi đời là tiến gần đến sự chết.

Thưa qúy vị, cái chết có thực sự đáng sợ lắm không?

Xin hãy nghe Thánh Phaolô khi về già Ngài viết:

“Còn tôi sắp phải đổ máu ra để làm lễ tế, đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp, đã chạy hết chặng đường mà giữ vững đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa công chính mà Chúa là Ðấng phán xét dành cho tôi. (1Tim.4, 6-8).

Trong bài giảng cho giáo triều Roma vào năm 2000, Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã nói về sự chết như sau:

“Ðó là ‘giờ’ xinh đẹp nhất, ‘giờ’ của sự sống chứ không phải của sự chết. Ðó là lúc gặp gỡ Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ trông thấy Ngài. Ngài đứng đó chờ đợi chúng ta và cùng với Ngài chúng ta cũng sẽ gặp Mẹ Maria.

Vì thế, nên khi còn sống đã biết bao nhiêu lần chúng ta cầu khấn Mẹ để xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta: ‘Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử’.

Mẹ sẽ tiếp đón chúng ta như một Hiền Mẫu yêu thương và dẫn đưa chúng ta là con cái dấu yêu của Mẹ đến với Thiên Chúa Cha.”

Thưa quý vị,

Như vậy thì “Sinh, Bệnh, Lão, Tử” theo quan niệm của đạo Công Giáo không còn phải là những nỗi khổ đau trên đời nữa. Tuy nhiên, có một vài vấn đề chúng ta thường gặp thấy trong khi dự các đám an táng mà tôi nghĩ chúng ta phải cùng nhau xem xét lại hôm nay.

Trong một số tờ Cáo Phó, chúng ta thường đọc rằng:

“Gia đình chúng tôi vô cùng đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc: Cha của chúng tôi là ông Giuse ……. vừa được Chúa gọi về.”

Thưa quý vị, nếu thân nhân chúng ta được Chúa gọi về thì có gì mà phải vô cùng đau đớn?

Vì thế, tôi xin đề nghị chúng ta sửa lại lời cáo phó đó. Chẳng hạn: Trong niềm hy vọng vào mầu nhiệm Phục Sinh, chúng tôi xin loan báo đến thân bằng quyến thuộc: Cha của chúng tôi là Ông Giuse Nguyễn Văn…. vừa được an nghỉ trong Chúa…”

KẾT LUẬN:

Để kết luận, Tôi xin lặp lại một câu chuyện vui do chính Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã kể trong một buổi thuyết giảng cho giới già tại Chi Dòng Ðồng Công Missouri, vào Năm Thánh 2000:

Có một cha sở già đến tuổi về hưu. Ngài xin Ðức Giám Mục cho ngài rời nhiệm vụ để về nhà dưỡng lão chuẩn bị dọn mình chết lành. Bổn đạo nghe vậy thì buồn lắm, liền kéo nhau đến năn nỉ cha ở lại:

– Thưa cha xứ, cha về hưu, bỏ lại chúng con mồ côi, mồ cút, không ai trông nom dạy dỗ chúng con. Xin cha thương ở lại với xứ chúng con. Khi nào cha chết chúng con hứa sẽ làm ma thật lớn để chôn cất cha. Cả giáo xứ sẽ đội khăn tang và sẽ đọc kinh cầu nguyện cho cha vĩnh viễn, suốt đời.

Cha xứ cứ một mực xua tay lắc đầu:

– Thôi, cụ ở với chúng bay mấy chục năm nay đủ rồi. Bây giờ cụ phải lo việc phần hồn của cụ. Mai ngày cụ chết chúng bay không chôn thì cũng có người khác chôn, chẳng ai để cụ nằm chết thối tha. Ðám ma lớn hay nhỏ cụ cũng chẳng cần, vì chết rồi cụ đâu còn biết gì nữa. Còn việc chúng bay hứa cầu nguyện cho cụ thì cũng tốt thôi, nhưng việc đó còn tùy nơi cụ. Cụ mà ăn ở đẹp lòng Chúa thì cụ được lên thiên đàng. Lúc đó cụ chẳng cần chúng bay cầu nguyện. Mà nếu chẳng may cụ có phải xuống hỏa ngục thì tụi bay có cầu nguyện đời đời hay vĩnh viễn thì cũng vô ích thôi. Hoặc giả mà cụ có vào lửa luyện tội thì ai sao mình vậy. Người ta ra thì từ từ cụ cũng có ngày được ra vậy.

Đức Thánh Cha Biển Đức nhắn nhủ người già đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều.

Ngài nhấn mạnh rằng:

Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng.

Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống, thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn.

  1. gì trên khuôn mặt chúng ta, luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, và không bao giờ buồn sầu”.

 Thưa quý vị,

Trước khi dứt lời, còn một thứ mà tôi biết chắc chắn ai cũng có, có dư thừa, nhưng đôi lúc chúng ta không muốn cho đi: Ðó là NỤ CƯỜI.

Chúng ta phải công nhận rằng nhiều khi trong cuộc đời chỉ có một nụ cười xuề xòa, nụ cười tha thứ, nụ cười dễ dãi, mà chúng ta cũng không muốn cho đi…

Ðổi lại, chúng ta toàn cho con cái, cháu chắt hay anh em trong Cộng Ðồng những cái nhăn nhó, quặu cọ, phê bình và chỉ trích…

Tắt một lời, chỉ có NỤ CƯỜI mới có thể hoán cải được những sai trái của con cháu hoặc anh em chúng ta.

Vậy hãy cho đi và phải cho đi hết những nụ cười mà chúng ta còn có thể cho được.

Cuối cùng, Tôi xin mượn lời một triết gia để kết thúc:

“Bạn phải làm sao để khi vừa sinh ra thiên hạ cười trong lúc bạn khóc, nhưng khi bạn chết thì thiên hạ khóc trong lúc bạn cười.”

Xin cám ơn.

(ATN Vũ Huy Thiện).

Người tử tù im lặng

Image may contain: 2 people, text

Đinh Nguyên Kha

Tên anh ta là Hồ Duy Hải(1985), quê ở huyện Thủ Thừa tỉnh Long An. Bị bắt từ năm 2008 vì cáo buộc ” giết người và cướp tài sản” và bị tuyên án tử hình trong phiên sơ thẩm. Nhưng trước khi thi hành án tử năm 2014 lại có lệnh hoãn thi hành từ chủ tịch Sang vì còn rất nhiều tình tiết mờ ám chưa được làm rõ .

Anh ta được mệnh danh là “người tử tù im lặng” vì suốt thời gian tôi ở gần phòng biệt giam anh ta ko nói chuyện với bất kì bạn tù nào , trong khi những tử tù khác liên tục hò hét đập cửa hay gây náo loạn trại giam. Có thể anh ấy bị khủng hoảng tâm lý nên ko muốn nói chuyện nữa, hay bị biệt giam lâu quá anh ấy đã quên tiếng người, hoặc có thể anh ấy biết dưới chế độ độc tài này mình chỉ là dân đen thấp cổ bé họng nên có lên tiếng cũng vô ích vì như cá nằm trên thớt rồi. Tôi còn nghe bạn tù kể anh ta từng làm đơn nhận hết tội xin tử hình cho nhanh vì ko chịu nổi cảnh giam cầm khắc nghiệt đó.

Suốt những năm tạm giam chờ tử hình , anh ấy luôn bị cùm chân vào gọng sắt khiến chân bị teo lại, nếu có thả tự do vào lúc ấy anh ta cũng ko thể đi được mà cần có 2 người dìu 2 bên. Đó là cách mà trại giam XHCN đề phòng tử tù vượt ngục. Suốt 12 năm bị giam giữ, ai sẽ trả lại tuổi xuân trai trẻ cho anh ta đây? Ai sẽ trả lại những tổn thương mà gia đình anh ta đã gánh chịu đây?

Nhưng nhờ có sự can thiệp của các tổ chức xã hội dân sự và phong trào dân chủ, vụ án đã được lật lại để điều tra và xét xử, và ngày mai 06/05/2020 sẽ diễn ra phiên tòa lịch sử tại Tòa án tối cao dưới sự điều hành của chánh án tối cao Nguyễn Hòa Bình, người trước đây từng giữ chức vụ Viện trưởng VKSND TC đã khẳng định vụ án này ko oan sai. Dù là phiên tòa công khai nhưng hầu như ko ai vào tham dự được. Kết quả ngày mai cho dù có ra sao thì đây cũng sẽ là vết nhơ khủng khiếp trong ngành tòa án XHCN

11 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA     

11 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA

45 năm qua, hết chiến tranh, cơm no áo ấm đâu không thấy. Dân chờ hoài, chờ mãi… vẫn không được những thứ mà dưới thời Việt Nam Cộng Hòa có được. Thử tìm hiểu những thứ mà người dân được hưởng dưới thể chế VNCH là gì?

***     11 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM DƯỚI THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA

  1. Học sinh đi học không cần đóng học phí. Đây là chính sách khuyến học của chính phủ VNCH dành cho tất cả con em Miền Nam được tiếp cận tri thức.
  1. Đi bệnh viện (*) không tốn tiền. Bạn khó tin ư? Nhưng đây hoàn toàn là sự thật.

Các bệnh viện do chính quyền VNCH quản lý đều miễn phí tiền khám chữa bệnh cho người dân. Và đặc biệt, bác sĩ và nhân viên y tá vô cùng gần gũi và thân thiện với bệnh nhân cho dù người giàu hay người nghèo.

(*) Thời đó không gọi là Bệnh Viện mà là Nhà Thương. Vì khi bệnh đến đó mọi người ai cũng như ai đều được thương yêu chăm sóc tận tình dù không hề tốn tiền.

  1. Trẻ con, người lớn khi đi ngoài đường nếu gặp phải đám tang đều đứng lại, cởi nón và cúi đầu đưa tiễn người quá cố.
  1. Bất kỳ ai đang trên đường phố, nếu nghe tiếng Quốc ca vang lên đều đứng nghiêm trang chào cờ với lòng tự hào dân tộc.
  1. Học sinh được uống sữa, ăn bánh mì miễn phí. Ăn uống đến ngán phải lén bỏ vào thùng rác.
  1. Bạn được quyền bầu chọn người đứng đầu đất nước thông qua bầu cử Tổng Thống một cách dân chủ và công khai.
  1. Nếu không hài lòng về chính sách quản lý đất nước của chính phủ, bạn có quyền xuống đường biểu tình thể hiện chính kiến. Bạn có thể đứng trước Dinh Tổng Thống chửi rủa hay đốt hình ông ta mà không gặp bất kỳ sự đàn áp hay bắt bớ gì của chính quyền.
  1. Ra đường bạn có thể đeo bao nhiêu vàng, mang bao nhiêu tiền cũng không sợ cướp giật.
  1. Khi chạy xe trên đường, bạn cũng không sợ bị cảnh sát tìm cách tống tiền.
  1. Bạn cầm Giấy thông hành VNCH có thể đi khắp thế giới mà không bị coi thường, khinh rẻ. Ngược lại, được bạn bè quốc tế quý mến và tôn trọng
  1. Khi bạn cầm bằng cấp do VNCH cấp đi ra nước ngoài có giá trị tương đương với họ

Còn nữa, còn nhiều nữa những thứ đã tồn tại ở Miền Nam Việt Nam trước 1975 mà đến tận bây giờ ở chế độ Cộng sản vẫn không hề có được.

Nguồn: Congtrung Nguyen

From:Tu-Phung

Ngoại trưởng Mỹ: Có bằng chứng Corona xuất phát từ phòng thí nghiệm TQ

 

Ngoại trưởng Mỹ: Có bằng chứng Corona xuất phát từ phòng thí nghiệm TQ
04/05/2020
• Reuters
________________________________________

Ông Pompeo trong một cuộc họp báo với Tổng thống Trump.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo hôm 3/5 nói rằng có “số bằng chứng đáng kể” cho thấy rằng virus Corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm của Trung Quốc, nhưng không bác bỏ kết luận của các cơ quan tình báo Mỹ rằng virus Corona không phải do con người tạo ra.
“Có số bằng chứng đáng kể cho thấy rằng [virus này] xuất phát từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán”, ông Pompeo nói trên chương trình “This Week” của kênh ABC.
Virus xuất phát từ thành phố của Trung Quốc cuối năm ngoái đã làm khoảng 240 nghìn người tử vong trên toàn thế giới, trong đó có hơn 67 nghìn người ở Mỹ.
“Các chuyên gia tốt nhất cho tới nay đều nghĩ rằng nó do con người tạo ra. Tôi không có lý do nào không tin điều đó vào lúc này”, ông Pompeo nói.
Khi người phỏng vấn chỉ ra rằng đây không phải là kết luận của các cơ quan tình báo Mỹ, ông Pompeo nói: “Tôi đã thấy các cơ quan tình báo nói. Tôi không có lý do nào để tin rằng họ đưa ra kết luận sai”.
Các quan chức Mỹ có nắm thông tin phân tích tình báo nói trong nhiều tuần qua rằng họ không tin rằng các nhà khoa học Trung Quốc đã phát triển virus Corona trong một phòng thí nghiệm về vũ khí sinh học của chính phủ mà từ đó virus đã thoát ra.
Thay vào đó, họ tin rằng nó lây lan qua tiếp xúc của con người với động vật tại chợ thịt sống ở thành phố Vũ Hán, hoặc có thể đã thoát ra từ một trong hai phòng thí nghiệm được coi là tiến hành nghiên cứu về các nguy cơ sinh học.

 

VOATIENGVIET.COM
Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo hôm 3/5 nói rằng có “số bằng chứng đáng kể” cho thấy rằng virus Corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm của Trung Quốc, nhưng không bác bỏ kết luận của các cơ quan tình báo Mỹ rằng virus Corona không phải…

Virus Corona khủng khiếp.

Hoang Le Thanh
Virus Corona khủng khiếp.

Đến ngày 02/5/2020, trên thế giới có hơn 238.000 đã chết, trong đó riêng tại Mỹ 65.000 người đã tử vong.

Theo số liệu được kiểm đếm bởi Đại học Johns Hopkins. Virus Corona đã giết chết hơn 238.000 người trên toàn thế giới, bao gồm hơn 65.000 người ở Mỹ và hơn 20.000 người ở Ý, Anh và Pháp.

Các chuyên gia y tế cảnh báo một làn sóng nhiễm bệnh thứ hai có thể xảy ra trừ phi xét nghiệm được mở rộng đáng kể.

Tổng thống Mỹ – Donald Trump – ngày thứ Sáu 1/5 nói ông hi vọng tổng số người chết ở Mỹ sẽ dưới 100.000 người, một con số mà ông thừa nhận là “khủng khiếp.”

Tham khảo: VOA

Người dân Tây Ban Nha tràn ra đường vào ngày thứ Bảy để tập thể dục ngoài trời giữa thời tiết mùa xuân đẹp đẽ sau khi nhà chức trách nới lỏng phong tỏa, trong khi đó Nga báo cáo đợt tăng vọt lớn nhất số ca nhiễm virus corona mới…

NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIRUS CÚM TÀU ĐẦU TIÊN

NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIRUS CÚM TÀU ĐẦU TIÊN

1/- Thái Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 61 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 13/1.

2/- Nhật Bản: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nam du khách 30 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 16/1.

3/- Hàn Quốc: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 35 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 20/1.

4/- Hoa Kỳ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông 30 tuổi trở về tiểu bang Washington từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.

5/- Đài Loan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ doanh nhân 55 tuổi trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.

6/- Ma Cao: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Vũ Hán đến Ma Cao đánh bạc. Công bố bệnh ngày 21/1.

7/- Hồng Kông: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến Hồng Kông bằng tàu cao tốc qua ngõ Thâm Quyến. Công bố bệnh ngày 22/1.

8/- Singapore: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán 66 tuổi. Công bố bệnh ngày 23/1.

9/- Việt Nam: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán (thăm con trai & người con này cũng bị lây). Công bố bệnh ngày 23/1.

10/- Pháp: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Pháp gốc Hoa về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.

11/- Nepal: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.

12/- Australia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc khoảng 50 tuổi, đến Australia theo chuyến bay Quảng Châu – Vũ Hán – Melbourne. Công bố bệnh ngày 25/1.

13/- Canada: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông khoảng 50 tuổi, trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.

14/- Malaysia: Phát hiện 4 ca đầu tiên (cùng 1 gia đình) là du khách đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.

15/- Campuchia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.

16/- Đức: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Đức có họp chung với 1 người đến từ Thượng Hải. Trước khi cô này sang Đức họp có tiếp xúc gia đình đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.

17/- Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất: Phát hiện ca đầu tiên là 1 gia đình du khách 4 người đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 29/1.

18/- Phần Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách Trung Quốc 32 tuổi. Công bố bệnh ngày 30/1.

19/- Ấn Độ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.

20/- Philippines: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 38 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.

21/- Italia: Phát hiện ca đầu tiên là đôi vợ chồng du khách đến từ Vũ Hán. Vợ 65 tuổi, đã từng giảng dạy Văn tại Đại học Sư phạm Trung ương Trung Quốc đặt ở Vũ Hán. Chồng 66 tuổi, kỹ sư hóa sinh cao cấp trước khi nghỉ hưu. Công bố bệnh ngày 31/1.

22/- Thụy Điển: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 31/1.

23/- Bỉ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 trong 9 người Bỉ sơ tán khỏi Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 4/2.

24/- SriLanca: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ 43 tuổi đến từ tỉnh Hồ Bắc. Công bố bệnh ngày 27/1.

25/- Nga: Phát hiện 2 ca đầu tiên là 2 người mang quốc tịch Trung Quốc. Công bố bệnh ngày 31/1.

Và cứ thế virus từ Vũ Hán đã lan truyền đi khắp nơi, nhanh nhất theo đường hàng không.

Nhưng có điều rất lạ là thời điểm mới có dịch ở Trung Quốc, người Vũ Hán không được đến Bắc Kinh, nhưng được đến khắp nơi trên thế giới.

Có tới 1,6 tỷ người lao động trên toàn cầu có thể mất việc do đại dịch virus Vũ Hán, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

(Nguồn: Tôi Yêu Sài Gòn)

No photo description available.

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

Để đưa một vụ án đến với công lý thì cần có 2 yếu tố quan trọng, đó là điều tra khách quan và xét xử công bằng. Thế nhưng dưới nền “pháp quyền XHCN” thì 2 vấn đề này không được đảm bảo. Sự bất cẩn của 1 trong 2 cơ quan trên đều đưa tới hiện tượng oan sai chứ chưa nói nến hành động cố tình bóp méo sự thật như việc làm quen thuộc của cơ quan điều tra và cơ quan xét xử trong bộ máy chính quyền CS. Vụ án Hồ Duy Hải nay đã kéo dài ròng rã 12 năm mà chưa ngã ngũ là rơi vào hoàn cảnh như vậy, quyền lực chính trị đã thọc tay vào quá trình tố tụng.

Những vụ án oan sai của ngành tư pháp Việt Nam rất nhiều, vụ Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long cũng đã phơi bày tất cả. Và hôm nay là vụ án Hồ Duy Hải. Khi xem lại quá trì tố tụng, chúng ta mới thấy rõ bàn tay nhớp nhúa của thứ quyền lực chính trị nó đáng tởm như thế nào?! Từ nhân chứng đến vật chứng đều hoặc bị che giấu hoặc được ngụy tạo. Từ cơ quan điều tra đến cơ quan công tố rồi lại cơ quan xét xử, tất cả phối hợp dựng kịch bản một cách đồng lòng đến đáng sợ. May thay còn có mạng xã hội, còn có những luật sư có tâm mới giành lại sự sống cho Hải đến giờ, chứ không thì anh ta đã xanh cỏ từ lâu bởi thứ pháp quyền thổ tả thời XHCN.

Khi vụ án xảy ra, ban đầu có đến 2 nhân chứng là ông Đinh Vũ Thường và Phùng Phụng Hiếu. Trong đó Phùng Phụng Hiếu là nhân chứng đầu tiên phát hiện Nguyễn Văn Nghị xuất hiện ở bưu điện trước khi xảy ra án mạng. Nghị được xác định là người yêu của một trong hai nạn nhân. Trong đêm xảy ra vụ án, Phùng Phụng Hiếu có thấy Nghị có ghé vào Bưu điện Cầu Voi. Còn Vũ Đình Thường thì khai lúc 19 giờ 39 phút 22 giây có thấy một thanh niên ngồi phía trong bưu điện và nhìn thấy chiếc xe Dream nhưng không thấy biển số xe chứ không biết hung thủ là ai. Nói chung cả 2 nhân chứng chẳng ai thấy Hồ Duy Hải xuất hiện ở Bưu Điện trước lúc xảy ra án mạng cả. Qua lời khai của Phùng Phụng hiếu, cơ quan điều tra đã từng tạm giữ và lấy lời khai của Nghị, nhưng sau đó toàn bộ thông tin về Nghị đã bị rút khỏi hồ sơ vụ án.

Khi những lời khai của Nghị bị rút khỏi hồ sơ vụ án, thì cơ quan điều tra cũng gạt lời khai của Phùng Phụng Hiếu ra khỏi hồ sơ luôn. Chưa hết, khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tòa án Nhân Dân tỉnh Long An cũng không mời Đinh Vũ Thường lên để thẩm vấn. Điều này đã được chính Đinh Vũ Thường xác định với luật sư bào chữa Hồ Duy Hải và có viết biên bản xác nhận. Như vậy là qua đây chúng ta thấy có hành động chạy án của cơ quan điều tra lẫn cơ quan xét xử. Họ chạy án cho ai thì chắc mọi người cũng cũng không khó hình dung.

Đấy là về nhân chứng, còn với vật chứng thì cơ quan điều tra đã cố tình ngụy tạo lộ liễu không kém. Cụ thể trong kết luận của hồ sơ điều tra nó nói rằng, Hồ Duy Hải đã dùng dao cắt cổ, dùng thớt đập vào đầu nạn nhân. Thế nhưng câu hỏa đặt ra là tang vật gốc đâu thì lại không có. Bởi vì cơ quan điều tra đã vội vã hủy vật chứng ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, và thay vào đó họ đã mua dao và thớt ở chợ để dùng để làm chứng cứ giả buộc tội Hồ Duy Hải. Còn trơ tráo hơn nữa, công an điều tra còn tự tự vẽ con dao con dao gây án rồi ép Hồ Hải xác nhận.

Chưa hết, kết luận giám định chỉ ra những dấu vân tay trên cửa kính và trên vòi nước ở lavabo đều không trùng với 10 ngón tay của Hồ Duy Hải. Mà như ta biết, khi làm Chứng Minh Nhân Dân, chính quyền đã lưu 10 dấu vân tay của mọi công dân. Với kho lưu trữ vân tay đó, chính quyền hoàn toàn có thể truy ra dấu vân tay của bất kỳ ai ai nếu họ cần, thế nhưng với 10 dấu vân tay tại hiện trường vụ án mạng này cơ quan điều tra lại ém. Họ ém để làm gì thì có trời mà biết được. Và đáng ngờ hơn nữa là hồ sơ kết quả giám định dấu vân tay đã bị rút khỏi tập hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện KSND tỉnh Long An cho rằng “dấu vân tay không giám định được” như là lời nói đỡ cho sự tắc trách của cơ quan điều tra.

Vậy câu hỏi đặt ra là, ai có thể điều khiển được cơ quan điều tra ngụy tạo bằng chứng? Ai đã thọc tay vào kho lưu trữ của cơ quan điều tra rút lấy hồ sơ về dấu vân tay đem giấu? Và ai đã điều khiển được Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Long An từ chối yêu cầu truy ra dấu vân tay thật của người gây án?

Điều mà ai cũng thấy đó là tất cả những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đều bị rút hồ sơ. Vậy câu hỏi đặt ra là, Nguyễn Văn Nghị là ai? Theo Wikipedia thì mô tả Nguyễn Văn Nghị, sinh năm 1979, cư trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nghiện ma túy là người theo đuổi Nguyễn Thị Ánh Hồng (một trong hai nạn nhân bị sát hai). Đêm xảy ra án mạng, Nghị có mặt tại bưu điện. Tuy nhiên, từ 20 giờ 10 phút đêm đó, Nghị uống cà phê với bạn tại một quán cà phê khu vực Cầu Voi và được chủ quán cà phê xác nhận thời gian. Tuy nhiên, bao năm qua trên mạng còn xuất hiện những tin tức không chính thống cho rằng. Nguyễn Văn Nghị là cháu của bà Trương Mỹ Hoa – cựu phó chủ tịch nước. Mà ai cũng biết Trương Mỹ Hoa là chị vợ của Lê Thanh Hải – cựu bí thư Sài Gòn. Được biết, gia tộc Lê-Trương là một gia tộc rất mạnh ở khu vực miền nam không thua gì gia tộc Nguyễn Tấn Dũng.

Thực hư gia thế của Nguyễn Văn Nghị thế nào thì chưa rõ vì chẳng có cơ quan ngôn luận chính thống nào xác nhận, và gia tộc Lê-Trương cũng im lặng. Thế nhưng có một điều ai cũng thấy là đang có một cánh tay quyền lực cực mạnh can thiệp vào vụ án để chạy tội cho đối tượng Nguyễn Văn Nghị. Nếu Nguyễn Văn Nghị là thường dân, liệu anh ta có được quyền lực che chở đến thế không? Chắc chắn là không.

Hôm nay là ngày xử đầu tiên của phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải. Bằng chứng vô tội của Hồ Duy Hải thì xem như đã đủ. Thế nhưng số phận của Hồ Duy Hải như thế nào thì không thể biết trước được, vì sao? Vì bản chất của tòa án Cộng Sản là không bao giờ vì công lý mà nó chỉ vì quyền lực, thế nên dù chứng cứ vô can đã rõ mười mươi thì cũng không ai dám chắc rằng Hồ Duy hải thoát tội. Chỉ mong rằng bàn tay đen của thứ quyền lực bẩn đang điều khiển hệ thống tư pháp ép chết Hồ Duy Hải trong suốt 12 năm qua nó không thể vươn tới hà Nội. Chỉ mong thế, chứ nếu nó thọc tới thì xem như Hồ Duy Hải hết cứu.

ĐỖ NGÀ

Image may contain: 2 people, people standing

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

RFI 01/05/2020

Ảnh: Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại phòng Bầu Dục, Nhà Trắng, Washington, ngày 30/04/2020. Ảnh: Carlos Barria/Reuters

Trả lời một phóng viên ngày 30/04/2020, tổng thống Mỹ khẳng định có bằng chứng cho thấy siêu vi corona chủng mới xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc tại Vũ Hán.

Chủ nhân Nhà Trắng đồng thời cho biết ý định áp dụng lại các biện pháp thuế quan để trừng phạt Bắc Kinh.

Thông tín viên đài RFI Eric de Salve từ San Francisco tường trình :

Khi một nhà báo hỏi ông có những bằng chứng cho phép tin tưởng một cách chắc chắn rằng virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm tại Vũ Hán hay không, Donald Trump không do dự trả lời : “Vâng, tôi có” và nói luôn là ông không thể đi sâu hơn vào chi tiết.

Tham khảo: RFI

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

http://www.rfi.fr/…/20200501-tổng-thống-trump-virus-corona-…

Image may contain: 1 person, eyeglasses, suit and closeup

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) – “30 tháng 4” thật sự là chỉ một ngày như bao nhiêu ngày khác trên tờ lịch. Nhưng từ sau 30 tháng 4 năm 1975, nó trở thành một ngày trọng đại vì nó ghi lại một biến cố lớn, đau thương, bám chặt ký ức của người Việt Nam. Nó đánh thức lòng trắc ẩn và lương tâm thế giới văn minh do những hệ quả kéo dài của nó.

Đối với người Việt Nam, đó là “Ngày Quốc hận”, “Ngày Mất nước”... Nhưng với người cộng sản Hà Nội, cũng là ngày đó, nó trở thành ngày “Giải phóng Miền Nam”, ngày “Đất nước thống nhất”… Ngày lễ hội vui mừng!

Kẻ mất buồn, người được vui! Thông thường thôi. Nói theo Võ văn Kiệt thì ngày 30 tháng 4 “Có một triệu người vui, có một triệu người buồn”. Phải chăng Ông Kiệt đã nghĩ tới những người không phải bên thắng cuộc? Nhưng thật lòng thì ông buồn hay vui? Cái nào nhiều, cái nào ít? Nhưng giờ đây chắc chắn cả nước buồn! Cả người cộng sản phản tỉnh và đông đảo thanh niên. Trừ những người cộng sản làm giàu nhờ cầm quyền. Những người này nói cách mạng, làm chính quyền cách mạng nhưng không ai có thành tích cách mạng. Du đãng mà mặt không dính thẹo thì không thể nói là du đãng hay anh chị được. Chỉ là những tên điếm đàng mà thôi. Đó là những Nguyễn Phú Trọng, những Tô Lâm, những Lê Thanh Hải… Nguyễn Tấn Dũng ít ra còn có thành tích lúc 16 tuổi làm y tá, xức thuốc đỏ cho du kích VC trong mật khu Rạch giá, Cà Mau.

Giữa hai lớp người buồn vui đó, có một ít người không thấy buồn, trái lại thấy vui vì tự “chia vui” với “Bên thắng cuộc”. Tất cả họ đều thuộc lớp khá giả trong xã hội Miền Nam nhưng lại chạy theo cộng sản, làm tay sai cộng sản chống lại chính quyền miền Nam.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”. Bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu. Trong bài phát biểu trên đài, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…”

Những ngày sau đó, Trịnh Công Sơn cũng không có chỗ đứng. Nghe bạn khuyên nên về Huế sống yên lành hơn vì quê hương và bạn bè cũ. Nhưng ở Huế, ông thấy có nhiều khó khăn. Bạn lại khuyên ông nên trở vào Sài Gòn tốt hơn. Và ông ở Sài Gòn luôn từ đó. May mà ông không bị đi cải tạo tập trung như nhiều văn nghệ sĩ khác.

Sau gần nửa thế kỷ “thắng cuộc”, đất nước về một mối xã hội chủ nghĩa, những điều họ tranh đấu đòi hỏi ngày trước như dân chủ, tự do, xã hội công bằng, người không bóc lột người, no cơm ấm áo, không có bóng dáng ngoại bang… thì nay, những điều đó chẳng những chưa có, trái lại còn trầm trọng hơn đang trở thành thực tế xã hội Việt Nam nhưng không thấy những người đó đứng lên, biểu tình, tuyệt thực, đói hỏi như trước kia. Đó là những người của “Thành phần Thứ ba” hay của “Lực lượng Thứ ba”.

Thành phần thứ ba

Tổ chức “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba” ra đời trong hoàn cảnh nào, không rõ ràng lắm. Theo ký giả Pomonti của nhựt báo Le Monde, “Thành phần thứ ba” xuất hiện năm 1960 sau khi Nhóm Caravelle đưa ra bản Tuyên ngôn với 18 nhân sĩ ký tên đòi hỏi ông Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ đường lối cai trị, chấm dứt tình trạng độc tài gia đình trị. Sau đó thì xuất hiện phong trào quần chúng nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, kỳ thị tôn giáo.

Nhưng theo ký giả Decornoy, cũng của Le Monde, thì vào cuối năm 1969, có một phong trào quần chúng xuất hiện ở Sài Gòn chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, đi theo chủ trương “Hòa giải dân tộc” của tướng Dương Văn Minh.

“Thành phần thứ ba” gồm một số Dân biểu như Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quí Chung, Dương văn Ba, Ngô Công Đức; Sinh viên có Huỳnh Tấn Mẩm, Nguyễn Hũu Thái…; trí thức có Bà Ngô Bá Thành…; tu sĩ có Ni sư Huỳnh Liên, Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ…

Năm 1971, Sài Gòn tổ chức bầu cử Quốc hội. Nguyễn Hũu Thái được Mặt trận Giải phóng Miền Nam bí mật móc nối đề nghị ra tranh cử với lập trường “hòa bình đứng giữa” chuẩn bị cho Thành phần thứ ba khi có Chính phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris tuy lúc đó Hội nghị Paris chưa kết thúc.

Nhưng “Thành phần thứ ba” trở thành một danh xưng chính thức từ khi Hà Nội đưa ra tại hòa đàm Paris đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp gồm 3 thành phần. Xin nhắc lại thành phần thứ ba của Hà Nội đề cập không có phong trào sinh viên, dân biểu, trí thức, tu sĩ, như trên đây.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước sau vẫn cương quyết phủ nhận thành phần thứ ba. Năm 1972, Hà Nội chính thức lên tiếng bênh vực phong trào này.

Chẳng những phủ nhận “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba”, chính phủ Sài Gòn cũng từ chối đề nghị một Chính phủ Liên hiệp 3 Thành phần như phía Việt cộng đòi hỏi. Tuy nhiên, khi “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ký kết tháng giêng 1973 ở Paris thì có điều 12 qui định thành lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau”.

Hà Nội coi trọng thành phần thứ ba như là một yếu tố giúp họ thắng lợi bằng chính trị: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này…” (Phạm văn Đồng trả lời nhà báo pháp Jean Lacouture, Etudes vietnamiennes, Paris).

Để làm áp lực ở hòa đàm Paris, Hà Nội cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” có đề cập thành lập một Chính phủ Liên hiệp Lâm thời gồm 3 thành phần: “những người của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính quyền Sài Gòn, và những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc.”

Tiếp theo, vào cuối 1973, rầm rộ xuất hiện ở Sài Gòn nhiều phong trào đều do Hà Nội thổi lên như:

– Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).

– Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.

– Mặt trận Nhân dân Cứu đói (Tổ chức lớn nhất ở Miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)

– Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải (Dương Văn Minh sáng lập).

– Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).

– Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris (Ngô Bá Thành sáng lập).

– Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).

– Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.

– Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).

– Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.

Nhưng hiện tượng quần chúng này chỉ là những đòi hỏi giai đoạn của người cộng sản để chờ đợi đạt trọn vẹn mục tiêu cuối cùng. Đó là ngày 30 tháng 4/1975.

Sau 30-4-75 có hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ?

Cuộc chiến Nam-Bắc Việt Nam kết thúc ngày 30-04-1975 thì qua tháng 4/1976 hai miền Việt Nam được thống nhất thành một nước có tên gọi là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Không đợi thi hành Hiệp định Paris.

Nhân đây xin nhắc lại cái chết của một cựu Nam Bộ kháng chiến Khu 7 liên hệ tới quyết định thống nhất 2 Miền sớm hơn thời hạn. Trong Hội nghị Hiệp thương chính trị bàn về thống nhất, tướng Huỳnh Văn Nghệ, tức Tám Nghệ, cựu Bộ trưởng Lâm nghiệp, phản đối việc quyết định thống nhất sớm. Giận dữ, ông rút khẩu súng cá nhân dằn lên bàn, gằn giọng – “Ai quyết định thống nhất ngay, hãy bước qua xác chết của tôi”. Qua đầu năm 1977, Huỳnh Văn Nghệ một hôm bị đau bụng, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đảng vội cho chở ông vào Chợ Rẩy để chữa trị. Bác sĩ ở Hà Nội phải vào để săn sóc ông theo tiêu chuẩn cán bộ đảng viên. Vài hôm sau, ông thấy tình trạng sức khỏe của mình không có gì nặng nên muốn về nhưng bác sĩ không cho. Đưa ông đi chụp hình, liền sau đó, đưa ông qua phòng mổ và mổ. Bình thường gặp bác sĩ thứ thiệt của Hà Nội mổ thì cũng khó sống. Nay ông lại được bác sĩ Hà Nội đặc biệt quan tâm mổ theo ý kiến của Ban Bảo vệ sức khoẻ Trung ương đảng thì dĩ nhiên ông không thể không ra về bằng ngỏ sau của nhà thương. Chuyện này, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa biết nên bà có lên tiếng trong nôi bộ và bà tỏ thái độ bằng cách trả thẻ đảng. Phạm văn Đồng can thiệp không được, đành chấp nhận và yêu cầu bà giữ tiếng trong 10 năm. Đúng 10 năm, bà công bố việc trả thẻ đảng của bà trên nhật báo Le Monde của Pháp. Về cái chết của Huỳnh văn Nghệ, bà chỉ nói riêng trong vòng thân mật mà thôi.

Thống nhất xong, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ vào ngày 20 tháng 9/1977.

Nhưng ít người biết rằng trước khi thống nhất đã từng có hai nước Việt Nam nộp đơn cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Một là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô Hà Nội, với cờ đỏ sao vàng. Và nước Việt Nam kia là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thủ đô Sài Gòn, có cờ nửa đỏ trên, nửa xanh dưới, ngôi sao vàng giữa.

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh này xuất hiện vào cuối năm 1960, khi một số trí thức miền Nam tuyên bố thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” trong vùng rừng núi Lộc Ninh, để đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn. Sau thời gian dài hoạt động khủng bố nhờ đó tư cách Mặt trận được thừa nhận. Và cũng từ đó Mặt trận này thành lập một chính phủ có tên là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”.

Trong thời gian đó, Hà Nội cứ nói lấy được cuộc chiến ở miền Nam là cuộc chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với lực lượng võ trang của Mặt trận. Tức do nhân dân Miền nam nổi lên đòi độc lập và thống nhất chớ không do miền Bắc can thiệp. Khi chính phủ Sài Gòn đưa bằng chứng cán binh của Hà Nội xâm nhập vào Nam thì Nguyễn Thị Bình trả lời “Họ là người Việt Nam thì dĩ nhiên họ có quyền đi trong vùng lãnh thổ của họ”.

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì cờ của Mặt trận Giải phóng được kéo lên nóc dinh Độc lập ở Sài Gòn. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thừa kế Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, xác nhận lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mũi Cà mau, với cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giữa tháng 7/1975, hai nước Việt Nam cùng đề nghị nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đại diện cho Hà Nội là ông Nguyễn Văn Lưu, ông Đinh Bá Thi đại diện cho Sài Gòn.

Ngày 11/8/1975, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng ý cho hai nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết nên việc gia nhập LHQ của 2 nước của cùng Hà Nội không thành.

Giải thích lý do Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết, Gs Ngô Vĩnh Long cho rằng vì họ không muốn có 2 nước Việt Nam “độc lập” cùng Hội viên LHQ mà để 2 Việt Nam thống nhất theo Hà Nội, tức trở thành cộng sản. Hoa Kỳ sẽ có cớ không bang giao, mà còn dùng Việt Nam như một nơi thực hiện một cuộc chiến tranh ủy nhiệm chống Liên Xô (Joaquin Nguyễn Hòa, BBC. 20/4/19)

Còn theo Gs Đoàn Viết Hoạt, hiện sống tại Mỹ, thì quyết định của Mỹ không cho hai miền Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc có thể liên quan đến những thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao sau tuyên bố Thượng Hải. Lúc đó, Mỹ toan tính liên minh với Trung Quốc để chống Liên Xô, giao vùng Đông Nam Á cho Trung Quốc, và Bắc Kinh không muốn có một miền Nam Việt Nam độc lập, không theo cộng sản. Theo giải thích này, Gs Hoạt tin rằng Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam không phải của cộng sản Hà Nội nặn ra!?

Vẫn theo Gs Ngô Vĩnh Long thì cho đến 30/4/1975, quan điểm về sự thống nhất Việt Nam của Hà Nội cũng như Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi chiến tranh kết thúc, sẽ là một quá trình nhiều bước kéo dài từ 12 đến 14 năm. Vì việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai nước Việt Nam thất bại đã thúc giục những thành phần cứng rắn tại Hà Nội kết thúc dự án thống nhất đất nước kéo dài đó.

Nhưng sau khi việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai miền Việt Nam bị thất bại, Đảng Lao động Việt Nam, tức đảng Cộng sản Hà Nội hiện nay, họp Hội nghị trung ương lần thứ 24, quyết định gấp rút thống nhất Việt Nam “Đứng trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, tháng 9/1975 tại Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước” (Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “Hoàn thành thống nhất tổ quốc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”).

Thế là Mặt trận và cả Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam cùng dẹp tiệm vì đã “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử” (Nguyễn thị Bình tuyên bố).

Tuy tài liệu không thấy nhắc tới đã có 2 nước Việt Nam chính thức xin gia nhập LHQ nhưng Gs Đoàn Viết Hoạt nhớ lại, lúc còn ở Sài Gòn, ông có nghe một bản tin của đài BBC về sự kiện hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc rồi bị thất bại vào tháng 8/1975. Tức chuyện đã có 2 Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ là thật.

Chứng kiến sự quản lý nhà nước tại Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 ông Hoạt kể lại ông thấy tất cả những quyết định của nhà cầm quyền đều mang danh nghĩa Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kèm theo tiêu đề: “Độc lập, tự do, Trung lập”.

Với bản tin thế giới nghe qua đài BBC, cộng với sự kiện mình không bị bắt, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng những người cộng sản lúc đó đang thật sự tính tới dự án cho miền Nam một qui chế riêng, chứ không gấp rút thống nhất Việt Nam dưới màu áo cộng sản duy nhất (theo trích dẫn trên).

Đâu là sự thật?

Sáng ngày 1 tháng 5/1975, tại Sài Gòn có cuộc diễn binh lớn do chính quyền mới tổ chức để ăn mừng “Đại thắng Mùa xuân”. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngồi trên khán đài danh dự coi diễn binh. Chờ hoài không thấy “đoàn quân giải phóng” đi qua, bèn nghiêng qua hỏi một sĩ quan Quân đội nhân dân. Vị sĩ quan này trả lời rất vui vẻ – “Ủa anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhất tối hôm qua rồi kia mà!” (Trương Nhu Tảng kể lại lúc tỵ nạn ở Paris).

Qua ngày 2 tháng 5/1975, chính quyền mới ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo… được thành lập dưới chế độ VNCH. Còn các tổ chức mới thành lập để chống “Mỹ Ngụy cứu nước” đều bị hoặc tự giải tán, hoặc sáp nhập vào các tổ chức chính thức của Hà Nội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, cả Chính phủ cách mạng Lâm thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, các cơ sở vật chất ở hải ngoại… đều không còn vết tích!

Điều đáng ngạc nhiên là việc giải tán không có một lời phản đối hay than phiền nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã từng can trường đương đầu với chế độ VNCH, không hề sợ sệt dùi cui, hơi cay, tù đày. Hay nay họ cũng hiểu nhiệm vụ “cách mạng” chạy theo cộng sản của họ đã hoàn tất!

Thái độ của trí thức

Ai cũng biết triết gia Jean-Paul Sartre là người không có chính kiến chắc chắn. Đúng hơn ông là người có tinh thần tiến bộ mà hơi “ba phải”, nặng cá nhân chủ nghĩa, khuynh hướng vô chính phủ, chống chủ nghĩa quân phiệt, và hơn hết là chống tư sản nên ông dễ ngã theo cộng sản. Từ những năm 1950, Sartre ủng hộ Liên Xô mạnh mẽ. Cho đến nỗi ông đã không ngần ngại lớn tiếng chửi thẳng ai không theo cộng sản là thứ con chó! Đến khi Liên Xô đưa xe tăng qua đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary ông mới từ bỏ cộng sản. Cộng sản Pháp lên án ông đã đầu hàng giai cấp. Trong lúc đó, Raymond Aron, bạn của Sartre, lại tôn thờ tinh thần dân chủ tự do. Vì vậy hai người ghét nhau trong thời chiến tranh lạnh. Họ không hề nói chuyện với nhau, không gặp nhau suốt từ những năm 47.

Thế mà tháng 6/1979, trước thảm họa cộng sản ở Việt Nam và Miên, cả 2 cùng tới Điện Elysée yêu cầu Tổng thống Giscard d’Estaing hãy mở rộng cửa đón nhận người Miên và Việt Nam, hàng chục ngàn, hằng trăm ngàn đang chạy trốn cộng sản.

Sartre trả lời báo chí “Riêng cá nhân tôi, tôi ủng hộ những ngưởi tuy không phải là bạn của tôi trong thời gian Việt Nam tranh đấu cho tự do (Việt Minh). Nhưng điều đó không có gì quan trọng, bởi vì điều quan trọng ở đây, chính họ là những con người. Những người đang bị nguy hiểm”.

Lời tuyên bố trên đây cho thấy Sartre không ngụ ý vì đã phủ nhận ý thức hệ cộng sản mà thật sự chỉ là lương tâm con người trí thức thúc đẩy ông hành động.

Qua cách ứng sử này, Aron và Sartre bắt tay nhau. Hai người nắm tay nhau cùng bước ra khỏi Elysée.

Các đảng phái khác, cả Xã hội, RPR, đều hưởng ứng cùng vận động giúp đỡ người tỵ nạn cộng sản. Hồng Y Etchegaray kêu gọi mỗi gia đình giáo dân hãy đón nhận 1 gia đình người tỵ nạn.

Hơn tháng sau, tháng 7/79, Pháp đón nhận và định cư 128531 người tỵ nạn cộng sản Đông Dương.

30.04.2020

 Nguyễn thị Cỏ May

 danlambaovn.blogspot.com

 Covid-19 đặt nhân loại ở ngã ba đường

 Covid-19 đặt nhân loại ở ngã ba đường

Ngay trước khi qua đời Nikita Moiseev (1917-2000, Nga) đã kịp để lại cho hậu thế một trước tác kinh điển: Tồn tại hay không tồn tại…Loài người?( NXB Tri thức 2019) , trong đó ông chỉ ra rằng loài người đang đứng trước một tai họa vô cùng nguy hiểm. Đó là, Hệ sinh thái của Trái đất-ngôi nhà chung của chúng ta, có thể bị hủy hoại hoàn toàn trong một tương lai rất gần nếu nhân loại không hợp lực để cứu vãn tình trạng đang ngày càng bi thảm này. Theo ông, từ nửa cuối TK19 nền khoa học&công nghệ đã hoàn hảo và hùng mạnh đến mức đủ sức để khai thác triệt để Tự nhiên như một “kho trời” vô tận, nơi tích lũy tất cả những gì cần thiết cho sự thỏa mãn những nhu cầu vô độ của con người, đồng thời cũng làm tăng tốc cuộc đại khủng hoảng Môi trường sinh thái- Sinh quyển của Trái đất đang chín muồi. Moiseev cho rằng : “Loài người như một loài sinh vật mang tính hữu tử, và theo nghĩa ấy thì kết cục của lịch sử loài người một ngày nào đó sẽ đến. Và không phải trong một tương lai hoàn toàn không xác định, mà có thể ngay vào giữa TK21”.

Rồi mới gần đây thôi thế giới lại xôn xao bàn luận về các tác phẩm trứ danh của Nhà nghiên cứu lịch sử trẻ tuổi người Israel, sinh năm 1976, Yuval Noah Harari : Sapiens-lược sử về loài người, Homo Deus-lược sử tương lai, và 21 bài học cho TK21 (NXB Thế giới, 2018-2019). Theo ông cuộc CMKH&KT từ TK17 và những thành tựu huy hoàng của nó cho đến cuối TK20 tuy đã làm cho con người vượt qua được nỗi sợ muôn thuở các nguy cơ nạn đói, bệnh tật và chiến tranh, nhưng lại tự chuốc vạ cho mình bởi những khát vọng trường sinh bất tử, hạnh phúc viên mãn và sức mạnh thần thánh. Nhưng chính khát vọng ấy sẽ mau chóng đưa loài người đến diệt vong bằng cách biến loài HomoSapiens thành một loài “nửa người nửa ngượm” với bộ não gắn “chip” trí khôn nhân tạo và các bộ phận cơ thể sống được chế tạo từ các tế bào gốc và vật liệu nano dẻo. Thế là chấm hết mọi ý nghĩa thiêng liêng mà Tạo hóa dành cho Con người. Lời cảnh báo nghe có vẻ rất “kỹ trị” (technocrat) ấy xem ra không phải là viển vông.

Với các cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng họ đều có chung một thông điệp: TK20 là Thế kỷ cảnh báo, còn TK21, là Thế kỷ lựa chọn giữa ngã ba đường: Sống thế nào hay là chết thế nào?. Moissev đã không còn cơ hội để nhìn thấy TK lựa chọn sẽ xẩy vào lúc nào nữa. Còn Harari thì khi viết về dịch bệnh trong cuốn sách đầu tiên của mình chắc cũng không thể ngờ rằng đại dịch Covid -19 đang hoành hành trên khắp hành tinh này đã sớm đặt nhân loại giữa ngã ba đường, đứng trước một bước ngoặt lịch sử, đúng vào lúc cuộc khủng hoảng toàn diện toàn cầu đã hé lộ. Loài người thông minh không còn thời gian lưỡng lự hàng thế kỷ nữa, mà phải lựa chọn ngay từ bây giờ, từ những thập kỷ đầu tiên của Thiên niên ký thứ ba này, để sống sót và viết tiếp lịch sử của mình.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của tờ L’Opinion (Pháp) ngày 1 tháng 4 vừa qua Harari cho rằng: “ Chúng ta đã bước vào một cơn lốc lịch sử do cuộc khủng hoảng sức khỏe này gây ra. Những quy luật bình thường của lịch sử đã hoàn toàn thay đổi. Và chỉ trong vài tuần, những gì không thể trong quá khứ giờ đã trở nên bình thường. Sự thay đổi này có nghĩa là, một mặt chúng ta nên cực kỳ thận trọng, mặt khác chúng ta cũng nên cho phép mình có những ước mơ”. Thật là một phán xét chí lý! Phải cực kỳ thận trọng để đánh giá toàn diện tác động khó lường của cuộc khủng hoảng trầm trọng này, đồng thời cũng phải tổng kiểm duyệt nhằm phát hiện những bất cập cần phải hủy bỏ (có thể nói là rất, rất nhiều!) trong các văn bản pháp luật ở tầm quốc tế và quốc gia; nhưng mặt khác lại phải có đủ hoài bão sáng tạo để tận dụng những cơ hội hiếm có mà nó mang lại.

Như chúng ta đã thấy, chỉ trong vài tuần Covid-19 đã rung chuyển thế giới, làm lung lay nhiều quan niệm truyền thống về cuộc sống của con người và các định chế xã hội (từ cấp độ toàn cầu đến quốc gia).

Từ chỗ là một thành phần cơ hữu của Tự nhiên, mấy thế kỷ vừa qua loài Homo Sapiens đã tự tách mình ra khỏi và đứng trên Tự nhiên, cố gắng đóng vai trò của Chúa thiết kế nên sự sống. Ngay từ năm 1818 Mary Shelley (Anh,1797-1851) đã cảnh báo sự trừng phạt nặng nề sẽ đến đối với cái cố gắng bất kính Tạo hóa ấy thông qua con quái vật Frankenstein- một thực thể động vật nhân tạo do một nhà khoa học chế tác, rồi vô tình làm sổng nó khỏi tầm kiểm soát và gây ra những tai hoạ khủng khiếp. Con virus Sars-Cov-2 là hiện thân thực thể của con Frankenstein do nhà văn tưởng tượng. Chỉ có điều bà Mary Shelley đã cho Frankenstein được sổng chuồng một cách vô tình, còn con Sars-Cov-2 thì hình như không phải vậy: tuy chưa có bằng chứng chắc chắn, nhưng nhiều ý kiến cho rằng trước sau sự thật sẽ chỉ mặt vạch tên tác giả của con virus nguy hiểm này và bọn tội phạm diệt chủng nào đã cố tình thả nó ra?

Dù sao ta cũng phải cám ơn sự xuất hiện của con virus chủng Corona tinh quái đã gây ra đại dich Covid-19 vào đúng lúc này, vào lúc mà lời cảnh báo của Moiseev về ngày tận thế của Sinh quyển rất có thể đang cận kề, trở thành hiện thực. Và đúng như Gael Giraud (Pháp, Diendan.org 4-2020 ) đã sớm nhận ra: “ Đại dịch này là cơ hội để chúng ta thay đổi cuộc sống và các định chế nhằm tới hạnh phúc trong sự tiết độ và và sự tôn trọng tính hữu hạn [của trí lực con người]”.

Có nhiều phán xét và dự báo đã được đưa ra, ít nhiều đều có cơ sở, nhưng cũng có những kết luận vội vàng và có cả những ngộ nhận.

Về phương diện dịch bệnh. Chưa ai biết chắc bao giờ Covid-19 sẽ qua đi, nhưng với quyết tâm điều chỉnh chính sách phòng chống dịch bệnh đang đi đúng hướng của các chính phủ và nỗ lực sáng tạo phi thường của cộng đồng khoa học thế giới, ta có cơ sở để hy vọng nó sẽ sớm được dập tắt. Tuy nhiên nếu con virus này là nhân tạo ngoài vòng kiềm chế, không theo quy luật virus tự nhiên thì vấn đề phức tạp hơn nhiều. Nó tiếp tục tạo ra các đỉnh mới? Hay một đại dịch khác đang chờ sẵn trong lai rất gần, và cứ thế tiếp tục… cho đến cho đến thời hạn chót mà Moiseev đã cảnh báo. Riêng tôi vẫn hy vọng rằng đại dịch này mới là một cú tát của Tạo hóa chỉ vừa đủ làm cho chàng Homo Sapiens đang say lảo đảo tỉnh ngộ.

Về phương diện kinh tế. Nhìn vào các gói trợ cấp khổng lồ mà tuần qua các chính phủ đồng loạt khẩn cấp tung ra để cứu vãn nền kinh tế và sự an sinh xã hội của nước mình, ta có thể thấy được mức độ tàn phá của Covid-19 gây ra. Nếu trong vài ngày tới New York “vỡ trận” thì một cuộc Đại suy thoái mới này có thể còn trầm trọng hơn cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới xẩy ra từ năm 1929 đến đầu những năm 40 thế kỷ trước, cũng xuất phát từ thành phố này khi thị trường chứng khoán phố Wall sụp đổ. Thế nhưng khẳng định rằng : Chủ nghĩa tự do kinh tế, vốn là bùa thiêng cứu các nước công nghiệp vào thập kỷ 70-80 thế kỷ trước, đã hoàn toàn thất bại; và rằng: Kỷ nguyên cực thịnh của Toàn cầu hóa đã qua [John Gray, New Statement 4-2020 v.v… ], thì có lẽ là hơi vội. Sau đại dịch này Chủ nghĩa tự do kinh tế sẽ tự điều chỉnh để thích nghi theo hướng: Từ bỏ mục tiêu Tăng trưởng không ngừng bằng mọi giá bất chấp sự hủy hoại môi trường sinh thái – nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch này; điều chỉnh mối tương liên giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu để nó “lỏng lẻo’ hơn, linh hoạt hơn. Toàn cầu hóa cũng vậy, nó vẫn không thể đảo ngược được. Chỉ có điều, sau đây nó sẽ không chỉ là sân chơi chủ yếu của nhóm nước “một tỷ vàng” và các Công ty xuyên quốc gia, luật chơi sẽ được viết lại để sự hợp tác bình đẳng hơn như đang xẩy ra trong đại dịch này, để cùng sống sót sau bất kỳ tai họa nào trong tương lai.

Về phương diện chính trị. Thông thường thì khi phải xử lý tình trạng khẩn cấp, một thể chế chuyên chính có nhiều lợi thế hơn. Nhưng trong đại dịch này con Covid-19 đã buộc mọi quốc gia, không phân biệt thể chế, phải tiến hành các biện pháp cưỡng bức như nhau. Có người lo rằng xu hướng này sẽ dẫn đến thất bại của nền dân chủ. Không hẳn vậy, đây lại chính là một cơ hội cho các thể chế dân chủ (đặc biệt ở những nước “một tỷ vàng” ) điều chỉnh thể chế. Còn nhớ ngày11 tháng 11 năm 1947 cố Thủ tướng Winston Churchill đã có một tuyên bố nổi tiếng trước Quốc hội Anh : “Dân chủ không phải là hình thức xã hội tối ưu, nhưng hiện nó đang là hợp lý nhất, và vẫn chưa có thể chế nào hay hơn nó.” Điều này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Mới đây Garett Jone đã xuất bản cuốn sách thú vị “Ít đi 10% Dân chủ” (10% less Democracy, Stanford Univversity Press, 2-2020) với ngụ ý rằng ở các nước G-7 nên bớt đi 10% Dân chủ sẽ tốt hơn.

Theo ông thì Singapore Dân chủ đã mất đi 50% rồi, [vậy thì con số ấy của Trung Quốc phải là 90%!?] . Covid-19 là cơ hội để nền Dân chủ thúc đẩy cải cách theo kiểu đó, chứ nó không thể thất bại. Sau đại dịch người dân có thể chấp nhận sự kiểm soát của chính quyền bằng căn cước điện tử nhằm phục vụ an sinh, như để phòng chống dịch bệnh…, chứ không dễ dàng từ bỏ khát vọng được tự do biểu đạt ý kiến riêng trên mạng xã hội. Sau đại dịch bất ngờ này nhân dân toàn thế giới càng nhận thức rõ thế nào là một chính quyền thật sự vì Dân, tôn trọng sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Người dân chỉ cần một chính phủ hành động quyết liệt và hiệu quả, chứ không cần những khẩu hiệu chính trị suông.

Về các giá trị truyền thống. Covid-19 đã làm chúng ta hốt hoảng đến nỗi nhiều người nghĩ rằng sau đây mọi giá trị sẽ đảo lộn. Điều này chỉ là biểu hiện của tình trạng mà Thanh Viêt ( Nhà văn mỹ gốc Việt, Giải Pulitzer 2016 ) đã nhìn thấu: “Kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là con virus, mà là phản ứng của chúng ta với virus – một phản ứng đã bị suy thoái và biến dạng bởi sự bất bình đẳng về cấu trúc của xã hội”. Cái phải thay đổi không phải là các giá trị truyền thống cốt lõi như lòng vị tha và tình yêu thương đồng loại, đúng là: “Lòng tốt với người khác là điều quý giá đến mức phải được chia sẻ”. Hàng ngũ Y- Bác sĩ và các nhân viên y tế toàn thế giới lần này đúng là các vị Bồ tát cứu nhân độ thế. Các nhà khoa học khắp nơi chưa bao giờ có dịp hợp tác vô tư đúng với tinh thần học thuật vì mục đích nhân đạo, như đang cùng nhau chung sức chống tác hại của con virus nhỏ bé mà tàn bạo này. Và có lẽ cũng từ khi sinh ra đến giờ loài Homo Sapiens mới có dịp định thần để suy nghĩ và trải nghiệm lại giá trị của gia đình như một tế bào của xã hội.

Về lối thoát. Đã 20 năm kể từ khi lời kêu gọi thống thiết của Nikita Moiseev về việc ngăn chặn thảm họa Môi trường sinh thái – Sinh quyển của Trái đất, vẫn bị các Tổ chức quốc tế có liên quan, các chính phủ và cộng đồng xã hội ngó lơ. Đề xuất của ông về việc giới tinh hoa toàn cầu phải mau chóng hợp sức tạo ra Trí quyển – Tập hợp Trí tuệ của nhân loại để cấp cứu Sinh quyển trước khi nghĩ đến những điều to tát hơn, hình như cũng sắp rơi vào quên lãng.

May thay, Covid-19 xuất hiện như một sự sắp xếp của Tạo hóa, nhắc nhở loài người về một ngày “tận thế” không xa…Đi về phía ấy hay rẽ sang ngã khác phụ thuộc vào mỗi chúng ta.

4/2020

Chu Hảo

From: TU-PHUNG