ĐẰNG SAU MỘT BẢN ÁN TỬ

Bài này ngắn, nhưng đầy đủ ý nghĩa. Nên đọc.

Ban Biên Tập Kẻ đi tìm

Lâm Thu Hiền

ĐẰNG SAU MỘT BẢN ÁN TỬ
(Bùi Chí Vinh)

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự an toàn của một sát-thủ-thiếu-gia
Đằng sau sự an toàn của một sát thủ thiếu gia là sự bất khả xâm phạm của một đại-gia-chính-trị
Đằng sau sự bất khả xâm phạm của đại gia chính trị là sự điều hành của tập đoàn ma quỷ

Không chốn nương thân cho những sinh vật gọi là người

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là cái chết được nhân đôi
Nhân đôi cho suối lệ bà mẹ cạn khô 12 năm và nhân đôi cho cô gái tuổi 30 còn thiếu nữ
Đằng sau một gia đình nước mất nhà tan là cả một quê hương trong vòng vây quân dữ
Mỗi tiếng ho tiếng sủa từ Bắc Kinh là 1000 năm nô lệ phải giật mình

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự mục nát của triều đình
Đằng sau sự mục nát của triều đình là sự tái lập vòng quay lịch sử
Bọn phản quốc, bọn hôn quân vô đạo phải chết đi thì Đinh, Lê, Lý, Trần mới thấy được nhân dân làm chủ
Mới thấy được hào khí đại đế Quang Trung trên đất Thăng Long thành

Đằng sau bản án của bóng đêm, đất sẽ nứt chồi xanh..

8-5-2020

—-
Tôi ám ảnh với một comment rằng; nếu biết/cảm nhận con mình là kẻ có tội không người mẹ nào bán cả gia sản, ròng rã 12 năm trời đi kêu oan cho con…

Như vụ việc mới xảy ra ở HN; mẹ và bố dượng hành hạ cháu bé 3t đến chết đó. Bà ngoại cháu bé khóc bên bàn thờ cháu, nói; tội của nó (con gái bà) phải tử hình, tôi chỉ xin khi tử hình nó, cho tôi chứng kiến.

Image may contain: text

VNTB – Hoan hô sự sáng suốt của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao   

VNTB – Hoan hô sự sáng suốt của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao   

 09/05/2020

Nguyễn Nam

(VNTB) – Phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải đã khép lại với quyết định bác kháng nghị. Mạng xã hội đã phẫn uất réo tên 17 vị thẩm phán áo đỏ ra nguyền rủa. Với tôi, rõ ràng đây là một nhầm lẫn với đối tượng phải chịu gạch đá, vì chủ tọa phiên giám đốc là ông Nguyễn Hòa Bình, người đang giữ chức vụ tầm cỡ: Bí thư Trung ương Đảng; mà như ai cũng biết, Đảng luôn đúng!

Nói luôn về lý do cần vỗ tay khen ngợi sự sáng suốt của cả 17 vị trong hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ở lần làm án giám đốc này, đó là vì Việt Nam nhiều lần khẳng định không áp dụng cơ chế tam quyền phân lập; bởi vậy, phân tích diễn biến xét xử, và quy kết trách nhiệm không nên qua lăng kính pháp quyền thông thường, mà phải đặt vào bối cảnh chính trị đặc thù của Việt Nam. là “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”.

Từ góc quan sát đó, thiết nghĩ một vị đảng viên được sự tín nhiệm của Đảng để giữ vị trí Bí thư Trung ương Đảng, thì ắt hẳn ông phải là người cực kỳ sáng suốt, mẫn tiệp và luôn hiểu cần phải làm gì để phụng sự tốt nhất cho Đảng của ông.

Trong Bộ Chính trị, vị trí của những người giữ chức Bí thư Trung ương Đảng chỉ ‘lép vế’ mỗi Tổng bí thư. Nói thêm, tiền nhiệm Bí thư Trung ương Đảng trước đó cũng tên Bình – Trương Hòa Bình, người đang giữ chức phó thủ tướng thường trực.

Ông Nguyễn Hòa Bình với vai trò Bí thư Trung ương Đảng, tin rằng ông chẳng dại dột gì khiến dân chúng thêm hố sâu bất mãn với Đảng, chỉ vì đã đưa ra quyết định kẻ thủ ác vẫn là tử tù Hồ Duy Hải.

Đúng là diễn biến phiên giám đốc cho thấy có dấu hiệu vi phạm tố tụng rõ rệt trong thu thập vật chứng, việc cán bộ điều tra đã ngụy tạo hung khí được cho là gây án, cố tình bỏ lọt nghi phạm…, song với bản lĩnh chính trị của một Bí thư Trung ương Đảng; đồng thời từng là phó Thủ trưởng cơ quan điều tra của Bộ Công an, cũng như từng là người kế nhiệm ông Trần Quốc Vượng chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chắc chắn ông Nguyễn Hòa Bình hiểu rất rõ đến từng câu chữ, khi quyết định bác kháng án từ những cựu đồng nghiệp kiểm sát trong huyết án ở Bưu cục Cầu Voi, tỉnh Long An, tháng 1-2008.

Theo tôi, một khi Bí thư Trung ương Đảng ngồi ghế chủ tọa phiên giám đốc thẩm và tuyên ‘có tội’, thì người đó dứt khoát không thể vô tội.

Có thể củng cố niềm tin đó vì vào sáng ngày 3-2-2020 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2020) – tại buổi lễ này, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có diễn văn phát biểu, trong đó có đoạn khẳng định cho một cảnh báo:

Các thế lực thù địch vẫn đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm”. (*)

Từng là một tướng công an, ông Nguyễn Hòa Bình tất luôn ý thức cảnh giác trước “chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm”, nếu như ông có sai sót gì đó khi ‘dũng cảm’ ngồi vào ghế chủ tọa phiên giám đốc thẩm ở vụ án mà giới luật sư từ Bắc đến Nam, đều chung quan điểm là quá nhiều vi phạm tố tụng – Sở dĩ gọi là ‘dũng cảm’ vì ông Nguyễn Hòa Bình chưa là thẩm phán chuyên nghiệp!.

Khi tuyên ‘bác kháng nghị’, có nghĩa ‘y án’, cho thấy chắc hẳn vị Bí thư Trung ương Đảng lường được việc gạch đá công luận, song ông vẫn chẳng nao núng, thì rất có thể đây là một sáng suốt chuyện hậu trường mà chỉ ở tầm trong Bộ Chính trị mới thấu rõ – “Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt”, thi sĩ Tố Hữu từng ví von như thế trong “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, huống hồ là bây giờ vừa ‘sinh nhật’ tuổi 90 xong.

Vụ án Hồ Duy Hải: Công lý XHCN đã có biểu tượng!

 

Chúng ta không biết rõ ai là thủ phạm nhưng 17 vị tối cao thẩm phán biết rõ bằng chứng để buộc tội Hồ Duy Hải có rất nhiều điểm khá mù mờ. Nhiều bằng chứng được thu thập theo cách vi phạm nghiêm trọng…

  Vụ án Hồ Duy Hải: Công lý XHCN đã có biểu tượng!

08/05/2020

Trân Văn

Hội đồng thẩm phán của Tòa án Tối cao tại Việt Nam vừa công bố phán quyết phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản”…

12 năm trước – tháng 1 năm 2008, tại Bưu điện Cầu Voi, tọa lạc ở xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xảy ra án mạng: Hai nữ nhân viên của bưu điện này bị giết. Ba tháng sau, Hồ Duy Hải bị bắt với cáo buộc đã giết và cướp tài sản của hai nạn nhân. Cuối năm 2008, trong phiên xử sơ thẩm vụ án này, Tòa án tỉnh Long An tuyên bố dành cho Hải hình phạt tử hình. Thêm bốn tháng nữa, vào tháng 4 năm 2009, khi phúc thẩm vụ án, Tòa Tối cao bác kháng cáo của Hải, tuyên y án sơ thẩm…

Tuy nhiên hệ thống tư pháp Việt Nam không thể đóng hồ sơ vụ án này vì cả dư luận lẫn công luận đều không đồng tình bởi quá trình điều tra, truy tố có quá nhiều sai sót kỳ quái: Kết quả điều tra hiện trường thu được nhiều dấu tay nhưng không có dấu tay của Hải. Hiện trường có nhiều vết máu nhưng việc thu thập, phân tích những vết máu này cũng bị bỏ qua. Thời điểm mà cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát xác định nạn nhân bị giết mâu thuẫn với kết quả giám định pháp y, nếu theo kết quả này thì rõ ràng Hải là ngoại phạm.

Đó là chưa kể song song với vô số mâu thuẫn của các tài liệu trong hồ sơ vụ án, việc sửa chữa nhiều tài liệu một cách tùy tiện để chứng minh Hải là hung thủ, còn có chuyện cơ quan điều tra không thu được hung khí (dao để cắt cổ, thớt để đập đầu các nạn nhân) nên đã cử người đi… mua các hung khí này về làm tang vật cho khớp với kết luận điều tra, cáo trạng. Người ta còn phát giác cơ quan điều tra đã bỏ đi nhiều tài liệu và làm ngơ không đào bới sâu hơn trong khi vụ án còn có nghi can khác…

Chẳng phải chỉ có công an, kiểm sát mắc những sai sót vừa phi lý, vừa phi pháp, không thể chấp nhận được khi điều tra, giám sát điều tra, truy tố, lúc xét xử, tòa án các cấp cũng tự biến hệ thống tài phán trở thành đáng ngờ khi bỏ qua tất cả những sai sót kỳ quái như đã kể, thậm chí bỏ luôn, không thèm triệu tập một số nhân chứng mà lời khai của họ có thể vô hiệu hóa Kết luận điều tra, Cáo trạng và Hội đồng xét xử khó mà thản nhiên xác định Hồ Duy Hải “giết người”, “cướp tài sản” để phạt tử hình…

Dư luận từ công chúng, báo giới, nhiều luật sư, chuyên gia pháp lý, một số viên chức hữu trách của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đã khiến hệ thống tư pháp chựng lại trong việc thi hành án tử hình Hồ Duy Hải nhưng đó chỉ là chựng lại. Tháng 5 năm 2011, Tòa án Tối cao tuyên bố không kháng nghị (không yêu cầu xem lại) bản án chung thẩm. Tháng 10 năm 2011, tới lượt Viện Kiểm sát Tối cao đưa ra tuyên bố tương tự, mở đường cho Chủ tịch Nhà nước bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải vào tháng 5 năm 2012…

Tháng 11 năm 2014, Hội đồng Thi hành án tử hình của tỉnh Long An quyết đinh tử hình Hồ Duy Hải vào ngày 5 tháng 12 năm 2014. Thêm một lần nữa, dư luận, công luận lại dậy lên thành bão… Một ngày trước khi bản án được thi hành, Chủ tịch Nhà nước đề nghị Tòa án Tối cao tạm hoãn thi hành án. Hồ Duy Hải tạm thời thoát chết để chờ hệ thống tư pháp xem xét số phận của mình. Chẳng riêng thân nhân của Hải, nhiều người ở nhiều nơi đã tìm đủ cách để tác động đến việc xem lại bản án bằng nhiều cách…

Thế rồi tháng 11 năm ngoái – sau năm năm im lặng từ lúc án tử hình được tạm hoãn, Viện Kiểm sát Tối cao đột nhiên loan báo kháng nghị bản án tử hình Hồ Duy Hải theo hình thức giám đốc thẩm. Cơ quan này khẳng định, có đủ căn cứ để kháng nghị hai bản án (sơ thẩm, phúc thẩm) nhằm làm rõ những mâu thuẫn, thiếu sót trong tố tụng và điều tra lại là thật sự cần thiết (1). Tòa án Tối cao đã tổ chức phiên xét xử theo hình thức giám đốc thẩm trong ba ngày và bác kháng nghị, tuyên y án (2)!

***

Tin Tòa án Tối cao xem lại vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản” theo hình thức giám đốc thẩm đã từng tạo ra sự hứng khởi nơi nhiều giới. Trong mắt nhiều người, diện mạo công lý tại Việt Nam tuy nhơ nhuốc nhưng ít nhất lần này cũng sẽ được tẩy rửa một phần để trong chừng mực nào đó còn có thể yên tâm vì tư pháp xã hội chủ nghĩa không man rợ tới mức, thản nhiên giết một cá nhân mà quá trình điều tra, truy tố, xét xử từng bộc lộ vô số dấu hiệu cho thấy hết sức vô nhân.

Đó cũng là lý do phán quyết của Hội đồng Thẩm phán với 17 thành viên của Tòa án Tối cao về vụ án Hồ Duy Hải làm người ta chưng hửng, phẫn nộ. Nguyễn Lân Thắng mỉa mai: Có sai sót nhưng không làm thay đổi bản chất khốn nạn của nền tư pháp xứ Đông Lào… Y án tử hình Hồ Duy Hải! Đồng bào đã sáng mắt chưa (3). Nghiêm Việt Anh ngao ngán nhận xét về phiên giám đốc thẩm là “trò hề” (4). Còn Phùng Chí Kiên thì vừa thấy tên mình trong danh sách tử tù dự bị nếu vẫn tuân theo nền tư pháp mọi rợ này (5).

Trương Huy San nhận xét: Công lý và số phận của Hồ Duy Hải có phải đã là ưu tiên quan trọng nhất? “Y án” không đơn giản chỉ để cứu uy tín chính trị của Chánh án Nguyễn Hòa Bình (khi còn là Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao ông đã từ chối kháng nghị). Bằng phán quyết này, thành tích “phá trọng án” của cơ quan điều tra 12 năm trước được bảo vệ, nền tư pháp không phải ghi thêm một án oan vào sổ đen…

Trong lịch sử tố tụng của nước ta, hung thủ của các vụ án mạng nghiêm trọng gần như đều nhanh chóng bị bắt. Tiền thưởng, huân chương, sao gạch… nhanh chóng được ban phát. Oan sai gần như chỉ được phát hiện khi “nạn nhân” từ “cõi chết trở về” (trường hợp em Tỏ ở Tiền Giang) hoặc hung thủ thật ra đầu thú ([như trong vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang và “bảy thanh niên nhận tội giết người ở Sóc Trăng” gần mười năm trước).

Chúng ta không biết rõ ai là thủ phạm nhưng 17 vị tối cao thẩm phán biết rõ bằng chứng để buộc tội Hồ Duy Hải có rất nhiều điểm khá mù mờ. Nhiều bằng chứng được thu thập theo cách vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Một khi có thể mua một con dao ngoài chợ thay thế tang vật, việc khiến cho một bị can cung khai trôi chảy một kịch bản giết người chẳng phải khó khăn gì.

Giá như các vị đừng ngồi trên cái ghế có nhiều hệ lụy như thế mà thử đặt mình trong vị trí của các dự thẩm, tôi nghĩ, các vị sẽ không dám tuyên như vậy. Các vị đã đưa ra một phán quyết rất có giá trị chính trị nội bộ nhưng đêm nay, nếu không đi uống rượu, các vị thử gác tay lên trán, tự hỏi xem đó có phải là một phán quyết dựa trên pháp luật và niềm tin nội tâm của quý vị không?

Chúng tôi không đủ cơ sở để nói Hồ Duy Hải là vô tội. Nhưng chúng tôi cần được chứng kiến một phiên tòa công khai, nơi, công tố viên thuyết phục hội đồng xét xử bằng những chứng cứ thuyết phục. Thuyết phục trong trường hợp Hải được tuyên vô tội, thuyết phục ngay cả trong trường hợp Hải bị tuyên có tội.

Hủy án khi không đủ bằng chứng để kết tội ai đó không phải là sự thất bại của một nền tư pháp mà là sự chiến thắng của công lý. Ngay cả trong các nền tư pháp trưởng thành không phải mọi trọng án đều tìm ra được hung thủ. Tuyên bố vô tội cho một nghi phạm không có có nghĩa là các cơ quan tố tụng tuyên bố đầu hàng. Bởi tuyên bố đó xác nhận hung thủ vẫn ngoài vòng pháp luật và các cơ quan tố tụng vẫn tiếp tục thi hành phận sự.

Mười năm ngồi tù oan của những bị án oan như ông Nguyễn Thanh Chấn là 10 năm tự do có thể gây án của những hung thủ thật. Các vị có còn để cho niềm tin nội tâm của mình vận hành không. Một phán quyết như vụ Hồ Duy Hải, nếu oan, không chỉ làm tan nát một gia đình mà còn cấp thủ tục pháp lý cho hung thủ thật (nếu có) tự do gây án ngoài xã hội. Một phán quyết như vụ Hồ Duy Hải không những không có khả năng chấm dứt tranh cãi mà còn xói mòn hơn niềm tin của dân chúng vào khả năng cung cấp công lý của nền tư pháp vốn có rất nhiều khiếm khuyết này (6).

***

Trước khi tiến hành xét xử vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản” theo hình thức giám đốc thẩm, Tòa án Tối cao từng giới thiệu rộng rãi kế hoạch dựng “biểu tượng công lý” ở trụ sở các tòa án trên toàn Việt Nam và tạc tượng các Chánh án Tòa Tối cao. “Sáng kiến” này đã bị công chúng chỉ trích kịch liệt và có thể sẽ phải xếp xó. Tuy nhiên, dù muốn hay không, tuyên bố bác kháng nghị, y án đối với Hồ Duy Hải đã tạo ra một biểu tượng cho công lý ở Việt Nam.

Hao-Nhien Q. Vu vừa gọi 17 Thẩm phán trong Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao vừa nhất trí đưa ra phán quyết đã kể là 17 bù nhìn giống như các bù nhìn khác của chế độ. Theo facebooker này, điểm khác biệt của 17 bù nhìn đó, khiến cho họ có thành tích đặc biệt là thí mạng người dân để bảo toàn thành tích bù nhìn của mình, nên có bị nguyền rủa đặc biệt nhiều hơn các bù nhìn khác thì cũng đáng đời (7). Bên cạnh sự khinh miệt đang được bày tỏ rộng rãi trên mạng xã hội như Hao-Nhien Q. Vu, còn có sự căm phẫn.

Đang có không ít người như Thùy Linh, công khai khẳng định về sự nguyền rủa đời đời dành cho Nguyễn Hoà Bình cùng đồng đảng của ông ta. Một lũ khát máu người vô tội. Quyền lực và sự giàu có của bọn họ xây trên sự nghèo đói, oan khuất của dân đen… Thùy Linh nhấn mạnh: Hãy nhớ ngày này. Máu kêu trả máu (8). Sáu năm trước, một số viên chức hữu trách ở Long An từng công khai càm ràm về việc chần chừ tử hình Hồ Duy Hải nguy hại cho “ổn định chính trị”. Nay, số phận nghiệt ngã của Hồ Duy Hải góp thêm lý do khiến nhiều người như Quách Gia sực tỉnh: Cộng sản sống bằng dối trá và bạo lực. Đó là điều chắc chắn (9).

BẢN ÁN GĐT VỤ HỒ DUY HẢI DZÙ HUỶ ÁN HAY Y ÁN…THÌ ĐỀU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

BẢN ÁN GĐT VỤ HỒ DUY HẢI DZÙ HUỶ ÁN HAY Y ÁN…THÌ ĐỀU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, luật sư,…mấy ai không nắm được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự:

– Nếu bản án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm,…mà bị bản án có hiệu lực cao hơn tuyên huỷ; thì Hội đồng xét xử của bản án bị tuyên huỷ không được tham gia Hội đồng xét xử lại vụ án đó.

– Nếu có bằng chứng chứng minh ĐTV, KSV, Thẩm phán không vô tư khách quan khi tiến hành tố tụng của vụ án thì phải bị thay thế.

Như vậy, ông Nguyễn Hoà Bình khi đương nhiệm là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã khẳng định và có văn bản không chấp nhận kháng nghị đối với vụ án Hồ Duy Hải. Nhưng hiện tại, ông Nguyễn Hoà Bình, với tư cách thẩm phán, thành viên Hội đồng thẩm phán, Chánh án TANDTC làm Chủ toạ phiên toà Giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải do có kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao, sẽ không vô tư khách quan, không được tham gia Hội đồng xét xử vụ án này, đó là việc vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

Điều tối thiểu như vậy mà còn không hiểu, tôi định nêu vấn đề này sau khi bản án Giám đốc thẩm được tuyên, nhưng nếu như vậy thì buồn và tốn kém cho nhà nước, mất thời gian và dư luận sẽ như thế nào về Hội đồng TPTANDTC?. Vì vậy, tôi cân nhắc và nêu lên vấn đề này để Hội đồng thẩm phán (17 vị) đang ngồi xét xử vụ án này kịp thời điều chỉnh để nhân dân còn chút tin tưởng vào Toà án NDTC.

Tôi là luật sư và nếu được tham gia phiên toà này, thì lời đầu tiên tôi sẽ đề nghị là mời ông Nguyễn Hoà Bình ra khỏi thành phần Hội đồng xét xử vì lý do nêu trên.

(Ts,Ls. Trần Đình Triển)”

Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, outdoor

TOÀ GIẤY

Từ Thức
TOÀ GIẤY

Cũng cờ, cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông toà có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân thẩm phán
Nét son điểm rõ mặt tôi đòi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá hư danh ấy mới hời
Áo đỏ, ghế cao ngồi bảnh choẹ
Tưởng rằng đồ thực hoá đồ chơi

( nhại thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909). Tiến sĩ giấy)

(tuthuc-paris-blog.com)

Tâm sự ông toà:
https://www.tuthuc-paris-blog.com/post/tâm-sự-quan-tòa-1

Image may contain: one or more people, people sitting, table and indoor

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Trong những ngày đầu tháng 02 năm 1990, có một con đường ở huyện ngoại thành đã được báo chí làm cho nổi tiếng.  Con đường ấy một đầu là giăng ngang biểu ngữ khai trương phòng vật lý trị liệu trá hình, còn đầu kia là sừng sững một khách sạn mini sang trọng làm nhà riêng của người biển thủ, chức danh là giám đốc.  Con đường ấy chợt nổi tiếng vì những vụ tai tiếng.

Từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội, người ta biết có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng.  Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc.  Con đường ấy trải dài tin yêu để lâng lâng vươn lên sự sống.  Con đường ấy thấp sáng hy vọng để dẫn tới Nhà Cha trên trời.  Đường mở về miên viễn, Đường dẫn đến vĩnh hằng.  Đó là đường mang tên Chúa Giêsu.

  1. Đường hy vọng tin yêu.

Nếu có một câu hỏi được các Tông đồ đặt ra nhiều nhất thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.  “Thầy ở đâu?” là câu hỏi của Gioan đặt ra trong lần đầu gặp gỡ, để được gọi đến xem và bước vào ơn gọi; “Thầy muốn chúng con dọn lễ Vượt Qua ở đâu?” là câu hỏi của các Tông đồ đặt ra để có được địa chỉ chính xác cho Bữa Tiệc Ly; và hôm nay lại là Tôma nôn nóng bật ra câu hỏi “Thầy đi đâu?” trước một tương lai vẫn còn ẩn khuất.

Bận tâm về nơi chốn là bởi vì trong đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, mà cuộc hành trình cuối cùng là tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết.  Có khối ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa để trở thành con đường thất vọng của mình.  Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Người lại bị đóng đinh như tên tử tội.  Công dã tràng!  Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay, người ta như rớt từ trên cao quay cuồng chao đảo.  Thế mới hay ước vọng thì rộng lớn nhưng khung đời lại chật hẹp mà thực tế lại phũ phàng!

“Thầy đi đâu?” Ẩn sâu dưới câu hỏi ấy là một tâm trạng hoang mang trước một quá khứ vừa mới khép lại mà tương lai chưa kịp mở ra.  Tương lai ấy mới mẻ hay chỉ là quá khứ đươc lặp lại ở thì sẽ đến?  Đã một lần vỡ mộng, các Tông đồ băn khoăn là chuyện thường tình.  Giống như đứa trẻ lỡ một lần phải bỏng, hễ thấy lửa là tự nhiên rụt tay lại.  Vì thế, nghe trong câu hỏi “Thầy đi đâu?” có âm hưởng lo âu tự hỏi “mình đi đâu?”

Thất vọng về quá khứ và hoang mang trước tương lai, đó là những con đường các Tông đồ đã nếm trải.  Nhưng mở đầu Tin Mừng hôm nay lại là lời của Chúa Giêsu: “Các con đừng xao xuyến.”  Đó là lời an ủi vỗ về, đồng thời cũng là lời cắt băng khai mở một con đường mới trong hy vọng tin yêu.

  1. Đường mang tên Giêsu.

“Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”  Trả lời cho Tôma, cùng lúc Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn cứu độ, và tên gọi con đường ấy lại chính là Người.

Người là Đường Sự Thật bởi Người là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin.  Đường Sự Thật không phải là một hệ thống tín điều do Chúa Giêsu thiết định, nhưng là toàn thể cuộc sống lời nói việc làm của Người trong ý nghĩa cứu độ.  Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra?  Giữa phiên tòa dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, Philatô đã hỏi một câu ngớ ngẩn: “Sự Thật là chi? – Quid est Veritas?”  Chúa Giêsu không trả lời, vì Sự Thật hiện thân chính là Người đứng đó.  Có biết đâu hỏi là đã trả lời, chỉ cần sắp xếp lại thứ tự các mẫu tự sẽ thành hàng chữ: “Est Vir qui adest” (x. Tihamet Toth, Chúa Cứu Thế Với Thanh Niên, p. 95).

Người là Đường Sự Sống bởi Người là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là Sự Sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn cứu độ.  Người thông ban sự sống cho mọi sinh linh, và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với Sự Sống của Thiên Chúa.  Người chịu chết để nhân loại được sống, và Người sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống.  Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng Sự Sống Người là vĩnh cữu trường tồn.  Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Người là Đường dẫn tới Nhà Cha bởi Người và Cha không thể tách lìa: Chúa Con ẩn mình trong Chúa Cha, và Chúa Cha tỏ hiện trong Chúa Con.  Vẫn là Một từ ngàn xưa và mãi là Một tới ngàn sau.  Thế nên Đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào Đường Sự Thật và Sự Sống.

  1. Đường con đi.

Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới bằng toàn diện con người mình, Chúa Giêsu muốn truyền lại cho các Tông đồ cái kinh nghiệm hiện sinh phong phú liên kết với Cha qua Chân Lý và Sự Sống; đồng thời đó cũng chính là lời mời gọi Giáo Hội cất bước lên đường với những hành trang đi về hạnh phúc.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy.  Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn sao gợn sỏi đá của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thót vừa thanh thản của đời nhân đức chính là hát lên khúc ca mới trên con đường mới.  Vì lý tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, Dân riêng của Chúa…” (bài đọc thứ hai).

Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững.  “Thầy đi dọn chổ cho các con.”  Vận mệnh tương lai đã mở ra.  Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này.  Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ của Hội Thánh ở giữa lòng đời.  Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn.  Thiết tưởng lời kinh của Thánh Augustinô có thể là tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài.”

Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ.  Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới.  Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em.  Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành.  Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa.  Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn “con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay.

Và lời cuối cùng sẽ là một lời kinh, dệt nên khúc hát hy vọng cho những ai đang băn khoăn tìm kiếm một con đường sống, và biến nên hành khúc tin yêu cho những ai đã một lần cất bước hành trình: “Chúa muốn nhận con đường con đi, nên Ngài đã sinh xuống dương gian.  Chúa đã nhận đôi bàn tay con, dìu từng bước, bước đi trên đường.  Chúa ôi, khi nhìn đời con, con không hiểu từng giọt lệ sầu.  Chúa ôi, khi nhìn đời Ngài, con đã gặp đường hướng con đi.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Biết nhau qua một thời gian khá dài, trong và ngoài nước, chắc bạn đọc và bằng hữu của chúng tôi công nhận là tôi có thói quen dùng loại văn chương tử tế, chưa bao giờ phải nổi giận, dùng loại văn chương chì chiết, dung tục và thô bạo để diễn tả ý nghĩ của mình.

Nhưng hôm nay, xin tất cả bỏ qua, vì trong trường hợp này, Phật trên tòa sen cũng phải nổi giận, Chúa cũng phải cau mày vì một câu nói hỗn xược, ngang ngược của một viên tướng CSVN tên là Nguyễn Chí Vịnh. Câu nói đó lại được thốt ra trong ngày 30 Tháng Tư năm nay là: “Bảo là không có kẻ thắng người thua là không đúng. Thắng rồi nhưng tôi không có trả thù. Thắng rồi tôi khoan dung. Thắng rồi tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường. Đó là tấm lòng nhân ái của đảng và nhà nước mình.”

Câu nói này na ná phát biểu của tên tướng “đồ tể” Lê Đức Anh mấy chục năm về trước: “Lòng nhân ái làm nên ngày 30 Tháng Tư, 1975!”

Cả triệu triệu người Việt Nam còn ở trong nước hay đã ra hải ngoại, có mắt thấy tai nghe, đã biết những kinh nghiệm xương máu, thực tế phũ phàng, đã trải qua những ngày dở chết dở sống từ khi quân Bắc Việt tiến chiếm Sài Gòn, như là một đại họa cho dân tộc, như cơn đại hồng thủy nhấn chìm số phận bi thảm của con người, đã cho chúng ta thấy cái đại ác mang mặt nạ “nhân ái, khoan dung,” mà bọn xâm lược Hà Nội dành cho những người thua trận, được Nguyễn Chí Vịnh và Lê Đức Anh ca tụng, chính là thứ nhân ái, khoan dung “chó đẻ,” không hơn không kém.

Nguyễn Chí Vịnh là con trai của Nguyễn Chí Thanh, năm 1975 còn là học sinh trường cấp 3 Lý Thường Kiệt.

Trước hết câu nói của Nguyễn Chí Vịnh là hỗn xược, đã tạt gáo nước lạnh vào mặt những giới chức đi trước, cao cấp, tiền bối của y, là không nhập nhằng gì cả, phải có kẻ thắng người thua.

Trước đó, tướng của Vịnh là Trần Văn Trà đã từng phát biểu: “Đối với chúng ta không có kẻ Thua người Thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta Thắng Mỹ.”

Võ Văn Kiệt cũng đã từng nói: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…”

Từ đó đến nay, CSVN luôn luôn hô hào hòa hợp, hoà giải, kêu gọi người Việt hải ngoại xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, để cùng nhau bắt tay xây đựng đất nước. Bộ Ngoại Giao CSVN đã lập ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội đã thường xuyên tổ chức Hội Nghị người Việt ở nước ngoài, Sài Gòn tổ chức đoàn văn nghệ phục vụ kiều bào nhân dịp Tết, vinh danh những người bỏ nước ra đi vì chế độ là … “khúc ruột ngàn dặm…,” “máu thịt của tổ quốc,” tất cả đều vì đồng đô la, nghe là lợm giọng! Chúng ca tụng “Những nghĩa cử cao đẹp, trân quý của kiều bào ta thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” – vốn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam!” Gần đây, ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đã động viên và khen ngợi việc ủng hộ, đóng góp cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 của đồng bào nước ngoài. Mặt khác, còn tư duy hận thù, đắc thắng, Nguyễn Xuân Phúc lại kêu gọi “chống dịch phải tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam.”

Trước hết câu nói ngụy biện để bệnh vực cho chế độ của tướng Phát-Xít quân phiệt, Nguyễn Chí Vịnh là “không có trả thù!” Bắn giết, chôn sống, dội nước sôi xuống đầu (*) ngay cả những người đầu hàng, san bằng nghĩa trang của phe thua trận, giam cầm gần một triệu người đối đầu và khác chính kiến vào trại tập trung! Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Kỳ thị kẻ mới người cũ, phân biệt “gia đình có công với Cách Mạng” với “tàn dư Mỹ Ngụy,” “có nợ máu,” hạn chế con em miền Nam không có cơ hội học hành. Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Nói đến Cộng Sản Việt Nam là nói đến cái ác. Biểu tượng của lòng nhân ái, khoan dung chính là một cây búa hiện nay đang được trưng bày tại ở bảo tàng quân đội Việt Nam, Hà Nội, được chú thích như sau: “BÚA. Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội phó huyện Mỏ Cày (Bến Tre) đã dùng để bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”

Một cây búa lừng danh “nhân ái” khác là cây búa “khảo cổ” mà đàn em Lê Duẫn đã dùng để đập đầu Giáo Sư Nghiêm Thẩm, giám đốc Bảo Tàng Viện Sài Gòn, chỉ vì vị giáo sư anh hùng này không chịu hoàn thành đơn đặt hàng của bí thư Lê Duẩn, chứng minh “dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông-Nam Á-Châu!”

Ngay đối với những người dân thường không có “nợ máu,” Bắc Việt với chính sách trả thù nhắm vào nhân dân miền Nam vì “chúng” quá tự do, quá giàu sang, quá sung sướng bằng chính sách tịch thu nhà cửa, cướp cạn tài sản của người giàu, hai lần ăn cướp công khai bằng thủ đoạn đổi tiền, đày ải dân lành đi vùng kinh tế mới. CSVN dùng chính sách hộ khẩu, phân bố lương thực, dân không kiếm ra công ăn việc làm, xô đẩy người miền Nam vào bước đường cùng, phải rời nước ra đi, bỏ thây trên biển cả. Điều này Nguyễn Chí Vịnh chắc không đến nỗi ngu đần mà không nhận ra, nhưng chẳng qua vì tham vọng mà bỏ lương tri, nói cương để được lòng chế độ.

Bây giờ là lúc Nguyễn Chí Vịnh nói huỵch toẹt ra, là không hòa hợp, hòa giải gì cả, là tao thắng là mày thua.

– “Thắng rồi, tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường.”

Nguyễn Chí Vịnh nếu có đủ trí khôn của thời niên thiếu, hay có đông đủ họ hàng, bạn bè nói lại cho nghe thì cũng biết rằng miền Nam thua trận có hằng trăm ngàn chuyên viên đủ mọi ngành nghề cấp cao, nhiều cán sự lành nghề… nhưng tất cả đều chỉ có một con đường đi cuốc đất, đạp xích lô, bán thuốc lá lẻ, xăng lẻ, vá xe vệ đường hay bôn ba chốn chợ Trời… Nếu không, cũng tìm đường ra đi, để công sở, trường học, nhà máy, công trường… lại cho bọn lợn lòi từ hang động trở về. Chính sách “hồng hơn chuyên” cố chấp, đầu đặc đã là tiêu hao bao nhiêu tài nguyên của đất nước, khi chúng quan niệm “chất xám” trí tuệ không giá trị bằng một nắm phân nơi “vùng kinh tế mới!” Đó là “tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường” đó ư?

Đúng là “không có kẻ thắng người thua là không đúng,” nhưng bất hạnh cho miền Nam thất trận, không may mắn thất trận vào tay một kẻ hào hiệp để có được một Hiệp Ước Của Người Quân Tử – The Gentlemen’s Agreement- mà mất nước vào tay thảo khấu, lục lâm, mới ra cớ sự “dãi thây trăm họ,” oán hận ngút trời, như sau cuộc chiến tương tàn Việt Nam…

Hôm nay đến ngày 30 Tháng Tư lần thứ 45, người dân miền Nam ai cũng mang một vết thương chưa lành. Bao nhiêu năm qua, chúng ta đã quá hiểu nhau tính cách của nhau. Đây không phải là lúc dùng những luận điệu tuyên truyền trẻ con và xảo trá ấy nữa! 45 năm trôi qua, thời buổi này mà kẻ côn đồ, dao búa còn nói chuyện trịch thượng tha thứ hay cho rằng mình là kẻ khoan dung, nhân ái, thì đây đúng là thứ khoan dung, nhân ái loại “bà Tú Để,” loại “chó đẻ” mà chẳng ai muốn nghe.

Một lần nữa, xin bạn đọc tha thứ nếu chúng tôi đã làm bẩn mắt quý vị, nhưng với loại người ấy, chúng ta không thể dùng một loại từ ngữ nào đúng hơn! Hồn ông Bùi Bảo Trúc có linh thiêng xin về chứng giám!

 
*** 

HÌNH:Các Thương Phế Binh VNCH, những người bị phân biệt đối xử sau 30 Tháng Tư, 1975, đang chờ đợi nhận quà từ thiện tại Chùa Liên Trì, thành phố Sài Gòn ngày 9 Tháng Tư, 2015. Hơn 40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, CSVN vẫn cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Nhưng với chủ nghĩa tư bản hoang dã, tham nhũng và bất bình đẳng xã hội, lời tuyên bố “chiến thắng” chỉ là sự trống rỗng. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images).

Image may contain: 1 person, sitting and indoor

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Một lần nữa bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng.

Trong thế kỷ 21, khi văn minh đạt đến đỉnh cao, nhất là công nghệ hiện đại và tiện nghi vật chất gần như hoàn hảo, nhu cầu hưởng thụ lại quá đầy đủ, ít ai nghĩ đến có một lúc con người phải đối diện với một thảm cảnh nghiệt ngã như hôm nay – Covid 19, trận dịch lớn nhất lịch sử trong thế kỷ qua, chợt khởi như một cơn ác mộng đã khiến cho nhân loại phải kinh hoàng. Trước khi diễn ra đại dịch toàn cầu, chúng ta tự cho mình là cái rốn của vũ trụ. Chúng ta luôn ảo giác trái đất này như tên nô lệ để phục vụ những yêu cầu của mình một cách bất tận. Lúc bình an và sung túc nhiều người trong chúng ta dễ sanh ra sự ỷ lại, tự mãn, luôn sống trong sự hối hả mà chưa từng nhìn lại, kiểm thảo và chiêm nghiệm cuộc sống, bởi họ xem việc đó là triết lý của thầy tu, của những kẻ bi quan hay những người không đủ khả năng tạo ra đồng tiền.

Vì quá say mê trong sự hưởng thụ xa hoa đã làm cho chúng ta quên đi mình là ai trên hành tinh này? Chân thành mà nói, chúng ta không có gì đáng để kiêu ngạo và tự hào khi mình chỉ là một con nợ – nợ xã hội và nợ ngân hàng thiên nhiên rất lớn. Và cái gì vay mượn thì một lúc nào đó chúng ta cũng phải trả, trả sòng phẳng cả vốn lẫn lời. Đây là quy luật công bằng của vũ trụ, một sự thanh lọc có điều kiện không hề thiên vị. Chỉ cần con vi rút Corona nhỏ bé xuất hiện, nó bắt đầu trở thành phép thử khắc nghiệt cho lòng can đảm, đức hy sinh, tình yêu thương, sự chia sẻ, tính lương thiện hay những thói hư tật xấu, ích kỷ, tham lam, của mỗi con người trong xã hội. Một trận dịch xảy ra, nó vừa là một nguy cơ nhưng cũng vừa là cơ hội để nhắc nhở cho con người thức tỉnh lại, biết nhìn lại mình, biết sống hợp đạo lý, tình người, biết tôn trọng người khác, không còn sống hối hả, mù quáng và bất chấp tất cả nữa.

Khi khó khăn bất ngờ xảy đến chúng ta dễ dàng bộc lộ bản năng. Nhiều hình ảnh rất hiếm thấy ở một số quốc gia trong giai đoạn trước khi dịch Covid – 19 lan tràn, như: một vài người Nhật sẵn sàng đấm đá nhau khi giành mua khẩu trang; hay tại Úc người ta có thể đánh nhau trong siêu thị chỉ vì giành giấy vệ sinh; một cụ già ở thành phố Melbourne nhìn chằm chằm vào kệ siêu thị trống trơn rồi bật khóc sau khi hàng hóa đã bị vơ vét hết; một số người Mỹ cực đoan sẵn sàng đe dọa, mắng chửi, kỳ thị  những người bị nghi ngờ nhiễm virut hay những ai nghiêm túc đeo khẩu trang; một số nước châu Âu có những nhóm người lo sợ thái quá, mất kiểm soát nên kỳ thị và đánh đuổi những người trở về quê hương từ tâm dịch…Trước những hình ảnh đó, hào quang của những đất nước được xem là văn minh, lịch sự đáng ngưỡng mộ đã có dấu hiệu bị lu mờ.

Khi trận dịch toàn cầu diễn ra, nó phá vỡ rất nhiều trật tự trong cái mác văn minh  mà con người đã tự dựng lên và tô vẽ rất mỹ miều. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nếu không xuất phát từ cái tâm có tu tập và đạo đức vốn có thì mọi thứ lịch sự, văn minh đó có vẻ hào nhoáng hơn là giá trị thực, nó được duy trì khi cuộc sống an lành. Lịch sự và nồng hậu trong các dịch vụ khách sạn hay những nơi vui chơi giải trí, đều phải được trả bằng tiền, càng lịch sự bao nhiêu thì người được phục vụ phải trả giá càng cao bấy nhiêu. Nếu không có tiền chúng ta có nhận được sự đãi ngộ như thế không? Những thứ mặt trái luôn tiềm ẩn trong tâm con người chỉ vì chưa có dịp để biểu lộ mà thôi.

Thế giới nói chung hay một xã hội nói riêng cần nương tựa nhau để tồn tại. Con người là một thành phần trong một đại thể, theo triết lý Phật giáo gọi đó là Nhân duyên sinh. Bạn không thể tồn tại độc lập, sự có mặt và tồn tại của người này là điều kiện cần và đủ cho sự có mặt và tồn tại của người kia và ngược lại, kể cả muôn loài. Một đất nước vô cảm, thiếu trách nhiệm, cả thế giới chịu ảnh hưởng. Một người vô cảm, thiếu trách nhiệm, đương nhiên sẽ làm hại nhiều người khác. Thế giới này không phải của riêng ai và không phải để phục vụ cho cá nhân nào (Nothing belong to anyone). Vì vậy, bạn đừng cho rằng mọi thứ trên cuộc đời này chỉ để phục vụ cho sự hưởng thụ của bạn, hay những quốc gia có quyền, có tiền mới đáng sống, còn những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trên thế giới này thì không cần thiết để có mặt . Sự độc quyền của đồng tiền một thời đã đến lúc phải nhường chỗ lại cho cuộc sống cộng đồng, tình thương và đạo lý (Money is not everything). Những cường quốc số một thế giới, với đủ các loại vũ khí sẽ làm được gì trước sự tấn công không khoan nhượng của một con vi rút bé tí; những quốc gia lắm tiền nhiều của thì đang dần kiệt quệ và khủng hoảng trước đối thủ dường như không hề cân sức.

Bạn nên biết rằng, mọi chúng sanh trên cuộc đời, dù là cây cỏ, con kiến, con cá… đều có vai trò bình đẳng cho sự tồn tại trong một trật tự của vũ trụ, không một ai  được sự ưu đãi đặc biệt trong quy luật đó. Vạn vật sinh ra trong tự nhiên để nương tựa vào nhau, cùng sanh cùng diệt cộng hưởng nhau, không thừa không thiếu trong một mắc xích dây chuyền. Hủy hoại một mắc xích cũng là hủy hoại chính mình. Con người cũng chỉ là một mắc xích bình đẳng trong chuỗi trật tự đó. Và, chúng ta cũng sẽ bị phản công một cách tan tác như những gì mà mình đã từng gây ra cho vạn vật trong thế giới này. Con người đã ăn tận diệt những loại ăn côn trùng thì con người phải chịu hậu quả côn trùng độc hại sinh sôi nảy nở lan tràn tấn công. Chính con người đã khiến vô số loài đã tuyệt chủng, đang nguy cơ tiệt chủng thì số phận của chủ nhân gây ra cũng có muôn vàn lý do để đối mặt với sự tiệt chủng tương tự. Biến đối khí hậu môi trường đã khiến loài khủng long từng là vua trên trái đất một thời, bây giờ chỉ còn là những hóa thạch thì con người đang là, nếu không có một kế hoạch dừng hay kìm hãm sự hủy hoại môi trường thì việc tiệt chủng sự sống sẽ được lặp lại trên trái đất này là điều khó tránh khỏi. Đừng than trời trách đất mà chỉ cần bình tĩnh nhìn lại mình thì mới thấy chính con người là một thủ phạm đáng sợ nhất hành tinh!

Vì tham vọng làm giàu và phục vụ nhu cầu hưởng thụ của loài người mà các quốc gia trên thế giới cạnh tranh phát triển ngành công nghiệp đáng kinh ngạc. Hệ quả tất yếu của nó là từ không khí cho đến nguồn nước hầu như đều bị ô nhiễm nặng, hiệu ứng nhà kính báo động từng ngày và mọi hiện tượng bất thường của thiên nhiên xảy đến liên tục, dù có sợ hãi nhưng dường như không mấy ai bận tâm. Loài người chưa từng cám ơn thiên nhiên đã tạo đủ yếu tốt tốt đẹp để mình được tồn tại, trái lại chúng ta khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hủy diệt và trả lại thiên nhiên bằng những chất thải độc hại. Chưa ai trong chúng ta cám ơn những chúng sinh đã nằm xuống cho bữa ăn của mình mà trái lại chúng ta tận diệt chim trời cá nước không chừa bất cứ một chủng loài nào, kể cả trứng và con non. Vì không tôn trọng sự sống của muôn loài, giết chóc bừa bãi và vô nhân đạo thì có lúc chúng ta phải trả giá cho sự lạnh lùng và vô tâm đó. Chúng ta đang hủy diệt sự sống của mình từng ngày trên hành tinh này mà cử ảo tưởng rằng mình đang tận hưởng.  

Lời nhận định của một nhà báo mà tôi rất tâm đắc: “Khi thiên tai địch họa xảy ra, con người thường xót xa coi mình là nạn nhân của tự nhiên, số phận. Mấy ai nghĩ được sâu xa, hàng ngày chính họ cũng góp phần để trở thành hung thủ?”. Đây là lời nhận định rất chính xác, nhằm phản ánh cho tự ngã của con người. Chính  cái “tôi” quá lớn, nên nó đã che mờ cả lý trí để chúng ta không còn nhận ra những khuyết điểm của mình, và mọi thứ cản trở cái “tôi” điều trở thành cái khả ố, đáng ghét, đáng phải bị loại trừ.

Thông thường, con người cứ tưởng mình là loài khôn ngoan và rất mạnh, nhưng thật ra chúng ta chỉ là những sinh vật nhỏ bé, rất mong manh và dễ vỡ trên hành tinh này. Thực tế là chúng ta có thể bỏ mạng một cách dễ dàng chỉ vì một con vi rút rất nhỏ đến độ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nếu so với vũ trụ, chúng ta chỉ bằng một con vi rút đang ngo ngoe dưới kính hiển vi. Mọi hành vi và tính chất của chúng ta, vũ trụ đều giám sát và phân tích như một nhà bác học y khoa đang phân tích vi trùng trong từng giây một.

Xác thân của người vốn được nâng niu, tâng bốc, tôn trọng trước và sau khi chết như một đạo lý truyền thống ở mỗi quốc gia. Khi trận dịch xảy ra, vi rút Covid có sự lây lan khó lường nên hầu như ai cũng sợ hãi, kể cả người trực tiếp làm nhiệm vụ thì nỗi sợ hãi lại càng lớn hơn vì có nguy cơ lây nhiễm cao hơn. Thông qua báo đài, chúng ta có dịp chứng kiến nhiều hình ảnh thương tâm xảy ra nhiều nơi trên thế giời: Tại Tây Ban Nha, các bệnh viện đều quá tải, nơi phòng cấp cứu, các Bác sĩ phải chọn để bệnh nhân nào chết, vì có quá nhiều người đang hấp hối cùng lúc, và ưu tiên cho người trẻ bởi họ có cơ hội sống sót cao hơn. Một số người già nhiễm bệnh bị bỏ mặc tại nhà đến chết. Một vài quốc gia xử lý thi thể của người nhiễm bệnh qua đời một cách nhanh gọn không còn được tổ chức nghi lễ trang nghiêm, không còn ai đưa tiễn bằng những lời khóc than hay kèn trống nhạc. Họ ra đi trong sự lạnh lùng, sợ hãi trên những chiếc xe tải quân đội chở tử thi đi hỏa thiêu hoặc những hố chôn xác tập thể trước sự bất lực, vô vọng của người thân. Nhiều bệnh nhân nhiễm vi rút Corona cảm nhận được họ sắp ra đi, họ khẩn cầu Bác sĩ cho họ được trò chuyện với con cháu lần cuối, nhìn mặt người thân để trăn trối hay nói lời vĩnh biệt. Tuy đau nhói tim can nhưng Bác sĩ đành bất lực! Họ cô độc đi từ giường bệnh đến lò thiêu. Họ có mang theo được những gì mà họ đã từng lao nhọc kiếm tiềm đi theo bên mình để làm hành trang hay chỉ mang bao nỗi niềm hối tiếc, ân hận, đau khổ và sợ hãi. Lúc đó chúng ta mới thấm thía đạo lý gia đình, sự yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau nó thiêng liêng và quan trọng thế nào trong kiếp nhơn sinh tạm bợ này!

Một lần nữa  bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng. Chúng ta có thêm nhiều bài học sâu sắc về tình yêu thương nhân loại, sự giúp đỡ nhau trong một cộng đồng, lòng hy sinh trong những hoạn nạn luôn là điểm son quý báu nhất, là thước đo chính xác nhất cho giá trị đạo đức nơi mỗi con người.

Lời Phật dạy luôn là chân lý: Nhận thức được triết lý Vô thường để không chủ quan cho sự vĩnh cửu của mọi thứ trên cuộc đời, nhất là mạng sống; nhận thức được Nhân duyên sinh để không hoang tưởng mình là cái rốn của vũ trụ; nhận thức Nhân quả để không sống liều lĩnh, mù quáng; thực tập từ bi để có tình thương yêu, tôn trọng sự sống của muôn loài và cùng chia sẻ nỗi thống khổ của chúng sanh; và tu tập để đạt đến Giác ngộ là đỉnh cao trí tuệ, vượt trên tất cả mọi thứ tri thức thông thường và vật chất tạm bợ trên thế gian này. 

Mọi việc rồi cũng sẽ qua đi nhưng vết thương của nó để lại không hề nhỏ. Nó sẽ là một dấu ấn khó phai của một kiếp người khi một lần đối mặt và trải qua. Và chính lúc này đây, chúng ta thấy rằng, sự chia rẽ, hận thù hay ích kỷ, độc tài dựa trên tiền bạc và vũ lực là cái yếu, chỉ có đạo đức, lòng nhân ái, tình bao dung và tính lương thiện của con người mới là sức mạnh, mới có đủ yếu tố và năng lượng tích cực để nối kết con người gần lại với nhau, giúp nhau tồn tại, vượt qua mọi thách thức để sống trong hòa bình và hạnh phúc.

Phước Tiến

From:TU PHUNG

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Cũng may Cô Vid kịp thời
Ngăn Tàu Hán hóa giống nòi Việt Nam,
Không cho Đảng Tặc Hồ làm
Tay sai bán nước dâng hàm thú kia.

“Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên.” (Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã).

RFA.ORG

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng nh…

BẠN TA              

 BẠN TA                           

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó  

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi

Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi 

Vui được biết, Bạn bình an vui sống

 

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó! Tôi còn đây! Phúc lắm!

 SƯƠNG LAM

From: TU-PHUNG

 CẢM NGHIỆM TUỔI GIÀ

 CẢM NGHIỆM TUỔI GIÀ

Tác giả: Vũ Huy Thiện

Vũ Huy Thiện, Dallas

( Chúng ta nay hầu hết đà già rồi …Vì thề kẻ hèn này, trước hết cám ơn Tiến sĩ Trần An Bài, vì đã được nghe Bài nói chuyện của Ông, và rất tâm đắc, nên bây giờ xin dựa vào cái khung bài của Ông đã đọc tại Hội nghị người Già, và cũng xin mượn luôn cả cái Nhan đề của Ông nữa để ghi thêm đôi điều và một vài cảm nghỉ về tuổi già cho anh em cùng tưởng lãm).

Đêm qua trong một giấc mơ, tôi thấy mình đang thao thao bất tuyệt về một vài cảm nghiệm Tuổi Già. Vì thế, thức dậy phải ghi ngay ra để khỏi quên… Và đây, xin trình làng:

Kính thưa… và toàn thể Qúy Vị,

Trước hết, xin cám ơn Qúy Vị đã cho tôi vinh dự được trình bày đề tài tuổi già trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Bản thân nay cũng đã già. Tôi còn nhớ khi còn nhỏ, thấy Ông Nội mình lúc đó sáu mươi mấy tuổi… thấy Ông tôi đạo mạo và oai vệ quá. Tôi thầm nghĩ:

“Giá mà mình cũng sống đến sáu mươi tuổi thì hay lắm nhỉ” và hôm nay nhìn lại, cảm thấy như mới ngày nào mình còn trẻ… thế mà nay đã hơn “tám bó” rồi…

Trình bày về tuổi già” trước một số đông qúy vị hầu hết trên lục tuần, hoặc ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, hay cao hơn nữa, làm sao tránh khỏi lúng túng. Nhưng tôi vẫn mạnh dạn thưa cùng qúy vị đôi điều về tuổi già.

-Cái cảm nghiệm đầu tiên của tôi về tuổi già là sắc diện và tính tình bắt đầu thay đổi rất nhanh. Làm cho chúng ta sắc diện thì thành “tóc bạc da mồi”, tính tình thì lẩm ca lẩm cẩm. Tuy nhiên, chúng ta cùng nhau điểm qua những yếu tố tích cực và tiêu cực của tuổi già:

  1. Trước hết, chúng ta cùng nhìn đến những cái hay cái đẹp và những điểm tích cực của tuổi già:
  2. Quan niệm chung về tuổi già:

Tự ngàn xưa, trong Kinh Thánh cũng như các cụ nhà ta thường lấy cái mốc 70 làm chuẩn cho tuổi đời: Nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là hiếm ai sống được bảy mươi tuổi.

Kinh Thánh cũng cùng một quan điểm khi nói:

“tuổi thọ trong ngoài bảy chục, Mạnh giỏi chăng là được tám mươi, Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi”. (Tv.89, 10)

  1. Tuổi già là một ân huệ.

Kinh Thánh đã ca tụng tuổi già vì tuổi già là hồng ân của Thiên Chúa, là phúc lành của Chúa (x. St 11, 10-32) người già được kính trọng bởi “người đầu bạc thì khôn ngoan” (Kn 4, 7-15).

Sách Châm ngôn viết: “đầu bạc là một triều thiên vinh dự” (Cn 16,31)3.

Thánh vịnh 92 cũng ca tụng:

Già cỗi rồi vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn,(TV 92,15) Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng nói: “Được sống đến tuổi già là một ân huệ. Không phải vì tất cả mọi người có thể sống đến tuổi này, nhưng vì trước hết, tuổi già cho chúng ta khả năng đánh giá quá khứ, được hiểu và sống mầu nhiệm Phục sinh một cách sâu xa hơn, và được trở nên kho tàng kinh nghiệm quý báu cho Giáo hội”.

  1. Tuổi già thì Đạo Đức.

Chúng ta hãy đọc một đoạn trong Lá thư mục vụ cho những người công giáo cao niên của Hội đồng Giám mục Hoa kỳ: “Trong khi mọi người đều được mời gọi nên thánh, để “kết hợp thân mật chặt chẽ với Đức Kitô”, thì sự quan tâm đạo đức thường thừa nhận rằng lời mời gọi này quan trọng hơn đối với các vị cao niên. Nhiều người trong quí vị bây giờ đã có nhiều thời giờ và hoàn cảnh thuận tiện để suy nghĩ sâu xa hơn và hành động với cái nhìn có nhiều tính cách luân lý hơn. Với nhiều người già, thánh lễ hằng ngày là trung tâm của đời sống tinh thần và là cơ hội để gặp gỡ và làm bạn với nhiều người cùng lứa tuổi. Nhiều vị cũng biết cầu nguyện dưới hình thức suy gẫm mà lời nói không còn cần thiết nữa, chỉ còn im lặng bình tâm lắng nghe tiếng Chúa. Sự giảm yếu của các giác quan cũng có thể xảy ra trong tuổi già thường được coi là tiêu cực, nhưng đôi khi đó lại hữu ích cho việc suy gẫm. Nhiều vị lại thích tìm hiểu và gia nhập những nhóm học hỏi Kinh Thánh, nhóm chia sẻ đức tin hoặc những nhóm huấn luyện đức tin cho người trưởng thành.”

Quả thật, Con người sinh ra, sống và phải già đi, đó là lẽ thường trong cuộc sống con người, nhưng tuổi già phải có một cái gì để lại, Vì thế George Granville nói: “

Tuổi trẻ là mùa của yêu thương, Tuổi già là mùa của ĐẠO ĐỨC.

Tuổi già có thể trở thành một giai đoạn qúi nhất của cuộc đời. Có người nói: “

Chúa định cho sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi trẻ là ở thể chấtNhưng sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi già là trong tâm linh.”

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, dù rằng đã già nua nhưng ngài cũng vẫn là một thần tượng cho cả giới giới trẻ cũng như người già. Vì thế, trong Phẩm giá của Người già, The Dignity of Older people viết:

Đức Giáo hoàng Gioan Phalô II sống tuổi già của ngài với sự tự nhiên thoải mái dễ chịu. Ngài không che giấu gì hết, mà còn biểu lộ ra cho mọi người biết. Với sự hết sức chân thành, ngài nói:“Tôi là một linh mục già yếu”. Ngài sống tuổi già của ngài trong niềm tin. Ngài không hề để ngài bị giới hạn bởi tuổi tác”.

4-Người già thì Khôn ngoan và kính sợ Chúa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rước Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân

Sách Huấn ca ví người già như cành lá của cây khôn ngoan:

  1. rễ của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa Cành lá của khôn ngoan là cuộc đời trường thọ. (Hc.1,20)

5- Người già biết lo liệu, phán đoán và giàu kinh nghiệm.

Về vấn đề này sách Huấn ca viết như sau:

  1. trẻ con không lo dành dụm, về già lấy đâu ra mà có? người khôn ngoan phán đoán, bậc lão thành chỉ bảo, thật đẹp đẽ biết bao! sự khôn ngoan của các vị bô lão, tư tưởng và ý kiến của các bậc danh nhân thật đẹp đẽ chừng nào! giàu kinh nghiệm là triều thiên hàng bô lão lòng kính sợ Đức Chúa là niềm hãnh diện của các ngài. (Hc.25,3-6)

Sách châm ngôn cũng ca ngợi người già:

Mái đầu bạc là triều thiên vinh hiển (Cn 16,31)

Sách Khôn Ngoan viết:

“Tuổi già đáng kính trọng, không phải vì trường thọ, cũng không phải vì cao niên, nhưng vì người đầu bạc thì khôn ngoan.”

Sách Khôn Ngoan còn nói thêm:

“Người tuổi già thì đẹp lòng Chúa, được Chúa yêu dấu. (Sách Khôn ngoan, 4:7)

Vài điểm tiêu cực nổi bật:

  1. Tuổi già hay quên và lẩm cẩm:

Cái cảm nghiệm hiển nhiên về vấn đề này là bắt đầu quên, bắt đầu lẩm cẩm. Kinh nghiệm bản thân, có những lần rõ ràng khi ra khỏi nhà, đã khóa cửa cẩn thận, mà khi đã đi được một đoạn đường, sao tự nhiên mình quên hẳn không nhớ ra là đã khóa chưa; thế là buộc lòng phải quay trở lại… tôi có thể nghĩ khá lâu mới nhớ được tên một người bạn, quên ngay một việc mình định làm, tìm không thấy đồ vật mình vừa đặt xuống, không nhớ mình đã làm việc đó chưa, nhưng một lúc sau thì có thể nhớ lại.

Một ví dụ khác: Vừa ở trong phòng ra ngoài định lấy cái gì đó, thế mà khi đã ra ngoài lại quên bẵng đi, không biết đến đó làm gì. Ðứng một hồi mới nhớ ra được: “À, thì ra định lấy cái…!” Hơn nữa, nhiều khi vừa nói một vấn đề nào đó rồi mà tưởng chưa nói, lại lập lại, khiến cho người nghe phát ngán.

Nhất là khi nói chuyện thì cứ nói vòng vo Tam quốc, rào trước đón sau, nói mãi mà chưa vào đề, khiến cho người ta dễ bực mình.

Ấy thế nhưng, có những vấn đề không đáng nhớ thì lại nhớ dai. Nhất là những chuyện ngày xưa, đúng như người ta thường bảo, người già thì hay sống với quá khứ.

Vâng, “già sinh tật, đất sinh cỏ”. Ở tuổi già, những điều đáng nhớ thì lại quên, mà những điều đáng quên thì lại nhớ. Để tuổi già được bình an thư thái, chúng ta phải nhất quyết quên đi những hận thù quá khứ.

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng đã nói:

Trí nhớ của Chúa rất tồi, nhiều khi Ngài chẳng nhớ gì cả. Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy nhan nhản những câu chuyện tương tự về “bệnh” quên của Chúa. Trước giờ Chúa bị đóng đinh, có anh trộm lành nói rằng: “Lạy Thầy, khi nào Thầy về nước Thiên Ðàng, xin nhớ đến con cùng!” Nếu chúng ta ở vào địa vị Chúa thì dù có tha cũng phải hạch sách, cảnh cáo anh trộm lành này, chứ đâu có tha cách dễ dàng được: “Anh có biết rằng anh đi ăn trộm, anh làm khổ cho bao nhiêu gia đình, anh phải đền tội đã rồi mới được tha!”. Nhưng Chúa thì không như vậy, Ngài đã trả lời ngay cho anh: “Ta bảo thật, ngày hôm nay, ngươi sẽ được cùng ta ở trên nước Thiên Ðàng.” Chúa quên hết tội lỗi của anh kẻ trộm, cho nên anh ta lại trộm luôn cả nước Thiên Ðàng. Đó là thánh trộm lành tên Dismas..(?).

Vậy chúng ta hãy bắt chước Chúa: Quên đi hết những lỗi lầm, những bực bội đối với anh em chúng ta.

  1. Tuổi già hay tủi thân và cô đơn:

Cảm nghiệm thứ hai của tuổi già là hay tủi thân và sợ cô đơn. Tại sao lại hay tủi thân? Vì nay tuổi già sức yếu, làm không được nữa thì phải nhờ con cháu. Mà nhờ vả chúng nó, thì nó không chịu làm, hoặc nếu có, thì làm một cách miễn cưỡng, lại còn la mắng mình nữa. Như nay không lái xe được nữa, nhờ con cháu chở đi nhà thờ thì có khi chúng chở và cũng có lúc chúng nó nói ở nhà đọc kinh cũng đủ rồi, việc gì cứ phải đến nhà thờ hoài vậy… Thế là tủi thân. Buồn ơi là buồn!

Lại còn cảnh cô đơn nữa. Nay về già, ngồi một chỗ, nói không ra hơi, nói chuyện nọ xọ sang chuyện kia, chẳng con cháu nào muốn nghe nữa. Có gọi chúng nó đến thì rồi lấm la lấm lét, câu trước câu sau, chúng nó cũng lỉnh đi luôn. Ðối với những cụ còn đủ cặp, thì sớm tối còn thủ thỉ với nhau được. Ông xướng bà họa, ông “Kính Mừng” bà “Thánh Ma”, kể ra cũng còn đỡ, nhưng khi goá bụa, thì sự cô đơn buồn tủi càng ghê gớm hơn nữa.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khích lệ người già vui sống và đồng thời đề cao giá trị người già trong xã hội và Giáo Hội. Ngài nhắn nhủ người già đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều. Ngài nhấn mạnh rằng:
Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng. Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống, thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn. Ước gì trên khuôn mặt chúng ta, luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, và không bao giờ buồn sầu”.

Ngài cũng nhắn nhủ người già đừng bao giờ nản chí:

“Anh chị em là một sự phong phú cho xã hội, cả khi gặp đau khổ và bệnh tật. Giai đoạn này trong cuộc sống là một hồng ân để đào sâu quan hệ với Thiên Chúa. Anh chị em đừng quên rằng trong số những nguồn lực quí giá mà anh chị em có, điều thiết yếu là kinh nguyện. Anh chị em hãy trở thành những người chuyển cầu nơi Thiên Chúa, cầu nguyện trong sự tin tưởng và kiên trì. Anh chị em hãy cầu nguyện cho Giáo Hội, cho tôi nữa, cho các nhu cầu của thế giới, cho người nghèo, để thế giới không còn bạo lực nữa”.

  1. Tuổi già bất lực:                                                                                                     chân đó, nhưng chân không đủ sức để di chuyển thân xác từ chỗ này đến chỗ kia. Có tay đó, nhưng tay không còn khả năng cầm giữ một vật gì cho chắc. Có tai đó, mà có khi người ta hét bên tai cũng không nghe thấy gì. Có mắt đó, mà không còn xác định được người hay vật ngay trước mặt mình. Ðó là tình trạng bất lực.

Tuy tới tuổi già, thân xác và tinh thần sẽ lâm vào tình trạng bất lực. Nhưng có một khả năng tâm linh không trở thành bất lực. Ðó là khả năng cầu nguyện và kết hợp với Chúa.

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong thư gửi cho những người già vào năm 1999, đã tâm sự với các tu sĩ già rằng:

“Hội Thánh tin tưởng nơi phần đóng góp của anh em qua lời cầu nguyện liên lỉ, chờ đợi các lời khuyên già dặn kinh nghiệm cụ thể của anh em, và chứng tá cho Tin Mừng mà anh em sống hằng ngày làm giầu cho Hội Thánh.”

  1. Tuổi già giống trẻ thơ?

Nếu đem so sánh hình ảnh một em bé mới sinh ra với một cụ già thập tử nhất sinh, người ta thấy khác nhau một trời một vực. Em bé như chiếc bông hoa xinh tươi mới nở. Còn cụ già như chiếc hoa đã héo tàn.

Tuy nhiên, trong cái khác biệt già trẻ đó, tôi vẫn thấy có những điểm tương đồng rất ngộ nghĩnh:

– Một bé thơ không thể tự ăn uống được và thức ăn phải là đồ lỏng. Một cụ già ăn uống cũng phải có người đút và cụ cũng không thể ăn thức ăn cứng được nữa.

– Một em bé cần phải mặc tã thì một cụ già cũng cần phải mang cái thứ đó khi không còn khả năng kiềm chế bộ phận bài tiết của mình.

– Một em bé ăn rồi lại nhắm mắt ngủ li bì thì một cụ già nằm trên giường bệnh cũng y hệt như vậy.

– Một em bé thường hay hờn hay dỗi, có khi còn giả vờ đau đớn để được mẹ vỗ về an ủi. Các cụ đến tuổi về già tính nết cũng y hệt như vậy, động một tí là hờn là dỗi, bỏ cơm không chịu ăn, bắt phải năn nỉ muốn đứt hơi mới chịu ăn trở lại. Có những cụ đau yếu được các con thay phiên săn sóc y như thể ra mặt nhõng nhẹo, giận hờn, đòi này đòi kia đủ thứ, hỏi gì cũng chỉ nhắm mắt, không thèm trả lời, ra điều mệt mã lắm.

– Khi Chúa Giêsu nói rằng chỉ những người giống như trẻ thơ mới được vào nước Thiên Ðàng. Nhiều cụ sợ không được lên Thiên Ðàng vì làm sao già lụ khụ mà giống trẻ thơ được. Vậy thì hôm nay, các cụ yên trí, các cụ cũng có nhiều điểm giống trẻ thơ lắm! Nước thiên đàng là của các cụ bé thơ” đấy!

  1. Tuổi già hay bệnh tật

Tuổi già gắn liền với bệnh tật. Phật giáo nói rằng trên đời có 4 cái khổ: Sinh, Bệnh, Lão, Tử.

Đúng là có trẻ thì có già, mà già thì tất nhiên có Bệnh và rồi dẫn tới Tử. Khi phải đối diện với đau khổ, con người cố gắng tìm cách xa lánh nó, hoặc có tôn giáo dạy cách diệt trừ nó. Nhưng hỏi rằng xưa nay đã có ai trên đời diệt được Sinh, Bệnh, Lão, Tử chưa?

Ðạo Công Giáo dạy con người phải thánh hoá khổ đau, biến khổ đau thành tình thương và rồi khổ đau sẽ trở thành niềm hoan lạc. Ðời sống của các thánh đều chứng minh rằng các ngài đã không sợ đau khổ, trái lại, vì lòng yêu Chúa và yêu tha nhân, chính các ngài đã chấp nhận chịu đau khổ cho chính mình.

Nhưng, còn việc Sinh, Tại sao lại nói Sinh là một trong 4 cái khổ?

Chúng ta biết chắc rằng mỗi khi một em bé được sinh ra, cả gia đình mừng rỡ. Vì Sự sống là một ơn huệ cao trọng nhất Chúa ban cho loài người. Trong thư của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngày 1-10-1999, gửi riêng cho người già, với tâm hồn thi sĩ, Ngài đã viết rằng:

“Chỉ cần nhìn cảnh vật thay đổi quanh năm, trên núi đồi, trên đồng bằng, trên đồng cỏ, trong thung lũng, trong rừng rậm, trên cỏ cây, thì đủ hiểu. Có sự tao phùng giữa nhịp sống của con người và các chu kỳ của thiên nhiên, mà con người là một thành phần.”

Về những đau khổ do bệnh tật gây ra, ÐGH Gioan Phaolô II cũng đã nói với các bệnh nhân rằng:

“Chính tình yêu Kitô giáo mang lại giá trị và ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, cả khi tật nguyền bệnh hoạn, lấy mất đi sự toàn vẹn của thân xác. Thưa anh chị em, như Chúa Kitô trên Thập giá, anh chị em thật mạnh mẽ.”

Nói đến đây, tôi nhớ lời Ngôn sứ Isaia: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” Mt. 8,17.

Vậy là các cụ hãy quẳng gánh lo đi các cụ nhé!

  1. Tuổi già và sự Chết

Ngày xưa, có lẽ những người thuộc thế hệ già như chúng ta thường nghe trong kinh bổn có hai chữ: “Tứ chung”. Vâng, đó là bốn cái cuối cùng của con người: Chết, Thiên đàng, hoả ngục, và phán xét, mà mọi người phải trải qua.

Nhưng có một điều chắc chắn ai trong chúng ta cũng đã thấy và chứng kiến cái chết của nhiều người trong đó có những người thân; nó hiển nhiên phải xẩy đến, nhưng không biết khi nàoĐúng thế, Tình trạng này chắc chắn phải xảy đến, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ được. Vậy, Chúng ta phải chuẩn bị, để một ngày không xa, khi chúng ta phải đối mặt với nó.

Tuy có nhiều người chết trong lúc còn trẻ vì tai nạn, vì bệnh tật. Nhưng tuổi già thì gắn liền với sự chết. Thêm một tuổi đời là tiến gần đến sự chết.

Thưa qúy vị, cái chết có thực sự đáng sợ lắm không?

Xin hãy nghe Thánh Phaolô khi về già Ngài viết:

“Còn tôi sắp phải đổ máu ra để làm lễ tế, đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp, đã chạy hết chặng đường mà giữ vững đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa công chính mà Chúa là Ðấng phán xét dành cho tôi. (1Tim.4, 6-8).

Trong bài giảng cho giáo triều Roma vào năm 2000, Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã nói về sự chết như sau:

“Ðó là ‘giờ’ xinh đẹp nhất, ‘giờ’ của sự sống chứ không phải của sự chết. Ðó là lúc gặp gỡ Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ trông thấy Ngài. Ngài đứng đó chờ đợi chúng ta và cùng với Ngài chúng ta cũng sẽ gặp Mẹ Maria.

Vì thế, nên khi còn sống đã biết bao nhiêu lần chúng ta cầu khấn Mẹ để xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta: ‘Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử’.

Mẹ sẽ tiếp đón chúng ta như một Hiền Mẫu yêu thương và dẫn đưa chúng ta là con cái dấu yêu của Mẹ đến với Thiên Chúa Cha.”

Thưa quý vị,

Như vậy thì “Sinh, Bệnh, Lão, Tử” theo quan niệm của đạo Công Giáo không còn phải là những nỗi khổ đau trên đời nữa. Tuy nhiên, có một vài vấn đề chúng ta thường gặp thấy trong khi dự các đám an táng mà tôi nghĩ chúng ta phải cùng nhau xem xét lại hôm nay.

Trong một số tờ Cáo Phó, chúng ta thường đọc rằng:

“Gia đình chúng tôi vô cùng đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc: Cha của chúng tôi là ông Giuse ……. vừa được Chúa gọi về.”

Thưa quý vị, nếu thân nhân chúng ta được Chúa gọi về thì có gì mà phải vô cùng đau đớn?

Vì thế, tôi xin đề nghị chúng ta sửa lại lời cáo phó đó. Chẳng hạn: Trong niềm hy vọng vào mầu nhiệm Phục Sinh, chúng tôi xin loan báo đến thân bằng quyến thuộc: Cha của chúng tôi là Ông Giuse Nguyễn Văn…. vừa được an nghỉ trong Chúa…”

KẾT LUẬN:

Để kết luận, Tôi xin lặp lại một câu chuyện vui do chính Ðức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã kể trong một buổi thuyết giảng cho giới già tại Chi Dòng Ðồng Công Missouri, vào Năm Thánh 2000:

Có một cha sở già đến tuổi về hưu. Ngài xin Ðức Giám Mục cho ngài rời nhiệm vụ để về nhà dưỡng lão chuẩn bị dọn mình chết lành. Bổn đạo nghe vậy thì buồn lắm, liền kéo nhau đến năn nỉ cha ở lại:

– Thưa cha xứ, cha về hưu, bỏ lại chúng con mồ côi, mồ cút, không ai trông nom dạy dỗ chúng con. Xin cha thương ở lại với xứ chúng con. Khi nào cha chết chúng con hứa sẽ làm ma thật lớn để chôn cất cha. Cả giáo xứ sẽ đội khăn tang và sẽ đọc kinh cầu nguyện cho cha vĩnh viễn, suốt đời.

Cha xứ cứ một mực xua tay lắc đầu:

– Thôi, cụ ở với chúng bay mấy chục năm nay đủ rồi. Bây giờ cụ phải lo việc phần hồn của cụ. Mai ngày cụ chết chúng bay không chôn thì cũng có người khác chôn, chẳng ai để cụ nằm chết thối tha. Ðám ma lớn hay nhỏ cụ cũng chẳng cần, vì chết rồi cụ đâu còn biết gì nữa. Còn việc chúng bay hứa cầu nguyện cho cụ thì cũng tốt thôi, nhưng việc đó còn tùy nơi cụ. Cụ mà ăn ở đẹp lòng Chúa thì cụ được lên thiên đàng. Lúc đó cụ chẳng cần chúng bay cầu nguyện. Mà nếu chẳng may cụ có phải xuống hỏa ngục thì tụi bay có cầu nguyện đời đời hay vĩnh viễn thì cũng vô ích thôi. Hoặc giả mà cụ có vào lửa luyện tội thì ai sao mình vậy. Người ta ra thì từ từ cụ cũng có ngày được ra vậy.

Đức Thánh Cha Biển Đức nhắn nhủ người già đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều.

Ngài nhấn mạnh rằng:

Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng.

Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống, thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn.

  1. gì trên khuôn mặt chúng ta, luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, và không bao giờ buồn sầu”.

 Thưa quý vị,

Trước khi dứt lời, còn một thứ mà tôi biết chắc chắn ai cũng có, có dư thừa, nhưng đôi lúc chúng ta không muốn cho đi: Ðó là NỤ CƯỜI.

Chúng ta phải công nhận rằng nhiều khi trong cuộc đời chỉ có một nụ cười xuề xòa, nụ cười tha thứ, nụ cười dễ dãi, mà chúng ta cũng không muốn cho đi…

Ðổi lại, chúng ta toàn cho con cái, cháu chắt hay anh em trong Cộng Ðồng những cái nhăn nhó, quặu cọ, phê bình và chỉ trích…

Tắt một lời, chỉ có NỤ CƯỜI mới có thể hoán cải được những sai trái của con cháu hoặc anh em chúng ta.

Vậy hãy cho đi và phải cho đi hết những nụ cười mà chúng ta còn có thể cho được.

Cuối cùng, Tôi xin mượn lời một triết gia để kết thúc:

“Bạn phải làm sao để khi vừa sinh ra thiên hạ cười trong lúc bạn khóc, nhưng khi bạn chết thì thiên hạ khóc trong lúc bạn cười.”

Xin cám ơn.

(ATN Vũ Huy Thiện).