ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

(Tâm Tình Mùa Chay)

 Tuyết Mai

** Nói chung thì có tiền mới cho gia đình cuộc sống thoải mái và cho chúng ta những thứ cần thiết trong đời sống rất căn bản ngày qua ngày – như có chỗ ăn, chỗ ở và chỗ nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả.

Thiếu “Tiền” là chuyện mà không ai biết rành hơn bằng người homeless cả và họ cũng đông vô số kể nhưng Thiên Chúa của chúng ta hẳn đâu có muốn họ ra như thế nhưng vì cuộc đời Chúa đã tác thành cho từng người và ban cho tất cả có cuộc sống tự do – nên hậu quả không tốt là do chính họ đã để cho sự dữ dẫn đi sai đường mà Thiên Chúa không ngăn cản được.

** Nhưng nếu chúng ta cứ mãi sống trong hốt hoảng, lo âu và phát bệnh vì cứ lo sợ rằng ngày mai chúng ta sẽ thiếu tiền hay hết tiền xài thì là điều quá đáng vì chúng ta thiếu tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Đấng luôn yêu thương, luôn trao ban cho con người cuộc sống dư đầy và sung mãn.

Và Thiên Chúa đã chứng minh điều đó qua cái chết nhục hình mà Chúa Giêsu (Con duy nhất của Chúa Cha) đã phải gánh chịu để chứng minh tình yêu trọn vẹn là gánh thay mọi tội lỗi của con người. Để rồi con người sau khi lìa đời cũng sẽ được lên Trời sống hạnh phúc bên ba ngôi Thiên Chúa, Chúa chúng ta.

** Giả như ngày hôm nay Chúa gọi ta ra khỏi đời này mà về với Chúa thì chúng ta sẽ trả lời sao với Chúa đây?. Hay rằng thưa: “con chưa muốn đi vì con chưa kịp sống”. Hay rằng con chưa thỏa mãn vì chưa đủ giàu; chưa tậu đủ những thứ con ao ước muốn có, chưa có được vợ đẹp con khôn hoặc con chưa trả thù được mối thù của những người đã hại con, v.v.v…

** Nếu sự trả lời của chúng ta là một trong những điều tương tự giống như ở trên hoặc hơn nữa thì đã chứng minh cho thấy chúng ta là con người ích kỷ và đã sống quá trật với con đường mà Thiên Chúa đã dạy cho chúng ta cách rồi đó không? Đó là con đường yêu thương, những tưởng ai cũng làm được nhưng thực sự thì rất khó cho những ai sống trong ích kỷ.

Vì con đường mà Thiên Chúa muốn Nơi ta đến không cần mang theo bao bị hay ba-lô gì cả như khi Chúa sanh ta ra đời trần truồng thế nào thì khi ta ra đi ta trần truồng thế ấy, để trở về cùng cát bụi.

** Nơi ta đi không cần phải có ba-lô chất cho thật nặng, thật đầy những lượng vàng trong đó. Chỉ sợ rằng ba-lô càng nặng, càng đầy thì sức nặng của nó chỉ kéo chúng ta xuống Hỏa Ngục nhanh hơn chúng ta có thể ngờ được. Chúng ta cần hiểu rằng tiền, tài, danh vọng và mọi thứ quý giá nhất trên trần gian này đối với Thiên Chúa chúng chỉ là những phân bớn dơ bẩn mà thôi.

Do đó sự khôn ngoan nhất của người Kitô hữu là luôn sống trong sự chuẩn bị; chọn cách sống sao để bất cứ giờ phút nào Chúa đến gọi ta ra khỏi cuộc đời này… Thì sẽ là điều vui mừng khấp khởi mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa, con sẵn sàng và xin vâng để được về với Chúa ngay liền giây phút này đây”.

** Nếu chúng ta không biết cách sống sao cho nên tốt thì khuyên nên tìm đọc những gương tốt lành của các thánh khi các ngài còn sống để giúp chúng ta sống được bình an trong tâm trí và trong tâm hồn. Học cách dùng đồng tiền để sinh mưu ích, để được có lợi ích cho linh hồn của chính mình và của nhiều linh hồn khác nữa.

Nếu chúng ta biết để mọi việc và mọi sắp xếp cho Chúa cùng đem Lời Chúa ra thực hành. Vì nếu không thì ai có thể đảm bảo được linh hồn sống đời của chúng ta sẽ không bị quỷ dữ chúng khống chế, lấy cắp và đem theo xuống Hỏa Ngục muôn đời.

** Ở đời thì ai cũng học biết sự Căng Thẳng về tiền bạc nó giết người cách im lặng nhất, nhanh nhất và độc hại nhất vì không có dấu hiệu báo trước. Một là cho ta đứt mạch máu não. Hai là bị nhồi máu cơ tim. Đối với chúng ta thì điều nào cũng là khủng khiếp và không ai muốn cho ngày đó xảy ra cả!

Ấy vậy mà khi xẩy ra thì là do chính chúng ta gây ra và rồi phải tự một mình gánh chịu. Thưa có thực tế lắm không vì nếu chúng ta có còn sống đi chăng nữa thì cũng chẳng còn một người thân để ở đó chăm sóc, hầu hạ cho chúng ta ngày đêm, khi thân xác sống như loài thực vật.

Hóa ra thì tiền chúng ta làm ra dành dụm, cất giấu bấy lâu; bao nhiêu cơ đồ chúng ta cố công gầy dựng… ai đâu đó sẽ hưởng dùng hay phá đổ mà chúng ta không còn làm gì được.

** Lạy Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, trong Mùa Chay Thánh này xin Chúa mở rộng lượng từ bi giúp cho đôi mắt đức tin của chúng con được sáng hơn. Đổi mới trái tim để biết rung cảm trước tình người hơn và sưởi ấm tấm lòng của chúng con để chúng con sống bác ái hơn. Nhất là hiểu rằng con người thì luôn cần có Chúa hơn hết cả thảy, hơn cả bất cứ kho tàng quý giá nào trên trần gian này. Vì khi chết là chấm dứt tất cả. Amen.

** Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

28 tháng 3, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

http://www.youtube.com/watch?v=1g-kjKGbEZI

(Hãy Tìm Chúa Vì Kiếp Người Sống Là Bao)

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Kimtrong Lam  Lương Văn Can 75.

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Người Dịch: Nguyên Phong

Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết:

“Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được.”

Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La Revue Spirite:

Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử.

Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: “Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?”

Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con.”

Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: “Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi.”

Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cầu cơ này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành bức thư như sau:

Các con thân mến,

Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội nói lại cho các con biết.

Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mỏi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với “tần số rung động” (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.

Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú, v.v…

Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là khuôn vàng thước ngọc thì đời sau lại bị coi là cổ hủ, lỗi thời; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi những giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán… nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang những thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vật chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự trải nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên cá nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một dòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sự của nó. Cũng như sóng biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu. Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

Nguyên Phong dịch

CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Lm. Kiều Công Tùng

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào thành Giê-ru-sa-lem.  Một cuộc kiệu tưng bừng tiếng tung hô: “Hoan hô thái tử nhà Đa-vít!  Chúc tụng Vua Ít-ra-en,” nhưng lại nhuốm buồn vì liền ngay sau đó chúng ta được nghe trình thuật về cuộc thương khó của Chúa.  Trong suốt Tuần Thánh này, có ba cuộc kiệu như thế.  Hai cuộc kiệu còn lại vào chiều thứ Năm tuần thánh – kiệu Mình Thánh Chúa, và Đêm Vọng Phục Sinh – kiệu Nến Phục Sinh.  Những cuộc kiệu trong khung cảnh cuộc thương khó vừa mở ra trước mặt chúng ta một con đường, vừa như là một nhắc nhớ: đằng sau buồn thương có niềm vui cứu độ, qua khổ nạn sẽ là Phục Sinh.

Đường đưa tới vinh quang

 Bài thương khó theo thánh Mát-thêu đã gợi lên những hình ảnh xem ra hoàn toàn trái ngược với cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem.  Thật vậy, việc Chúa được dân chúng tung hô đón rước khi Ngài vào thành thánh chỉ là hình ảnh báo trước vinh quang đích thực Ngài sẽ nhận được khi Chúa Cha cho Ngài sống lại từ cõi chết.  Nhưng để được vinh quang ấy, Đức Giêsu phải đi vào con đường khổ nạn, phải tự hiến mình làm hy lễ dâng lên đẹp lòng Cha.

Rất nhiều lần chiêm ngắm bức ảnh Chúa hấp hối, chúng ta thấy được gì phía sau hình ảnh một Chúa Giêsu đẹp đẽ uy nghi quì gối bên một phiến đá dưới ánh trăng vàng đầy thơ mộng?  Chúng ta có nhận thấy một Đức Kitô đang gập mình xuống đất, oằn oại trong cơn khủng hoảng vượt quá sức mình?  Chúng ta có hiểu được lời Ngài thổ lộ với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26, 38) và cả tiếng kêu thống thiết trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Nỗi đắng cay như vây kín và xiết chặt lấy Ngài, đắng cay của người bị bạn mình phản bội, của Thầy bị môn đệ chối từ và bỏ rơi, của Đấng cứu tinh bị dân mình loại trừ.  Tất cả đều do sự ích kỷ, lòng kiêu căng và nỗi tham vọng của con người.  Thân xác Chúa khổ sầu đến nỗi mồ hôi máu đổ ra và tâm hồn Ngài gần như tan nát không phải vì những roi đòn và nhục mạ, nhưng chính là gánh nặng của tội lỗi nhân loại. “Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53, 4).

Qua khổ nạn mới đến Phục Sinh.  Đó chính là chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhờ đó Chúa Cha và Chúa Con được tôn vinh.  Còn trong thực tế cuộc sống, có nhiều người lại muốn đạt đến vinh quang bằng những con đường ngắn nhất và dễ nhất.  Cuối cùng, những gì mà họ có được chỉ là hư ảo, tầm thường nhất và cũng mau qua nhất.

Đường nở hoa tình yêu

 Đức Giêsu chịu chết khổ hình nhằm cứu chuộc nhân loại và cũng để tôn vinh Thiên Chúa Cha.  Nhiều khi ta tự hỏi: có cần phải như thế với một Thiên Chúa quyền năng?  Hẳn rằng điều làm cho Hiến Lễ Thập Giá của Đức Giêsu trở nên có giá trị và đem lại ơn Cứu Độ không phải là đau khổ hay sự chết, mà là tâm tình vâng phục trong yêu mến đối với Chúa Cha; nhưng chính đau khổ và Thập Giá lại là cách thế diễn tả tâm tình đó thật tuyệt vời.

Sự vâng phục yêu mến của Đức Giêsu đã được I-sai-a báo trước qua hình ảnh người tôi trung: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50, 5).  Còn thánh Phao-lô đã ca ngợi: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 7 – 8).  Lời cầu nguyện của Đức Giêsu thưa với Chúa Cha trong vườn cây Dầu đã nói lên tất cả sự vâng phục yêu mến: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26, 42).

Con Thiên Chúa đâu có lạ gì với những đau khổ của phận người khi bước vào trần gian.  Đứng trước con đường khổ nạn, Ngài không hỏi tại sao cũng chẳng buông lời nguyền rủa, nhưng Ngài đã bước đi và đi tới cùng với tất cả tình yêu, tình yêu thật lớn lao dành cho Cha và nhân loại, và lập tức bao nhiêu đau khổ kia trở nên ý nghĩa.  Con đường Thập Giá bỗng nở hoa rộn ràng.  Cây Thánh Giá đã trở nên lộng lẫy với vương miện tình yêu.  Qua đó, Đức Giêsu cũng dạy cho con người một bí quyết để sống hạnh phúc, để có hòa bình: Tình yêu và tha thứ.

Như thế, con đường mà Phụng Vụ Tuần Thánh đang mở ra cho chúng ta chẳng phải là “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về,” nhưng là con đường đã in dấu chân, đã thấm mồ hôi và đã mang cả trái tim của Thầy Giêsu – Con Đường Thập Giá.

Cùng Chúa ta lên đường

 Lời Chúa hôm nay muốn đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá của Đức Giêsu không phải để gợi lên trong ta niềm thương cảm đau xót, nhưng là muốn mời gọi chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá.  Rước lá đi theo Chúa trong vài giờ là điều dễ.  Theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó khăn gì.  Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.

Pascal đã nói: “Chúa Giêsu sẽ còn hấp hối đến tận thế.”  Mỗi năm có hàng triệu thai nhi bị loại khỏi lòng mẹ một cách bất công.  Và còn bao nhiêu người đang ở trong điều kiện sống chẳng xứng với phẩm giá của mình.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối giữa thế giới hiện đại.  Chúng ta vẫn gặp những Kitô hữu đang bị lo lắng, buồn rầu, ấm ức… dày vò nghiền nát.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối trong nhiệm thể Ngài.  Và chính đời sống chúng ta nhiều khi cũng nhuốm phiền muộn, bất an, lo sợ, nghi ngại và xáo trộn.  Nếu ta biết đón nhận với lòng khiêm tốn và tình yêu để cứu rỗi thế gian thì trong ta, Đức Kitô cũng đang tiếp tục hấp hối và thân thưa với Chúa Cha rằng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha hoàn toàn.”

Đã hơn 2000 năm rồi, tất cả những gì đã xảy ra dường như vẫn đang còn diễn lại.  Chúng ta vẫn đang cùng Đức Giêsu đi vào đời và ở trong đời với lý tưởng cứu thế.  Chớ gì lời Đức Giêsu mời gọi: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” (Lc 9, 23) luôn vang vọng bên tai chúng ta mỗi khi phải đối mặt với thử thách hay khi bị lăng nhục nhạo cười…  Sau khi đã hiểu thấu ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa, hẳn chúng ta sẽ thấy yêu Thánh Giá của Chúa hơn, và cũng mến Thánh Giá của mình hơn, đồng thời biết kính trọng Thánh Giá của người khác nữa.

Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu Thương Khó, có lẽ mỗi người chúng ta đều rất sốt sắng với lời hát: “Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình…  Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối…”  Chớ gì chúng ta luôn có được tâm tình của Đức Giêsu hôm nay, để hân hoan tiến bước vào đời tiếp tục con đường nên Thánh và cứu thế của Ngài, Con Đường Tình Yêu dẫn tới Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.

Lm. Kiều Công Tùng

From: Langthangchieutim

Luật Bù Trừ

CÙNG NHAU SUY GẪM…

Mỗi cuộc chơi đều có quy luật riêng của nó và cuộc đời mỗi người chúng ta đều phải vận động trong quy luật tối cao nhất trong trời đất. Có bao giờ bạn than trách về sự bất công của cuộc sống hay phàn nàn với những điều bất hạnh xảy ra với ta.

Mời các bạn chiêm nghiệm những quy luật sống trong đời để nhìn nhận sâu sắc hơn về cuộc sống xung quanh ta các bạn nhé!

***

Luật Bù Trừ

Một thực tế mà chúng ta thường thấy trong cuộc sống về quy luật bù trừ đó chính là câu chuyện về trúng số độc đắc.

Rất nhiều trường hợp sau khi may mắn sở hữu gia tài đồ sộ nhờ vào phần thưởng trúng số thì sau một thời gian, họ lại lâm vào tình cảnh nợ nần, bệnh tật, gia đình mất hạnh phúc…

Mọi chuyện trên đời này đều có sự đánh đổi lẫn nhau. Trong quy luật này, cái lợi luôn đi cùng với cái hại và ngược lại khi được một thứ gì thì lại mất đi một cái khác.

Chúng ta nên sống dựa theo quy luật này để cảm thấy bình tĩnh trước những mất mát trong cuộc đời và đừng quá tự mãn về những gì mình đang có.

Không ai biết sự đánh đổi này sẽ xảy ra khi nào. Cuộc sống vốn dĩ luôn vận động và vô thường như thế.

Việt-Trump, tâm lý mâu thuẫn và xung đột

Việt-Trump, tâm lý mâu thuẫn và xung đột

Bởi  AdminTD

Nhã Duy

27-3-2021

Nếu những cuộc tuần hành ủng hộ Donald Trump từng nổ ra với cờ xí ồn ào và liên tục trước kia trong cộng đồng người gốc Việt ở Mỹ, thì hầu như các tổ chức cộng đồng đều im bặt hay gượng gạo lên tiếng trước nạn tấn công vào người gốc Á châu hiện nay, ngoại trừ một nhóm nhỏ các cá nhân và tổ chức cấp tiến người Việt lên tiếng.

Các bản tin về các cuộc tuần hành hay thắp nến bày tỏ thái độ chống lại nạn kỳ thị và bạo lực nhắm vào người gốc Á, trong đó người Việt cũng là nạn nhân, cho thấy chỉ có một số nhỏ người gốc Việt tham gia. Nếu những cá nhân, cơ quan truyền thông Việt từng ủng hộ Trump cuồng nhiệt, liên tục đăng hình ảnh, tin tức ủng hộ Trump trước kia, thì hiện nay có vẻ họ né tránh sự việc này, một phần vì công luận cho rằng Trump là nguyên nhân.

Người gốc Việt ở bang Texas xuống đừng ủng hộ Trump trước ngày bầu cử. Nguồn: Dateline

Cộng đồng người gốc Việt ủng hộ Trump (gọi vắn tắt là Việt-Trump) ở Mỹ, dường như luôn đứng bên lề, hay đúng hơn là luôn đi ngược lại với xã hội Mỹ mà họ đang sống. Cộng đồng này vốn là một cộng đồng tự mâu thuẫn trong nhiều vấn đề. Là những người di dân, họ chống đối người di dân. Là người thiểu số, họ kỳ thị các sắc dân thiểu số khác. Là người phụ thuộc vào các chính sách dân sinh lâu đời của đảng Dân Chủ, họ chống đối đảng Dân Chủ. Là sắc dân nghèo, họ ủng hộ các chính sách dành cho người giàu. Là nhóm bị kỳ thị, họ ủng hộ những nhóm kỳ thị. Nhóm nhỏ có học vấn và thành đạt hơn thì ích kỷ, không muốn san sẻ những gì họ từng được giúp đỡ trước đây để có được hôm nay. Có thể kể thêm vô số điều khác nếu cần phải kể thêm.

Đó là lý do trong khi các cộng đồng thiểu số, kể cả người Mỹ bản xứ đã phản đối và truất phế Donald Trump, cũng như tỉ lệ người dân đồng thuận với tổng thống Joe Biden tăng cao thì trong cộng đồng Việt, nhiều người vẫn còn đang hoang tưởng về Trump và tiếp tục phản đối vô cớ tổng thống Joe Biden cùng hệ thống nước Mỹ, dù chỉ là những lời lẽ bất nhã hay một số câu chuyện tiểu tiết trên mạng xã hội.

Hãy thử phân tích hiện tượng này qua những xung đột tâm lý của nhóm người Việt này với ba yếu tố mâu thuẫn và xung đột nội tại, cộng đồng và vô thức ra sao.

Xung đột nội tại xảy ra khi sống và thừa hưởng tất cả quyền công dân và quyền lợi trên đất nước Hoa Kỳ này, nhưng trong vài thập niên qua, những người Việt-Trump này xem như không thuộc về nó, không quan tâm mà chỉ chú ý, hô hào vô vọng ở bề nổi cho các vấn đề không thuộc về đất nước này. Nước Mỹ với họ chỉ là con bò sữa để lạm dụng mọi quyền lợi cùng các phúc lợi xã hội có thể, để tìm kiếm cơ hội thăng tiến cá nhân và gia đình.

Người tha hương thường có xu hướng nhớ về quê hương, nhưng với những người Việt-Trump, họ quên đi đất nước này mới chính là quê hương của con cháu họ, cùng các thế hệ kế tiếp chứ không phải nhằm thỏa mãn cảm xúc cá nhân bộc phát của riêng mình, chỉ quan tâm đến Donald Trump từ khi ông ta bất ngờ trở thành tổng thống.

Xung đột cộng đồng, tức với người khác là điều dễ nhìn nhận. Nhút nhát, sợ hãi với kẻ mạnh nhưng lại hung dữ, cao ngạo với người thấp kém hơn mình, một đặc tính tâm lý khó có thể giúp nhóm người Việt-Trump thật sự hòa nhập vào đất nước đa văn hóa, đa sắc tộc này. Họ kỳ thị chính với cộng đồng mình khi phân biệt vùng miền, gốc gác, đến Mỹ bao lâu, thế nào.

Các vụ tranh chấp, tấn công hay kiện tụng đã xảy ra khá nhiều giữa các tổ chức cộng đồng tại hầu hết các thành phố nào có người Việt sinh sống. Trong bốn năm qua, nhóm người Việt này đã chia rẽ và tấn công chính con cái, thân nhân, bạn hữu của mình chỉ vì sự ủng hộ cuồng nhiệt Donald Trump thì liệu có ai khác họ có thể chung sống?

Nhiều người đi xa hơn khi công khai sỉ nhục các cộng đồng bạn và những lãnh đạo da màu khác, tấn công vào giới trẻ khác chính kiến trong chính cộng đồng mình và ủng hộ các nhóm thượng tôn sắc tộc. Đó là điều gây rủi ro chung cho cả cộng đồng gốc Việt.

Và cuối cùng là xung đột vô thức, điều xảy ra khi các yếu tố về nhận thức, tri thức bị loại trừ. Bị xem là nhóm di dân sống quần tụ nên có sự hạn chế về ngôn ngữ và văn hóa bản xứ, họ dễ tin vào các thông tin được nhào nặn có ý đồ và phù hợp với ý họ hơn là sự thật. Niềm tin vô thức thiếu tính lý trí và nhận thức dễ đưa nhóm này vào các suy nghĩ và hành động phản xã hội mà chính họ không nhận ra.

Tất nhiên vẫn có một nhóm nhỏ những người mê Trump có học vấn và am hiểu ngôn ngữ thì điều này càng đáng tiếc hơn. Bởi họ đã phản bội lại nền giáo dục khai phóng, đề cao các giá trị dân chủ và con người mà họ từng theo học nhưng không thụ đắc. Bằng cấp cuối cùng chỉ còn là tay nghề chứ không phải nhân cách, lẫn tư cách cần có.

Nhưng dẫu thuộc nhóm nào, sự tham lam, ích kỷ là một trong những đặc tính lớn và nguy hiểm nhất của không ít người Việt, làm suy thoái xã hội từ trong ra đến nước ngoài nói chung. Đến được Mỹ vào những giai đoạn kinh tế phát đạt và những chính sách an sinh dễ dàng đã được chính phủ hào phóng giúp đỡ, cũng như may mắn được thừa hưởng những điều mà các cộng đồng khác đã tranh đấu trước kia, nhóm này dường như không có những ý niệm và kiến thức lịch sử cùng tấm lòng để có thể có tâm tình cảm tạ và sống bao dung, giúp đỡ lại người khác và những người đến sau mình. Nước Mỹ chưa bao giờ mở tung biên giới dưới bất cứ nhiệm kỳ tổng thống nào như cáo buộc, các chính sách chỉ thể hiện sự nhân đạo khác nhau mà thôi.

Mặt khác, lấy sự thành công cá nhân của một nhóm người Việt cần mẫn và có trách nhiệm với đất nước này, cũng như sự thăng tiến của thế hệ trẻ để xem như thành công của mình, nên nhóm Việt-Trump này tỏ ra cao ngạo và hãnh tiến về chuyện “vẻ vang dân Việt”, dù thực chất là một cộng đồng có quá nhiều điều tiêu cực và yếu kém cần phải thay đổi.

Muốn phát triển và thăng tiến cộng đồng thì không chỉ thôi ảo tưởng về những điều không có thật mà cho dù khó khăn hay khó nói hơn, cộng đồng Việt cũng phải thẳng thắn nhìn nhận về sự yếu kém của mình với hiện tượng cuồng mê Donald Trump đã phô bày trọn vẹn. Đó là bước đầu tiên để có thể trở thành một cộng đồng có trách nhiệm trên xứ người, trước khi có thể đi xa hơn.

 “Biden là Trump cộng với nhân quyền”, Việt Nam hài lòng nhưng cũng lo ngại

 “Biden là Trump cộng với nhân quyền”, Việt Nam hài lòng nhưng cũng lo ngại

Nhận định về đường lối chung của chính quyền Biden đối với Trung Quốc, nhật báo Pháp Le Monde ngày 23/03 vừa qua đã có một công thức rất lý thú khi cho rằng, nhìn từ Bắc Kinh,

– “Biden là Trump cộng với nhân quyền”, tức là còn tệ hại hơn đối với Trung Quốc.

Tờ báo liệt kê một loạt hồ sơ:

– “Thuế quan ư? Vẫn được duy trì.

– Các biện pháp chống lại Hoa Vi, ZTE và các đại gia công nghệ khác của Trung Quốc ư? Tiếp tục được củng cố.

– Danh sách đáng xấu hổ của các quan chức Trung Quốc bị trừng phạt đích danh vì chính sách ở Tân Cương hay Hồng Kông ư? Dài thêm ra”.

Trong lĩnh vực ngoại giao, chiến lược cũng vậy, Hoa Kỳ đã tăng cường các liên minh và quan hệ đối tác với các nước vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương với mục tiêu kềm chế đà bành trướng của Trung Quốc.

Hôm 16/03/2021 ngay tại Nhật Bản, ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken không ngần ngại lên tiếng chống lại việc sử dụng các thủ đoạn “cưỡng bức và gây hấn”, cho rằng các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông và Biển Đông khiến cho căng thẳng gia tăng trong quan hệ Mỹ-Trung.

Ông Blinken đã cảnh cáo: “Chúng tôi sẽ trả đũa nếu cần thiết khi Trung Quốc sử dụng biện pháp ép buộc và gây hấn để đạt được mục đích của mình”.

Đối với chuyên gia Mỹ Derek Grossman thuộc trung tâm tham vấn Rand Corporation, việc chính quyền Joe Biden cứng rắn đối với Trung Quốc có thể vừa khiến Việt Nam vui mừng, vừa tạo ra một số lo âu nhất định.

Rõ ràng là chính quyền Biden có kế hoạch tiếp tục hướng cạnh tranh quyền lực của chính quyền Trump với Trung Quốc. Đây là một điều tốt cho Hà Nội vì Washington đang thể hiện quyết tâm lâu dài nhằm đẩy lùi tham vọng của Bắc Kinh.

Cuối cùng, Hà Nội có thể hài lòng trước quyết định gần đây của chính quyền Biden về việc đặc biệt nêu tên Việt Nam là một đối tác chính ở vùng Ấn Độ- Thái Bình Dương.

Trong bản “Hướng dẫn Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Tạm Thời” công bố ngày 3 tháng 3, chính quyền Biden viết rõ rằng: “Chúng ta sẽ… làm việc cùng với New Zealand, cũng như Singapore, Việt Nam và các thành viên Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), để phát huy các mục tiêu được chia sẻ.”

Tuy nhiên, theo chuyên gia Grossman, đường lối mới của chính quyền Joe Biden chắc chắn cũng có nhiều điểm khiến Việt Nam lo ngại, trước tiên hết là trọng tâm mà Washington đặt trở lại trên các giá trị, chẳng hạn như dân chủ, tự do và nhân quyền, vốn là vấn đề cực kỳ nhạy cảm đối với các lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chuyên gia Mỹ cho rằng đối với Hà Nội, có thể có một số lo lắng nhất định về hậu quả tiềm tàng của việc liên kết chặt chẽ hơn với một chính quyền Washington lớn tiếng hơn trên những hồ sơ này, như Mỹ đang làm với Trung Quốc.

Bên cạnh đó, còn có những khúc mắc có từ thời Donald Trump.

Hà Nội có thể lo ngại về việc liệu chính quyền Biden có hành động nhắm vào Việt Nam vì những cáo buộc theo đó Việt Nam là nước thao túng tiền tệ. Ngoài ra cũng có một yếu tố khác, tồn tại từ thời Trump, là khả năng Mỹ trừng phạt Việt Nam vì mua thiết bị quân sự của Nga.

TL – RFI.

* Biden and Trump May Have One Big Policy in Common: China

Đức Giêsu, Ngài là ai?

Đức Giêsu, Ngài là ai?

Một vị võ sư Vovinam Việt Võ Đạo, Một Phật Tử thuần thành có thắc mắc và hỏi Lạc Việt hai câu hỏi:

1– Ông Giêsu là Ai? Ông có phải là người chống bất công, bênh vực lẽ công đạo không?

2– Tại sao Ông Giêsu bị đóng đinh và chết trên cây Thập Tự?

Để việc chia sẻ hai câu hỏi, Lạc Việt cần duyệt qua bối cảnh của nhiều sự kiện liên quan đến 2 câu hỏi trên để việc trả lời dễ hiểu và dễ cảm thông hơn.

1– Sách Cựu Ước và Sách Tân Ước

Cựu Ước là bộ Lịch Sử quan trọng của Người Do Thái (Jews) liên tục ghi lại chiều dài lịch sử suốt hơn 5000 năm từ thời tạo thiên lập địa cho đến thế kỷ thứ I thời Chúa Giêsu.

Tân Ước từ thời Chúa Giêsu cho đến hết thời của các Tông Đồ.

Trong suốt 20 thế kỷ vừa qua, Cựu Ước và Tân Ước chính là bộ sách Lịch Sử Ơn Cứu Độ Cho Nhân Loại. Cũng nhờ bộ sách lịch sử này mà 2000 năm bị lưu lạc trên toàn cầu do bại trận trong các cuộc chinh phạt của các đế quốc, người Do Thái vẫn không quên nguồn cội của mình cho đến năm 1947 Israel tái lập quốc trên chính Quê Hương cũ của mình.

2– Dân Do Thái (Jews-Israel) là dân tộc đặc biệt

Thượng Đế chọn để Chúa Giêsu ra đời Cứu Nhân Độ Thế – đem lại giao hòa giữa Đất Trời và đem lại quyền “Làm Con Thượng Đế” trở lại cho Nhân Loại.

3– Chúa Giêsu là nhân vật, là người thật trong lịch sử.

Nhân thân của Ngài là con Ông Giuse và bà Maria dòng dõi 14 đời của vua David, một vị vua nổi tiếng của người Do Thái. Chúa Giêsu sinh ra tại một chuồng chiên bò tại thị trấn Bethlehem ngoại ô thủ đô Jeruselem thời vua Herode của Do Thái, và nước Do Thái lúc bấy giờ đang bị cai trị bởi Đế Quốc Roma (La Mã).

Gia đình thực sự sinh sống tại làng Nazareth gần biển hồ Galile thuộc miền Bắc nước Do Thái (Israel) hiện nay. Năm 30 tuổi Ngài bắt đầu đi giảng đạo và quy tụ 12 môn đồ.  3 năm sau, Ngài bị kết án tử hình và bị đóng đinh trên cây thập tự đau đớn cho đến chết. Đây là hình phạt hết sức dã man và ô nhục dành cho các “tội nhân” không có quốc tịch Roma.

Sau này, để có cái nhìn tổng quan về lịch sử nhân loại, một thầy dòng có lẽ vào thế kỷ 6 sau công nguyên dày công nghiên cứu lịch sử thế giới đã định năm Chúa Giesu sinh ra làm mốc thời gian là 0 khởi đầu Đệ I Công Nguyên. Trước Chúa Giêsu sinh ra gọi là Trước Công Nguyên (BC-Before Christ). Sau Chúa Giesu sinh ra là Sau Công Nguyên (AD-Anio Domini-Năm của Chúa).

Vậy theo cách tính này, Chúa Giêsu chịu chết vào năm 33 AD hay +33. Trưng Đại Đế (Trưng Nữ Vương) lên ngôi năm 40 AD giải phóng toàn bộ Đất Bách Việt khỏi sự cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán. Chúa Giêsu sinh ra tại vùng Cận Đông và Trưng Đại Đế sinh ra tại vùng Viễn Đông thuộc thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Chúa Giesu chịu án tử hình năm +33 tại vùng Cận Đông, sau đó 10 năm, Trưng Đại Đế tuẫn tiết năm +43 tại vùng Viễn Đông.  Như vậy Chúa Giêsu và Trưng Đại Đế (Trưng Nữ Vương) sinh cùng thời và cùng tại vùng Đông Á.

4– Chúa Giesu dạy dỗ nhân loại điều gì ?

Dõi theo 2 bộ lịch sử Cựu Ước và Tân Ước chúng ta rút được 2 điều

Điều thứ nhất: Đối nhân xử thế trong Cựu Ước là Công Bằng, thể hiện trong 10 Giới Răn. Tổng quan của Luật là Công Bằng cũng có nghĩa là Mắt thế Mắt, Răng thế Răng. Nó đánh Anh, Anh có quyền đánh lại.

Điều thứ hai: Đối nhân xử thế trong Tân Ước là Bác Ái vì Chúa Giêsu-Con Thượng Đế đã dùng cái chết của mình đề giao hòa Đất Trời, đã dùng cái chết của mình để trả lại Công Bình cho Thiên Chúa Cha, làm của Lễ Giao Hòa giữa Thiên Chúa và Con Người. Con người đã được trả lại quyền Làm Con Thượng Đế, nên Con Người với Con Người trở thành Anh Em cùng Một Cha. Vậy Anh Em với nhau không chỉ giữ lẽ Công Bình mà còn phải giữ Bác Ái với mọi người và yêu thương nhau như Anh Em cùng một Cha trên Trời.

Công Bình và Bác Ái đã thấm nhuần trong mọi ngóc ngách của Luật Pháp trong các hiến pháp của các nước Văn Minh – Cộng Hòa Dân Chủ Pháp Trị trên toàn cầu. Nói vắn tắt các quốc gia ấy đã thấm nhuần nền Văn Minh Kitô Giáo. (chế độ welfare, chế độ săn sóc người gìa, chế độ săn sóc người dị tật, Các Trại Cô Nhi, Các Trại Cùi, Rất nhiều Nhà Trương miễn phí … điển hình của Công Bình Bác Ái là một ví dụ).

Trả Lời 2 Câu Hỏi

1– Đức Giêsu có chống Bất Công và Bảo Vệ lẽ Công Đạo không?

Công  Bằng Bác Ái là những Lời Giảng Dạy Nhất Quán của Ngài nên mỗi sự kiện xảy ra chung quanh, Ngài luôn dùng chúng để dạy dỗ mọi người:

* Chuyện bà Góa nghèo khổ vào đền thờ cúng dường 1 xu, và ông Đại Gia nghênh ngang tự mãn cúng dường 10% Income. Chúa bảo môn đồ: bà Góa này được Chúa nhận của Lễ còn Ông Đại Gia thì không vì bà ta có Lòng Thành mà cúng dường tất cả những gì bà ấy có…

** Chuyện Người Cùng Khổ: Một người kia đi đường xa bị quân cướp cướp ngựa, lấy hết tài sản và đánh cho bầm dập rồi bỏ đi. Có vị quan rất giầu làm việc cho chính quyền bảo hộ Rome đi ngang qua, thấy vậy ngó qua rồi bỏ đi. Sau đó lại có vị chức cao trong Giáo Quyền Do Thái, thấy vậy cũng ngó qua rồi bỏ đi.

Sau cùng có một người dân thường đi ngang qua, thấy nạn nhân trong tình cảnh đáng thương bèn cúi xuống giúp đỡ, đỡ nạn nhân lên lưng lừa, đưa nạn nhân đến hàng quán gần nhất để chữa trị. Chúa Giesu hỏi các môn đồ, Ai là “anh em” của nạn nhân, Ai là người thực hiện Lẽ Công Đạo?

*** Chuyện đứa con hoang đàng đòi người Cha chia tài sản rồi ra đi xài cạn túi với bọn đĩ điếm, nhưng khi nó biết hối cải trở về thì Người Cha lại mừng rỡ tiếp nhận nó: “Vì nó chết nay nó đã sống lại…”

**** Chúa Giesu bị gài vào chuyện “phản loạn”: Có một vị quan chức trong giáo quyền Do Thái hỏi gài Chúa Giêsu: “Chúng ta có phải đóng thuế cho Roma không?”

Rome đang cai trị Israel, nếu Chúa Giesu trả lời Yes thì họ sẽ kết án Ngài là theo chân Đế Quốc, trả  lời No thì chúng sẽ tâu với quan quyền Roma: Ông Giesu này phản loạn chủ trương không nôp thuế cho Sesar. Biết vậy  Chúa bảo ông Thầy Do Thái: “hãy đưa ta xem đồng tiền”. Chúa hỏi ông ta: “Tiền này mang hình ai?” – Hình Cesar. Chúa bảo: “của Cesar trả cho Cesar, của Chúa trả cho Chúa”.

Ngày nay ta hiểu rộng hơn: Quyền Dân trả cho Dân, các quyền sống căn bản của Dân do Thượng Đế ban hãy trả lại cho Dân và đây chính là Nội Dung căn bản của Hiến Chương Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và cũng là nền tảng Hiến Pháp của các nước Tự Do Cộng Hòa trên Thế Giới.

***Chúa Giêsu mắng bọn Quan Quyền Giả Hình

Thời Chúa Giêsu, Quan Quyền Do Thái cả Đạo lẫn Đời đều rất thích khoe khoang, tự mãn và cho mình cái quyền “Ra Luật” và “Giải Thích Luật”. Coi mình là giai cấp Thượng Lưu khinh thường Dân Đen Bần Hàn.

Chúa đã dùng những lời “Mắng” nặng nề đối với những kẻ quyền uy hợm hĩnh, bọn Quan Quyền luôn muốn chất lên lưng người bần hàn hàng triệu luật lắt nhắt, sẵn sàng kết án người khác nhưng chính bọn họ không phải mang.

Chúa bảo họ, bọn quan quyền hợm hĩnh: “các ngươi  nhìn thấy cả cọng rác nhỏ trong mắt người khác, còn cái xà trong con mắt các ngươi thì lại  không nhìn thấy!”

Lúc khác ngài lại “mắng” bọn họ: “Các ngươi như những mồ mả, bên ngoài sơn vôi rất đẹp, nhưng bên trong toàn dòi bọ…”

Có lúc nhìn bọn họ khoe khoang giả hình khi dậy dỗ thiên hạ, Chúa “ngứa tai” (bức xúc) nói với mọi người: “Đừng nghe những gì chúng nói mà hãy nhìn kỹ việc chúng làm”. Câu này TT Nguyễn văn Thiệu lập lại lời của Chúa trong thánh kinh và áp dụng cho bọn Cộng Sản.

2–Tại Sao Chúa Giêsu phải bị chết treo trên cây Thập Tự

Có một số điều cần biết trước khi trả lời câu hỏi này:

* Đóng đinh và chết trên cây Thập Tự

Đây là hình phạt tội Tử Hình tàn ác nhất của Đế Quốc Roma thời đó. Tất cả những nạn nhân không phải là công dân của Đế Quốc Roma, án tử hình đều phải chịu như vậy, nạn nhân bị đóng đinh trên cây Thập Tự dãy dụa đau đớn cho đến khi tắt thở.  Riêng nạn nhân có quyền công dân Roma, thì án tử hình là chém đầu, chết nhanh chóng và bớt đau đớn hơn.

Tông đồ trưởng Phêrô người Do Thái không có quyền công dân Rome nên đã bị tử hình như chúa Giesu ngay tại thủ đô Roma (Công Trường Thánh Phero tại Roma – Ý  hiện nay). Phaolô, người Do Thái có quốc tịch Rome, là Giáo Sư Đại Học Trường Luật của Đế Quốc Roma,  người bạn đồng hành truyền đạo với Phero cũng chịu án tử hình và bị chém  đầu tại Roma (Đền Thờ Phaolô nằm ở Ngoại Thành Roma-Ý hiện nay).

** Án tử hình lúc đó không do vua Herode-Do Thái quyết định vì Ông chỉ  là Vua bù nhìn bản địa. Quyền kết án tử hình phải do Philato-quan Tổng Trấn xứ Judea của Đế Quốc Roma ra lệnh (Judea bao gồm Israel và Syria ngày nay).

*** Chúa Giesu chịu chết vì sự ganh tỵ của Quan Quyền người Do Thái

Chúa Giesu xuất hiện rao giảng một cách công khai trong ba năm. Lời Rao Giảng của Ngài như đã nói trong phần Thánh Kinh là Ngài công bố Tin Mừng Ơn Cứu Độ để Nhân Loại được trở về làm Con Thiên Chúa – Đấng Từ Bi và Nhân Hậu.

Ngài nói: “Ta đến không phải để phá bỏ Luật Moisen (luật Công Bình) mà là để hoàn thiện nó (luật Bác Ái)”. “Các ngươi hãy thương yêu nhau như Cha trên trời đã yêu mến các ngươi”.

Trước những đau khổ của Con Người thấp cổ bé miệng mà Ngài đã gặp trong 3 năm Rao Giảng Tin Mừng Ơn Cứu Độ, Chúa Giesu đã chữa lành bao nhiêu kẻ tàn tật: mù được thấy, què được đi, chết được sống lại, Kẻ có tội được tha.

Danh tiếng Ngài lồng lộng làm cho các quan chức thế quyền và giáo quyền đâm ra ganh tỵ. Họ kháo nhau:”Kìa xem chúng nó đang đi theo tên Giesu cả rồi” và tìm cách gài bẫy hãm hại Ngài.

(Ngày nay, nhiều vị trong Giáo Quyền và Công Quyền cũng thường kháo nhau: “Kìa xem, dân chúng theo tên …cả rồi!” và dè bỉu dèm pha dựng chuyện vì ai đó dám hơn mình).

*** Gài bẫy giết Chúa Giêsu (nhiều bẫy, nhưng chỉ nêu vài bẫy điển hình)

Bẫy 1: Có nên trả thuế cho Sesar không? một câu hỏi gài bẫy chính trị, Chúa thoát khi trả lời khôn ngoan và cũng vì Giờ chết của Ngài chưa đến – “Của Sesar trả cho Sesar”

Bẫy 2: Ông có phải là Vua Dân Do Thái không? Quan Tổng Trấn Philato hỏi Chúa trên công đường. Lúc đó Chúa đã bị quan quyền người Do Thái giao nộp cho quan Tổng Trấn với lý do họ tố cáo: “Ông Giesu tự xưng là vua Dân Do Thái”. Quan hỏi, Chúa Giesu không trả lời – Quan Philato có ý muốn tha Chúa Giesu vì biết Ông Giesu chẳng có tội gì, họ vu cáo gian chỉ vì ganh tỵ.

Gạn hỏi mãi, Chúa Giesu mới trả lời quan Philato: “Đúng như Ngài nói, Ta là Vua, nhưng nước ta không thuộc thế gian này… Ta đến để làm chứng cho “Sư Thật”. Philato liền hỏi: “Sự Thật” là gì ? Không đợi Chúa Giesu trả lời mà Ông quày quả đi vào trong. Có lẽ Bà Philato muốn rỉ tai Ông điều gì. Vì sự kiện này nên cho tới tận ngày nay các nhà triết học hoàn vũ vẫn còn loay hoay tìm câu trả lời cho câu hỏi của Philato: “Sự Thật Là Gì ? ”

 

Philato  trở ra với thông tin do vợ ông rỉ tai, Ông nói ý mình muốn tha Giesu trước Công Đường, Ông liền bị quan quyền Do Thái xách động quần chúng la ó: “Tên Giesu tự xưng làm vua, nếu quan tha sẽ đắc tội với Cesar”. Philato nghe điều này đổ mồ hôi hột…nghĩ rằng vì Công đạo mà tha thì mạng mình cũng dễ mất như chơi.

(Đây là vụ án điển hình Công Lý bị trù dập thành “Công Lý Mù Lòa” như hình biểu tượng của Trường Luật, hoặc một loại “Tòa Án Nhân Dân” trong “Cải Cách Ruộng Đất” của HCM).

Và Chúa Giesu đã bị Philato miễn cưỡng kết án tử hình bằng cách đóng đinh và treo trên cây Thập Tự cho vừa lòng quan quyền Do Thái… và các sinh viên trường Luật Toàn Cầu phải học qua vụ án do Philato xét xử này.

Và Chúa Giesu đã chịu chết ô nhục trên cây Thập Tự trên ngọn đồi Golgotha, ngoại ô nhưng khá gần thành thánh Gierusalem hiện nay. 

Ngài đã được chôn vội vã (vì hôm sau là ngày Sabbath lễ nghỉ) trong một Mộ Đá của một ông thuộc Giáo Quyền Do Thái tặng.

(Ông này ngấm ngầm tin theo Chúa Giêsu do vì sợ người Do Thái tẩy chay mình. 

Sau 3 ngày, Ngài đã sống lại vào ngày Lễ kỷ niệm biến cố Vượt Qua Biển Đỏ của Người Do Thái)

Chúa chịu chết có 2 nguyên nhân hay nói đúng hơn là hai ý nghĩa

1– Ý nghĩa siêu nhiên và thần học: Chúa chết là theo Thiên Ý của Thượng Đế

Vì Yêu Thương Con Người nên Chúa đã dựng nên hai Ông Bà Nguyên Tổ Adam và Eve và đưa vào sinh sống trong Vườn Địa Đàng đầy Bình An và Hạnh Phúc. (location Đia Đàng hiện nay thuộc vùng Iran Iraq, lúc đó không hoang mạc như bây giờ) và truyền lệnh hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và được quyền làm chủ vũ trụ…

Hai Ông Bà sau đó bị quỷ cám dỗ ăn trái cấm phản bội Thượng Đế “Bất tuân Thượng cấp”.

Hai Ông Bà bị đẩy ra khỏi vườn địa đàng, chịu hậu quả khắc nghiệt. Nam: phải bới đất kiếm sống. Nữ: mang nặng đẻ đau. Quan trọng nhất: mất quyền làm Con Thiên Chúa tức mất quyền “Thừa Tự”.

Thượng Đế không muốn bỏ rơi Con Người, mặc dù bị Con Người phản bội. Đức Giesu Con Thiên Chúa đã giáng trần làm người – chịu mọi sự tủi nhục và khổ đau của Con Người – cuối cùng chịu chết ô nhục trên thập tự để trả lẽ “Công Bằng” cho Thượng Đế và lấy lại quyền Thừa Kế cho Con Người và ngày nay Nhân Loại đã có cơ hội để giao hòa cùng Thiên Chúa và quyền làm Con Thiên Chúa như Đức Giêsu.

(Thiên Chúa của Kitô Giáo khác hẳn với Thượng Đế của Hồi Giáo – Đức Allah không ban quyền làm Con Thượng Đế cho bất cứ ai)

2– Ý nghĩa trần thế

Suốt cuộc sống, Đức Giesu đã đề cao Đạo Yêu Thương – sống Công Bình Bác Ái.

Thiên duyên tiền định, Ông Pherô và Ông Phaolô

Ông Phero nhà quê làm nghề đánh cá ở Biển Hồ Galile – Bắc Do Thái. Ông Phaolo giáo sư Đại Học Luật Khoa Roma (một ông nhà quê, một ông trí thức) sánh vai nhau truyền đạo tại Roma, trung tâm đế quốc Roma lúc bấy giờ.

Khi rao giảng, hẳn nhiên 2 ông phải đề cập đến Cựu Ước, về việc Thiên Chúa là Cha Nhân Từ đã sáng tạo nên Vũ Trụ cho Con Người và vì Con Người: Bầu Trời có ngọn đèn to là Mặt Trời để soi ban ngày và ngọn đèn nhỏ là Mặt Trăng để soi ban đêm.

Điều giảng dậy này được xem là khích bác và coi thường niềm tin và văn hóa của Đế Quốc Roma lúc bất giờ khi Đế Quốc đang thờ các thần của Vũ Trụ như thần Sun (Mặt Trời), thần Moon  (Mặt Trăng), thần Venus (Sao Kim), thần Mars (Sao Hỏa) etc… (Tên ngày tháng mà chúng ta đang xử dụng hiện nay đều là tên các vị Thần của nền văn minh và văn hóa La Hy (La Mã – Hi Lạp) Và hai Ông đã bị đế quốc Roma kết án tử hình vì dám so sánh hai vị thần của đế quốc là hai ngọn đèn – tội đáng trảm.

Tuy vậy một số năm lúc chưa bị cầm tù, hai vị tiên phong đã rao giảng được cho nhiều người đa số thuộc dân nô lệ (tức dân tứ xứ bị bắt làm nô lệ sau các cuộc chinh phạt mở rộng đế quốc) và các người nữ (nữ ít bị ràng buộc trong guồng máy chính quyền).

Sau khi hai vị tiên phong tử đạo, các người theo đạo cũng bị ruồng bắt và nhiều người cũng bị giết trong đó đa số là Nữ. Trong suốt 300 năm bách đạo sau đó, họ phải sống trong các hang được đào sâu dưới các nghĩa địa – họ sống giữa các kẻ chết. Hang này gọi là hang “Toại Đạo” rất sâu dưới lòng đất và chằng chịt dài khoảng 25 km (nay đã được mở cửa cho khách hành hương đến Roma tham quan).

Đến thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, sau 300 năm Đế Quốc Roma cấm đạo, lúc đó Bà Mẹ của vua Constantin đã âm thầm theo Đạo từ trước mới mạnh dạn nói với Vua là nên ra sắc chỉ “giải tỏa việc cấm đạo Kito Giáo”.

Vua nghe lời Mẹ ra sắc chỉ “Tự Do Tôn Giáo” trên toàn lãnh thổ Đế Quốc Roma. Đây là “Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo” đầu tiên của Nhân Loại. Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo chung như vậy vì đế quốc Roma lúc đó bao gồm nhiều chủng tộc và tôn giáo khác nhau, ông không muốn mang tiếng thiên vị Kito Giáo. (Hoa Kỳ có Tu Chính Án “Tự  Do Tôn Giáo và Niềm Tin).

Chính từ Đạo Luật này đã tạo cơ hội bằng vàng cho Kito Giáo, và từ trung tâm Đế Quốc Roma đầy quyền lực này, các nhà Truyền Giáo đã “trỗi dậy” từ “cõi chết” từ trong hang Toại Đạo đã tỏa ra Toàn Đế Quốc Roma, gần như “Toàn Cầu” lúc đó để truyền đạo.

Các nhà Truyền Giáo rất khôn ngoan, biết nắm bắt được thứ “Quyền Lực Mềm – Soft Power” của Đế Quốc Roma là Luật Lệ, Hiến Pháp, Ý Niệm Cộng Hòa và Quản Trị Công Quyền để phát triển các Giáo Đoàn và Giáo Phận trên Toàn Cầu.

(Cứ theo dõi cuộc tuyển chọn Giáo Hoàng Roma và cách tổ chức các Giáo Đoàn toàn cầu để thấy khái niệm “Cộng Hòa – Kết Tinh của nền Văn Minh và Văn Hóa La Hy đã được triển khai “tuyệt đỉnh” như thế nào).

Ngày nay, các nước Dân Chủ, Tự Do, Cộng Hòa trên thế giới, song song với cơ chế Chính Quyền thì đều có cơ chế Giáo Quyền. Có lẽ chữ Công Giáo để gọi Kito Giáo Roma có nguồn cội sâu xa từ yếu tố này.

Giám Mục bản chất là một trách vụ, nhưng để tương đương với Công Quyền thì đó là một chức vụ như Giám Mục Phát Diệm, Giám Mục Bùi Chu…mỗi giáo phận của Giám Mục tương đương với một Nước Nhỏ, hay một Thành Phố trong nền Cộng Hòa của Đế Quốc Roma xưa hay như địa bàn của một vài tỉnh của Việt Nam hiện nay.

(Địa Phận của một vị Giám Mục tương đương với một State của Hoa Kỳ hay một Tỉnh Bang của Canada. Ngài Giám Mục Địa Phận tương đương như một Governor).

Điển hình nước Mỹ, các nhà Lập Quốc Mỹ đã tiếp thu khá đầy đủ “Hệ Thống Quyền Lực Mềm” của thời Ông Moisen trong Cựu Ước, Quyền lực mềm của Đế Quốc Rome, Quyền lực mềm của nền văn minh Kito Giáo để xây dựng nên Hiến Pháp Hoa Kỳ và nền Quản Trị Công Quyền Hoa Kỳ. Ngay cả các loại Quyền Lực Mềm đó cũng đã là nền tảng cho Hiến Chương Nhân Quyền và các quyền chính trị của Liên Hiệp Quốc.

Đôi Điều Đúc Kết

1–Bọn Giả Hình Do Thái mà Chúa Giesu “mắng “  họ thậm tệ ngày xưa, thì ngày nay lại đông hơn nhiều và đa dạng hơn nhiều. Chúng luôn hợm mình là người “công chính” để mạt sát người khác và dìm họ xuống bùn bằng những vu chụp vu vơ không cần kiểm chứng.

Giả hình muôn hình vạn trạng đã làm cho “Thủ Đô Tỵ Nạn, Thủ Đô Chính Trị Vỡ Trận”. Giả hình muôn hình vạn trạng đã làm cho “Liên Hội Người Việt Canada vỡ trận”.

2– VC thì hơn hẳn một bực khi ngay câu đầu  của Hiến Pháp, VC tuyên ngôn rằng: Nhà Nước tôn trọng quyền tự do và bình đẳng của mọi người công dân. 70 năm qua mọi người Dân đã hiểu và biết chúng tôn trọng ra sao.

3– VC công bố trong Hiến Pháp: Đất đai thuộc sở hữu Toàn Dân, nhà Nước quản lý. 70 năm sau thì đất đai thuộc về ai mọi người đã rõ.

4- VC công bố rỉ rả trên loa suốt 70 năm qua: Đảng CS là đội ngũ tiên phong do dân và vì dân. Luôn tâm niệm Yêu Tổ Quốc Yêu Đồng Bào. Thực tế là đảng CS rất độc ác đang nắm quyền toàn trị trên mọi người Dân bằng súng đạn và nhà tù; đang tâm đưa dân tộc VN vào tròng Nô Lệ ngàn năm Bắc Thuộc như Mãn Hồi Mông Tạng hiện nay.

“Đừng nghe những gì chúng nói, mà hãy nhìn kỹ việc chúng làm” Chúa Giêsu phán trong Tân Ước.

“Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ việc CS làm” TT Thiệu lập lại.

Đừng nghe Đảng CS Tàu nói: Virus COVID-19 do “Lính Mỹ” phát tán, mà hãy nhìn kỹ “China Virus” xuất phát từ Vũ Hán China, TT Trump nói.

Lạc Việt

Mùa Chay & Mùa Phục Sinh

March & April 2021

From: Nguyen TThuy & KimBang Nguyen

TUỔI VÀO THU

Bài thơ dịch từ một bài Pháp ngữ: TUỔI VÀO THU – Un poème en 3 langues !

Bài dịch từ một bài thơ Pháp ngữ.

“JE CROYAIS QUE VIEILLIR…”
de Marcelle Paponneau

Je croyais que vieillir me rendait bien maussade,
Craignant chaque saison, les années, le tapage,
Le grand vent et la pluie, l’esprit qui se dégrade,
Les cheveux clairsemés, les rides du visage.

Et puis je m’aperçois* que vieillir n’a pas d’âge,
Qu’ il ne faut point gémir, au contraire chanter.
Et même, à petits pas, les jours ont l’avantage
D’être beaux et trop courts quant il sont limités.

Je croyais que vieillir c’était le ciel tout gris,
Le printemps sans les fleurs, les lèvres sans sourire,
Les fleurs sans chanson, les arbres rabougrir,
Un livre sans histoire, un crayon sans écrire.

Et puis je m’aperçois que vieillir rendre bien sage,
Que je vis chaque instant sans penser à demain,
Que je ne compte plus les années de mon âge,
Peu importe le temps, le crayon à la main.

Je croyais que vieillir transformerait mon âme,
Que je ne saurais plus contempler les étoiles
Que mon coeur endurci n’aurait plus cette flamme,
Qui transforme ma vie lorsque le ciel se voile.

Et puis je m’aperçois que les plus belles roses
Fleurissent à l’automne et sous mes yeux ravis,
Je respire très fort ce doux parfum que j’ose
Garder pour embaumer l’automne de ma vie.

tiếng Anh :

“I BELIEVE THAT AGING …”

Marcelle Paponneau

I thought growing old made me feel better,
Fearing each season, the years, the fuss,
The wind and the rain, the degrading spirit,
Sparse hair, facial wrinkles.

And then I realize that aging is old,
That one must not groan, on the contrary sing.
And even, in small steps, the days have the advantage
To be beautiful and too short when it is limited.

I thought that growing old was the sky all gray,
Spring without flowers, lips without smile,
Flowers without songs, trees stun,
A book without history, a pencil without writing.

And then I realize that old age make it very wise,
That I live every moment without thinking of tomorrow,
That I do not count the years of my age,
No matter the time, pencil in hand.

I thought that aging would transform my soul,
That I can not contemplate the stars anymore
That my hardened heart would no longer have this flame,
That transforms my life when the sky is sailing.

And then I realize that the most beautiful roses
Bloom in the fall and under my delighted eyes,
I breathe very strongly this sweet fragrance that I dare
Keep to embalm the autumn of my life.

Tiếng Việt :

Bài dịch từ một bài thơ Pháp ngữ.

Tuổi vào thu

Tôi cứ nghĩ tuổi già đầy nỗi sợ,
Sợ mùa sang, sợ năm tháng qua mau,
Sợ gió mưa, sợ tâm hồn băng hoại,
Sợ tóc phai màu, sợ cả nếp nhăn.

Nhưng nhận ra tuổi già không giới hạn,
Không muộn phiền còn đem lại nguồn vui.
Tôi chậm bước trên đoạn đường còn lại,
Hưởng ngày vui ngắn ngủi chẳng còn bao.

Tôi vẫn tưởng tuổi già trời ảm đạm,
Xuân thiếu hoa và vắng cả tiếng cười,
Hoa không nở và cây không nẩy lộc,
Sách không lời cầm bút chẳng ra thơ!

Chợt nhận ra tuổi già lòng lắng lại,
Sống hôm nay chẳng nghĩ đến ngày mai.
Thôi không đếm tuổi đời thêm chồng chất,
Mặc ngày qua, cầm bút họa thành thơ.

Tôi cứ ngỡ tuổi già hồn băng giá,
Quên đắm mình ngắm vũ trụ đầy sao,
Tim chai đá chẳng dấy lên ngọn lửa,
Cả bầu trời u tối phủ đời tôi!

Bỗng nhìn thấy những đóa hồng đẹp nhất,
Nở vào thu bằng đôi mắt reo vui,
Hít thật sâu ôi mùi hương tỏa nhẹ,
Ướp cho đầy hương vị Tuổi vào Thu.
From: T. Nguyen <new_ttn@yahoo.com>

PHI LOGIC

 PHI LOGIC.

Có bạn viết “Với tôi tổng thống Trump là người tài giỏi nhất” và được chúng sanh dòng họ cuồng nhào vào like nhiệt liệt. Đây là một hạn chế về tư duy logic của dân tộc Việt Nam.

Phân tích :

– Nếu ông Trump tài giỏi nhất thì ông Biden tài giỏi thứ bao nhiêu mà có thể đánh bại ông ta? Khi một người bị đa số dân loại thì không thể “nhất” được.

Tất nhiên bạn này sẽ bảo bác Trump bị loại là do gian lận.

Nhưng nếu nói ra điều này thì lại đáng xấu hổ thêm nữa.

– Ông Trump bị loại do gian lận thì tại sao cả một hệ thống tư pháp độc lập, các tiểu bang của đảng Cộng Hòa kiểm soát lại bác bỏ các vụ kiện của phe ông Trump? Nếu bảo tòa án cũng gian lận nốt thì bạn đấu tranh để thiết lập nền dân chủ, pháp trị để làm gì? Như vậy bạn muốn Mỹ quay về như Việt Nam? Chỉ có ta là đúng , ai trái ta đều là gian lận?

– Nếu phe Biden gian lận tại sao Dominion vừa kiện Powell thì Powell đã khai tuốt tuồn tuột là chỉ những kẻ không có lý trí mới tin lời tôi để chạy tội.

– Nếu Trump tài giỏi nhất sao lại xúi dân Proud Boy và cuồng tấn công Capitol sau đó đăng đàn đổ thừa mọi tội lỗi cho những người này?

– Nếu Trump tài giỏi nhất sao 2 lần ứng cử tổng thống thì cả 2 đều thua phiếu phổ thông đối thủ, chỉ thắng nhờ người Mỹ gốc Phi không đi bầu ở 3 bang chiến trường MI,PA và WI ?

– Nếu Trump tài giỏi nhất sao lại để 500 ngàn người Mỹ chết trong khi cũng chính ông ta khuyên Obama nên từ chức khi dịch Ebola mới làm Mỹ chết có 2 người?

– Nếu Trump tài giỏi nhất tại sao lại để nợ công gia tăng,thất nghiệp,dịch bệnh, biểu tình tràn lan.Trung Quốc trỗi dậy, đồng minh quay lưng…?

Nói chung người Việt chỉ dùng cảm tính “yêu ,ghét” để suy luận mà ít khi dùng những tư duy hợp lý để phán xét nhằm thay đổi quan điểm. Với lề lối tư duy bảo thủ như vậy thì cho dù có hy sinh hàng triệu người để thiết lập nên nền dân chủ bằng bầu cử tự do thì lá phiếu của họ cũng chỉ bầu nên những kẻ dân túy ,mị dân… và tiếp tục vùi đất nước xuống bùn đen .

Khi bạn chống lại lá phiếu của đa số người dân Mỹ, một quốc gia có 244 năm dân chủ, 59 lần bầu cử, một bản hiến pháp khoa học, một hệ thống tư pháp độc lập công minh thì bạn đang chống lại những gì thuộc về lý trí. Và kẻ mà bạn cho là giỏi nhất đó thực chất là kẻ tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Đơn giản là vì đầu óc bạn không bao giờ hơn đầu óc của đa số dân Mỹ.

170 nhà bình luận chính trị Mỹ đã xếp hạng bét người mà bạn cho là giỏi nhất ở đây. Cấm cãi.

EN.WIKIPEDIA.ORG

Historical rankings of presidents of the United States

Historical rankings of presidents of the United States

EN.WIKIPEDIA.ORG

Historical rankings of presidents of the United States

In political studies, surveys have been conducted in order to construct historical rankings of the success of the presidents of the United States. Ranking systems are usually based on surveys of academic historians and political scientists or popular opinion. The rankings focus on presidential achie…

Vì sao người Mỹ gốc Á khó tìm đồng minh khi bị kỳ thị?

Vì sao người Mỹ gốc Á khó tìm đồng minh khi bị kỳ thị?

Chiếc huy hiệu thiểu số kiểu mẫu khiến người gốc Á trở nên vô hình trong xã hội Hoa Kỳ.

 22/03/2021

By  HARRIET NGUYEN

“Ngưng thù ghét người châu Á” – một người cầm biểu ngữ tại quảng trường McPherson, Washington, DC, 21/3/2021. Ảnh: AFP.

Hôm 17/3, đài NBC News đăng một dòng tweet với nội dung “Làm thế nào để người Da Đen có thể là đồng minh mạnh mẽ của cộng đồng người Mỹ gốc Á lúc này” kèm theo một bài viết về cách mà liên minh các nhóm sắc dân thiểu số Mỹ có thể giúp chống lại sự thù ghét, phân biệt sắc tộc.

Trái với nội dung kêu gọi đầy tính đoàn kết, hỗ trợ người Mỹ gốc Á, hàng loạt các bình luận ở dưới lại mang màu sắc tiêu cực. Một trong số đó có nội dung như sau:

“Mấy người thật cả gan khi dám kêu gọi người Da Đen đấu tranh cho một nhóm người đã từng phân biệt đối xử với chính người Da Đen. Người Mỹ Da Đen đã đấu tranh đủ rồi… và nó đã đem lại lợi ích cho tất cả sắc dân thiểu số của đất nước này. Những người khác phải tự đấu tranh lấy cho chính họ.”

Bình luận này có tới 7.300 lượt yêu thích. Một loạt những bình luận sau đó cũng đều có nội dung tương tự: Người Mỹ gốc Á hãy tự lo lấy đi!

Ảnh chụp màn hình bài đăng của NBC News và bình luận trên Twitter. Tweet này sau đó đã bị xóa.

Không thể không đau lòng khi đọc những bình luận trên, nhất là khi ngày càng nhiều vụ tấn công người gốc Á trở nên bạo lực và táo tợn hơn.

Chuyện gì đang xảy ra ở nước Mỹ? Phải chăng giờ đây ngay cả các sắc dân da màu cũng căm ghét người gốc Á chúng ta? Để trả lời câu hỏi này, có lẽ chúng ta cần lùi lại một bước, hãy thử “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”.

Thiểu số “kiểu mẫu” vô hình

Từ Vũ Hán, Trung Quốc, dịch bệnh COVID-19 lan đến Hoa Kỳ trong một bối cảnh chuyển giao chính trị không thể gay gắt và chia rẽ hơn.

Mỹ đã từng được xem là chốn thiên đường cho cả những con chiên Thanh giáo lẫn những kẻ tha hương tìm đến bến bờ tự do, nhưng COVID-19 đã vạch trần những góc khuất tăm tối nhất, khoét sâu khác biệt tư tưởng tả – hữu, tích tụ dần thành một quả bom nổ chậm, chỉ chờ chực nổ.

Hồi tháng 3/2020, Donald Trump công khai gọi virus corona là “virus cúm Tàu” (Chinese virus). Đó là một cách gọi có lẽ không sai về lý, nhưng nó lại như một chiếc mũi dùi thô bạo đâm thủng lớp vỏ mỏng manh của quả bóng hận thù, từ đó làm bùng phát hàng loạt các cuộc tấn công đối với người gốc Á.

Ảnh chụp bài phát biểu của Donald Trump vào ngày 19/3/2020, trong đó chữ “corona” được gạch bỏ và thay bằng “Chinese”. Nguồn: Jabin Botsford/ The Washington Post.

Đến cuối năm 2020, khi chứng kiến một người phụ nữ da nâu đứng cạnh Joe Biden trở thành người phụ nữ gốc Á đầu tiên giữ chức phó tổng thống Hoa Kỳ, người ta dễ tưởng rằng những cuộc tấn công người gốc Á sẽ thuyên giảm. Tuy nhiên, khi dịch bệnh ngớt đi ở một số bang, cuộc sống dần quay trở lại nhịp độ cũ, các vụ việc tấn công người gốc Á thay vì giảm lại ngày càng gia tăng.

Có lẽ những người bất ngờ hơn ai hết là cộng đồng châu Á, vốn trước giờ sống như những thành viên ngoan ngoãn của xã hội Hoa Kỳ. Họ chọn cách sống khép kín thu mình, không muốn gây phiền phức với ai, nhưng giờ lại trở thành nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc.

Mặt trái của chiếc huy hiệu “thiểu số kiểu mẫu”

Định kiến “model minority” (thiểu số kiểu mẫu) ban đầu như một chiếc huy hiệu được sắc dân châu Á đeo lên mình một cách tự hào, như một lời minh chứng rằng: “Chúng tôi cũng là dân nhập cư, nhưng chúng tôi thành công, chúng tôi hòa nhập rất tốt với xã hội Hoa Kỳ là đằng khác”. Nhưng cũng chính những chiếc huy hiệu ấy lại trở thành gông cùm của áp lực phải thành công, đồng thời che lấp những góc khuất, những nỗi ê chề của sắc tộc gốc Á – vốn thường rất trọng sĩ diện.

Các sắc dân gốc Á mang trong mình định kiến về một “thiểu số kiểu mẫu”. Ảnh minh họa: Kennedy School Review.

Những đứa trẻ gốc Á không có kết quả học tập hay sự nghiệp thành công đúng như kỳ vọng của gia đình và định kiến của xã hội thì gần như bị xem là thất bại. Điều này có thể thấy rõ nhất qua trường hợp những người Việt từng bị tù tội khi còn là thanh thiếu niên. Dù được mãn hạn tù, được chính quyền và xã hội Mỹ nói chung chào đón tái hòa nhập, họ vẫn bị chính cộng đồng của mình coi như một vết nhơ.

Khi nhiều người gốc Á như Việt Nam, Campuchia bị chính quyền Trump trục xuất về nước vào thời điểm 2018-2019, cộng đồng người gốc Á gần như chẳng đoái hoài đến họ.

Vì người châu Á quá thành công, quá nghe lời, quá cam chịu, và quá lười tham gia chính trị, gần như họ trở nên vô hình trong xã hội Hoa Kỳ. Thói quen sống quây quần trong cộng đồng khiến người Việt càng thiếu tương tác với các nhóm sắc tộc khác. Nghệ sĩ hài gốc Việt Ali Wong từng đùa trong một phân đoạn thuộc series hài độc thoại (standup comedy) “Baby Cobra” là bà mẹ gốc Việt của cô không có tới nổi một người bạn da đen.

Chi tiết gây cười này làm nổi lên một định kiến ngấm ngầm trong cộng đồng người gốc Á, trong đó có người Việt, mà ít ai dám thẳng thắn thừa nhận: sự coi thường, khinh miệt với những cộng đồng người da màu khác.

Chính vì những thái độ thiếu cảm thông và thấu hiểu này, họ càng ít tham gia ủng hộ các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho các nhóm sắc tộc thiểu số ở Hoa Kỳ như Black Lives Matter.

Lực cản hòa nhập

Có hai lực cản lớn dẫn đến chậm trễ trong việc hòa nhập vào xã hội Mỹ của người gốc Á. Đầu tiên là lực cản đến từ bên trong. Nhiều người gốc Á dường như cũng không coi chính mình là người Mỹ. Khi nhiều người thuộc thế hệ trước ra đi với tâm thế người tị nạn, họ mong muốn một ngày trở về cố hương, phục dựng lại những giá trị xưa cũ. Vì vậy, họ mang tâm thế sống nhờ, sống tạm.

Lực cản còn lại đến từ bên ngoài. Về diện mạo, người gốc Á vẫn luôn bị xem là quá khác biệt so với nhóm sắc dân da đen hay gốc Mỹ Latin. Một người gốc Á, dù sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, vẫn thường phải đối mặt với những câu hỏi, câu nói ngớ ngẩn như “bạn thực sự đến từ đâu?” hay “tiếng Anh của bạn tốt thật đấy”.

Đặc biệt với cộng đồng gốc Việt, có thể thấy, thế hệ lớn tuổi thì từ chối hòa nhập, sống như mình ở đất khách, đến cả lá phiếu cử tri trong tay cũng không tin nó là của mình. Họ sống ở đất nước bầu cử tự do mà vẫn cứ mong được bỏ một lá phiếu ở quê hương độc tài. Trong khi đó, thế hệ trẻ thì khao khát và có khả năng hòa mình vào dòng chảy sắc tộc hơn, nhưng vô tình bị tách ra rìa.

“Các nhóm thiểu số phải đoàn kết lại”. Ảnh: Marcela/ Flickr.

Và rồi giờ đây, khi chính họ trở thành nạn nhân mới nhất của tình trạng phân biệt chủng tộc, nỗi ám ảnh của những trại tạm giam người Mỹ gốc Nhật thời Thế chiến II đột nhiên khiến tất cả bất giác rùng mình. Nhưng nhiều người gốc Á, vì quá mải theo đuổi danh vọng và tiền tài, đã quá xa rời những cộng đồng đấu tranh vì quyền lợi cho những người như chính họ.

Họ đã ở bên lề xã hội quá lâu, chọn cách đứng ngoài rìa của những cuộc tranh đấu đầy mồ hôi và nước mắt. Vì vậy, cũng chẳng ngạc nhiên khi đến một lúc, họ cũng bị cho ra rìa một cách lạnh lùng không thương tiếc.

Đã đến lúc người Mỹ gốc Á nói chung, và người gốc Việt nói riêng cần xác định danh tính của mình. Chúng ta là người Mỹ hay người Việt?

Là người Mỹ thì chúng ta có lẽ cần phải nói tiếng Anh. Là người Mỹ, chúng ta phải biết cách hòa nhập và sống chan hòa với các sắc tộc khác. Là người Mỹ, hãy đi bầu, hãy tham gia tranh cử. Là người Mỹ, phải biết lên tiếng trước những bất công trong xã hội, dù nó có liên quan mật thiết đến chúng ta hay không.

Vì biết đâu, một ngày nào đó, chính chúng ta lại trở thành nạn nhân.

Kinh nghiệm sống thật hay của người lớn tuổi

Kinh nghiệm sống thật hay của người lớn tuổi

Đọc để suy ngẫm liệu có đúng không?

Một người bạn vừa tròn tuổi 60, tôi hỏi anh ấy có gì mới không, anh ấy cho biết:

  1. Tôi đang thay đổi. Trước đây tôi yêu bố mẹ, anh em, bà xã, con cái, bạn bè, giờ tôi bắt đầu yêu chính mình.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi đã hiểu ra mình không phải Thượng đế, mình không thể gánh nổi cả thế gian.
  1. Tôi đang thay đổi. Không mặc cả với những người bán rau bán cá nữa, trả thêm cho họ ít tiền không làm tôi nghèo túng, biết đâu số tiền đó lại góp phần nhỏ bé trong học phí của con cái của họ.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi không chờ lấy tiền thối lại khi đi taxi, tiền boa đó biết đâu đổi lại được một nụ cười, dù sao anh ta cũng sống vất vả hơn mình mà.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi không nói với các cụ rằng “câu chuyện này đã nghe nhiều lần rồi, biết rồi, nói mãi.” Hãy để các cụ thoải mái ôn lại kỷ niệm xưa và cảm thấy hạnh phúc.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi thôi không bắt lỗi khi người khác sai, bởi vì mình không có trách nhiệm làm cho họ trở nên hoàn hảo.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi luôn miệng khen tặng người khác, khiến người ta vui mình cũng được vui lây.
  1. Tôi đang thay đổi. Thôi không bận tâm những vết bẩn trên áo quần, dù sao nhân cách vẫn quan trọng hơn vẻ bên ngoài.
  1. Tôi đang thay đổi. Ngày càng xa lánh những kẻ xem thường mình, bởi vì họ chẳng hiểu được giá trị thực của tôi.
  1. Tôi đang thay đổi. Không vì bảo vệ quan điểm của mình mà đánh mất tình bạn, hãy để mọi người cùng vui hơn là thoả mãn một mình.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi sẽ xem mỗi ngày là ngày cuối cùng của đời mình, trước sau gì ngày ấy cũng sẽ đến.
  1. Tôi đang thay đổi. Tôi luôn làm những gì mình yêu thích để tận hưởng cuộc sống, đó chính trách nhiệm lớn nhất giành cho chính mình.

From: NguyenNThu

May be an image of 2 people

Một lần lễ chùa, tôi tình cờ gặp lại nó. Nó là … trụ trì tại một chùa X..! Dù thân nó tròn trịa, mặt no đầy, da dẻ hồng hào khác hẳn thuở xưa. Dù nó đang “đầu tròn áo vuông”, dù có dáng oai nghi của một nhà tu, tôi cũng nhận ra ngay. Tôi vừa bàng hoàng, vừa mừng. Mừng vì được gặp lại người bạn thân; bàng hoàng vì không biết ma đưa lối quỉ dẫn đường thế nào mà kéo nó đến cửa thiền!

Đợi lúc vắng khách thập phương, tôi nhẹ nhàng đến bên nó, chấp tay có vẻ cung kính, nhưng lời nói lại có phần đùa nhiều hơn:

– Bạch thầy! Thầy còn nhớ… con không?

Nó sựng một giây, rồi vỗ mạnh vào vai tôi, lớn tiếng mừng rỡ. Như quên mình là nhà sư:

– Thằng quỉ, sao mầy lại ở đây?

Câu nầy đáng lý tôi hỏi nó mới đúng hơn. Tôi vẫn chấp tay, cười cười:

– Dạ!…con là Phật tử…

Nó nắm tay tôi kéo đi, dẫn tôi qua một dãy phòng. Đến môt phòng riêng biệt, trên có hàng chữ “Phòng Trụ Trì”, nó đẩy tôi vào. Đó là một phòng tương đối rộng, ngăn nắp sạch sẽ; bày biện đơn sơ, khác với bản tính cẩu thả và … “ở dơ” (!) của nó. Đảo mắt một vòng, tôi hỏi nó:

– Theo tôi biết, chỗ ngủ của trụ trì như hàng đại gia. Sao chỗ của thầy đơn giản quá vậy?

– Thầy bà gì!

– Vậy chứ sao mầy là trụ trì ngang xương vậy?

Nó tự hào:

– Sao lại ngang xương? Đó là sự suy nghĩ đầy trí tuệ của tao: Từ lúc tụi bây ghi danh vào đại học, tao nghĩ, dù tụi mình có học hết đại học đi nữa, thì khi ra trường làm được cái gì với cái bằng cử nhân văn chương hay cử nhân luật? Là luật sư, nếu tụi mình có chút lương tri thì chẳng nói chi; bằng không thì sẽ vì tiền mà dùng miệng lưỡi cú diều thay đen đổi trắng, làm nghiêng cán cân công lý, thì tạo ác biết bao nhiêu? Nếu an phận thủ thường làm nghề “bán cháo phổi” (dạy học), thì thường ngày phải hít bao bụi phấn, đến già không chừng cũng sẽ vô Viện Bài Lao! Đó là chưa nói không may thi rớt, bị sa vào lính, lại phải làm bia cho họng súng? Sống là một trường tranh đấu. Mạnh được yếu thua. “Khôn thì ăn trước ngồi trên. dại thì ra đứng hai bên cột đình”.

Tôi nóng mặt:

– Vì vậy mầy mới chọn nghề thầy chùa?

– Đúng vậy! Thì đã sao chứ? Làm nghề thầy chùa thì dù có chiến tranh khốc liệt thế nào, tao cũng khỏi phải đi lính, nên luôn mang chữ thọ trước ngực! Cái ăn cái mặc khỏi chạy đổ mồ hôi. Tiền thì có người quỳ dâng tận tay, Cơm thì có người hầu hàng buổi. Chỗ ở thì đồ sộ nguy nga. Trăm kẻ kêu bằng thầy, vạn người xưng là con. Ở ngoài đời, dù cho kẻ có đại quyền, cũng chưa hẳn được tôn trọng như vậy. Có gì không tốt chứ?

– Chùa mầy giàu như vầy, sao chỗ ngủ cùa mầy bèo quá vậy?

Nó cười:

– Mầy cứ mãi giữ cái đầu non nớt của mầy, thì làm sao thấu lý chuyện đời? Tao xây biệt thự cho mẹ tao hàng tỉ còn được, thì huống chi cái chỗ nằm cỏn con nầy? Thường thì con người ta có tiền thì hay phô trương, không ngoại trừ những kẻ “tu hành”. Vật dụng thì xài những thứ đắt tiền, đi xe máy đời mới, thậm chí sắm cả xe con. Đó là những thằng ngu! Bá tánh có hàng vạn người, nhưng có cả hàng triệu đôi mắt. Đừng bảo họ mệ muội mà lầm! Họ cúng dường Tam Bảo là để trùng tu chùa chiền, hương hoa cho Phật, chứ nào để cho trụ trì lấy đó mà xài sang, xa hoa phung phí? Ai đời trụ trì mà kéo cả vợ con vào chùa, thật là chướng mắt! Ai đời sau giờ công phu thì vứt áo cà sa đi nhậu với loại đàn bà goá điếm đàng. Thầy chùa gì mà vừa dứt tiếng mõ thì vội trốn về nhà hú hí với vợ con. Ai đời lại chiều chiều lại mặc quần sọt đi đánh tenis như hạng thượng lưu…

– Vậy mầy sống thanh đạm thế nầy là để che mắt thế gian?

Như không để ý đến câu hỏi của tôi, nó tiếp:

– Trong đám sâu độc có thể làm hỏng hoa sen Phật giáo, thì cũng không thiếu những bậc đại sư hết lòng vì đạo, xả thân vì Pháp, nếu không thì làm gì Phật giáo tồn tại đến ngày nay? Tao không phải là chân tu, nhưng cũng biết dừng lại đúng lúc. Trước là tao che mắt thế gian thực đó, nhưng giờ thì chưa hẳn. Trong mấy mươi năm niệm trì kinh chú, tao cũng đã ít nhiều thấm nhuần giáo lý của Đấng Chí Tôn. Lấy tiền bạc của đàn na tín thí cúng dường mà làm của riêng mình , thì kiếp sau cũng phải mang lông đội sừng để trả nợ mà thôi! Mầy khỏi lo.

Nó lấy tay áo cà sa lau miệng, “giảng pháp”:

– Danh lợi là hai miếng mồi béo bở mà kẻ phàm phu nào cũng thích: Thùng “Cúng Dường Tam Bảo” của mỗi chùa thường là chỉ có tờ mười ngàn, hai chục ngàn, năm chục ngàn. Những kẻ cúng dường bạc triệu, thì đòi cho được gặp trụ trì để được ghi tên; như là một kí hiệu cho trụ trì biết, hầu lần sau được tiếp đón nhiệt tình! Hoặc để lên mặt, hay phơi bày một chút giàu sang cho người xung quanh thán phục. Hay để khoe mình đã tạo nhiều “phước đức”! Trong lúc đó, cha mẹ ở nhà, mới chính là Phật trước mắt, thì lại bỏ bê, không màng tới.

Cũng vì chữ lợi mà mầy ca tụng phường vô sỉ, mập mờ đen trắng thị phi. Cứ tưởng đơn giản là tiền trao cháo múc, hết xôi rồi việc, chứ đâu có ngờ là bút sa gà chết! Mầy đã vô tình bôi nhoà ý thức, làm lệch đường nhận định của kẻ hậu sinh. Xét ra cũng là tội ác!

Tôi giật mình vì dường như nó nói đúng! Không ngờ cái thằng quỉ sứ nầy sau bốn mươi năm ăn tương chao lại có những lý luận sâu xa, sắc bén như vậy. Tôi thường dùng cụm từ “Những phường háo lợi háo danh” một cách khinh miệt. Nhưng nay, nhờ nó mà tôi phát hiện chính tôi cũng đã đồng hội đồng thuyền với bọn người ấy. Mắt tôi đã “tinh tường” thấy được hạt cát nhỏ bé trong mắt người khác, nhưng lại đui mù không thấy được cọng rơm tổ bố trong mắt của mình! Với bộ óc tí ti như óc tép riu của tôi, lại còn bất hạnh mang thêm cái tự ái lớn như đầu bò. Tôi tìm cách quơ quàu của một người thua cuộc:

– Vậy chứ cái nghề bán lòng tin của mầy có phước lắm?

Nó lặng thinh. Trong cái im lìm đó, đã chứa đựng cả lòng vị tha to lớn, hay chứng tỏ lòng nó đã lắng mọi sân si. Tôi cũng chẳng nói lời nào. Nhưng sự lặng yên nầy lại mang nhiều xấu hổ của kẻ thiếu tài. Nó là một thằng thông minh từ còn bé tí; và tôi, lúc nào cũng thấp hơn nó một cái đầu.

( Tác giả :Không biết)

Nguồn Fb Thầy Lê Văn Thông