MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Hoai Linh Ngoc Duong

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Đã có nhiều bài viết về sự kỳ thị của người da trắng với dân châu Á và Dư luận viên của đảng Cộng sản có dịp vỗ tay hoan hô” Không nơi nào bằng tổ quốc Việt Nam” ” Làm thân ăn nhờ ở đậu cũng khổ trăm đường” để từ đó phủ nhận các giá trị dân chủ, tôn vinh độc tài.

Nhưng các bài viết trên chỉ nhìn một phía. Phía khác là để trả lời câu hỏi: “Mình có sao đó người ta mới kỳ thị”. Từ chỗ một số đông với những tập quán tính cách của mình đã làm hoen ố cả cộng đồng và khiến những người tốt, những người hội nhập bị họa lây. Đây không còn là “một con sâu làm rầu nồi canh” mà “cả một bầy sâu làm rầu nồi canh”

Thế giới có 2 loại kỳ thị.

Một loại là kỳ thị ra mặt và một là kỳ thị ngầm. Kỳ thị ra mặt bị cấm bởi pháp luật nhưng kỳ thị ngầm chính là động lực phát triển của xã hội. Kỳ thị ra mặt là sự phân biệt màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo… để ném đá, chửi bới ,lăng nhục, từ chối phục vụ. Biểu hiện cụ thể cho loại này là những tấm biển đề “Nhà hàng chúng tôi không phục vụ người Nhật,Trung Quốc, da đen, Hồi Giáo…” Những loại kỳ thị này tuyệt đối bị cấm bởi pháp luật tại Hoa Kỳ. Và người Mỹ văn minh không bao giờ làm. Họ không bao giờ dùng cách như Lê Đức Thọ sau khi bắt tay Henry Kissinger ở hội nghị Paris 1973, dùng khăn để lau tay biểu hiện mình cao quý (theo giai thoại). Điều này ở Mỹ sẽ bị xem là kém văn hóa.

Nhưng kỳ thị ngấm ngầm lại là một biểu hiện của văn hóa. Bởi lẻ người ta không khinh vẻ bên ngoài mà là khinh cái tính cách của anh. Đó là khinh cái thói ăn cắp vặt, nói chuyện vô văn hóa, chửi thề, thói quen không xếp hàng, không giữ lịch sự nơi công cộng … cao hơn là thói làm biếng, thích hưởng thụ, trốn thuế, lối sống theo bản năng, nạn cư xử bằng bạo lực, độc hành độc đoán… Tại sao kỳ thị ngấm ngầm là động lực tiến hóa của xã hội. Bởi thói quen về hành vi là cái mà luật pháp không chế tài được. Đó là biểu hiện của văn hóa. Những người ăn không ngồi rồi, trốn trách nhiệm xã hội đôi lúc cũng lợi dụng khe hở của luật pháp để tranh thủ sự nhàn hạ cho mình. Chính sách xã hội đôi lúc vì cái chung cho nên bỏ qua cho những kẻ cơ hội.

Tại sao người Việt nam, Trung Quốc bị thế giới kỳ thị?

Người ta không kỳ thị màu da, quốc tịch của anh mà người ta kỳ thị vì ngón nghề ăn cắp, lừa đảo, văn hóa mất lịch sự của anh nổi tiếng khắp thế giới. Sự kỳ thị này giúp cho dân tộc Việt Nam biết soi lại mình để sống làm sao cho người ta khỏi khinh.

Người ta kỳ thị người châu Á vì những ngón nghề sau đây:

Trốn thuế.

– Gian lận an sinh xã hội.

– Không tham gia vào bỏ phiếu tạo ra nền dân chủ.

– Sùng bái cá nhân chứ chẳng hiểu về thiết chế.

– Không tham gia biểu tình bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng.

– Sống trên xứ người với tâm thế ăn nhờ ở đậu chứ không phải tâm thế làm chủ đất nước.Tìm đủ mọi cách mưu lợi cho mình bất kể lợi ích chung.

– Thể hiện nền văn minh lúa nước.

Từ những kỳ thị ngầm này dẫn đến sự kỳ thị lộ liễu của một số kẻ cực đoan, đánh đồng tất cả người châu Á với nhau. Nhưng kỳ thực trong châu Á cũng có một sắc dân khác đẳng cấp không thua kém họ. Đó là người Nhật.

Tất nhiên từ khi Trump nắm chính quyền các nhóm da trắng cực hữu đã trỗi dậy và công khai bộc lộ sự kỳ thị lộ liễu bởi chủ nghĩa dân tộc. Đó là nền tảng dẫn đến chủ nghĩa phát xít.Nhưng người châu Á trước khi phê phán người cũng phải nhìn lại mình.

Dân da trắng không thể nai lưng đóng thuế để người châu Á lợi dụng các khe hở của chính sách để hưởng lợi.

Tự do không hề miễn phí. Người châu Á đến Hoa Kỳ hưởng tự do mà không hề trả phí xương máu của công cuộc đấu tranh chống độc tài của người Mỹ suốt hơn 200 năm nên rất dễ bị khinh thường. Cách tốt nhất để tránh kỳ thị là họ phải góp sức vào sự thịnh vượng chung. Điều đơn giản là khi thấy lá cờ vàng cắm trên tòa nhà quốc hội Mỹ, biểu tượng của dân chủ tự do thì những người da trắng hiểu biết không kỳ thị người Việt Nam mới là chuyện lạ.

Mình có sao đó người ta mới kỳ thị mình.

Tại sao lại ăn mừng chiến thắng?

May be an image of 1 person and text that says 'T23 NEWS Abraham Lincoln Cựu Tổng thống Hoa Kỳ 1 "Khi viên đạn xuyên vào một người lính dù thuộc bên nào đi nữa, thực ra nó đã xuyên vào trái tim một người mẹ" "Tại sao lại ăn mừng chiến thắng? Những người thua trận chẳng phải là đồ“ng bào của chúng ta hay sao?"'

Tổng thống Abraham Lincoln nói câu này từ 1865, khi kết thúc nội chiến Nam – Bắc Mỹ (1861-1865)!

Rất tiếc bên thắng cuộc ở Vietnam sau 1975, không chỉ mù lương tâm mà còn ít đọc sách nên không biết chân lý giản dị thánh thiện đó mà đã thành như đứa trẻ chưa trưởng thành, hiếu thắng và mù lương tri?

LỜI KHUYÊN CỦA NHÀ THÔNG THÁI

LỜI KHUYÊN CỦA NHÀ THÔNG THÁI

  1. Ba thứ không bao giờ lấy lại: thời gian, lời đã nói, cơ hội
  2. Ba thứ không được để mất: sự bình tĩnh, hy vọng, danh dự.
  3. Ba thứ giá trị nhất trong cuộc đời: tình yêu, chính kiến, niềm tin.
  4. Ba thứ không bền vững trong cuộc đời: quyền lực, sự may mắn, tài sản.
  5. Ba thứ xác định một con người: lao động, tính trung thực, sự thành đạt.
  6. Ba thứ hủy hoại con người: rượu, tính kiêu ngạo, sự tức giận.

(Cop từ FB Trần Hậu)

SAO CON LẠI KHÓC

SAO CON LẠI KHÓC

Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

Trong đời, ai cũng có lúc khóc.  Khóc thầm lặng.  Khóc cho vơi niềm đau.  Kinh cầu tuyệt vọng là kinh cầu trong nước mắt.  Kinh cầu mong hy vọng cũng là lời kinh khao khát đẫm lệ.

Vũ trụ dường như đã có dan díu với tiếng khóc trước khi hình thành hay sao mà bây giờ ở đâu cũng thấy có nước mắt.  Có tiếng thở dài trên đường, có tiếng thở muộn phiền lúc nghỉ ngơi.  Tiếng than bên đời là buồn nhiều hơn vui.

Những trang Kinh Thánh thưở xưa cũng đong dài nhiều dòng nước mắt.  Nhưng câu chuyện nước mắt của Mađalena thật đặc biệt.  Bà khóc hai lần, hai lần khác nhau.

Ngày đó, Mađalena khóc bên chân Chúa, nước mắt và hương thơm.  Trong buổi chiều ấy, Chúa không nói gì.  Chúa cứ để Mađalena khóc.  Chúa nhận nước mắt như nhận quà tặng ân tình.  Còn Mađalena muốn đem nước mắt hòa vào hạnh phúc dầu quý cho bay đi những cơn mưa phùn của linh hồn rêu phong năm xưa.  Chiều đó, người đàn bà ấy không nói gì.  Thinh lặng và nước mắt thôi.

Thế rồi, cũng người đàn bà ấy, một sáng nọ bà khóc, buổi sáng đến mộ đá tìm xác Chúa. Nhưng tiếng khóc lần này không như tiếng khóc thuở xưa.

“Bà Maria đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc.  Bà vừa khóc, vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt xác của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.  Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!”  Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu.  Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc?  Bà tìm ai?”  Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Yn 20:11-15).

Một Mađalena, mà hai khung trời, hai dòng nước mắt khác nhau.  Một con tim mà hai nhịp đập, hai thổn thức khác biệt.

–   Ở nhà Biệt phái: Ngày ở nhà ông Simon Biệt Phái, nước mắt bà Mađalena rơi xuống chân Chúa, nhưng chảy ngược vào tâm hồn.  Mađalena khóc thầm lặng không tiếng nói.  Bên mộ đá: Hôm nay, bên mộ đá Mađalena oà vỡ khóc thành lời nói.  Bà thổn thức báo tin cho Phêrô và Yoan.  Bà vội vã hỏi “Người làm vườn.”  Bà quả quyết với thiên thần: “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi” (Yn 20:13).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Simon, Mađalena kín đáo tìm cách vào tận phòng tiệc cho nước mắt rơi trên sàn nhà.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Mađalena đứng ở ngoài mộ mà thôi, tiếng khóc vang bên phía ngoài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, nước mắt Mađalena rơi trước mọi người, rơi trên chân Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, nước mắt rơi trong cát bụi.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa để Mađalena ngồi cạnh mình lấy tóc cùng nước mắt mà lau chân.  Bên mộ đá: Hôm nay, Chúa không cho nước mắt kia chạm tới Ngài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong tiếng khóc, Mađalena bị người ta kết án. Bên mộ đá: Hôm nay, Mađalena kết án người khác trong tiếng khóc của mình.  Không bằng chứng mà Mađalena dám báo tin cho Phêrô bằng cách đổ tội cho người khác rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (Yn 20:2).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong dòng nước mắt, Mađalena nhìn rõ Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, cũng là nước mắt, Mađalena nhìn Chúa nhưng ngỡ là ông làm vườn. “Thưa ông, nếu ông đem Người đi thì cho tôi biết ông để Người ở đâu?” (Yn 20:15).

–   Ở nhà Biệt Phái:  Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa thương dòng nước mắt ấy thiết tha.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Chúa chất vấn: “Bà kia, sao lại khóc?”

***

Lạy Chúa, cũng một con người được Chúa yêu, mà sao một lần khóc thì Chúa như bùi ngùi, một lần khóc thì Chúa nhìn dòng nước mắt mà hỏi: “Bà kia, sao bà lại khóc?”  Câu trả lời của Chúa như ngạc nhiên về dòng nước mắt ấy.  Câu hỏi như từ chối, như nói rằng dòng nước mắt ấy không cần thiết.  Tại sao vậy Chúa?

Tiếng khóc nào cũng có ý nghĩa.  Nước mắt nào mà không chứa đựng nghẹn ngào.  Càng nguyện vọng, nước mắt càng mặn cay, nước mắt ấy phải quý lắm chứ.  Vậy tại sao Chúa lại hỏi: “Bà kia, sao bà khóc?”

Chỉ có một lần Chúa khóc, đó là trước cái chết của Lazarô.  Cái chết nào mà không mất mát, nghẹn ngào, chính Chúa mà còn khóc.  Vậy tại sao hôm nay Chúa lại bảo Mađalena đừng khóc nữa.  Nhờ Chúa khóc trước cái chết của Lazarô, nên hôm nay, con phải suy nghĩ về nước mắt, tiếng khóc, nỗi đau của Mađalena trước mộ đá.

Khi Chúa khóc trước cái chết của Lazarô thì người chung quanh nói với nhau rằng: “Kìa, nhìn xem Ngài thương Lazarô dường bao” (Yn 11:36).  Như vậy, nước mắt của Chúa hôm Lazarô chết không phải là nước mắt tiêu điều.  Cái khóc của Chúa không là tuyệt vọng mà là tình thương.

Còn nước mắt của Mađalena bên mộ Chúa, có thương đó mà cũng có xót xa.  Chúa sống lại, nhưng Mađalena phao tin rằng người ta lấy xác Chúa.  Bà không nhìn thấy, nhưng bà nghi ngờ và đổ lỗi cho việc Chúa không còn trong mộ đá là xác Chúa đã bị đánh cắp!  Nước mắt chúng con trước cái chết của người thân yêu có lẽ cũng mang dáng dấp cả hai.  Có thương nhưng lại thương trong xót xa, và nỗi xót xa ấy nhuốm màu đau tuyệt vọng như của Mađalena.  Vì chưa hiểu niềm tin Phục Sinh, nên không thấy xác Chúa thì Mađalena cảm thấy ngày một mất mát lớn lao.  Nỗi mất mát ấy là của Mađalena, cho nên thương Chúa mà xót xa cho mình.  Xót xa và tuyệt vọng làm Mađalena nghi ngờ và đổ lỗi cho nhiều người.

Vì xót thương trước cái chết của người thương yêu, nhiều khi chúng con cũng không tránh khỏi những phàn nàn, trách nhiều nguyên nhân, có khi trách cả Chúa.  Xin Chúa cho chúng con hiểu hơn về mầu nhiệm Phục Sinh trong sự chết.

Nước mắt bên mộ đá đã đưa Mađalena vào những vùng mây mờ không chứng cớ.  Đấy là nước mắt thiếu ánh sáng Phục Sinh.  Trong nước mắt xúc cảm nhạt nhoà, bà không nhìn rõ Chúa đứng ngay bên cạnh.  Chính Chúa đó mà bà lại hỏi ông để xác Chúa tôi ở đâu.

Chúng con cũng thế thôi, vào những giờ đau đớn quá, chúng con không bình tâm nhìn thấy Chúa bên cạnh mình nữa.  Nước mắt đau đớn làm nhoà cái nhìn về sự sống đời sau.  Mađalena đã bừng tỉnh khi Chúa gọi tên bà.  Vậy con xin Chúa cũng gọi tên con trong những giờ chán nản tuyệt vọng để hồn con được an ủi.

Chúa khóc trước cái chết của Lazarô chỉ vì thương.  Xin cho nước mắt chúng con trước nỗi biệt ly cũng chỉ có một tình cảm ấy mà thôi, là chúng con hãy thương mến nhau.  Người chung quanh nhìn trước mắt Chúa mà nói: “kìa Ngài thương Lazarô biết bao.”  Chớ gì nước mắt chúng con hôm nay cũng như vậy, để một người ra đi là đem yêu thương về đầy giữa chúng con, những kẻ ở lại.

Tình thương thì đem chúng con gần lại, còn nỗi tuyệt vọng sẽ làm đời sống chúng con rã rời.  Con hiểu, cũng trước cái chết, Chúa đã khóc.  Mà cũng trước cái chết, Chúa không muốn Mađalena khóc.  Chúa muốn tiếng khóc của tình thương thôi chứ không muốn tiếng khóc tuyệt vọng.  Vì Chúa là Phục Sinh.

“Vì sao con lại khóc?”  Con mong lời Chúa hỏi Mađalena thưở xưa cũng là lời Chúa hỏi con hôm nay trong nỗi buồn này.  Con hiểu lời ấy như một an ủi nhắc con về niềm tin Phục Sinh đằng sau nỗi chia ly vĩnh biệt.  Con hiểu vì sao Chúa đặt câu hỏi ấy, vì trước giờ từ biệt Chúa đã căn dặn con: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Yn 14:3).  Chúa mong chúng con ở bên Chúa như vậy thì khi người thân yêu của chúng con ra đi là giây phút Chúa chờ đón.

Mađalena chỉ nhìn vào mộ đá, vì thế nước mắt chỉ là trời sương buồn nản phủ xuống hồn.  Chúa đã không muốn nước mắt ấy.  Xin cho nước mắt của chúng con hôm nay không bám víu vào nỗi mất mát cho vơi niềm đau.  Nhưng qua nước mắt, chúng con cho rơi đi những gì thiếu sót chúng con đã đối xử với nhau những ngày còn sống, để nước mắt hôm nay rửa tâm hồn chúng con cho đẹp hơn.

Xin Chúa cho nước mắt của chúng con hôm nay không kéo về những chiều hoàng hôn tuyệt vọng, mà rửa niềm tin chúng con sáng hơn để chúng con thấy người thân yêu đang ở bên Chúa và đang cầu bầu cho chính chúng con.  Amen.

Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 From: Langthangchieutim

 CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

 CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

Khi con người tức giận, cơ thể thật sự sẽ sinh ra “khí”, nên cũng nói là hỏa khí bốc lên, có thể thiêu đốt năng lượng, khiến người ta sinh bệnh thậm chí vì tức mà chết. Cho nên muốn trường thọ nhất định tiết chế nóng giận…

Có một vị phu nhân, thường vì những chuyện vặt vãnh mà sinh nóng giận. Có một ngày bà đi tìm một vị cao tăng thỉnh giáo. Cao tăng nghe xong, liền dẫn bà đến một gian thiền phòng, khóa cửa lại rồi rời đi.

Vị phu nhân tức giận chửi mắng ầm ĩ một hồi, cao tăng cũng không để ý tới. Rồi bà lại bắt đầu cầu khẩn, cao tăng vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Vị phu nhân cuối cùng đành phải im lặng.

Cao tăng ở bên ngoài cửa hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Tôi chỉ tức giận chính mình, sao lại đến cái nơi quỷ quái này để chịu tội khổ không biết!”.

Cao tăng phẩy tay áo rời đi, nói vọng vào: “Người mà ngay cả chính mình cũng không chịu tha thứ, thì làm sao tâm có thể phẳng lặng như mặt nước được đây?”

Một lát sau, cao tăng lại hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Hết rồi, tức giận để làm gì cơ chứ?”.

“Tức giận cũng có làm gì được đâu!”, cao tăng lại rời đi.

Lúc cao tăng trở lại lần thứ ba, vị phu nhân nói với ông: “Tôi hết tức giận rồi, bởi vì không gì đáng để tức giận”. Cao tăng cười nói: “Bà còn biết nó có đáng hay không, xem ra trong nội tâm vẫn còn cái gốc rễ của khí”. Một hồi sau, đang lúc cao tăng đứng ở trước cửa ngắm trời chiều. Vị phu nhân hỏi: “Đại sư, khí là gì vậy?”. Cao tăng đổ nước trà vào trong tay làm rơi vãi khắp đất, vị phu nhân nhìn thật lâu chợt tỉnh ngộ, cảm tạ rồi rời đi.

Sinh mệnh của chúng ta cũng giống như chén nước trà trong tay vị cao tăng kia, chỉ trong giây lát đã hòa vào trong đất. Năm tháng ngắn ngủi như thế, những việc nhỏ nhặt trong đời đâu có đáng giá để chúng ta uổng phí thời gian mà đi tức giận?

Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta vì những việc nhỏ nhặt mà tức giận, đơn giản là vì tranh giành cao thấp, hơn thua mạnh yếu, nhưng cuối cùng đều không ai chiến thắng cả. Bạn có thể thắng ở việc này, nhưng có thể lại thua ở việc khác. Lúc bạn nhắm mắt từ giã thế gian này, dù có là ai thì cũng đều giống nhau, chỉ là hai bàn tay trắng.

Đời người quan trọng nhất là làm được một chút việc gì đó mà bản thân cảm thấy có ý nghĩa, không nên tốn thời gian đi tranh danh đoạt lợi, không nên cứ lại hơn thua vì một câu nói mãi thế.

Người có tu dưỡng chân chính sẽ biết nén cơn tức giận này xuống. Biết kiểm soát được nóng giận mới có thể khiến sự tình trở nên tốt hơn, mới có thể khỏe mạnh và trường thọ.

Nếu để bạn mắc bệnh nhẹ một tuần, bạn sẽ phát hiện tiền tài không còn là quan trọng, chỉ có gia đình và thân thể mới là đáng quý.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng một tháng, bạn sẽ phát hiện tiền tài đặc biệt không hề quan trọng, thân thể và người nhà mới là trọng yếu.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng nửa năm, đoán chừng bạn sẽ sẵn lòng buông bỏ hết thảy tiền tài và danh lợi, chỉ có thân thể mới là thứ quan trọng nhất.

Đời người ta nên bình thản mà sống, khỏe mạnh, hạnh phúc mới là quý giá nhất.

Hoa do tưới nước quá nhiều mà chết, cá ăn bể bụng mà chết, người vì tức khí mà chết. Bạn kiểm soát được cơn nóng giận được bao nhiêu, thì sẽ có thể sống thọ được tới đó.

Vừa không tức giận người khác, mà chính mình cũng không tức giận, gọi là chân nhân, thông thường có thể sống trăm tuổi hoặc hơn.

Trăm bệnh đều từ tức khí mà sinh ra. Cho nên, muốn trường thọ phải biết tiết chế cơn nóng giận, cải biến quan niệm, cải biến tập quán sinh hoạt không tốt, quan tâm đến bản thân mình, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay.

Sưu tầm

Ghi chú thêm:

Tức giận là lấy sự sai lầm của người khác mà trừng phạt chính mình. Hãy yêu thương họ vì họ không biết việc họ làm.!!!(thánh kinh)

Yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo…

May be an image of child, standing and outdoors

Yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo, mà là học cách dùng đôi mắt hoàn hảo để ngắm nhìn một người thường.

Thật ra, yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo. Mà là, phải học cách dùng đôi mắt hoàn hảo, để ngắm nhìn một người không hoàn hảo.

Tích đức không cần người khác thấy, hành thiện tự có Trời biết.

Người làm việc thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã đi xa. Người làm việc ác, họa tuy chưa đến, phúc đã đi xa. Người làm việc tốt, giống như cỏ trong vườn xuân, không thấy trưởng thành, lâu ngày sinh sôi. Người làm việc ác, giống như đá mài dao, không thấy hao tổn, lâu ngày mới mòn.

Phúc họa vô môn luôn tại tâm (ý nói phúc và họa không có cửa để chúng ta đi vào nó, mà nó được hình thành qua suy nghĩ tốt hoặc xấu trong tâm của chúng ta).

Điều đáng sợ của hành động làm ác không phải là bị người khác phát hiện, mà là chính mình tự biết. Điều đáng khen của hành động lương thiện, không nằm ở lời khen của người khác, mà là nằm ở sự an vui của chính mình.

Đời người, có bao nhiêu toan tính, thì có bấy nhiêu đau khổ. Có bao nhiêu khoan dung, thì có bấy nhiêu niềm vui.

Đau khổ và niềm vui đều là sự phóng chiếu của tâm linh, giống như trong gương có cái gì, là do sự vật đứng trước gương quyết định.

Trong lòng không buông bỏ được, tự nhiên sẽ thành gánh nặng, gánh nặng càng nhiều, đời người càng không vui.

Tâm toan tính giống như cái túi quần, tâm khoan dung giống như cái phễu. Tâm phức tạp thích toan tính, tâm đơn giản dễ vui vẻ.

Biết khoan dung, con đường đời mới có thể càng đi càng rộng. Oán hận là một ly rượu độc, cái bị giết chết là niềm vui của chính mình.

Dùng sai lầm của người khác để trừng phạt bản thân, là một chuyện vô cùng ngu xuẩn. Vậy chi bằng, tha thứ cho lỗi lầm của người khác, vui vẻ với cuộc đời của mình. Không khoan thứ cho người khác, thật ra là đang không bỏ qua với chính mình.

Tấm lòng của một người có thể dung chứa được bao nhiêu người, thì có thể thắng được bấy nhiêu lòng người. Tấm lòng rộng mở, mới có thể thành tựu sự nghiệp, mới có đời người yên bình và vui tươi. Tâm rộng lớn, thì tất cả mọi chuyện đều nhỏ hết.

Chuyện lớn chuyện khó, xem cách đảm đương. Nghịch cảnh thuận cảnh, xem tấm lòng.

Là vui hay giận, xem tu tính. Có mất có được, xem trí tuệ. Là thành là bại, xem kiên trì.

Mọi chuyện thuận theo tự nhiên. Vạn sự xử trí an nhiên. Lúc đắc ý điềm nhiên. Lúc thất ý thản nhiên. Gian nan trắc trở xem như tất nhiên. Trải nghiệm hết vô thường mới ngộ ra.

Uống loại trà thanh khiết, ngậm cái miệng thị phi, kết giao bạn ngộ đạo.

Tình yêu đích thực, là chấp nhận, không phải chịu đựng; là ủng hộ, không phải chi phối; là hỏi thăm, không phải chất vấn.

Tình yêu đích thực, phải cám ơn, cũng phải xin lỗi; phải ân cần, cũng phải thông cảm; phải nhận lỗi, cũng phải sửa lỗi.

Tình yêu đích thực, không phải nghi ngờ lẫn nhau, mà là cùng nhau nhìn về một hướng.

Thật ra, yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo. Mà là, phải học cách dùng đôi mắt hoàn hảo, để ngắm nhìn một người không hoàn hảo.

Saigon xưa là Hòn Ngọc Viễn Đông! có đúng sự thật hay là nổ?

Một bạn miền Bắc đặt câu hỏi trên diễn đàn Qui Nhơn: “Nghe nói Saigon xưa là Hòn Ngọc Viễn Đông! có đúng sự thật hay là nổ?” Xin trả lời vắn tắt bằng sự kiện thực tế:

Vài điều cần chia xẻ với các bạn trẻ, hoặc các bạn ở “phía bên kia thế giới tự do”, về Việt Nam Cộng Hòa: Trước 1975, tôi là Giám đốc Công ty Xuất cảng Nấm Tây đóng hộp NAM HẢI KỸ NGHỆ CÔNG TY, cơ xưởng tại Suối Lồ Ồ, Dĩ An. Hồi đó, tôi đã mướn 1 kỹ sư Nam Hàn, và 7 chuyên viên người Nam Hàn làm việc cho tôi, chỉ chuyên trồng nấm Tây mà thôi. Nam Hàn thời bấy giờ còn lạc hậu hơn Việt Nam nhiều, nên người Đại Hàn phải sang Việt Nam tìm việc làm. Tư cách họ rất ồn ào, kém văn minh, hay đánh lộn. Những người làm việc cho tôi trong cơ xưởng trồng Nấm, cứ cãi nhau là gầm lên, xắn tay áo xông vào nhau, đánh nhau gẫy răng. Lý do tôi mướn người Nam Hàn là vì người Việt mình không có ai biết trồng Nấm Tây (French Mushroom) theo kiểu kỹ nghệ lớn, mà chỉ biết trồng Nấm Rơm, Nấm Đông cô, nấm Mèo là những thứ trồng theo thủ công, tiểu công nghệ, trồng ngoài vườn. Nấm Tây phải trồng trong nhà kín, có 12 cái máy lạnh, hai lớp tường, hai lớp mái, trồng trên giường sắt 3 tầng, rất công phu, ra vào phải mặc quần áo riêng, giầy dép riêng, mang găng tay. Cơ xưởng của tôi có 7 căn nhà dài 45 mét, ngang 7 mét. Mấy người Đại Hàn chỉ giỏi trồng nấm chứ không biêt gì khác. Về Thái Lan, lúc đó, cũng nghèo nàn, mê tín, không có kỹ nghệ lớn, trong khi miền Nam đã biết đóng xe hơi (La Dalat), nhiều cơ xưởng khổng lồ, chế xe đạp, chế xe gắn máy (Puch), xi măng. Tại Saigon, có Khu Kỹ Nghệ Tân Thuận gồm toàn cơ xưởng lớn, do ngoại quốc làm chủ, nhưng phải theo luật Việt Nam về chính trị, tài chánh, xã hội, nếu vi phạm thì bị xử ngay (không như đặc khu Tầu phù hiện tại, dân Tầu làm chủ cả chính trị, tài chánh luôn, nhà nước Việt Nam hiện tại không dám đung tới.) Về phía Nam, thì Cam bốt (Campuchea) lúc đó cũng khốn khó, và thù người Việt nên thỉnh thoảng “cáp duồn” (chặt đầu người Việt thả trôi sông). Nhưng chính phủ Cam Bốt thì lệ thuộc vào viện trợ của Việt Nam. Nước Lào còn tệ hơn nữa. Nhiều chuyên viên Lào, Cam Bốt, Thái Lan phải sang Việt Nam du học. Singapore thời gian đó cũng không có gì xuất sắc. Indonesia, Miến điện thì cũng thế. Nói chung, Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 là CON RỒNG LỚN NHẤT CHÂU Á. Việt Nam có nền tài chánh vững mạnh, đồng tiền Việt Nam hồi đó giá trị, 1 đô la Mỹ chỉ có 500 đồng VN là tối đa, đôi khi tụt xuống còn 300 đồng VN ăn 1 đô la Mỹ (hiện tại là khoảng 20,000 đồng Việt Nam bằng 1 đô la Mỹ.) Quân đội miền Nam, đứng một mình vẫn mạnh nhất Á châu Các Sĩ Quan Hải, Lục, Không Quân được huấn luyện tại các trường Quân Sự lớn và có thể sang Hoa Kỳ, Úc, Pháp tu nghiệp, nhưng hệ thống chỉ huy không lệ thuộc Hoa Kỳ (Trong khi Quân đội miền Bắc là đệ tử của Trung Cộng, Nga Sô, và các nước Cộng sản khác. Cố Vấn Tầu hồi đó, được phục vụ theo chế độ Đặc Táo, ăn sang hơn bộ đội cụ Hồ gấp trăm lần.) Về Văn Hóa: Văn chương miền Nam Tự do nên phong phú về mọi mặt. Giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế. Về xã hội, có chế độ đặc biệt cho người bất toại, và thương phế binh. Dân chúng được sở hữu đất đai, ruộng cầy, (hiện tại, thì không có người dân nào được sở hữu đất đai, chỉ sở hữu cái phần xây cất bên trên, nên nhà nước có quyền lấy bất cứ lức nào theo chương trình “cưỡng chế”) Nói chung, Saigon ngày xưa đúng là HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG! Vì thế Dương Thu Hương khi vào đến Saigon là ngồi khóc vì thấy rằng cả miền Bắc đã bị lừa dối khi cho rằng miền Nam bị kềm kẹp, đói khổ.

(Trên đây chỉ là sơ lược, nhất thời. Sẽ viết nhiều hơn với tài liệu đầy đủ.)

CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

May be an image of text that says '"Hãy chăm sóc tốt thể xác nếu bạn muốn sống lâu, hãy chăm Soc tốt linh hồn, vì cô the bạn se chết vào ngày mai. -Thánh Augustino-'

 

CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

Một người kia biết mình sắp từ giã cõi thế, ông mơ thấy Chúa đến gần, trong tay Ngài cầm một chiếc vali.

Chúa bảo: “Nầy con, đã đến lúc đi theo Ta rồi”. Ngạc nhiên, người ấy trả lời: “Bây giờ sao ? Mau quá vậy ? Con có bao nhiêu là dự định…” – “Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi”.

Người ấy hỏi: “Ngài có gì trong chiếc vali kia vậy ?” Chúa trả lời: “Tất cả những gì thuộc về con”. “Ồ, những gì thuộc về con sao ? Ý Ngài muốn nói những đồ đạc, áo xống, tiền bạc của con ư ?” Thượng Đế trả lời: “Những cái đó đã không phải của con; chúng thuộc về trần gian”.

Người ấy lại hỏi: “Có phải nó là ký ức của con không ?” Chúa trả lời: “Ký ức đã không bao giờ thuộc về con; chúng thuộc vào thời gian”.

“Vậy có phải là những tài năng của con ?”… “Tài năng đã không bao giờ là của con; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống con gặp trong đời con phải giải quyết”.

“Phải chăng là bạn bè và gia đình của con ?”… “Rất tiếc, họ đã không bao giờ là của con, họ thuộc về con đường mà con đã đi qua”.

“Hay đó là thân xác con ?”… “Thân xác đã không bao giờ là của con, nó thuộc về cát bụi”.

“Vậy đó là linh hồn của con chăng ?”… “Không đâu, linh hồn của con thuộc về Ta là Đấng đã tạo dựng nên con”.

Đầy hoang mang sợ hãi, người ấy nhận chiếc vali từ tay Chúa và mở nó ra, ông chỉ thấy nó trống trơn.

Một giọt nước mắt lăn dài trên má, người ấy thốt lên: “Trời ơi, vậy là cuối cùng con đã chẳng có gì cả sao ?”…

Chúa trả lời: “Không đâu, con đã có được nhiều lắm chứ, nhưng nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, nó chính là tấm lòng vị tha của con. Mỗi khi con nói một lời tử tế, mỗi khi con làm một điều dễ thương, mỗi khi con nghẹn ngào trước một mảnh đời khốn khổ, Ta đều cất giữ tất cả vào làm hành lý cho con mang theo về cùng Ta…”

Sưu tầm 

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

 24/04/2020

By  VÕ VĂN QUẢN

Các liên danh tranh cử ở miền Nam ra mắt cử tri năm 1967. Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý sau thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm quyền không thoát khỏi cái nhìn cú diều của nhiều nhà sử học Việt Nam lẫn một số nhà báo phương Tây cánh tả vốn đã có sẵn định kiến với nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Song thiện cảm của giới sử gia và các nghiên cứu khoa học chính trị về tính minh bạch và dân chủ của bầu cử tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Đệ Nhị và Đệ Tam Cộng hòa đều tăng. 

Như cuộc tổng tuyển cử ngày 3/9/1967 của Việt Nam Cộng hòa, New York Times – một trong những tờ báo cánh tả chống chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ nhất cũng đã phải so sánh rằng, so với kiểu bầu cử một đảng “làm cho có” (pro forma affairs) ở Bắc Việt, và những cuộc bầu cử 97, 98% của Diệm, giai đoạn mới của Việt Nam Cộng hòa và nền dân chủ của nó có vẻ đáng được đánh giá cao hơn rất nhiều.

Điều mà rất nhiều người quên là, chính trị miền Nam Việt Nam rối ren hơn hẳn miền Bắc do đặc tính của một vùng đất mới với nền chính trị vẫn còn phải qua một thời gian dài thử sai; giống như sự khác biệt giữa miền Viễn Tây hoang dã và vùng phía Đông công nghiệp hóa của Hoa Kỳ vậy. Bản thân chính quyền miền Nam Việt Nam lại phải đối mặt với sự giám sát không chỉ của báo chí tự do ở đây, mà còn là báo chí Mỹ, người dân Mỹ và các nhà phản chiến người Mỹ; điều mà chính quyền Bắc Việt không hề biết và không cần phải biết. Không chỉ vậy, họ cũng không sở hữu được những công cụ đàn áp tuyệt đối mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có. 

Với một lịch sử lộn xộn của đảo chính quân sự, tướng tá lạm quyền, các cuộc nổi dậy ở địa phương và các cuộc chiến giữa những phe phái tôn giáo, cuộc tổng tuyển cử năm 1967 phải nói là một thành công lớn, khi được tiến hành đúng trình tự, mang lại tính chính danh cho chính quyền mới, tôn trọng đa nguyên (ở một mức độ nhất định) cũng như ổn định nội tại xã hội.

Hình ảnh vận động tranh cử nơi công cộng (từ trái qua phải):
Hàng trên: Ứng cử viên Tổng Thống Phan Khắc Sửu – Ứng cử viên Tổng Thống Phan Quang Đán.
Hàng dưới: Ứng cử viên Tổng Thống Trần Văn Hương – Ứng cử viên Tổng Thống Trương Đình Dzu.
Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Không chỉ đề xuất về việc xây dựng một bản Hiến pháp mới với một cơ chế lưỡng viện quyền lực hơn, có khả năng đối trọng với vai trò của tổng thống nhiều hơn; cuộc bầu cử còn giới thiệu những yếu tố dân chủ đáng quý ngay trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam đang leo thang: từ các cuộc tranh luận toàn quốc giữa các ứng cử viên, cho đến việc các ứng cử viên được cấp thời lượng phát sóng trên truyền hình khiến cho cuộc đua vào các chức danh dân cử trở nên công bằng và sòng phẳng hơn bao giờ hết. 

Các ứng viên thoải mái phê phán chính phủ quân quản ở nhiều phương diện, trong khi bản thân họ cũng đại diện cho các nhóm chính trị đa dạng tại miền Nam Việt Nam: từ các chính trị gia cấp tiến chủ hòa ở đồng bằng sông Cửu Long cho đến những nhóm quân nhân Công giáo tị nạn với lời kêu gọi đưa quân “giải phóng” miền Bắc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại của cả hai miền, không khí thảo luận chính trị lại đa nguyên, đa dạng và được tôn trọng như vậy. 

Báo cáo mật của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho chính phủ Hoa Kỳ ngay sau cuộc tổng tuyển cử, vốn có rất ít lý do để nói dối về tình hình tại miền Nam Việt Nam, cũng phải thừa nhận rằng cuộc bầu cử diễn ra rất công bằng và đúng tiêu chuẩn. Trong số 11 ứng cử viên cho chức danh tổng thống, chỉ có một người đại diện quân lực Việt Nam Cộng hòa, và 10 người còn lại có nền tảng, thân thế chính trị đa dạng. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận với công chúng một cách sòng phẳng. CIA ghi nhận chỉ có khoản 11 khiếu nại đơn lẻ về cuộc bầu cử, và hầu hết đều không đủ cơ sở để chứng minh quá trình bầu cử bị thao túng hay chỉnh sửa kết quả. 

Đặc biệt thú vị hơn, luật sư Trương Đình Dzũ, dựa vào các kênh tiếp cận công chúng bình đẳng, nhanh chóng đạt được tỉ lệ ủng hộ đáng nể nhờ vào tài ăn nói và xu thế hòa bình của mình. Ông kết thúc cuộc bầu cử ở vị trí thứ hai – 17% – đánh bật mọi kỳ vọng trước đó của giới quân đội VNCH. Và một tương lai dân sự, công bằng, dân chủ của chính quyền miền Nam Việt Nam mở rộng hơn bao giờ hết. 

Nhưng rồi năm 1968 với trận Tết Mậu Thân đến. Với những sai lầm chiến thuật của cả quân đội Hoa Kỳ lẫn quân lực Việt Nam Cộng hòa, dù bên nhận phải tổn thất kinh hoàng nhất là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Việt Cộng) và quân đội Bắc Việt, chiến dịch đã khiến cho các kỳ vọng dân sự hóa miền Nam Việt Nam đổ sông đổ bể, và phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ lại bị đẩy lên cao hơn bao giờ hết. 

Có nhiều lý do để cho rằng đây là chủ đích của phe Bắc Việt, và đây cũng không phải là lần duy nhất họ cố gắng phá hoại các nỗ lực dân sự hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam (như vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông chẳng hạn). Chiến tranh Việt Nam càng đẫm máu, miền Nam Việt Nam càng rối loạn, có vẻ càng có lợi cho công cuộc “thống nhất đất nước” mà các nhà Marxist chủ nghĩa ở Hà Nội vẽ ra. 

Bầu cử ở miền Nam Việt Nam, đáng trân trọng, cũng vì lẽ ấy.

Một số hình ảnh về cuộc bầu cử năm 1967 của tạp chí LIFE.

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

On Apr 10, 2021

Hiếu Chân

Hơn hai tháng sau ngày quân đội Myanmar làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền dân sự và tiến hành cuộc đàn áp tàn bạo những đám đông biểu tình phản đối đảo chính, nền kinh tế nước này đang dần dần sụp đổ, những thành tích phát triển của một thập niên mở cửa, cải cách dân chủ đang dần dần bị xóa sạch.

Khắp nước Myanmar, các chi nhánh ngân hàng đều đóng cửa, nhân viên chính phủ và các công ty không đi làm việc, công nhân các nhà máy bỏ việc về quê, các công ty nước ngoài rút chuyên gia về nước, còn mạng viễn thông internet gần như đã bị cắt.

Từ khi quân đội làm đảo chính ngày 06-01-2021, các đường phố ở Myanmar ngày nào cũng xảy ra biểu tình phản đối, đòi tái lập nền dân chủ và đều bị quân đội đàn áp dã man. Đến hôm nay, thứ Bảy 10-04, đã có hơn 618 người biểu tình bị giết, trong đó có nhiều trẻ em bị bắn chết khi đang ở trong nhà, trong sân, theo số liệu của tổ chức Hội Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (AAPP).

Tình hình mất an ninh ở các khu vực đô thị làm cho công việc kinh doanh trở nên hết sức rủi ro, chỉ trừ một số dịch vụ thiết yếu, phần lớn các cửa tiệm, công sở, nhà máy đều đã đóng cửa, các hoạt động sản xuất kinh doanh gần như đều ngưng trệ.

Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) và các chuyên gia kinh tế dự đoán năm 2021 kinh tế Myanmar sẽ bị “co lại” ít nhất 10%, thành quả về xóa đói giảm nghèo bị xóa sạch, các nhà đầu tư nước ngoài cùng với du khách quốc tế – động lực phát triển kinh tế của Myanmar trong thập niên qua – sẽ sợ hãi mà tránh xa đất nước này. Trước đảo chính, World Bank đã dự đoán kinh tế Myanmar trong năm tài chính kết thúc vào tháng Chín 2021 sẽ tăng trưởng khoảng 2%, chậm hơn năm ngoái một chút do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Trước đảo chính, Myanmar đã là quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á, với sáu triệu người dân sống trong cảnh khốn cùng có thu nhập chưa tới 3,2 USD mỗi ngày – ngưỡng nghèo đói áp dụng cho những nước thu nhập trung bình thấp như Myanmar; một phần tư số trẻ em Myanmar bị thiếu cân và thấp lùn do suy dinh dưỡng kinh niên. 

Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là do nhiều thập niên, đất nước nằm dưới sự cai trị của các tướng lãnh quân sự với những chính sách kinh tế sai lầm và thảm họa. Khi tập đoàn quân phiệt bắt đầu nhường bớt quyền cai trị cho một chính phủ dân sự, thực hiện cải cách, thì nhiều hoạt động kinh tế được “cởi trói”, dòng vốn đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đổ vào, thúc đẩy sự tăng trưởng. Theo dữ liệu của World Bank, tỷ lệ người nghèo đói trong dân số Myanmar đã giảm từ mức 42,2% năm 2010 (năm trước cải cách) xuống còn 24,8% năm 2017. Nhưng do tình hình trì trệ sau đảo chính, con số này có thể tăng trở lại mức 30% trong năm 2021, sẽ có thêm 1,8 triệu người rơi trở lại cảnh đói nghèo.  

Công ty xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Solutions còn bi quan hơn khi dự báo kinh tế Myanmar sẽ giảm sút khoảng 20%, căn cứ vào các dữ kiện như sức mua của người dân giảm sút, nhà nước thất thu thuế nên sẽ giảm chi tiêu và đầu tư. 

Sự đình đốn được thể hiện rõ nhất trong ngành dệt may – ngành sử dụng nhiều lao động nhất và đóng góp một phần tư doanh thu xuất cảng của Myanmar, một phần nhờ chính sách miễn thuế khi nhập cảng vào thị trường Liên minh châu Âu. Sau vụ đảo chính, các hãng thời trang quốc tế lớn như Hennes & Mauritz AB của Thụy Điển, Benetton của Ý đã ngừng đặt hàng các công ty dệt may Myanmar, buộc nhiều nhà máy may phải đóng cửa. Các vụ biểu tình và đàn áp của quân đội diễn ra ở các khu công nghiệp làm cho người lao động sở hãi, nhiều người bỏ thành phố trở về làng quê, làm cho tình trạng thiếu lao động trở nên trầm trọng ở những nhà máy còn có đơn hàng để hoạt động.

Các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông đình trệ vì mạng internet bị cắt trên diện rộng. Ngành du lịch, một thế mạnh của Myanmar nhờ di tích lịch sử và văn hóa Phật giáo phong phú, từng tăng trưởng gấp năm lần trong thập niên vừa qua, nay đang ngắc ngoải, một phần vì đại dịch Covid-19 và các biện pháp phong tỏa biên giới để phòng dịch, một phần vì tình trạng hỗn loạn trên đường phố, du khách không cảm thấy an toàn khi đi du lịch Myanmar. Hàng loạt khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch phải đóng cửa, cho nhân viên nghỉ việc, chưa biết đến bao giờ mới hoạt động trở lại được.

Tình trạng đình trệ các hoạt động kinh tế Myanmar còn do chủ ý của những lực lượng đối lập với quân đội; họ vận động người dân thực hiện một phong trào “bất tuân dân sự”, bãi công, bãi khóa, bãi thị trong nỗ lực làm cho tập đoàn quân phiệt cầm quyền không điều khiển được đất nước. Mục tiêu của họ là “từng bước, từng bước làm cho guồng máy của quân đội chao đảo và ngừng hoạt động,” một nhà giải phẫu học lãnh đạo phong trào bất tuân dân sự viết trên Facebook và cho biết những người ủng hộ phong trào, kể cả những người giàu có ở nước ngoài, đã gửi tiền đóng góp vào quỹ hỗ trợ những gia đình gặp khó khăn về đời sống khi tham gia bãi công, bãi thị. 

Hôm thứ Tư, tướng Min Aung Hlaing, tổng tư lệnh quân đội và cầm đầu vụ đảo chính, được báo chí nhà nước trích lời, gọi phong trào bất tuân dân sự “đang tàn phá đất nước” nhưng ông không cho biết tập đoàn quân sự cầm quyền sẽ có biện pháp gì để ổn định các hoạt động kinh tế của đất nước.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

09/04/2021

Hơn mười năm trước – chính xác là vào hôm 04 tháng 7 năm 2012 – báo Công An Nhân Dân có một bài viết ngắn (“Ấm Lòng Tình Đảng Chan Chứa Lòng Dân”) của nhà báo Hồng Dung, về chuyến đi thăm dân của ông Nông Đức Mạnh, khiến nhiều độc giả phải rơi nước mắt:

“Bà con ùa ra, vây quanh Tổng Bí Thư, chân tình, ngây ngất như đón người thân trở về gia đình. Những cái bắt tay, những nụ cười rạng rỡ. Tất cả tạo nên sự đầm ấm đến nao lòng…”

Tài đức cỡ Nông Đức Mạnh thì được nhân dân tiếp đãi “như đón người thân trở về gia đình” là chuyện tất nhiên, không có gì để phải suy nghĩ (lăn tăn) hay suy diễn (linh tinh) cả. 

TBT Lê Khả Phiêu, cũng thế. Tình cảm dân chúng dành cho ông cũng rạt rào đến độ nhà văn Thanh Phong ghi lại được cả một tuyển tập (Mênh Mông Tình Dân) dầy tới 284 trang, và đã được nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành vào năm 2008.

Trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng” cho đồng chí Lê Khả Phiêu, đương kim Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời ca tụng thành tích của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Nói thế chả qua là vì quá khiêm tốn mà thôi, chứ tài ba và đức độ tới cỡ như Bác Trọng thì xưa nay hiếm, nếu chưa muốn nói là vô song, cần chi mà phải học tập hay noi gương ai nữa.  

Báo Người Lao Động, số ra ngày 29 tháng 3 năm 2021, vừa hớn hở đi tin (“Đại Biểu Quốc Hội Cảm Động Về Hình Ảnh Của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước”) khiến cả nghị trường đều cảm thấy nức lòng: 

  • ĐB Ngọ Duy Hiểu: “Mỗi khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước xuất hiện ở đâu, người dân, cán bộ, đảng viên đều rất vui mừng, phấn khởi, được truyền cảm hứng mạnh mẽ, xây dựng tình cảm cách mạng, tạo sự đồng thuận trong toàn đảng, toàn dân và toàn quân.”
  • ĐB Nguyễn Anh Trí: “Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcmái đầu bạc trắng hiên ngang, với gánh sơn hà nặng trĩu hai vai, là trung tâm đoàn kết, là ngọn cờ tập hợp, là người khơi nguồn tự hào dân tộc.”

Thiệt là quá đã, và (hoàn toàn) không có gì quá đáng!

Bác Hồ giữ chức Chủ Tịch Đảng kiêm Chủ Tịch Nước từ ngày 19 tháng 4 năm 1948 cho mãi đến khi chuyển qua từ trần, vào hôm 2 tháng 9 năm 1969. Trong hơn hai mươi năm lèo lái đất nước, Người được dân chúng thương mến và ca tụng cả râu lẫn tóc: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ…

Nửa thế kỷ sau, đất nước mới lại xuất hiện thêm một Người Cầm Lái Vỹ Đại mà tóc tai cũng gợi hứng cho giới văn nghệ sỹ. Nhạc phẩm CÓ MỘT MÁI ĐẦU TÓC BẠC do nhạc sỹ Nguyễn Anh Trí sáng tác, Học Viện An Ninh dàn dựng,  ca sỹ Viết Danh (và nhóm Tốp Ca HVANQG) trình bầy – vào hôm 28 tháng 3 năm 2021 – đã khiến cho cả nước ngất ngây suốt mấy tuần qua:

Có một mái đầu bạc trắng vinh quang!
Có một con người vì nước vì dân
Những nỗi lo cho đất nước thoát nghèo
Những biển Đông sóng cồn… 

Tóc trên đầu ông bạc trắng hiên ngang
Kia nhìn lên mái đầu tóc bạc của ông
Như thấy đỉnh Fanxipan
Như bao lớp sóng biển trùng khơi…

Cùng lúc báo chí nước nhà cũng đều hân hoan và đồng loạt loan tin: NHÂN DÂN VỠ OÀ CẢM XÚC KHI TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÁI ĐẮC CỬ!

Nói nào ngay thì cũng có ít nhất dăm ba “nhân dân” hoàn toàn không có “cảm xúc” gì ráo trọi với bản tin thượng dẫn. Lý do, giản dị, là họ không có cơ hội đi bầu vì đang nằm viện – Viện Tâm Thần.

Xin phép được trích dẫn đôi ba đoạn chính, trong thư đề ngày 28 tháng 3 năm 2021 (THƯ GỬI CÁC THẦY THUỐC CÓ LƯƠNG TRI) của CLB Lê Hiếu Đằng– do T.S Mạc Văn Trang chấp bút – để rộng đường dư luận:

Thưa các Bác sĩ, các nhân viên y tế trực tiếp đem nghề nghiệp phục vụ nhân dân.

Chúng tôi biết rằng, ngoài một số người lợi dụng nghề Y để làm những việc bất chính nhằm trục lợi, số còn lại, các thầy thuốc tuân theo lời thề Hypocrates và những quy định về Y đức của Việt Nam, đều hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng chúng tôi viết Thư này gửi đến các Quý vị vì nỗi lo lắng, tình trạng Công an đã chuyển một số Tù nhân lương tâm, vốn là những người bình thường trước khi bị bắt, vào Bệnh viện Tâm thần. Gần đây là trường hợp các ông Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương, cụ thể như sau:

1 – Tin cho biết ông Lê Anh Hùng khi từ chối uống thuốc, đã bị nhân viên y tế tại Bệnh Viện Tâm thần trung ương đánh đập dã man, trói chân tay vào giường và cưỡng bức tiêm thuốc tâm thần. 

2 – Trường hợp nhà văn Phạm Thành, vợ ông bà Nguyễn Thị Nghiêm, nói với đài VOA: “Ngày 24/11/2020, họ chuyển anh ấy từ trại số 1 Hỏa Lò thuộc Công an thành phố Hà Nội đến Viện pháp y Tâm thần Trung ương ở huyện Thường tín. Ngày 25/11, Điều tra viên báo với tôi rằng như vậy. Trong lòng tôi rất hỗn loạn. Tôi không biết làm thế nào cả”.

3 – Trường hợp ông Trịnh Bá Phương, vợ ông, bà Thu nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau: “Là anh Nguyễn Thế Bắc (công an), chỉ thông báo bằng mồm rằng đã trích xuất chồng em đi tới Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 1 vào hôm 1 tháng 3 năm 2021”… 

Chúng tôi hy vọng và cầu mong các thầy thuốc có lương tri hãy không tiếp tay cho tội ác, mà bằng Y đức và chuyên môn của mình, hãy cứu lấy các Tù nhân lương tâm thoát khỏi “thảm kịch tâm thần”. Đó sẽ là Quả phúc của Quý vị do hành nghề lương thiện mà có được.

Xin gửi đến các thầy thuốc có lương tri Niềm tin và Hy vọng.

Sài Gòn, ngày 28/3/2021

TM CLB Lê Hiếu Đằng

Mạc Văn Trang

Tôi được tiểu bang California cấp bằng hành nghề trị liệu tâm thần (license number 17705) từ ngày 20 tháng 11 năm 1995 cho đến khi nghỉ hưu, vào hôm 30 tháng 4 năm 2015. Tôi cũng là bạn FB với anh Trịnh Bá Phương, và là độc giả thường xuyên của nhà báo Lê Anh Hùng cùng nhà văn Phạm Thành, từ nhiều năm qua. Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn trao đổi đôi điều tâm sự về những vấn đề thời cuộc. Tuyệt nhiên, tôi không nhận thấy có dấu hiệu bất thường nào nơi họ cả. 

Vấn đề, chả qua, là cả ba nhân vật thượng dẫn đều không thích cái thói xu nịnh và đã thẳng thắn nói lên những lời trung thực khiến ông Nguyễn Phú Trọng (và cả giới cầm quyền nghịch nhĩ) nên họ đành phải chịu họa – họa trung ngôn – giữa thời buổi nhiễu nhương. Trong một xã hội mà không có nhân cách người ta vẫn sống (thậm chí còn sống béo tốt hơn) thì những người chính trực bị giam trong Viện Tâm Thần … là phải!

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

Mấy ngày nay một số Facebook chia sẻ lại câu chuyện (nghe nói là xảy ra năm 2014) về cô bé “ăn cắp” 2 cuốn sách ở một nhà sách ở Gia Lai. Thay vì cảm thông cho cô bé ham đọc sách, và tặng thêm sách sau khi chỉ bảo điều hơn lẽ thiệt, người ta đã bắt cô bé lại, trói 2 tay vào thành lan can, đeo tấm bảng ghi chữ “Tôi là người ăn trộm” trước ngực, rồi chụp hình và bêu rếu lên mạng xã hội.

Cách làm bất nhơn, không chút tình người của những người quản lý ở đây đã thể hiện phần nào một xã hội không tình không nghĩa, phản giáo dục, đi ngược lại sự tiến bộ, văn minh của loài người. Nói chánh xác hơn thì đây là hành vi man rợ của những con người vô văn hoá, những cái xác biết đi chứ khổng biết cư cử đúng mực con người! Âu con người cũng là sản phẩm của nền giáo dục của xã hội đó!

Chợt nhớ lại câu chuyện cậu bé 14-15 tuổi cũng ăn cắp sách trong tiệm sách Khai Trí của bác Nguyễn Hùng Trương, mà người đời hay gọi là ông Khai Trí. Khi thấy lùm xùm, do nhân viên nhà sách định làm dữ với cậu bé, một vị khách ôn tồn hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, tỏ vẻ khâm phục cậu bé vì học giỏi mà không tiền mua sách nên phải ăn cắp, ông đã ngỏ lời xin tha và trả tiền sách cho cậu.

Ngay lúc đó thì ông Khai Trí bước vào…

“Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

….

Một buổi chiều [sau 1975 khá lâu], người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí, các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm. “Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi. Không ai biết ông ta là ai cả…”

Đọc chuyện xưa, ngẫm chuyện nay mà sao ngao ngán cho cái tình người trong cái xã hội nhiễu nhương này. Chẳng lẽ sau hơn 45 năm “giải phóng”, đạo đức con người, đạo đức xã hội này không có chút tiến bộ nào, ngược lại còn suy đồi đến mức bất nhân?

(Copy từ Sài Gòn trong tim tôi)

Từ Fb LE VAN QUY