Khi thế giới không như ta thấy

 May be an image of text that says 'K FACT A AC T'

 Khi thế giới không như ta thấy

“Mặt trận truyền thông” là khái niệm được dùng để mô tả cuộc chiến thông tin khi mạng xã hội xuất hiện. Với sự bùng nổ của Internet, các nguyên tắc kiểm duyệt thông tin dần dần bị vô hiệu hóa. Nếu như trước đây mặt trận truyền thông là sự phân tranh giữa trắng và đen, thì nay, một màu xam xám lờ mờ đã xuất hiện.

Năm 2016 – 2020, tin giả xuất hiện. Công thức để chế biến tin giả ngày càng trở nên điêu luyện. Dựa trên một bản tin thật người chế biến tin giả có thể lọc lại hình ảnh, sự kiện, diễn biến để lồng ghép vào các diễn biến xã hội. Hình ảnh là thật, nhưng nội dung, bối cảnh lại là giả dẫn tới thông tin đưa ra là không có thật. Một cách chế biến tin giả phổ biến nhất đó là dẫn nguồn tin bi ẩn kiểu “ông chú Viettel” hay “người ẩn danh ở bên trong bộ máy quyền lực”. Loại tin này thỏa mãn tâm lý hiếu kỳ của quần chúng.

Nếu như ở Việt Nam, khi mạng xã hội chưa lên ngôi, mặt trận truyền thông đơn giản thì là cuộc chiến giữa lề đảng và lề dân thì nay mọi thứ không như thế nữa.

Khi người xem, người nghe, người đọc cho mình quyền quyết định thông tin “muốn” tiếp cận, họ sẽ tự lựa chọn tin tức mà họ muốn “thấy”. Nắm bắt tâm lý này, gam màu xám trên mặt trận truyền thông bắt đầu chiếm ưu thế. Tất cả những tin tức không có lợi, không hợp nhãn đều bị gọi là “tin giả”. Cụm từ fake news xuất hiện được lặp đi lặp lại bởi những lãnh tụ có uy quyền khiến một bộ phận người dân từ chối tiếp nhận thông tin theo bản chất mà nó vốn có. Và để chứng minh càng thông tin thật là giả, người ta đưa các tin giả đã được chế biến ra để làm luận điểm cho bản thân mình.

Trong một thế giới mà con người nghi kỵ, bất mãn, chán chường, việc tự nhốt mình với những thông tin mang tính khích lệ, gây hưng phấn tinh thần để có động lực sống khiến người ta ngày càng chuộng tin giả hơn.

Với số đông quần chúng, họ chỉ muốn nghe, muốn thấy đều họ cần, còn thực tế đối chứng, kiểm tra thì chẳng mấy ai có thời gian để thực hiện. Vì vậy, việc quần chúng phó mặc và bị định hướng thông tin là chuyện thường xảy ra ở các quốc gia độc tài, có cơ chế kiểm duyệt thông tin. Và các quốc gia như Nga, Trung Quốc, Iran, Việt Nam sẵn sàng đổ tiền, lên chiến lược, kế sách để phát tán tin giả hòng chứng minh với dân chúng rằng “đừng mơ mộng, hy vọng hão huyền vào các giá trị dân chủ, tự do”. Từng ngày một, chiến lược tin giả khiến quần chúng rơi vào mộng mị. Và khi thế giới không như họ thấy, thì dân chúng ngoan ngoãn, xếp re trở thành những con chiên hiền lành dễ bảo.

Không phải ai cũng có khả năng kiển chứng thông tin nên nạn nhân của tin giả rất đa dạng. Sự thông cảm có thể được giành cho các nạn nhân không có cơ hội tiếp cận nguồn tin đa chiều, nhưng tuyệt đối không thể cảm thông với những người cố tình tiếp tay phát tán tin giả vì muốn quần chúng nhìn thế giới theo cách mà họ muốn.

Vì thế nếu ai đó bảo rằng tôi hãy thông cảm cho những người phát tán tin giả, câu trả lời của tôi là KHÔNG BAO GIỜ. Bởi chính những kẻ phát tán tin giả chính là nguồn cơn hủy hoại niềm tin và các giá trị tự dân chủ và sự thật.

P/s: Sự thật và dối trá đôi khi chỉ xê xích nhau chút xíu. Quan trọng là bạn chọn cách tiếp cận và chấp nhận ra sao mà thôi. Thế giới vốn không như ta thấy, nhất là khi người có thể điều khiển thế giới ấy là những kè độc tài mị dân.

Ảnh minh họa: Internet

LÝ THUYẾT CON GIÁN

LÝ THUYẾT CON GIÁN

Một con gián, không biết từ đâu, bay vào nhà hàng và đậu lên vai một quý bà.

Quý bà vô cùng hoảng hốt. Khuôn mặt sợ đến tái mét, bà vừa la hét, vừa nhảy ra khỏi ghế ngồi, cố lắc thật mạnh để tách con gián ra.

Con gián bay sang đỗ lên vai một quý bà khác. Quý bà này cũng sợ hãi không kém và tạo ra một sự hỗn loạn còn lớn hơn.

Và cứ thế, con gián chuyền từ người này sang người khác. Sự hỗn loạn ngày càng gia tăng.

Cuối cùng người bồi bàn cũng chạy tới. Anh lấy chiếc khăn xua nhẹ và con gián vô tình bay sang vai anh. Rất bình tĩnh, anh chậm rãi đi ra cửa, rồi chạm nhẹ vào nó. Con gián tự bay ra vườn. Sự hỗn loạn kết thúc”.

Sundar Pichai đúc kết:

“Nhìn qua, chúng ta dễ lầm tưởng rằng, sự hỗn loạn là do con gián mang lại. Nhưng qua cách xử lý của người bồi bàn, chúng ta hiểu là không phải thế. Sự hỗn loạn thực tế đã được tạo ra bởi những hành động của các quý bà đối với con gián, chứ không phải bản thân con gián”.

Trong cuộc sống, những chuyện ta không mong muốn vẫn luôn xảy ra. Chẳng hạn, nhỏ thì như chuyện: cơm sống, canh mặn; hoặc lớn hơn như chuyện: trẻ con hàng xóm đánh nhau hay anh chồng nhậu say xỉn… Bản thân chúng chưa phải là vấn đề; chính thái độ và cách xử lý không thích hợp của chúng ta mới thực sự biến chúng thành vấn đề.

St

May be an image of outdoors and text

SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC”

 SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC”

(Nhân dịp 30-4-2010, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) có gởi tôi 4 câu hỏi liên quan đến “hòa giải”. Dĩ nhiên, tôi trả lời riêng từng câu. Nhưng để anh chị em đọc một dòng từ đầu đến cuối các suy nghĩ có liên quan mật thiết với nhau, tôi ghép cả bốn câu hỏi vào chung một câu và bốn câu trả lời cũng vào chung thành một bài.

Hỏi:

Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”, về câu nói của ông Võ Văn Kiệt “một triệu người vui, một triệu người buồn”, về thắc mắc của nhà văn Vũ Ngọc Tiến “Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?” và cuối cùng về câu nói của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” ?

Đáp:

Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho tổng thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn “A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài.

Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức v.v..

Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi.

Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay.

Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản.

Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra.

Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

Thế nhưng, cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại.

Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ.

Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình.

Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy?”

Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn đặt ra cho giới lãnh đạo đảng chứ không phải cho độc giả của ông.

Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ để thương chứ không phải để sống.

Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước.

Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm giai cấp tư sản đỏ đang như giòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại.

Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên.

Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

Trần Trung Đạo

(Ảnh sưu tầm trên internet “hòa giải tại Mỹ”, “hòa giải tại Nam Phi”, “hòa giải tại Việt Nam” )

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Đức Giêsu đã phục sinh.  Nhưng điều này đâu có quan hệ gì đến tôi, nếu Đức Giêsu cũng tương tự như bao người khác, cũng chỉ là một người như bao người khác: họ được nhưng đâu có nghĩa rằng tôi được?  Đức Giêsu Phục Sinh chỉ ảnh hưởng tuyệt đối đến tôi, nếu Ngài là Thiên Chúa.

Qua các tông đồ Thiên Chúa của Đức Giêsu Phục Sinh hiện diện

 Sau khi Đức Giêsu phục sinh, với sự trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ đã nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa.  Và dưới tác động của Thánh Thần các tông đồ đã can đảm tuyên xưng, rao giảng Đức Giêsu bị đóng đinh đã sống lại.  Và hôm nay sách tông đồ công vụ cho thấy những người tin vào Đức Giêsu đã trở thành một nhóm đặc biệt, trở thành dấu chỉ của Đức Giêsu Phục Sinh cho con người thời đó.

Thánh Phêrô trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để ban ơn cho con người.  Bóng của Ngài ngả xuống trên bệnh nhân nào thì người đó được khoẻ lại.  Có người nghĩ: không chừng các tông đồ còn làm được những điều lớn lao hơn cả Đức Giêsu.  Chính Đức Giêsu cũng nói: “Kẻ tin vào Ta, thì các việc Ta làm người ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta về cùng Cha” (Ga.14, 12).

Ngày xưa khi Chúa về trời, các tông đồ đã thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện; và ngày nay qua Hội Thánh nơi các tín hữu, Thiên Chúa cũng hiện diện với con người hôm nay.

Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa

 Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài đã nói những lời người Do Thái không thể chấp nhận được, như Ngài nhận Ngài có quyền tha tội (Mc.2,7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 58), Ngài là một với Thiên Chúa Cha (Ga.10, 30), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa Cha (Mc.14, 62).  Người Do Thái không thể chấp nhận những lời đó, nên đã lấy đá định ném chết Ngài.  Nếu Ngài không là Thiên Chúa, quả thật Ngài phạm tội “phạm thượng”: là người phàm mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa.

Ngài đã sống lại, nghĩa là, những điều Ngài nói là thật, vì nếu Ngài nói dối, Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài!  Như vậy, Ngài có quyền tha tội (mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa thật.

Ngài là Thiên Chúa thật, nghĩa là Ngài là Thiên Chúa nhập thể.  Và do đó, người ta biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, vì nếu không yêu con người, tại sao Thiên Chúa nhập thể làm người?  Tại sao Ngài phải chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá?  Tại sao Ngài mãi mãi là người?  Chính vì tình yêu, vì yêu con người, mà Thiên Chúa trở thành một người như bao người.  Thiên Chúa làm tất cả cho con người.

Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con

 Khi hiện ra với các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”  Như vậy, các tông đồ, và sau đó là các Kitô hữu, có cùng sứ mạng với Đức Giêsu.

Sứ mạng của Đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập thể, là làm sao để con người nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa!  Để làm được điều này, Lời Thiên Chúa đã nhập thể, đã sống như một người hoàn toàn, đã hiến mình làm của ăn cho con người, đã chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá vì yêu con người, đã yêu con người đến chết.

Sứ mạng của các tông đồ, của Hội Thánh ngày nay, của mỗi người tín hữu, là làm chứng cho tình yêu, làm cho thế gian biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng.  Để làm được điều này, cũng đòi tín hữu phải hy sinh, phải yêu thương con người ngày nay đến độ quên mình như Đức Giêsu.  Thập giá minh chứng tình yêu.  Lửa thử vàng, gian nan thử tình yêu.  Tình yêu cải biến, chinh phục lòng người.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From: Langthangchieutim

Sống Vui Hiện Tại…

 SUY GẪM

Sống Vui Hiện Tại…

Chúng ta đôi lúc nhớ, sống với những kỷ niệm của quá khứ đã qua và lo sợ, thắc mắc về tương lai sắp đến.

Nhưng cho dù bạn và tôi có sống nhiều về quá khứ hay lo lắng về tương lai … thì hiện tại hoa vẫn nở, mây vẫn bay thì giây phút sống vui với hiện tại vẫn là niềm vui quan trong nhất trong ngày hôm nay. Tại sao bạn và tôi không tận hưởng? Let smiling!

***

Hạnh phúc thật là khó cắt nghĩa quá, phải không bạn?

Hạnh phúc khi ẩn khi hiện, khi có khi không tùy theo quan điểm, hoàn cảnh sống và cách nhìn của mỗi người về hạnh phúc. Vì chưa hẵn người giàu ở nhà cao cửa rộng là người có hạnh phúc và cũng chưa chắc người nghèo ở nhà tranh vách lá là người không có hạnh phúc, bạn nhỉ?

Nhiều cuộc khảo cứu cho thấy rằng: “Những người không hạnh phúc là những người thường lo nghĩ, luôn bất đồng và không chấp nhận ý kiến của người khác. Người có hạnh phúc là nguời dễ hòa đồng với mọi người chung quanh, có thể chấp nhận những điểm bất đồng một cách dễ dàng, uyển chuyển, có lòng thương yêu, cảm thông và tha thứ.”

Cũng có thể những người không có hạnh phúc là những người thích so sánh, ghen tị với người khác những gì mình chưa có hay muốn mình.

Ví dụ như chúng ta không bằng lòng với ngôi nhà chúng ta đang ở, cái xe chúng ta đang đi vì thấy người bạn của ta mới mua một căn nhà to đẹp hơn, đi xe BMW sang trọng hơn cái xe Honda ta đang đi trong khi khả năng tài chánh của mình lại không thể đáp ứng với ước muốn của mình!

Thế là chúng ta buồn bực, thế là chúng ta đau khổ!

Bạn có đồng ý với tôi chăng: – Có những ước muốn có thể làm thăng hoa cuộc sống nhưng cũng có những ước muốn quá sức và không chính đáng sẽ làm mất đi hạnh phúc mà mình đang có … vì ước muốn thì vô giới hạn, không có điểm ngừng?

Những sự so sánh đó, những ước muốn đó sẽ đem đến những “phiền não”. Nếu ta bớt đi được những phiền não đó thi ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Hãy hạnh phúc với những gì mình đang có trong tầm tay và tự nhủ rằng: “Những người ở nhà to, đi xe đẹp kia có thể là những người đang mắc nợ như “Chúa Chổm”, nếu mất việc thì họ sẽ mất nhà mất xe ngay.”

Tình hình kinh tế suy thoái vi đại dịch đã chứng minh điều này là đúng vì không thiếu gì nhà to đẹp đã ở trong tình trạng “Foreclosure” và nhiều chủ nhà đó đã trở thành dân “homeless” vì bị mất việc, doanh nghiệp bị đóng cửa!

Vậy bạn hãy cùng tôi vui sướng đi khi bạn và tôi còn đang còn ở trong ngôi nhà nhỏ bé nhưng ấm cúng hiện tại, bạn nhé!

Bạn và tôi hãy cùng vui cười sống vui trong hiện tại nếu chúng ta có cùng một suy nghĩ như ông lão trong câu chuyện dưới đây:

Ba điều sướng nhất.

Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày. Thấy lạ, có người hỏi:

– Tại sao ông vui tươi mãi như thế?

Ông lão đáp:

-Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều sướng thứ nhất.

-Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều sướng thứ hai.

-Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả. Ấy là điều sướng thứ ba.

Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người, thì việc gì phải buồn.

May be an image of 1 person and text that says 'LIFE is Beautiful One Day One Hour One Min It's Not Come Again So Please Avoid Fight Avoid Angry Speak Lovely and Spread Your SMILE. quotes-central.com'

Gia đình tôi và ngày 30.04

Gia đình tôi và ngày 30.04

BS.Trần Văn Tích

Vào ngày 30.04.75 tôi đang giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh xá Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo. Nhân viên tình báo an ninh được xếp vào thành phần bị đe doạ tính mệnh nếu Miền Nam rơi vào tay cộng sản. Theo tác giả Frank Snepp trong “Sauve qui peut“, bản dịch tiếng Pháp cuốn “Decent Interval“ thì Kissinger yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết chấp nhận cho 130.000 công dân Đông Dương nhập cảnh Hoa Kỳ, trong số có 50.000 người được xem là ở hoàn cảnh “chí nguy“ (de haut risque). Nhân viên Mỹ thuộc cơ quan DAO phải làm việc 24 giờ trên 24 để tiến hành thủ tục di tản các thành phần này*i.

Tuy nhiên cầu di tản hàng không bằng trực thăng (chiến dịch Gió Tới Tấp, Frequent Wind) chỉ hoạt động từ 2 giờ chiều ngày 29 đến 4 giờ 42 sáng ngày 30 thì chấm dứt và chỉ bốc đi được hầu hết người Mỹ và 5.500 người Việt, chí nguy hay không. Trong khi đó thì nhiều tàu Hải quân lúc rời bến di tản vẫn còn rất rộng chỗ. Cuộc di tản bằng đường thuỷ kéo dài nhiều ngày. Ở Sài Gòn đến chiều ngày 30-4, khi VC đã vào chiếm Đô thành rồi, vẫn có những tàu Hải quân bắt đầu nhổ neo di tản. Cả những tàu đã nằm ụ từ lâu ở bến Bạch Đằng hay đang tu bổ ở Hải quân Công xưởng cũng được sửa chữa vội vàng để làm sao có thể chạy thì thôi.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975 đó, trong không khí hoang mang lo sợ của toàn Miền Nam, các ông Trưởng ban – chức vụ tương đương với Giám đốc – thuộc Phủ Đặc uỷ thường xuống bệnh xá ngồi nói chuyện với tôi. Họ cho biết phía Mỹ đã yêu cầu Phủ Đặc uỷ thiết lập một danh sách toàn thể nhân viên của Phủ. Các cô nữ thư ký đang đánh máy không ngừng nghỉ danh sách đó, qui tụ đến vài ngàn nhân viên và gia đình. Danh sách đã hoàn tất kịp thời và một phái đoàn của Phủ, gồm một Trung tá và một Đại uý, đã mang danh sách sang Guam để chuẩn bị đón tiếp nhân viên Phủ. Từ ngày 28.04 trở đi, tôi được thông báo phải thường xuyên liên lạc với Phủ để nếu có lệnh tập họp di tản là phải chở vợ con đến địa điểm tập họp ngay tức khắc. Ngày 28 và ngày 29 tôi vào Bệnh xá Phủ và cùng với nhân viên Bệnh xá ngồi chờ lệnh. Chiều ngày 29 tôi không vào trụ sở Phủ ở bến Bạch Đằng mà đến một cơ quan phụ thuộc của Phủ đóng trụ sở tại đường Trần Bình Trọng gần nhà tôi để cùng các nhân viên khác của Phủ ngồi chờ. Rất nhiều nhân viên của Phủ Đặc uỷ không tìm cách khác để chạy trốn cộng sản vì tin tưởng vào lệnh của Phủ bảo phải chờ để được di tản chính thức, hợp lệ. Chúng tôi cùng có chung tâm trạng là người Mỹ đã hứa thì không thể phủ nhận sự tin cậy vào lời hứa của họ để tự minh dấn thân theo những con đường di tản ngoài dự trù.

Tối 30.04, tôi được nhân viên y tá thông báo phải đưa vợ con đến tập trung tại một ngôi nhà an toàn của Phủ nằm ngay sát cạnh Toà Đại sứ Hoa Kỳ trên đường Thống Nhất để chuẩn bị được di tản. Tại địa điểm này tôi đã gặp mặt đầy đủ các giới chức cao cấp phục vụ tại Phủ Đặc uỷ mà tôi từng quen biết hàng chục năm qua. Chúng tôi nằm ngồi la liệt trên sàn nhà. Riêng gia đình tôi được dành cho một cái bàn làm việc. Bà xã tôi và thằng con út nằm nghỉ trên bàn còn tôi và hai đứa con lớn thì chỉ có sàn nhà mà thôi. Cổng ra vào được bộ phận an ninh mang súng M16 canh gác chặt chẽ. Càng về khuya càng sốt ruột vì tiếng máy bay trực thăng lên xuống nóc nhà toà Đại sứ Mỹ ầm ĩ liên miên mà phía chúng tôi không nhận được chỉ thị gì cả. Không thể nào ngủ được và để bớt hoảng sợ, hai ba ông Trưởng ban rủ tôi ra ngoài đến gần Toà Đại sứ Mỹ xem cơ sự ra sao. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh trực thăng vần vũ hạ xuống rồi bay lên trên nóc toà Đại sứ. Chúng tôi đã đứng nhìn cảnh bàn dân thiên hạ đổ xô chen chúc nhau thành một khối người đông kinh khủng trước hai cánh cổng bằng sắt đóng im ỉm của Toà Đại sứ.

Rồi máy bay trực thăng không xuất hiện nữa trong khi trời bắt đầu hửng sáng. Chúng tôi đối diện với sự thực phũ phàng và chỉ còn cách thất thểu ai về nhà nấy. Riêng tôi thì xe Lambretta tôi chở vợ con đến nơi tập trung đã bị đánh cắp. Chúng tôi ra đứng bên lề đường chờ tắc xi nhưng mãi chẳng thấy. Bỗng một chiếc Volkswagen đậu xịch cạnh tôi. Hoá ra đó là xe của một vị Trung tá biệt phái phục vụ trong Phủ. Gia đình tôi lủi thủi lên xe nhờ vị Trung tá chở về nhà.

***

Theo wikipedia thì có 1.932 nhân viên tình báo đã tham gia trình diện “học tập cải tạo”. Hãy tạm chấp nhận con số gần hai ngàn người vào tù mút mùa sau 30.04 vì tin vào lời hứa di tản của phía Mỹ. Trong thực tế, có một số người tránh trình diện mà không ai có thể biết rõ là bao nhiêu. Sau khi tôi ở tù cộng sản về, có vài ba anh em đã đến thăm tôi và cho biết rằng họ giấu biệt gốc gác tình báo nên không bị tù. Trái lại, có nhân viên của Phủ Đặc uỷ nằm trong tù cộng sản đến mười bảy năm và chỉ được “cấp giấy ra trại“ cùng thời điểm với một số sĩ quan cấp tướng Việt Nam Cộng Hoà.

Những ngày cuối tháng tư, thấy phía Tình báo có vẻ im lìm, Hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã gọi điện thoại hỏi Tình báo có cần phương tiện di tản bằng đường thuỷ không, nếu cần Hải quân rất sẵn sàng cung cấp. Lúc này phụ trách lãnh đạo Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo là Ông Nguyễn Phát Lộc, Quyền Đặc uỷ trưởng. Người nhấc máy điện thoại để Ông Nguyễn Phát Lộc trả lời phía Hải quân là một vị Đại uý biệt phái, hiện nay đang ở bên Cali. Nhưng Ông Nguyễn Phát Lộc chỉ biết cám ơn Hải quân và từ chối lời mời gọi di tản vì phía Mỹ đã hứa sẽ đảm trách chuyện này rồi. Các chi tiết này tôi được nghe kể lại vào những dịp tôi hội ngộ trên đất Hoa Kỳ cùng cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ. Họ sang Mỹ theo diện HO. Có người còn cho biết là Colby, đầu sỏ CIA ở Sài Gòn năm 1975, đã xin lỗi Tướng Nguyễn Khắc Bình vì tổ chức di tản nhân viên tình báo Việt Nam Cộng Hoà thất bại!?

Kết quả là hầu như toàn bộ nhân viên Phủ Đặc uỷ vào tù cộng sản và một số chết trong tù. Ông Quyền Đặc uỷ trưởng Nguyễn Phát Lộc và Ông Trưởng ban T Nguyễn Kim Thuý là hai nhân vật cao cấp nhất hy sinh trong vòng ngục tù Việt cộng. Ông Nguyễn Phát Lộc vốn xuất thân từ Trường Quốc gia Hành chánh. Ông có tài đặc biệt về xem tử vi. Ông đã biên soạn hai ba cuốn sách xem tử vi được giới độc giả rất hâm mộ. Các anh em cùng ở tù với Ông kể cho tôi nghe là Ông Nguyễn Phát Lộc bảo rằng theo tử vi thì số Ông không chết trong tù. Quả nhiên khi Ông lâm bệnh nặng sắp mất thì giặc di chuyển Ông ra khỏi những hàng rào kẽm gai lớp lớp bao quanh trại giam và đưa Ông ra ngoài khu giam giữ tù nhân để cho Ông vào nằm cái gọi là bệnh xá của trại cải tạo và Ông lìa đời tại đây, dẫu sao thì cũng ở ngoài khuôn viên nhà tù cộng sản. Ông Nguyễn Kim Thuý rất thân với tôi khi chúng tôi cùng phục vụ tại Phủ Đặc uỷ. Ông mang nhiều bệnh khá trầm trọng nên thường được tôi khám bệnh cấp thuốc. Khi biết tin Ông vào tù, tôi rất lo cho sức khoẻ của Ông. Quả nhiên Ông đã không thể sống sót để trở về với vợ con. Bà vợ Ông Thuý là Hiệu trưởng một trường Trung học ở Sài Gòn trước 75.

***

Năm 1954, khi giao Miền Bắc cho Việt Minh, người Pháp đã thương thuyết để những người không chấp nhận sống với cộng sản có đủ, thậm chí có thừa, thời gian di cư vào Miền Nam. Do đó đã có chừng một triệu người dân Miền Bắc chọn di cư và tự do. Hải quân và Không quân Pháp phải cáng đáng và đã chu toàn mọi công việc chuyển di, với sự hỗ trợ của chừng ba mươi chiếc tàu thuỷ Mỹ và Anh. Đến lượt mình, năm 1975, người Mỹ đã không làm được như người Pháp.

Họ dự trù ngân khoản, phương tiện, cơ sở để đón những người không được cộng sản cho tiếp tục sống trong chế độ mới. Nhưng họ tính một đàng mà làm một nẻo. Thậm chí vì tin tưởng vào lời hứa của Mỹ nên Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng Hoà đã từ chối lời mời gọi di tản bằng đường thuỷ của Hải quân Việt Nam.

Chiến dịch di tản người Mỹ và nhất là người Việt do phía Mỹ tổ chức ngày 30.04.75 là một chiến dịch tiến hành trong hỗn loạn. Có thể người Mỹ đã rút quân trong danh dự theo Hiệp định Paris nhưng Đại sứ Mỹ Martin thì lại phải ôm quốc kỳ Mỹ tháo chạy trối chết trên nóc toà Đại sứ. Còn người Việt Nam thì chẳng những cả ngàn nhân viên tình báo đã bị kẹt lại mà bên cạnh còn có nhiều nhân vật hoạt động chính trị chống cộng rất tích cực cũng chẳng được ai đoái hoài nên đã không thoát được thân.

Đành rằng Hoa Kỳ đã có những chương trình thương thuyết với Việt cộng để đón tiếp một tập thể rất đông đảo quân cán chính Miền Nam không chấp nhận sống chung với cộng sản. Nhưng cái giá mà người Việt Miền Nam phải trả vì cung cách bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà của Mỹ vẫn là một cái giá quá cao. Hơn nữa, sau Nam Việt Nam, đã có những tình huống bỏ mặc, không quan tâm đến đối với một số các sắc dân hay quốc gia khác đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.

Theo suy tư của cá nhân tôi, đây là một cục diện hết sức đáng buồn và đáng tiếc.

06.04.2021

From: Tu-Phung

NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP. NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP.  NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

– Thứ nhất hiến pháp Mỹ đã được viết ra bởi một thế hệ tài năng kiệt xuất của nước Mỹ, qua những cuộc tranh luận không ngừng cho nên nó là những phát kiến vĩ đại để đảm bảo cho khái niệm tự do.Nhưng “tự do không hề miễn phí”. Các bạn vì sự an toàn mà bỏ đi tự do thì các bạn sẽ không có được cả hai : đó là tự do và sự an toàn. Đó cũng là nguyên nhân mà người châu Á bị tấn công. Da trắng thượng đẳng xưa nay vốn kỳ thị da đen nhưng da đen phản ứng mạnh mẽ nên họ quay sang kỳ thị da vàng vì da vàng dễ bị ăn hiếp nhất.

– Thứ hai các bạn lầm lẫn rằng sở hữu súng là để bắn nhau. Nếu như vậy thì mỗi ngày sẽ có hàng trăm hàng ngàn vụ bắn nhau trên toàn nước Mỹ vì dân Mỹ có đến 300 triệu khẩu súng. Nhưng thực tế các vụ nổ súng trên tỷ lệ dân số nổ ra rất ít. Thực sự sở hữu súng là để đảm bảo nguyên lý ” Nơi nào chính quyền sợ nhân dân ,nơi đó có tự do có luật pháp. Nơi nào nhân dân sợ chính quyền,nơi đó có bất công có đàn áp’. Nhân dân không có súng, trên răng dưới dép lấy gì chính quyền sợ? Bạn nghĩ mọi chuyện đều có cảnh sát lo là bạn sai lầm. Cảnh sát tôn trọng hiến pháp, luật pháp là vì họ sợ nhân dân có súng. Nếu nhân dân không có vũ khí họ sẽ là công cụ của chính quyền để tham nhũng, lạm quyền,vi hiến.

– Thứ ba chưa bạn nào trả lời được câu hỏi của mình là nếu Trump và những người ủng hộ Trump ngày 6/1 tấn công vào tòa nhà quốc hội thành công lập nên một chính quyền độc tài với những chính sách bất công sau đó cho cảnh sát đàn áp biểu tình thì các bạn sẽ lấy gì để đối phó? Dân Mỹ cũng sẽ giống như dân Myanmar đưa đầu cho cảnh sát hoặc quân đội bắn và con số người chết tăng lên từng ngày nhức nhối lương tâm. Sở dĩ họ không bắn là vì không dám đối đầu với những người có vũ khí chứ chẳng phải sợ hiến pháp Mỹ.

– Thứ tư các bạn hay so sánh với các nước ở châu Âu không sở hữu súng mà bình an. Đó là sự bình an giả tạo. Đó là vì các bạn không xem các thông số khác về các vụ nổ súng của tội phạm, của cướp của giết người vì các loại vũ khí khác ngoài súng. Đó cũng là vì các bạn không hiểu nền dân chủ của họ sở dĩ đứng vững mà không cần súng là nhờ liên minh quân sự với nước Mỹ.Nếu họ mất vào tay độc tài thì có nước Mỹ giải cứu theo hiệp ước nhưng nếu Mỹ mất vào tay độc tài thì không có nước nào có thể giải cứu được cả.

– Thứ năm tỷ lệ chết vì súng của Mỹ vẫn ở mức thấp nhưng giá trị của luật pháp, hiến pháp, công lý, tự do mà súng mang lại không thể cân đo đong đếm được. Nhưng các giá trị này ẩn bên trong chỉ những trí thức mới hiểu nhưng các vụ thảm sát lại gây xáo trộn ,sợ hãi bên ngoài nên tu chính án trở thành tội đồ.

Thật sự Mỹ là nơi mà hiến pháp, luật pháp được tôn trọng nhất là vì chính quyền sợ nhân dân nhất, cảnh sát trọng chứng hơn trọng cung, phục vụ dân chu đáo là vì họ sợ 3 thứ của dân “lá phiếu, bồi thẩm đoàn và túi thuốc súng”. Khi tước bỏ một trong 3 thứ này thì người dân sẽ giống như dân các nước độc tài khác : bị cướp đất,cướp quyền tư hữu, bị bỏ tù oan, kết án oan, bị tra tấn ,đánh đập, bạo hành, bị coi thường khi đến các cơ quan hành chính hay khi tiếp xúc với cảnh sát.

Sở dĩ các bạn được tôn trọng, được sống trong tự do là vì các bạn có cái khiến chính quyền tôn trọng. Nếu bạn vì mấy thằng khùng mà bỏ đi tự do thì sau này bạn sẽ bị những thằng tỉnh khác (tội phạm, cảnh sát) thảm sát, đàn áp không thương tiếc.

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

Đừng ôm ấp hận thù và sự giận dữ. Học cách quên lãng và biết tha thứ.

Đừng ganh tỵ với người khác.
Tránh xa những cuộc đối thoại tiêu cực và người tiêu cực.

Hãy chấp nhận những gì không thể thay đổi.

Hãy kiên nhẫn hơn và tha thứ bao dung với con người và sự việc.

Đừng nhìn sự vật, sự việc với quan điểm cá nhân phiến diện từ 1 phía.

Đừng chìm đắm vào quá khứ mà bỏ quên hiện tại và làm ảnh hưởng đến tương lai.

 Học cách thả lỏng tinh thần, trong một ngày ít nhất dành cho mình là 14’ để nhìn lại, để thoải mái  tinh thần giữa đời sống hằng ngày .

From: TU-PHUNG 

Phục Sinh mùa Covid

Phục Sinh mùa Covid

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cơn đại dịch Covid 19 kéo dài đã hơn một năm, tổn hại về nhân mạng, tinh thần, vật chất nhiều không sao kể hết. Kế hoạch đóng cửa không gặp nhau để tránh lây lan coi như bắt đầu từ tháng 3, 2020. Lúc đó cộng đoàn của nhà thờ chúng tôi chuẩn bị mừng 10 năm thành lập. Nào là làm kỷ yếu, nào là chuẩn bị tiệc mừng … thế nhưng con vi trùng Corona đã làm buổi lễ bị hủy bỏ. Tiếp theo là tuần Thánh không có thánh lễ ở nhà thờ, lễ mừng Phục Sinh cũng không có. Thật là bàng hoàng, thật là lạ lùng, tất cả sinh hoạt “đời thường” đều bị xáo trộn. Tưởng là chỉ kéo dài vài tháng, thế nhưng tới nay là đã hơn một năm và bây giờ lại là một Tuần Thánh và chuẩn bị Phục Sinh năm 2021. Nhiều nơi vẫn đóng cửa nhà thờ không có thánh lễ. Cộng đoàn chúng tôi may mắn được mở cửa trở lại, nhưng số người tham dự thánh lễ chỉ giới hạn. Để tránh bớt sự tụ tập và giữ giãn cách xã hội 2 mét, người ta tính nếu nhà thờ rộng chứa được 800 người thì bây giờ chỉ được 15% tức là chỉ cho 120 người có mặt. Trong nhà thờ phải giăng dây rào lại, chỉ chừa chỗ cho một số ghế nhất định. Cũng may cộng đoàn chúng tôi bé nhỏ nên số người vừa vặn không cần phải ghi danh sớm mới có chỗ. Chị tôi ở Việt Nam kể trong một vài tuần cũng bị đóng cửa nhà thờ, người ta dậy thật sớm kéo nhau tới nhà thờ thật đông để mong có chỗ, nên người hy sinh bỏ ra về được coi là người có “công nghiệp” nhiều hơn người ở lại dự lễ. Lần đầu tiên khi thấy linh mục phải đeo khẩu trang và mặc áo lễ tôi thấy rất lạ. Bây giờ thì quen quá rồi.

Năm 2021 này, Thứ Năm Tuần Thánh chúng tôi may mắn được tới nhà thờ nhưng sẽ không có nghi thức rửa chân cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Hôm rồi Chúa Nhật lễ Lá cũng không có nghi thức cùng nhau tụ họp và rước lá lên nhà thờ, ai lấy tự cầm chiếc lá dừa đứng cách xa nhau hai thước, điều này đâu có giống sự miêu tả trong Kinh Thánh về việc Chúa Giêsu vào thành Jerusalem! Thôi thì có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, được tới nhà thờ là tốt lắm rồi. Tiếp tới Thứ Sáu Tuần Thánh cũng sẽ không có nghi thức hôn Thánh Giá Chúa Giêsu. Thứ Bẩy vọng Phục Sinh lễ Nến mọi người cũng phải đứng xa xa.

Nhớ lại trong cả năm qua, chúng tôi đã phải tham dự thánh lễ bằng viễn liên, mà chúng tôi gọi tắt cho dễ hiểu là vào “Zoom”. Tính ra thì cũng dễ và tiện, vì đỡ tốn thời gian đi xe tới nhà thờ, nhưng không khí và sinh hoạt thì cũng có một số chuyện lủng củng. Mặc dù chia nhau đọc Thánh Thư, cầu nguyện, ca hát nhưng hệ thống Zoom không cho phép nhiều người đọc kinh chung, vì âm thanh từng nơi khác nhau khoảng vài giây, không thể đọc chung rập ràng được. Thỉnh thoảng lại có người bị “rớt mạng” (may mà không phải “mất mạng”) nên đang nói thì bỗng dưng biến mất tiêu, hoặc giọng nói lúc thì thật nhanh lúc thì kéo dài nhão nhẹt. Nhiều người chê không chịu đi lễ viễn liên, bảo là không tập trung được, không thấy nghiêm trang sốt sắng, nhưng nói chung thì “lễ Zoom” cũng được tới 90%. Chúng tôi còn tổ chức ca hát văn nghệ viễn liên. Gặp nhau ở trên Zoom chúng tôi hỏi nhau hôm nay đi nhà thờ ở đâu. Người kia bảo tôi xem lễ ở nhà thờ Toronto. Chị nọ kể hôm nay đi lễ tiếng Anh tại nhà thờ chính tòa New York với các con. Một chị khác thì hớn hở khỏe hôm nay em đi lễ mãi tận Vatican do Đức Giáo Hoàng chủ tế. Thôi thì trong cái buồn cũng có cái vui, cũng phải chấp nhận và “nín thở qua sông” để xem cơn dịch này như thế nào.

Hiện ở khắp thế giới và Canada đã có nhiều người được chích ngừa chống Covid. Tuy nhiên lứa tuổi của chúng tôi vẫn còn đang sắp hàng chờ chưa tới phiên mình. Chúng tôi còn bàn tán kén chọn xem thuốc nào tốt mới chích cơ! Gặp nhau bây giờ câu hỏi xã giao không phải là “Anh khoẻ không?” mà là “Anh chích ngừa chưa?” Rõ chán, chúng tôi còn thậm chí hỏi nhau “Đã mua đất ở nghĩa trang chưa?”!

Về kinh tế may mắn chúng tôi được làm việc tại nhà, cũng may công ty ngày càng cải tiến các phương tiện kỹ thuật, nên làm việc tại nhà càng ngày càng ít trở ngại. Công việc công ty vẫn tốt đẹp. Hiện tại thì mọi người đã quen với việc ở ru rú trong nhà, lại đâm ra lười biếng không muốn trở lại làm việc thật ở văn phòng nữa. Họ đang hỏi ý nhân viên, có thể sẽ áp dụng việc đi làm kiểu “hybrid”, cũng như xe Hybrid chạy nửa điện nửa xăng, chúng tôi sẽ đi làm nửa tuần ở nhà, nửa tuần tại văn phòng. Riêng bản thân tôi trước giờ cũng khá năng động, bây giờ chỉ sau hơn một năm cấm cung trong nhà, mà đã thấy ớn đi ra đường, lười biếng không muốn hoạt động chỉ muốn ở trong nhà luôn – dù đôi lúc cũng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Chúng tôi ai nấy đều trở thành người đẹp theo quan niệm xưa: “Da trắng, tóc dài” Quả thế, ở nhà riết làn da trắng xanh, tiệm cắt tóc bị đóng cửa nên ai nấy tóc thật dài, nhất là phía “liền ông” ai nấy cũng phải theo phong trào Hippy bất đắc dĩ, tóc dài quá mang tai là chuyện thường.

Cái nhìn về cuộc sống cũng thay đổi rất nhiều. Nếu có một bài học rút ra từ đại dịch COVID-19 thì đó là chúng ta cần thích ứng để không chỉ trở lại trạng thái “bình thường mới” mà còn trở thành “bình thường tốt hơn”, tập sống theo các thói quen mới như rửa tay, đeo mặt nạ, vệ sinh cá nhân cẩn trọng hơn, tránh gần gũi, ôm, bắt tay…. Tôi cũng trở thành đầu bếp bất đắc dĩ. Không đi nhà hàng được thì phải tự mày mò vào YouTube học nấu ăn. Đa số là tạm thành công, tuy nhiên nếu có thất bại thì cũng ráng ăn nên mập tròn vo. Bạn bè ai cũng than bị lên cân quá sức, kiểu này sau khi đại dịch qua rồi thì chắc phải nới rộng cửa ra vào, hay ít nhất cũng phải thay quần áo mới. Áo dài không còn chiếc nào mặc vừa nữa, trước đây tôi rất thích mặc áo dài, bây giờ tròn trịa mặc áo dài rất ngại. Chắc phải chế cái gì để che cái bụng. Ra đường không sợ bị chê xấu vì đã có cái khẩu trang che mặt kín mít, nếu có thêm cái gì che bụng nữa thì thật là … khoẻ!  Dù sao cũng tạ ơn đời, tạ ơn Chúa vì vẫn đủ ăn, vẫn còn được đi ra ngoài mua thức ăn dù có lên giá mắc mỏ chút đỉnh, nhưng vẫn còn các chợ mở cửa không phải giành giật. Nhớ hồi đầu mùa dịch, người ta phải dành nhau để mua những cuộn giấy vệ sinh thật là thê thảm. Hơn 2 triệu người đã mất mạng, và sự lây nhiễm đã lên tới con số khủng khiếp. Trước đây thì ít thấy người Việt Nam bị nhiễm Covid và chết, gần đây thì lại bị khá nặng, nhiều bạn bè thân đã bỏ mình ra đi vì con vi trùng Vũ Hán này thật là buồn.

Một số người bị bệnh Covid may mắn thoát chết, đã chia sẻ kinh nghiệm để chống lại cơn bệnh, trong đó cũng có chia sẻ lại nỗi niềm khi bị mọi người xa lánh. Tâm trạng rất buồn và mặc cảm khi bị người khác tránh xa mình vì sợ lây nhiễm, giống như người bị phong cùi khi xưa. Làm sao trách được, ai phải cố gắng đề phòng bệnh chứ. Lại có một câu chuyện cười kể về một người bị Covid đã qua đời, nhưng hai ngày sau lại sống lại. Người nhà rất đỗi vui mừng và ngạc nhiên, hỏi lý do tại sao thì người chết kể lại: “Khi tôi lên tới cửa thiên đàng thì thiên thần bảo tội lỗi của anh ở trần thế cũng không có gì quá đáng, đáng lẽ được vào thiên đàng nhưng vì sợ anh lây vi khuẩn cho chốn thiên đình, nên “sorry” phải mời anh xuống địa ngục. Xuống tới cửa địa ngục thấy đám quỉ gác cửa thật hung hăng, tôi sợ chết khiếp thì chúng lại bảo: “Thằng này chết vì Covid, không thể để ở địa ngục làm lây lan cho mình”. Chúng bàn tán khẩn cấp rồi quyết định trả tôi về trần gian. Thế nên tôi được sống lại là như thế! Thật là câu chuyện cười ra nước mắt.

Mùa Covid, khi có đám tang cũng rất vắng vẻ. Tùy theo thời gian nhưng đa số thì chỉ giới hạn 10 người. Thân hữu muốn tham dự thì phải xem qua hệ thống viễn liên. Đám cưới cũng rất là hạn chế, tối đa là 10 người thì ai đi dự, ai ở nhà? Lại cũng không có tiệc ăn mừng ở nhà hàng. Hôm cuối tuần qua chúng tôi đi dự một Lễ Cưới với khoảng 60 người, và được cho là đám cưới lớn nhất trong suốt năm qua. Thôi thì biết nói gì hơn, đành cố gắng giữ giãn cách xã hội, đeo khẩu trang, tránh bớt đi ra đường để giữ gìn sức khỏe cho nhau. Mong cho mọi người đều được chích thuốc ngừa để mọi sinh hoạt có thể bình thường trở lại.

Chúng tôi và các bạn luôn nhắc tới những kỷ niệm được đi ăn, đi chơi với nhau, rồi hẹn hò trong năm tới này khi đại dịch chấm dứt sẽ cùng nhau đi ăn đi chơi bù lại suốt thời gian dài bị cấm cung bị gò bó. Thế mới biết thương cho những người bị tù tội, đặc biệt những tù nhân lương tâm, những vị hi sinh đi giảng đạo rồi bị bắt bớ cầm tù…. Ít nhất bây giờ chúng ta cũng còn được tự do, no ấm. Ước mong cơn đại dịch sớm chấm dứt, kinh tế mở cửa, mọi người được đi sinh hoạt, làm ăn, được gặp nhau, ôm nhau và được bỏ cái khẩu trang ra. Che kín mất cái mặt rồi lại hơi mập ra, bạn bè chẳng ai nhận ra ai. Đã có lần tôi mang chè tới tặng người bạn sau lễ ở nhà thờ, nhưng lại đưa lộn cho người khác.

Dù sao thì cũng tạ ơn, mong sao cho tinh thần mọi người được vẫn mạnh mẽ, phát triển sự yêu thương nhau quan tâm cho nhau nhiều hơn theo cách mới, và cùng chiến đấu để cơn đại dịch này sớm biến mất.

Mùa Phục Sinh đang đến, chúc bạn niềm vui, sự đổi mới canh tân trong tâm hồn và trong sinh hoạt hằng ngày

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cà-phê không đắng

Cà-phê không đắng

Thân tặng Linh Mục Giuse Maria P.Q.T.

Trịnh Tây Ninh

Khi tuổi còn mơ mộng
anh đã ước mình như dòng sông
tuôn chảy trong lòng người nghệ sĩ
yêu nhạc và yêu chân, thiện, mỹ
để anh đem tiếng hát cho đời
khi ấy tuổi hai mươi
ly cà phê đắng trên môi
anh cũng vấn vương nụ cười tươi
của cô hàng cà phê xinh xắn
nhưng cà phê dù thơm vị lại đắng
ưu tư cuộc đời nhiều cay đắng
thế nên trong một buổi chiều vắng
yêu Chúa, thương người, anh mơ được đem nắng
chiếu yêu thương với tâm tình tươi thắm
nguyện hiến dâng cho đấng cao cả đã hy sinh
trên Thập giá đã phải chịu khổ hình
và anh đã trở thành linh mục trung trinh
rao giảng Tin Mừng, dâng lời nguyện kinh
cho tất cả, cho giáo dân con Chúa
Cà phê anh bây giờ thơm hương lúa
thơm mùi kinh với thánh nhạc tâm tình
Chúa yêu thương luôn ban phát ân tình
để anh rao giảng về Thánh Giá quang vinh
và suy niệm rồi chia sẻ niềm tin
cầu xin cho khắp nơi được an bình
cầu cho tình người luôn được thắm xinh
cho cuộc đời luôn rạng ánh bình minh
và cà-phê không còn đắng vị nhân sinh…

Trịnh Tây Ninh

Huy Phương, nhẹ gánh nợ đời

Huy Phương, nhẹ gánh nợ đời

Apr 4, 2021 

KQ Võ Ý

Những năm trước đại dịch COVID-19, nhà văn Huy Phương thường gọi thăm tôi, có khi mời dùng trưa với vài người bạn khác tại những nhà hàng chuyên nấu những món mà anh ưa thích như cá kho tộ, canh chua cá bông lau, thịt bò lúc lắc…

Nhà văn Huy Phương trong ngày ra mắt hai tạp ghi mới năm 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Năm rồi, anh lâm bệnh và yếu đi. Sau khi từ bệnh viện về nhà, Huy Phương không thể lái xe, anh nhờ tôi đến Anaheim đón anh về Little Saigon thăm gặp bạn bè, nhân thể ghé hàng quán để thưởng thức một tô phở Bắc hoặc một tô bún bò Huế.

Đại dịch COVID-19 bùng phát, ai ai cũng ở yên trong nhà. Khi tình hình dịch bệnh tương đối giảm nhờ chích vaccine (vào khoảng cuối Tháng Hai, 2021), Huy Phương gọi thăm sức khỏe tôi và nhà văn nhảy dù Phan Nhật Nam. Hạ tuần Tháng Ba, Phan Nhật Nam đón tôi thăm Huy Phương. Dịp đó cũng có hai người bạn học của anh ghé thăm. Anh gầy hẳn, chống gậy bước chậm ra mở cửa đón chúng tôi.

Huy Phương cho biết, anh bị ung thư trực tràng, hiện được điều trị tại nhà. Anh không ngờ bệnh tình diễn biến nhanh quá!

Trên đường về tôi miên man nghĩ đến “một món nợ vô hình…”

Tôi biết Huy Phương trước 1975 khi anh phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến. Những dịp từ Pleiku về Sài Gòn công tác, tôi thường ghé cơ quan này để thăm hai nhà văn nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh và Phạm Huấn, cũng là niên trưởng của tôi. Tại đây tôi biết Huy Phương và cố thi sĩ Du Tử Lê.

Tôi qua Mỹ theo diện HO sau Huy Phương hai năm. Anh may mắn định cư tại California nắng ấm trong khi tôi lưu lạc tận miền Trung Tây xứ Missouri từ 1992 cho đến 2005 mới chuyển về California và gặp hai cựu chiến hữu ngày xưa. Tôi quen họ trong dịp này.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ với Huy Phương là, qua chương trình Huynh Đệ Chi Binh do anh phụ trách, Phi Đoàn 118 Pleiku chúng tôi may mắn tìm được thân nhân của một hoa tiêu bị lâm nạn vào năm 1972 tại đỉnh núi Mẹ Bồng Con, Dục Mỹ, Ninh Hòa. Vào năm 2014, sau 42 năm lặn lội đi “tìm xác rơi,” đại diện thân nhân của phi hành đoàn sáu người trên chuyến phi cơ U17 lâm nạn đều tham dự thành công vào cuộc cải táng gian nan đầy xúc động này. Đi Tìm Xác Rơi: Tấm Thẻ Bài và Hành Trình Đi Tìm Xác Rơi (ditimxacroi.blogspot.com)

Thế mới biết truyền hình Huynh Đệ Chi Binh lợi hại và hiệu quả đến dường nào!

Tâm huyết của người lính già Huy Phương với đồng đội biểu hiện qua chương trình này cũng như sự đóng góp công sức của anh qua các kỳ Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh hằng năm, thời chị Hạnh Nhơn còn sinh tiền.

Tâm huyết đó còn phảng phất trong 11 cuốn tạp ghi, hai tuyển tập, và một chúc thư. Kể ra, anh viết rất khỏe, rất dễ dàng, lời văn bình dị nhưng sâu sắc trước mỗi góc cạnh của cuộc sống tại quê người.

Tôi lại được tin cậy, chở anh đi bưu điện để gửi Tuyển Tập Huy Phương 2020 (*) cho thân hữu khắp nơi cũng như trao tay “tác phẩm cuối đời” (theo anh) cho bạn bè vùng Litlle Saigon.

Nhìn bóng dáng một ông già chống gậy, chậm rãi thong dong, trao cho đời tâm huyết của mình, tôi chạnh lòng và nghĩ đến lời thơ của Ngô Tịnh Yên trong ca khúc “Nếu Có Yêu Tôi” do Trần Duy Đức phổ nhạc, được người Việt khắp nơi yêu thích. Người nhạc sĩ tài hoa này cũng là bạn văn nghệ của Huy Phương:

-“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ; Đừng đợi ngày mai…”

Khúc ca như một bài học công dân hay luân lý, xa hơn, một lời kinh cầu…

Từ Tuyển Tập Huy Phương (*) và lời kinh cầu, tôi muốn tâm tình với người lính viết văn Huy Phương về “món nợ” mà anh trăn trở đến tận cuối đời:

Nợ người phế binh lê la kiếm sống/ Nợ lũ cháu ta liếm lá đầu đường

Nợ những người em thất thân làm đĩ/ Nợ nỗi nhục nhằn dày xéo quê hương.

(Món Nợ Lương Tâm – Huy Phương)

 Ý nghĩa chương trình Huynh Đệ Chi Binh, hiệu quả các Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, giây phút bồi hồi qua các Đại Hội Chân Dung HO (*) mà anh đóng góp cùng những tạp ghi, tuyển tập, và chúc thư đều là cách đền ơn đáp nghĩa những đồng đội đã nằm xuống hay còn lây lất quê nhà. Huy Phương và chúng ta, Những Người Muôn Năm Cũ (*) đã thọ ơn họ để được yên bình hay Ấm Lạnh Quê Người (*) ngày nay.

Những tác phẩm cũng là tặng phẩm từ tim óc anh trao gởi cộng đồng người Việt tị nạn, Những Người Thua Trận (*) trên toàn thế giới nói chung và cách riêng, tại Nước Mỹ Lạnh Lùng (*). Ẩn hiện trong tác phẩm là đạo làm người với Tứ Ân (Cha Mẹ, Chúng Sanh, Quốc Gia Xã Hội, Tam Bảo), nỗi Ngậm Ngùi Tháng Tư (*) mà đồng bào đồng đội và bà con quyến thuộc của anh, của chúng ta, cam chịu trong uất hận.

Có cường điệu lắm không khi tôi nghĩ rằng, chữ nghĩa của Huy Phương ngoài tính văn học nghệ thuật còn là sử liệu lưu lại đời sau, một giai đoạn thảm khốc của cả dân tộc sau 30 Tháng Tư, 1975? Chữ nghĩa đó cũng là loại vũ khí mềm khả dĩ góp lửa vào công cuộc chống lại chủ nghĩa cộng sản khát máu tại Quê Hương Khuất Bóng (*).

Huy Phương nhỏ nhẹ với tôi, không còn bao lâu nữa, buồn lắm ông à! Tôi thật sự không biết phải an ủi anh như thế nào cho hợp với tình huống này. Trong nhà anh, nơi phòng khách được trình bày rất nhiều kiểu tượng Phật, tôi nghĩ đến lẽ vô thường, nhưng không dám đá động đến sinh lão bệnh tử đối với sự bén nhạy và kinh nghiệm sống chất chồng của anh. Đắn đo lắm tôi mới nói:

-Anh đã chuẩn bị trước cả rồi, lo buồn làm gì. Ga Cuối Đường Tàu (*), Tuyển Tập Huy Phương (*), nhất là Bản Chúc Thư Của Người Lính Chết Già (*), không phải là những chuẩn bị đó sao?

Anh im lặng. Tôi không nghĩ lời an ủi thô thiển đủ thần lực làm nhẹ lòng Huy Phương, từng dùng chữ nghĩa thay súng đạn nhắm vào chủ nghĩa vô thần. Có thể anh còn trăn trở với Món Nợ Lương Tâm (*). Tôi đồng cảm với những món nợ với người chết sông chết biển, nợ người ở lại để ta ra đi, nợ những nấm mồ thất lạc, nợ máu xương rải rác giữa đồng hoang, nợ những mẹ già suốt đời bất hạnh… (chữ của Huy Phương).

Từ đồng cảm, tôi trân trọng lòng tự trọng và trách nhiệm Bảo Quốc An Dân của người chiến sĩ quốc gia viết văn đầy tính nhân bản của Huy Phương.

Thưa anh Huy Phương, đóng góp của anh cho Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, Lý Tưởng Tự Do Dân Chủ, cho Gia Đình và Đồng Đội, như vậy là vẹn toàn. Đã 80 ngoài, mắt mờ tóc bạc da mồi, tay chân lọng cọng, nghỉ ngơi là điều tất yếu. Mỗi ngày thong dong buông xả, hứng thì ngâm nga vài vần thơ cũ do mình sáng tác, niệm một câu kinh Tịnh Độ để giữ vững niềm tin, ngắm một đóa hoa để “cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy…,” có phải như thế sẽ giúp cho thân tâm được nhẹ nhàng an lạc không, thưa anh!

Phương chi, những tác phẩm của anh, đương nhiên sẽ lưu lại cho con cháu đời sau, thì Món Nợ Lương Tâm âu cũng sẽ vơi đi. Tôi thích thú với những câu thơ nhiệt huyết, đầy cảm khái và hùng khí trong “Lời Phi Khanh:”

Còn chút lửa, cha tiếp con tay đuốc/Hãy đốt lên, cùng triệu triệu con người.

Cha đã nhiều lần rủa nguyền bóng tối/Thì phần con – Hãy thắp sáng cho đời!

Để hy vọng, còn có ngày trở lại/Thấy quê hương, dù phút cuối một lần.

Với quá khứ cha đã đành cúi mặt/Thì đời con – Đừng thẹn với tiền nhân.

Hãy chuyển lửa về quê nhà mong đợi/Thắp yêu thương cho hàng triệu con người.

Để những người đã hy sinh nằm xuống/Dù bên kia thế giới cũng ngậm cười.

(Lời Phi Khanh – Huy Phương)

Tôi “liều mạng” nhắc anh “Tạ ơn em (Chị Huy Phương) đã cho đời anh bóng mát.” Quả vậy, là chinh phụ và tù phụ, chị đã một đời sắt son dũng cảm trong thời chiến, trong tù đày sau 1975 và nhất là trong giai đoạn anh lão bệnh nơi xứ người. Qua hình ảnh chị, tôi theo gương Huy Phương, xin tạ ơn tất cả những người vợ lính đã sắt son dũng cảm, nuôi con chờ chồng trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Huy Phương cũng từng khuyến khích những thế hệ tiếp nối, chuyển lửa về thắp yêu thương hàng triệu con người, thì dù hôm nay hay ngày mai, anh đã tròn trách nhiệm của một công dân, “nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo,” mong anh nở một nụ cười thanh thản…

Và tôi không ngần ngại bày tỏ suy nghĩ của mình là, tôi quý trọng tính thủy chung, lòng tự trọng và nhân cách của nhà giáo, công dân Lê Nghiêm Kính (**). Tôi cũng quý trọng văn tài của đồng đội, người lính viết văn tài hoa Huy Phương.

Phiên khúc đang văng vẳng trong tôi: Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ. Đừng đợi ngày mai… [đ.d.]

Ghi chú:

(*) Tên những tác phẩm của Huy Phương

(**) Tên khai sinh của Huy Phương

Bốn Niềm Vui Lớn Của Một Đời Người…

Tản Mạn Cuộc Sống

Bốn Niềm Vui Lớn Của Một Đời Người…

Đời người thoáng qua thật nhanh, dấu vết thời gian mỗi ngày lại in hằn lên khuôn mặt. Trên đường đời tấp nập ấy, có khi nào bạn tự hỏi: Sống qua ngần ấy năm, niềm vui nào là lớn nhất đời người?

Theo bạn, niềm vui nào lớn nhất trong đời? Thành công, giàu sang hay có được điều mình mong muốn. Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm kiếm cho mình những niềm vui trong cuộc sống.

Nhưng khi có được thứ này chúng ta lại muốn có được thứ khác. Quá trình đuổi bắt cứ kéo dài suốt năm này qua tháng khác, chúng ta không dễ gì nhận ra, niềm vui lớn nhất trong đời người lại gần gũi và thân thương biết chừng nào.

  1. Được sống cùng cha mẹ

Trải qua những năm tháng tuổi trẻ bồng bột và ích kỷ, chúng ta lại bộn bề với những toan tính của cuộc đời. Không còn tự do bay nhảy, không còn những suy nghĩ ấu trĩ và ngông cuồng. Giờ đây chúng ta có cả một gia đình cần gánh vác. Lúc ấy mới chợt nhận ra rằng, được sống cùng cha mẹ là một niềm hạnh phúc to lớn.

Được dựa dẫm vào đôi vai của mẹ cha mỗi khi bước chân ta trên đường đời rệu rã, được ăn bát cơm mẹ nấu, được cùng cha đàm đạo mỗi lúc chiều tà. Quãng thời gian đó yên bình và hạnh phúc biết bao.

Không phải chỉ có cười thật to, hét thật lớn thì mới được gọi là niềm vui. Đôi lúc niềm vui bình dị và nhẹ nhàng biết bao, nhưng nó sẽ ngấm sâu vào ký ức của ta, an ủi vỗ về ta mỗi khi mệt mỏi và đau đớn trong cuộc đời.

  1. Được làm công việc mình thích

Niềm vui này sẽ chẳng có niềm vui nào có thể sánh được. Đó là cảm giác thỏa mãn bởi vì chúng ta đã làm được điều mà mình thích. Không ít người không làm được việc mình thích, không dám theo đuổi ước mơ và hoài bão của bản thân. Chán nản, thất vọng để rồi họ nhận ra cuộc sống của mình thật nhàm chán, thật buồn bã.

Chỉ khi chúng ta được làm công việc mình thích, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui đến từ những điều bình dị, những điều tưởng chừng như vốn có của cuộc sống nhưng không phải lúc nào cũng cảm nhận được.

Thế nên, nếu bạn cho rằng công việc chỉ là một công cụ để nuôi sống bản thân thì bạn hãy suy nghĩ lại đi nhé. Bởi vì chỉ khi yêu thích công việc của mình chúng ta mới làm tốt nó được. Được làm công việc mình thích là niềm vui lớn nhất trong đời.

  1. Lấy được người mình yêu

Bất kỳ ai trong chúng ta đều muốn có được hạnh phúc trong cuộc sống, vì vậy chúng ta mới trao đi tình yêu của mình. Có người lấy được người mình yêu, trở thành chỗ dựa suốt đời cho mình, có người lại quyết định kết hôn trong lúc nóng vội. Rất nhiều người đã nếm quả đắng vì vội vàng trong tình yêu.

Một trong những niềm vui lớn nhất trong đời đó chính là lấy được người mình yêu và yêu mình. Khi sống cùng nhau, những bất đồng, những mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, nếu không có một tình yêu lớn dành cho nhau, ít khi chúng ta có thể tha thứ và chấp nhận lẫn nhau được.

Lấy được người mình yêu là niềm vui lớn nhất trong đời. Lớn hơn rất nhiều những niềm vui do tình cảm tạo ra trước đó. Thế nên, hãy trân trọng cuộc sống gia đình và trân trọng người bạn đã lựa chọn.

  1. Sống mỗi ngày trọn vẹn

Đây là niềm vui rất lớn bởi hàng ngày chúng ta đều cố gắng tìm kiếm nó nhưng ít người nắm giữ được nó. Có người lo lắng cho những việc không đâu để rồi cáu gắt với người thân và con cái của mình, làm mất đi một ngày đẹp đẽ.

Bạn ơi, hãy đối diện với cuộc sống mỗi ngày, dẫu khó chịu bao nhiêu cũng đừng đổ lỗi lên đầu người khác. Hãy tìm cách chế ngự sự giận dữ của mình và bao dung với người bên cạnh, để mỗi ngày với bạn trọn vẹn hơn.

Có thể bạn không nhận ra, nhưng mỗi sớm mai thức dậy, tâm trạng bạn thoải mái bạn sẽ có một ngày ngập tràn niềm vui.

Vậy nên, hãy mỉm cười khi ánh bình minh chiếu qua cửa sổ, bởi vì ít nhất thì chúng ta vẫn còn một ngày để làm những điều mình muốn.

Hãy sống trọn vẹn từng ngày một với công việc, gia đình, con cái và những niềm đam mê nho nhỏ của bản thân nhé bạn…