Người Già Người Của Trăm Năm

 

 CHÚNG TA CÙNG SUY TƯ…

Người Già Người Của Trăm Năm

Bùi Tiểu Quyên

Người già của chúng ta cứ nhớ mãi chuyện hồi nảo hồi nào, họ như nhân chứng trầm tích của ký ức. Vậy mà, những chuyện mới xảy ra tức thì có khi họ lại quên. Ðến một lúc nào đó trong trăm năm này, chúng ta cũng giống như thế!

Mỗi lần tôi về nhà, bén chuyện là má tôi nói chuyện… trên phim. Nhưng lần về sau đó, hỏi lại chắc chắn má không nhớ gì cả. Ðến cả – bộ phim xem triền miên ngày này qua tháng nọ – vậy nhưng hỏi đến đâu là bà quên đến đó. Xem là để vui lúc ấy thôi.

Vậy mà chuyện từ mấy mươi năm về trước, khi má mới năm tuổi mà cậu ba trước khi mất nói muốn uống nước gì, mặc đồ như thế nào và giọng hiền từ ra sao, má nhớ hết. Chuyện lúc má 17 tuổi được ba đến nhà coi mắt, rồi bà ngoại hồi còn sống thích món ăn gì… Phần ký ức đó mới như in, còn năm tháng cứ trôi như một màn sương mù. Buổi hừng đông đi bộ ra chợ sáng, đường dài hơn 3km mà má kể chuyện xưa không dứt.

Tôi cảm nhận được niềm vui trong những thanh âm hào hứng của bà, như chỉ cần được ai đó lắng nghe những câu chuyện cũ – ký ức có lúc khó khăn chồng chất, khổ sở trăm bề – sẽ trở thành quà cho hiện tại. Tôi chợt nhận ra rằng, trong năm tháng của tuổi trẻ mình, hành trình của tôi với biết bao chân trời mới, nhưng đâu được bao lần trở về để ngồi cùng má nghe trọn những ký ức buồn vui?

Có bao nhiêu người trong chúng ta sắp xếp được những khoảng thời gian cố định để nghe người già kể chuyện?

Hôm qua, chúng tôi – những người của thế hệ này trò chuyện với nhau, bảo rằng sau này già sẽ vào viện dưỡng lão để có bầu có bạn. Nói vui là vậy, nhưng cũng vì thấy người già bây giờ cô đơn lắm. Cái cô đơn thăm thẳm như thể họ đang sống đây, nhưng tâm tư ở miền xa lắc nào. Như ba tôi, trước khi mất ông bảo mơ thấy xóm ngoại, thấy những người quen biết ngày xưa đến tìm gọi ba theo cùng.

Hình như, chỉ có phần đời cũ mới neo lại trong lòng, mới khiến cho người già cảm thấy hạnh phúc, mới là không gian họ thuộc về. Tôi đã trò chuyện với nhiều người già trong thành phố, thế nào rồi cũng dẫn về câu nói mở đầu hồi ức, rằng “hồi đó…”. Tôi nhớ hoài đôi mắt sáng bừng của người bảo vệ già – từng là thuyền trưởng, ông hào hứng kể về quãng đời trai trẻ chinh phục đại dương. Tôi nhớ người cựu chiến binh mỗi lần cao hứng lại vang vang bài hát và những chuyện đường rừng…

Những câu chuyện của người già cứ ôm trọn trăm năm – như những kho báu vô tận trong lớp lớp người người của mong manh vĩnh hằng.

Bạn tôi vừa về quê một tuần, mà tin từ làng trên xóm dưới trong khoảng ngắn thời gian ấy đã có năm cụ già qua đời. “Thôi thì cũng xem như là mãn nguyện, các cụ đều sống thọ trên dưới tuổi 80…” – bạn bùi ngùi sau mỗi lần đi viếng. Tôi không định nghĩa được khái niệm “mãn nguyện” trong cuộc đời một người già, chỉ biết rằng họ rất ít khi để con cháu biết những nỗi niềm trong lòng.

Như bà ngoại tôi, cho đến ngày cuối cùng vẫn không một lời trách móc, dù năm tháng cuối đời, đứa con trai duy nhất nuôi bà không bằng cách của yêu thương. Như dì tôi, dù con cái có lỗi lầm gì vẫn lặng lẽ bao dung, ngày nhắm mắt vẫn chỉ mong cháu con an vui, hạnh phúc. Như má tôi hay muôn triệu người mẹ, người bà trên cuộc đời này nữa. Nước mắt chỉ chảy xuôi…

Hôm trước, tôi thắt lòng ngồi nhìn một người già khóc. Ðó là lần bà nấu cháo gà bắt xe buýt đi thăm cháu nội đang ốm, nhưng con trai không cho vào nhà. Trời mưa lất phất chân cầu, người con trai ra đón mẹ, quay đầu xe chở thẳng về nhà bà ở ngoại ô. Lý do là ngày xưa cưới dâu bà phản đối, nên “giờ thăm làm gì…”.

Tôi không biết khi làm điều đó với mẹ già, người con trai ấy có nhớ mình đã được sinh ra, nuôi lớn, chăm bẵm yêu thương như thế nào. Cuộc đời của anh nếu không phải là mẹ cho, mẹ vất vả cưu mang lo lắng từng chút một thì bây giờ ra sao? Nước mắt người già không cạn đâu – dù cho cuộc đời của họ đã khóc nhiều như thể bây giờ “hết nước mắt” như người già thường nói.

Chỉ có những khúc sông là cạn, như lòng người…

Người già là của trăm năm. Sống một cuộc đời can trường rồi họ sẽ trở về tâm hồn mong manh như trẻ nhỏ. Dễ buồn dễ giận dễ tổn thương dễ khóc. Và cũng cần được quan tâm, dỗ dành.

Trường học hay trường đời của chúng ta đều không có môn đức nghiệp dạy cách làm cho người già được an vui, hạnh phúc. Chỉ có trái tim mỗi người phải tự biết tìm cách học lấy và thực tập cho chính mình. Phải học từng ngày, cho trăm năm…

Quỷ Ám

Quỷ Ám

Tưởng Năng Tiến

 Nhà báo Chu Vĩnh Hải vừa gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không có gì “thú vị” nhưng khá bất ngờ :

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

‘Thật khó để ngờ rằng Vladimir Lenin đã cố gắng phấn đấu trao tặng hạnh phúc và sự phồn vinh cho toàn thể mọi người, hoặc chí ít là cho lực lượng mà ông gọi là giai cấp vô sản. Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi hiểu rằng để xây dựng cái gọi là hạnh phúc đó, ông coi việc đổ máu, sử dụng bạo lực và tiêu diệt tự do là hành động hoàn toàn hợp pháp’, tác giả Volkogonov kết luận.”

Kết luận như trên e có phần hơi hời hợt. Từ Việt Nam, nhà báo Nguyễn Thông có nhận định thấu đáo hơn: “Với người cộng sản, nhất là những ông trùm như Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… thì cách mạng phải sắt máu, quyết liệt, một mất một còn, đổ máu hy sinh. Đã cách mạng là phải đánh nhau, giết chóc.”

Dù Hồ Chí Minh chưa đạt tầm mức quốc tế, so với những nhân vật thượng dẫn (và số nạn nhân của Bác cũng còn hơi ít ỏi) nhưng xét về bản chất thì sự dã man và tàn độc của Người – đối với đám dân Việt – cũng chả kém cạnh chi ai.

“Trong những điều khoản của Hiệp định Genève 1954 không nói đến lực lượng tập kết là thiếu nhi, học sinh, nhưng với tầm nhìn chiến lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số con em cán bộ, gia đình chính sách… đưa ra miền Bắc.” (“Bác Hồ Ươm Mầm ‘Hạt Giống Đỏ” Cho Cách Mạng Miền Nam.” Vietnamnet 12 May 2020).

Sau khi “nướng” gần sạch đám  trẻ con này, Bác và Đảng liền kiếm ngay “mớ” khác – vẫn theo như nguyên văn lời của tác giả Vũ Thị Kim Yến :

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tiếp tục đưa con em cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đào tạo. Hàng chục nghìn con em từ 9-10 tuổi và đồng bào miền Nam đã lội bộ vượt Trường Sơn đầy máu lửa ra Bắc, ngược đường với các đoàn quân của miền Bắc nườm nượp chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.”

Nhà báo Việt Hoài Tuổi Trẻ Online cho biết thêm chi tiết :

Từ 1954-1974, đã có ba đợt đưa các em ra Bắc với qui mô lớn: 1954-1955: đưa ra theo con đường tập kết, chủ yếu bằng tàu biển; 1960-1964: đưa ra qua đường công khai đi Campuchia, từ Campuchia bay về Hà Nội; 1968-1972: đi bằng đường giao liên vượt Trường Sơn. Suốt 21 năm cho đến ngày đất nước thống nhất, gần 30.000 học sinh miền Nam – những núm ruột của miền Nam đau thương, ngoan cường, bất khuất – đã được những nếp nhà, vòng tay của các bà mẹ, người cha, các thầy cô giáo miền Bắc nâng niu đùm bọc.”

 Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh!

Tình cảm của Người dành cho giới phụ nữ Việt Nam cũng bao la và đậm đà không kém :

“Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở.

Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm. Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng…

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954. (Võ Phiến.“Bắt Trẻ Đồng Xanh.” Tạp Chí Bách Khoa Oct. 1968).

Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng –  đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.

Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện. Phương tiện ở đây không chỉ là sinh mạng của hằng triệu thanh niên trai trá́ng mà còn là những vành khăn tang trên đầu góa phụ, và vô số những mảnh đời thơ ấu (bị thẳng tay cướp đoạt) của đám nhi đồng nước Việt.

Dù vậy, số nạn nhân của chiến tranh giải phóng (tại Việt Nam) vẫn không đáng kể – nếu so với cuộc Cách Mạng Tháng Mười. Sự dị biệt cần phải nêu ra ở đây là chính phạm ở Nga đã bị nhận diện nhưng kẻ thủ ác ở nước ta thì vẫn ở trong tình trạng tại đào.

Hôm 21 tháng 4 năm 2020, BBC cho hay: “Nhiều quốc gia từng thuộc Liên bang Xô Viết đã tháo bỏ tượng Lenin khỏi các nơi công cộng.” Cũng trên diễn đàn này, một nghị sĩ Nga, bà Natalya Poklonskaya nhắc lại lời kêu gọi … đã đến lúc cần đưa thi hài Lenin khỏi Quảng Trường Đỏ.

Cũng cùng thời điểm này, vào năm 2020, giới truyền thông VN vẫn đồng loạt đưa tin :

Bao giờ mà những tội đồ của một dân tộc vẫn còn được sùng kính (cho dù là sự sùng kính giả tạo chăng nữa) thì đất nước khó mà tránh cảnh lầm than!

Tưởng Năng Tiến
5/2021

Một Cách Xử Sự

GÓC SUY GẪM VỀ GÍA TRỊ CUỘC SỐNG….

Một Cách Xử Sự

Gia đình Andrews là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ cả.

Một hôm ông thấy vợ mình, sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John – một tá điền của ông – để mượn một cái cối đá để xay bột. Sau khi người này đi khỏi, ông hỏi vợ :

– Anh không nghĩ rằng nhà ta lại không có một cái cối để xay hay không đủ khả năng mua mà em lại sai người đi mượn cho thêm phiền phức như thế.

Bà Thomas từ tốn trả lời :

– Đây, anh xem, cái cối đá của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người ở vùng này đều yêu quí chúng ta vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm.

Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Như vậy chuyện đi mượn cái cối xay chỉ là cái cớ để anh và em đến gần với mọi người hơn mà thôi.

No photo description available.

 Chim Yến

May be an image of bird

 Chim Yến

Nếu ai hỏi tạo hoá đã tạo ra động vật nào hoàn hảo nhất? Tôi sẽ không ngần ngại trả lời, đó là loài chim Yến.

Những cánh chim nhỏ bé đến mong manh, chấp chới trên đảo đá đầy bão tố, sóng lừng dễ gây cho người ta hiểu lầm về loài chim yếu ớt, mong manh, thực ra lại có bản lĩnh vo song, và những đức tính khiến loài người phải bái phục.

– Vào bài:

Chim Yến thường kết đôi rất sớm và khi đã kết đôi chúng luôn bên nhau suốt cả cuộc đời, thuỷ chung son sắt.

Điều đáng ngạc nhiên là giữa cả hàng ngàn con chim đang bay, chúng vẫn nhận ra nhau dễ dàng.

Xã hội loài Yến có tổ chức rất ngăn nắp, chúng không bao giờ dành tổ của nhau, giữa hàng ngàn tổ chi chít trên vách đá chúng vẫn trở về đúng tổ của mình trước mùa sinh sản, chính xác như kim đồng hồ.

Vợ chồng nhà Yến thay nhau xây tổ, trong khi chim trống rứt lông tới bật máu trộn nước dãi xây tổ, chim mái bay xa cả hàng trăm cây số kiếm mồi, và ngược lại, chúng yêu thương quấn quýt bên nhau giữa biển khơi giông bão.

Bản năng sinh tồn buộc loài Yến phải làm tổ trên vách đá cheo leo, tránh động vật ăn thịt, rắn, nhưng đồng thời phải kín gió cho chim non. Nhưng nếu như không có loài người thì chúng đã có thể sống trọn đời hạnh phúc bên nhau mà không phải lo sợ.

Trước mùa sinh sản, loài người mò tới cắt đi một phần tổ, khiến chim trống phải gấp rút rứt lông, ựa dãi đến kiệt sức ra cả máu tươi để xây lại tổ cho vợ đẻ, chúng vẫn cần mẫn, nhẫn nại xây dựng lại mái ấm cho mình. Cả hai vợ chồng phải cùng bay đi kiếm mồi, cung cấp cho những cái miệng nhỏ xíu luôn há ra đòi ăn.

Loài người lại mò tới, vứt thẳng những chú chim non xuống biển, ngay cả khi chúng đang ríu rít vui mừng tưởng cha mẹ về cho ăn.

Chim mẹ về tìm tổ, bay nhiều vòng trên không trung, bật ra những tiếng kêu thảm thiết, tuyệt vọng, nó bay vút lên cao, rồi lao xuống như một tia chớp, đâm thẳng vào nơi từng là thiên đường hạnh phúc mà nó dày công vun xới, chim trống sau vài giây chứng kiến cái chết của vợ mình cũng bay vút lên rồi đâm thẳng xuống bên xác vợ mình.

Chúng nằm đó bên nhau, hết thế hệ này, đến thế hệ khác, như cố chứng minh với loài người mối tình bất tử, xin đừng huỷ hoại những sinh linh bé bỏng, giữa muôn loài.

(Sưu tầm)

SÂN GA CUỐI ĐƯỜNG TÀU

SÂN GA CUỐI ĐƯỜNG TÀU

Phạm Tín An Ninh

Để thay lời tựa cho tuyển tập 80 “Ga Cuối Đường Tàu” trình làng vào tháng 4/2018, nhà văn Huy Phương đã gởi đến bạn bè, độc giả bốn phương những lời tâm huyết:

“Nếu cuộc đời là những chuyến tàu thì cuối cùng, chúng ta ai cũng có một nhà ga để xuống, có điều sớm hay trễ mà thôi. Và đến một tuổi, một lúc nào đó, chúng ta phải nghĩ là đã đến lúc sắp xuống tàu. Vì vậy tác phẩm này, hôm nay đến tay bạn đọc. được xem như là một nhà ga cuối, cuộn chỉ thời gian đã kéo gần hết, quỹ thời gian chẳng còn được bao nhiêu!”

Tuyển tập 80 này ra đời, khi anh Huy Phương vừa qua tuổi 80 và cũng vừa trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Một hôm tôi đến thăm anh tại bệnh viện Kaiser ở Irvine. Sau một cuộc giải phẫu nhiều giờ, anh nằm bất động, nhưng khi mở mắt nhìn tôi, anh nở nửa nụ cười, khoe là “tớ vừa mới từ cõi âm trở lại, cứ tưởng lần này là đi đứt rồi!” Tôi đùa“mái tóc trắng của anh vẫn bồng bềnh, anh còn đẹp lão, sức mấy mà mấy bà cho anh đi, hơn nữa anh bỏ đi thì lấy ai thay anh để viết tiếp tạp ghi đây!”Anh nhoẻn miệng cười méo mó.

Tuần sau đó, trước khi trở lại Bắc Âu, tôi gọi thăm và chia tay anh. Anh cho biết đang tiếp tục điều trị và tịnh dưỡng tại nhà. Nghe giọng nói, biết anh còn yếu, đang mệt lắm, nhưng tôi không mấy lo âu, bởi tin chắc là một người khí khái, có nhiều nghị lực và sống chí tình với bè bạn như anh, không dễ gì mà “đi đứt” được.

Hai tuần sau, khi đang ở NaUy, thấy anh xuất hiện trên chương trình “Quê Nhà Quê Người” với cô cháu Ngọc Lan, dù vóc dáng có hao gầy, nhưng thần thái và giọng nói vẫn phong độ như ngày nào. Tôi mừng cho anh và cả cho tôi. Từ lâu, chúng tôi khá thân tình, xem nhau như anh em.

Bẵng đi một thời gian, anh bận rộn chuyện dọn nhà. Lâu nay vẫn ở nhà thuê, giờ nghe nói anh chị và vợ chồng cô con gái mua được ngôi nhà khá mới, rộng rãi khang trang trong một khu yên tĩnh. Được anh báo tin kèm theo địa chỉ mới, tôi mừng cho anh chị và hứa sẽ ghé lại thăm và mừng “tân gia”. Nhưng rồi con Coronavirus đến nhanh hơn chiếc xe Honda Accord đời 2003 cũ kỹ của tôi. Cả California có lệnh “mang khẩu trang và giản cách xã hội.” Không đi đâu được, cả ngày phải ở trong nhà, quá ngột ngạt với không khí dịch bệnh và chính trị rối ren của nước Mỹ, tôi rất thèm một chút không khí yên ả ở xứ Bắc Âu, quê hương thứ hai của tôi, nên đã mua và đổi vé máy bay đến mấy lần mà vẫn không về được. Bỗng một buổi trưa, nghe tiếng điện thoại reo, đầu giây bên kia là giọng “rất Huế” của anh Võ Ý, người anh cả của Phi Đoàn Bắc Đẩu ở Pleiku, từng bao vùng, gọi khu trục yểm trợ cho đơn vị tôi trong suốt mùa Hè 1972 ngập đầy khói lửa. Anh cũng là bạn thân, cùng Khóa 17 VB với nhà văn Song Vũ, ông anh Trung đoàn trưởng nỗi danh “thao lược, dễ thương” của chúng tôi ngày ấy:

– Moa và Huy Phương đang ở quán “Huế Ơi” đây. Nhớ chạy ra liền nghe. Huy Phương muốn gặp toa.

Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: Tình trạng Covid dầu sôi lửa bỏng như thế này mà hai ông anh gốc Huế còn dám đi tìm dư hương xứ Huế?  Chưa kịp tìm ra câu trả lời thì nghe tiếng anh Huy Phương:

– Ê! Nhớ chạy ra gấp nghe! Lần này mà không gặp thì xem như không bao giờ còn gặp nữa đó!

Giọng nói trầm và yếu ớt này, cho tôi biết không phải là đùa.Tôi hỏi lại:

– Ông anh nói cái gì mà nghe “khẩn trương” quá vậy? Đã sợ Covid mà còn hẹn nhau ra quán.

– Covid mà nhằm nhò gì. Moa bị ung thư tái phát, di căn rồi. Bác sĩ bó tay, bảo về nhà nghỉ ngơi. Toa có nhớ cách nay mấy năm, toa có đến thăm moa ở Kaiser không, lần ấy giải phẩu thành công, tưởng chết đi sống lại, nhưng không ngờ nó trở lại. Thời gian của moa chỉ còn vài tháng, mà cũng có thể vài ngày nữa thôi!

Tôi thoáng lo âu và cảm động, muốn chạy ra gặp anh ngay, nhưng vì phải trông hai đứa cháu ngoại nhỏ đang học online, nên đành phải nói lời xin lỗi, mà trong lòng thấy ưu tư, áy náy.

Không gặp nhau, nhưng anh đã nhờ anh Võ Ý chuyển đến biếu tôi “Tuyển Tập Huy Phương”. Đọc lời đề tặng và cả trong lời tựa “Gởi đến bạn như một lời chia tay”, lòng tôi chùng xuống, bâng khuâng:

“Theo luật đời, ở tuổi ngoài 80, chúng tôi đi vào những giai đoạn già yếu, bệnh tật, và mang theo một chứng bệnh nan y, chắc cũng phải đến lúc xuống tàu, giã từ đời sống. Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,”xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Mấy tuần sau, anh Võ Ý gọi báo tin: anh Huy Phương giờ yếu lắm, và rủ tôi đi thăm cùng với anh và anh Phan Nhật Nam. Anh sẽ ghé đón. Rất tiếc, khi ấy tôi đang ở trên nhà cô con gái út, khá xa Little Saigon, nên chỉ nhờ anh Võ Ý chuyển lời thăm, và hẹn sẽ gặp anh Huy Phương khi về lại Little Saigon.

Tuần trước, về lại nhà, tôi cùng anh Trần Huy Bích đến thăm anh. Biết anh mệt và có một số bạn bè thân tình thăm viếng, nên tôi gởi tin nhắn đến điện thoại của chị Huy Phương, xin chị chọn một thời điểm thích hợp.

11 giờ 30 trưa hôm sau, chúng tôi đến. Ngôi nhà của anh chị nằm trong một khu thật yên tĩnh ở thành phố Anaheim. Tôi bấm chuông với một chút lo âu, chuẩn bị tâm trạng trước những tình huống không vui, nhưng chị Huy Phương mở cửa đón chúng tôi với một nụ cười, vồn vã, làm chúng tôi thấy tự nhiên hơn. Anh Huy Phương từ trong phòng bước ra, tay phải chống một cây gậy. Vẫn mái tóc bạc trắng như tuyết bồng bềnh, với một nụ cười thân thiện cố hữu, nhưng vóc dáng anh trông tiều tụy, nếu không nói là da bọc lấy xương. Bắt tay anh, nở nụ cười, mà lòng dạ xốn xang, thấy thương và tội nghiệp anh.

Tôi cảm động hơn khi anh kéo tay bảo hai anh em tôi đến ngồi bên cạnh anh, chung cái ghế sofa để nói chuyện cho vui, vì chẳng còn có nhiều dịp được ngồi bên nhau nữa. Anh cho biết chẳng ăn gì, chỉ uống đúng 3 ly sữa mỗi ngày, cùng với mớ thuốc men do bệnh viện cấp. Tôi và anh Bích nhắc lại vài kỷ niệm xưa, đặc biệt mấy lần gặp anh chị tại Oslo- NaUy, khi anh chị sang đây thăm vợ chồng người bạn thân, là giáo chức đồng nghiệp cùng anh dạy ở trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, trước khi anh nhập ngũ. Tôi đùa, bảo lúc ấy ông thầy Lê Nghiêm Kính(*) đẹp trai, chắc cũng từng làm khổ bao nhiêu cô học trò Quảng Trị. Mấy hôm nay có cô nào xin phép bà chị đến thăm anh Huy Phương? Cả anh chị cùng cười.

Anh bình thản kể chuyện đã chuẩn bị tất cả cho việc hậu sự. Đã viết cả Cáo Phó và dặn dò vợ con để anh ra đi trong bình thản. Thấy anh vui, tôi bảo “Năm nay anh đã 84, thuộc hàng đại thọ rồi. Em cũng chỉ mong sống đến như vậy là phúc đức trời cho rồi. Từng là lính chiến, bị tù đày rồi vượt biển mà không chết, bây giờ sắp tuổi 80 em thấy được hưởng bonus của ông trời, nên đã mãn nguyện lắm rồi. ” Anh Trần Huy Bích tiếp lời: “Anh em mình bây giờ đang xếp hàng, kẻ trước người sau. Mai mốt rồi cũng sớm gặp lại nhau thôi.”

Tôi bỗng nhớ tới bài thơ “Chúc Thư” của anh Huy Phương viết đã khá lâu, tôi rất tâm đắc:

(Bài thơ khá dài, xin trích đoạn)

Tôi người lính già ở xa tổ quốc
Xa chiến trường lưu lạc tới đây
Nơi quê người sương pha tuyết đổ
Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.

Không phải chỉ chịu ơn người đã chết
Tôi như còn mang món nợ nước non.
Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc

Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi

Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.
Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển
Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương
Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu
Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.

Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ
Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa
Hãy rải hoa trên con đường thấm máu
Phút lui binh phải gãy súng buông cờ.

Anh là huynh trưởng của tôi, sau khi tốt nghiệp Khóa 16 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, anh đã phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến cho đến ngày phải tan hàng, vào tù theo vận nước. Trong binh nghiệp, anh cầm bút nhiều hơn cầm súng. Tôi đã buông súng, nhưng anh thì chưa hề buông bút. Anh là một trong những người lính chiến đấu bằng ngòi bút cho đến giây phút cuối cùng, đã để lại cho đời, cho chiến hữu, bạn bè cùng thế hệ con cháu những “chiến tích” rất đáng được trân trọng, tự hào,  như anh đã viết trong lời tưa cho Tuyển Tập cuối cùng:

Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,”xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Khi nhận được tuyển tập “Ga Cuối Đường Tàu” và đọc những dòng tâm tình của anh, tôi liên tưởng tới lời xưa của cụ Phan Bội Châu:

“Con chim sắp chết hót tiếng bi thương,
Con người sắp chết nói lời tâm huyết”

Cụ Phan Bội Châu viết lời này trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư năm 1903. Mãi ba mươi bảy năm sau (1940), Cụ mới qua đời tại Bến Ngự trong cảnh bị giam lỏng.

Ông anh xứ Huế của tôi vừa bị định mệnh lên án treo. Anh có được ân xá và diên trì sự sống một thời gian dài như Cụ Phan? Trong viễn ảnh Phật giáo mà anh là một tín đồ, tiếng gọi về ngay hay lệnh hoãn không nhất thiết là tốt hay xấu, chỉ là duyên nghiệp trong luật tử sinh chung. Và việc ở hay đi nào có gì quan trọng, nếu người ta sống xứng đáng và yêu thương tới giờ phút cuối cùng.

Tôi tin anh Huy Phương đã quan niệm và hằng sống theo chí hướng ấy.

Thấy anh đã thấm mệt, chúng tôi xin cáo từ. Anh kéo chúng tôi ngồi sát lại anh hơn, ôm vai hai chúng tôi, bảo cô con gái chụp mấy tấm hình kỷ niệm. Thấy anh cố gắng nở nụ cười, chúng tôi cũng cười theo. Anh viết tặng anh Trần Huy Bích tuyển tập cuối cùng của anh. Nét chữ run run. Anh Bích nhận món quà với nhiều cảm xúc. Chúng tôi cám ơn chị và cháu mà không biết chia sẻ một lời nào, ôm anh thật chặt trước khi bước ra cửa, trong lòng lẫn lộn những nỗi niềm, khó tả.

(từ trái:Gs Trần Huy Bích- Nv Huy Phuong – Tg PTAN)

Xin cầu chúc anh, dù ở hay đi, vẫn luôn nở những nụ cười, thanh thản, mãn nguyện. Hẹn gặp lại anh ở sân ga cuối đường tàu.

Phạm Tín An Ninh
(đầu tháng 5 năm 2021)

(*) Lê Nghiêm Kính là tên thật của Nhà văn Huy Phương

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Bởi  AdminTD

CNN

Tác giả: Daniella Diaz

Dịch giả: Dương Lệ Chi

13-5-2021

(CNN) Một nhóm gồm hơn 150 đảng viên đảng Cộng hòa, dẫn đầu bởi những người chỉ trích Donald Trump là Evan McMullin và Miles Taylor, tuyên bố một phong trào chính trị mới nhắm vào việc cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump giữ vai trò trong đảng Cộng hòa, và kêu gọi cải tổ đảng.

Nỗ lực này diễn ra chỉ vài giờ sau khi dân biểu Liz Cheney, từ tiểu bang Wyoming, bị các đồng đảng trong Hạ viện truất khỏi vị trí lãnh đạo đảng Cộng hòa vì bà thẳng thắn chỉ trích Trump nói dối, rằng cuộc bầu cử của ông ta đã bị đánh cắp, một lần nữa nhấn mạnh sự kềm kẹp của cựu tổng thống đối với đảng Cộng hòa và sự thách thức đối với những người trong nhóm, qua việc tìm cách định hình lại đảng Cộng hòa.

McMullin là người từng tranh cử tổng thống trong vai trò ứng cử viên độc lập hồi năm 2016 và Taylor, là người nổi tiếng, từng viết một cuốn sách ẩn danh lên án chính quyền Trump, đã tổ chức nỗ lực này và đề ra một bộ nguyên tắc hành động trên báo Deseret News hôm thứ Năm [13/5/2021].

Taylor nói trong chương trình New Day của CNN hôm qua: “Đã quá đủ rồi và chúng ta cần đưa ra một liên minh chung cho đất nước này, cũng như một tầm nhìn thống nhất hơn để thay thế những gì chúng ta đang thấy từ đảng Cộng hòa hiện tại, bây giờ trở nên thối nát với những cuộc tấn công dai dẳng vào nền dân chủ của chúng ta. Cho nên, thông điệp của chúng tôi là, đã đến lúc cải tổ hoặc hủy bỏ đảng Cộng hòa”.

Trong bộ nguyên tắc hành động, nhóm viết rằng, họ “hình dung lại một đảng phục vụ những lý tưởng sáng lập của chúng tôi, hoặc nếu không thì đẩy nhanh việc tạo ra một sự thay thế tương tự như thế”.

Họ đã viết trong tuyên bố về các nguyên tắc của mình: “Chúng tôi tìm kiếm sự bảo tồn và cải thiện nền cộng hòa dân chủ và sự bền vững cho chính phủ tự trị của chúng tôi, không bị can thiệp và bảo vệ chống lại mọi kẻ thù, trong và ngoài nước. Chúng tôi phản đối việc sử dụng các biện pháp gây sợ hãi, thuyết âm mưu và sự giả dối; thay vào đó, chúng tôi ủng hộ việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và lời nói trung thực”.

LS George Conway, chồng của bà Kellyanne Conway, cựu cố vấn tòa Bạch Ốc và cũng là một thành viên trong nhóm, nói rằng, đây không phải là một đảng thứ ba, mà là một phong trào.

Ông Conway nói với phóng vien Anderson Cooper của đài CNN tối thứ Tư [12/5/2021]: “Tôi không nghĩ rằng tôi mô tả nó như một đảng thứ ba với tư cách là một liên minh. Tôi không nghĩ rằng một đảng thứ ba nhất thiết phải hoạt động theo kiểu hệ thống chính trị mà chúng tôi có, với quận hạt có một dân biểu. Nhưng cần có những người có quan điểm từ bảo thủ đến quan điểm trung bình, muốn tin vào pháp quyền và họ cần một nơi để đến và một nơi mà họ có thể tổ chức và hỗ trợ những ứng cử viên phù hợp với điều đó”.

Danh sách các đảng viên Cộng hòa ký tên, gồm Bill Weld, cựu Thống đốc bang Massachusetts và Mark Sanford, cựu Thống đốc bang South Carolina, cũng như 27 cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ, gồm Barbara Comstock, Charlie Dent, Paul Mitchell; và cựu Thượng nghị sĩ David Durenberger.

Các đảng viên khác của nhóm, gồm Anthony Scaramucci, cựu giám đốc truyền thông tòa Bạch Ốc; Elizabeth Neumann, cựu quan chức Bộ Nội an; và John Mitnick, cựu cố vấn Bộ Nội an.

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

GÓC SUY GẪM…

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng bao giờ mượn. Dù chỉ một que tăm, sợi chỉ.

– Chớ thấy vui khi mình thanh thản trước điều cần nghĩ. Sự thanh thản chỉ có ở người vô tâm.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật:

“CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

May be an image of child, flower and outdoors

‘‘Chiến lược An ninh Quốc gia’’ Mỹ: Ưu tiên củng cố dân chủ và siết chặt quan hệ đồng minh

Cách đây hơn 2 tháng:

tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời », là cơ sở cho Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến hoàn tất cuối năm. Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.

***

Hôm 03/03/2021, tân chính quyền Mỹ công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời ». Bản chỉ dẫn là cơ sở cho việc soạn thảo Chiến lược An ninh Quốc gia của nước Mỹ, dự kiến sẽ hoàn tất cuối năm.

Bản chỉ dẫn nhấn mạnh đến việc củng cố nền dân chủ, trước hết ngay tại Mỹ, siết chặt quan hệ với đồng minh, đối tác để đối phó với các thách thức lớn xuyên quốc gia, với các thế lực độc tài. Bắc Kinh bị chỉ đích danh như một mối đe dọa chính.

Về mục tiêu của việc công bố bản « Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » (Interim National Security Strategic Guidance), Nhà Trắng cho biết là để « truyền đạt tầm nhìn của tổng thống Biden về cách thức mà nước Mỹ sẽ làm việc với thế giới và cung cấp hướng dẫn cho các bộ và các cơ quan để điều chỉnh hành động của mình, khi chính quyền bắt đầu xây dựng Chiến lược An ninh Quốc gia ».

« Chỉ dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời » khẳng định trước hết là, các mối đe dọa hiện nay, từ đại dịch đến khủng hoảng khí hậu, thách thức về công nghệ số, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhân đạo, hay chủ nghĩa bạo lực, khủng bố, vũ khí hủy diệt…, không thể được hóa giải, nếu không có các phối hợp quốc tế.

Bản « Chỉ dẫn » cũng đặc biệt nhấn mạnh đến một thách thức sống còn khác, đó là các nền dân chủ trên toàn cầu, bao gồm cả nước Mỹ, đang trong tình trạng « bị vây hãm », bị thách thức « từ bên trong », bởi « nạn tham nhũng, bất bình đẳng gia tăng, phân cực xã hội, chủ nghĩa dân túy và các mối đe dọa phi tự do nhắm vào thể chế nhà nước pháp quyền ».

Bản « Chỉ dẫn » cũng tập trung chỉ rõ các thế lực chuyên chế có xu thế « sử dụng thông tin bóp méo, thông tin sai lệch », để khai thác các điểm yếu và gieo rắc sự chia rẽ « trong nội bộ các quốc gia tự do, và giữa các quốc gia tự do, làm xói mòn các quy tắc quốc tế hiện có và thúc đẩy các mô hình cai trị độc tài như giải pháp thay thế ».

Để « đảo ngược các xu thế » nguy hiểm nói trên, tân chính quyền Mỹ đặt trọng tâm vào việc Hoa Kỳ trở lại dẫn đầu thế giới bằng « sức mạnh nêu gương », trước hết với việc nỗ lực hành động để củng cố các trụ cột nền tảng của nền dân chủ trong nước, với việc giải quyết căn bản tình trạng kỳ thị chủng tộc. Thành công của nước Mỹ sẽ trở thành « ngọn hải đăng » cho các nền dân chủ khác.

Trang mạng Nhật Bản NHK đặc biệt chú ý đến việc bản « Chỉ dẫn » cho biết nước Mỹ sẽ tập trung đầu tư vào Hiệp ước Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các quan hệ liên minh của tổ chức này với Nhật Bản, Úc và Hàn Quốc, được coi là « tài sản chiến lược lớn nhất của Mỹ ».

Tài liệu cho biết thêm chính quyền Biden sẽ làm việc có trách nhiệm để chấm dứt chiến tranh ở Afghanistan và duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Trung Đông ở mức độ phù hợp, đồng thời « duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ nhất ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và châu Âu ».

Tài liệu dài 24 trang của Nhà Trắng cũng khẳng định « sẽ làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với Ấn Độ, cộng tác với New Zealand, cũng như Singapore, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác, để thúc đẩy các mục tiêu chung ».

Chỉ có trái tim bình yên thôi.

 Không có người nào cả đời chỉ toàn niềm vui, và cũng không có người nào cả đời chỉ toàn nỗi buồn; nhưng vẫn luôn có những người chờ mong cuộc sống của mình chỉ toàn niềm vui, đâu biết chính sự chờ mong đó vô tình làm khổ họ, khổ khi vừa thoáng thấy nỗi buồn xuất hiện, buồn khi mọi chuyện không được như ý.

Thứ gì có thể làm cho chúng ta vui như vỡ ra thì ngay bên trong thứ đó luôn ẩn chứa một sức mạnh đủ lớn để có thể xé nát chúng ta, và chỉ những thứ từng sưởi ấm chúng ta mới đủ sức làm chúng ta phải co ro lạnh.

Bám vào niềm vui và ghét bỏ nỗi buồn là cách nhanh nhất để đánh mất bình yên trong lòng, và người đời thường đánh mất bình yên của mình theo cách đó.

Người bình yên nhất là người biết trân trọng mọi thứ, kể cả nỗi buồn. Người đi xa nhất là người biết nhặt lấy từng nỗi buồn, nhặt lấy từng nghịch cảnh, nghịch duyên rồi đốt cháy chúng để làm năng lượng cho cuộc hành trình phía trước. Người thương cuộc sống nhất là người thương được cả từng nỗi đau.

Tôi thích nghe những người ngược going, ngược gió để trở về ngồi thật yên dưới hiên chùa kể chuyện, nghe những thứ đã làm họ tổn thương, nghe cách họ chuyển hóa chúng thành thứ có ích cho cuộc sống của mình.

Làm gì có cuộc đời nào không có nỗi buồn, làm gì có một cuộc đời bình yên, chỉ có trái tim bình yên thôi.

Mong người luôn an bình

May be an image of flower and nature

MỌI THỨ RỒI CŨNG SẼ QUA

MỌI THỨ RỒI CŨNG SẼ QUA

Một ngày nọ, Vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ Sukkot và ta cho ông sáu tháng để tìm thấy chiếc vòng đó. ”

Benaiah trả lời: “Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt? ”

Nhà Vua đáp: “Nó có những sức mạnh diệu kỳ. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó, sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ Sukkot, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không? “. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng rỡ một nụ cười.

Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội Sukkot.

“Nào, ông bạn của ta, ” Vua Salomon nói, “Ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? “. Tất cả những cận thần đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó khắc dòng chữ: “Điều đó rồi cũng qua đi”

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó, ông cũng chỉ là cát bụi.

@ Suy ngẫm

+ Đời người kiếp sống vô thường

Sống nay, mai chết ai lường được đâu

Ở đời phải sống vì nhau

Ở đời phải sống đậm sâu nghĩa tình.

+ Sống cho trọn vẹn kiếp người

Buồn vui, yêu ghét, khóc cười cũng qua

Đường nào gần, lối nào xa

Trở về cát bụi cũng là hư vô.

@ Cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria!

Vinh hoa, thất bại cũng qua mau

Thân phận bụi tro rồi cũng về

Giành giật hơn thua chi mệt nhoài

Kiếp người là thế sống khiêm cung.

Xin Mẹ rũ lòng thương xót con

Nghĩ suy chín chắn trước khi làm

Làm vinh danh Chúa để đời vui

Sùng kính Mẹ hồn con ngất ngây. Amen.

May be an image of 1 person

Từ độc đảng sang đa đảng: Đài Loan đã dân chủ hóa cuộc bầu cử như thế nào

  

Từ độc đảng sang đa đảng: Đài Loan đã dân chủ hóa cuộc bầu cử như thế nào

Đảng cò kè, quan cạnh tranh, dân hưởng lợi.

 11/05/2021

By 

Đồ họa: Luật Khoa. Nguồn ảnh: CNN/ Sách “Party Politics in Taiwan”.

  • Năm 1991, Đài Loan có cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau 45 năm chịu sự kiểm soát toàn diện của Quốc dân Đảng (KMT). Cạnh tranh giữa các đảng phái bắt đầu xuất hiện.
  • Một trong những cuộc cạnh tranh quan trọng nhất là về chính sách bảo hiểm y tế. Để giành chiến thắng, các đảng phải đưa ra chính sách sao cho ngày càng có nhiều người dân được hưởng phúc lợi hơn.
  • Sự cạnh tranh còn tạo động lực để các vấn nạn thể chế như tham nhũng được đưa ra ánh sáng, bóc tách và sửa chữa. Dưới áp lực cạnh tranh, các đảng phái cũng buộc phải tự sửa mình.
  • Trong thời kỳ độc tài, một danh tính Trung Hoa chung được áp đặt lên người Đài Loan. Chỉ đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
  • Công trình nghiên cứu của Dafydd Fell trong quyển “Party Politics in Taiwan” cung cấp bằng chứng cho các thay đổi tích cực mà cạnh tranh đảng phái góp phần tạo ra ở Đài Loan.

Vào năm 1987, khi chính phủ Đài Loan tuyên bố chấm dứt tình trạng thiết quân luật, nước này đã xác lập một kỷ lục không hay ho gì: là quốc gia có tình trạng thiết quân luật lâu nhất trên thế giới tính đến thời điểm đó (kéo dài gần bốn thập niên).

Dưới chế độ độc tài của Quốc dân Đảng, người Đài Loan không có tự do ngôn luận, không được tự do lập hội, và không có quyền bầu ra những lãnh đạo của đất nước. Những tiếng nói đối lập đều bị thẳng tay đàn áp, bỏ tù hoặc giết hại.

Tranh minh họa thời kỳ thiết quân luật tại Đài Loan. Nguồn: Taiwan Times.

Ngày nay, chỉ ba thập niên sau khi bức màn kiểm soát quân sự bị xé bỏ, Đài Loan lột xác trở thành một trong những quốc gia dân chủ tự do nhất thế giới. Thể chế dân chủ của nước này được đánh giá là số một ở châu Á, vượt qua cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.

Những quả ngọt của quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan đến rất nhanh và rất sớm. Ngay trong những năm đầu tiên kể từ khi cải cách, người dân đã chứng kiến các thay đổi thực tế trong hầu hết các vấn đề, từ quốc kế dân sinh đến chủ nghĩa dân tộc.

Các thay đổi này có thể được tìm thấy trong quyển sách “Party Politics in Taiwan” của Dafydd Fell, một nhà khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về Đài Loan. Ông là giảng viên Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế thuộc Đại học London, Anh. Cuốn sách là công trình nghiên cứu của tác giả về sự thay đổi của các đảng phái và quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan từ năm 1991 đến 2004.

Thông qua phân tích các thông điệp tuyên truyền bầu cử, phỏng vấn trực tiếp quan chức cấp cao của các đảng, thu thập ý kiến từ những chuyên gia, tác giả kết luận rằng việc cạnh tranh trong bầu cử đem lại một môi trường tích cực cho toàn bộ xã hội Đài Loan.

Các đảng phái nâng cao năng lực quản trị, người dân có được những đại diện thực chất giúp giải quyết các vấn đề của mình, còn các vấn đề xung đột dần đạt được đồng thuận thông qua tranh luận cởi mở và công khai.

Nghiên cứu của Dafydd Fell tập trung vào ba vấn đề lớn: đưa ra chính sách trợ cấp xã hội, xử lý nạn tham nhũng và xác định danh tính dân tộc.

Trợ cấp xã hội: hướng đến công bằng cho tất cả

Trước thập niên 1990, ngoài tầng lớp lãnh đạo, tại Đài Loan có một nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi. Nhóm này được gọi là “quân công giáo” (jungongjiao), viết tắt từ quân đội, công chức và những người làm việc trong ngành giáo dục. Đa phần họ đều là đảng viên Quốc dân Đảng, vốn là điều kiện tiên quyết để thăng tiến trong sự nghiệp.

Họ ủng hộ nhiệt thành các chính sách của Quốc dân Đảng, đổi lại nhận được trợ cấp xã hội hậu hĩnh. Trong khi đó, người dân thuộc các ngành nghề khác được hưởng rất ít, hoặc không có được bất kỳ trợ cấp nào từ chính quyền.

Theo thống kê, vào năm 1991, trong số chi tiêu trợ cấp của chính phủ, nhóm “quân công giáo” hưởng đến 74%.

Lịch sử phức tạp của Đài Loan góp phần tạo nên sự thiên lệch này.

Vào năm 1949, khi Quốc dân Đảng thất trận tại đại lục, họ chạy sang Đài Loan, đem theo bộ máy chính quyền cũ và những quân nhân công chức trong hệ thống đó. Những người này được gọi là “người đại lục” (Mainlanders) để phân biệt với “người Đài Loan” (Taiwanese), sinh ra và lớn lên tại đảo quốc. Nhóm người đại lục chỉ chiếm thiểu số, nhưng nắm độc quyền và hưởng đặc lợi. Sự bất bình đẳng này gây ra nhiều mâu thuẫn sắc tộc.

Dưới chế độ thiết quân luật, chính quyền đàn áp đẫm máu những ai dám lên tiếng phản đối. Các mâu thuẫn bị đè nén, không được bàn luận công khai. Chỉ tới khi những đảng phái khác xuất hiện, các chính sách bất công này mới bị thách thức.

Đảng Dân tiến (DPP) là một trong những đảng đầu tiên nêu ra vấn đề cải cách trợ cấp xã hội, với việc yêu cầu phải có chính sách y tế và lương hưu công bằng cho mọi người dân.

Tuy mới thành lập, không có thực quyền, nhưng những yêu cầu của Đảng Dân tiến nhận được nhiều sự ủng hộ từ cử tri.

Nắm bắt được xu thế đó, Quốc dân Đảng nhanh chóng “cướp diễn đàn”, giành quyền ban hành chính sách bảo hiểm y tế. Với lợi thế nắm đa số tại Quốc hội, vào năm 1994, họ nhanh chóng thông qua luật về Bảo hiểm y tế toàn dân (National Health Insurance – NHI). Chính sách này thành công lớn, nhận được hơn 70% sự ủng hộ từ người dân. Trong các cuộc bầu cử sau này, Quốc dân Đảng vẫn thường nhắc lại NHI như một lá bài ghi điểm quan trọng.

Tranh cổ động tham gia chương trình Bảo hiểm y tế toàn dân (NHI) của Đài Loan. Nguồn: nhi.gov.tw.

Đây là trường hợp hiếm hoi một đảng phái “cướp” thành công diễn ngôn của phe đối lập và biến nó thành lợi thế riêng.

Về phần mình, Đảng Dân tiến không từ bỏ cuộc chiến. Họ đưa yêu cầu cải cách về lương hưu, một vấn đề lớn khác của trợ cấp xã hội.

Giống như trường hợp bảo hiểm y tế, Quốc dân Đảng cố gắng đưa ra đề xuất cải cách lương hưu của riêng họ để đáp trả. Tuy nhiên, do các xung đột nội bộ liên quan đến lợi ích nhóm, Quốc dân Đảng không ra được quyết sách nào về vấn đề này.

Đổi lại, khi Đảng Dân tiến nắm quyền vào năm 2002, họ đã thông qua các luật cải cách về chế độ lương hưu cho người dân như lời hứa.

Sự cạnh tranh của các đảng phái ngày càng giúp nhiều người dân Đài Loan được hưởng lợi ích công bằng từ chế độ phúc lợi xã hội.

Tham nhũng thể chế: Từ trắng sang đen và bị xóa bỏ

Trước thập niên 1990, nhiều hình thức tham nhũng tại Đài Loan được thể chế hóa, hay hoàn toàn hợp pháp mà không ai dám lên tiếng thách thức. Nhiều người còn không nghĩ rằng đó là chuyện xấu cần phải loại bỏ.

Đây cũng là một vấn đề có căn nguyên lịch sử.

Khi chính quyền Quốc dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan, họ là những kẻ mới tới. Để thiết lập được bộ máy cai trị hiệu quả, Quốc dân Đảng cần đến sự hợp tác của các nhóm người có quyền lực tại địa phương (local factions). Một mối quan hệ cộng sinh được thiết lập.

Chính quyền trung ương tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích địa phương thiết lập hoạt động kinh tế độc quyền, cho tiếp cận với nguồn vốn trung ương và giao cho họ các hợp đồng nhà nước béo bở. Các hoạt động làm ăn phi pháp như cờ bạc hay vũ trường cũng được nhắm mắt bỏ qua. Đổi lại là sự ủng hộ tuyệt đối của các băng nhóm địa phương này cho Quốc dân Đảng.

Trong nhiều thập niên, đây là hình thức “tham nhũng trắng” (white corruption), hoàn toàn hợp pháp và không ai dám thách thức sự tồn tại của nó, cho đến khi các đảng phái khác xuất hiện và lên tiếng.

Khảo sát top 10 vấn đề được các đảng lớn nêu ra trong các quảng cáo tranh cử từ năm 1991 đến 2000. Tham nhũng (political corruption) là một trong những vấn đề hàng đầu. Nguồn: Sách “Party Politics in Taiwan”.

Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Quốc hội mới vào năm 1992, Đảng Dân tiến đặt chống tham nhũng là vấn đề trọng tâm, với các khẩu hiệu và chiến dịch quảng cáo trên truyền thông chỉ trích trực diện Quốc dân Đảng đang nắm quyền lúc đó.

Lần đầu tiên các ứng viên giàu có của Quốc dân Đảng bị phe đối lập đặt cho cái tên “bò vàng” (kim ngưu), với cáo buộc họ có nguồn tiền vô hạn, không minh bạch, sẵn sàng chi tiêu xả láng cho việc tranh cử, thậm chí là mua phiếu bầu.

Các “bò vàng” gây ra bất mãn cao trong xã hội, khiến ngay cả nội bộ Quốc dân Đảng cũng lên tiếng phản đối việc đề cử những nhân vật tai tiếng này.

Năm 1993, những người có xu hướng chống tham nhũng trong Quốc dân Đảng liên kết với Đảng Dân tiến cùng thông qua một đạo luật chống tham nhũng, bắt buộc các quan chức cấp cao phải công khai tài sản và nộp vào trong một quỹ quản lý.

Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995, Đảng Dân tiến tung ra một quảng cáo truyền hình trong đó nhấn mạnh 67,77% số ứng viên của Quốc dân Đảng là những người có quan hệ với các băng nhóm tội phạm hoặc nhóm lợi ích địa phương.

Ngoài ra, tại một cuộc họp báo vào năm 1995, một nhà lập pháp thuộc Đảng Dân tiến công bố số tài sản công mà Quốc dân Đảng tích lũy qua nhiều thập niên cai trị đất nước lên tới 150 tỷ Đài tệ (hơn 5 tỷ USD theo giá trị hiện tại).

Đối diện với các cáo buộc này, Quốc dân Đảng hầu như im lặng.

Tuy vậy, trước sức ép của công luận và phe đối lập, các lãnh đạo của đảng cầm quyền cũng phải lên tiếng.

Bộ trưởng Tư pháp Mã Anh Cửu vào năm 1995 hứa với công luận sẽ “đá bay tệ nạn mua phiếu bầu ra khỏi Đài Loan”.

Năm 1996, tại một Hội nghị phát triển dân tộc, Quốc dân Đảng lần đầu tiên đồng ý sẽ thay đổi các chính sách về tài sản của đảng (theo cáo buộc của phe đối lập là tài sản công), đồng thời cải cách các cuộc bầu cử tham nhũng tại địa phương.

Năm 2000, khi vận động cho cuộc bầu cử tổng thống, ứng cử viên Liên Chiến và cũng là Chủ tịch của Quốc dân Đảng đã hứa sẽ chấm dứt các hoạt động làm ăn kinh doanh của đảng, nộp các tài sản của đảng vào công quỹ và cắt bỏ liên hệ với những ứng viên có dính dáng đến nguồn tiền không minh bạch.

Tại Đài Loan, chống tham nhũng dường như không có vùng cấm. Cả hai cựu tổng thống Lý Đăng Huy (trái) và Trần Thủy Biển đều từng bị truy tố về tội tham nhũng. Ảnh: UDN.

Vấn đề tham nhũng thể chế, hay “tham nhũng trắng”, từ việc được xem là bình thường, sau khi bị dư luận và các đảng phái đối lập nêu ra chỉ trích, đã dần bị đặt lại đúng vị trí “tham nhũng đen”, trở thành mục tiêu mà các chính đảng đều quyết tâm loại bỏ để lấy lòng cử tri.

Danh tính dân tộc: Từ gốc gác Trung Quốc đến căn tính Đài Loan

Trong nhiều thập niên kể từ khi thất trận phải chạy về Đài Loan, chính quyền Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn luôn nuôi mộng quay về “giải phóng đại lục”.

Họ thiết lập các chính sách kinh tế, giáo dục, văn hóa với mục tiêu một ngày nào đó quay lại phản công quân đội cộng sản. Tiếng phổ thông (Mandarin) là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng chính thức. Các tiếng địa phương đều bị cấm. Một căn tính Trung Hoa chung được áp đặt cho toàn bộ người Đài Loan.

Đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.

Đảng Dân tiến đi đầu trong việc cổ vũ cho một danh tính riêng biệt của người Đài Loan, độc lập hoàn toàn với Trung Quốc đại lục.

Việc có một căn tính khác biệt có liên hệ mật thiết với yêu cầu dân chủ hóa đất nước.

Quốc dân Đảng cho tới cuối thập niên 1980 vẫn từ chối tổ chức bầu cử tự do cho các vị trí trong Quốc dân Đại hội (National Assembly) và Quốc hội (Legislative Yuan). Những thành viên trong các cơ quan này đa số vẫn là những người đã được bầu vào thập niên 1940 tại đại lục, sau đó theo chân Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan.

Quốc dân Đảng xem mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn bộ đất nước Trung Quốc. Dưới chế độ Quốc dân Đảng, Đài Loan vẫn là một phần của Trung Quốc, nằm trong danh tính chung của toàn bộ đất nước Trung Hoa. Nếu để người Đài Loan bầu ra chính quyền và lãnh đạo mới, các cơ quan này sẽ không còn đại diện được cho “tất cả người dân Trung Quốc”.

Nói cách khác, dưới danh tính (là một phần của) Trung Hoa, người Đài Loan không thể có dân chủ.

Bãi bỏ thứ danh tính cũ này, tạo ra một căn tính độc lập vì vậy là một phần của yêu cầu cải cách dân chủ.

Không chỉ có Đảng Dân tiến, ngay cả Quốc dân Đảng và các đảng phái khác cũng tham gia sôi nổi vào quá trình thảo luận và đề xuất lựa chọn ra một hướng đi riêng cho đất nước.

Người Đài Loan biểu tình với khẩu hiệu “Đài Loan không phải là Trung Quốc, Đài Loan là Đài Loan”. Nguồn: Taiwan News.

Cùng với việc mở rộng cửa đón nhận người bản địa Đài Loan gia nhập đảng, Quốc dân Đảng bắt đầu nói nhiều hơn về một “Đài Loan mới” với những đặc điểm riêng biệt. Họ cũng không còn nhắc lại nhu cầu phải “giải phóng Trung Quốc”. Thậm chí theo thời gian, Quốc dân Đảng tự xây dựng hình ảnh tương đối trung lập trong vấn đề này, chống lại chủ trương “thống nhất sớm” với Trung Quốc của các đảng cực hữu lẫn đường lối “độc lập ngay” của các nhóm cực tả.

Về phần mình, Đảng Dân tiến cũng tự biết điều chỉnh. Khi chủ trương tuyên bố độc lập khiến họ nhận thất bại nặng nề trong các cuộc bầu cử năm 1991 và 1996, các lãnh đạo đảng đã giảm bớt mức độ cực đoan. Họ đưa ra các đường lối phù hợp hơn với số đông, như nhấn mạnh đến nguyên tắc “tự chủ” (self-determination) thay vì giương cao ngọn cờ “độc lập” (independence), vốn bị chỉ trích là có thể gây ra chiến tranh với Trung Quốc.

***

Các cuộc thảo luận công khai của những đảng phái giúp người dân có được nhiều lựa chọn. Và bằng lá phiếu của mình, người dân giúp các chính đảng thay đổi để đến gần nhất với nguyện vọng của cử tri.

Ngay cả khi thắng trong một cuộc bầu cử, đảng phái cũng phải tính đến lá phiếu trong tương lai của người dân để thay đổi. Như trường hợp của Quốc dân Đảng, dù chiến thắng cuộc bầu cử năm 1996, nhưng họ vẫn phải đưa ra cam kết thay đổi để chống tham nhũng như chủ trương của phe đối lập.

Hoặc trường hợp của Đảng Dân tiến, khi nhận ra đường lối độc lập của mình không được lòng cử tri, họ bắt buộc phải đổi tông, đồng thời tìm ra các vấn đề dân sinh khác (như trợ cấp xã hội, chống tham nhũng) để giành được sự ủng hộ của người dân.

Thông qua chế độ cạnh tranh công khai và công bằng, tất cả thành phần trong xã hội đều được lợi.

TIẾNG VIỆT TA… HAY THẬT…!

TIẾNG VIỆT TA… HAY THẬT…!

MŨM MĨM béo, MỦM MỈM cười.

CỦ quả dành để biếu người  xưa.

KIỄNG chân, chậu KIỂNG đu đưa

KẺO hết, KẼO kẹt đêm mưa võng buồn.

HỔ thẹn chưa HỖ trợ lương.

 kia GẢ bán người thương vì tiền

HẢO tâm lo chuyện HÃO huyền.

Đi buôn LỖ vốn, nước màu LỔ loang.

PHỦ phê chừ mới PHŨ phàng

Nửa đường GÃY gánh, GẢY đàn tìm vui.

GÃI đầu tính ngược, tính xuôi.

Còn lưng NỬA vốn NỮA thời tính sao.

GIÃI bày GIẢI nghĩa dễ đâu

Chưa kịp ẩu ĐẢ qua cầu Đàxong.

Run RẨY phát RẪY dọn nương

GỠ rối điềm GỞ rộng đường nhân sinh.

Chú RỂ bứt RỄ cây quỳnh

Ra sức BỬA củi cho mình BỮA ăn.

BẨM thưa, bụ BẪM con người

Nói năng tao NHÃ, chim kia NHẢ mồi.

 ngoài mồ MẢ xinh tươi

Nhường cơm SẺ áo cho người SẼ vui.

Linh CỮU vĩnh CỬU ai ơi

CỮ kiêng CỬ động bệnh thời sẽ qua.

TẺ nhạt, gạo TẺ của ta

Gần mà giữ KẼ thà ra KẺ thù.

KHẺ mỏ, nói KHẼ như ru

CỖ bàn, CỔ kính công phu phụng thờ.

BỖNG dưng trầm BỔNG bất ngờ

BĨU môi dè BỈU ai chờ đợi ai.

Bắt BẺBẼ mặt tía tai

LẺ loi lý LẼ gạt ngoài chẳng nghe.

Ngoài vườn CHỎNG gọng CHÕNG tre.

CẢI thiện, CÃI lại khó mà hoà nhau.

CHĨNH (hũ) tương nghiêng, CHỈNH sửa mau.

CỦNG cố lời nói cho nhau CŨNG đành.

CỞI trói CỠI (cưỡi) ngựa phi nhanh

Xem ai cứng CỎI được dành CÕI tiên.

BẢO ban, BÃO tố khắp miền

HẢNH nắng, HÃNH diện tuỳ duyên tuỳ thời.

Hồ đầy XẢ nước cho vơi

Giữ gìn  tắc kẻo thời suy vong.

Chèo BẺO, bạc BẼO dài dòng

Quê hương rất ĐỖI ĐỔI thay phố phường.

NGHĨ mình ngơi NGHỈ dưỡng thương

TĨNH tâm TỈNH ngộ tìm đường ẩn cư.

TIỂU đội còn bận TIỄU trừ

Ngỡ rằng bảnh TẺN thành dư TẼN tò.

SẢI tay chú SÃI thập thò

Nhân sự thừa THÃI bị toà THẢI ra.

Đứng SỮNGSỬNG sốt sợ ma

Trẻ thơ nói SÕI nhặt SỎI đá trôi.

TRẢ nợ bằng một TRàxôi

NÃY giờ còn đợi hạt thôi NẢY mầm.

Ẩn SĨ, SỈ nhục giận căm

GIẢ dại GIàgạo thăng trầm cho qua.

QUẪN trí nghĩ QUẨN sa đà

Chấp nhận xúi QUẨY hơn là QUẪY đuôi.

Đâm THỦNGTHŨNG xuống thấp rồi

Đòn BẨY được dịp lên đồi BẪY chim.

Đội NGŨ giấc NGỦ lim dim

Ân SỦNG ướt SŨNG nằm im chờ thời.

TỦM tỉm, đánh TŨM không lời

 cầm, VĨ tuyến… VỈ ruồi giúp ta.

Rác RƯỞI gấp RƯỠI hôm qua

ĐẨY xe, ĐẪY giấc người ta chối từ.

ĐẢNG phái, ĐÃNG trí ưu tư

DỞ hơi, DỞ thói tật hư DỠ nhà.

LẨN quẩn, LẪN lộn tuổi già

ĐỈNH chung, ĐĨNH đạc cũng là ĐỈNH cao.

ĐỂ dành, hiếu ĐỄ về sau

Cô bé tròn trịa thật là DỄ thương.

DỎNG tai, DÕNG dạc khiêm nhường

RẢNH rỗi san lấp RÃNH mương trước nhà.

Qua NGÕNGỎ lời hát ca

QUẢNG cáo – thực tế cách ba QUÃNG đường.

RỦ rê quyến  nhiễu nhương

RỔ sảo, RỖ mặt vấn vương một thời.

CHỬA đẻ, CHỮA bệnh ai ơi

Trường hợp HÃN hữu xin thời bỏ qua.

Phá CŨI làm CỦI bếp nhà

Xén bớt công QUĨQUỈ ma chẳng từ

Hạt DẺ, đất DẼ suy tư.

Sàng SẢY ít gạo đến giờ chưa xong

RỬA nhục thối RỮA mặc lòng.

Hen SUYỄN, suy SUYỂN đợi mong bao ngày.

CƯỠNG đoạt chim CƯỞNG trong tay

Xin đừng cà RỠN… RỞN gai ốc rồi.

SỬA chữa, SỮA mẹ em ơi

SẪM màu, SẨM tối xin mời ghé thăm.

MẨU bánh dành biếu MẪU thân

Đắt RẺ, ngã RẼ bao lần em qua.

SỖ sàng, SỔ toẹt chẳng tha

GIẢ thật, GIàgạo cho qua tháng ngày.

Gây GỔ, cây GỖ chuyền tay

Cánh HẨU chầu HẪU ngồi chờ đổi ngôi.

Mưa rỉ RẢ mệt RÃ người

RÃO gân cốt, RẢO bước thời đi nhanh.

Cây SẢ, suồng  là anh

TẢ thực,  lót để dành trẻ con.

Chàng HẢNG ai mở HÃNG buôn

KỶ luật KỸ xảo mình luôn ghi lòng.

HỦ tục, HŨ gạo ngày đông

Hỏi NGàkhó, chớ NGàlòng NGẢ nghiêng…!

(Đinh Trực sưu tầm)

From: Tu-Phung & Truong Le