Đôi điều về một bài thơ chưa được trao giải

Đôi điều về một bài thơ chưa được trao giải

Nguyễn Ngọc Chu

28-5-2021

Không bàn về thơ. Chỉ đề cập đến cách xuất hiện thơ.

Khi Luật sư Lê Văn Hòa tuyên bố từ bỏ nghề luật sư vì đã mất hết niềm tin vào nền Tư pháp, vợ anh là chị Phương Phạm đã giãi bày tâm sự bằng một bài thơ 5 chữ. Không chủ ý sáng tác thơ. Chỉ giãi bày tâm sự. Thế mà có một bài thơ hay. Rất hay.

Bài thơ CHỒNG BỎ NGHỀ LUẬT SƯ không chỉ hay, mà đẹp. Thơ đẹp không kém phần quan trọng cùng với thơ hay.

Có người chủ ý viết thơ. Nhất là thơ tuyên truyền. Kể cả những tên tuổi nổi tiếng. Thơ được in. Thậm chí được dạy. Nhưng chưa hay. Càng chưa đẹp.

Bài thơ CHỒNG BỎ NGHỀ LUẬT SƯ của chị Phương Phạm vừa hay vừa đẹp.

***

CHỒNG BỎ NGHỀ LUẬT SƯ

Hôm nay chồng bỏ nghề

Luật sư của nhà nước,

Chồng đã nhìn thấy trước

Một kết thúc buồn đau,

Khi mọi người bảo nhau

Chồng không còn tin nữa

Em cũng không tin nữa,

Nhiều người cũng giống mình

Khi tất cả lặng thinh

Thì chuyện gì sẽ đến,

Này nhé, em nghĩ thế

Nếu một ngày không làm

Của những người tốt bụng:

Bác sĩ và luật sư

Lái xe và đầu bếp

Thợ may và bà vợ

Bộ đội và công an

Nông dân và nhà máy…

Ôi thế thì gay đấy

Chỉ còn lại gian tham

Bác sĩ và luật sư

Lái xe và đầu bếp

Thợ may và bà vợ

Bộ đội và công an

Nông dân và nhà máy…

Một đất nước suy tàn!

Hôm nay chồng bỏ nghề

Luật sư của nhà nước,

Ở nhà nghỉ trồng hoa

Nếu có người đến hỏi

Người tốt nên ở nhà!

Em sẽ bảo họ thế

Người tốt nên ở nhà!

***

Đọc bài thơ, đọc đến đâu câu chữ theo nhau lặng lẽ biến đi, để hiện dần lên trước mắt, mỗi lúc một rõ hơn, trọn vẹn những tầng lớp lao động đại diện cho đất nước.

Đọc bài thơ, đọc đến đâu câu chữ theo nhau lặng lẽ biến đi, để hiện dần lên trước mắt, mỗi lúc một rõ hơn, trọn vẹn hình ảnh của một người phụ nữ Việt – một người vợ với thật nhiều đức tính quý giá. Mà trong đó nổi trội là lòng yêu đất nước.

Đó là hai dòng sáng lấp lánh xuyên suốt bài thơ CHỒNG BỎ NGHỀ LUẬT SƯ của Phương Phạm.

Trước tiên hãy nói về sự chịu đựng. Chịu đựng sự bỏ việc của chồng. Đó là sự bỏ việc làm cho chồng bị tổn thương về tinh thần, gia đình tổn thất về vật chất. Nhưng người vợ đã chịu đựng để đón nhận “Một kết thúc buồn đau” của chồng với một tư thế bình tĩnh, vì đã nhìn thấy trước:

“Hôm nay chồng bỏ nghề/

Luật sư của nhà nước,/

Chồng đã nhìn thấy trước/

Một kết thúc buồn đau,”

Một sự mở đầu quá tự nhiên và quá đẹp. Đẹp vì tự nhiện. Tự nhiên vì giã bày tâm sự. Không làm thơ mà nên thơ.

Nhưng tại sao lại phải chịu đựng và chịu đựng được? Là vì đồng cảm và tin tưởng chồng:

“Chồng không còn tin nữa/ Em cũng không tin nữa”.

Chắc chắn sự đồng cảm và tin tưởng này đến với người vợ không phải chỉ bây giờ, khi người chồng bỏ việc, mà đến từ lâu. Có nghĩa là chị Phương Phạm đã đi cùng với LS Lê Văn Hoà qua nhiều sóng gió mà trong đó LS Lê Văn Hoà phải đối mặt với những thế lực xấu. Vợ chồng luật sư đã phải trải qua nhiều ngày tháng chống chọi với điều đen tối thì mới đúc kết được sự tin tưởng tuyệt đối hai là một như thế. Tin tưởng tuyệt đối mà không mù quáng. Vì nó chắt lọc từ đồng cam cộng khổ của nghĩa vợ chồng. Đến mức tâm đầu ý hợp.

Nhưng không chỉ có 2 vợ chồng LS Lê Văn Hoà không tin, mà “Nhiều người cũng giống mình”. Một người vợ bình dị – không lý luận cao siêu, không từ ngữ hào nhoáng, không khẩu hiệu lên gân – vì thương chồng là người tốt mà phải bỏ việc, nên thấy được thực trạng:

“Chồng không còn tin nữa/

Em cũng không tin nữa,/

Nhiều người cũng giống mình”.

Đó là nỗi lo của chị Phương Phạm. Lo vì trong xã hội nhiều người “không tin nữa”, “cũng giống mình”. Bởi vì lo nên rất có trách nhiệm. Vì có trách nhiệm nên tìm cách giãi bày điều phải trái. Giãi bày một cách nhẹ nhàng, một cách thủ thỉ:

“Khi tất cả lặng thinh/

Thì chuyện gì sẽ đến,/

Này nhé, em nghĩ thế”.

Cách dẫn chuyện thật tài tình. Chỉ vỏn vẹn 5 chữ “Này nhé, em nghĩ thế” mà hiện rõ chân dung của người vợ thông minh, lễ độ. Thông minh vì cách khuyên. Lễ độ vì lời lẽ.

Và cứ thế mà thủ thỉ sự đánh mất, để lặng lẽ hiện ra sự sáng suốt:

“Nếu một ngày không làm

Của những người tốt bụng:

Bác sĩ và luật sư

Lái xe và đầu bếp

Thợ may và bà vợ

Bộ đội và công an

Nông dân và nhà máy…

Ôi thế thì gay đấy

Chỉ còn lại gian tham”.

Chao ôi, đọc mà cảm phục sự sáng suốt. Đọc mà khâm phục sự dấn thân. Người vợ Phương Phạm nhìn thấy chồng LS Lê Văn Hoà là người tốt mà phải bỏ nghề luật sư vì mất lòng tin, nên mới thủ thỉ rằng, nếu tất cả những người tốt trong xã hội mà bỏ nghề thì “gay đấy”, thì “Chỉ còn lại gian tham”. Không sáng suốt đã không thấy xã hội “Chỉ còn lại gian tham”.

Cho nên tất cả những người tốt không thể bỏ cuộc. Tất cả “Bác sĩ và luật sư/ Lái xe và đầu bếp/ Thợ may và bà vợ/ Bộ đội và công an/ Nông dân và nhà máy…” phải dấn thân. Nếu không thì “Chỉ còn lại gian tham”. Chỉ mấy dòng thủ thỉ mà có sức thuyết phục hơn cả trăm câu khẩu hiệu giáo điều.

Nhưng đó chưa phải là hoạ lớn nhất khi những người tốt khuất phục. Hoạ lớn nhất khi tất cả những người tốt đầu hàng là “Một đất nước suy tàn”:

“Bác sĩ và luật sư

Lái xe và đầu bếp

Thợ may và bà vợ

Bộ đội và công an

Nông dân và nhà máy…

Một đất nước suy tàn!”

Điệp khúc. Đọc đến đâu hình ảnh những tầng lớp nhân dân đại diện cho đất nước hiện lên đến đấy. Không yêu nước đã không thấy được “Một đất nước suy tàn”. Không yêu nước sâu thẳm không thể có được những câu thơ này. Những câu thơ thôi thúc “Bác sĩ và luật sư/ Lái xe và đầu bếp/ Thợ may và bà vợ/ Bộ đội và công an/ Nông dân và nhà máy…” không được lùi bước trước kẻ xấu. Nếu không thì “đất nước suy tàn”!

Chị thật tài tình trong khắc hoạ đất nước. Đất nước là ai? Là “Bác sĩ và luật sư, Lái xe và đầu bếp, Thợ may và bà vợ, Bộ đội và công an, Nông dân và nhà máy…” Chỉ nêu 10 danh xưng mà thâu tóm được giai cấp, tầng lớp, gói gọn cả giới tính, bao quát được cả đất nước. Cách chọn điển hình đến bái phục!

Có người cố làm ra vẻ thật thà trong thơ mà người đọc vẫn nhận ra, không phải là con nai mà là con sói. Chị Phương Phạm không tuyên truyền. Chị thật thà tâm sự:

Hôm nay chồng bỏ nghề

Luật sư của nhà nước,

Ở nhà nghỉ trồng hoa

Nếu có người đến hỏi

Người tốt nên ở nhà!

Không nghĩ đến phải làm thơ thế nào, không nghĩ đến phải mở đầu thế nào, không nghĩ đến phải kết thúc thế nào, chỉ giãi bày mà toàn bộ bài thơ là dòng chảy tự nhiên của tâm tình, và bài thơ được kết thúc với hai câu thấm đẫm nước mắt, thật súc tích, thật đúng chỗ, thật đúng lúc:

Em sẽ bảo họ thế

Người tốt nên ở nhà!

Có điều gì mâu thuẫn. Có điều gì uất ức. Có cái gì cay trong mắt. Có cái gì chát đắng trong miệng. Có cái gì nghẹn nơi cổ họng.

Món Khế Chua

 Tạp Ghi Huy Phương

Món Khế Chua

Những người xa quê hương như chúng ta, mỗi lần nghe một tiếng đàn bầu nỉ non, một giọng hò khoan nhặt hay một câu vọng cổ thiết tha, không khỏi bùi ngùi, có khi rơi lệ thổn thức nhớ đến quê hương.

Người lớn lên sống suốt đời với quê hương, ít khi nhìn thấy quê hương đẹp đẽ, chỉ những người đi xa trở lại như câu chuyện “chốn quê hương đẹp hơn cả” trong sách giáo khoa thư với câu nói quen thuộc “tôi đã đi du lịch ở nhiều nơi, nhưng không nơi nào đẹp bằng quê hương!” mới thấy quý thương quê hương.

Chúng ta, những người đã bỏ quê hương ra đi trong nhiều năm, có người thề không bao giờ trở lại quê hương khi ở đó còn chế độ Cộng Sản còn chế ngự lên đầu lên cổ nhân dân, thì lại thương nhớ quê hương biết chừng nào, vì đây không phải là “xa quê hương” mà là “mất quê hương”.

Đối với những người đang bước tới tuổi xế chiều, thì tiếng gọi quê hương còn thúc giục mãnh liệt hơn nữa, nung nấu tấm lòng, trăn trở qua những đêm không ngủ, khi gặp phải những cảnh trái ngang không vừa lòng, khó hoà nhập ví cuộc sống mới, bất mãn vì những việc riêng tư, buồn việc gia đình, hay vì cách đối xử của con cái.

Chúng ta thử tưởng tượng hình ảnh một chiều mùa đông giá buốt ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ, một người già ngồi trong cửa sổ nhìn tuyết rơi mà lòng nhớ đến quê hương xót xa biết chừng nào. Mà không phải chỉ nơi đó, ngày nay ở Nga Xô, Trung Quốc, Úc Đại Lợi, Âu Châu và cả những miền nắng cháy Phi Châu, đâu cũng có người Việt xa xứ thương nhớ quê hương.

Ngày xưa thuở thanh bình, một người ở ngay trên quê hương của mình, trưa nghe “một tiếng gà trưa gáy não nùng” đã thấy buồn, gợi nhớ đến dĩ vãng. Bạch Cư Dị mới bị đày đi Giang Châu cùng trong một nước Trung Quốc, một đêm nghe tiếng đàn tỳ trên sông, nghe lời tâm sự của một nàng ca kỷ lưu lạc mà đã

“lệ ai chan chứa hơn người,

Giang Châu Tư Mã đượm màu áo xanh”.

Huống gì ta, nơi chân trời góc bể, xa quê hương nghìn dặm đường mà với những khoảng cách không bao giờ làm ngắn lại được, sẽ đau lòng biết bao nhiêu? Người về lại với quê hương thì cũng chừng ấy người với những lượt đi về thường trực tiếp nối, người không muốn về với quê hương thì chưa về. Người sống xa quê hương như cây trồng trong chậu, có lẽ dù tưới bón tới đâu thì gốc rễ vẫn không nằm sâu trong đất.

Chúng ta có bao nhiêu điều xót xa vì tình cảnh ly hương như thế mà phải cam chịu, nhưng lòng ta không bao giờ là không nghĩ, nhớ đến quê hương. Như vậy quê hương phải chăng là tiếng gọi sâu kín nhất trong lòng mỗi người, để những lúc yếu lòng vì ngoại cảnh, một đám mây “hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”, hay một làn khói trên sông “trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” mà nhớ nhà, nhớ nước.

Quê hương và quá khứ đã gắn liền với nhau, vì chúng ta đã có đoạn thời gian quá dài gắn bó với quê hương, dù nghèo đói, chiến tranh. Bỏ quê hương bao giờ cũng là điều bất đắc dĩ. Phải chăng quê hương là chỗ yếu lòng người ly hương, chỗ “gót d’ Achille” của mỗi một chúng ta nên chế độ ở trong nước luôn luôn tìm cách đánh vào chỗ yếu ấy, chỗ tình cảm sâu khuất nhất trong lòng mỗi người.

Lâu nay chúng ta thấy bao nhiêu lời mời gọi từ trong nước, quanh quẩn trong hai chữ “quê hương”. Nhẹ nhàng thì phong cảnh quê hương, ca nhạc dân tộc, thực tế và đôi khi thô thiển hơn thì Saigon ăn chơi, Vũng Tàu du hí, Hà Nội hoa hậu, tinh tế mời gọi hơn thì “duyên dáng Việt Nam”, “Festival Huế”. Ai lại không muốn về với quê hương, nghe giọng thổ âm thân quen, ăn món ngon quê hương quen miệng từ ngày thơ ấu, đi lại trên con đường làng quen thuộc sau suốt một cuộc đi dài, nhất là khi mái tóc đã hoa râm, tấm thân đã mệt mỏi. Có bao nhiêu người đã trở về, mỗi năm một đôi lần, khi chúng ta đã muốn đi thì có biết bao động lực và lý do: – xây lại nấm mồ cha mẹ, làm lại ngôi nhà thờ, làm lễ mãn tang, chúc thọ người thân v.v……

Việt Nam hiện nay rẻ của, rẻ người, đồng đô la có thể làm biến dạng một ông già thành người trai trẻ, một người sống trong lãng quên thành một hoàng tử giữa một cung đình.

Người ta nói rằng “Duyên Dáng Việt Nam” là một chương trình nghệ thuật hoàn toàn không mang một sự tuyên truyền chính trị nào, nó không có cờ đỏ, không có hình ảnh lãnh tụ hay khẩu hiệu tuyên truyền. Nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng nó đã được nhà nước công phu tuyển chọn những giai nhân tuyệt sắc, những y phục đẹp nhất, những kỹ thuật mới mẻ nhất, công phu dàn dựng và một ngân khoản lớn không tiếc tiền trong khi dân tình còn đói khổ, chế độ còn bất công và áp bức còn đầy rẫy. Họ đến đây hẳn không vì lý do thương mãi hay để mua vui cho “núm ruột thân thương nghìn dặm”? Quả là viên thuốc “quê hương” bọc đường ngọt ngào như những dòng thơ của Nguyễn Trung Quân.

Trên thế giới này có hằng trăm triệu con người có tự do để chọn một nơi khác làm quê hương của mình. Sau ngày 20 tháng 7-1954, một triệu người miền Bắc đã đến miền Nam “xin nhận nơi này làm quê hương”.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, gần ba triệu người Việt đi tìm một quê hương khác trên khắp quả địa cầu. Dù ai cũng biết “quê hương là chùm khế ngọt”, biết rằng “quê hương mỗi người chỉ một” người ta vẫn đi tìm một quê hương khác để khỏi nếm phải chất chua của chế độ. Bây giờ hầu hết xem quê nhà như một nơi du lịch, đến và ra đi như một người khách lạ.

Ở những quê hương thứ hai này, con người rõ ràng đã “lớn nổi thành người”, thứ con người tử tế, có nhân cách, không biết xảo trá hay chiều chuộng ai. Quả đất tròn, nên đi hết biển có thể trở lại nơi khởi hành, tuy vậy con cá hồi, con chim én còn chọn mùa, chọn vùng biển, vùng trời, huống gì con người.

Tuy vậy rồi tất cả, đều trở lại nơi không phải là quê hương của mình mà cảm thấy bình yên như chính ở quê hương. Nghe mà xót xa thay khi bà con chúng ta đi Việt Nam lúc trở về nơi “ăn nhờ ở đậu” lại có cảm tưởng như được “trở về nhà”.

“Dù ai nói ngọt nói ngon”, dù ai đem “núm ruột ngàn dặm” chiêu dụ thì quê hương vẫn là quê hương, nhưng xin hẹn một ngày về chưa phải là hôm nay, và hy vọng của chúng ta sẽ không bao giờ tàn lụi.

Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng

Các góc nhìn khác nhau về “hiện tượng” Nguyễn Phương Hằng

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

26-5-2021

Bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc công ty cổ phần Đại Nam, trở thành một ngôi sao được hàng triệu người nói tiếng Việt trên thế giới chú ý. Bà Hằng là vợ ông Huỳnh Uy Dũng, hỗn danh Dũng “lò vôi”, nổi tiếng giàu có.

Bà Hằng dùng các kênh mạng xã hội của mình để bàn chuyện (bình luận) xã hội, chỉ trích, tố cáo các nghệ sĩ có nhiều tai tiếng, trong đó có cả những đối thủ của bà.

Theo con số của BBC Việt ngữ cho biết, clip livestream của bà Hằng thu hút nửa triệu người xem trực tiếp trên YouTube và Facebook. Đây là clip livestream ngày 25/5 của bà Hằng, trên kênh một kênh YouTube của bà:

httpv://www.youtube.com/watch?v=w9Pq1QUbpOQ&t=2s

Căn cứ nội dung các clip bà Hằng livestream của bà Hằng, có thể xếp các chương trình này vào loại báo chí “lá cải”, mà ta thường thấy bán ở các quầy tính tiền trong các siêu thị phương Tây, những chuyện xung quanh “tình, tiền, tù, tội”.

Dĩ nhiên không phải “lá cải” là sai sự thật, nhưng hiểu một cách tương đối thì những sự thật này không có trọng lượng lớn, gây sự chú ý của các kênh truyền thông dòng chính. Ngay trong các kênh truyền thông lớn, thỉnh thoảng ta cũng thấy những mục “xe cán chó, chó cán xe”, thật ra cũng thuộc loại này.

Bài viết trên BBC Việt ngữ trích dẫn một số người am tường trong lĩnh vực truyền thông, để tìm hiểu xem vì sao bà Hằng lại thu hút người Việt đến thế.

Có thể đặt vấn đề khác từ “hiện tượng Nguyễn Phương Hằng”, rằng người Việt Nam đang thật sự chú ý đến chuyện gì. Câu trả lời có thể có ngay là, người Việt chú ý đến những chuyện… lá cải! Và không hẳn chỉ người Việt, mà một số người dân khác cũng vậy, nhưng có thể thấy sự khác nhau ở số lượng người quan tâm.

Không có gì sai khi một người đọc một tờ báo lá cải, tìm hiểu chuyện đời tư một ngôi sao nào đó, tài sản của một người nổi tiếng ra sao… Nhưng hàng triệu, hoặc hàng chục triệu người trên một đất nước cứ chăm chú vào những chuyện ấy, rõ ràng là có vấn đề.

Và đây chính là mục đích của các chế độ cầm quyền không chính danh, muốn sự chú ý của dân chúng bị đánh lạc hướng, thay vì quan tâm đến thực tại.

Người cộng sản từng chỉ trích nhà cầm quyền thực dân thời Pháp thuộc, tổ chức những cuộc vui giải trí nhảm nhí, để dân chúng không còn quan tâm đến chuyện giành độc lập nữa. Nay người cộng sản cũng làm như thế, để người dân không chú ý tới những chuyện thiết thực, như vụ Đồng Tâm (tranh chấp đất đai, đàn áp đẫm máu), Hồ Duy Hải (án oan, mà bất cứ người dân nào cũng có thể trở thành nạn nhân)… Có thể nói, hệ thống truyền thông nhà nước Việt Nam hàng chục năm qua, đã được định hướng như thế, rất đậm tính giải trí.

Tuy nhiên, truyền thông giải trí của nhà nước không vượt qua được những khuôn khổ bó buộc của những từ ngữ tuyên giáo, không sử dụng được những nền tảng truyền thông đại chúng mới của mạng xã hội một cách có hiệu quả. Và do vậy, xuất hiện hiện tượng Nguyễn Phương Hằng, với ngôn ngữ bình dân, cùng những câu chuyện thật, những vụ bê bối trong xã hội, vô cùng hấp dẫn.

Có thể nhìn hiện tượng Nguyễn Phương Hằng từ hai góc độ khác nhau. Thứ nhất, bà Hằng bổ sung vào thể loại “lá cải” của truyền thông nhà nước, giúp nhà nước cộng sản đánh lạc hướng sự chú ý của công chúng ra ngoài những vụ bê bối của “Đảng và Nhà nước”.

Nói như thế không có nghĩa là bà Hằng đang âm mưu với nhà nước cộng sản, mà tôi tin là bà Hằng chỉ làm những điều mà bà thích làm, ngẫu nhiên trùng hợp với tin tức “lá cải” của truyền thông nhà nước.

Và với sự khôn ngoan của một doanh nhân dưới chế độ cộng sản, bà biết lằn ranh mà chế độ ấy đặt ra, nằm ở đâu, để không vượt qua “lằn ranh đỏ”. Bà cứ việc móc mỉa Hoài Linh, cứ thóa mạ Vy Oanh … không sao cả, miễn không đụng tới Tô Lâm hay Nguyễn Phú Trọng là bà an toàn.

Điều thứ hai là, sự chú ý của công chúng với bà Hằng và những câu chuyện của bà, thay vì Ban Tuyên giáo Trung ương và những câu chuyện “chống diễn biến hòa bình” của ban này, có nghĩa là dân chúng chú ý đến những câu chuyện có thật (dù lá cải), chú ý đến đời thường, thay những hoang tưởng mỹ miều mang màu sắc cộng sản ra rả trên các phương tiện truyền thông mấy chục năm nay.

Ở góc nhìn đó, sự xuất hiện của bà Hằng là một điểm tích cực. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, vài ngàn người thì không sao, nhưng hàng triệu hay hàng chục triệu người chỉ quan tâm đến chuyện lá cải, bỏ qua những chuyện hệ trọng như: Chuyện nông dân ngày càng cơ cực, dân nghèo sắp chết đói vì đại dịch, biển Đông bị Trung Quốc uy hiếp, chuyện tham nhũng của bộ máy tư bản bồ bịch (crony capitalism) bòn rút công sản,… có thể thấy tương lai của đất nước ra sao!

Có lẽ những người cổ vũ cho dân chủ hóa Việt Nam thoát khỏi chế độ toàn trị, cần quan sát “hiện tượng Nguyễn Phương Hằng”, để biết được tâm trí người dân Việt Nam đang ở đâu và vì sao họ quan tâm đến những chuyện như thế, thay vì những chuyện hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của họ và tương lai của con cháu họ.

Bà Nguyễn Phương Hằng là thước đo cho những người cổ xúy dân chủ Việt Nam nhìn ra mình đã thành công hay thất bại trong việc gieo mầm những tư tưởng cấp tiến và dân chủ cho công chúng Việt Nam.

Cho tới nay, chưa thấy ai nói rằng bà Hằng phao tin vịt, ngoại trừ Sở Thông tin và Truyền thông thành Hồ xử phạt 7,5 triệu đồng hồi tháng trước, vì bà lỡ vượt lằn ranh, đụng tới chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.

Theo ý kiến chủ quan của tôi, dù sao người dân Việt Nam xem bà Hằng nói thao thao bất tuyệt, vẫn tốt hơn so với chuyện ông Trọng mơ màng đến chủ nghĩa xã hội và dĩ nhiên là tốt hơn các YouTuber hải ngoại tung tin vịt, chẳng hạn như về gian lận bầu ở Mỹ, hay chuyện ông Trump trở lại nắm quyền trong vài tháng tới.

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cuộc đời và tác phẩm

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cuộc đời và tác phẩm

Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long, là một nhà văn miền Nam. Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc nhận định: Trong 5 nhà văn nữ nổi tiếng nhất của miền Nam thời kỳ trước 1975, có ba người gốc Huế: Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng. Người thứ tư gốc Bắc di cư: Trùng Dương. Chỉ có Nguyễn Thị Thụy Vũ là dân Nam bộ rặt. Văn chương của bà cũng đặc sệt chất Nam bộ, từ ngôn phong, từ ngữ sử dụng cho tới lời ăn tiếng nói, tính cách, hành vi của các nhân vật.

Năm 1965 bà lên Sài Gòn dấn thân vào nghiệp viết văn, bên cạnh đó còn kiêm việc dạy tiếng Anh cho những cô gái bán bar hoặc lấy Mỹ.

Trong 10 năm từ 1965 đến 1975, Thụy Vũ đã xuất bản 10 tác phẩm gồm 3 tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông; và 7 tiểu thuyết: Ngọn pháo bông, Thú hoang, Khung rêu (Giải thưởng Văn học Toàn quốc năm 1971),Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều xuống êm đềm, Cho trận gió kinh thiên.

Sau 1975, Nguyễn Thị Thụy Vũ không thể tiếp tục cầm bút do tác phẩm bị quy là đồi trụy, bà phải bươn chải với những công việc khác để nuôi đàn con, trong đó có một người sống đời thực vật. Bà từng buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê… những công việc mà trước đó không ai hình dung nhà văn nữ này có thể kham được.

Hiện nay đời sống của bà tương đối ổn định khi bà về Bình Phước dựng nhà trên mảnh đất cha mẹ để lại. Ðó là sau khi bà nhận được sự giúp đỡ từ những bạn văn cũ qua bài viết của một bạn văn mô tả cuộc sống lây lất khốn khó của mấy mẹ con, vào đầu thập niên 2000. Bà đang sống với gia đình con trai, là một người tu tại gia chuyên việc hộ niệm, và cùng với họ là cô con gái út ngoài bốn mươi tuổi vẫn sống đời thực vật.

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Về cha của các con bà, nhà thơ Tô Thuỳ Yên, bà cho biết: Ổng đi học tập cải tạo. 13 năm ổng đi học tập, tôi có đi thăm ông một lần duy nhứt. Sau đó ổng đi Mỹ với gia đình… (theo NT Kim Cúc)

Về chi tiết này, nhà văn Nguyễn Văn Sâm trong một bài viết nhan đề “Thụy Vũ: Mỉm cười với nghiệt ngã” ghi nhận: Tôi chợt buột miệng hỏi, rồi lại hối hận đáng lẽ không nên hỏi, về nhà thơ tác giả bài Ta Về, Anh Hùng Tận, chị không một thay đổi sắc mặt hay bất bình, trả lời như chuyện của người khác: ‘Ổng gọi về nhiều lắm nhưng mà không có nói chuyện với tôi, nói chuyện cả giờ với con dâu.’ Tôi nghe tiếng ổng liền nhớ đến biết bao nhiều lần trong truyện ngắn như là tự truyện chị dùng thiệt nhiều lần từ tía sắp nhỏ vừa thương mến vừa xót xa vừa cách phân.

Nhà văn Ðoàn Dự cũng cho biết:

Nói chung, về tình trạng của chị Thụy Vũ hiện nay, chị có 3 người con thì cháu Khôi Hạnh lấy chồng ở Long An, đời sống êm ấm, hạnh phúc nhưng vì đông con nên cũng không giúp gì được cho mẹ. Cháu Khôi Hạo đã có gia đình, có một con trai, trước đây làm nghề nuôi cá cảnh để bán và viết văn theo cái “gien” của bố và mẹ, cũng kiếm được đồng tiền nhưng không hiểu sao tự nhiên cháu đi tu (Phật giáo), để vợ con cho mẹ lo. Còn cháu thứ ba, Khôi Thụy, thì vẫn sống đời sống thực vật, u mơ không biết gì hết như cũ. Năm nay chị Thụy Vũ đã 78 tuổi, tất cả sự sống gia đình đều trông mong vào mấy con cá kiểng do vị “tu sĩ Phật giáo” truyền lại cho mẹ và mỗi tháng 100 đô-la do cháu Ðinh Quỳnh Giao, bác sĩ bên Mỹ, con gái của anh chị Tô Thùy Yên gửi về giúp đỡ. Cháu Ðinh Quỳnh Giao rất thương xót đứa em cùng cha khác mẹ tên Nguyễn Khôi Thụy đang nằm liệt giường. (Trích theo Phan Nguyên)

Một điều an ủi cho Nguyễn Thị Thụy Vũ là những sách của bà (10 cuốn) đã được nhà Phương Nam tái bản: Tất cả đều là sách đã in tại Sài Gòn trước 1975, đây có thể xem là toàn bộ sự nghiệp văn chương của bà, đã được Công ty Sách Phương Nam mua tác quyền: Lao vào lửa, Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang, Mèo đêm, Chiều mênh mông, Chiều xuống êm đềm, Như thiên đường lạnh, Ngọn pháo bông, Cho trận gió kinh thiên…

Ðược hỏi bà cảm thấy thế nào khi tất cả tác phẩm trước năm 75 đều đã được tái bản. Nguyễn Thị Thụy Vũ thành thật trả lời: “Tôi rất vui. Sách in đẹp, tất cả lỗi chính tả đều được sửa rất kỹ. Tôi thấy mình thật may mắn khi nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều bè bạn, cả bạn cũ và bạn mới. Tôi xin cảm ơn cuộc đời và bè bạn…”

Tất nhiên là chúng ta cùng chia sẻ niềm vui với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nhân đây cũng xin trình bày rõ thêm về những nỗi vất vả và khổ đau vô cùng tận cùng những may mắn dù có hơi trễ muộn trong đời nhà văn.

Thụy Vũ tâm sự với nhà báo Ngô Thị Kim Cúc:

“Cuộc sống sau ‘giải phóng’ vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.

“Xe chạy tuyến Thủ Ðức – Sài Gòn, từ sáng đến tối mịt mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ,” bà kể.

Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…”

Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu… cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau “giải phóng”. Bà kể: “Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.

“Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.

Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.

Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.

Xin được cảm thông với bao nỗi đời nghiệt ngã của nhà văn và mừng bà bước vào giai đoạn gọi là yên vui của cuộc đời. Tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ chắc chắn sẽ còn sáng mãi với thời gian.

NGUYỄN & BẠN HỮU 

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

KIÊN NHẪN VỚI THIÊN CHÚA 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ.  Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng.  Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta.  Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim.  Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được.  Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống?  Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó.  Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta.  Dường như công lý cũng thế.  Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy.  Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy.  Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này.  Dường như thường thường là như vậy.  Vậy thì Chúa ở đâu?  Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi!  Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi!  Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô.  Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết?  Chúa Giêsu để Ladarô chết!  Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi.  Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp.  Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương.  Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra.  Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ!  Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa!  Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa.  Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới?  Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy?  Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta?  Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không?  Không.  Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần.  Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta.  Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương.  Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng.  Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa.

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vỉnh cữu.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Sau 4 năm cầm quyền Donald Trump đã đ lại di sản nào cho nước Mỹ? Cái khẩu hiệu “Make American Great Again” càng khiến thế giới khinh thường và thương hại. Trong suốt 4 năm cầm quyền Trump cũng bỏ mặc hạ tầng cơ sở lạc hậu, bệ rạc của nước Mỹ chỉ để chú tâm cắt giảm thuế làm giàu cho giới tài phiệt, chủ nhân ông và lo thu vén quyền lợi cho gia đình cùng phe nhóm!!!

Bài viết dưới đây đã qua 1 năm, nhưng nó cho thấy nhận định của tác gỉa rất đúng. Ông Biden lên cầm quyền đã 4 tháng vẫn chưa khôi phục lại niềm tin của thế giới. Vẫn vấp phải những chống đối từ Phe nhóm Trump và đảng CH trong việc củng cố và kiến thiết nước Mỹ cùng niềm tim từ nhân dân!!!

***

Donald Trump đã hủy diệt đất nước mà ông từng cam kết sẽ làm cho nó vĩ đại trở lại.

Tác giả: Fintan O’Toole đăng trên The Irish Times.

Người dịch: Cố Sự Quán.

Trải qua hơn hai thế kỷ, Hoa Kỳ đã khuấy động nhiều cung bậc cảm xúc của nhân loại: yêu mến và thù hận, sợ hãi và hy vọng, đố kỵ và khinh miệt, kính phục và giận dữ. Nhưng có một cảm xúc chưa từng bao giờ được dành cho nước Mỹ cho đến hôm nay: Thương hại.

Dù thế nào, buồn là một cảm xúc chung đối với những người dân chủ, ai cũng cảm thấy nuối tiếc cho nước Mỹ. Hầu hết họ không phải là những người đã bầu cho Donald Trump vào năm 2016. Và giờ, họ đã bị nhốt chung với một kẻ mắc chứng sùng bái bản thân ác tính *(Narcissistic personality disorder-NPD)*, người mà, thay vì ra sức bảo vệ người dân khỏi Covid-19, đã ngược lại càng thúc đẩy tính hủy diệt của nó. Cái đất nước mà Trump đã từng hứa sẽ làm cho vĩ đại trở lại, lần đầu tiên trong lịch sử chưa từng bao giờ trở nên đáng thương hại như vậy.

Uy tín của Mỹ sẽ hồi phục lại được không sau chương sử đen tối đáng xấu hổ này? Hoa Kỳ bước vào khủng hoảng corona virus với những lợi thế to lớn trong tay: được cảnh báo trước đó nhiều tuần lễ về những hậu quả có thể xảy ra, với những nhà khoa học và chuyên gia y tế giỏi nhất thế giới, nguồn lực tài chính vô hạn, tổ hợp quân sự với năng lực hậu cầu tuyệt vời và những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, cuối cùng nước Mỹ tự biến mình thành nạn nhân bị ảnh hưởng nặng nề nhất do đại dịch so với toàn thế giới.

Theo cây bút người Mỹ George Packer mô tả trên trang Atlantic, “Hoa Kỳ đã phản ứng… như Pakistan hoặc như Belarus- những quốc gia với cơ sở hạ tầng tồi tàn và những chính phủ rối ren, những quốc gia mà những kẻ lãnh đạo quá tham nhũng hoặc quá ngu ngốc để đối đầu với thảm họa.”

Điều khiến nước Mỹ trở nên bất lực trước thảm họa thiên nhiên chính là, một nguồn lực vĩ đại đã bị hoang phí – một cách có chủ đích, ác ý và thù hận. Có những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của một chính phủ *(như, trong một mức độ này hay mức độ khác, mà hầu hết các chính phủ đã mắc phải),* nhưng điều đó hoàn toàn khác với kiểu chúng ta đang thấy, nhà lãnh đạo cùng với những kẻ ủng hộ ông ta tích cực phát tán loại virus chết người. Trump, Đảng của ông ta và Rupert Murdoch’s Fox News cố tình định hướng nước Mỹ lún sâu trong dịch hại.

Một cảnh tượng quái gở và kỳ dị nhất – lần đầu tiên một Tổng thống cố tình xúi giục người dân (mang vũ trang) chiếm lấy đường phố để phản đối những hạn chế được đặt ra nhằm giữ gìn mạng sống con người, một kiểu xúi giục những người ủng hộ cảm tử hy sinh cho sự nghiệp chính trị của mình. Trong những buổi hợp báo hằng ngày được phát sóng trực tiếp trên truyền hình trong đại dịch, thường để nhằm kêu gọi toàn dân đoàn kết đồng lòng với chính phủ để cùng nhau đương đầu và vượt qua thách thức, đã bị Trump lợi dụng để biến thành một kiểu chương trình gieo rắc sự hỗn loạn và chia rẽ. Họ cố tình biến nó thành một chương trình kỳ dị hằng ngày, nhằm gây nghiện và ám ảnh tâm thức người Mỹ như những trò nhảy múa trần truồng trên TV.

Nếu dịch bệnh là một phép thử, thì kiểu lãnh đạo này chắc chắn sẽ đẩy nước Mỹ tới kết quả thảm bại với cái giá khủng khiếp được trả bằng mạng sống con người. Và nếu mọi việc y như vậy, ý tưởng về một nước Mỹ là quốc gia dẫn đầu thế giới đã được định hình qua hàng thế kỷ sẽ hoàn toàn tan biến.

Thật khó để nhớ, nhưng vào năm 2017, thời điểm Trump nhậm chức, khi đó lối suy nghĩ phổ biến đã được định hình tại nước Mỹ là Đảng Cộng Hòa với sự khôn ngoan của mình và khung pháp chế rộng lớn của cả nền chính trị Hoa Kỳ có thể ngăn cản Trump gây ra quá nhiều thiệt hại. Giờ đây thực tế cho thấy đó chỉ là ảo tưởng, dịch bệnh là một minh chứng phơi bày sự thật theo những cách man rợ nhất.

Đầu hàng trong nhục nhã

Cái từng được gọi là chủ nghĩa bảo thủ chính thống đã không nuốt nổi được Trump- ông ta mới là người đã nuốt chửng lấy nó. Gần như hơn một nữa bộ sậu cánh hữu của nền chính trị Hoa Kỳ đã đầu hàng trước ông ta. Những ý tưởng cơ bản nhất về trách nhiệm, chăm lo và ngay cả an toàn đều lần lượt bị hiến tế trên bàn thờ của sự ngu ngốc vô luân.

Do đó, ngay cả vào những ngày cuối cùng của tháng Ba, 15 thống đốc thuộc Đảng Cộng Hòa vẫn không ra lệnh giãn cách, yêu cầu người dân ở nhà và đóng cửa các doanh nghiệp không thiết yếu. Ví dụ như ở Alabama, mãi cho đến ngày 3/4 thì thống đốc Kay Ivey cuối cùng mới ban hành lệnh ở nhà.

Ở Florida, tiểu bang có mật độ người già đông nhất, thống đốc Ron DeSantis – một đồ đệ ngoan ngoãn của Trump, vẫn mở cửa các khu resort trên bãi biển cho các sinh viên khắp nơi đổ về tổ chức những buổi tiệc nghĩ xuân. Cho đến 1/4, ông ta mới bắt đầu ban hành lệnh hạn chế, tuy vậy, DeSantis vẫn miễn trừ cho các hoạt động tôn giáo và giải trí hoạt động bình thường.

Thống đốc bang Georgia, đợi đến phút cuối mới ban hành lệnh ở nhà vào ngày 1/4, ông giải thích *“Tôi không biết điều này (virus có thể lây bởi những người không có triệu chứng) mãi cho đến hôm qua”.

Những điển hình trên không chỉ do thiếu hiểu biết- nó chính là sự ngu ngốc và giết người có chủ ý. Những cuộc biểu tình khắp các thành phố ở trên nước Mỹ đã cho thấy, bằng rất nhiều cách chính phủ đã dẫn dắt người dân phủ nhận thực tế chết người của đại dịch. Nó được Fox News và các trang mạng cực hữu thúc đẩy, và nó đã mang về cho các chính trị gia hàng triệu đô-la từ tiền quyên góp, hầu hết *(theo một cách không thể kỳ cục hơn) *được đóng góp từ những người già, những người dễ bị tổn thương nhất do corona virus.

Những điều quái gỡ này được nuôi sống bằng những thuyết âm mưu, sự căm ghét khoa học, sự hoang tưởng về “deep state” và niềm tin tôn giáo (Chúa sẽ bảo vệ những con chiên ngoan ngoãn) thấm sâu vào suy nghĩ của một số dân Mỹ.

Trump chính là hiện thân và cũng là người đã rao giảng niềm tin này, nhưng ông ta không phải là người phát minh ra nó. Sự phản ứng của nước Mỹ trước thảm họa corona bị tê liệt bởi những mâu thuẫn trong chính quyền mà những người thuộc Đảng Cộng Hòa đã cắm sâu vào trái tim của nền Dân chủ Mỹ. Một mặt, họ muốn kiểm soát tất cả mọi quyền lực trong chính phủ. Mặt khác, họ tạo ra một căn bản phổ biến rằng chính phủ vô cùng xấu xa và không đáng tin.

Sự mâu thuẫn này đã được Trump đưa ra trong hai tuyên bố của ông về đại dịch: một mặt ông ta là người có toàn quyền, và một mặt khác, ông ta không chịu bất cứ trách nhiệm nào *(I don’t take responsibility at all)*. Giữa khe hở của sự độc tài và vô chính phủ, ông ta lòn vào bên trong.

Mảnh đất màu mỡ

Nhưng đây không phải là lỗi riêng của một mình Donald Trump. Cuộc khủng hoảng đã chỉ ra rõ ràng rằng nhiệm kỳ Tổng thống của Trump không phải là một sai sót ngẫu nhiên. Nó thực sự đã được gieo trồng trên mảnh đất màu mỡ này từ lâu và đây là thời điểm nhận lấy hậu quả. Sự nở rộ của loại cấu trúc quái vật vô tổ chức này được tạo ra một cách có ý đồ và chiến lược từ phía sau.

Có những nhóm lợi ích quyền lực, những người hô hào “tự do” để có thể chà đạp lên tất cả những gì đi ngược lại họ và được quyền làm mọi điều đối với môi trường, xã hội và kinh tế. Họ đã âm thầm truyền vào tâm thức của nền văn hóa Mỹ niềm tin rằng *“Tự Do” *có ý nghĩa quan trọng hơn cuộc sống. “Quyền Tự Do được mang súng của tao quan trọng hơn quyền lợi của mày là đến trường an toàn mà không bị bắn”. Và bây giờ nó thành “Quyền Tự Do đi cắt tóc của tao quan trọng hơn quyền lợi của mày là an toàn không bị lây nhiễm.”. “Tôi cần cắt tóc” một trong những tấm biển được người biểu tình giơ ra ở St Paul, Minnesota.)

Thông thường, loại suy nghĩ quái gở này tự nó đã thể hiện sự ngu ngốc của nó, nhưng giờ đây nó được biện minh rằng, nếu mọi chuyện thực sự nghiêm trọng, nó sẽ tự dừng lại. Kiểu như người ta sẽ dừng lại khi đã uống đủ và tỉnh táo trở lại sau cơn say. Nhưng không, phần lớn dân Mỹ nghiện (kiểu suy nghĩ đó) ngày càng nặng nề hơn.

Và ông Tổng thống, Đảng phái của ông, cùng với đồng minh truyền thông của mình liên tục cung cấp chất men đó cho dân. Không có lấy một khoảnh khắc tỉnh táo nào trong những cơn say triền miên, không có bất cứ một cái gì có thể làm cho mọi người ngừng uống và bừng tỉnh để hiểu rằng trò hề này phải chấm dứt. Không một ai trong số những người Mỹ bước lên và tuyên bố rằng: Tỉnh lại đi, người ta đang chết đầy ra đây này.

Đó là một cách mô tả để thấy nước Mỹ đã ngập lún trong những vấn đề của mình sâu thế nào – nó không chỉ cho thấy rằng, Trump đã lợi dụng khủng hoảng như một cách nhằm tạo ra thù hận giữa những nhóm người Mỹ với nhau, nó còn cho thấy cách hành xử của Trump ngày càng trở nên quá bình thường trong con mắt người dân. Và khi chương trình kỳ dị của Trump được phát trực tiếp trên truyền hình mỗi tối, và ngôi sao của chúng ta tiếp tục huyênh hoang về lượt rating và lạc quan tếu về những “thành quả” của mình, lúc này người ta đã quen dần và không còn xem nó là một chương trình kỳ dị nữa, mà là một thứ thiết yếu. Với phần đông người Mỹ, thông tin Trump mang tới là thật.

Có lẽ những vấn đề này sẽ còn tiếp tục tệ hơn, trước khi nó trở nên khả quan trở lại. Trump còn khoảng ít nhất bảy tháng nữa để cầm quyền. Trong bài phát biểu khai mạc giai đoạn nắm quyền của mình đầu năm 2017, ông ta đã gợi nên một sự “tàn sát giữa người Mỹ với nhau” *(American carnage)* và ông ta hứa sẽ chấm dứt nó. Nhưng giờ đây cuộc giết chóc thực sự đã đến, nhưng ông ta đang say sưa trong nó. Ông ta đang đắm chìm vào chính mình.

Khi mọi việc trở nên tồi tệ hơn, có lẽ Trump sẽ càng bơm mạnh những thù hận và giả dối vào lòng người, trong thái độ bất chấp lý lẽ và quy tắc. Nếu một chính quyền mới đắc cử và ngồi vào ghế lãnh đạo vào năm 2021, họ phải bỏ rất nhiều sức lực để dọn dẹp đống rác độc hại của Trump để lại. Nếu Trump tái đắc cử, có lẽ đôc tính sẽ trở thành huyết mạch của nền chính trị Hoa Kỳ.

Bất kể thế nào, còn lâu lắm thế giới mới có thể nhìn thấy một “nước Mỹ vĩ đại trở lại.”

May be a cartoon

“tiến sĩ” ngày nay như hắn là thằng học dốt nhất làng.

 Tình cờ, tôi gặp lại thằng bạn cùng học lớp vở lòng ở quê, sau hơn 50 năm. Hắn khoe:

– Ngày xưa mi chê tau là thằng ba nhất: Học dốt nhất, nhiều tuổi nhất và xấu trai nhất. Bây giờ mi cải chính đi, vẫn ba nhất, nhưng là ba nhất của ngày nay: Giàu nhất, quan to nhất và học vị cao nhất.

Hắn nói đúng. Cả lớp vỡ lòng ngày xưa của chúng tôi, hiện nay không có ai bằng hắn. Hắn khoe tiếp:

– Tau là Tiến sĩ.

– Đi uống rượu với tau.

Tôi chưa kịp phản đối, hắn đã kéo tôi lên cái xe ô tô con bóng nhoáng, khoe:

– Tau mới lấy con ni, 10 tỷ.

Tôi hỏi hắn:

– Mi mua bằng Tiến sĩ mấy tỷ?

Hắn cười:

– Bằng xịn, thật 100%.

Thấy tôi ngạc nhiên, hắn cười:

– Có gì mà ngạc nhiên, tau nói mi nghe. Thôi học trường phổ thông, tau làm thằng đội trưởng đội thiếu niên, sau đó làm xã đoàn. Bố tau đưa tau lên làm huyện đoàn, rồi lên tỉnh đoàn, bây giờ tau làm bên chính quyền. Tau học bổ túc văn hóa một tối 2 tiết, 1 năm 3 lớp, lấy bằng tốt nghiệp cấp 3 bổ túc văn hóa, thằng nào thi cũng đỗ. Bố tau cử tau học đại học dự bị một năm, năm sau vào học đại học chính qui dài hạn như bọn mi. Tau là đảng viên, làm lớp trưởng, khoa xây dựng tau làm “con chim đầu đàn”. Chẳng thầy mô cô mô dám cho thằng đảng viên, lớp trưởng hay con “chim đầu đàn” điểm thấp. Ra trường, về cơ quan cũ, làm việc cũ. Bố tau cử tau đi học Nghiên cứu sinh. Nói là học, tau chỉ ở trường một năm không nhiều hơn 30 ngày. Sau 3 năm, bảo vệ luận án, nhận bằng “tiến sĩ”

Tôi hỏi hắn:

– Hiện ni mi nghiên cứu cái chi?

Hắn cười:

– Học dốt như tau thì nghiên cứu cái chi. Vấn đề là quan ngày xưa “tiến sĩ”, quan ngày nay cũng “tiến sĩ”, chẳng nhẽ để quan ngày nay thua quan ngày xưa!

Tôi đã vỡ nhẽ. Có con đường tắt thênh thang cho những thằng như hắn, đó là các lớp “bổ túc văn hóa”, “đại học dự bị”, học “nghiên cứu sinh nhận bằng tiến sĩ” …

Hắn cũng biết “tiến sĩ” ngày xưa khác “tiến sĩ” ngày nay, “tiến sĩ” ngày xưa là người giỏi nhất nước, “tiến sĩ” ngày nay như hắn là thằng học dốt nhất làng.

Thấy tôi trầm tư, hắn lấy chén rượu đã được nhân viên phục vụ rót, đưa một chén đưa cho tôi, một chén cho hắn, hắn cười đắc chí:

– Trăm phần trăm, cụng cái mi.

Tôi cụng li với hắn, dù sao chúng tôi cũng đã từng có những ngày xưa thân ái, những ngày cùng đi chăn bò.

(sưu tầm)

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

(Lm Pio Ngô Phúc Hậu)

Anh Hai Cay vừa hớt tóc cho cha xứ, vừa kể chuyện về đời mình.

– Tôi có một người bạn theo đạo công giáo. Hai đứa chúng tôi thương nhau lắm. Vì hoàn cảnh khó khăn, nó phải lên Bình Dương kiếm sống. Nó viết thư cho tôi và dặn tôi mỗi ngày phải nhớ và đọc cho nó một Kinh Lạy Cha. Vì thương nó, nên tôi đi dự các khóa Giáo Lý Dự Tòng của cha. Thế là tôi hiểu đạo của cha và thuộc Kinh Lạy Cha. Cứ mỗi buổi sáng, khi gà vừa gáy, tôi ra sân đứng trước bàn thờ Ông Thiên, chắp tay đọc Kinh Lạy Cha. Tôi vái trời chúc lành cho thằng bạn của tôi. Làm riết rồi tôi mê đạo này luôn. Tôi hướng dẫn vợ con tôi theo đạo Chúa. Còn tôi thì kẹt, không theo đạo này được.

– Tại sao lại kẹt?

– Cha tôi theo đạo Hòa Hảo. Tôi cũng theo đạo của cha tôi. Nếu bỏ đạo Hòa Hảo, thì là bất hiếu với cha, là phản bội đạo của cha. Chắc là tôi phải theo cả hai đạo, thì mới yên tâm được.

– Theo đạo là một chuyện lớn. Bỏ đạo này theo đạo kia cũng là một chuyện lớn. Trước khi quyết định, anh nên suy nghĩ nhiều và cầu nguyện thật nhiều. cụ thể là mỗi buổi sáng anh đứng trước bàn thờ Ông Thiên đọc Kinh Lạy Cha, xin Chúa chúc lành cho bạn của anh, thì bây giờ anh thêm một ý nguyện nữa là: xin cho ý Chúa thể hiện nơi chính cuộc đời của anh. Trong khi chờ anh cầu nguyện và suy nghĩ, tôi kể chuyện dòng dài cho anh nghe chơi.

1.Suốt đời cha anh chỉ có một cái xuồng be mười và chỉ có một cặp chèo. Chèo xuồng đi thăm ông nội. Chèo xuồng đi đám cúng cơm. Chèo xuồng đi hỏi vợ cho con. Chèo xuồng đi chà gạo…Thôi thì trăm thứ chuyện, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, tất cả đều làm với cái xuồng ấy và với cặp chèo ấy. Bây giờ cha anh chết rồi anh thừa kế cái xuồng be mười ấy. Anh lại tiếp tục chèo. Chèo lõm chõm, chèo luồn lách từ rạch này qua rạch kia.Thương quá là thương!

Bỗng thằng con của anh góp ý: “Xuồng chèo bây giờ lạc hậu lắm rồi ba ơi. Mình mua xuồng composite gắn máy đuôi tôm, chạy bảnh hơn nhiều”.

Bây giờ tôi hỏi anh Hai nhá.

– Nếu anh bán xuồng chèo, để mua xuồng máy, thì cha anh ở chín suối có buồn giận anh không?

– Thấy con cái mình làm ăn khấm khá, thì ổng mừng chứ buồn giận gì?

– Thấy anh bán xuồng chèo của ông già, thì xóm giềng có lên án anh là thằng con bất hiếu không?

– Hổng dám đâu. “Con hơn Cha là nhà có phước”. Ai cũng nói vậy đó.

– Người ta thường bảo rằng: Đạo nào cũng tốt, nên theo đạo nào cũng được. Cần chi mà phải đứng núi này trông núi nọ. Để anh yên tâm, tôi kể thêm một chuyện nữa.

2.Anh xách vali đi Sàigòn. Tới ngã ba, lẽ ra anh phải lên xe buýt đi về hướng Bắc, thì anh lại lên xe lam đi về hướng Nam. Đi được một tiếng đồng hồ, anh mới giật mình: “Chúa ơi! Tôi đi lộn đường rồi”. Ông bạn ngồi kế bên góp ý với anh: “Không sao. Đường nào cũng tốt. Cứ tiếp tục đi với tôi. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu nào đó”. Anh nghĩ gì về ý kiến của người bạn đó?…

Ở trên đời này có rất nhiều tôn giáo vừa cao siêu vừa tốt đẹp. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ vô bừa đạo nào cũng được. Đạo là đường. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu. Nhưng ta phải chọn. Nếu ta muốn đi Sàigòn thì phải quẹo tay phải để đi về hướng Bắc. Nếu ta muốn đi Cà Mau thì phải quẹo tay trái đi về hướng Nam. Các tôn giáo cũng vậy. Đạo Phật giúp ta diệt khổ để đi vào cõi phúc. Đạo Khổng giúp ta xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự. Đạo Kitô đưa ta về với nguồn cội là Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Ái… Đạo nào cũng tốt. Nhưng vẫn phải chọn lựa. Đường nào cũng đưa ta tới một mục tiêu. Nhưng vẫn phải tự hỏi mình sẽ đi về đâu, để chọn một trong các con đường ấy.

3.Có một người theo đạo Phật. Đạo Phật cao quá, đẹp quá. Tìm hiểu và sống đến chết vẫn chưa hưởng hết được cái đẹp của Đạo. Bỗng một ngày nọ, người ấy gia nhập đạo CôngGiáo. Mừng quá! Bạn cũ bạn mới đua nhau chất vấn.

– Chị bỏ đạo Phật, theo đạo Công Giáo, chị có thấy lương tâm bứt rứt gì không?

– Thưởng thức rừng hoa này, rồi sang rừng hoa khác để thưởng thức nữa, thì tại sao lại phải bứt rứt. Chỉ có niềm vui này cộng với niềm vui kia mà thôi.

– Khi chị trở lại đạo Công Giáo, thì mặc nhiên là chị đã bỏ đời sống cũ, để mặc lấy đời sống mới.

– Tôi không hề trở lại đạo Công Giáo, có đi sai thì mới trở lại. Tôi theo đạo Phật, đạo Phật quá tốt. Như vậy tôi đi đúng đường. Nay tôi thấy đạo của Chúa hợp với ý nguyện của tôi hơn, thì tôi đi tới. Tôi đi tới, chứ tôi không trở lại. Tôi cám ơn Đức Phật đã dìu dắt tôi tới ngưỡng cửa nhà Chúa. Tôi cám ơn Chúa vì Ngài đã đưa tay ra dắt tôi vào nhà của Ngài.

Anh Hai ơi! Tôi tặng anh ba câu chuyện trên để anh suy nghĩ và cầu nguyện. Tôi cũng cầu nguyện với anh để “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ?

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ?

Một người Nga gốc Do thái được phép rời Nga sang định cư tại Israel. Tại sân bay Moscow, cán bộ Hải quan tìm thấy một bức tượng Lê Nin trong hành lý của anh ta bèn hỏi:

– Đây là cái gì?

Anh ta trả lời:

– Đây là cái gì? Thưa đồng chí đó là câu hỏi sai. Lẽ ra đồng chí phải hỏi: “Đây là ai?” Đây chính là đồng chí Lê Nin, người đã đặt nền móng của CNXH và tạo nên tương lai và thịnh vượng cho người dân Nga. Tôi mang theo bức tượng của Người để luôn ghi nhớ vị anh hùng tôn kính của chúng ta!

Hải quan Nga cho anh ta đi mà không khám xét gì thêm.

Tại sân bay Tel Aviv, Hải quan Israel cũng hỏi:

– Đây là cái gì?

Anh ta trả lời:

– Đây là cái gì? Đó là câu hỏi sai thưa Ngài. Lẽ ra Ngài phải hỏi: “Đây là ai?” Thưa, đây là Lê Nin, kẻ đã bắt một người Do Thái như tôi phải rời nước Nga. Tôi mang theo tượng ông ta để có thể nguyền rủa ông ấy mỗi ngày.

Hải quan Israel nói:

– Tôi xin lỗi Ngài. Ngài có thể đi.

Trong căn nhà mới của mình tại Israel, anh ta mời bạn bè và họ hàng tới chơi để ăn mừng đã nhập cư thành công. Anh ta đặt bức tượng ở giữa bàn tiệc.

Một người bạn nhìn thấy và hỏi:

– Đây là ai?

Anh ta điềm tĩnh trả lời:

– Bạn thân yêu. Đây là Ai là câu hỏi sai. Bạn phải hỏi: “Đây là cái gì?” Thưa, đây là 10kg vàng nguyên khối tôi đã mang thành công ra khỏi nước Nga và mang vào Israel mà không tốn một đồng thuế và phí hải quan!!!

***

Vậy ta thấy được bài học gì trước và sau những cuộc bầu cử tốn kém và nguy hiểm? ‘Chính trị’ là khi bạn có thể nhai đi nhai lại cùng một thứ, nhưng theo những cách khác nhau, để đánh lừa những khán giả khác nhau, để “vui vẻ chiến thắng” và “thành công rực rỡ”!

Bức ảnh sau với những từ ngữ do chính Lê Nin nói: “Không có đạo đức trong chính trị mà chỉ có thủ đoạn. Một tên vô lại có thể có ích cho chúng ta vì nó là một tên vô lại.”

Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn, cách mà những nhà cầm quyền toàn trị sử dụng tất cả các phương tiện để biện minh cho mục đích về ‘quyền’, giống như cái cách mà anh Do Thái kia đã sử dụng.

Đúng vậy, ‘vàng’ mới thật là cái đích cuối cùng người ta hướng tới.

Theo Fb Lê Quốc Quân

May be an image of 1 person and text that says 'There are no morals in bolitics there is only expedience. scoundrel may be of use LO us just because he is a scoundrel. Vlad VladimirLenin'

Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Tặng cho những kẻ vô học, mọi da Vàng trong Cộng đồng Người Việt!!!

***

Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Lâm Bình Duy Nhiên

Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.

Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.

Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:

– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!

Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:

– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.

Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:

– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!

Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:

– Mọi thì nói mọi chứ sao?

Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!

Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:

– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!

Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.

“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.

Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người *“Chà Và”* và vẫn xem thường sắc dân *“ăn cà ri hôi rình” *và chỉ biết* “lau chùi cầu tiêu”* nhà hàng…

Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với *“bọn da đen”* ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!

Có lần nọ đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:

– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?

Tôi hiểu liền, nên nói:

– Chào cô.

Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:

– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?

Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!

Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.

Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.

Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ *“Bọn mọi da đen”* hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà”. Thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.

Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ…. và họ cũng quên rằng, chính họ cũng là người tỵ nạn hay di dân đến định cư nơi đây, có khác gì “bọn đen hay chà và”? Chính ọ cũng bị các sắc dân khác, đặc biệt là bọn da Trắng thượng đẳng cũng muốn tống cố đám da Vàng mũi tẹt về nước đó thôi!

Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.

Nếu như trong tiếng Pháp có từ *“négro”* bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ *“mọi”*. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn *“vô tư”* chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ *“mọi” này, “mọi” kia *bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.

Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản biện lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.

Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào *“mọi”*, nào *“man rợ”*, nào *“rừng rú”* hay *“đười ươi”.* Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!

Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm Tổng thống đi chăng nữa.

Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị Tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!

Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc tồi bại như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật.

Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!

Ông Tedros Adhanom, Tổng Giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Corinavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ *“thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.

Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti.

Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.

Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn *“Hồi giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm Tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.

Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là qui luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.

Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!

Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.

Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.

Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.

Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.

Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!

***

– Kỳ thị da màu….

– Ảnh trên từ trái: Tổng thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn.

– – Một stt kỳ thị của một Facebooker người Việt với ông Obama gác chân lên bàn khi làm việc…

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

May 21, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh Án Liên Bang Roy Lamberth, địa hạt Washington, DC, hôm Thứ Sáu, 21 Tháng Năm, ra lệnh khám nghiệm thẩm định tâm thần cho ông Jacob Chansley, biệt danh “Thầy mo QAnon,” người đội nón có hai sừng thú tham gia cuộc bạo loạn tại Quốc Hội, theo Reuters.

Trước đó, Luật Sư Albert Watkins, đại diện cho “Thầy mo QAnon,” viết đơn xin tòa trả tự do với lập luận rằng thân chủ, hiện đang bị giam vì tham gia bạo loạn tại Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, và những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.”

Luật sư đại diện xin tòa trả tự do cho “Thầy mo Qanon” (giữa) vì thân chủ cùng những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.” (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

“Đây là những người có não bị tổn thương,” vị luật sư viết trong đơn gửi tòa (link: https://storage.courtlistener.com/recap/gov.uscourts.dcd.225845/gov.uscourts.dcd.225845.12.0_6.pdf).

Luật Sư Watkins cho rằng những người tham gia bạo loạn rất “đáng thương. Họ không phải là thành phần xấu xa,” theo nhật báo Washington Post.

“Họ hành động như vậy” vì bị “tuyên truyền” tẩy não, cách chưa từng thấy, kể từ thời Adolf Hitler, lãnh tụ Phát Xít Đức, ông Watkins lý giải.

Đây là nỗ lực mới nhất nhằm cứu thân chủ khỏi trại giam của Luật Sư Watkins sau nhiều đơn xin với những lý do như “Thầy mo” đến Quốc Hội theo lời tuyên truyền kích động của cựu Tổng Thống Donald Trump.

Ông Watkins cũng gửi thư kêu gọi cựu tổng thống ân xá cho thân chủ trước khi mãn nhiệm, tuy nhiên ông trách cứ nhà tỷ phú đã “phản bội” lòng tin của người ủng hộ khi tên của “Thầy mo” không nằm trong danh sách ân xá.

Ông Chansley được cả thế giới chú ý với hình ảnh một người cởi trần, mũ lông thú có hai sừng, cầm một ngọn giáo dài 6 foot có gắn lá cờ Mỹ đứng bên trong tòa nhà Quốc Hội hú vang và sau đó ngồi vào chiếc ghế chủ tịch Thượng Viện của cựu Phó Tổng Thống Mike Pence vào ngày 6 Tháng Giêng.

“Thầy mo” Chansley hiện đang bị truy tố với các cáo buộc: Xâm phạm trái phép vào khu vực cấm, đánh cắp tài sản công, dùng bạo lực xâm nhập và có hành vi mất trật tự tại tòa nhà Quốc Hội. (MPL) [qd]

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Minh Nguyệt 

Nhớ kỹ 7 điều này giúp bạn còn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Hồng trần vần vũ như gió thổi mây bay, phút bình yên thì ít mà phiền muộn lại quá nhiều. Lòng người phải đeo biết bao nhiêu tảng đá, gỡ xuống một thì lại đèo bòng thêm hai. Hỏi đâu là chốn thanh bình trong tâm tưởng?…  

Dưới đây là những câu nói được nhiều người truyền nhau, câu nào cũng đầy hàm nghĩa và đạo lý. Nếu thường lưu giữ chúng trong tâm, bạn sẽ có thể điều tiết cảm xúc và giữ được tâm thái vui vẻ hơn cả uống nghìn thang thuốc bổ.

  1. Lòng người

Lương thiện không phải là mềm yếu, khoan dung không phải là nhu nhược. Những người tốt tính cũng có khi nổi giận, những người nông nổi cũng biết điểm dừng. Do vậy, không thể đùa cợt với lòng người, tình cảm không thể đối đãi một cách qua quýt, duyên phận không thể coi là điều tùy tiện. Hãy dùng trái tim để đáp lại một trái tim, yêu thương một cách công bằng, đối đãi bằng tấm chân tình, như vậy lòng người mới chân thành.

  1. Tùy duyên 

Nhân sinh như mộng, khi thăng khi trầm, như vầng trăng kia khi mờ, khi tỏ, khi khuyết khi tròn, có chi đáng để tranh giành? Tình yêu khi mặn nồng, khi nhạt nhòa, tự đã có hương vị của nhân duyên cuộc sống. Nhịp sống khi vội vàng, lúc khoan thai chỉ cần giữ tâm bất động. Tình cảm khi sâu đậm lúc nhạt nhòa, nhưng bước qua nhau hãy nhoẻn miệng cười.

Đời người vì để tâm mà đau khổ, vì hoài nghi mà tổn thương, nếu biết coi nhẹ sẽ vui vẻ, hạnh phúc. Chúng ta đều là khách qua đường trên cõi đời này, chỉ dừng chân tá túc vài ngày nơi quán trọ trần gian, rồi lại vội vã rảo bước rời đi. Vậy nên tất cả mọi chuyện cứ để tùy duyên, mặc cho con tạo xoay vần!

  1. Lòng bao dung

Con người sống phải biết khoan dung, không cần mọi việc đều phải giành phần thắng về mình. Cãi thắng người nhà thì tình thân sẽ mất, cãi thắng vợ chồng thì tình cảm nhạt nhòa, cãi thắng bè bạn thì tình nghĩa chẳng còn. Điều bạn thắng được là thể diện, điều bạn bị thua là tình nghĩa, người bị thương lại là chính bản thân mình. Đen hay trắng, đúng hay sai đã có thời gian làm chứng. Buông bỏ kiến giải cá nhân, làm một người bao dung thì điều bạn thắng được lại là cả một kiếp người.

  1. Giàu nghèo

Người biết đủ thường vui, dẫu sống trên mặt đất mà như ở nơi thiên đường. Kẻ tham cầu vật chất, dục vọng thì dẫu ở thiên đường cũng như thân trong địa ngục. Trong kiếp người, tâm hồn giàu có thì con người cũng trở nên giàu có. Dẫu cuộc sống vật chất thanh bần, nhưng tâm hồn họ lại tràn đầy nhựa sống. Biết đủ mà vẫn có thể cho đi mới là sự giàu có thực sự. Ngược lại kẻ ham muốn hưởng thụ vật chất thì nghèo. Bởi lẽ dẫu có nhiều hơn nữa thì lòng tham vẫn là hố sâu không đáy, nên nghèo vẫn lại hoàn nghèo.

  1. Buông bỏ

Chuyện lớn hôm nay tới ngày mai đã trở thành chuyện nhỏ. Chuyện lớn của năm nay tới mai sau sẽ trở thành chuyện cổ. Đại sự của đời này tới kiếp sau lại trở thành truyền thuyết, nhiều nhất thì ta cũng chỉ là một nhân vật trong câu chuyện đó mà thôi. Khi gặp phải những chuyện không thuận lợi trong cuộc sống, công việc xin hãy hét to lên rằng: “Hôm nay sẽ qua đi, ngày mai sẽ tới, một ngày mới lại bắt đầu”.

Khi đắc ý phải biết coi nhẹ, khi phật lòng phải biết nghĩ thoáng. Đời người có rất nhiều thứ cần phải buông bỏ. Khi cần buông thì phải buông, khi cần giữ thì hãy giữ, thêm một chút bao dung, thêm một chút rộng lượng. Xua xua tay, nhoẻn miệng cười, thì mọi chuyện không vui cũng sẽ trở thành dĩ vãng.

  1. Họa phúc

Dẫu tích đức không ai thấy nhưng hành thiện đã tự có trời biết. Con người hành thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã tránh xa. Con người hành ác, họa tuy chưa đến, phúc đã lánh xa. Người hành thiện như cỏ giữa vườn xuân, nhìn hút tầm mắt, ngày thêm sinh trưởng tốt tươi. Kẻ hành ác như đá mài dao, không nhìn thấy tổn hại trước mắt nhưng tai họa đã bén duyên.

Phúc họa không có lối vào mà đều tại tâm con người. Sự đáng sợ của việc hành ác không nằm ở việc bị người khác phát hiện mà là lương tâm mình tự biết. Niềm vui của người hành thiện không phải ở những lời tán dương mà bắt nguồn từ sự bình yên trong tâm hồn.

  1. Cảm ơn

Hãy cảm ơn những người đã làm tổn thương mình, vì họ đã tôi luyện trái tim và ý chí của bạn. Cảm ơn những người đã lừa dối mình bởi vì họ tăng trưởng thêm kiến thức cho bạn. Cảm ơn những người đã đánh đập mình vì họ đã giúp bạn tiêu giảm tội nghiệp. Cảm ơn những người đã bỏ rơi mình vì họ đã dạy bạn cần phải tự lập tự cường. Cảm ơn những người đã quật ngã mình vì họ đã tôi luyện thêm năng lực cho bạn. Cảm ơn những người đã trách mắng mình vì họ giúp bạn tăng thêm định lực và trí huệ… Sống giữa thế gian này lòng biết ơn sẽ khiến cuộc sống thi vị, độc đáo hơn.

Ấy chính là:

Trăm năm trong cõi mộng

Rét đến chẳng biết đông

Thế sự như mây gió

Chẳng giữ lại trong lòng

Minh Nguyệt biên dịch

From: Truong Le