SUY NGẪM…

Nguyễn Hoàng Diễm

SUY NGẪM…

Thả một hòn sỏi vào trong nước: một tiếng bắn tóe lên, rồi chìm nghỉm. Nhưng để lại vô số gợn sóng lăn tăn xoay tròn. Lan tỏa từ trọng tâm, tràn ra biển cả.

Thả một hòn sỏi vào trong nước: trong phút chốc bạn lãng quên. Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn, hòa vào con sóng lớn. Bạn đã xáo động một đại dương hùng vĩ chỉ bằng một hòn sỏi mà thôi

Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi

Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan tỏa …

Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.

Thả một lời nói không tốt: trong phút chốc bạn lãng quên.

Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn mãi …

Có thể bạn đã làm ứa một dòng nước mắt trên con tim buồn.

Bạn đã xáo động một cuộc đời hạnh phúc chỉ vì những lời nói kia.

Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: chỉ trong giây lát chúng bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn, xoay tròn mãi.

Mang hy vọng, niềm vui, an ủi trong mỗi con sóng xô bờ.

Bạn sẽ không ngờ được sức mạnh của một lời nói tốt bạn cho đi.

Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: trong giây lát bạn lãng quên; Nhưng niềm vui dâng tràn, và những gợn sóng reo vui xoay tròn mãi.

Bạn đã làm cho con sóng được vỗ về trong điệu nhac êm ái.

QH

No photo description available.

LIÊN HỢP QUỐC PHÁT HÀNH CON TEM ĐỂ TÔN VINH MẸ TÊRÊSA

Make Christianity Great As Always is at United Nations.

 New York, NY 

LIÊN HỢP QUỐC PHÁT HÀNH CON TEM ĐỂ TÔN VINH MẸ TÊRÊSA

Một con tem của Liên Hợp Quốc dùng để tôn vinh một vị thánh Công giáo?

Đúng vậy. Vào ngày 12 tháng 8, Liên Hợp Quốc đã phát hành một con tem tưởng niệm tôn vinh Mẹ Têrêsa, một trong những người phụ nữ và nhà truyền giáo Công giáo nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Ở bên phải con tem xuất hiện một trong những lời trích dẫn nổi tiếng nhất của Mẹ Têrêsa: “Không phải ai trong chúng ta cũng có thể làm được những điều lớn lao. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé với tình yêu lớn lao.”

Như đã được viết trong lời mô tả của Liên Hợp Quốc:

“Trong hơn 45 năm, Mẹ đã phục vụ người nghèo, bệnh tật, mồ côi và hấp hối, đồng thời hướng dẫn việc mở rộng Hội Thừa Sai Bác Ái, đầu tiên là ở Ấn Độ và sau đó là ở các quốc gia khác, bao gồm cả việc xây dựng các nhà tế bần và nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư.”

Liên Hợp Quốc là tổ chức phi nhà nước duy nhất trên thế giới có đặc quyền phát hành tem của riêng mình. Kể từ năm 1951, Cơ quan Bưu chính Liên Hợp Quốc đã phát hành tem, theo đề xuất năm 1947 của Argentina. Một thỏa thuận đã đạt được với các cơ quan bưu chính Hoa Kỳ yêu cầu tem phải có mệnh giá bằng tiền của Hoa Kỳ và chỉ được sử dụng tại Trụ sở Liên Hợp Quốc.

Các thỏa thuận sau đó giữa Liên Hợp Quốc, Thụy Sĩ và Áo đã cho phép tem của Liên Hợp Quốc được phát hành bằng đồng franc Thụy Sĩ và schillings của Áo (sau này là đồng Euro). Do đó, Liên Hợp Quốc là cơ quan bưu chính duy nhất phát hành tem bằng ba loại tiền tệ khác nhau – đôla Mỹ, franc Thụy Sĩ và Euro.

Dựa trên các mục tiêu của mình, những con tem của Liên Hợp Quốc chính là những thông điệp về các chủ đề phổ biến hoặc về các ngày lễ tưởng niệm dành cho những người đàn ông và phụ nữ có ảnh hưởng trong lịch sử.

Đây không phải là lần đầu tiên Liên Hợp Quốc tôn vinh Mẹ Têrêsa vì đã phục vụ những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Năm 2012, Liên Hợp Quốc đã thiết lập ngày 5 tháng 9 là Ngày Quốc tế về Bác ái, với trọng tâm là giúp đỡ những người gặp khó khăn thông qua hoạt động từ thiện và tình nguyện. Việc lựa chọn ngày đó không phải là ngẫu nhiên, Liên Hợp Quốc giải thích:

“Ngày 5 tháng 9 được chọn để kỷ niệm là ngày mất của Mẹ Têrêsa thành Calcutta… Trong hơn 45 năm, Mẹ đã phục vụ những người nghèo, bệnh tật, mồ côi và hấp hối, đồng thời hướng dẫn việc mở rộng Hội Thừa Sai Bác ái, đầu tiên bên trong Ấn Độ và sau đó là ở các quốc gia khác, bao gồm các nhà tế bần và nhà ở cho những người nghèo nhất và vô gia cư. Công việc của Mẹ Têrêsa đã được nhìn nhận và ca ngợi trên khắp thế giới và Mẹ đã nhận được một số giải thưởng và danh hiệu, bao gồm cả giải Nobel Hòa bình. Mẹ Têrêsa qua đời vào ngày 5 tháng 9 năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi.”

Hai sự công nhận của Liên Hợp Quốc về Mẹ Têrêsa – con tem “Làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao” và sự công nhận Ngày Quốc tế về Bác ái – bổ sung cho nhau. Hãy để tôi giải thích.

Đối với Mẹ Têrêsa, yếu tố quan trọng nhất chính là tình yêu và sự cống hiến mà một người dành để bước theo lời mời gọi của một người khác, và đây là điểm mấu chốt trong thông điệp và công việc đời sống của Mẹ. Trong khi có một lời mời gọi với nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng phương châm của Mẹ luôn giống nhau – làm những việc nhỏ bé với một tình yêu lớn lao và sống lời mời gọi của mình ở bất kỳ nơi nào với sự cống hiến to lớn. Mẹ đã trải qua cái khao khát mãnh liệt đó bằng một tình yêu giống như vậy – tình yêu vô bờ của Mẹ dành cho những người nghèo nhất trong số những người nghèo, dành cho anh chị em và những thành viên trong gia đình của Mẹ thật mãnh liệt. Mẹ đã yêu cho đến đau đớn, và trong cuộc đời của Mẹ, Mẹ đã làm thỏa lòng tất cả những tình yêu này bằng cách phản chiếu nguyên mẫu – là Chúa Giêsu.

Phương châm “Làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao” nói lên lòng tôn kính suốt đời của Mẹ dành cho Thánh Têrêsa thành Lisieux (1873-1897), người cùng tên với Mẹ Têrêsa. Phương cách “con đường nhỏ” của Thánh Têrêsa Hài đồng – điều nhắc nhớ chúng ta rằng những điều bình thường của cuộc sống, khi được thực hiện với tình yêu thương phi thường, sẽ được biến đổi thành một điều gì đó phi thường – đã trở thành nguyên tắc sống của Mẹ Têrêsa. Mẹ luôn sẵn sàng đóng góp phần nhỏ bé của mình để làm vơi đi nỗi đau và vác lấy thập giá, như mẹ đã nói trong chuyến thăm năm 1984 đến đất nước Ethiopia đang bị nạn đói hoành hành. Mẹ đã không ngần ngại thực hiện phần việc nhỏ bé của mình để giúp đỡ quốc gia đói khát nhất thế giới:

“Ethiopia là một đồi Canvê mở rộng, chứ không phải là một địa ngục rộng mở. Bạn và tôi có thể làm phần việc nhỏ của mình và rồi sự sống sẽ được cứu nguy.”

Trong khi làm “những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao”, Mẹ Têrêsa đã trở thành một trong những người ủng hộ nồng nhiệt nhất về quyền con người mà đối với Mẹ, bắt đầu bằng quyền sống, quyền cơ bản nhất trong số các quyền con người. Đối với Mẹ, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với những người nghèo, người bên lề, người phong cùi, người chưa được sinh ra, người nhỏ bé và không có tiếng nói – những quyền mà Mẹ đang ở tuyến đầu bảo vệ. Vì vậy, sự bảo vệ mạnh mẽ của Mẹ đối với sự sống từ khi thụ thai cho đến khi chết tự nhiên là một vấn đề nhân phẩm và nhân quyền mang tính Kitô học và quy hướng Kitô giáo sâu sắc. Mẹ biết rằng những người nam, người nữ và trẻ em (được sinh ra và chưa được sinh ra) đều được tạo dựng vì những điều tuyệt diệu – để yêu và được yêu – và Chúa Giêsu Kitô vừa là nền tảng vừa là nguồn gốc của mọi quyền đó.

Sự bảo vệ nhân quyền và phẩm giá con người của Mẹ Têrêsa đã đem về cho Mẹ một vị trí danh dự tại Hành lang Nhân quyền của Nhà thờ Chánh toà Quốc gia ở Washington D.C. (thuộc Giáo hội Giám nhiệm). Hành lang Nhân quyền của Nhà thờ Chánh toà được dành riêng cho những cá nhân “đã có những hành động đầy ý nghĩa, sâu sắc và có tính thay đổi đời sống trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền, công bằng xã hội, dân quyền và hạnh phúc của những người khác”.

Ngoài ra, đức mến đối thần là một bước tiến tới sự hoàn thiện Kitô giáo. Tình yêu và lòng bác ái song hành cùng nhau. Bác ái là tình yêu của Thiên Chúa, mà trong đó con người tham dự vào công việc của Thiên Chúa, hay có được sở thích để yêu thương như Thiên Chúa.

Nếu phương châm của Mẹ Têrêsa được áp dụng cho đức mến, thì Mẹ đã làm những việc nhỏ bé với lòng mến cao cả, đã yêu thương những người mình phục vụ và noi gương tình yêu quên mình hy sinh của Chúa Kitô. Mẹ đã trân trọng Thiên Chúa trên tất cả mọi sự vì chính Người và trân trọng nhân loại vì chính Chúa. Mọi người đều có thể trở thành một nhà thừa sai bác ái chỉ cần qua tình yêu và sự phục vụ khiêm nhường, đều có thể khám phá ra khuôn mặt của Chúa Giêsu dưới lớp cải trang sầu khổ của người nghèo. Do đó, tình yêu và lòng bác ái gắn kết với nhau và trở thành dấu chỉ xác định sứ mệnh của Thánh Têrêsa thành Calcutta là làm những việc nhỏ bé với tình yêu và lòng bác ái lớn lao. Cả cuộc đời, Mẹ đã kiên vững cho cả hai điều trên.

Con tem tưởng niệm của Liên Hợp Quốc mang đến một cơ hội cho thế giới – nơi vốn đang rất cần những điều nhỏ bé được thực hiện với tình yêu thương và lòng bác ái lớn lao – để ngẫm nghĩ về phương châm và Sứ mệnh của Mẹ Têrêsa. Có lẽ con tem sẽ giúp chúng ta thức tỉnh khỏi mọi điều tự mãn để làm những việc nhỏ bé – nhỏ như viết một bức thư, dán một con tem và gửi đi bức thư đó – với tình yêu lớn lao.

———-

Tác giả: Ines Murzaku

Nguồn: National Catholic Register (ncregister.com) (26/8/2021)

Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên  

THƯƠNG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

THƯƠNG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh.  Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu.  Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má.  Ông ấy chết rồi, chết thật rồi.  Zorba đã ra đi, đi mãi không về.  Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. …  Những linh hồn như thế sẽ không chết.  Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? …  Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy.”

Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu.  Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa rời trần thế này.  Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết.  Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết.  Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này.  Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời.  Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo.  Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

Ông đã rất nỗ lực!  Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu.  Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn.  Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống.  Tuy nhiên, là tín hữu Kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác.  Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài.  Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất?  Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này.  Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài).  Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

Thế nghĩa là sao?  “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì?  “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra.  Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại.  Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa.  Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó.  Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được?  Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm.  Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả.  Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

LỜI HỨA…

8 SÀI GÒN

LỜI HỨA…

Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi.

Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa.

Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời “ông có giỡn với tôi không vậy?”.

Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.

Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục.

Thời buổi này mà còn một ông quân tử Tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên Tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.

Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh luôn mang theo chú chó cưng được gài sau ba lô. Tên chú chó này là Boot, được anh giải cứu trong một cuộc hành quân trong rừng. Khi đó Boot còn chưa dứt sữa mẹ. Mỗi khi từ thuyền vào đất liền, các anh lính GI này thường được một đám con nít đứng đón để xin kẹo, bánh, đồ hộp và cả thuốc lá.

Thường thì các anh lính trẻ này phân phát đầy đủ cho đám trẻ. Trong đám trẻ có một đứa tên Cam (có thể là Cầm hay Cẩm) luôn mặc bộ đồ ngủ màu xanh, đi chân đất. Cam không nhao nhao như đám con nít chung quanh mà luôn luôn đứng ở phía sau, cam phận.

Lúc đầu Phil và bạn bè tưởng Cam nhút nhát, nhưng không phải. Em không xin mà luôn mang theo dừa, chuối, chanh để trao đổi. Đám lính Mỹ rất thích đứa bé… sòng phẳng này.

Lúc đó Cam chỉ khoảng 9 tuổi. Có lần em mang một trái chuối tặng cho Phil. Phil rất cảm động. Khi anh được đi Thái Lan nghỉ phép, anh hỏi Cam muốn gì anh sẽ mua cho. Cam chẳng biết Thái Lan là cái xứ mô tê nào, tiếng Anh lại ba xí ba tú, cậu bé chỉ vào chiếc đồng hồ Phil đeo trên tay. Phil gật đầu.

Qua Thái Lan, Phil mải vui với các cô gái dễ dãi, với rượu nồng thịt béo, quên mất tiêu lời hứa mua chiếc đồng hồ cho Cam. Trở lại Hội An, Cam chạy ùa ra đón Phil với hy vọng có chiếc đồng hồ. Phil đành xin lỗi và hứa sẽ mua cho Cam sau.

Nhưng đời lính chẳng biết mai này sẽ ra sao. Đơn vị của Phil phải rời Hội An ra vùng phi quân sự ngay sau đó. Đầu năm 1968, Phil được trở về Mỹ. Về nhà, anh vẫn khó chịu vì không thực hiện được lời hứa với cậu bé nghèo nơi đất khổ. Lời hứa vẫn canh cánh bên lòng trong khi anh nghĩ chắc tới chết cũng không thực hiện được.

Anh tại ngũ thêm 27 năm. Chịu khó học lấy được bằng Master về luật, Phil trở thành luật sư của bộ Quốc Phòng. Năm 1995, ông nghỉ hưu.

Ông thường cùng một nhóm bạn đi du lịch khắp nơi. Năm 2007, nhóm du lịch này dự tính tham gia một tour tới vùng Đông Nam Á, có ghé Hội An. Vợ ông, bà Lynne, thúc giục ông phải tham dự chuyến này để trở lại Hội An, tìm gặp Cam, thực hiện lời hứa từ bốn chục năm trước. Phil đồng ý tuy trong thâm tâm ông nghĩ chuyện tìm lại Cam như chuyện mò kim đáy biển. Tuy vậy, ông vẫn mua sẵn môt chiếc đồng hồ.

Tới Đà Nẵng, hướng dẫn viên của đoàn du lịch là một người Hà Nội nhưng quen biết nhiều người ở Hội An. Anh chàng này hứa sẽ liên lạc tìm Cam giùm ông. May là ông Phil còn giữ và mang theo trong người được mấy tấm hình chụp với Cam ngày xưa.

Anh hướng dẫn viên cầm tấm hình đi hỏi thăm. Anh gần như trúng số khi gặp được một người em của Cam. Chỉ cần một cú điện thoại, Cam chạy vội tới khách sạn. Lúc này Cam không còn là một đứa trẻ 9 tuổi mà là một bác thợ mộc 49 tuổi. Anh hướng dẫn viên hỏi Cam có biết ông Mỹ này không. Cam nhận ra Phil liền. “Ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Anh hướng dẫn viên hỏi thêm anh có còn nhớ lời hứa năm xưa không, Cam trả lời liền: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng ổng không hiểu nên không mua đồng hồ cho tui thôi”.

Ông Phil nói với Cam là không có sự hiểu lầm nào cả mà chỉ có sự thất hứa. Ông đeo chiếc đồng hồ cho Cam rồi hai người ôm nhau.

Cam cảm động đến rơi nước mắt. Hôm sau, Cam mời vợ chồng ông Phil và anh hướng dẫn viên tới nhà dùng cơm. Bữa ăn do vợ của Cam là Nở và con gái 28 tuổi tên Vy của Cam nấu nướng. Vy mới lập gia đình. Được hỏi về ước muốn của Vy, cô chỉ ước được học Đại học như bốn người em trai. Là phận gái nên Vy không được học hành như các em.

Vợ chồng Phil không ngần ngại chu cấp cho Vy vào Sài Gòn học Đại học. Cô đã đậu bằng Cử nhân vào năm 2012.

Quá vui mừng, vợ chồng Phil đã qua Sài Gòn dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam vào Sài Gòn. Đó là lần đầu tiên vợ chồng Cam được đi máy bay! Anh không quên mang theo một số đồ ăn quê mùa Hội An để mở tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Vợ chồng Phil mừng Vy một cái microwave.

Hiện Vy vẫn làm việc tại Sài Gòn và thường điện thoại liên lạc với vợ chồng Phil.

Nói về li kỳ thì chuyện giữ lời hứa của anh GI Phil ăn đứt chuyện chia đôi tấm vé số của ông Cook. Nhưng chuyện giữ lời hứa thì không có thể so sánh hơn kém. Chuyện nào cũng quý cả.

Họ là những quân tử thứ thiệt, thuộc loại hiếm trên trái đất này. Lời hứa của họ như đinh đóng cột. Từ ngàn xưa người ta đã xưng tụng bằng những câu đã biến thành những bài học mà muốn thành người tử tế phải noi theo.

Nhất nặc thiên kim, lời hứa giá ngàn vàng. Nhất ngôn cửu đỉnh, lời nói có sức nặng tựa chín chiếc đỉnh. Quân tử nhất ngôn, người quân tử chỉ nói một lời. Dân gian cũng có những câu như: Một lời nói dối, sám hối bảy ngày. Hoặc: Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Hứa trong thương trường trở thành chữ tín. Buôn bán với nhau người ta rất trọng chữ tín. Đã nói là phải giữ lời. Không lươn lẹo, không gian dối.

SONG THAO

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bọn Mafia & Đám Cách Mạng Mùa Thu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bọn Mafia & Đám Cách Mạng Mùa Thu

27/08/2021

Truyện Bố Già của Mario Puzo mở đầu bằng một vụ xử bất công, thấy rõ :

Amerigo Bonasera có việc ra Toà, Toà Đại-hình Nữu-Ước, Phòng 3 để nghe công lý phán xét, trừng trị hai thằng khốn can tội bạo hành, toan cưỡng dâm con gái lão. Ngài Chánh án uy nghi, bệ vệ vén áo thụng đen làm như sắp đích thân ra tay trị hai thằng nhãi ranh đang đứng xớ rớ trước Toà. Giọng ngài sang sảng, lạnh tanh:

– Tụi bây hành động như những quân côn đồ tồi tệ nhất. Tụi bây làm như thú dữ ở rừng vậy! Cũng may mà cô bé đáng thương kia chưa bị tụi bây xâm phạm tiết hạnh, bằng không thì mỗi đứa 20 năm chắc… Xét vì tụi bây còn nhỏ, chưa có tiền án và con nhà đàng hoàng… Vả lại xét vì luật pháp đặt ra chẳng phải để trả thù nên toà tuyên phạt mỗi đứa 3 năm tù, cho hưởng án treo!
………

Bonasera nghiến răng nghe nỗi đắng cay trào lên nghẹn họng. Lão đưa chiếc khăn tay trắng lên bụm chặt miệng, ngó hai thằng khốn đi tà tà trở ra. Mặt chúng tươi rói, chúng tỉnh bơ không thèm nhìn lão một phát. Đành đứng trơ ra vậy. Cha mẹ chúng tò tò đi theo: hai cặp vợ chồng Mỹ trạc tuổi lão, bề ngoài Mỹ rặt bẽn lẽn ra mặt nhưng ánh mắt vẫn cứ vênh váo ngầm….

Lão quyết định tìm tới cố nhân Corleone, tốn bao nhiêu thì tốn…”

“Tìm tới cố nhân  Corleone ” lão Bonasera không phải chi một đồng nào nhưng hai cậu nhóc “con nhà đàng hoàng” vẫn bị xử lại (và xử đẹp) cấp kỳ bằng một trận đòn thừa sống thiếu chết: 

Jerry và Kevin, nghe đâu, nằm nhà thương cả tháng. Từ đó về sau, hễ thoáng thấy đàn bà con gái (nói chung) và đám di dân gốc Ý (nói riêng) là hai cậu lảng đi chỗ khác chơi liền. Cho ăn kẹo cũng không dám buông lời tán tỉnh hay chọc ghẹo bâng quơ, đừng nói chi đến chuyện sàm)sỡ (tiện tay bóp lồn hay thuận tay bóp vú) như trước nữa. 

Trận đòn, ngó bộ, hơi bị nặng tay. Tụi Mafia, rõ ràng, là có khuynh hướng trọng nữ khinh nam. Đụng tới phụ nữ là tụi nó nổi giận cấp kỳ, và phản ứng (có phần) quá đáng.

Tháng 11 năm 2007, cảnh sát Sicily tìm được (trong sào huyệt của ông trùm Salvatore Lo Piccolo) “Mười Điều Răn” (Ten Commandments) của đám Mafia địa phương. Đọc xong, quí bà và quí cô đều phải xuýt xoa và tấm tắc khen: Phải kính trọng vợ/ Không được dòm ngó vợ bạn/ Không được lem nhem về tiền bạc/ Luôn giữ đúng hẹn/  Không bao giờ nói dối …

Thiệt, có một thằng con hay thằng rể ăn ở và cư xử mực thước (quá cỡ) như vậy thì ai mà không hãnh diện chớ” Lỡ nó có dính tới băng đảng Mafia “chút xíu” thì cũng đã chết ai đâu. Thằng nhỏ có hung dữ, đánh đập ai ở ngoài đường thây kệ, miễn nó “kính trọng vợ con” và “không dòm ngó tới vợ bạn” (và em vợ mình) là yên bụng rồi – đúng không”?

Điều răn thứ IV mới thiệt là quí hoá chớ. Đọc mà mát ruột mát gan: “Don’t go to pubs and clubs” (Không được chàng ràng ở quán bia ôm hay quán nhậu). Phải vậy chớ. Đ…má, tui ghét nhứt là cái thứ đàn ông mà mở miệng ra là chửi thề, hoặc tu bia, hay nốc ruợu ào ào. Thiệt mất cảm tình hết sức!

 Trong phần lời tựa của cuốn Bố Già, bản Việt ngữ, dịch giả Ngọc Thứ Lang còn cho biết thêm đôi điều lý thú khác nữa :

“Nhiều tư liệu gần đây về Mafia và ‘The Godfather’ cho chúng ta biết rằng nhân vật “Bố Già” ngoài đời chính là Don Vito Cascio Ferro, một trong những thủ lĩnh quan trọng đầu tiên của giới Mafia Ý di cư sang Mỹ… 

Nhưng đối với bạn bè, thân quyến, ‘Bố Già’ gần như là một đấng toàn năng có thể cứu họ thoát khỏi những thế kẹt và nỗi oan ức mà ngay cả luật pháp cũng chẳng gỡ được. Ông đúng là ‘Mafia’ theo cái nghĩa nguyên thủy của nó thuở ban đầu hình thành, nơi ẩn náu.”

Những người ở trong “thế kẹt” và có “những nỗi oan ức” phải tìm đến Bố Già nhờ giúp đỡ (phần lớn) là những di dân nghèo khổ, không được pháp luật Hoa Kỳ – vào hồi đầu thế kỷ XX – che chở (đúng mức) khi cần. Như thế, băng Đảng Mafia “thuở ban đầu hình thành” – xem chừng – với có rất nhiều khí khái và thiện ý: đứng với kẻ ở thế cô, và sẵn sàng phò nguy cứu khổ.

Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng – kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” – nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” 

Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.”  Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc. Xin ghi lại vài ba :

– Đàn áp dã man những cộng đồng của người dân bản địa ở Tây Nguyên vào năm 2001 và 2004.

– Đàn áp dã man những cộng đồng của người dân bản địa ở Mường Nhé, Điện Biên năm 2011

– Tấn công Tu Viện Bát Nhã năm 2009.

– Tấn công Đan Viện Thiên An năm 2017.

– Tấn công nông dân ở Văn Giang năm 2012.

– Tấn công nông dân ở Đồng Tâm năm 2020.

Đó là chưa kể những vụ cướp ngày được mệnh danh là Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Đổi Tiền, Vượt Biên Bán Chính Thức (bằng cách … bán bãi thu vàng) và vô số tài sản – nhà, xe, cơ sở thương mại … – mà dân chúng đã tự nguyện ký giấy “hiến tặng” với hy vọng (mỏng manh) của đi thay người.

Vậy mà thời gian vừa qua, không ít kẻ gọi đám người đang nắm quyền bính ở Việt Nam hiện nay là “bọn Mafia” hay “băng đảng Mafia đỏ.”  Úy Trời, đừng có nói (đại) như vậy mang tội chết à nha.  

Mafia đâu có hành động đê tiện dữ vậy! 

Tụi nó cũng cướp của, tống tiền,  khủng bố …nhưng đâu có ăn hối lộ, ăn chận, và cướp đất của những người cùng khổ. Tụi nó cũng đâu có bao giờ phải “giả dạng thường dân” hay “ném đá giấu tay” như đám công an cách mạng. Khi cần, đám Mafia (dám) ném lựu đạn như không, chớ đâu có cái chuyện ném cứt – bẩn thỉu, dơ dáy, và đáng tởm – như dân băng đảng ở làng Ba Đình, Hà Nội, đúng không? 

Tôì tin chắc rằng nếu quí ông Trần Độ, ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ … gia nhập bất cứ băng đảng Mafia nào, thay vì Đảng Cộng Sản Việt Nam – chắc chắn – họ sẽ được đối xử tử tế hơn nhiều vào lúc cuối đời, nếu chưa muốn nói là sẽ được đàn em tuyệt đối kính trọng vì cung cách hành xử can trường và nghĩa khí. 

Nếu bọn Mafia – đôi khi – phải làm những điều khuất tất chả qua vì họ ở cái thế chẳng đặng đừng, của những người thất thế, những kẻ bị gạt ở bên lề xã hội. Chứ còn cứ mở miệng ra là “toàn thắng đã về ta,” và cứ “đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” mà (đ… mẹ) cách hành xử thì kém xa bọn băng đảng xã hội đen! 

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur…

Phạm Nguyên Trường is with Hoàng Hưng and 

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur cùng mình tham gia chống dịch trước khi được Chúa gọi về bên chân của Người.

Các chị rất thương mến !

Có chị từng hỏi em: “Đây là một căn bệnh hiếm, tại sao trong bao nhiêu người, lại là chị?”

Em đã suy nghĩ về câu hỏi này và thấy rằng: Ồ, có lẽ em là người được chọn nhỉ. Như thế thì thật là tốt phải không ? Là em thì không phải là những người còn lại: không phải là các chị, không phải là ai đó trong gia đình em, hay là một người nào khác.

Nhìn theo hướng khác, thì căn bệnh này là thánh giá Chúa đã chọn và dành riêng cho em.

Với em, đây là cơ hội để sống ơn gọi Mến Thánh Giá triệt để hơn. Có thánh giá thì mình sẽ dễ dàng “tiếp nối cuộc đời lữ thứ hy sinh của Chúa Giêsu” hơn, dễ mang lấy tâm tình và ý hướng của Chúa Giêsu khi Ngài chịu thương khó hơn, phải không các chị ?

Chưa biết tương lai thế nào, nhưng hiện tại em vẫn tạ ơn Chúa vì bệnh của em chẳng làm em mệt mỏi hay đau đớn gì cả.

Suy nghĩ về sự sống và cái chết, em thấy nó chỉ là tên gọi của hai hình thái sống khác nhau mà thôi. Thực tế thì, chúng ta có bao giờ chết đâu.

Vậy đó, nên em cũng chẳng năn nỉ Chúa cho mình được khỏi bệnh hay được sống lâu.

Nếu bước đi trên một cuộc hành trình, điều người lữ hành mong mỏi nhất là có thể đến đích sớm bao nhiêu có thể. Thì cũng vậy, nếu cái chết đến sớm có lẽ là điều đáng mừng phải không ? Tuy cái chết không phải là đích chúng ta nhắm tới, nhưng nó là dấu hiệu cho thấy chúng ta đã gần đích lắm rồi.

Thế nên, em đã nói với Bà Ngân thế này: “Con với Bà cùng chạy nhé, không chừng con sẽ đến đích trước Bà đấy!”

Các chị biết đấy, bây giờ em là một loại cây không ưa ánh nắng mặt trời và có thể chỉ là một loại cây ngắn ngày. Không biết nhà thiết kế cảnh quan của Hội dòng có thể tìm được chỗ nào thích hợp cho loại cây đặc biệt này không nhỉ ?

Maria Trần Ngọc Thảo Linh.

Từ Facebooker Kim Dung Pham

May be a closeup of 1 person, standing, eyeglasses and headscarf

Những nguyên nhân chính khiến việc chống dịch ở VN càng chống càng thất bại

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Song Chi

Những nguyên nhân chính khiến việc chống dịch ở VN càng chống càng thất bại, và người dân phải hứng chịu mọi hậu quả, không chỉ chết vì dịch mà còn chết vì đói, và bị “khủng bố” tinh thần bởi hàng loạt chủ trương sai lầm, hà khắc, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, hở tí thì cấm, phạt, và cuối cùng là đem cả quân đội súng ống, xe tăng, thiết giáp vào SG:

  1. SỰ NGẠO NGHỄ, CHỦ QUAN. Do những bước đầu kìm chế dịch khá thành công nên khi đợt dịch thứ tư bùng phát dữ dội ở VN từ cuối tháng 4.2021, sau nhiều quốc gia khác tới gần một năm rưỡi, nhưng VN đã chủ quan không thèm chuẩn bị gì, từ chiến lược vaccine cho tới làm sao để vừa phòng chống dịch cho hiệu quả, vừa để người dân có thể sống sót qua những ngày phong tỏa không có thu nhập, đồng thời kinh tế vẫn tiếp tục vận hành ở một mức độ nào đó, không bị đứt gãy giữa nguồn cung và cầu, đứt gãy sản xuất hoàn toàn v.v…Và cũng vì ngạo nghễ nên không thèm học bài học chống dịch, cách thức phong tỏa, vận hành quốc gia trong thời dịch từ các nước khác, cũng như bất chấp mọi ý kiến, mọi lời khuyến cáo của các bác sĩ, chuyên gia, người có kinh nghiệm ở trong hay ngoài nước, bất chấp dư luận, cứ làm theo ý mình, và nếu có học thì chỉ học duy nhất bài học chống dịch cực kỳ khắc nghiệt của Tàu Cộng tại Vũ Hán!
  2. CHÍNH TRỊ HÓA VIỆC CHỐNG DỊCH. CHỐNG DỊCH VỚI TƯ DUY THỜI CHIẾN THAY VÌ TƯ DUY KHOA HỌC. Ngay từ đầu cho tới giờ nhà cầm quyền vẫn cứ khăng khăng giương cao khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc”, với tinh thần “phải quyết thắng tới cùng” (trong khi nhiều cường quốc hàng đầu với nền y tế tiên tiến hơn gấp nhiều lần đã hiểu ra là không thể thắng con coronavirus này 100% mà phải có kế hoạch “chung sống lâu dài” với nó), để cho đám quan chức vốn xuất thân từ công an, tình báo, hoặc tuyên giáo, không có chút kiến thức, kinh nghiệm về khoa học lên lãnh đạo việc chống dịch, đưa công an, và bây giờ là quân đội vào kiểm soát tình hình, coi virus là…giặc, coi dân cũng là những kẻ thù tiềm tàng…Thay vì chống dịch với tư duy khoa học, đưa các chuyên gia, bác sĩ hàng đầu trong lĩnh vực dịch tễ học, vi trùng học…lên lãnh đạo việc chống dịch, còn chính phủ thì lùi lại, lắng nghe ý kiến của họ, lắng nghe ý kiến của dân.
  3. ĐỘC QUYỀN CHỐNG DỊCH, LUÔN LUÔN MUỐN KIỂM SOÁT MỌI THỨ. KHÔNG TIN DÂN. Cái gì cũng độc quyền, thậm chí chống dịch đảng cũng phải độc quyền, không muốn chia sẻ trách nhiệm cho các chuyên gia đã đành, việc cứu trợ cho dân cũng không muốn các tổ chức hoạt động dân sự, các tổ chức tôn giáo tham gia trừ phi dưới cái ô của Mặt trận Tổ Quốc hay các tổ chức của đảng; mà nếu có cho phép được một lúc vì làm không xuể thì sau đó cũng lại giành lại, như hiện nay đưa quân đội vào giành cả công viêc đi chợ của shipper, công việc cứu trợ của các tổ chức, cá nhân thiện nguyện…
  4. NHÂN DANH CHỐNG DỊCH ĐỂ CÀNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN QUA CÁC BIỆN PHÁP CẤM, PHẠT CỰC ĐOAN. KHÔNG COI ĐỜI SỐNG KINH TẾ VÀ SINH MẠNG CỦA DÂN RA GÌ. NHƯNG LẠI SĨ DIỆN KHÔNG MUỐN THỪA NHẬN THẤT BẠI. Cái kiểu chống dịch mà VN học theo Tàu Cộng nó nguy hiểm ở chỗ là họ khuyếch đại hóa nỗi sợ hãi, làm căng thẳng thêm tình hình để từ đó càng có cớ mà nhốt dân trong nhà, và bây giờ là đưa cả quân đội với súng ống vào SG, lấy cớ là giúp dân chống dịch nhưng chủ yếu là nhằm ngăn ngừa mọi sự nỗi loạn từ người dân, hoặc mọi ý kiến, quyết định khác ý trung ương nếu có, của các chính quyền địa phương. Tất cả là để nhằm giữ sự ổn định chính trị và giữ cái bề mặt “sạch sẽ” nghĩa là ai bị dương tính, bị nhiễm thì nhốt vào một chỗ mặc kệ lây chéo lẫn nhau, ai chết thì lẵng lặng đem đi thiêu, bây giờ là đi chôn tập thể, miễn sao trên bề mặt mọi thứ vẫn trong vòng kiểm soát và những con số về tình hình dịch bệnh vẫn “ở mức độ chấp nhận được” dù thực tế thì tồi tệ hơn rất nhiều! Cuối cùng là cái bệnh sĩ diện của nhà cầm quyền không muốn thừa nhận họ đã thất bại để kêu gọi quốc tế trợ giúp nhân đạo, mặc kệ mỗi ngày trôi qua là số người chết đói, chết vì dịch càng nhiều hơn.

Đó là chưa kể những chính sách bất công, bất hợp lý trong đối tượng ưu tiên chích vaccine, sự phân biệt vùng miền thay vì dồn tối đa nguồn vaccine, nguồn tài chính cho những tỉnh thành bị dịch nặng v.v…khiến tình hình càng tệ hơn.

TẤT CẢ NHỮNG NGUYÊN NHÂN TRÊN LÀ DO: THỂ CHẾ ĐỘC TÀI+SỰ DỐT NÁT+ ĐỘC ÁC+CHỈ LO BẢO VỆ QUYỀN LỰC CỦA NHÀ CẦM QUYỀN.

– Hầu như không có nước nào mà không bị đại dịch COVID-19, không có nước nào mà không có những quyết định sai lầm lúc này lúc khác, không có nước nào mà không có người chết, nhưng chỉ có một chế độ độc tài toàn trị thì mới có cái cách chống dịch như vậy. Suốt bao nhiêu năm qua đảng cộng sản đã hành xử như một lực lượng chiếm đóng đối với người dân VN, thậm chí còn ác hơn cả thời thực dân nhiều, và đại dịch chỉ càng phơi bày sự thật đó mà thôi.

Song Chi

May be an image of 2 people, motorcycle and road

CÁI GIÁ CỦA HẠNH PHÚC

 CÁI GIÁ CỦA HẠNH PHÚC

Ai trong chúng ta cũng mong cầu hạnh phúc. Có người cho rằng: Hạnh phúc khi tâm bình an, không lo sợ, không mong cầu, không hối hận, không bứt rức, không hận thù, không ghen ghét. Có người lại cho rằng: Hạnh phúc là đoá hoa của thời gian, nở rồi diệt, diệt rồi nở, có như vậy mới thực sự hạnh phúc. Nếu đoá hoa thời gian ấy cứ trường tồn, người ta sẽ không cảm nhận hạnh phúc nữa, mà đôi khi biến thành bất hạnh. Có người lại cho rằng: Cái gì chỉ mình có được, người khác không bao giờ với được, đó là hạnh phúc. Lại có người cho rằng: Họ chỉ hạnh phúc, khi mọi người cùng hạnh phúc. Có cái hạnh phúc là cho, có cái hạnh phúc là nhận…

Nhưng hầu như người ta không thể có một định nghĩa chung về hạnh phúc. Mỗi người cảm nhận hạnh phúc một khác, mỗi thời cảm nhận hạnh phúc một khác. Người đang nóng bức, được ngâm mình trong làn nước mát là hạnh phúc. Người đang lên cơn sốt rét, bị ngâm mình trong làn nước mát có cùng nhiệt độ lại “bất hạnh”. Người ăn được cay, có trái ớt hiểm cay xè dằm nước mắm, bữa cơm sẽ đậm đà hơn lên, hạnh phúc cũng qua đó mà sanh ra. Người không hề ăn được ớt, “vô phúc” cắn nhằm một mẩu ớt, nước mắt nước mũi đã ròng ròng khốn khổ. Người đã lập gia đình, có kinh tế khả dĩ ổn định, tin người vợ thọ thai là hỉ tín (tin mừng) trọng đại. Anh chàng sinh viên chưa sẵn sàng thành gia thất, tương lai chưa định mà nghe bạn gái báo “hung tin” thai nghén, quả là điều bất hạnh.

Vậy định nghĩa chung của hạnh phúc là gì? Thật khó, nhưng ta thử định nghĩa như vầy: Hạnh phúc là cảm thọ an lạc, sung sướng… khi những mong cầu của chúng ta được thoả mãn. Với định nghĩa như vậy, sẽ có nhiều người phản đối, người tu không có mong cầu, nhưng họ rất tự tại, ung dung và an lạc. Theo đức Đạt Lai Lạt Ma thì hạnh phúc là khoảng khắc thời gian ta cảm nhận. Khoảng khắc ấy như một hạt trai trong xâu chuỗi. Muốn cả đời hạnh phúc, người ta phải biết tạo ra những khoảng khắc ấy liên tục, người ta phải tìm cách xâu các khoảng khắc cảm nhận hạnh phúc lại với nhau, càng gần nhau… người ta càng hạnh phúc.

Cảm nhận hạnh phúc chỉ có cá nhân người ấy hiểu. Niềm hạnh phúc của một người nông dân chân lấm tay bùn khi nhìn đồng lúa trổ bông, trĩu hạt có thể to lớn không thua gì Michael Schumacher thắng giải đua xe thể thức I ở Monaco, một khoa học gia khám phá ra thuốc phòng chống HIV, hay nhà quân sự chiến thắng trên trận địa. Tuy giá trị vật chất của những khoảng khắc hạnh phúc ấy khác nhau, song biên độ cảm thọ không hề khác.

Ta tạm gọi hạnh phúc là cảm thọ an lạc, sung sướng, khoảng khắc đời lên hương, khiến cho ta mãn nguyện, êm ấm, thanh lương.

Vậy cái giá của hạnh phúc là gì? Liệu hạnh phúc có thể là của “giời cho” chăng? Hay hạnh phúc là quá trình góp nhặt, vun trồng, tỉa tót và đánh đổi?

Về cái giá của hạnh phúc, ta cũng chẳng thể tính ra bằng đơn vị tiền tệ, đo lường. Có người cho rằng hạnh phúc là “của giời” “giời cho ai nấy hưởng”… Có người cho rằng yếu tố con người mới là yếu tố chính, tự ta có thể hoạch định được cuộc sống của ta. Tùy theo đức tin, căn bản lý luận mà người ta nhận biết hạnh phúc là do trời hay do người. Nếu bảo do trời thì tại sao vị chúa tể muôn loài lại không công bình, cho người này hạnh phúc, bắt người kia bất hạnh. Nếu bảo do người thì tại sao có người sanh ra đã đầy đủ mọi yếu tố để hạnh phúc? Người sinh ra đã tràn đầy nỗi khổ? Nghiệp quả chăng? Luân hồi chăng? Mấy tín hữu của Ki Tô Giáo làm sao tin được chuyện nghiệp quả luân hồi? Ý Chúa chăng? Tín hữu Hindu, Phật Giáo… làm sao thuyết phục?

Thành ra ta chỉ bàn đến cái hạnh phúc mà con người có thể ảnh hưởng được. Thứ hạnh phúc nhân tạo, chính con người có thể tạo ra. Hạnh phúc này nằm vỏn vẹn trong mấy chuyện: Thân thể khỏe mạnh, gia đạo êm ấm, kinh tế sung mãn, xã hội xung quanh bình an, tự do sống trong khuân khổ đạo đức truyền thống xã hội và pháp luật, cảm nhận sự hiện diện của mình trong đời không thừa thãi…

Để có thân thể khỏe mạnh thì con người ta phải điều độ, năng luyện tập, bỏ bớt những thú vui độc hại như nhậu nhẹt, chích choác, trác tán, đâm chém… Cái giá hạnh phúc ở đây là làm việc khó (năng luyện tập, điều độ), bỏ việc dễ (nhậu…)

Để có gia đạo êm ấm, người ta phải biết nhẫn nhịn, có những lúc phải nuốt vào bụng những thứ rất khó nuốt, phải hi sinh để lo cho người thân, bỏ bớt ích kỷ của bản thân, tạo được mối giao hoà, tin tưởng giữa các thành viên trong gia đình. Cái giá của hạnh phúc nơi đây chính là sự nhẫn nhịn, kiềm chế và không ích kỷ.

Để có kinh tế sung mãn, ta có hai cách. Một là: Kiếm được thật nhiều tiền, đủ sức chi tiêu thoả mái. Hai là: Phải hạn chế số chi trong khuân khổ thu có hạn. Nếu ta muốn kiếm thật nhiều tiền, ta phải có tài, phải có thời, phải siêng năng. Muốn tiết kiệm, ta phải từ bỏ bớt những khoản chi tiêu không hợp lý. Ai cũng muốn có thể chi tiêu như mình muốn, nhưng liệu khả năng của mình có đáp ứng đủ số chi ấy chăng? Nếu công sức của mình bỏ ra, không đáp ứng nổi số nhu cầu mình thoả mãn, vô hình chung, ta đã mang nợ. Chẳng món nợ nào dễ chịu cả. Nợ nào cũng phải trả, không chóng thì chầy! Cái giá của hạnh phúc là phép tính: Thu – Chi = ++ (còn là số dương).

Để xã hội xung quanh bình an, ta phải trả thuế đóng góp vào bộ máy bảo vệ an ninh của quốc gia, của thành phố. Phải sử dụng quyền công dân của mình để định hướng cộng đồng xung quanh. Muốn định hướng cộng đồng theo hướng tốt, phải có đóng góp phục vụ cộng đồng.

Để cảm nhận được sự hiện diện của mình trong đời là không thừa thãi, thì con người ta phải đầu tư thời gian để tạo cho mình khả năng, khả năng ấy có thể nuôi sống mình và còn chút nhiều thặng dư phụng sự cho xã hội. Có thể một phát minh khoa học, có thể là khúc bánh mình đỡ đói lòng… trong cái tương tác trùng trùng của xã hội xung quanh, ta không là kẻ ăn bám. Phải như vậy, ta mới thấy mình không thừa thãi. Không ăn hại cơm giời, uống hại nước sông. Không sống chật đất, chết chật nghĩa trang.

Còn bao nhiêu khía cạnh của hạnh phúc, ta có thể bàn mãi mãi, khi nào còn có loài người trên thế giới này, người ta còn bàn về hạnh phúc. Nhưng ta có thể cả quyết rằng hạnh phúc là một sản phẩm siêu vật chất được hình thành bởi nhiều yếu tố (từ vật chất đến tinh thần) và có cái giá nhất định của nó! Ai hỏi tại sao anh phải làm việc vất vả thế? Ta có thể trả lời: Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh tiết kiệm, sống đơn giản thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh/chị nhẫn nhịn, dịu dàng với vợ/chồng con cái thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh đối xử tử tế với tất cả mọi người xung quanh thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh ngu thế? Để mưu cầu hạnh phúc, vì nhiều lúc dư khả năng khôn mà không dám khôn, dư thế lực thắng thế mà không dám thắng! Sao anh/chị sống khắc kỷ, không phóng túng theo trào lưu của xã hội? Mưu cầu hạnh phúc! Sao anh/chị chung thủy chung tình? Mưu cầu hạnh phúc!

Quảng Diệu, Trần Bão Toàn

Mỹ đi rồi Mỹ lại về


Mỹ đi rồi Mỹ lại về

Bởi  AdminTD

 Lê Minh Nguyên

27-8-2021

Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris kết thúc chuyến công du châu Á bằng việc lên tiếng phản đối CSVN đàn áp các nhà hoạt động và nhà báo. Đồng thời, bà tái khẳng định sự can dự của Mỹ với các đồng minh trong khu vực để chống lại TQ.

Tại cuộc họp báo ở Hà Nội hôm thứ Năm 26/8, bà nói rằng đã thúc ép CSVN về các vấn đề nhân quyền và đàn áp đối với những người bất đồng chính kiến. Bà cho biết, Mỹ sẽ không “né tránh những cuộc đối thoại khó khăn… Những cuộc trò chuyện khó khăn thường phải có với những người mà bạn có quan hệ đối tác”.

Bà đã tham gia sự kiện mà đội của bà gọi là “những người làm thay đổi” (changemakers), gặp các nhà hoạt động xã hội dân sự hoạt động về quyền của người chuyển giới, và biến đổi khí hậu.

Theo New York Times ngày 26/8, bà với tư cách là người tiên phong và là một trong những phụ nữ hiếm hoi lãnh đạo một cường quốc trên trường thế giới – ở vào thời điểm mà một trong những người đàn bà nổi tiếng thế giới, Angela Merkel của Đức sắp từ chức – nên mọi tuyên bố và sự lựa chọn trang phục của bà mang theo biểu tượng của người đi trước. Những quyết định của bà không chỉ tác động đến cá nhân bà mà còn ảnh hưởng đến những người sau bà, họ sẽ học hỏi từ tấm gương của bà. Từ Singapore đến VN, bà đều mặc trang phục màu sậm để phản ánh tình trạng ảm đạm của thế giới.

Hôm 26/8, bà khai trương văn phòng Peace Corps và ký hợp đồng thuê đất cho đại sứ quán mới. Chuyến đi cũng xây dựng các mối quan hệ y tế, tài trợ 1 triệu liều vaccine mà không có ràng buộc nào.

Theo Reuters, ngày 26/8, bà nói Mỹ hoan nghênh cạnh tranh và không tìm kiếm xung đột với TQ, nhưng sẽ lên tiếng về các vấn đề như tranh chấp hàng hải ở Biển Đông: “Chúng tôi hoan nghênh sự cạnh tranh gay gắt, chúng tôi không tìm kiếm xung đột, nhưng về các vấn đề như Biển Đông, chúng tôi phải lên tiếng… Chúng tôi sẽ lên tiếng khi có những hành động mà Bắc Kinh thực hiện nó đe dọa trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.

Trước đó, hôm 25/8 bà nói “sự bắt nạt và yêu sách hàng hải quá mức” của TQ trong vùng biển này nên bị các nước thách thức và Mỹ muốn hỗ trợ tăng cường an ninh hàng hải cho VN, bao gồm các chuyến thăm nhiều hơn của tàu chiến Mỹ.

Các tuyên bố của bà đã thu hút sự phản công từ TQ. Hôm 25/8, tờ China Daily phản công lời bình luận của bà ở Singapore, nói rằng bà đã “cố tình bỏ qua thói đạo đức giả” khi kêu gọi các nước trong khu vực chống lại TQ.

Hôm 26/8, sau các cuộc gặp của bà ở Hà Nội, tờ Hoàn Cầu Thời báo nói rằng, Mỹ đang “mơ” khi xúi giục VN đối đầu với TQ: “Đối với Washington, điều họ mong muốn là một cuộc chiến mới giữa Bắc Kinh và Hà Nội nổ ra”. Lời phản công này với Mỹ cũng là một lời đe doạ cho VN.

Ngoài việc Bộ Ngoại giao và truyền thông TQ phản pháo, Bắc Kinh đã cố dàn dựng một đòn ngoại giao đánh chặn bất ngờ tại VN, diễn ra khi chuyến đi của bà Harris từ Singapore bị hoãn 3 giờ.

Trong cuộc gặp không được sắp đặt trước giữa Thủ tướng CSVN Phạm Minh Chính và Đại sứ TQ Hùng Ba, ông Chính xoa vuốt TQ rằng, VN không đứng về phía nào trong chính sách đối ngoại và cảm ơn Đại sứ đã tài trợ 2 triệu liều vaccine mới.

Báo chí TQ cho biết, TQ cần ra tay trước, đánh phủ đầu Mỹ với 2 triệu liều vaccine khi biết bà Harris sẽ công bố cho VN 1 triệu liều. Nó làm cho người ta nghi ngờ rằng, TQ tạo tình huống bằng cách gây ra sự cố Hội chứng Havana ở Hà Nội để câu giờ, hầu thực hiện cuộc đánh chặn.

Chính quyền Mỹ đã gọi sự cạnh tranh với TQ là “thử thách địa chính trị lớn nhất” trong thế kỷ 21.

Hà Nội lâu nay bị TQ kẹp cổ nên không dám hó hé khi bà Harris đề nghị nâng mối quan hệ lên tầm chiến lược. Là đảng CS đàn em, CSVN và CSTQ duy trì mối quan hệ chặt chẽ, hơn nữa Việt Nam phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu của TQ để hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu nên lo sợ TQ quậy.

Dù mối quan hệ Mỹ-Việt ngày càng trở nên khăng khít, nhưng Washington đã nói rằng, có những giới hạn cho đến khi VN đạt được tiến bộ về nhân quyền, bởi vì nhân quyền nằm trong chiến lược đối ngoại của Mỹ.

Bà Harris hôm 26/8 đã thẳng thắng nói rằng: “Chúng tôi sẽ không né tránh việc nói ra, ngay cả khi những cuộc thảo luận như vậy là khó nói và khó nghe”.

Theo NPR, ngày 26/8, bà Harris đã nhấn mạnh đến các vấn đề quyền của người lao động và quyền tự do dân sự khi bà kết thúc chuyến đi.

Tuy nhiên, vì cả hai bên không muốn vấn đề nhân quyền làm trật đường ray an ninh chiến lược, cho nên trong khi bà Harris nói về sự cần thiết phải bảo vệ phụ nữ và quyền cho người chuyển giới, bà đã không công khai chỉ trích CSVN về những vi phạm của họ, trong khi các phóng viên có mặt tại buổi họp báo.

Những mong đợi về nhân quyền thì cao hơn những gì mà bà Harris nêu ra trong chuyến đi. Người ta mong bà gặp những nhà bất đồng chính kiến, mong bà áp lực CSVN thả tù chính trị, mong bà công khai lên án CSVN vi phạm nhân quyền trong cuộc họp báo…, nhưng nó đã không xảy ra.

Đúng một tuần nữa là đến ngày 2/9, ngày lễ quốc khánh của CSVN, đây là dịp phóng thích tù nhân qua danh nghĩa nhân đạo mà không bị mất mặt. Nếu tù chính trị được thả ra ngày này thì đó là chỉ dấu người CS muốn cầm tay lái để thay đổi. Nếu họ không thả tù chính trị, thì thay đổi cũng vẫn sẽ xảy ra nhưng họ không thể chủ động được.

Ví von mà nói, một cô gái có thể vừa có bồ cũ (TQ) vừa có bồ mới (Mỹ), nhưng không thể ở vậy mãi mà phải lấy chồng. Ai cũng thấy bồ mới đáng lập gia đình hơn bồ cũ vốn là một tay vũ phu. Nếu không thay đổi thì gia đình cô gái sẽ bị xào xáo, đó là chưa nói đến bồ mới bằng mọi giá phải cưới cho được cô gái này.

Cuối thập niên 1970, có hiện tượng xào xáo Hoàng Văn Hoan – Trương Như Tảng. Nếu đầu thập niên 2020s lịch sử phải lập lại, thì nó sẽ trầm trọng hơn nhiều, khi mà bồ mới có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của đại đa số thành viên gia đình cô gái ở bên trong VN và ở bên ngoài thế giới.

“Ăn cháo đái bát”

“Ăn cháo đái bát”

Bởi  AdminTD

 Lý Trần

22-8-2021

Đó là câu cửa miệng khá phổ biến mấy ngày nay của mọi người, lên án bài báo của QĐND: “Không thể xuyên tạc cuộc kháng chiến chính nghĩa dựa trên sự so sánh khập khiễng với Afghanistan“.

Người Việt đều biết, trong văn phong trung tính, thành ngữ đó là “Ăn cháo, đá bát”, nhưng khi muốn nói đến mức độ tột đỉnh của sự vô ơn và khốn nạn, người ta đổi “đá” thành “đái”, nhất là trong văn phong dân dã.

Sự tương đồng và khác biệt giữa Kabul 2021 và Sài Gòn 1975 đã được nhiều người bàn, cá nhân tôi  thấy điểm tương đồng duy nhất là NGƯỜI DÂN ĐỀU THÁO CHẠY khi những người cộng sản tiến vào Sài Gòn và quân khủng bố Taliban tiến vào Kabul.

Tôi tin rằng, người viết bài báo này để “chửi” Mỹ và những kẻ có cùng suy nghĩ như anh ta đều đã vén tay áo của mình lên để nhận mũi vaccine của Anh hay Mỹ. Họ nằm trong danh sách ưu tiên khi có AstraZeneca, Pfizer và Moderna, nhất là lũ quan lại CS cấp cao giành hết vaccine Anh, Mỹ, trong khi các loại vaccines của các “đồng chí, anh em” chưa thấy tăm hơi ở Việt Nam. Và, khi có, họ cũng chỉ “ưu tiên cho nhân dân anh hùng”, như đã xảy ra.

Bọn dư luận viên cũng vô ơn không kém ông chủ của chúng. Tay thì vén áo lên để được chích vaccine của bọn “giãy chết”, miệng thì bảo “Người Mỹ chẳng cho không ai cái gì đâu”.

Đúng, trong quan hệ quốc tế, hầu như không có ai cho không ai cái gì. Đó là chuyện bình thường. “Cho không” chỉ có trong quan hệ giữa những người ruột thịt, cha mẹ con cái mà thôi.

Nếu có “danh dự” cộng sản thì khi vạch áo lên để được chích những mũi vaccine của “đế quốc Mỹ”, tại sao chúng không khước từ? Nếu người CS có chút liêm sỉ, hãy công khai danh tính cán bộ cấp cao chích loại vaccine gì, để toàn bộ dân chúng được biết.

Khi bọn quan tham CSVN gửi con đi du học, sao chúng đều đâm đầu vào nước Mỹ, hoặc các nước “giãy chết” khác? “Danh dự” CS đâu rồi?

Người Việt bảo đây là thói “ghét người yêu của” của lũ đạo đức giả.

Nhân loại có câu: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Trong khi lạy van khắp nơi xin vaccines không được đáp ứng, nước cho vaccine Việt Nam nhiều nhất lại là thằng “giãy chết” mà đảng CSVN “thù muôn đời muôn kiếp không tan”.

Chưa biết Mỹ sẽ “đòi” cái gì để có đi có lại, nhưng trước mắt họ là người cứu mạng sống của người Việt, trong đó có quan lại cộng sản cấp cao của lũ DLV “theo đóm ăn tàn”.

Sự giúp đỡ “vô tư” của Liên Xô, Trung Quốc?

Trong cái hộp sọ của những kẻ đã bị nhồi sọ do chính sách ngu dân của đảng CSVN, chỉ có “Liên Xô, Trung Quốc, … giúp đỡ Việt Nam một cách vô tư”.

Cho đến hôm nay, theo quan sát của riêng tôi, nước duy nhất giúp VN thật sự vô tư chỉ có Thụy Điển. Họ không vì ý thức hệ, không vì phe … mà đơn giản là thấy “thương người VN”. Đó là lời của một nhân viên ngoại giao Thụy Điển trong những năm chiến tranh: Bệnh viện Nhi Hà Nội, BV Uông Bí, nhà máy Giấy Bãi Bằng, dự án chống Tham nhũng, …

Sau hết, chỉ vì có sự giúp đỡ “vô tư” của Liên Xô, nên Việt Nam mới có một chế độ CS phản dân hại nước như ngày nay.  Giúp đỡ ướp xác lãnh tụ, một kiểu giúp cho nhân dân và đất nước Việt Nam thêm đói nghèo và dốt nát.

Nạn xây dựng tượng đài lãnh tụ mấy năm gần đây khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam, kể cả tại những tỉnh “nghèo rớt mồng tơi” như Nghệ An, Sơn La, Quảng Trị, … là hậu quả của nạn sùng bái lãnh tụ, mà cao nhất là nạn ướp xác lãnh tụ.

Vô tư ư? Không có cơ hội nào tốt hơn để thử vũ khí bằng trên chiến trường thật. Người Việt giết nhau là cơ hội thử vũ khí rất tốt cho Liên Xô, Trung Quốc, vừa thử được vũ khí với Mỹ, vừa kìm chân được Mỹ.

Thống nhất đất nước cũng là mong muốn của người Việt, nhưng thống nhất mà đổ bao xương máu nhân dân, rồi mang lại một xã hội thối nát cả về tinh thần, đạo đức lẫn vật chất, một chế độ mà dân bị coi là “thế lực thù địch” như hiện nay, thì dân tộc này đã phải trả một cái giá quá đắt do những thằng ngu và điên gây ra.

Người Đức cũng thống nhất đất nước, nhưng họ chỉ tốn bia (beer) mà không tốn sinh mạng con người. Ai ngu?

Theo nhiều nhà phân tích, bài báo “Không thể xuyên tạc cuộc kháng chiến chính nghĩa dựa trên sự so sánh khập khiễng với Afghanistan” được tuyên giáo CS chọn đăng ngay trước khi một “cột điện” cấp khá cao của Mỹ sắp sang VN, có vài dụng ý: Một là để tỏ lòng trung thành và kiên định với ông chủ ở Trung Nam Hải, hai là kế ly gián, thọc gậy vào bánh xe để làm nản lòng người Mỹ.

Những câu chuyện về sự vô ơn, “ăn cháo đái bát” của người CSVN không phải bây giờ mới có. Họ có truyền thống ăn cháo, đái bát”.

Đại văn hào Miguel de Cervantes từng nói: “Những kẻ vô ơn luôn là những kẻ có tâm địa xấu xa”.