… sống đến chừng đó ĐỂ LÀM GÌ?

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Tuyet Loan

BS Nguyễn Bảo Trung

Bác sĩ nói anh còn sống 3 tháng nữa. Anh đã trở nên tức giận. Tại sao chỉ bao nhiêu đó thôi? Bác sĩ điềm nhiên hỏi: Thế anh muốn bao nhiêu? Anh bối rối: Chí ít tôi phải sống tới chín mươi hay một trăm tuổi chứ. Bác sĩ vẫn điềm nhiên: Để làm gì?

Ừ thì ai cũng muốn sống đến già như anh, anh biết đó, khi chúng ta 90 hay 100 tuổi, toàn cơ thể rệu rạo, mục nát thậm chí những việc đơn giản nhất ăn, ngủ, đi tiêu, đi tiểu … cũng không thể nữa, sống đến chừng đó ĐỂ LÀM GÌ?

Anh bối rối thật sự. Anh chưa bao giờ đặt câu hỏi với chính mình như vậy bao giờ. Anh muốn sống đến bao lâu? Sống để làm gì?

Anh cầm hồ sơ bệnh án lủi thủi ra về. Mới mấy giờ trước, anh còn bước đi vững chãi. Giám đốc một doanh nghiệp lớn đang phát triển hàng tỉ đồng. Vậy mà bác sĩ phán xong một câu, anh không còn như xưa nữa.

– Tôi còn rất nhiều việc để làm?

– Ví dụ đi.

– Công ty cần tôi.

– Không có anh thì người khác thay thôi. Biết đâu người thay anh giỏi hơn khiến công ty phát triển hơn.

– Tôi còn vợ con.

– Chẳng phải 5 năm rồi, anh không ân ái cùng vợ? Nếu có ân ái, anh có đắm mê thiết tha? Và anh cũng không biết thằng Tí có điểm môn Văn cuối kỳ bao nhiêu?

– Tôi phải đi làm kiếm tiền. Không có tiền thì không có hạnh phúc đâu. Không có tôi, vợ con tôi sao được như vậy.

– Họ đã quen sống không có anh giữa gia đình lâu rồi, dù anh vẫn đi đi về về trong nhà. Anh có nghĩ rằng khi anh buông tay ra, vợ anh sẽ hạnh phúc hơn không? Cô ấy sẽ tìm ra người yêu thương và chăm sóc cô ấy? Chúng ta nói yêu nhau, nhưng yêu như thế nào? Chúng ta có yêu nhưng lựa chọn bước đi về phía khác của người mình yêu?

– Bác sĩ …. Tại sao bác sĩ biết?

– Thì vợ anh cũng đến đây khám bệnh trầm cảm mất ngủ, lo âu.

– Thôi, bỏ vợ con qua một bên đi. Tôi còn nhiều việc phải làm lắm.

– Chẳng lẽ ba tháng không đủ?

– ….

– Tôi nghĩ anh biết trước được cái chết sẽ xảy ra trong ba tháng đối với mình, anh là người may mắn và hạnh phúc. Biết được để sắp xếp lại cuộc đời trước khi nói tạm biệt, để trân quí những tháng năm còn lại mà không sống lãng phí.

Biết bao người ngoài kia, trong đó có tôi, chẳng biết bao giờ mình chết. Lang thang vô định. Sống không chuẩn bị gì.

Tôi đã thấy những đứa trẻ chết già.

– Là sao bác sĩ?

– Là những người 80, 90 tuổi mới chết nhưng chưa trưởng thành đúng tuổi, tạm hiểu vậy.

– Nếu bác sĩ còn vài tháng để sống, bác sĩ sẽ làm gì?

– Tôi hả?

– Ừm ….

– Tôi …. Thật ra, tôi không có quá nhiều nỗi bận tâm. Tôi chỉ hơi lo một điều là ba mẹ tôi, không có tôi ở bên rồi sao đây? Tôi là nhà khoa học, bác sĩ, nhưng tôi tin vào duyên số của mỗi người nên tạm yên.

Tôi cứ sống cứ thở mỗi ngày thôi.

Những gì có thể làm có thể nói với nhau, tôi đều làm và nói.

Thậm chí tỏ tình với người xa lạ. Thích là thích ngay cái nhìn đầu tiên, thương là thương ngay cái chạm đầu tiên. Còn lại, tôi thấy có thể là thay thế, thói quen hay tương tự vậy.

Mà tôi cũng như anh, là người đi tìm. Tôi cũng khát giữa mênh mông biển.

Do mỗi ngày tôi đều đối mặt với tử sinh nên tôi hơi khác một chút. Bày tỏ ngay điều mình nghĩ. Buông nhanh hơn một chút.

Chúng ta mãi là cậu học trò.

Cuộc đời thì khảo thí không ngừng.

Khi thì bài thi là cái chết, mất mát.

Khi thì bài thi về lòng tin, yêu thương.

Khi thì bài thi về sự giàu có, quyền lực.

Dù chúng ta có giỏi cách mấy, điểm mỗi môn cao ngất ngưỡng, cuối cùng trung bình cộng lại vẫn bằng không?

– Rồi một ngày bác sĩ thốt lên: Mạch bằng không, huyết áp bằng không.

– Cả cuộc đời rồi bằng không.

Nhưng trước khi bằng không, chúng ta có thể cộng thêm vào đó những yêu thương, những sẻ chia, những bao dung, những lời thơ anh ạ …

Để hành trình này có ý nghĩa hơn.

Để sống 10 năm hay 100 năm, cũng thấy vui. Vui với tia nắng sớm mai. Vui với cơn mưa dầm tối qua.

Vui với nụ cười trẻ thơ.

Đừng sợ chết. Bởi cái chết không đến làm sao chấm dứt thân thể già nua, mục rữa.

Trước khi tan biến hãy cho thân thể sống với niềm hân hoan tan chảy.

Anh không thấy những chiếc lá nâu khô này đẹp lắm sao!

– Ơ, sao lúc nãy bác sĩ không nói với tôi.

– Chúng ta cần những khoảng lặng điểm dừng trong bài hát. Bài hát cao trào mãi sẽ mất hay.

BS Nguyễn Bảo Trung 

CHÚNG TA CẦN BÌNH AN LÚC NÀY

CHÚNG TA CẦN BÌNH AN LÚC NÀY

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Qua người bạn tôi nghe được câu chuyện thật buồn: khi biết mình nhiễm Covid-19, em đã chọn cách tự t tử để thoát khỏi nỗi sợ này.  Rồi hung tin ấy lan đến quê em, nhiều người nơi ấy cũng mất bình an và thêm phần lo lắng.  Mợ tôi cũng đã nhiễm virus với rất nhiều hoang mang lúc ban đầu.  Mợ chia sẻ: “Khi được đưa vào khu cách ly, mợ cảm giác khó thở vì sợ hãi đã xảy ra.  Mợ đã cố lấy lại bình tĩnh và cầu nguyện để biết mình cần làm gì lúc này.  Sau đó, nỗi sợ cũng qua và sức khỏe cũng dần dần tốt lên từng ngày.”  Tiếc rằng nỗi sợ, bất an là thực tế mà không ít người mắc phải.  Chút chia sẻ dưới đây hy vọng mỗi người tìm lại chút bình an trong những ngày khó khăn này.

Bạn thân mến,

Con người luôn có tính xã hội và thường bị ảnh hưởng của đám đông.  Đó là điều rất tự nhiên mà chúng ta thấy khi đại dịch xuất hiện, ngày càng có nhiều người hoang mang.  Nhất là khi gia đình có người là nạn nhân của con virus này, sự buồn bã và lo âu chắc tăng lên gấp bội.  Làm sao để cho tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến là điều không dễ chút nào.  Ai cũng thuộc lòng câu: “Dù ai nói ngả nói nghiêng… Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân,” nhưng mấy ai làm được?

Chắc hẳn ai cũng có cách để thích nghi với dịch bệnh.  Khi ở nhà, mỗi người đã có những sáng kiến để giữ cho bầu không khí gia đình được bình an.  Khi ở khu cách ly, mỗi người cũng cố gắng đón nhận hoàn cảnh và làm theo những hướng dẫn của bác sĩ y khoa.  Thậm chí trên giường bệnh, nhiều người cũng cố gắng lạc quan để cộng tác với bác sĩ trong tiến trình chữa trị.  Dù virus có đảo lộn mọi thứ, tác động khủng khiếp đến mọi khía cạnh của đời sống, nhưng chúng ta cần trấn an, nâng đỡ và cầu nguyện cho nhau, để mong cùng nhau vượt qua thách đố này trong an bình.  Bình an là khao khát muôn thuở của con người, nhất là những lúc khó khăn.  Không chỉ trong đại dịch lần này, nhưng mọi bôn ba của kiếp người chẳng phải để tìm được bình an đó sao?

Chắc ai cũng hiểu bình an là sự yên ổn, êm đềm của cuộc sống, là khỏe mạnh và thoát khỏi dịch bệnh.  Ở đó không có hận thù, sợ hãi và hoang mang.  Bình an trong tiếng Do Thái còn có nghĩa là an lạc, hạnh phúc.  Người Do Thái thường chào nhau với hai chữ: Bình an (Sa–lom).  Chào như thế vì họ không chỉ thể hiện tương quan với nhau, nhưng quan trọng hơn, họ có chung một Thiên Chúa là nguồn bình an cho con người.

Chúng ta thấy khung cảnh lúc Đức Giêsu chết cũng không khác nhiều bối cảnh lúc này.  Các môn đệ hoang mang cực độ.  Nơi các ông ở lúc đó đều cửa đóng then cài.  Phần vì các ông buồn bã trước cảnh tượng người ta giết thầy Giêsu, phần vì sợ người ta có thể ám hại cả các ông nữa.  Tính mạng của các ông không mấy an toàn lúc này, nếu ở những nơi công cộng.  Các ông buộc phải cách ly trong hoang mang!  Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các ông.

Chúng ta sẽ ngạc nhiên với câu nói đầu tiên của Đức Giêsu phục sinh: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19).  Đó không chỉ là lời chào thăm, nhưng còn là nguồn động viên, “xốc” lại tinh thần của các ông.  Đức Giêsu biết lúc này các ông thực sự cần bình an.  Dù ngoại cảnh có nhiều nguy hiểm, nhưng một khi tâm hồn được bình an, người ta có thể đón nhận được mọi thứ trong thanh thản.  Kết quả là các ông đã mở toang cửa để loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho toàn dân.  Các ông đến nơi đâu, cũng nói về câu chuyện Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại.  Chính Tin Mừng ấy trao rất nhiều bình an cho thính giả thời bấy giờ.  Bởi thế mà Giáo hội sơ khai tuy chịu nhiều bách bớ, nhưng người con của Chúa luôn cảm thấy bình an để làm chứng cho Tin Mừng này.

Thật đẹp khi trong cảnh khốn cùng này, ước sao nhiều người thốt lên với Đức Giêsu Phục Sinh: “Lạy Chúa xin ban bình an cho chúng con và toàn thế giới.”  Thiên Chúa là nguồn của mọi bình an (Ep 2,14).  Bình an của Thiên Chúa không như thế gian ban tặng.  Đó là bình an của tâm hồn, của niềm vui nội tâm và của tình yêu giữa thụ tạo với Đấng Tạo Thành.  Đó là quà tặng của Thiên Chúa cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài.  Nói cách khác, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta được một niềm vui sâu xa, một sự bình an bên trong và tự do.  Đừng quên bình an nội tâm là nền tảng của sự bình an trong gia đình, trong xã hội và trên thế giới.

Chắc hẳn khi ở nhà quá lâu, sống trong cảnh dịch bệnh kéo dài, nguy cơ mất bình an là có thật.  Bởi đó, người ta dễ dàng tìm thấy nhiều lời hướng dẫn hữu ích để tạo cho mình được bình an.  Là người Công giáo, chúng ta may mắn có Thiên Chúa luôn trao bình an cho mỗi người.  Dĩ nhiên bình an ấy không dành cho những ai lười biếng ngồi chờ sung rụng.  Thiên Chúa đòi con người cộng tác một chút, Ngài hứa sẽ ban bình an thật nhiều.  Bằng cách nào?

Trong câu hỏi trên, tôi tin ai cũng có câu trả lời cho riêng mình.  Giáo hội mời gọi con cái mình cầu nguyện, hướng đến đời sống nội tâm nhiều hơn lúc này.  Mỗi ngày dành cho Thiên Chúa chút không gian và thời gian, để cùng với Chúa vun đắp bình an cho tâm hồn mình.  Thực ra bất kỳ ai liên kết với Thiên Chúa, người ấy đều có được bình an đích thực.  Khi có bình an, người ta sẽ biết mình nên làm gì và cần phải làm gì trong thời gian đại dịch.  Hãy để sự bình an của Chúa cư ngụ trong tâm hồn mình và để Ngài cất bỏ những lo âu phiền muộn.  “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28) 

Hẳn là chúng ta được an ủi trước câu hỏi này: “Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không?”  An ủi vì: “Thiên Chúa không muốn cho con người phải đau khổ và phải chết.  Từ khởi thủy Thiên Chúa đã muốn cho con người sống nơi Địa Đàng, được sống mãi mãi, bình an giữa Thiên Chúa, mọi người, và vạn vật chung quanh.  Bình an giữa nam và nữ.” (Youcat số 66).  Tiếc là khi rời Vườn Địa Đàng, người ta luôn có nguy cơ mất sự bình an này.

Với chủ đề trên đây, hy vọng mỗi người nhắc mình cần bình an lúc này.  Thực tế là nhiều người quên mất mình đang sống trong bất an. Cảm giác ấy khó chịu vô cùng! Hãy dừng lại đôi chút để đọc xem điều gì đang diễn ra trong tâm hồn mình lúc này? Nhiều nhà thiêng liêng chỉ cho chúng ta cách để tìm lại được bình an: “Hãy giữ tâm hồn bạn bình an. Hãy để Thiên Chúa hành động trong bạn. Hãy đón nhận mọi tư tưởng nâng tâm hồn bạn lên tới Chúa. Hãy mở rộng cửa tâm hồn bạn.” (Thánh Inhaxiô Loyola). Nếu bạn đang thực sự bình an, hãy tạ ơn Chúa và tiếp tục vui sống với hồng ân của Chúa. Nếu lòng bạn đang biến động giữa xáo trộn vì Covid–19, thử áp dụng vài phương cách như thế cùng với Chúa xem sao? 

Chúng ta cùng cầu chúc cho nhau để mỗi người đón nhận được lời chúc lành của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em! Hy vọng bình an nội tâm sẽ là sức mạnh để mỗi người, cùng với Chúa và với nhau, vượt qua những khó khăn, bức xúc và phức tạp của hoàn cảnh hiện tại. Chúng ta cần bình an lúc này và ở đây!!!

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net

Các nhà khoa học nói gì về Thiên Chúa

Các nhà khoa học nói gì về Thiên Chúa:

  1. Ông A.Einstein, một bộ óc được đánh giá là thông minh nhất của thế kỷ hai mươi, đã thú nhận rằng: “Khoa học thế kỷ XX đã giải đáp được rất nhiều bí mật của vũ trụ. Nhưng những giải đáp này so với những cái bí mật còn lại thì chỉ là một giọt nước so với đại dương. Một giọt nước so với đại dương. Ôi khả năng của lý trí loài người”.
  2. Alexis Carrel, giải Nobel 1912, nhìn ngắm những kỳ diệu của vũ trụ cực tiểu là thân xác nhỏ bé của con người, ông đã thảng thốt kêu lên “Ôi, con người là một ẩn số”. Đó là tựa đề của cuốn sách thời danh của ông, L’homme, cet Inconnu.

Alexis Carrel, là một bác sĩ vô thần, đã theo đạo Công giáo, vì ông chứng kiến một hiện tượng khỏi bệnh mà khoa học không thể giải thích được. Ông phụ trách một toa xe chở bệnh nhân từ Paris về Lộ Đức. Trong số bệnh nhân này có một cô gái chân cao chân thấp, phải đi vẹo vọ. Thế mà sau khi cầu nguyện, hai chân cô lại dài ngắn bằng nhau, đi lại bình thường. Alexis Carrel, ngẩn ngơ. Lý trí của ông đầu hàng đức tin. Ông theo đạo và viết một tác phẩm lấy tựa đề là “Cầu nguyện” (La Prière).

  1. Lecomte du NoÜy là một nhà sinh vật học nổi tiếng. Ông đã theo đạo. Hỏi tại sao thì ông trả lời: “Vì trong đạo có nhiều mầu nhiệm mà tôi không hiểu được. Nếu tôi hiểu được, thì những mầu nhiệm ấy chỉ là những triết thuyết, những định luật khoa học, không đáng để tôi thờ…”.

CHIẾC ÁO VÀ SINH MỆNH

CHIẾC ÁO VÀ SINH MỆNH

Vài năm trước, tôi đi theo một đoàn từ thiện lên Tuyên Quang cùng vài chục tấn quần áo cho học sinh các huyện nghèo của tỉnh này. Hàng nghìn đứa trẻ có thêm chiếc áo ấm. Nhưng tôi nhớ nhất một em học sinh cấp 2, học nội trú.

Em rất thích một chiếc áo khoác màu trắng nhưng ngần ngại không dám lấy. Rồi cuối cùng em quyết định xin một chiếc áo màu đen. Hỏi ra mới biết là em sợ không có xà phòng để giặt áo màu trắng. Mặc áo đen thì được lâu ngày hơn. Đó sẽ là chiếc áo ấm lành lặn duy nhất mà em có.

Cô bé ấy mồ côi cha mẹ, chỉ có một người anh đang tha hương thỉnh thoảng mới có điều kiện chăm được em. Đứa trẻ mới mười tuổi đầu, nhưng đã phải tính toán, mang ý thức rằng một nhúm xà phòng cũng không miễn phí. Chúng tôi quyết định tặng em cả hai chiếc áo, màu trắng và màu đen.

Lũ trẻ nhận quần áo, phần lớn đều có ý thức chọn áo dài hơn người một chút, để sang năm, sang năm sau nữa khi đã cao lên, vẫn có thể mặc được.

Chiếc áo trắng và áo đen mà cô bé tần ngần lựa chọn, hoàn toàn không phải là một vấn đề xã hội. Nhưng với đứa nhỏ, nó lại là một vấn đề tinh thần lớn.

Tôi nhớ lại câu chuyện này khi đọc về em học sinh lớp 6 đã treo cổ tự tử ở Gia Lai. Câu chuyện đau buồn diễn ra ngay trước thềm khai giảng năm học mới. Người nhà nói, em buồn vì không có áo mới mặc đi học còn gia đình thì chưa có điều kiện để mua.

Cái nghèo có muôn vàn bộ mặt. Những hệ quả nó tạo ra có muôn hình vạn trạng mà chính sách không thể nắm bắt hết được. Chúng ta chỉ có một “chuẩn nghèo chính sách” – được đo đếm bằng mức sống tối thiểu – chứ các cơ quan chức năng không thể đo đếm nỗi niềm của một đứa trẻ con trước manh áo mới, nghĩ đến xà phòng giặt, nghĩ đến sự xấu hổ trước bạn bè, nghĩ đến đủ loại bi kịch tinh thần của lũ trẻ.

Tôi nói chuyện với cán bộ xã bên lề một cái đám ma ở Cao Bằng. Hai chị em người Mông, đều đang học tiểu học, bỗng một buổi trưa đi học về ăn lá ngón. Chuyện bi thương nhưng cán bộ xã chỉ biết nở những nụ cười méo mó. Họ bất lực, hoàn toàn không biết phải đối mặt với những vấn đề như thế ra sao; thậm chí sẽ không ai có thể biết được tại sao chúng quyết định tự tử. Người ta bảo, chúng đi học về, mở nồi chưa thấy cha mẹ nấu cơm, bèn ăn lá ngón….

Đức Hoàng.

http://vnexpress.net/…/g…/chiec-ao-va-sinh-menh-3460357.html

May be an image of 1 person, standing and outdoors

Không hiểu…

Không hiểu…

Bởi  AdminTD

 Chu Mộng Long

3-9-2021

Tư lệnh mặt trận giáo dục phát động: Mỗi trường học là một pháo đài, mỗi thầy, mỗi trò đều là chiến sỹ trên mặt trận chống dịch. Rồi phát động phong trào thi đua chống dịch. Không chừng nay mai khắp các trường học giăng thêm khẩu hiệu: “Thi đua chống dịch là yêu nước!”

Thời chiến, Cụ Hồ phát động: “Văn học nghệ thuật là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy!”. Nay Tư lệnh giáo dục phát động như vậy là đúng văn mẫu, có sáng tạo theo chủ đề, chủ điểm chống dịch. Quá tốt. Sĩ khí đang hăng, quân thanh càng mạnh. Đường ra trận mùa này đẹp lắm…

Nhiệt liệt hưởng ứng lời phát động của Tư lệnh. Hứa với Tư lệnh, Chu Mộng Long mà phát hiện được quân ôn dịch đâu là bắn sạch đó, không bỏ sót tên nào để lập thành tích. Có ngàn tên bắn ngàn tên, có triệu tên bắn triệu tên, hoặc bắt sống cả đám dâng hết lên cho Tư lệnh!

Nhưng chiến sỹ Chu Mộng Long thú thực không hiểu. Cả ngày ngơ ngác như bò đội nón. Tự thú nhận là tiến sỹ bò.

Thưa đồng chí Tư lệnh, tinh thần chống dịch đối với trường học và với giáo viên thì đã xác định ngay từ đầu, “chống dịch như chống giặc”. Đã thực hiện 5K, 5T nghiêm túc. Các hoạt động học tập, thi cử đang rút lui hết vào pháo đài online: họp online, dạy online, học online, thi online… Suốt cả kỳ hè, cả ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật, mỗi người đều trấn thủ trước lô cốt màn hình tại gia.

Có nghĩa là, theo Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, mỗi nhà đã là một pháo đài và tất cả đang trấn thủ, trừ những kẻ thiếu ý thức.

Nay Tư lệnh chỉ đạo, rằng “mỗi trường học là một pháo đài”, có nghĩa là không trấn thủ tại nhà nữa mà cả thầy lẫn trò phải tập trung đến trường để trấn thủ, bảo vệ nhà trường, không để nhà trường rơi vào tay dịch? Vậy nếu nhỡ dịch chui thủng vào phòng tuyến trường học diệt gọn cả thầy lẫn trò trong cái pháo đài ấy thì ai chịu trách nhiệm?

Mà quân ôn dịch thì cứ chỗ nào đông người là có nó, nó cứ từ trong đánh ra chứ có phải từ ngoài đánh vào đâu mà trấn thủ?

Khi ấy, hàng triệu giáo viên và học sinh thà chết đến người cuối cùng trong pháo đài chứ quyết không thoát ra ngoài hay đầu hàng dịch à? Có cần phải thi đua chết như vậy không?

Nếu buộc phải thực hiện mệnh lệnh như vậy, xin Tư lệnh tặng cho mỗi chiến sỹ một cái hũ trước để yên tâm chống dịch trong cực lạc.

Thật lòng thấy hoang mang quá! Mong đồng chí Tư lệnh mặt trận giải thích rõ…

THƯƠ NG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

THƯƠ NG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

     Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh.  Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu.  Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

 Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má.  Ông ấy chết rồi, chết thật rồi.  Zorba đã ra đi, đi mãi không về.  Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. …  Những linh hồn như thế sẽ không chết.  Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? …  Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy.”

 Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu.  Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa ri trần thế này.  Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết.  Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

 Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết.  Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này.  Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

 Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời.  Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo.  Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

 Ông đã rất nỗ lực!  Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu.  Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn.  Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống.  Tuy nhiên, là tín hữu Kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

 Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác.  Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài.  Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

 Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất?  Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này.  Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài).  Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

 Thế nghĩa là sao?  “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì?  “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra.  Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại.  Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa.  Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

 Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó.  Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được?  Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm.  Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

 Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả.  Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

NỤ HÔN CỦA VỊ THÁNH chứng minh cho nụ hôn của Ơn Gọi

NỤ HÔN CỦA VỊ THÁNH chứng minh cho nụ hôn của Ơn Gọi

The Kiss of A Saint…and also the kiss for Vocation…

The kiss of Saint John Paul II bring the Kids close to the priesthood life…

Câu chuyện tuyệt vời về một người mẹ mang cậu con trai của mình là Gioan-Phaolô Tôma đến với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để được chúc lành và hôn lên trán. Giờ đây thầy Gioan-Phaolô đang học để trở thành linh mục. Tất cả là hồng ân, mọi việc Chúa làm thật vĩ đại qua vị Thánh của Ngài…

Nguồn: John Glory Nguyen

May be an image of 3 people and text

Nữ điều dưỡng nhận ra bác sĩ là đứa trẻ sơ sinh gần 30 năm trước.

Van Pham

Câu chuyện thần tiên có thật dưới đây chỉ có thể xảy ra dưới một chế độ “nhân bản”, đặt nặng tình người… Bao giờ các nhân viên y tế tại VN trở thành những “từ mẫu” làm việc ở những “nhà thương” thay vì là viện này, viện kia?

***

Nữ điều dưỡng nhận ra bác sĩ là đứa trẻ sơ sinh gần 30 năm trước.

California – Một sự kiện xảy ra vào tháng này năm ngoái, cho thấy mối liên hệ gắn bó kéo dài giữa điều dưỡng viên phòng hồi sức đặc biệt cho trẻ sơ sanh (neonatal intensive care unit NICU), bà Vilma Wong, với các bệnh nhân tí hon của mình, ngay cả sau hơn 3 thập niên làm việc.

Theo bản tin của tờ báo San Jose Mercury News, nữ điều dưỡng Wong hồi đầu tháng qua đang trong giờ làm việc tại bệnh viện Lucile Packard Children’s Hospital thì thấy một người đàn ông trẻ tuổi, đứng gần một lồng nuôi trẻ sinh non.

Tất cả mọi nhân viên y tế đều phải đến thông báo ở bàn điều dưỡng chịu trách nhiệm khu vực này, trước khi khám các đứa trẻ sinh thiếu tháng, nhỏ bé và đầy những dây, ống thở trên người.

“Anh là ai?” bà Wong hỏi người sau đó được biết là bác sĩ thực tập năm thứ nhì ngành nhi khoa, ông Brandon Seminatore, đang được huấn luyện để trở thành bác sĩ thần kinh nhi khoa.

“Tên gia đình của anh ta nghe rất quen,” bà Wong kể lại. “Tôi mới hỏi rằng anh ta ở đâu và anh ta nói với tôi rằng anh ở San Jose, California, và đặc biệt hơn nữa, rằng anh từng là một trẻ sinh thiếu tháng ở bệnh viện này.”

Bà Wong giật mình, vì nhớ là vài chục năm trước đã từng là nữ điều dưỡng chính chăm sóc cho một đứa trẻ có cùng tên sinh ra khi chỉ mới được 29 tuần.

Để xác định điều đang nghi ngờ, bà Wong hỏi phải chăng cha của người bác sĩ này là cảnh sát viên.

Nữ điều dưỡng Wong kể lại: “Anh ta im lặng một lúc, rồi hỏi có phải tên tôi là Vilma.”

Bác Sĩ Seminatore bàng hoàng vì nữ điều dưỡng Wong vẫn còn nhớ việc chăm sóc cho ông ta 28 năm trước, trong số hàng chục ngàn đứa trẻ đã đến khu NICU này từ đó đến nay.

Trong gia đình của Bác Sĩ Seminatore, tên của nữ điều dưỡng Vilma Wong và Kas Pilon vẫn được nhắc tới vì sự tận tụy và lòng thương mến khi chăm sóc trẻ.

Mẹ của Bác Sĩ Seminatore, bà Laura Seminatore, từng là giáo viên mẫu giáo năm 1990, lúc đẻ đứa con trai, và nay là hiệu trưởng trường St. John Vianney Catholic School ở San Jose, nhắc lại: “Họ là những điều dưỡng viên tuyệt vời nhất. Họ giúp làm dịu sự lo lắng sợ hãi của chúng tôi.”

Khi bà Laura biết con mình sẽ đến thực tập một tháng tại khu NICU này, bà nhắc con nhớ hỏi về hai điều dưỡng kia.

Bác Sĩ Seminatore nói cuộc gặp gỡ này như trong giấc mơ, vì nghĩ bà Wong nay chắc đã nghỉ hưu.

“Tôi nay có cơ hội chăm sóc cho các đứa trẻ cùng với người nữ điều dưỡng từng chăm sóc tôi,” Bác Sĩ Seminatore nói tiếp.

Câu chuyện này được phổ biến trên Facebook, cũng khiến có nhiều người chia sẻ các kỷ niệm của họ với nữ điều dưỡng Vilma Wong.

Có một số gia đình nói rằng họ luôn nhớ tới “Dì Vilma.”

Một phụ nữ viết rằng: “Vilma cũng giống như người mẹ thứ nhì của con trai tôi.”

Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý:

Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý:

Ở Trung Quốc những năm gần đây, nhiều trường có cả chuyên ngành Đại học gọi là ‘Việt Nam học’. Khi vào đây, sinh viên Trung Quốc sẽ được học tiếng Việt với đầy đủ kỹ năng đọc, hiểu, nói, viết thành thạo như một người Việt bản địa. Không chỉ dừng lại ở đào tạo ngôn ngữ, những sinh viên này còn được đào tạo rất chuyên sâu về lịch sử, văn hoá, chính trị của Việt Nam… nhưng luôn kèm theo câu [do người Trung Quốc phát minh].

Việc này đã tạo ra những ‘đội quân’ người Trung Quốc hiểu về Việt Nam, cập nhật rất rõ tình hình của Việt Nam, họ sử dụng mạng xã hội Facebook dưới tên Việt Nam, tham gia vào các diễn đàn mạng xã hội tại Việt Nam và tương tác rất tích cực.

Tuy nhiên, ở ‘đội quân’ này có khả nhiều mặt trái, vì biết rõ tiếng Việt, dùng facebook dưới tên Việt nên khi tham gia các cuộc tranh luận hoặc đưa tin họ thường cố tình đứng ở vị trí của một người Việt Nam để tham gia tranh luận hoặc đưa thông tin, rất nhiều thông tin trong số đó có sự đánh tráo khái niệm, bịa đặt về tình hình Việt Nam, so sánh với Trung Quốc, tạo mâu thuẫn, nghi ngờ trong dư luận.

Thủ đoạn thường thấy là các facebook đặt tên Việt (kiểu như Hoa Quốc Phong, Tiêu Bá Dương, Thạch Anh…), tự nhận bản thân là một người thuộc vùng miền, địa phương nào đó của Việt Nam, sau đó dùng các thông tin xuyên tạc, bịa đặt để kích động tranh cãi, chửi bới để gây xung đột vùng miền, chia rẽ sự đoàn kết. Nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử của Việt Nam bị nhóm này cố ý xuyên tạc hoặc đánh tráo khái niệm để người đọc, người xem lầm tưởng và hạ thấp giá trị văn hoá, lịch sử của Việt Nam và đặc biệt là tấn công vào chủ quyền của Việt Nam với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Những kẻ này ở nhiều cuộc tranh luận đóng vai trò khơi mào, dẫn dắt, thổi bùng vấn đề, tạo tranh cãi nảy lửa rồi âm thầm rút. Một số kẻ lợi dụng các idol Trung Quốc để lôi kéo người Việt Nam tuyên truyền trá hình cho đường lưỡi bò với những luận điệu đại loại như “yêu nước nhưng vẫn đu idol” hay “Hoàng Sa, Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm từ lâu”, “chủ quyền Việt Nam, chính trị không liên quan đến nghệ thuật”… hay xuyên tạc lịch sử như: “Cái áo, cái quần của triều đại A, B của Việt Nam là ăn cắp từ Trung Quốc”, “Việt Nam không tự sáng tạo ra các lễ nghi mà phải sao chép, ăn cắp, học lỏm từ Trung Quốc”… Lẽ dĩ nhiên, những luận điệu này cũng được sự chia sẻ của một số các bạn trẻ của Việt Nam – thường được cộng đồng mạng gọi là “Mị Châu”, những bạn trẻ này thiếu kiến thức, nhẹ dạ, khả năng lập luận tư duy kém nên khi nghe những luận điệu kiểu “7 phần là sai 3 phần là đúng” được tuyên truyền đã vội tin tưởng và lặp lại những luận điệu đó.

Trên thực tế, các admin ARA cũng từng gặp những trường hợp tương tự như vậy, thông thường khi tranh luận với những đối tượng này chúng sẽ đưa ra các thông tin rất chung chung, không có dẫn chứng cụ thể, loanh quanh và luôn có xu hướng hạ thấp Việt Nam.

Tại Trung Quốc, những người này được gọi là [Tiểu Phấn Hồng]. Xu hướng này xuất hiện trong thời gian gần đây và có lẽ cần phải có sự theo dõi và nghiên cứu về cách thức hoạt động của nhóm này nhằm đưa ra các biện pháp đấu tranh phù hợp.

Andy Nguyen

Nguồn FB Nguyen Khanh Tram https://www.facebook.com/100064585164895/posts/207283398101164/?d=n

———-

Ảnh dưới là nghi ngờ Việt gian hoặc là người TQ rành tiếng Việt, một “ Tiểu Phấn Hồng “ tiêu biểu, có tên nick “Nguyễn Thu Hường “ với trên 10.000 người theo dõi, ả chuyên Comment dạo có quan điểm giống 100% hoàn cầu thời báo của ĐCSTQ và …

https://www.facebook.com/pigcat 

 

CÂM ĐIẾC TÂM LINH

CÂM ĐIẾC TÂM LINH

 Cha Mark Link, S.J.

Một phụ nữ kia có người bạn bị điếc.  Ngày nọ bà ta hỏi người bạn muốn được tặng gì vào ngày sinh nhật.  Người bạn ấy đáp lại thật bất ngờ: Xin bạn hãy vui lòng viết thư cho Ann Landers yêu cầu bà ta in lại bảng kinh cầu nguyện cho người điếc.  Bà ấy đã từng in nó trước đây vào mục của bà trong một tờ báo, nhưng tôi đã đánh mất bản sao mục đó rồi!  Thế là người phụ nữ đã viết thư cho Ann Landers.  Và vào ngày 1.6 ngày sinh nhật của cô bạn, bà Ann đã in lại lời cầu nguyện đó trong cột báo của mình.  Một đoạn trong lời cầu đó như sau:

            “Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà người điếc phải gánh chịu là đa số thiên hạ xem họ như những người chuyên làm phiền người khác.  Người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc.  Kết quả là người điếc thường phải trốn lánh bạn bè và càng ngày càng trở nên khép kín” (William Barclay).

             Lời kinh trên cho chúng ta thấy một nỗi niềm, một uẩn khúc nào đó của người điếc mà chúng ta thường ít người nhận ra được.  Đa số chúng ta đều cho rằng mù thì tệ hại hơn điếc.  Thế nhưng Helen Keller vừa bị mù lẫn điếc thì cho rằng bị điếc không nghe được, thì quả là phần lớn những cánh cửa trong cuộc đời ta đã bị khép chặt lại, chẳng hạn: mở radio thì chả hiểu gì, xem truyền hình cũng chả thú vị gì mà còn phát chán, và hầu như không thể trò chuyện với ai được cả.  Vì thế, sau một thời gian chúng ta sẽ cảm thấy cô đơn như bị bỏ rơi.

***************************************

            Câu chuyện về người điếc nói trên giúp ta hiểu rõ hơn bài Phúc Âm hôm nay.  Nó giúp ta hiểu được người câm điếc vui sướng như thế nào sau khi được Chúa Giêsu chữa lành. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh ta cảm nếm được một phần nào vui thú của cuộc sống.

            Điều này dẫn chúng ta đến một vài câu hỏi:

–    Tại sao Chúa Giêsu đã chữa lành người câm điếc ấy?

–    Tại sao Ngài đã khai thông lỗ tai người ấy?

–    Tại sao Ngài đã phục hồi miệng lưỡi người ấy?

            Câu trả lời nằm trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay.  Trong lời mô tả vài dấu chỉ sẽ xảy ra khi Đấng Mêsia đến, tiên tri Isaia đã nói: “Kẻ điếc sẽ được nghe, ai không nói được sẽ mừng rỡ reo lên…”  Qua việc chữa lành người câm điếc trên, Chúa Giêsu đã hoàn tất hai dấu chỉ mà tiên tri Isaia đã nói để giúp dân chúng nhận ra Đấng Mêsia.  Vậy, một trong những mục đích của việc chữa lành ngày hôm nay là xác nhận rõ hơn Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

            Tuy nhiên, việc chữa lành ngườì câm điếc kia còn tỏ lộ một điều ẩn kín nào đó nơi bản thân Đức Giêsu.  Nó cho ta thấy Đức Giêsu là một mẫu người giàu lòng thương xót.  Điều này đặc biệt biểu lộ qua cung cách Ngài tách biệt anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông.  Như ta biết, người điếc thường hay mặc cảm nên lúng túng trước tình cảnh của mình.  Họ không hiểu ất giáp gì cả khi nghe người ta hỏi, nên họ luôn cảm thấy mình như ở ngoài rìa.  Vì thế khi dẫn anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông, Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng xót thương thực sự của Ngài đối với anh, Ngài rất nhạy cảm đối với tình cảnh đáng thương của anh.  Như thế ngoài việc tỏ cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, việc chữa lành người câm điếc còn cho ta thấy rõ lòng thương xót của Đức Giêsu.

            Cuối cùng, việc Đức Giêsu chữa lành cho người câm điếc đã tạo nên nguồn hy vọng cho chúng ta là những kẻ đang sống ở thời đại ngày nay.

            Trạng thái của người câm điếc không giống trạng thái của riêng chúng ta.  Nhiều người trong chúng ta không điếc về thể lý nhưng lại điếc về tâm linh.  Chúng tôi muốn ám chỉ gì đây? Hãy dùng một ví dụ để làm sáng tỏ.

            Mới đây một bà mẹ và ông bố đến thăm đứa con gái của họ đang lâm trọng bệnh ở nhà thương.  Ngay khi họ lái xe rời bệnh viện, bà mẹ bắt đầu vừa khóc vừa nói; Anh Ron ơi, em chả biết rõ điều gì đang xảy đến cho em, lẽ ra 10 năm trước em có thể cầu nguyện với tất cả tấm lòng cho con gái chúng ta.  Lẽ ra em có thể trình bày với Chúa về nó, và lẽ ra em có thể nghe lời Chúa dặn dò em “Đừng lo.  Thế nhưng em không còn làm điều ấy được nữa.  Em không còn cầu nguyện được nữa, em không thể nói chuyện với Chúa như em đã thường làm.  Hình như về mặt thiêng liêng em đã trở nên như câm như điếc.”

            Câu chuyện trên mô tả tình trạng của nhiều người trong chúng ta.  Chúng ta đôi lúc cũng cảm thấy khó cầu nguyện khác với chúng ta ngày xưa.  Chúng ta cũng cảm thấy khó đối thoại với Chúa và chúng ta cũng cảm thấy khó khăn trong việc nghe Chúa nói với chúng ta.  Vậy trong trường hợp này, chúng ta phải làm gì?  Câu trả lời đã nằm sẵn trong bài Phúc Âm hôm nay.  Chúng ta có thể bắt chước người câm điếc trên, nghĩa là tìm kiếm Chúa Giêsu, cùng Ngài bước ra khỏi đám đông và tận hưởng đôi chút thời gian bên sự hiện diện có khả năng chữa lành của Ngài.

            Bài Phúc Âm hôm nay khuyên chúng ta nên tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Giêsu để Ngài mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài đặt ngón tay của Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta.  Nói cụ thể hơn, Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm lại những gì chúng ta đã từng có thói quen hay làm, tức là bỏ ra ít phút mỗi ngày để cầu nguyện, để Chúa Giêsu thực hiện nơi chúng ta điều Ngài đã làm cho người câm điếc ấy, nghĩa là bài Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu chữa lành bệnh câm điếc của chúng ta.

            Như thế, câu chuyện người câm điếc trên nói với chúng ta 3 điều:

–  Thứ nhất, nó mặc khải cho chúng ta Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia của Israel đã được mong đợi từ lâu.  Đức Giêsu đã thực hiện điều mà Isaia tiên báo Đấng Mêsia sẽ làm, tức là cho người điếc được nghe và người câm nói được.

–  Thứ hai, câu chuyện người câm điếc mặc khải cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng xót thương.  Ngài đưa người điếc ra khỏi đám đông để chữa lành cho người ấy.  Ngài không biến người ấy thành trò cười cho thiên hạ mà muốn tiếp xúc thân mật riêng tư với người ấy.

–   Cuối cùng, bài Phúc Âm mặc khải cho chúng ta phương pháp giải quyết các vấn nạn mà nhiều người trong chúng ta đang gặp phải ngày hôm nay. Đó là chúng ta không còn cầu nguyện được nữa, không còn thưa chuyện với Chúa, lắng nghe lời Ngài nói trong tâm hồn chúng ta được nữa. Về mặt thiêng liêng quả thực chúng ta đang bị câm điếc.

            Để tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề khổ tâm này, chúng ta hãy bắt chước người câm điếc, là tìm kiếm Chúa Giêsu và xin Ngài chữa lành chúng ta.  Cụ thể hơn, chúng ta hãy để riêng vài phút mỗi ngày tiếp xúc với Chúa Giêsu ngõ hầu Ngài sẽ chữa lành và làm cho chúng ta hoàn toàn khoẻ mạnh trở lại.

Cha Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim

Câu chuyện làm người tử tế…

May be an image of child and standing

Le Tu Ngoc

Chiều đi làm về quá đói bụng, ghé tiệm xôi ở Nguyễn Văn Đậu. Đợi mua xôi, lấy điện thoại gọi cho đứa bạn, tự nhiên có thằng nhỏ đâu nhảy ra, làm giật cả mình:

– Chú ơi, đừng xài điện thoại ở đây, dễ bị giật lắm.

Mình gật gù, ờ ờ…

– Con biết chú không mua vé số đâu, nhưng nếu được, chú ủng hộ con 1 tờ thôi?

– Sao biết chú không mua? Cho 1 tờ đi – mình bảo.

– Dạ, con cảm ơn chú.

– Con ăn gì chưa, chú bao con hộp xôi nha.

Nó gật đầu, lí nhí cảm ơn.

– Cô ơi, phần xôi của con cô tách làm đôi để trong bịch ni-lông giúp. Nó dặn chị bán xôi.

– Ăn bịch ni-lông độc lắm – mình bảo.

– Tại nếu con xin thêm cái hộp thì tội cô bán xôi. Con để dành cho nhỏ em cũng đang bán vé số chắc chưa ăn gì.

– Chị, vậy cho thằng nhỏ thêm 1 hộp nữa nha, rồi tính cho em luôn.

Thằng nhỏ cầm 2 hộp xôi, rối rít cảm ơn rồi chạy vụt đi. Chị bán xôi góp chuyện:

– Nhìn vậy chớ có lòng lắm. Hôm rồi trời mưa to, thấy người ta bị tắt máy xe, nó lao ra phụ đẩy, cái rồi bị rớt xấp vé số xuống nước, thương gì đâu. Mười ngàn, em.

– Ủa, 3 hộp sao có 10 ngàn?

– Hổng có em tui cũng cho nó mà. Tính hộp của em thôi.

Tự nhiên nghe mắt cay cay… Cổ họng tôi như nghẹn lại…

Vui quá, tôi chợt hát nghêu ngao một mình: “Phố thị đông, người đông đông/ Tôi như đứa nhóc lông bông, chơi xa mà không về nhà…”

Đừng trách con người, nên chăng trách những này nọ làm họ quay lưng lại với nhau. Đâu cần làm ông nọ bà kia, đâu cần phải vinh hoa, phú quý… Ai đó đã nói: “làm người tử tế trước khi làm người có học”.

Ảnh: Minh họa.

Câu chuyện được chia sẻ từ : fb Trung Lê Quang | #toilanguoisaigon