Bài diễn văn từ chức và giải tán Liên Xô vào ngày 25 tháng 12 năm 1991

Bài diễn văn từ chức và giải tán Liên Xô vào ngày 25 tháng 12 năm 1991

Mikhail Gorbachev * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Đồng bào thân mến! Các công dân thân mến!

Do tình hình hiện nay và sự thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, tôi vì thế giờ đây chấm dứt các hoạt động của tôi trên cương vị Chủ tịch Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Tôi đi đến quyết định này vì lý do nguyên tắc.

Tôi đã thường xuyên lên tiếng kiên quyết ủng hộ tự trị và độc lập của các quốc gia và chủ quyền của các nước cộng hoà. Nhưng đồng thời, tôi ủng hộ gìn giữ nhà nước liên bang và sự toàn vẹn của nước này.

Các sự kiện diễn ra theo hướng khác. Khuynh hướng thắng thế hiện nay là chia cắt đất nước này và làm tan rã nhà nước, đây là điều tôi không thể chấp nhận.

Lập trường của tôi về vấn đề này đã không thay đổi sau hội nghị Alma Ata và sau khi các quyết định được thông qua ở đấy.

Hơn nữa, tôi tin chắc rằng những quyết định quan trọng như thế lẽ ra phải được ý dân thông qua.

Tuy nhiên, tôi sẽ làm mọi thứ trong quyền lực của mình để bảo đảm những hiệp ước Alma Ata sẽ mang lại đoàn kết thực sự cho xã hội chúng ta và mở đường thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, tạo thuận lợi cho quá trình cải cách lâu dài.

Phát biểu lần cuối cùng trước đồng bào trên cương vị Chủ tịch Liên Xô, tôi thấy cần thiết phải bày tỏ lập trường của mình về con đường chúng ta đã bắt đầu từ năm 1985- đặc biệt vì có nhiều phán xét chủ quan, hời hợt, gây tranh cãi.

Số phận đã định rằng, khi tôi trở thành người đứng đầu nhà nước, thì đất nước này đã có điều gì đấy không ổn rồi. Chúng ta có mọi thứ: đất đai, dầu mỏ, khí đốt, và các tài nguyên khác, và Chúa cũng phú cho chúng ta nhiều trí tuệ và tài năng, tuy nhiên chúng ta sống tồi tệ hơn nhân dân ở các nước đã công nghiệp hoá khác và chúng ta càng ngày càng lạc hậu so với họ.

Lý do thì cũng đã rõ ràng ngay cả vào thời ấy- xã hội chúng ta bị bóp nghẹt trong gọng kềm của chế độ chỉ huy quan liêu. Quốc gia này gần như bắt đầu suy sụp vì bị bắt phải phục vụ ý thức hệ và phải gánh vác gánh nặng cuộc chạy đua vũ trang.

Tất cả các cuộc cải cách nửa vời- và đã có nhiều cuộc cải cách như thế-đều lần lượt thất bại. Đất nước này bắt đầu mất phương hướng. Chúng ta không thể sống mãi như thế. Chúng ta phải thay đổi căn bản mọi thứ.

Chính vì lý do này, tôi không bao giờ hối tiếc là tôi đã không dùng chức vụ Tổng Bí thư của mình để chỉ “ ngự trị “ trong vài năm. Tôi coi cầm quyền như thế là vô trách nhiệm và vô đạo đức.

Tôi cũng hiểu bắt đầu những cuộc cải cách trên phạm vi lớn như thế trong xã hội giống như xã hội chúng ta là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và cả rủi ro. Nhưng ngay cả bây giờ, tôi vẫn tin chắc rằng các cuộc cải cách dân chủ khởi đầu vào mùa xuân năm 1985 là đúng đắn về lịch sử.

Quá trình đổi mới quốc gia này và tạo ra những thay đổi cơ bản trong cộng đồng quốc tế hoá ra phức tạp hơn ban đầu ta tưởng. Tuy nhiên, chúng ta hãy công nhận những gì cho đến nay chúng ta đã đạt được.

Xã hội đã đạt đuợc tự do; xã hội đã được giải phóng về chính trị và tinh thần, và đây là thành tựu quan trọng nhất-mà chúng ta chưa hiểu hoàn toàn, một phần vì chúng ta chưa học cách dùng tự do.

Tuy nhiên, chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử:

Chế độ toàn trị mà từ lâu đã ngăn cản quốc gia này trở thành một nước cường thịnh đã bị xoá bỏ.

Con đường cải cách dân chủ đã được khai thông. Tự do bầu cử, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, cơ quan lập pháp đại diện cho dân, và một chế độ đa đảng tất cả đều đã trở thành hiện thực. Nhân quyền được coi là nguyên tắc tối cao và là ưu tiên hàng đầu.

Chúng ta đã bắt đầu chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, và chúng ta đang xác lập sự bình đẳng của tất cả các hình thức sở hữu. Nhờ cải cách ruộng đất, giai cấp nông dân bắt đầu hồi sinh, những nông dân cá thể đã xuất hiện và hàng triệu mẫu đất đã được cấp cho những người sống ở nông thôn và thị thành. Luật về tự do kinh tế của người sản xuất đã được ban hành, còn sự tự do kinh doanh, sự ra đời các công ty cổ phần và tư nhân hoá vẫn đang diễn ra.

Khi nền kinh tế chuyển sang thị trường tự do, chúng ta không được quên rằng sự cải cách này được thực hiện vì lợi ích của con người. Trong thời khó khăn này người ta phải làm mọi thứ để bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người, đặc biệt cho người già và trẻ em.

Chúng ta bây giờ sống trong một thế giới mới:

Chiến tranh lạnh và cuộc chạy đua vũ trang đã chấm dứt, và việc quân sự hoá điên cuồng của nước ta mà vốn làm suy yếu nền kinh tế của chúng ta, bóp méo tư duy của chúng ta và tổn hại đến đạo đức của chúng ta cũng không còn nữa. Nguy cơ thế chiến cũng không còn. Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là về phần mình tôi đã làm mọi thứ trong thời kỳ chuyển tiếp này để bảo đảm việc kiểm soát an toàn vũ khí hạt nhân.

Chúng ta đã mở lòng ra với thế giới, từ bỏ việc can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và xử dụng quân đội ngoài biên giới nước ta. Nhờ thế chúng ta nhận lại được sự tin tưởng, đoàn kết, và tôn trọng.

Chúng ta đã trở thành một thành trì chính của công cuộc tái cấu trúc nền văn minh hiện đại trên nền tảng dân chủ và hoà bình.

Các dân tộc và các quốc gia của nước này đã đạt được quyền tự do chọn cho mình con đường tự quyết. Cuộc mưu cầu cải cách dân chủ của nhà nước đa quốc gia chúng ta đã đưa chúng ta đến thời điểm chúng ta sắp ký một hiệp ước liên bang mới.

Tất cả những thay đổi này đều đòi hỏi sự căng thẳng vô cùng và đều được thực hiện trong hoàn cảnh của cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại sự kháng cự ngày càng gia tăng từ những thế lực cũ, lạc hậu và phản động- những cấu trúc Đảng và nhà nước và bộ máy quản lý kinh tế cũ- cũng như thói quen, thành kiến ý thức hệ, tâm lý bình đẳng và ăn bám của chúng ta. Sự thay đổi ấy đã vấp phải sự không khoan dung, trình độ văn hoá chính trị thấp và sợ thay đổi của chúng ta. Vì thế chúng ta đã phí rất nhiều thời gian. Hệ thống cũ sụp đổ trước khi hệ thống mới có thể bắt đầu hoạt động. Và cuộc khủng hoảng trong xã hội chúng ta lại càng trở nên gay gắt hơn.

Tôi ý thức về sự bất mãn trong dân chúng về tình hình nghiêm trọng ngày nay. Tôi nhận thấy chính quyền ở mọi cấp và bản thân tôi đều bị chỉ trích gay gắt. Tuy vậy tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là trong một đất nước rộng lớn như vậy, và cũng xét đến di sản của nó, thì những thay đổi cơ bản không thể nào được thực hiện được mà không có bao khó khăn và đau đớn.

Cuộc đảo chính tháng Tám đã đưa cuộc khủng hoảng chung lên đến đỉnh cao nhất. Điều tai hại nhất về cuộc khủng hoảng này là sự sụp đổ của nhà nước. Và hôm nay tôi lo ngại các công dân chúng ta không còn là công dân của một cường quốc nữa-hậu quả của điều này có thể là nghiêm trọng đối với tất cả chúng ta.

Tôi coi vấn đề quan trọng sinh tử là gìn giữ những thành tựu dân chủ đã đạt được trong vài năm qua. Chúng ta đã trả giá cho những thành tựu dân chủ này bằng toàn bộ lịch sử đau khổ của chúng ta và kinh nghiệm bi thảm của chúng ta. Cho nên chúng ta trong bất kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ lý do nào, cũng không được từ bỏ những thành tựu này. Nếu không, tất cả bao hy vọng của chúng ta về tương lai tươi sáng sẽ bị chôn vùi. Tôi thành tâm và thẳng thắn nói với đồng bào tất cả điều này vì tôi coi đây là trách nhiệm đạo đức của tôi.

Hôm nay tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những công dân đã ủng hộ chính sách đổi mới nước này và tham gia vào các cuộc cải cách xã hội.

Tôi cảm ơn những chính khách, những nhà chính trị và người của công chúng cũng như hàng triệu người bình thường ở các nước khác đã hiểu được các mục tiêu của chúng ta và ủng hộ chúng ta, thỏa hiệp với chúng ta. Tôi cảm ơn họ hợp tác chân thành với chúng ta.

Tôi rời bỏ chức vụ này với bao lo ngại- nhưng cũng với bao hy vọng và niềm tin vào đồng bào, vào sự chín chắn và sức mạnh tinh thần của đồng bào. Chúng ta là những người kế thừa di sản của một nền văn minh lớn, cho nên sự hồi sinh của nền văn minh này thành cuộc sống mới, hiện đại và tử tế giờ đây phụ thuộc vào mỗi người và tất cả mọi người. Tôi muốn tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người trong suốt những năm qua đã sát cánh bên tôi bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa và cao quý này.

Tất nhiên, có những sai lầm có thể tránh được, và có nhiều thứ có thể làm tốt hơn. Nhưng tôi tin chắc rằng chẳng sớm thì muộn các nỗ lực chung của chúng ta sẽ có kết quả và các dân tộc chúng ta sẽ sống trong xã hội dân chủ và thịnh vượng.

Tôi chúc mọi người tất cả những điều tốt đẹp nhất.

Nguồn:

Bản dịch tiếng Việt được dịch từ tác phẩm “Hồi ký” của Mikhail Gorbachev và có tham khảo bản dịch tiếng Anh của đài CNN từ tiếng Nga.

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Tâm sự lúc nửa đêm…

Tâm sự lúc nửa đêm…

Bởi  AdminTD

Hoàng Hà

9-1-2022

Mãi mà không ngủ được, không biết đêm nay có bao người không ngủ? Cứ miên man nhớ về cái đêm hôm ấy trong nỗi đau thắt ruột.

Rồi nghĩ về bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” của nhà văn Phùng Gia Lộc, viết từ cuối thập niên 80 ở thế kỷ 20. Bút ký kể về những cường hào mới ở nông thôn, tức là những cán bộ công chức sở tại. Những dòng chữ rút ruột từ nỗi uất ức, cay đắng, thảng thốt, ngỡ ngàng của Phùng Gia Lộc đã tạo nên một “cơn địa chấn”.

Sau khi bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” được xuất bản, người ta cáo buộc nhà văn là “tên bồi bút phản động”. Nhà văn phải trốn khỏi quê, ra Hà Nội sống nương tựa nhà bạn, sau được nhiều người bí mật giúp đỡ mà nhà văn được về nhà, vợ con nuôi giấu một thời gian. Chỉ đến khi Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa bị kỷ luật, cách chức, thì nhà văn Phùng Gia Lộc mới có cuộc sống bình thường. Cho đến đầu thập niên thế kỷ 21, “Cái đêm hôm ấy…đêm gì” lại được báo Tuổi Trẻ tái bản, cùng với loạt bài “Đêm trước đổi mới”.

Rồi chưa đến 15 năm, sau khi “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” được tái bản, cũng chỉ vì đưa lên truyền thông về cái đêm hôm ấy ở Đồng Tâm mà có gia đình mấy người ở Dương Nội cũng bị coi là phản động, bị kết án tù.

Liệu rằng lịch sử có nhanh chóng lặp lại để những người tù ở Dương Nội nói về “cái đêm hôm ấy” ở Đồng Tâm được trở lại cuộc sống bình thường.

Và cho cả những người dân ở Đồng Tâm bị tù tội nữa, để không còn những tiếng khóc nức nở hằng đêm của những người bà, người mẹ, người vợ, người con dâu, người cháu dâu…

Và tâm sự lúc nửa đêm của những người đàn bà ấy được nhiều người thấu hiểu…

Có những tâm sự rằng:

– Buồn lắm, giờ ở nhà toàn mấy chị em đàn bà, như thân cò lặn lội nuôi con… Mấy chị em thương nhau lắm…

– Nay N nó biết chồng nó phải ra ngoài lao động cự nhọc, nó khóc suốt, thế là mấy chị em xuống nó chơi… Đêm nay mấy đứa, chẳng đứa nào ngủ được.

– Thiệt thòi nhất chị H, vợ anh C, với chồng và hai con như thế, quanh năm suốt tháng lúc nào cũng héo hon, lo lắng, nước mắt chảy quanh.

– Những người vợ khác còn tháng được nghe chồng gọi về, còn chị H một năm nay không biết tin tức gì.

– Nhà mình như thế mà có đứa vẫn đến lừa, hôm nọ có thằng đến nói như đúng rồi í. Nó nói, nó là tù mới ra. Nó nói anh ấy thế này thế kia, song, quay ra nó xin tiền. Nó còn đến nhà NQ nữa, nhà í cũng cho nó 1 triệu với nhà anh C nữa. Khốn nạn, nó biết tâm lý của những người “đói tin” nên dễ lừa…

– Vừa ra nhà ông thắp hương về, con gái chạy ra khóc, hỏi thì vừa khóc vừa nói không lên lời: Con sợ lắm, sợ mẹ lại bỏ con (tội thân, con bé luôn bị ám ảnh cái ngày cả bố mẹ cùng bị bắt đi, chị em nó còn bé tí, đứa sống với bà, đứa vào trong Nam với bác…)

– …

Lại có người một hôm nửa đêm đau đớn thốt lên: “Trời ơi oan nghiệt quá! Phải chi năm ấy dịch đến Việt Nam sớm hơn một tháng thì sự kiện Đồng Tâm đã không xảy ra… không có cái chết của ông già gần 60 năm tuổi đảng, lúc nào cũng tin tưởng vào đảng; không có gần 30 con người nông dân chất phác phải chịu án tử hình và tù tội; không có một làng quê chảy máu và những đêm dài nức nở đau thương…?” …

Nỗi đau như xoáy vào tận tâm can.

Mãi không ngủ được. Mong đêm tối chóng qua đi, ngày mai trời lại sáng.

2h đêm ngày 9 /1/2022

Gone with the wind – Cuốn theo chiều gió

Gone with the wind – Cuốn theo chiều gió

“Gone with the wind” là một tác phẩm nổi tiếng thế giới, được Margaret Mitchell (1900-1949) sáng tác vào năm 1937. Đây cũng là tác phẩm duy nhất trong sự nghiệp văn chương của bà viết về cuộc nội chiến Nam – Bắc Hoa Kỳ, dựa vào bối cảnh tại Georgia và Atlanta thuộc miền Nam trong suốt thời chiến tranh và tái thiết đất nước.

Margaret Mitchell (1900-1949) và tác phẩm

Tác phẩm đã được dịch sang rất nhiều thứ tiếng, riêng về tiếng Việt đã có rất nhiều bản dịch với cùng một nhan đề là “Cuốn theo chiều gió”. Đó là một tựa sách “không thể nào hay và đầy đủ ý nghĩa hơn” so với tựa đề nguyên bản. Các dịch giả cũng gồm cả những người trong Nam trước năm 1975 như Vũ Kim Thư hoặc ngoài Bắc sau này như Dương Tường.

“Cuốn theo chiều gió”

“Cuốn theo chiều gió” là một cuốn “trường thiên tiểu thuyết” đã giành giải Pulitzer. Thoạt đầu Margaret Mitchell có ý định đặt nhan đề “Tomorrow is another day” (Ngày mai là một ngày khác) cho cuốn sách, lấy từ câu kết thúc tác phẩm, thay vì tựa đề “Gone with the wind” như chúng ta biết đến ngày nay.

Nội dung chính của câu chuyện diễn ra trong suốt 12 năm (từ 1861 đến 1873), xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính Scarlett O’Hara từ khi còn là một thiếu nữ 16 tuổi tại trang trại Tara của gia đình tại Georgia. Đến khi trưởng thành tại miền Nam, cô có tới 3 đời chồng và có 3 đứa con.

Đây là giai đoạn nước Mỹ xảy ra cuộc nội chiến (1861-1865) giữa hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc chủ trương giải phóng nô lệ với 25 tiểu bang ủng hộ chính quyền Liên bang của Tổng thống Abraham Lincoln, trong khi 11 tiểu bang miền Nam chống lại và quyết định ly khai lập thành Liên minh miền Nam (Confederacy).

Nội chiến Nam – Bắc

Georgia là một trong các tiểu bang miền Nam, nơi kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào các đồn điền trồng bông vải, tận dụng sức lao động của nô lệ da đen trong một xã hội trật tự theo lối xưa, trọng tình nghĩa, thứ bậc, khá gần với kiểu phong kiến châu Âu. Các tiểu bang miền Bắc có nền kinh tế nghiêng về công nghiệp, hướng theo lối làm ăn tư sản.

Mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm khi Lincoln thắng cử tổng thống năm 1860, và cuộc nội chiến duy nhứt trong lịch sử Mỹ đã diễn đã diễn ra. Thất bại sau cùng thuộc về phe miền Nam, họ yếu thế hơn hẳn, xét về dân số, quân số, tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự.

Trong cuốn truyện, cuộc nội chiến Mỹ được kể lại rất sinh động từ góc nhìn của những người dân miền Nam. Ban đầu họ tự tin tới mức ngạo nghễ, xem thường đối phương từ ngay cách gọi khinh miệt “Bọn Yankee”, coi chiến thắng là điều tất nhiên.

Sau đó dần dần từ quan tới lính và dân miền Nam đều nhận ra thất bại là không thể nào tránh khỏi, nhưng họ vẫn nỗ lực hết mình trong một cuộc “chiến tranh nhân dân” đầy hào khí.

Những suy nghĩ, những sinh hoạt của người Georgia trong giai đoạn này được miêu tả vô cùng sinh động và kỹ lưỡng, qua nhiều câu chuyện về nhiều nhân vật khác nhau: thanh niên, phụ nữ, người già và cả người nô lệ da đen.

Nhiều năm sau khi miền Nam đã bị đánh bại, cái hố sâu ngăn cách giữa hai miền vẫn còn, việc đối xử của chính quyền thắng trận với các tiểu bang thua trận cũng gây ra vô số vấn đề phức tạp, dẫn đến phản ứng của dân miền Nam khi lập ra “đảng áo trắng” Klu Klux Klan, kỳ thị người da đen.

“Đảng Áo Trắng” Ku Klux Klan kỳ thị chủng tộc tại Miền Nam

Độc giả Việt Nam không thể không liên tưởng cuộc nội chiến Mỹ với cuộc chiến tranh 54-75 tại quê hương. Có điều, tại Mỹ đã không xảy ra tình trạng “cải tạo”, “đánh tư sản”, “đi kinh tế mới” hoặc “đổi tiền” như tại miền Nam Việt Nam.

Tác phẩm cũng cho ta cái nhìn tổng quát về chiến tranh, hàng loạt những quan điểm về chiến tranh được tác giả lồng ghép, khi mà kẻ thắng và người thua thực chất vẫn là kẻ thất bại, ngay từ khi họ phát động chiến tranh. Thứ chính nghĩa mơ hồ chẳng là gì so với những mất mát người dân phải trả giá.

Những câu chuyện của thời chiến, về sự chia cắt và sự thiếu thốn, được đặc tả rất thật, để độc giả hiểu được cái giá quá đắt của chiến tranh, đó là mạng người và cuộc sống bình thường ai cũng khao khát. Điều này được thể hiện rất rõ qua sự ám ảnh của nhân vật chính Scarlett: luôn bị đói, thiếu thốn mọi bề.

Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu, Ashley Wilkes, chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Melanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình. Nàng quyết định sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và rủ chàng đi trốn. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett vì tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Melanie trước khi lên đường nhập ngũ.

Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton để “trả thù” Ashley. Cuộc Nội chiến nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ. Số phận thật nghiệt ngã, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp ra chiến trường, để lại cho nàng một đứa con trai.

Scarlett đến Atlanta, tại đây cô nhanh chóng hòa mình vào sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Tại đây, nàng đã gặp Rhett Butler, người trước đây vẫn thường trêu chọc nàng. Giờ đây Rhett là một thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam.

Kể từ đó mối quan hệ giữa Scarlett và Rhett được cải thiện. Rhett bằng bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Trong khi đó Scarlett lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley.

Ashley chỉ quan tâm đến vợ mình, Melanie, và ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hi vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và nhờ nàng chăm sóc Melanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường.

Nội chiến Mỹ dưới hai màu cờ Bắc – Nam

Ở Phần 3 của truyện, cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam, người dân thành phố Atlanta phải di tản. Scarlett và Melanie không thể đi cùng mọi người vì Melanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào.

Sau khi Melanie sinh con, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội một chiếc xe ngựa để chở Scarlett, Melanie và con chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc họ để gia nhập quân đội. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ, chửi rủa và tát anh thẳng cánh.

Scarlett trở về đồn điền Tara khi mẹ mất, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn. Giờ đây, Scarlett trở thành chủ nhân đích thực của đồn điền bông vải và với bản tính ngoan cường, cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy trang trại, làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm.

Chiến tranh kết thúc, nhưng một lần nữa số phận nông trại lại bị đe doạ khi “Chính phủ Yankee” tăng tiền thuế của đồn điền khiến Scarlett phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Jonas Wilkerson, người Yankee và cũng là một kẻ da trắng cặn bã.

Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Lúc này Rhett vô cùng giàu có nhưng có lúc cũng phải ngồi tù. Scarlett đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh… chỉ vì tiền.

Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi mắt anh thấy bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm vì hoàn cảnh gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm chỉ vì tiến khiến Rhett đã từ chối.

Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, nay đã là chủ một cửa hàng và có một khoản tiền kha khá. Scarlett nói dối rằng Suellen đã lấy người khác và quyến rũ Frank để lấy mình.

Scarlett đã thành công với việc quyến rũ Frank và có tiền cứu Tara. Trong khi đó, Rhett ra tù và cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện: không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.

Scarlett điều hành xưởng cưa rất thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên làm việc nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét.

Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Melanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.

Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen giải phóng tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn có Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời.

Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên khác được Rhett tìm cách cứu họ. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.

Và đây là tâm trạng của Scarlet trước lời cầu hôn của Rhett trong hồi kết của “Cuốn theo chiều gió”:

“Bây giờ mình chưa nghĩ đến chuyện đó vội”, nàng nghĩ thầm, vận dụng câu thần chú quen thuộc: “Bây giờ mà mình nghĩ đến nỗi mất chàng, thì mình phát điên mất. Để đến mai đã”.

Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Chỉ vì “tình đầu” với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối quan hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta…

Trong một lá thư viết ở thời điểm 5 tháng sau khi “Gone with the wind” được xuất bản và nhanh chóng trở thành sách bán chạy nhất tại Mỹ hồi năm 1936, tác giả Margaret Mitchell viết:

“Về kết thúc của cuốn tiểu thuyết và liệu rằng Rhett có quay về với vợ không, thực tình chính tôi cũng không biết. Tôi thực sự chưa bao giờ nghĩ về tương lai của các nhân vật sau khi câu chuyện khép lại. Tôi không hề lên kế hoạch trước cho tác phẩm, vì vậy, số phận các nhân vật cũng nằm ngoài khả năng tiên đoán và dự liệu của tôi”.

Tác phẩm “Gone with the wind”

Phim “Gone with the wind” do David O.Selznick sản xuất với đạo diễn Victor Fleming và kịch bản của Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ trong thời nội chiến. Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable, Vivien Leigh, Leslie Howard, Olivia de Havilland và Hattie McDaniel.

Ra mắt từ năm 1939 nhưng đến nay cuốn phim vẫn đứng đầu danh sách 100 bộ phim có doanh thu thành công nhất tại Mỹ. Kể từ khi được phát hành, “Cuốn theo chiều gió” đã đạt gần 2 tỷ USD doanh thu theo quy đổi lạm phát đồng tiền.

Poster phim “Gone with the wind”

Trong phim, tác giả đã để Rhett Butler nói một câu chửi thề “rất thật” với Scarlett O’Hara khiến độc giả phải ngỡ ngàng. Câu chửi thề bày tỏ mối quan tâm của người dân Mỹ sau cuộc nội chiến nói riêng và cả những suy nghĩ về chính trị của mọi người trong thời đại này.

“Frankly, my dear, I don’t give a damn”

(Thật lòng mà nói, em yêu à, anh cũng đếch thèm quan tâm!).

Nhân vật phụ “bà vú” Mammy do Hattie McDaniel thủ vai nhận được giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Bà là người phụ nữ Mỹ gốc Phi nhận được vinh dự tại giải của Viện Hàn lâm. Sự thật đáng buồn đã xảy ra tại buổi lễ trao giải Oscar, bà đã không có cơ hội được ngồi cùng những người người bạn đồng diễn chỉ vì là người da đen và phải ngồi ở khu vực riêng tách biệt.

Đứng từ quan điểm xã hội, “Cuốn theo chiều gió” bị chỉ trích vì các tình tiết dường như hướng đến việc cổ xúy chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ. Trong phim, những nhân vật da trắng được khắc họa đầy lý tưởng, tao nhã, khớp với hình mẫu “anh hùng”, trái ngược những người Mỹ gốc Phi luôn ở thế dưới, đóng vai những người hầu phục vụ họ.

“Bà vú da màu” Mammy do Hattie McDaniel thủ vai nhận được giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất

Nữ diễn viên Vivien Leigh hình như sinh ra để trở thành nàng Scarlett O’Hara đầy cá tính còn Clark Gable nhiều năm qua đóng khung với Rhett Butler. Họ yêu nhau trong phim nhưng lại là những người xa lạ phía sau ống kính.

Với nụ cười nửa miệng, Clark Gable như chàng Rhett Butler bước ra từ tiểu thuyết. Phía sau ống kính, Gable hóa ra lại không thích bộ phim và nhân vật của chính mình như người ta tưởng tượng.

Nữ diễn viên Olivia de Havilland, người đóng vai cô em họ Melanie trong phim, từng chia sẻ về những câu chuyện phía sau ống kính khi bà bước vào tuổi 100.

“Tôi được biết Clark Gable không thích cuốn tiểu thuyết này. Theo anh ấy, “Cuốn theo chiều gió” là câu chuyện về những người phụ nữ. Tại thời điểm đó, anh đang hoàn tất thủ tục ly hôn, anh ấy ghét nhân vật Rhett Butler. Thực tế là anh ấy cần tiền để giải quyết ly hôn, anh ấy cần đóng bộ phim này vì tiền”.

Clark Gable và Vivien Leigh trong phim

Mối quan hệ giữa Vivien Leigh và Clark Gable còn bị miêu tả là “bất hòa”. Trong một lần phỏng vấn, Vivien Leigh thẳng thắn nói: “Hôn Clark Gable không hề thú vị chút nào. Tôi không thích hàm răng giả và hơi thở đầy mùi của anh ta”.

Một điều khiến Vivien Leigh không ưa Clark Gable còn vì khoảng cách thù lao quá lớn giữa hai người. Cô phải làm việc trong 125 ngày và được nhận 200 USD một ngày. Trong khi bạn diễn nam làm việc trong 10 tuần và nhận 12.000 USD cho mỗi tuần. Điểm chung giữa Clark Gable và Vivien Leigh trên phim trường có chăng là thuốc lá. Clark Gable có thể hút 3 bao thuốc mỗi ngày còn Vivien Leigh hút tới 4 bao.

Họ cũng có những bước ngoặt buồn trong cuộc đời. Vivien Leigh từ một ngôi sao hàng đầu trở thành nữ diễn viên bị chê gàn dở, tâm thần bất ổn, nghiện rượu. Vivien Leigh ly hôn Laurence Oliviver vào năm 1961 và qua đời vì bệnh lao khi mới 54 tuổi. Clark Gable từng rơi vào giai đoạn bế tắc vì rượu và chất kích thích sau khi bạn đời Carole Lombard qua đời do tai nạn máy bay. Ông mất năm 1960 do đột qụy ở tuổi 59.

Cảnh trong phim “Gone with the wind”

Chiến tranh bao giờ cũng tàn nhẫn. Dù đó là một cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ hay là cuộc chiến đã qua tại Việt Nam. Số phận của người phụ nữ dù không thực sự dấn mình trong lằn tên mũi đạn nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn luôn ám ảnh cả trong thời chiếnlẫn thời bình!

Nguyễn Ngọc Chính

From: TU-PHUNG

ĐANG LÀ CHÍNH MÌNH

ĐANG LÀ CHÍNH MÌNH

“Tôi đã giãi bày tâm sự tôi trước nhan thánh Chúa.”

Chuyện kể về một thiếu nữ đã tin nhận Chúa.  Ngày kia, một giáo sư hỏi cô, “Bạn có phải là một tội nhân trước khi tin nhận Chúa?” “Vâng, thưa ngài,” cô trả lời.  “Bây giờ, cô vẫn là một tội nhân?”  “Thành thật mà nói, tôi cảm thấy mình là một tội nhân hơn bao giờ hết!”  “Vậy thì có gì thay đổi đâu?”  “Có chứ!  Tôi không biết phải giải thích thế nào,” cô nói, “Ngoại trừ tôi đã từng là một tội nhân chạy theo tội lỗi; nhưng bây giờ, tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân đang chạy trốn tội lỗi!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân!”  Sẽ khá bất ngờ khi các bài đọc Lời Chúa hôm nay cho thấy một lần nữa, điều cô gái thú nhận, cũng là điều tuyệt vời Thiên Chúa chờ đợi nơi mỗi người chúng ta.  Ngài chờ đợi sự chân thành!  Bà Anna ‘đang là chính mình,’ người bị thần ô uế ám ‘đang là chính mình;’ và thú vị thay, Chúa Giêsu, cũng ‘đang là chính mình.’

Bài đọc Samuel tường thuật câu chuyện lên đền thờ đầy cảm xúc của bà Anna, một người cùng đường.  Với bà, cầu nguyện không cần được đo lường, và phải chỉn chu; đôi khi, nó có thể được bộc phát thẳng thừng.  Từ sâu thẳm của nỗi đau và phẫn uất, bà nức nở với Chúa những lời đứt đoạn, không thành tiếng, chẳng thành lời.  Thầy cả Hêli nghĩ, bà say; nhưng bà cho biết, bà ‘đang là chính mình’ trước nhan Chúa, đang trút cho Ngài sự tức giận và buồn bã trong trái tim, trong linh hồn.  Bà héo hắt và vô phúc vì vô sinh!  Vậy mà Thiên Chúa lại yêu thích sự bộc bạch đó, Ngài không trách cứ khi bà nói khó với Ngài, cằn nhằn Ngài.  Cầu nguyện không cần phải chải chuốt, tìm lời hoa mỹ; không cần quanh co.  Như vậy, không có gì trong cuộc sống nằm ngoài giới hạn của lời cầu nguyện.  Thiên Chúa có thể đối phó với bất cứ điều gì chúng ta ném vào Ngài.  Không lời cầu nào được gọi là thô thiển, thiếu văn minh nơi một người ‘đang là chính mình!’  Chúa nhậm lời Anna, ban cho bà một mụn con là Samuel, để bà cất lên bài Magnificat đầu tiên qua lời Thánh Vịnh đáp ca mà Đức Maria sẽ làm vọng lại, “Tâm hồn con hoan hỷ vì Chúa, là Đấng cứu độ con!”

Tương tự như thế, người bị quỷ ám trong Tin Mừng nói với Chúa Giêsu theo cách bà Anna đã nói.  Người ấy thét vào Chúa Giêsu, “Hỡi Giêsu Nazareth, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao?”  Đó là những câu hỏi đầy giận dữ tạt vào Ngài.  Tuy nhiên, như Đấng ngự trong đền thờ không lấy đó làm điều bực tức, và cảm thấy thoải mái với sự oán giận của Anna, Chúa Giêsu cũng không cho là vấn đề với cơn thịnh nộ cực độ, ma quái nơi người đàn ông ‘đang là chính mình’ này.  Ngài đáp lại bằng một lời răn đe, giải phóng anh khỏi quỷ ám.  Bất cứ khi nào chúng ta mở lòng, tiết lộ cho Chúa những gì đang có, kể cả những cảm xúc đen tối nhất, chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện chữa lành và xoa dịu đầy xót thương của Ngài.

Chúa Giêsu trừ quỷ, “Mọi người kinh ngạc hỏi nhau, ‘Cái gì vậy?  Một giáo lý mới ư?’”  Nhận xét của dân chúng ở đây cũng rất thật, họ ‘đang là chính mình.’  Và bản thân Chúa Giêsu cũng thế, lời Ngài nói, việc Ngài làm, chứng tỏ Ngài ‘đang là chính mình.’  Bởi lẽ, Ngài đang thể hiện quyền năng Thiên Chúa, Ngài cho biết Ngài là ai, là Thiên Chúa; Ngài nói với uy lực Thiên Chúa, nói theo cách để mọi người biết rằng, lời Ngài là Lời biến đổi, Lời làm cho sống.  Điều này xảy ra, không phải vì Ngài muốn, nhưng Ngài phải như thế, “Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền!”

Anh Chị em,

“Tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân!”  Đó là mệnh căn không suy suyển của mỗi người chúng ta; đó là lý do Chúa Giêsu xuống thế làm người; và đó là ý thức cốt lõi tiên thiên nơi mỗi người để Chúa Giêsu có thể cứu lấy họ.  Ý thức mình là một tội nhân, có nghĩa là tôi đang cần Thiên Chúa; đang cần Thiên Chúa đồng nghĩa ‘đang là chính mình.’  Bởi lẽ, đến bao giờ chúng ta mới hết cần đến lòng thương xót của Ngài?  Vậy, liệu chúng ta có ‘đang là chính mình’ hay ‘đang là một ai khác’ khi cầu nguyện?  Đừng quên, Thiên Chúa thấu suốt tâm hồn, dò xét tâm can từng gang tấc; Ngài thấy hết bên dưới những gì chúng ta vô tình hay cố ý che chắn.  Trước Ngài, không ai được coi là xứng đáng, kể cả các thánh; tất cả chúng ta đều là những tội nhân.  Chính lúc đó, Thiên Chúa mới có thể làm một điều tương tự như đã làm cho Anna, cho người quỷ ám, để chữa lành chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin xót thương con, vì con là kẻ có tội.  Xin cho con ghi nhớ, đó là lời cầu nguyện của một người ‘đang là chính mình’ nhất, cũng là lời cầu nguyện Chúa yêu thích nhất,” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Đi tìm câu trả lời cho nguồn gốc của cái ác

Đi tìm câu trả lời cho nguồn gốc của cái ác

Cái ác xuất hiện khi sự đồng cảm bị rửa trôi.

04/01/2022

By  HỨA Y ĐỊNH

Ảnh nền: Soha. Bìa sách: Amazon.

Một người vợ ly dị chồng, cảm thấy ghen tức vì chồng cũ tìm được hạnh phúc mới còn mình thì chưa. Cô cầm dao đâm chết hai đứa con gái ruột. Đứa con gái 16 tuổi bị cô đâm 37 nhát, còn đứa trẻ 13 tuổi bị mẹ mình đâm 29 lần. [1]

Một người cha giam đứa con gái của mình trong tầng hầm suốt 24 năm, cưỡng hiếp cô và buộc cô sinh bảy đứa con. [2] Một trong số những đứa trẻ chết ngay sau khi sinh ra và bị ông đốt xác phi tang. Ba đứa khác được ông công khai nhận nuôi như trẻ lang thang cơ nhỡ. Ba đứa trẻ còn lại sống trong hầm tối cùng mẹ của chúng từ khi ra đời đến lúc được giải thoát. Trong suốt thời gian đó, người cha này nói dối vợ mình, mẹ của cô gái, rằng cô đã mất tích.

Một người phụ nữ hành hạ đứa con gái 8 tuổi của người tình trong suốt bốn tiếng đồng hồ cho đến khi cô bé chết. [3] Đứa trẻ bị đánh liên tục bằng cây gỗ to dài cả mét; bị đạp mạnh vào bụng, âm hộ, ngực; bị trói tay chân bắt quỳ gối để học, vừa quỳ vừa uống nước. Trong khi đang quỳ, cô bé tiếp tục bị tát mạnh vào đầu, đạp cho té ngã, cho đến khi ngất đi, ngừng thở. Cô bé đã bị bạo hành trong suốt một thời gian dài, người cha biết chuyện nhưng không can ngăn. Sau khi đứa trẻ chết, ông ta vội vàng xóa camera để phi tang chứng cứ. [4]

Vì sao người ta có thể ác đến như vậy?

Phần lớn trong chúng ta đã từng ít nhất một lần đặt ra câu hỏi đó, nhưng hiếm khi ta có được câu trả lời thuyết phục.

Những câu trả lời dễ dãi kiểu “những kẻ đó sinh ra đã ác”, “chúng là quỷ chứ không phải là người” hay “chúng làm chuyện ác vì chúng ác” đều không giải quyết được vấn đề gì.

Góc nhìn khoa học có thể giúp chúng ta có thêm một chút hiểu biết về bản chất và nguồn gốc của cái ác.

Quyển sách “The science of evil” (Khoa học về cái ác) của nhà tâm lý học Simon Baron-Cohen là một nỗ lực như vậy. [5]

Thông qua những câu chuyện thực tế, tác giả tổng hợp các nghiên cứu của bản thân và đồng nghiệp trong ngành tâm lý học, thần kinh học và phân tâm học để tìm cách giải đáp câu hỏi muôn thuở của nhân loại.

Cái ác hay là sự đồng cảm bị rửa trôi

Simon Baron-Cohen trước tiên đặt vấn đề với khái niệm “ác” (evil). Theo ông, nó là một từ quá chung chung và không có cơ sở khoa học rõ ràng để nghiên cứu.

Thay vào đó, ông đề xuất một khái niệm khác làm cơ sở để xem xét nó: sự đồng cảm hay thấu cảm (empathy).

Đồng cảm, theo định nghĩa đơn giản của Baron-Cohen, là khả năng nhận biết suy nghĩ hoặc cảm xúc của người khác và có phản ứng phù hợp với những tín hiệu đó.

Khi một người làm chuyện ác, họ không có khả năng đồng cảm với nạn nhân – hoặc không nhận biết những đau đớn của người khác, hoặc nhận ra nhưng không có phản ứng nào với cái đau đó.

Nói cách khác, người làm chuyện ác đối xử với người khác không khác gì đồ vật – tất cả đối với họ chỉ là những thứ vô tri vô giác, không có suy nghĩ, không có cảm xúc.

Trạng thái này được Baron-Cohen gọi là “empathy erosion”, tạm dịch là “sự đồng cảm bị rửa trôi”.

Trong khi cái ác khó có thể được định lượng, sự đồng cảm lại có thể được đo lường.

Baron-Cohen và các đồng nghiệp phát triển công cụ đo lường mức độ đồng cảm, hay “Empathy Quotient” (EQ). Đó là một bảng các câu hỏi để kiểm tra khả năng nhận biết và phản ứng với cảm xúc của người khác.

Ví dụ một số câu hỏi được dùng cho bài kiểm tra:

– Tôi có thể dễ dàng nhận ra nếu ai đó đang muốn tham gia vào cuộc trò chuyện.

– Tôi không thấy phiền gì lắm khi bản thân tới trễ trong một cuộc hẹn với bạn bè.

– Khi còn nhỏ, tôi thích cắt đôi con sâu để xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Thông qua kết quả khảo sát, các tác giả nghiên cứu chia ra bảy nhóm người với mức độ đồng cảm từ thấp nhất (cấp độ 0) cho đến cao nhất (cấp độ 6).

Phân bổ các nhóm này thuộc dạng phân phối chuẩn theo đường cong (bell curve), với đa phần người được khảo sát nằm ở nhóm giữa, và một số ít nằm ở hai đầu.

Trong số những người thuộc nhóm có mức đồng cảm thấp, tác giả chỉ ra ba loại người có khả năng gây hại nhất: những người rối loạn nhân cách ranh giới (borderline), những người rối loạn nhân cách chống đối xã hội (psychopath) và những người ái kỷ (narcissist).

Nguồn gốc từ gia đình

Điểm chung của những nhóm rối loạn nhân cách ở trên là phần lớn họ có một tuổi thơ đầy sóng gió, hay nhiều người sẽ gọi là bất hạnh.

Bất hạnh không chỉ thể hiện ở những hành vi bạo lực, lạm dụng (abuse) từ người lớn, nó còn có thể là kết quả của sự bỏ mặc (neglect), thiếu vắng tình thương.

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò nền tảng của giai đoạn thơ ấu, rằng nó là chỉ dấu quan trọng có thể đoán định tương lai của một người.

Một đứa trẻ bị bạo hành khi còn nhỏ, lớn lên có thể trở thành kẻ bạo hành người khác. Một người được dạy dỗ bằng bạo lực, lớn lên cũng sẽ dùng tay chân để dạy dỗ lại kẻ khác. Và một đứa bé từ nhỏ không được trải qua những chăm sóc yêu thương, lớn lên sẽ rất khó có thể hiểu được làm thế nào và vì sao phải yêu thương người khác.

Các nhà tâm lý học gọi lý thuyết về giai đoạn phát triển thời thơ ấu là “attachment theory” – học thuyết gắn kết. Đó là giai đoạn mà đứa trẻ có thể học được những thứ quan trọng nhất trong cuộc đời, bao gồm khả năng đồng cảm.

Một đứa trẻ bị bạo hành có thể lớn lên trở thành kẻ bạo hành. Ảnh minh họa: Secureteen.com.

Các nhà nghiên cứu cho rằng từ những khoảnh khắc đầu tiên, đứa trẻ đã cố gắng “đọc” suy nghĩ và cảm xúc của cha mẹ/ người chăm sóc mình, qua đó học cách đồng cảm với người khác. Nếu thứ chúng “đọc” được từ người lớn là sự thù ghét, đặc biệt là khi sự thù ghét đó nhắm đến chúng, khả năng đồng cảm của đứa trẻ sẽ bị bẻ lệch đáng kể.

Những đứa trẻ đón nhận thù ghét khi lớn lên sẽ giống một chiếc nồi áp suất luôn chực chờ bùng nổ.

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp đứa trẻ lớn lên trong bạo hành nhưng có mức đồng cảm cao với người khác, hoặc ngược lại, những kẻ bạo hành được sinh ra và nuôi dưỡng trong những gia đình bình thường.

Vì vậy, bên cạnh yếu tố gia đình, những nhân tố di truyền, sinh học cũng cần được lưu ý để đánh giá sự phát triển của một đứa trẻ.

***

Một điểm đáng chú ý khi liên hệ giữa sự đồng cảm và cái ác là hầu như tất cả chúng ta đều trải qua những khoảnh khắc mà “công tắc đồng cảm” trong đầu bị tắt đi.

Đó là những lúc ta đang tập trung để làm một việc gì đó, mọi chuyện xung quanh đều rơi ra khỏi vùng chú ý. Hoặc trong trường hợp tiêu cực, đó là khi ta trải qua những cơn nóng giận, bị căng thẳng, mệt mỏi, và thường làm những hành động gây tổn thương người khác.

Đây là những trạng thái cảm xúc ngắn hạn (transient emotions), khác với tình trạng lâu dài (permanent) nơi những người rối loạn nhân cách.

Cách để nhận biết tính chất ngắn hạn là khả năng tự phản chiếu: biết suy nghĩ và có cảm xúc hối hận về hành động gây tổn thương cho người khác, từ đó sửa chữa việc mình làm.

Vấn đề nghiêm trọng sẽ xuất hiện khi một người mất đi cơ chế tự phản chiếu, tự kiểm soát này.

Lời kinh hy vọng

 Lời kinh hy vọng

By Sr. Bich Thu on 20/01/2015 · Lời kinh nguyện

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự nhẫn nại,
để chúng con có thể chờ đợi những điều sẽ xảy đến trong tương lai,
để có thể thay đổi con người chúng con sao cho phù hợp với những điều mà chúng con không mong ước,
để chúng con có thể chấp nhận những người gây khó chịu cho chúng con,
để chúng con có thể sống giữa những giới hạn của cuộc đời này.

Xin ban cho chúng con sự can đảm cần thiết,
để chúng con trở nên bạn thân của những kẻ thù,
để chúng con có thể chấp nhận và hy vọng vào những điều hầu như đã hết hy vọng,
để chúng con có thể đối mặt với những chỉ trích,

để chúng con có thể tin vào những gì có thể và những gì không thể.

Xin ban cho chúng con ơn khôn ngoan là ơn mà không thể thiếu được trong cuộc sống này,

để chúng con thấy được giá trị ở những điều mà mọi người coi thường nó,
để chúng con có thể chấp nhận những điều không thể giải thích được trong cuộc sống hằng ngày,
để chúng con có được một tinh thần học hỏi và sẵn sàng phó thác vào ân ban của Chúa. Amen

Trích từ “Lời kinh dâng Chúa”

T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

02/01/2022

Thứ nữ của nhà văn Vũ Khắc Khoan, chị Vũ Thị Gấm, có lẽ hiện đang sống đâu đó trong Silicon Valley (nơi còn được người Việt “mệnh danh” là Thung Lũng Hoa Vàng) của tiểu bang California.

Bốn mươi năm qua, tôi cũng vẫn quanh quẩn ở địa phương này nhưng chưa gặp lại chị Gấm lần nào. Thế mới biết là quả đất tuy tròn nhưng quá lớn nên cơ hội gặp lại cố nhân (để có dịp thưa thốt một lời thâm tạ) cũng chả dễ dàng chi.

Tôi tới Hoa Kỳ vào cuối năm 1980. Qua năm 82, sau khi tiêu hết đến đồng bạc trợ cấp cuối cùng, tôi xin đi bán xăng và ghi danh vào một trường đại học cộng đồng, West Valley College, nơi mà chị Vũ Thị Gấm đang làm cố vấn (academic counselor) cho những sinh viên vừa nhập khóa.

Chị hỏi:

– Em muốn học ngành gì?

 – Anthropology.

 – What?”

– Nhân Chủng Học!

Chị Gấm tròn xoe mắt như chợt nhìn thấy một sinh vật lạ, vừa đến từ hành tinh nào khác. Ở vào thời điểm ấy, gần như cả nước đều đói vàng cả mắt, đám thuyền nhân vừa rời Việt Nam đều mang theo một gánh nặng và nỗi ám ảnh chung là sự trông đợi (thuốc men, quà cáp, tiền bạc… của thân nhân hay bạn bè còn ở lại.

Do vậy, lớp người tị nạn đầu tiên đều hối hả học lấy một cái nghề tào lao gì đó (miễn là có thể kiếm việc được ngay) nên sự lựa chọn của tôi quả là có hơi xa vời và … xa xỉ!

Ở Mỹ, môn khoa học nhân văn thường chỉ dành cho người giầu có. Họ học để thoả mãn nhu cầu hiếu tri, hay để “trang trí” cho cuộc sống của mình thêm phần phong phú thôi em ạ.

Ngó bộ tôi chưa “thủng” nên bà chị nhẹ nhàng nói thêm đôi câu (nghe) hơi nặng:

– Với cái bằng Tiến Sỹ Nhân Chủng Học thì chỉ có hai cách để kiếm tiền thôi: đi dậy hoặc đi chạy taxi. Chị không tin là em có thể chạy taxi ở San Franciso hay New York, và cũng không nghĩ rằng người ta sẽ mướn một người thiểu số với cái giọng nói tiếng Anh (khó nghe) như em làm thầy giáo.

Ngưng chút xíu, chờ cho tôi thấm thía sự đời, rồi chị ấy lại thong thả tiếp:

– Nên học một cái gì nào thực dụng thì hơn, em ạ. Hiện tại ngành điện tử ở vùng này rất “hot.” Lương hướng cũng khá cao mà chỉ cần vài tháng là lấy được một cái chứng chỉ (certificate) và có thể đi làm kiếm tiền liền.

Từ thuở ấu thơ, tôi được mọi người trong gia đình “âu yếm” gọi tên là Út Khùng. Bạn học và bạn bè trong xóm cũng thế: Tiến Khùng. Tôi quả là “có hơi bị làm sao” thật nên vợ con không có, mèo chó cũng không, dù tam thập nhi lập tới nơi.

Không ai dám kỳ vọng hay trông chờ một đồng xu (hay cắc bạc) nào từ một thằng khùng cả nên tôi vô cùng nhẹ gánh. Tuy thế, tôi lại tự gán cho mình một sứ mệnh khá nặng nề và vô cùng cao cả (khác). Nó cao đến độ hơi khó có thể giãi bầy với một người mới gặp lần đầu:

Em muốn… em muốn… tìm hiểu một ngành học lạ, chưa hề có ở VN, để khi về nước sẽ lập một phân khoa về Nhân Chủng Học chị ạ…

Tôi nói chưa hết ý nhưng chị Gấm xem chừng đã bị lùng bùng (luôn cả hai tai) và không còn kiên nhẫn nữa:

– Còn nhiều người đang chờ nên em cứ về suy nghĩ kỹ đi. Mai mốt mình sẽ bàn luận thêm cũng được.

Đúng hẹn tôi trở lại. Vẫn nhất định giữ nguyên cái ước mơ xa vời (và xa xỉ) của mình. Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Cuối cùng, bà chị đành chép miệng:

– Thôi thế này vậy. Thay vì Nhân Chủng Học, em theo ngành Xã Hội đi. Đường có thể ngắn hơn vì không nhất thiết phải học đến tiến sỹ, và cơ hội kiếm được việc làm cũng dễ dàng hơn. 

Thấy tôi hơi nhăn mặt nên chị Gấm tiếp liền:

– Sau khi xong cử nhân thì em ghi danh học tiếp về Công Tác Xã Hội (Social Work) nhá. Chương trình tương đối nhẹ vì vừa học vừa được gửi đi thực tập, và thời gian thực tập vẫn có thể được trả lương hoặc được nhận stipend. 

– Stipend là cái gì hả chị?

– Cũng tựa như một loại học bổng cho sinh viên nghèo vậy mà.

– Social Work có nhiều nhánh lắm: child welfare, aging, mental health … Nếu lựa chuyên về sức khoẻ tâm thần thì sau khi ra trường, và sau hai năm làm việc toàn thời gian, em sẽ hội đủ điều kiện để thi lấy bằng hành nghề tâm lý trị liệu. Psychotherapy hoàn toàn còn mới lạ ở Việt Nam nên sau này, khi có cơ hội trở về, tha hồ mà … múa gậy vườn hoang. Chịu chưa?

Mãi đến giờ tôi vẫn nhớ nụ cười chế giễu của chị Gấm, sau câu nói cuối cùng. Tôi theo đúng từng bước như lời của bà chị cố vấn nhưng đợi gần nửa thế kỷ rồi mà đường về thì vẫn không có lối. Tôi chả có cơ hội nào lập một phân khoa Tâm Lý Trị Liệu ở nơi quê hương, xứ sở của mình, dù tóc đã điểm sương!

Bằng cấp, rốt cuộc, rồi cũng chỉ là thứ cần câu cơm, không hơn không kém. Dù sao thì tôi vẫn phải nhớ ơn chị Gấm vì nhờ lời khuyên bảo chí tình của chị mà tôi kiếm được một cái cần câu khá tốt, để làm kế sinh nhai, thay vì chạy taxi, cho hết phần đời còn lại.

Giấc mơ Nhân Chủng Học tuy đã chết từ lâu nhưng tôi vẫn chưa chôn. Thỉnh thoảng (khi lang thang trên mạng) nếu thấy có ai viết chi đó về khai quật, mồ mả, xương cốt, đồ đá, đồ sắt, đồ đồng… thì thế nào tôi cũng ghé mắt xem qua chút xíu.

Tuần rồi, tôi tình cờ đọc được hai bài viết ngắn (đề cập đến quan niệm của nhà nhân chủng học Margaret Mead) về điểm xuất phát của nền văn minh nhân loại:

Helping someone else through difficulty is where civilization starts”

A 15,000 year old bone and the Fall 2013 issue of Reflections

Xin tóm lược:

Khi được hỏi rằng điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của văn minh? Mead trả lời rằng trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì cầm chắc như là chết. Bởi nó sẽ không còn khả năng kiếm sống và sẽ bị bị đồng loại ăn thịt tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi bị gẫy và được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây chính là di chỉ của sự văn minh: chứng tích về sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, để sinh tồn của loài người. Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh.

Quan niệm dung dị của nhà nhân chủng học Margaret Mead khiến tôi không khỏi chạnh lòng khi chợt nhớ đến một mẩu tin ngắn, đọc được trên báo Công An, vào hôm 22/08/2020: Truy tìm kẻ cướp giật vé số của người khuyết tật ở Bình Dương.

Mà nào có riêng chi ở Bình Dương. Loại tin tức tương tự vẫn xuất hiện nhan nhản hằng ngày trên mặt báo:

–       Khởi tố “nữ quái” giật vé số của cụ bà U70.

–       Cụ bà 75 tuổi bị giật 150 tờ vé số.

–       Cướp giật vé số của người già đi bán vé số dạo, nam thanh niên bị bắt.

–       Bắt hai gã trai tráng chuyên đi cướp vé số của người nghèo.

–       Cướp giật vé số của người tàn tật.

Những công dân lão hạng và khuyết tật ở Việt Nam – rõ ràng – không được xã hội cưu mang nên vẫn phải tìm mọi cách để mưu sinh, và vẫn bị đồng loại “làm thịt” đều đều. Ở xứ sở này khái niệm về sự tương trợ hay giúp đỡ lẫn nhau, dường như, mỗi lúc một thêm xa lạ.

Giữa những ngày bão lụt, thiên hạ không khỏi ngỡ ngàng khi đọc một mẩu tin đang lan tràn trên báo chí: “Tìm được trâu bị lũ cuốn trôi chủ nhân bị đòi 10 triệu tiền chuộc.” FB Phạm Văn Thành đặt câu hỏi: “Con người đã thành hùm beo tự khi nào?”

Vấn đề cũng không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân. Ở bình diện thể chế cũng thế, chính sách và chủ trương của nhà nước hiện hành tại Việt Nam cũng không dung tha những người thất thế. Đất đai là sở hữu của toàn dân – xin đan cử một thí dụ – chỉ là một thứ điều luật để hợp pháp hóa những vụ cướp bóc và sát nhân ở đất nước này.  

Ngày 9 tháng 1 năm 2020, một nông dân Việt Nam ở huyện Mỹ Đức, Lê Đình Kình đã bị giết hại khi vết thương đùi (bị một đồng chí của ông đá gẫy) vẫn chưa lành lặn. Mai hậu, nếu những nhà nhân chủng học tương lai khai quật được hài cốt của nhân vật này (hoặc tìm ra mấy đôi nạng sắt cùng những cái chân giả – nằm vương vãi giữa đống xà bần đổ nát, ở vườn rau Lộc Hưng – sau vụ cưỡng chế đất đai hồi năm 2019) họ “dám” sẽ kết luận rằng đó là dấu chỉ của nơi mà văn minh bắt đầu suy tàn, vào hồi thế kỷ XXI AD.

 – Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

08/01/2022

Nhiếp ảnh gia Trần Công Nhung (24/08/1935 – 01/01/2022) đã may mắn được có dịp đi viếng thăm khắp nước, trước khi tạ thế. Ông vừa đi, vừa bấm máy, vừa huyên thuyên trò chuyện:

Tiếp tục con đường tỉnh lộ chúng tôi chạy về hướng chiến khu Yên Thế. Đường từ Tiên Lục qua Bố Hạ có đoạn còn rải sỏi đỏ. Bố Hạ là quê hương của giống cam nổi tiếng xưa nay. Nhưng anh bạn đi cùng cho biết đã tuyệt chủng, vì sự cải tiến sai lầm của mấy ông cán bộ nông nghiệp. 

Hồi đó các ông học cách ghép cây bên Liên Sô, thấy bưởi quả to nên mượn cam ghép bưởi vào, để có những quả cam Bố Hạ lớn như bưởi, bao nhiêu gốc cam cưa sạch. Từ đó Cam Bố Hạ sinh ra một thứ bưởi không phải bưởi, cam không phải cam, thua xa Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Quảng Trạch… Bưởi Năm Roi, một thứ“sáng kiến quái thai”. Hiện nay may ra còn sót một vài cây trong vườn nhà dân, người ta dự trù gây lại giống cam này.

Cái “sáng kiến quái thai” này khiến tôi nhớ đến một bài viết cũ (“Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”) của tác giả Dương Quốc Chính. Ông cũng đề cập tới chuyện giao phối khác giống, giữa lừa với ngựa, và ví von rằng thành quả là Nền Kinh Tế Con La hiện nay của nước CHXHCNVN.

Thưa thật là tôi chưa được tận mắt nhìn thấy con la, bằng xương bằng thịt, lần nào cả. Tôi cũng chả hiểu sao lại có sự ví von ngộ nghĩnh như thế. Gu gồ “con la” thì tìm ra được những dòng chữ như sau:

Mules and hinnyies have 63 chromosomes, a mixture of the horse’s 64 and the donkey’s 62. The different structure and number usually prevents the chromosomes from pairing up properly and creating successful embryos, rendering most mules infertile. (La là con vật lai giữa ngựa cái và lừa đực. Về hình dạng con la giống lừa hơn là ngựa. Trong khi ngựa có 64 nhiễm sắc thể, và lừa có 62, con la có 63 nhiễm sắc thể. Con số lẻ này không cho phép các nhiễm sắc thể phân chia thành cặp, do đó, la hầu như không có khả năng sinh con, hay còn gọi là vô sinh.)

Thảo nào!

Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa quả là… vô sinh thật. Chả những nó không sản xuất được gì ráo trọi mà còn gây ra tình trạng “thua lỗ” (hay “âm vốn”) đều đều nữa chớ. Hổng tin, thử ngó qua tin tức liên quan đến tình trạng sản xuất của đám xí nghiệp quốc doanh mà xem:

— Báo Lao Động: Hàng loạt doanh nghiệp rơi vào cảnh thua lỗ, âm vốn 
— Báo Tiền Phong: Một Trăm Lẻ Bẩy doanh nghiệp thua lỗ
— Báo Thanh Niên: Năm doanh nghiệp nhà nước lỗ gần 17.000 tỉ

— Báo Tuổi Trẻ: Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước lỗ nặng
— Báo Vietnamnet:  Mười hai đại dự án thua lỗ nợ 63 nghìn tỷ

Đọc mà tối tăm mặt mũi, dù những mẩu tin trên chả mới mẻ gì và đã xuất hiện thường xuyên trên báo chí nước nhà từ mấy thập niên qua. Đến hôm 24 tháng 9 năm 2020 thì Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, khẳng định: “Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ nét.” Là người “tế nhị” nên ông Bình không nói rõ là “nét” gì cả nhưng mọi người đều  “ngầm hiểu” là … nét lỗ! FB Văn Toàn “chốt” lại: 

— Đào than lên bán = lỗ

— Hút dầu lên bán = lỗ

— Đào quặng lên bán = lỗ

— Tăng giá điện bán độc quyền = lỗ

—  Có cái QQ gì nhà nước CS nhúng tay là lời không?

Có chớ! 

Kỹ nghệ “xuất cảng người” thì VN  lời “khẳm” và lời triền miên luôn. Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng nhiều phương cách, Đảng và Nhà Nước đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Tính rẻ (và gọn) thì chỉ cỡ một phần ba là thành mồi cho cá mập thôi. Còn đám vùi thây ở những trại tị nạn Á Châu thì tuy cũng có nhưng không đáng kể!

Số còn lại phiêu bạt tứ tán, tha phương cầu thực, khắp bốn phương trời. Ngoài tập thể thuyền nhân đi chui (hay bán chính thức) này, còn có nhiều người ra đi hoàn toàn hợp pháp bằng máy bay, cùng với không ít số người xuất khẩu lao động nữa. 

Tất cả đều chăm chỉ làm lụng, dành dụm tích cóp từng đồng, và chỉ đợi đến cuối năm là xin phép để được trở lại chốn xưa vài tuần hay vài bữa. Ai cũng mặc áo gấm về làng, và chả ai quên mang theo cái ví hay cái bóp đầm. Đó là chưa kể số tiền gửi về lai rai hàng tháng.

Hôm đầu năm, Tuổi Trẻ Online (số phát hành hôm 22/01/2021) hớn hở loan tin: “COVID-19 không ‘làm hại’ kiều hối. Ước tính có 15,7 tỉ USD kiều hối đã chuyển về VN, bên cạnh kiều hối Việt kiều còn có người VN lao động ở nước ngoài gửi về bổ sung nguồn vốn sản xuất kinh doanh, tăng tiêu dùng và thúc đẩy đầu tư”.

Đến cuối năm, vào ngày 19 tháng 12 năm 2021, bỉnh bút Phạm Lê Đoan (VNTB) cho biết thêm: 

“Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) dự báo lượng kiều hối về Việt Nam năm 2021 tăng 5% so với năm ngoái, lên đến 18,06 tỷ đô-la Mỹ, nghĩa là chiếm tới 4,9% GDP quốc gia, cao nhất từ trước đến nay và thuộc top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới. Cụ thể luôn, với mức này, lượng kiều hối của Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, và xếp thứ 8 thế giới.”

Chủ Tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ nói không sai (một cắc) là “tiền trong dân còn khá nhiều.” Riêng với đám dân làm việc hay sinh sống ở nước ngoài thì tiền còn nhiều lắm, chứ không chỉ là “khá nhiều” đâu.

Bởi vậy, Hàng Không Việt Nam đã nẩy sinh ra một sáng kiến thần tốc là tổ chức những “chuyến bay giải cứu đồng bào,” hay “còn được gọi là chuyến bay nhân đạo từ Mỹ về Việt Nam.” Tuy mang danh tình nghĩa đậm đà như vậy nhưng giá vé lại quá cao khiến thiên hạ nhao nhao phản đối:

Những ‘chuyến bay giải cứu’ bóp cổ đồng bào
Chấm dứt ngay chuyến bay hồi hương trục lợi
VN nói ‘giải cứu công dân’ nhưng ‘chặt chém’ ai muốn bay về quê hương

Tham thì thâm!

Thiên hạ vẫn “bay về quê hương” nhưng họ tìm đường đi khác. Một công dân Việt Nam, ông Gia Bảo, chia sẻ với BBC ít nhiều cay đắng: 

Tôi muốn tự tìm hiểu để cho một số người Việt Nam ở nước ngoài cũng muốn về bằng đường Campuchia biết được thế nào. Trước ngày khởi hành tôi cũng rất lo sợ nhưng vẫn vui vẻ chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị kẹt lại Campuchia. Thà chấp nhận rủi ro nhưng mình không chấp nhận bỏ khoản tiền lớn cho bất kỳ công ty lữ hành nào, tôi kiên quyết không ủng hộ bất kì chuyến bay cứu trợ hay hồi hương mà có giá 70-80 triệu VND…

Thử nghĩ một chuyến charter khoảng 300 chỗ, mỗi người trả 70-80 triệu mà đồ ăn bị cắt xén và cách ly ở khách sạn dù 4 sao nhưng là 2 người một phòng nên tôi thấy quá vô lý. Tôi không muốn bỏ tiền trả một thứ gì đó không đúng giá trị thật. Và tôi quyết định về bằng đường Campuchia cũng là để chia sẻ với mọi người rằng về bằng cách này không có gì khó khăn.

Đúng như BBC tiên đoán: “Vietnam Airlines sau mùa ‘giải cứu trục lợi’ sẽ còn thua lỗ nữa.”  Chắc chưa ai quên là cái hãng hàng không quốc doanh này vừa  được Ngân Hàng Nhà Nước cho vay bốn ngàn tỷ cách đây chưa lâu, dù đang “đối mặt với rủi ro kiện tụng pháp lý với số nợ quá hạn quá cao” – theo tin báo Dân Việt, đọc được vào hôm 21 tháng 6 năm 2021.

Sao đụng đâu lỗ đó mà vẫn cứ nằng nặc ĐHXHCN hoài vậy, mấy cha?

Đó là một câu hỏi rất ngu của riêng tôi. Chỉ cần bớt ngu hơn chút xíu thì ai cũng tìm được ngay ra câu trả lời: Chứ không cố bám vào “cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa” thì lấy lý do gì để vẫn tiếp tục cầm quyền, và mất ghế lãnh đạo thì làm sao tiếp tục sống ký sinh được nữa?

Thêm một câu hỏi nữa, cũng ngu (và hèn không kém) của kẻ đang viết những dòng chữ này: Chả hiểu dân Việt Nam sẽ vẫn cứ tiếp tục để cho cái loài ký sinh này sống bám vào đất nước của họ thêm bao lâu nữa?

— Tưởng Năng Tiến

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI?

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Chuyện kể về một triết gia người Đức rất nổi tiếng, Schleiermacher, người định hình sự tiến bộ của tư tưởng hiện đại.  Một chiều kia, khi đèn đã lên, ông ngồi một mình trong công viên.  Một cảnh sát đi tới, với ý định bắt ông vì nghĩ rằng, ông là một gã say, lang thang.  Cảnh sát hỏi, “Ông là ai?”  Schleiermacher buồn bã trả lời, “Ước gì tôi biết!”

Kính thưa Anh Chị em,

Thật ngạc nhiên, Schleiermacher quên mình là ai!  Cũng thế, đôi khi trong cuộc sống, chúng ta không nhớ mình “là ai và phải trở thành ai?”  Trong Tin Mừng hôm nay, Gioan Tẩy Giả sẽ chỉ cho chúng ta bí quyết để mỗi người nhớ rõ căn tính mình; đó là, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Trước hết, việc Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc sống của mỗi người chúng ta phải là mục tiêu hàng đầu.  Ngài phải chiếm hữu tâm trí và ý chí chúng ta ngày càng hơn; Ngài phải sở hữu chúng ta, và chúng ta sở hữu Ngài.  Nó có nghĩa là mọi nghi ngờ và sợ hãi phải được gạt sang một bên và tình yêu dành cho Ngài phải trở nên lý do của cuộc sống.  Sẽ thật tự do khi chúng ta cho phép Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc đời mình.  Cuộc sống ấy sẽ được giải phóng theo nghĩa, “tôi không còn tìm cách tự quản nó;” vì Ngài, Đấng sống trong tôi, sẽ đảm nhiệm công việc đó.  Trong Ngài, tôi biết mình “là ai và phải trở thành ai;” tôi là của Ngài và mỗi ngày, tôi phải trở thành một Giêsu khác!

Thứ hai, khi nói “Còn tôi nhỏ lại”, Gioan muốn nói, ý chí, ước muốn, tham vọng, hy vọng… của Gioan phải tan biến khi Chúa Giêsu làm chủ hoàn toàn con người Gioan.  Từ bỏ mọi ích kỷ và sống vị tha phải là nguyên tắc căn bản trong cuộc sống chúng ta!  “Nhỏ lại” trước mặt Thiên Chúa có nghĩa là trở nên khiêm tốn; từ bỏ mọi thứ không phải của Chúa và chỉ cho phép Ngài soi rọi.  Chúng ta chỉ có thể từ bỏ một tình yêu nhỏ hơn vì một tình yêu lớn hơn!  Mỗi ngày, Gioan đặt khát vọng và tình yêu của mình vào Đấng Messia; hành động và ý hướng của Gioan tập trung vào Đấng sắp đến; Gioan biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Sự cô độc của Gioan trong sa mạc cho phép tình yêu này phát triển mà không bị phân tâm; Gioan chia sẻ, tất cả những gì chúng ta nhận được là từ trời, từ sự sống siêu nhiên được ban cho bởi cầu nguyện, chiêm ngưỡng và đón nhận.  Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Gioan tông đồ cũng nói, “Con Thiên Chúa đã đến, ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Ngài.”

Vậy mà rất nhiều lần, chúng ta làm điều ngược lại, “Cần tôi lớn lên, còn Chúa nhỏ lại,” chúng ta không biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Cám dỗ tìm kiếm chính mình trong ơn gọi, trong việc tông đồ, trong việc phục vụ Giáo Hội là một cám dỗ triền miên mọi thời, ở bất cứ ai, thuộc bất cứ đấng bậc nào!  Một số người chỉ cống hiến khi công việc phải mang lại cho họ danh dự hoặc nâng cao tầm quan trọng của bản thân.  Chúng ta tuyên bố phục vụ Chúa Kitô, nhưng nếu địa vị bị tổn hại vì những chỉ trích, hoặc thấy ai đó kém khả năng hơn đứng trên chúng ta về thứ hạng, trái tim chúng ta vỡ vụn; cam kết của chúng ta suy tàn.  Vào những thời điểm đó, chớ gì chúng ta có thể vượt qua thử thách mà Gioan đã vượt qua, vì “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Anh Chị em,

“Là ai và phải trở thành ai?”  Một câu hỏi xem ra có vẻ như một lối chơi chữ, nhưng là một câu hỏi đáng để suy nghĩ.  Bởi lẽ, không ai khác mà là “bạn và tôi,” chúng ta biết, cùng đích cuối cùng của cuộc hành trình làm người là chúng ta phải trở thành một Giêsu khác.  Nói đúng hơn, chúng ta phải ngày càng làm rỗng chính mình để Chúa Giêsu có thể lấp đầy mỗi người bằng chính Ngài.  Theo cách nói của Phaolô, “nên đồng hình đồng dạng với Ngài,” khi “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi!”  Vậy chúng ta phải làm gì để đạt được mục đích này?  Phải như Gioan, chúng ta phải xác tín, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”  Tình yêu của chúng ta dành cho Chúa Giêsu không phải là nỗ lực một sớm một chiều, nhưng như Gioan, nó là thành quả của nhiều năm cầu nguyện, chinh phục bản thân và trung thành với một cuộc sống hoán cải vốn phải được sống trước khi được rao giảng.  Như vậy chúng ta mới biết mình “là ai và phải trở thành ai.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết quên đi bản thân như Gioan, để hoa trái công cuộc cứu rỗi thế giới của Chúa và của Hội Thánh được gặt hái, vì “Chúa phải lớn lên, còn con nhỏ lại,” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

Richard

 From: TU-PHUNG

Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

  Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

Bức ảnh thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ đã trở thành khoảnh khắc huyền thoại trong lịch sử.

Năm 1999, khi đang mang bầu cậu con trai đầu lòng, cặp đôi Julie và Alex Armas đã phải đưa ra quyết định khó khăn giữa việc đình chỉ thai kỳ hay giữ lại con. Theo đó, khi siêu âm, các bác sĩ đã chẩn đoán thai nhi trong bụng Julie bị nứt đốt sống do không phát triển đầy đủ dây thần kinh. Nếu cố chấp sinh ra, đứa trẻ cũng không có nhiều cơ hội sống sót.

Chưa một giây dám nghĩ đến việc sẽ bỏ đi đứa con máu mủ của mình, cặp vợ chồng chấp nhận đánh cược với số phận và quyết giữ lại em bé. Cuối cùng, ngày 19/8/1999, khi đứa trẻ vừa tròn 21 tuần tuổi trong bụng mẹ, hội đồng y khoa tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt ở thành phố Nashville, bang Tennessee (Mỹ) đã quyết định phẫu thuật chữa trị cho em bé ngay bên trong tử cung mẹ.

Trong ca mổ khó khăn đó, Michael Clancy, một nhiếp ảnh gia tự do cũng có mặt. Anh đã may mắn ghi lại được khoảnh khắc quý giá khi đứa trẻ thiếu tháng yếu ớt cố gắng thò bàn tay tí xíu của mình ra bên ngoài bụng mẹ và nắm chặt lấy ngón tay bác sĩ Joseph Bruner, người đang chuẩn bị phẫu thuật cho em.

Bức ảnh có tên Bàn Tay Hy Vọng nổi tiếng thế giới

Bức ảnh ý nghĩa ngay khi được chia sẻ đã khiến nhiều người phải rơi nước mắt, không ai có thể giấu nổi sự xúc động khi chiêm ngưỡng khoảnh khắc đầy phi thường của một em bé đang đứng trước cửa tử nhưng vẫn khát khao mong cầu sự sống.

Bức ảnh được đặt tên là Bàn Tay Hy Vọng và sau đó trở thành một trong những tác phẩm huyền thoại trong lịch sử. Ở đó, một em bé 21 tuần tuổi đã đem đến niềm tin, động lực và khiến hàng triệu người nhận ra giá trị của cuộc sống mà mình đang có.

Sau khi ca phẫu thuật chữa bệnh từ trong tử cung mẹ diễn ra suôn sẻ, 4 tháng sau đó, vào ngày 2/12/1999, đứa trẻ trong bức ảnh huyền thoại cũng đã được chào đời trong sự đón mừng hạnh phúc của gia đình và cả thế giới. Em được bố mẹ đặt tên là Samuel Alexander Armas.

Nói về bức ảnh “để đời”, mẹ của em bé chia sẻ: “Đó là khoảnh khắc kỳ diệu, không chỉ với chúng tôi mà còn với Samuel. Chúng tôi muốn mọi người nhìn vào Samuel và hiểu được rằng món quà quý giá nhất mà mỗi chúng ta được ban tặng chính là cuộc đời này. Và dù con chúng tôi có lành lặn hay không, chúng tôi vẫn sẽ làm mọi thứ để con được sống và đến với thế giới”.

Đã hơn 20 năm trôi qua sau khoảnh khắc ấn tượng ấy, bây giờ đây, Samuel của tuổi đôi mươi đã là chàng trai trưởng thành với vẻ khôi ngô, tuấn tú. Nhìn vào ánh mắt tinh anh của cậu, ai nấy đều phải ngưỡng mộ và gọi cậu là “điều kỳ diệu”.

Mặc dù mắc phải bạo bệnh từ trong bụng mẹ và chào đời với những dị tật vĩnh viễn, nhưng bằng nỗ lực phi thường cùng quyết tâm vượt lên số phận, Samuel vẫn đạt được những thành tích đáng nể trên con đường học vấn của mình.

Anh là học sinh tốt nghiệp hạng ưu tại trường Trung học Alexander ở Douglasville. Samuel theo học ngành khoa học thể dục tại Đại học Auburn sau đó, và với thành tích xuất sắc, cậu thanh niên còn được trao tặng Học bổng Toán học Movelle Murdock với giá trị không hề nhỏ.

Trên hết, “anh hùng nhí” năm xưa giờ đây còn là thành viên trong đội bóng rổ xe lăn Tigers. Nói về cơ hội tiếp cận bộ môn bóng rổ, Samuel nói: “Huấn luyện viên Taylor và tôi đã trao đổi thông tin liên lạc và câu lạc bộ trường Auburn bắt đầu chiêu mộ tôi. Sau khi thăm khuôn viên trường và suy nghĩ về việc tham gia đội bóng, huấn luyện viên Taylor cũng ngỏ lời hỗ trợ học phí cho tôi”.

Hiện tại, để di chuyển được lâu hơn và quãng đường dài hơn, Samuel vẫn cần tới sự hỗ trợ của chiếc xe lăn. Mặc dù vậy, cậu bé trong bức ảnh nổi tiếng ngày nào đang có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và có ích cho xã hội. Không để bất kỳ chướng ngại vật nào có thể cản trở mình, Samuel đang từng bước chứng minh rằng bản thân có thể làm tất cả những gì mà bản thân mình mong muốn, miễn còn được sống.

VietBF @ Sưu tầm

From: thanhlamle.le & NguyenNThu  

 

  Giá trị của sự quan tâm

 Giá trị của sự quan tâm

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Một buổi tối sau giờ làm việc, một người đàn ông trở về nhà và ngồi nói chuyện với cậu con trai 14 tuổi của mình: “Hôm nay bố gặp một chuyện rất lạ. Khi bố đang ở văn phòng, một nhân viên bước vào và nói rằng anh ấy ngưỡng mộ bố, và đã tặng bố chiếc nơ xanh này để tôn vinh tài năng sáng tạo của bố, trên chiếc nơ có ghi “Tôi đã làm nên sự khác biệt”. Anh ấy cũng đưa bố một chiếc nơ nữa và nói bố có thể trao tặng nó cho một người đặc biệt khác. Trên đường về nhà, bố nghĩ xem mình có thể tặng ai, và bố đã nghĩ đến con. Bố muốn trao tặng chiếc nơ này cho con.

Bố thật sự rất bận nên mỗi khi về nhà, bố đã không quan tâm nhiều đến con. Đôi khi bố la mắng vì con không đạt điểm cao hoặc vì con không dọn dẹp để phòng ngủ bề bộn. Nhưng tối nay, không hiểu sao bố lại muốn ngồi đây với con và… chỉ muốn nói cho con biết rằng đối với bố, ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng nhất. Con là một đứa con tuyệt vời và bố rất thương yêu con”.

Cậu bé giật mình sửng sốt, và bắt đầu thổn thức. Toàn thân cậu rung lên. Cậu ngước nhìn bố qua làn nước mắt và nói: “Vậy mà con định sẽ từ giã cuộc đời vào ngày mai vì con nghĩ bố không yêu con. Giờ đây, con không cần phải làm như thế nữa.”

Helice Bridges

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Karl Menninger

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen