Cán cân lực lượng giữa Nga và Ukraine

Cán cân lực lượng giữa Nga và Ukraine

06/07/2022

Phan Châu Thành

1. Về thực lực, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang mạnh hơn Ukraina nhiều lần. Nhưng về lâu dài, Ukraina có sự hậu thuẫn của khoảng 40 quốc gia giàu nhất thế giới – và theo những cam kết họ đã đưa ra, thì tiềm lực của Ukraina sẽ mạnh hơn Nga nhiều lần.

2. Về vũ khí, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang nhiều hơn và mạnh hơn Ukraina nhiều lần. Nhưng về lâu dài, cùng với sự cấm vận của các nước phương Tây, Nga không thể tiếp tục sản xuất các vũ khí tối tân, chỉ có thể dùng “bom đạn ngu”, thiên về số lượng chứ không phải chất lượng. Ngược lại, Ukraina ngày càng có nhiều vũ khí hiện đại, được viện trợ số lượng ngày càng lớn, nên càng để lâu thì sẽ càng chiếm ưu thế hơn.

3. Về quân đội, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang nhiều hơn. Nhưng quân đội Ukraina đang được huấn luyện liên tục, rất nhiều và chuyên nghiệp, về lâu dài, quân số Ukraina sẽ ngày càng trội hơn, chưa kể họ có lý tưởng để chiến đấu. Trong khi Nga lo vơ vét lính từ khắp các vùng, đủ sắc tộc, vùng miền, ngày càng tỏ ra là một đám ô hợp, thổ phỉ, vô kỷ luật.

4. Về chính trị, Ukraina luôn luôn thắng cho tới giờ, và cũng nhờ có vậy, họ mới tồn tại được tới hôm nay – khi cả thế giới văn minh và tiến bộ nghiêng mình trước sự anh dũng của họ, rồi nhìn Nga với con mắt khinh bỉ cùng sự ghê tởm. Đồng minh của Ukraina là Mỹ, EU, Nhật Bản, Úc… trong khi đồng minh của Nga là Belarus, Trung Quốc, Syria… “Hãy chỉ cho tôi những người bạn của bạn, tôi sẽ nói được bạn là người thế nào!” – câu nói muôn thủa đó chưa bao giờ là sai cả.

Nhìn gần thì tưởng Nga “ngon”, nhưng phóng tầm mắt ra xa chút, là sẽ thấy rằng Nga càng ngày càng “không có cửa”.

Thời gian qua, chính phủ Nga của Putin bộc lộ rõ bản chất dối trá, thủ đoạn ti tiện, tàn bạo – hãy nhớ rằng, nếu họ khốn nạn được trong chuyện này, thì có lý do gì để chuyện khác họ tử tế hơn đâu?

Chưa kể đi với Nga lúc này là sẽ chống lại cả thế giới văn minh nữa.

Không ai bắt mỗi chúng ta phải lựa chọn “bên nào”, nhưng việc đưa ra quyết định bộc lộ bản chất của chính chúng ta, tầm nhận thức, suy nghĩ – “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” thì chưa bao giờ là sai cả. Mà càng chần chừ, chờ đợi thì lại thành “trâu chậm uống nước đục” – một miếng khi đói bằng một gói khi no, bởi đến lúc họ thành công rồi mới lao vào xum xoe, thì ai người ta coi trọng?

Do bản thân mỗi chúng ta cả thôi mà.

P.C.T.

Nguồn: FB chau.t.phan

Những con số nóng mặt

Những con số nóng mặt

Lưu Trọng Văn

6-7-2022

Việc phổ cập giáo dục và miễn học phí đã được hiến định từ Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, trong đó có quy định: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí…”; Hiến pháp những năm 1959, 1980 đều có quy định tương tự và còn cao hơn nữa.

Luật Giáo dục năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020, trong đó nêu rất cụ thể “giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.”

Vậy thì kiến nghị của TS Nguyễn Kim Sơn bộ trưởng GD&ĐT vừa trình chính phủ yêu cầu miễn phí cho học trò trung học cơ sở hệ quốc doanh là quá… quá ư là chậm trễ.

Có thể nói toẹt: Chậm trễ đến mức xấu hổ. Chậm trễ đến mức thấy quá xúc phạm lòng tự tôn của người Việt và của quốc gia mang tên cộng hoà XHCN.

Thước đo để một thể chế tự hào có mang tính XHCN hay không, bao giờ giáo dục cũng là chỉ số đầu tiên.

Vậy thì nền giáo dục của VN đang ở đâu nếu tính theo quyền học trò được miễn phí khi đến trường?

Theo TS Nguyễn Hồng Cổn thì:

Bảng thống kê thời lượng giáo dục bắt buộc (ứng với số năm học được miễn phí hoàn toàn) ở 171 nước trên thế giới, đăng trên trang NationMaster – một trang chuyên cung cấp số liệu thống kê và so sánh giữa các nước (xem link):

Xem kỹ cái bảng này thì thấy trong 171 nước có:

– 6 nước miễn phí 13 năm

– 9 nước miễn phí 12 năm

– 18 nước miễn phí 11 năm

– 35 nước miễn phí 10 năm

– 37 nước miễn phí 9 năm

– 17 nước miễn phí 8 năm

– 15 nước miễn phí 7 năm

– 27 nước miễn phí 6 năm

– 6 nước miễn phí 5 năm

– 1 nước miễn phí 4 năm

Như vậy Việt Nam xếp thứ 165/171 đồng hạng với 5 nước vào loại lạc hậu nhất thế giới đó là Pakistan, Banglades, Nepal, Myanma, Guinea có số năm miễn học phí ít nhất (5 năm), chỉ hơn một nước duy nhất là Angola (4 năm).

Không biết khi đưa ra kiến nghị miễn phí cho học sinh trung học cơ sở, ngài bộ trưởng GD&ĐT có gửi cho chính phủ và đặc biệt cho Quốc hội các số liệu tụt hậu ê chề đến nóng mặt dân Việt này không?

Mà nếu chỉ dân Việt nóng mặt thì có tác dụng gì cơ chứ?

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Chết Không Nhắm Mắt

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Chết Không Nhắm Mắt

                                        Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ. Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của face booker Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”

Thằng chả hiền thiệt chớ. Cái ba lô xẹp lép hà. Ngó thấy mà thương. Là kẻ cầm súng, thuộc phe thắng trận, đương sự có thể thu góp được chiến lợi phẩm nhiều hơn thế.

Bên thua cuộc, rõ ràng, không mất mát chi nhiều mà Bắc/Nam đã được “nối vòng tay lớn” – theo như cách nói của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Rồi ra, tác giả còn dự tưởng, sẽ có những đoàn tầu thống nhất “toả khói trắng hai bên đường,” những đám “trẻ thơ đi hát đồng dao” khắp ngõ, và “mọi người ra phố mời rao nụ cười.”

Họ Trịnh, có lẽ, thực lòng tin tưởng như thế. Niềm tin của ông cũng được không ít người cùng thời chia sẻ. Sự thực, tiếc thay, khác thế. Sau ngày “Nam/Bắc hoà lời ca” thì nụ cười gần như biến mất trên môi của mọi người dân Việt. Dù thuộc bên thắng cuộc, những bộ đội phục viên cũng không hề được hân hoan cười đón khi họ trở về:

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ… ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là … họ được quy là công thần gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.” (Vi Đức Hồi – Đối Mặt, Chương II).

Đoạn hồi ký thượng dẫn giúp cho độc giả hiểu tại sao vỉa hè Hà Nội lại đông đảo những người làm nghề cửu vạn. Họ sống ra sao?

“Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường.” (Tô Hoài. Chiều Chiều. Phương Nam, Hà Nội: 2014).

Giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại mà trải chiếu “đéo nhau huỳnh huỵch” thì (ngó) cũng hơi khó coi. Tuy thế – và được thế – vẫn hơn hẳn nhiều bạn đồng đội (không may) khác, đang “nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng.”

Hạnh phúc hay đau khổ (nghĩ cho cùng) chỉ là sự so chiếu, và mọi so chiếu đều tương đối cả. Nói chi đến những người lính vô danh, ngay cả một nhân vật tiếng tăm cỡ như thi sĩ Tế Hanh (“từng là ủy viên ban chấp hành hoặc thường vụ Hội Nhà Văn VN, từng mười năm liền phụ trách đối ngoại của hội, từng có chân trong ban phụ trách nhà xuất bản Văn học”) đến cuối đời cũng đành chép miệng : “Trải qua hai cuộc chiến tranh mình còn được sống, được làm thơ, còn may mắn hơn khối người khác, thế là được rồi.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Phương Nam, Hà Nội: 2002).

Vâng, đúng thế. Còn sống là “may mắn hơn khối người” rồi!

Theo thống kê (chắc không khả tín) của Tổng Cục Chính Trị thì đến năm 2012, toàn quốc chỉ có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Wikipedia tiếng Việt cho biết thêm:

“Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý cho 44.253 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.”

Có bà bị lọt sổ vì không đủ “kiên trinh” nên đã (lỡ) đi thêm bước nữa – theo như tường trình của Tuổi Trẻ Online:

“Chúng tôi đến khi bà Trần Thị M. đang ăn tối ngay trên giường. Bà đã ở trên giường như vậy gần ba năm rồi, kể từ khi đôi chân không còn tự đứng lên được nữa. Ấy thế nhưng khi hỏi đến chuyện xưa, đôi mắt bà sáng lên. Bà say sưa kể về những ngày hoạt động cách mạng, những ngày tù ngục đòn roi tra tấn, thương tích tới 75% (thương binh hạng 2/4)… Vượt qua được hết, chỉ không chịu nổi mỗi lúc nghe tin chồng, tin con thôi” – bà chợt trầm giọng. Ba lần ‘không chịu nổi’ ấy là vào năm 1962, ông Võ Mười, chồng bà, hi sinh khi bà mới 30 tuổi; năm 1964, con trai út Võ Danh của bà bị bắn chết khi vừa 6 tuổi, đang được giao việc cảnh giới cho các chú cán bộ họp; năm 1971, con trai lớn Võ Thái làm giao liên cho ban binh vận Khu ủy Khu V hi sinh ở tuổi 16.

Còn lại một mình giữa đạn bom, hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà gá nghĩa với một người đồng đội, ông Thái Văn Thới. Chiến tranh vẫn ác liệt, đâu biết mai này sống chết thế nào. Thương nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau thì về với nhau thôi” – bà kể. Ngày 21-2-2014, UBND P.12, Q.Bình Thạnh đã tổ chức cuộc họp để xét duyệt và đề nghị Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng cho bà. Phường đã có tờ trình về trường hợp của bà gửi Phòng Lao động – thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) Q.Bình Thạnh, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM. Tuy nhiên, sau đó gia đình bà nhận được thông báo bà chưa được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng do đã… tái giá.”

Phải chi cái hồi giao “công tác cách mạng” cho hai đứa nhỏ (6 tuổi và 16 tuổi) mà Nhà Nước cũng xét (nét) kỹ càng như vậy thì đỡ cho mẹ Trần Thị M. biết mấy. Dù sao, vẫn còn có điều an ủi là nhờ đang sống ở thành phố mang tên Bác nên tờ trình về trường hợp của bà cũng đã được gửi tới Sở LĐ -TB&XH TP.HCM và đã được cứu xét (rồi) từ chối!

Có mẹ không nhận được danh hiệu anh hùng chỉ vì lỡ “chui rúc” ở những nơi hoang vu quá. Bên Kia Đèo Bá Thở là một nơi như thế:

“Trên bản đồ quân sự cũng như bản đồ của nha Địa Dư không bao giờ có địa danh ‘Đèo Bá Thở’. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn… Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng qua bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu rừng toàn thị là tre, nứa, giang…

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã sập. Người chủ căn nhà lấy vài thân tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất. Tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam.

Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi ‘bá thở’. Chúng tôi nghe lục đục trong cái chòi bỏ hoang, và phát giác đuợc một cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày.

Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp. Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện, song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù ‘Ngụy’ nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều, chúng tôi để hai người lại sửa còn tám người vào rừng đốn tre cho đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt tranh về để dậm lại những chỗ quá mục nát. Căn nhà sửa xong, có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi:

– Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì hoà bình lâu rồi, nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả vào đâu.” (Hoàng Khởi Phong. “Bên Kia Đèo Bá Thở.” Cây Tùng Trước Bão. Thời Văn, Hoa Kỳ: 2001).

Bà lão hẳn đã qua đời từ lâu. Những người lính thắng trận trên đường về quê (với con búp bê cầm tay) hơn 40 năm trước e cũng không còn mấy ai sống sót. Đám mẹ ngụy và lũ con thua cuộc cũng thế, cũng đều đã lần lượt đi vào lòng đất.

Kẻ Bắc/người Nam, bên thua/bên thắng nên họ đã phải trải qua những hoàn cảnh và kinh nghiệm sống khác nhau. Duy có điều này thì chắc chắc là hoàn toàn không khác : khi họ chết không ai nhắm mắt!

– Tưởng Năng Tiến

Cá Gỗ, Cá sắt – Phương Vũ Võ Tam-Anh

PHIẾM LUẬN…

Cá Gỗ, Cá sắt – Phương Vũ Võ Tam-Anh

Jean Lacouture, một học giả Pháp chuyên viết tiểu sử các nhân vật nổi tiếng trên thế giới, đã bắt đầu cuốn sách Président Hô Chí Minh bằng câu chuyện cá gỗ. Ông kể rằng HCM sinh ra ở Nghệ An, nơi có đời sống rất kham khổ, nơi mà những nhà nho thường dọn bửa ăn với một con cá bằng gỗ để che mắt người ngoài khỏi thấy được sự nghèo túng của họ, vì họ cho rằng nghèo là một chuyện xấu hổ đáng che dấu…

Cái tinh thần chuộng bề ngoài sợ sự thật đó còn lưu lại ngày nay ở ViệtNam để sinh ra một thứ văn hoá chạy theo khoa bảng, chạy theo “hoành tráng” mà bên trong thì trống rỗng. Hằng trăm ngàn tiến sĩ mà không làm nổi một cái đinh vít cho ra hồn mà vẫn huyênh hoang là đỉnh cao trí tuệ.

Trong khi đó thì tại Cam-pu-chia, một nước láng giềng nhỏ bé mà Jean Lacouture đã gán cho mấy chữ không lấy gì vui là “Cộng Sản Nhà Quê”, thì họ đang có một đầu óc thực tế hơn là các “đỉnh cao trí tuệ” Việt Nam.

Trước hết người Cam-pu-chia, không bị mặc cảm mà nhìn đúng sự thật để học hỏi và thâu nhận chất xám đến từ mọi nơi. Một nông dân Việt Nam có sáng kiến cải tạo những vũ khí phế thải thành những xe tăng đại bác tối tân thực dụng, đang bị Việt Nam nghi ngờ và coi thường, nếu không muốn nói là khinh bỉ vì không có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó tiến sĩ v…v…Thế nhưng anh nông dân này được đón tiếp rạng rỡ ở Cam-pu-chia như là một nhà sáng chế vũ khí có tầm cỡ và được phong ngay hàm Đại tướng. Tiết kiệm được cho Cam-pu-chia khỏi tốn hằng tỷ bạc mua vũ khí​ ​Nga Tàu để… vứt đi.

Cam-pu-chia đã thiết kế và sản xuất được xe hơi với giá rẻ và ít hao xăng, một cần thiết cho các nước mới mở mang phải biết liệu cơm gắp mắm.

Còn Việt Nam thì chỉ mới biết lắp ráp xe của các hãng ngoại quốc, do người ngoại quốc điều khiển và chỉ mới ở giai đoạn gia công, trong khi bao nhiêu đầu óc Việt Nam đang phí phạm ở khắp thế giới vì điều kiện chính trị không cho phép phục vụ đất nước.

Thủ tướng Hun Sen có người con trai là Hun Manith, được đào tạo tại trường West Point Hoa Kỳ, một bảo đảm về tư cách và khả năng cá nhân mà cả thế giới hâm mộ, thì chỉ giữ một chức vụ khiêm nhường tại bộ Quốc phòng (Giám đốc sở Tình báo). Khi được hỏi có tham vọng thay thế cha hay không, thì chàng trai 34 tuổi này trả lời rằng đó là chuyện định đoạt do bầu cử. Còn ở Việt Nam thì các thái tử đỏ đã bắt đầu được cài vào những chức vụ then chốt để sẵn sàng nối ngôi.

Trong khi Việt Nam đang say sưa với cái hào nhoáng bên ngoài đang cho dân ăn bánh vẽ nghĩa là ăn những con cá gỗ thời đại Hồ Chí Minh (theo nghĩa bóng) mà bụng vẫn đói mèm, thì ở Cam-pu-chia chính phủ đang cho dân ăn những con cá… sắt (theo nghĩa đen) để chửa bệnh thiếu máu.

Trên thế giới hiện nay có ba tỷ rưởi người bị bệnh thiếu máu vì thiếu chất sắt (anémie ferriprive), đó là bệnh của nhà nghèo, nhất là ở những nước kém mở mang vì thiếu dinh dưỡng. Sắt là chất cần thiết để tạo nên hạt máu đỏ trong đó có chứa một chất protéine gọi là hémoglobine (huyết cầu tố) có nhiệm vụ chuyên chở dưỡng khí (O2) hút được trong không khí từ phổi đến các tế bào, các mô. Cơ thể thiếu sắt sinh ra thiếu máu, thiếu dưỡng khí, thiếu sự sống….

Một sự tình cờ đã đưa con cá sắt nhảy lên bờ để cứu sống được hằng triệu người trên thế giới.

Cách đây ba năm, một sinh viên Canada 26 tuổi, Christopher Charles, vừa đậu xong bằng cử nhân ở đại học Guelph, Toronto, chọn đi nghỉ hè ở Cam-pu-chia, đồng thời chàng cũng giúp những nhà khoa học địa phương để cho thêm chất sắt vào thức ăn hầu làm giãm chứng bệnh thiếu máu rất phổ biến tại Cam-pu-chia. Ở đây 60 phần trăm phụ nữ phải làm việc vất vả ở tuổi rất sớm, ăn uống thiếu thốn, thiểu thịt đỏ, trái cây, đồ biển v.v…

Họ thường bị mất máu trong các kỳ kinh nguyệt và mỗi khi sanh đẻ, ảnh hưởng đến sự chậm phát triển não bộ nơi thai nhi v.v… nghĩa là ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả dân tộc. Các thứ thuốc chứa chất sắt thì đắt đỏ so với túi tiền của họ. Chris Charles lấy đó làm đề tài nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ. Trong ba năm trời chàng làm việc trong những túp lều tranh, không nước, không điện để xử dụng máy vi tính, phải học tiếng Cam-pu-chia, nhất là học nghệ thuật lấy máu bệnh nhân từ những chiếc thuyền nan chòng chành trên sông Mékong…

Thoạt tiên Charles đề nghị các bà nội trợ nấu ăn bằng những cái nồi bằng sắt nhưng không ai nghe vì vừa nặng vừa đắt tiền. Đề nghị bỏ một khoanh sắt vào nồi canh cũng không ai theo. Ý kiến chạm một cái hoa sen bằng sắt thì cũng bị chê vì hoa sen là để cúng Phật chứ không phải để bỏ vào nồi canh. Sau cùng có lẽ vì được gợi ý bởi cuốn sách Président Hồ Chí Minh của Jean Lacouture về con cá gỗ nên Charles đề nghị chạm hình con cá vừa hấp dẩn vừa rẻ tiền thì được chấp nhận ngay. Một bác thợ rèn ở đầu xóm có thể làm việc đó với giá 1,5 đô la Mỹ

Con cá của BS Charles đem lại 75% nhu cầu về sắt hằng ngày cho một người lớn. Đàn ông cần 9mg, đàn bà 16mg mỗi ngày. Chỉ cần nấu ít nhất 10 phút để cho cá….chín. Vắt thêm chút chanh vì acide citrique và acide ascorbique (vitamine C) trong chanh làm dễ hấp thụ chất sắt và để mùi vị thêm hấp dẩn, không thua gì tô canh chua cá bông lau mà người dân Campuchia thích ăn hằng ngày. Ở đây hiện có trên 2500 đang “ăn” cá sắt. Cuộc khảo sát cho biết phân nửa người dùng sau 12 tháng thì không còn thiếu sắt trong cơ thể nữa, hết những triệu chứng của bệnh thiếu máu như mỏi mệt, tim đập nhanh, người xanh xao, chóng mặt nhức đầu, kém trí nhớ…. Họ thấy yêu đời hơn và năng động hơn. Chính phủ Cam-pu-chia đang khuyến khích xử dụng rộng rãi trong dân gian.

Tôi còn nhớ vào năm 1982, khi bà bs Dương Quỳnh Hoa còn làm Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Dinh Dưỡng Nhi Khoa tại bệnh viện Nhi Đồng 2, Sai-Gòn, một hôm có phái đoàn đài BBC đến thăm, thấy có nhiều trẻ em bị mù vì bệnh khô mắt (xérophtalmie) vì thiếu vitamine A, thì được bs Quỳnh Hoa giải thích:

“Ở đây chính phủ thích choàng khăn quàng đỏ lên cổ các em hơn là phát cho các em mỗi ngày một viên vitamine A để khỏi bị mù”

Một câu nói còn ý nghĩa đến ngày nay, gần nữa thế kỷ sau, để thấy rõ chính sách lo cho dân của cộng sản Việt Nam. Khi bà bộ trưởng y tế Kim Tiến thờ ơ trước các em bé chết vì chích thuốc ngừa mà bận lo đi nếm nước piscine để kiểm soát lượng thuốc khử trùng chlore, thật là một cử chỉ phường tuồng vô liêm sĩ. Trong khi anh cộng sản “nhà quê” (chữ của J.Lacouture) đã biết lo sức khoẻ cho dân bằng cách khuyên ăn cá sắt thì ViệtNam còn cho dân ăn cá gỗ dài dài….

Cá sắt, cá gỗ, ai ngu hơn ai?

NGAY CẢ MẸ TÊRÊXA CŨNG SUÝT TỪ CHỐI TIẾNG CHÚA GỌI

NGAY CẢ MẸ TÊRÊXA CŨNG SUÝT TỪ CHỐI TIẾNG CHÚA GỌI

 Francis Phillips

Khi nhìn vào những vị thánh, chúng ta thường có khuynh hướng xem đó là những người với vầng hào quang thánh thiện, chứ không phải những người với những đấu tranh chật vật như mọi người chúng ta.  Cách nghĩ như thế khiến các thánh ít giống con người, và có vẻ quá xa vời đến nỗi chúng ta không thể noi gương các vị được.

Quyển Tình yêu làm nên thánh Têrêxa của David Scott muốn đảo ngược chuyện này . Ông suy ngẫm về những khía cạnh cuộc đời của Mẹ Têrêxa thành Calcutta vốn thường bị bỏ qua, chẳng hạn như 18 năm mẹ sống trong Nhà kín Loreto ở Calcutta, và không thấy được những cảnh khốn cùng bên ngoài bức tường nhà kín.  “Sự biến đổi của mẹ hướng đến người nghèo, là một tiến trình chậm rãi,” ông Scott xác nhận.

Và đặc biệt hơn nữa là những chi tiết mà ông Scott đưa ra về đêm tối tâm hồn hơn 50 năm của mẹ, và thị kiến vào năm 1947 khi Mẹ Têrêxa thấy Chúa Giêsu và Đức Mẹ khiến Mẹ dấn thân cho người nghèo và người hấp hối.  Dù cho Mẹ đã hủy các ghi chú và nhật ký của mình, nhưng một tập các lá thư Mẹ gửi cho các linh hướng của mình trong năm 1947 đã cho thấy có những lúc Mẹ kháng cự lại yêu cầu của Chúa Giêsu khi Ngài muốn có “các Nữ tử Bác ái, ngọn lửa yêu thương của Ta giữa những người nghèo, người bệnh, người hấp hối, những đứa trẻ trên đường phố.”

Chúa Giêsu đã bảo Mẹ là “người bất tài nhất, yếu đuối và tội lỗi, nhưng chính vì thế Ta muốn dùng con cho vinh quang của Ta!  Chẳng lẽ con từ chối sao?”  Mẹ Têrêxa mô tả việc Mẹ phản đối yêu cầu khẩn thiết này và “bảo Chúa Giêsu tìm một người khác, nói rằng Mẹ sợ những khó khăn và lời chế giễu Mẹ sẽ phải chịu.  Mẹ hứa sẽ trở thành một nữ tu tốt nếu Ngài để Mẹ ở yên bình trong nhà kín.  Nhưng Ngài cứ tiếp tục nài nỉ Mẹ, thách thức Mẹ: “Con từ chối làm việc này cho Ta sao?”

Tất cả những chuyện này khiến chúng ta thấy thật không tương hợp với hình ảnh cảm tính của mình về sự thánh thiện.  Nhưng nó cho thấy các vị thánh rất giống chúng ta, và đôi khi các vị phải rất vất vả trong việc đón nhận lời mời gọi của Chúa.  Và chúng ta hẳn cũng nghĩ một chuyện này: Liệu Mẹ Têrêxa đã nói “không” với Chúa?  Biết bao nhiêu người đã từ chối những thúc đẩy của Thần Khí hay của chính Chúa Kitô, chống cự lại công cuộc cứu độ?

Từ năm 1957, những năm đầu tiên Mẹ bắt đầu cảm thấy mình bị Chúa bỏ rơi, dù cho sau đó Mẹ vẫn bắt đầu hoạt động sứ mạng của mình, Mẹ Têrêxa có viết cho một linh hướng của mình rằng: “Họ nói những người trong hỏa ngục chịu đựng đau khổ muôn đời vì mất Chúa…  Trong lòng con cũng đang cảm giác nỗi đau mất mát khủng khiếp đó… cảm thấy Thiên Chúa không hiện hữu… cảm thấy như mình chối bỏ Chúa.  Xin cầu nguyện cho con để con không trở thành một Giuđa với Chúa Giêsu trong đêm tối đau đớn này.”

Mẹ đã xin những người khác hủy các lá thư của Mẹ đi.  Nhưng tôi mừng vì có những người đã không làm theo ý Mẹ.  Vì nhờ như thế, chúng ta mới thấy Mẹ Têrêxa anh hùng đến thế nào, và cũng con người đến thế nào.

Francis Phillips

J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Catholic Herald

From: Langthangchieutim

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ NGHI ÁN “HIẾP DÂM” Ở TÂY BAN NHA.

Hoai Linh Ngoc Duong 

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ NGHI ÁN “HIẾP DÂM” Ở TÂY BAN NHA.

Lướt facebook thì thấy có một số thông tin của báo chí và của những người ủng hộ nghi phạm bằng những lập luận phi logic. Đồng ý rằng khi tòa chưa xử thì nghi phạm được suy đoán vô tội. Nhưng suy đoán vô tội không có nghĩa là đổ tội cho nạn nhân.

Những người bóng gió cho rằng có một đường dây gài bẫy khiến 4000 người mắc bẫy tình dục ở Tây Ban Nha quên rằng những người bị gài bẫy đều là cầu thủ bóng đá, vận động viên thể thao ,doanh nhân hay nghệ sĩ nổi tiếng của thế giới. Điều kiện họ bị gài bẫy là sẵn sàng ký những tấm check 6 con số để giữ kín thông tin.Nhạc sĩ và diễn viên Việt Nam vốn hành nghề để bảo vệ chế độ độc tài nên tiền lương hoặc lợi nhuận mà họ nhận được không đủ để các tổ chức này đưa vào danh sách tống tiền.

Một logic quan trọng là nếu nghi phạm bị tống tiền thì không thể sự việc vừa mới xảy ra đêm 24/6 thì ngay sáng 25/6 nạn nhân đã trình báo sự việc với nhà chức trách. Phải có ít nhất một tuần cho các thỏa thuận. Bởi lẻ khi báo cảnh sát đường dây này sẽ chẳng nhận được gì mà chỉ tốn công vô ích. Hơn nữa nếu gài bẫy nghi phạm sẽ nhận được những email nặc danh, messege để chuyển tiền vào các tài khoản bí mật.Đây cũng sẽ là những bằng chứng để nghi phạm tố cáo với cảnh sát.

Cảnh sát Tây Ban Nha và ngành tư pháp lập nghi án là đã điều tra về thân nhân nạn nhân. Họ cũng rất sợ nghi phạm tố ngược. Phiên tòa trước khi nạn nhân rời đi đã xác lập các chứng cứ bước đầu.

Vấn đề còn lại chính là khoản tiền tại ngoại. Ngành tư pháp Tây Ban Nha vốn chậm chạp nên đại sứ quán Việt Nam ở Tây Ban Nha với chính sách bảo hộ công dân sẽ can thiệp để công dân mình được xử theo hiệp ước song phương. Nhưng Tây Ban Nha thừa biết Việt Nam không có luật pháp mà chỉ có luật rừng. Vì vậy tòa án sẽ xác lập một khoản tiền bảo lãnh đủ lớn để khiến nghi phạm quay lại chịu chế tài. Vấn đề là nghi phạm, gia đình và cả cơ quan ngoại giao Việt Nam không đủ tài chính cho khoản tiền này. Vì thế nghi phạm đang thuê luật sư để tìm giải pháp lấy lại hộ chiếu để về nước. Nhưng có lẻ muốn có 2 cuốn hộ chiếu sẽ phải tốn trên 2 triệu USD tùy theo việc tòa xác lập những tổn hại do nghi phạm tạo ra với trẻ vị thành niên nếu bị buộc tội.

Với các nước sử dụng luật pháp bằng lý trí thì không bao giờ có chuyện bao biện theo kiểu “mua dâm là bình thường”. Tất cả các nước dân chủ đều tôn trọng nữ quyền và đặt mại dâm ngoài vòng pháp luật trừ một số rất ít ngoại lệ. Do đó với các chứng cứ bước đầu khi nạn nhân đã chịu ra tòa không ngại tổn thương tâm lý thì khả năng bị buộc tội của nghi phạm rất cao.

Sống như thể mình không bao giờ chết – Lm Anmai, CSsR

Sống như thể mình không bao giờ chết

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Người ta sống như thể mình không bao giờ chết, rồi cuối cùng chết đi như thể mình chưa từng sống.

Sinh lão bệnh tử là định luật cho đời sống của con người. Đã là người, sinh ra thì phải có ngày chết chứ chả ai lột da sống đời.

Có chép một lời dạy dỗ khôn ngoan: “Đến nhà tang lễ hơn là đến nơi yến tiệc, vì ở đó người ta nhìn thấy sự cuối cùng của đời mình”.

Thoạt nghe có thể thấy hơi tiêu cực, tuy nhiên ngẫm nghĩ sâu xa hơn một chút ta sẽ thấy ý nghĩa của nó vô cùng sâu sắc và ẩn chứa một ảnh hưởng vô cùng lớn đến cuộc đời mỗi người.

Thánh Vịnh 102 nói về phận người:

“Đời sống con người chóng qua như cỏ.
Như bông hoa nở trong cánh đồng.
Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi,
Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”.
(Tv. 102, 3)

Dẫu biết định luật đời người là như thế nhưng trong thực tế cuộc sống ta lại thấy có những người cứ nghĩ rằng mình sống như không phải chết hay mình như là cái rốn của vũ trụ. Nhìn dễ hiểu trong cách hành xử, họ cứ ngỡ không ai thay thế được họ nhưng rồi “không mợ thì chợ vẫn đông”.

Làm gì có cái chuyện gì là mãi mãi và vĩnh viễn. Đi làm thì cũng chỉ làm trong độ tuổi lao động. Đến tuổi hưu thì dù muốn dù không thì cũng phải nhường chỗ cho người khác.

Đâu đó ta thấy câu: “Người ta thường sống như thể mình không bao giờ chết, và cuối cùng thì chết đi như thể mình chưa từng sống”. Bao đời nay, dẫu triều đại đổi thay, ở Đông hay Tây, thì một đời người vẫn không ngoài mấy việc: thành gia lập nghiệp, sinh con đẻ cái, tích cóp làm giàu… Người ta thường nhọc nhằn chạy theo những ham muốn này, mà ít ai tự hỏi: Ý nghĩa cuộc đời mình rốt cuộc là gì?

Thế nên, để sống cuộc đời có ý nghĩa và để người đời còn nhớ tới mình sau khi đã chết, lời khôn ngoan đã khuyên dạy chúng ta:

“Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

Ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” (TV 90:12)

“Đếm tháng ngày mình sống” đồng nghĩa với suy niệm về cái chết, về một ngày không xa mình sẽ phải bỏ lại tất cả khi từ giãi cõi đời. Bởi vì mỗi ngày qua đi là một ngày ta tiến gần đến cái chết.

Một suy nghĩ sai lầm khá phổ biến ngày nay cho rằng, đằng nào cũng chết nên ta hãy tìm mọi cách để tận hưởng ngày hôm nay bằng cách thoả mãn bản thân bất kể giá nào, kể cả bằng cách vô đạo nhất, hậu quả của cách nghĩ này không những không mang lại cho người ta hạnh phúc mà ngược lại là đau khổ và thất vọng vô biên.

Khi chúng ta suy nghĩ cuộc sống là hữu hạn, chúng ta cần làm những gì tốt nhất và có ý nghĩa nhất cho trong ngày hôm nay không chỉ cho bản thân mà là cho gia đình, cho những người xung quanh, cho cộng đồng,… để ngày mai ra đi không phải hối tiếc, đó mới là cách sống tích cực nhất.

Một người biết mình đang đi dần đến cái chết thường sống cho thật trọn vẹn trong những ngày còn lại. Họ sống thật chậm để nhìn cuộc đời, để nhìn người thân lần sau cuối. Tất cả xung quanh họ đều thật đẹp, thật quý biết bao. Họ trân trọng từng phút giây đi qua và từng phút giây đang đến. Đối với họ, mỗi giây được sử dụng một cách cẩn trọng, không bao giờ họ đánh mất một giây phút nào cho việc làm vô ích.

Như vậy, suy nghĩ về những ngày giờ mình sống trên dương thế để tìm ra ý nghĩa khôn ngoan cho cuộc sống không những giúp ta sẵn sàng khi phải đối diện với cái chết, mà còn giúp cho ta sống tốt, sống hạnh phúc ngay ở đời này nữa. Một cuộc sống không buông thả, lo lắng, buồn phiền, mánh mung, chộp giật như cái nhìn của những người cứ nghĩ rằng mình không bao giờ chết, muốn sống lâu, sống hưởng thụ để rồi phải hối hận, cay đắng bỏ lại tất cả khi giờ chết đến.

Nhà cửa, công danh, thân bằng quyến thuộc… thảy đều không thể theo ta mãi mãi. Ý nghĩa cuộc đời là gì? Ta có nghĩ đến ngày ta phải chết không ? Mỗi chúng ta đã có câu trả lời cho mình chưa?

Lm. Anmai, CSsR

Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh (2 Cr 12:10) – Cha Vương

Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.

Happy July 4th đến bạn và gia đình nhé. Tạ ơn Chúa, cảm ơn U.S.A.!

Cha Vương

Thứ 2: 04/07/2021

TIN MỪNG: Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh. (2 Cr 12:10)

SUY NIỆM: Trên đời nay không ai muốn tự cho mình là yếu cả, thế mà Thánh Phao-lô dám tuyên bố rằng: tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối… Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh! Điều bí ẩn gì mà Thánh Phao-lô muốn nói với bạn hôm nay? Ý ngài muốn giúp bạn khám phá ra về lợi ích thiêng liêng trong sự yếu đuối của mình.

Để chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của mình một cách dễ dàng, bạn cần phải có đức khiêm nhường, qua đó bạn mới đến với Chúa trong sự yếu đuối mỏng giòn của mình được.

Khiêm nhường là mở lòng để đón nhận ý Chúa, mở lòng để sống theo ý Chúa. Như bạn cũng đã biết nước Hoa Kỳ được liệt kê là một cường quốc. Thế mà trong bản tuyên ngôn độc lập có viết một câu đã trở thành niềm kiêu hãnh và sự công nhận quyền bình đẳng, quyền tự do cho mỗi công dân Hoa Kỳ trong đó có bạn nữa: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Đấng Tạo Hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc.”

Vì cả guồng máy chính trị được đặt trên nền tảng bất cả xâm phạm này mà nước Hoa Kỳ được trở nên hùng mạnh. Họ hùng mạnh không phải vì họ có những loại vũ khí tối tân nhất thế giới nhưng mà là do họ biết đặt Đấng Tạo Hoá (Thiên Chúa) lên hàng đầu.

Đúng là họ đã hiểu được lời thánh Gioan nói: “vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (x Ga 15:5b) Vậy hôm nay trong bầu không khí mừng Lễ Độc Lập, mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cách riêng cho đất nước Hoa Kỳ, xin Chúa luôn bảo vệ mảnh đất tự do mà Chúa đã ban để mọi người công dân được “có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc”.

LẮNG NGHE: ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. (St 12:1,2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Đấng hiền lành khiêm nhường, thật diễm phúc cho con được gọi là con của Chúa, xin đoái nhìn đến phận yếu hèn của con, xin đừng để con đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho con, và xin cho con luôn bước theo Chúa để được hạnh phúc muôn đời.

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng để dâng đất nước Hoa Kỳ cho Mẹ Maria.

Mời nghe Nhạc: Tất Cả Là Hồng Ân

 https://youtu.be/MfJ78D-zUZY

From: Đỗ Dzũng

Tuổi Xế Chiều…!

Tuổi Xế Chiều…!

Rồi ai cũng phải về với cát bụi, có ai sống mãi trên nhân thế này đâu. Và thời gian càng ngày càng ngắn lại, sức khỏe càng ngày càng yếu đi.

Sao không bắt tay làm ngay những điều mình mong ước, sao không đi đến ngay những nơi mà ta thích thú, sao không sắm ngay những vật mà ta từng mơ tưởng khi trong túi vẫn đủ tiền.

Sao không chào mọi người bằng cái vẫy tay, bằng một nụ cười bởi nhiều khi đó là lần đầu tiên ta gặp họ nhưng có thể cũng là lần cuối cùng bởi không còn duyên gặp lại,

Tuổi già nên tạo cho mình một đam mê sáng tạo: chụp hình, vẽ tranh, nặn tượng, làm gốm, làm vườn, trồng cây, viết nhạc, làm thơ, đi đây đi đó…tất cả trở thành gia vị cho cuộc sống mà thời trẻ bận rộn với manh áo, miếng cơm, lo âu cuộc sống ta không thực hiện được. Gắng đọc sách, đọc báo, vào mạng, viết mail để rèn luyện trí nhớ. Sống lâu mà chẳng nhớ gì, chẳng biết gì đang xảy ra cũng phí một quãng đời.

Đoạn đường trước mặt của mọi người ngày càng ngắn lại, sao không thể tha thứ, bao dung cho nhau những tỵ hiềm, những đụng chạm của một thuở. Sao không siết tay nhau khi còn sống.Sao không kiếm miếng ngon để thưởng thức hương vị của cuộc đời khi túi còn đủ tiền để trả cho món ăn ngon, đã đến lúc không nên hà tiện, keo kiệt để làm khổ thân mình, bởi khi ta mất đi mà vẫn còn tiền nhiều quá cũng là điều bất hạnh.

Nếu con cháu ngoan hiền thành đạt, có tình cảm với ta, có chăm sóc, thăm hỏi ta cũng là điều hạnh phúc. Bằng không, nếu chúng quên tình cảm gia đình, thì cũng đừng lấy điều đó làm buồn mà thất vọng.

Con cái muốn đi theo con đường nào, chọn ngành nghề gì, yêu ai và muốn lập gia đình với ai, ta chỉ nên khuyên nhủ, định hướng, không nên bắt chúng phải theo ý ta, sống vì ta. Bởi chúng có cuộc đời riêng của chúng và chúng ta chắc chắn sẽ không sống mãi với chúng nên phải để chúng quyết định đời mình.

Cũng không nên quá tin tưởng vào con cái mà giao hết số tiền dành dụm suốt cuộc đời cho chúng. Vì đó là mở đầu cho những bất hạnh mà ta phải chịu đựng sau này. Nếu khi đến tuổi mà cứ ôm khư khư các cháu, ta đã phí phạm thời gian còn lại ngắn ngủi của mình.

Người biết lo xa là khi tuổi trung niên đã chuẩn bị cho tuổi già, chuẩn bị để khỏi lệ thuộc vào con cái về vật chất, được như thế những ngày của tuổi già không phải trông mong vào những đồng tiền chu cấp của các con, được thoải mái và tự do trong sinh hoạt.

Người ta bảo tuổi già buồn, nhưng thật ra nếu biết cách sống và có sức khỏe, tuổi già là tuổi vui. Đó là tuổi đã làm xong những phận sự, chẳng còn nhiều trách nhiệm với cuộc đời, mọi lo toan cũng chẳng còn mấy chút. Giàu cũng giàu rồi, nghèo cũng nghèo rồi, chẳng còn sức lực và thời gian để thay đổi số mệnh.

Đau khổ, lo âu hay hạnh phúc, hoan hỉ đều do tâm ta mà ra. Cuối con đường của cuộc sống, an lạc, an nhiên mà đi, chăm sóc bản thân, chấp nhận cái đích cuối cùng của loài người, không âu lo, chẳng sợ hãi cái chết, hãy xem cuộc đời chẳng có gì là quan trọng nữa và tận hưởng nó đến giây phút cuối cùng, âu đó chính là con đường hạnh phúc…!

From: Kristie Phan & Lucie 1937

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA NGU DÂN – Nhà văn Dương Thu Hương.

TrongDe Ho

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA NGU DÂN

Nhà văn Dương Thu Hương.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:

– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?

Tôi đáp:

– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.

Anh bạn chưng hửng:

– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.

Tôi cười:

– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.

Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

Fb Vũ Tuân

Đôi điều cần Suy Gẫm

Đôi điều cần Suy Gẫm

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường… Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được…

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu: Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mãi mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ…

 Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

 Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

 Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

 Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

 Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

 Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

 Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

 Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Đế.

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được : Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG

 S.T.

From: X.Truong

BẠN ĐANG THIỆN TÂM hay ÁC TÂM?-Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R 

 BẠN ĐANG THIỆN TÂM hay ÁC TÂM?

Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R 
 
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14)
 
Thiện tâm là gì?  Ác tâm là gì? 
   

  Hiểu đơn giản thì thiện tâm là tâm ngay lành, là nghĩ tốt, nói đúng và làm tốt cho người khác. Thiện tâm là lòng tốt, là chân tình, là tình yêu thương.
      Ác tâm là nghĩ xấu, nói xấu, và làm xấu cho người khác. Ác tâm là lòng độc ác.
Dấu chỉ của người thiện tâm là luôn luôn bình an trước những khó khăn, bất công của cuộc sống, vì người thiện tâm biết rằng một khi đã sống thiện tâm thì không sự dữ nào có thể tấn công, làm hại được họ. Trái lại, người ác tâm luôn sống bất an trước mọi vấn đề của cuộc sống, vì họ luôn nhìn mọi biến cố theo chiều hướng có thể “ác tâm” cho mình, hoặc cho người khác.
     

Chuyện nghe và quan sát được: Một lần kia, tôi được mời đến giảng tĩnh tâm cho một xứ nọ. Đây là một cộng đoàn Công Giáo của người Việt, mới được giáo phận trao cho một nhà thờ để toàn quyền lo cho đời sống đức tin của cộng đồng người Việt trong giáo phận. Nhà xứ và nhà thờ này cách nhau chừng năm phút lái xe. Bên cạnh nhà thờ Công giáo này là một cở sở nhỏ của anh em tin lành. Cơ sở này nếu nhà thờ Công giáo mua để làm nhà xứ rất thích hợp và thuận tiện – nhà xứ nằm ngay bên cạnh nhà thờ theo văn hoá, tinh thần mục vụ của người Việt.

Một lần, cha xứ ở đây và tôi trên xe đi từ nhà ra nhà thờ, tôi hỏi: làm thế nào để mình mua được cơ sở này của anh em giáo phái Tin Lành để làm nhà xứ?
 Cha xứ trả lời: Cầu nguyện thôi! Cầu nguyện xin Chúa cho họ có nhiều người đi hội họp, cầu nguyện… để cơ sở này trở nên chật chội, và họ cần kiếm một cơ sở mới, khang trang, rộng rãi hơn để sinh hoạt việc thờ phượng. 
 

Nói theo ngôn ngữ đời thường thì cha xứ này đã cầu nguyện cho người ta “ăn nên làm ra.” Một khi đã ăn nên làm ra thì chỗ nhỏ bé này không xứng tầm với người giàu nữa. Cần chỗ khang trang để xứng tầm với người ăn nên làm ra.
   

Cũng câu hỏi ấy, tôi hỏi một giáo dân khi người ấy chở tôi đi công chuyện ngang qua khu nhà thờ: nếu bên Công giáo mà mua được cơ sở của anh em thuộc giáo phái Tin lành bên cạnh để làm nhà xứ thì tiện lợi biết bao?
     

Người đó trả lời: Cầu nguyện! Cầu nguyện cho ÍT người đến sinh hoạt ở đó để họ không đủ chi trả, và phải bán cho bên chúng ta.
   

 Nói theo ngôn ngữ đời thường thì người này đã cầu nguyện cho người ta “làm ăn bết bát.” Làm ăn bết bát thì không còn tiền bạc để sinh sống, đến nỗi phải bán cả tài sản, đất đai để trang trải cho cuộc sống.
   

 Cùng một cầu hỏi, cùng một ý hướng là mua cở sở của anh em giáo phái Tin lành, và mong muốn người ta bán cho, nhưng qua câu trả lời khác nhau đã diễn tả nội tâm, tâm hồn khác nhau được ẩn chứa bên dưới: Thiện tâm và ác tâm. Thiện tâm là muốn điều tốt cho người ta có thể mình cũng được hưởng lợi theo hoặc không; còn ác tâm là muốn điều không tốt cho người ta và mình có thể hưởng lợi hoặc không.
   

 Để có thể làm sáng danh Thiên Chúa, và sống cuộc đời bình an, cần lắm việc huấn luyện lương tâm, tập luyện lòng chúng ta hướng về sự thiện.

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14).

Để có hành động, lời nói thiện tâm thì trước đó lòng, trái tim phải thiện tâm. Vì lẽ, Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, yếu tố này làm con người trổi vượt hơn các loài thọ tạo hiện hữu trong trần gian này, và con người có tự do chọn lựa. Con người có tự do đưa ra những chọn lựa luân lý cho mình, nhưng con người hoàn toàn không có tự do vì những hậu quả do những chọn lựa của họ (You are free to choose, but you are not free from the consequences of your choices). Do vậy, có ai đã nói: 

Hãy cẩn thận với NHỮNG SUY NGHĨ của bạn vì chúng sẽ biến thành Lời Nói.
Hãy cẩn thận với những LỜI NÓI của bạn vì chúng sẽ biến thành Hành Động.
Hãy cẩn thận với những HÀNH ĐỘNG của bạn vì chúng sẽ biến thành Thói Quen.
Hãy cẩn thận với các THÓI QUEN của bạn vì chúng sẽ tạo nên Tính Cách của bạn.
Hãy chú trọng tới TÍNH CÁCH của bạn vì nó sẽ tạo nên Số Mệnh của bạn.
Và SỐ MỆNH của bạn sẽ là CUỘC ĐỜI của bạn . . .và . . .

Cùng Suy Nghĩ và Hành Động: Tôi có kinh nghiệm như thế nào về việc: miệng nhanh hơn não, hoặc nói mà chưa kịp suy nghĩ kỹ, rồi sau đó cảm thấy giá mà đừng nói những lời đó thì tốt hơn không? Nhìn vào lòng mình, tìm xem trong quá khứ đã bao nhiêu lần tôi ác tâm cố ý? Ác tâm không cố ý? Tôi đã cảm nhận như thế nào về sự bình an do ý ngay lành của tôi không?

Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R   

From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen