DIỄN VĂN CỦA THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN SHINZO ABE KHI THĂM TRÂN CHÂU CẢNG (27/12/2016)

Võ Văn Tạo

Đọc diễn văn của TT Shinzo Abe thăm Trân Châu Cảng (2.016), lại nhớ phát biểu (2.000- Hà Nội) của TBT Lê Khả Phiêu “đốp” mặt Clinton – TT Mỹ bỏ cấm vận kinh tế VN, nồng nhiệt khai thông quan hệ Mỹ – Việt.

Quan đần, dân khổ. Các cụ xưa nói cấm có sai!

Dễ hiểu vì sao ra khỏi chiến tranh với Mỹ 25 năm, Nhật vươn thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Sau 49 năm, người Việt vẫn tỏa đi khắp thế giới làm osin, dâu xứ người.

Hu hu!

—–

DIỄN VĂN CỦA THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN SHINZO ABE KHI THĂM TRÂN CHÂU CẢNG (27/12/2016)

(Người dịch: Nguyễn Quốc Vương)

Kính thưa tổng thống Obama, tư lệnh Harris, quý vị quan khách và toàn thể quốc dân Mĩ!

Giờ đây, tôi đang đứng ở Trân Châu Cảng, Pear Habour, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản.

Khi lắng tai nghe, tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ và trở lại ngoài khơi. Mặt vịnh xanh và yên bình được chiếu sáng bởi ánh nắng mềm mại tỏa xuống từ mặt trời.

Phía sau tôi, trên biển kia là khu tưởng niệm Arizona (Arizona Memorial-ND) màu trắng.

Tôi đã cùng với tổng thống Obama đến thăm nơi được xây dựng để an ủi linh hồn những người đã mất ấy.

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm.

Nơi đang khắc tên những người lính đã mất.

Những người lính tới đây từ California, Michigan, New York, Texas và nhiều nơi khác vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc cao cả đã chết trong lửa đỏ khi bom đạn xé chiến hạm Arizona thành hai mảnh vào ngày ấy.

Giờ đây, đã 75 năm trôi qua, dưới con tàu Arizona nằm nghiêng dưới đáy biển sâu vẫn còn rất nhiều binh sĩ đang yên nghỉ.

Khi lắng tai nghe với tất cả lòng mình, tôi nghe thấy tiếng của những người lính cùng với âm thanh của gió và của sóng.

Những tiếng trò chuyện vui vẻ, sôi nổi và dịu dàng vào buổi sáng chủ nhật ngày đó.

Tiếng của những người lính trẻ đang trò chuyện với nhau về tương lai và những giấc mơ của mình.

Tiếng gọi tên người mình yêu thương trong khoảnh khắc cuối cùng.

Tiếng nguyện cầu hạnh phúc cho những đứa trẻ sẽ chào đời.

Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt.

Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời.

Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành.

Kính thưa tổng thống Obama, toàn thể quốc dân nước Mĩ và người dân trên toàn thế giới!

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.

Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.

Trong suốt chặng đường 70 năm sau chiến tranh với tư cách là một quốc gia hòa bình, người Nhật chúng tôi đã vừa thầm tự hào vừa duy trì phương châm không gì lay chuyển ấy.

Ở đây, trước những người lính đang ngủ yên trên chiến hạm Arizona, trước toàn thể quốc dân Mĩ và mọi người trên thế giới, tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản muốn thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ quyết tâm ấy.

Ngày hôm qua tôi đã đến thăm tấm bia tưởng niệm một sĩ quan đế quốc Nhật Bản ở căn cứ hải quân Kaneohe.

Đó là trung tá Ida Fusata, phi công máy bay chiến đấu, người đã trúng đạn và không thể trở lại mẫu hạm trong khi tấn công Trân Châu Cảng.

Những người lập tấm bia ở địa điểm trung tá Ida Fusata rơi không phải là người Nhật. Chính là những người lính Mĩ, những người ở phía bị tấn công đã làm điều ấy. Họ đã dựng tấm bia vì tôn trọng sự dũng cảm của người đã chết.

Trên tấm bia khắc ghi “Đại úy hải quân đế quốc Nhật Bản”, cấp bậc lúc đương thời, tỏ ý kính trọng đối với người lính đã dâng hiến sinh mệnh cho tổ quốc.

“The brave respect the brave”.

Người dũng cảm kính trọng người dũng cảm.

Nhà thơ Ambrose Bierce đã viết câu thơ như thế!

Cho dù là kẻ địch của nhau cũng vẫn thể hiện lòng kính trọng. Cho dù là kẻ thù căm tức lẫn nhau vẫn cố gắng để hiểu nhau.

Ở đó là tấm lòng khoan dung của quốc dân nước Mĩ.

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ.

Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai.

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi.

Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên.

Trong đầu tôi lại hiện ra những lời được khắc trên bức tường ở khu tưởng niệm Lincoln ở Washington, nơi tôi đã đến thăm cùng tổng thống Obama.

“Cho dù với ai cũng phải hướng đến nhau bằng thiện ý thay vì ác ý. Tất cả chúng ta sẽ cùng hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn hòa bình vĩnh viễn”.

Đấy là lời của tổng thống Abraham Lincoln.

Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản, một lần nữa xin được chân thành cảm ơn sự khoan dung mà nước Mĩ và thế giới đã dành cho Nhật Bản.

Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử.

Đấy là hai nước đồng minh mà hơn bao giờ hết đã luôn cùng nhau đối mặt với biết bao khó khăn trên thế giới. Đấy là “Đồng minh của hi vọng”, thứ mở ra tương lai.

Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

Thứ mà tôi, cùng với tổng thống Obama, tại Trân Châu Cảng này muốn nói với tất cả mọi người trên thế giới chính là sức mạnh hòa giải.

Tấn thảm kịch của chiến tranh hiện nay vẫn chưa hề biến mất trên thế giới. Cái vòng luẩn quẩn của thù hận vẫn chưa hề chấm dứt.

Chính lúc này, thế giới đang cần đến lòng khoan dung và sức mạnh hòa giải.

Nhật-Mĩ, hai nước đã bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn, sự tin cậy dưới những giá trị chung lúc này có nghĩa vụ phải tiếp tục nói với thế giới về tầm quan trọng của khoan dung và sức mạnh của hòa giải.

Đồng minh Nhật-Mĩ vì thế là “Đồng minh của hi vọng”.

Vùng vịnh đang dõi theo chúng ta kia chỗ nào cũng thật thanh bình. Đấy là vịnh Trân Châu.

Vùng vịnh đẹp đẽ ngập tràn ánh sáng trân châu này chính là biểu tượng của khoan dung và hòa giải.

Tôi mong rằng con cái người Nhật chúng tôi, các con của tổng thống Obama, con của tất cả người Mĩ và con cháu của những người con ấy cùng toàn thể mọi người trên thế giới sẽ tiếp tục ghi nhớ Trân Châu Cảng như là biểu tượng của hòa giải.

Để có được điều đó, chúng tôi từ giờ về sau sẽ luôn cố gắng. Ở đây, cùng với tổng thống Obama, tôi cương quyết nói lời thề như thế.

Xin trân trọng

 Thánh Biển Đức (480-547) – Cha Vương

 Thánh Biển Đức (480-547)

Chúc Bạn và gia đình một ngày an lành nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Biển Đức (Benedict), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Hãy cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương 

Nếu Bạn muốn đi tour Tổng Tu Viện Bênêdíctô ở Montecassino bên Ý thì hãy vào linh sau đây. Mình đã có cơ hội đến đó. Tuyệt đẹp!!! Thánh Bênêdíctô, cầu cho chúng con.

YouTube player

Thứ 2: 11/07/2022

Thánh Biển Đức (480-547), Ngài sinh năm 480 trong một gia đình lỗi lạc ở Nursia, Umbria thuộc miền trung nước Ý, anh em song sinh cùng với nữ thánh Scholastica, theo học tại Rôma và ngay từ khi còn trẻ, ngài đã thích đời sống đan viện. Lúc đầu, ngài là một vị ẩn tu sống trong một cái hang ở Subiaco, xa lánh thế giới nhiều chán nản mà lúc bấy giờ giặc ngoại giáo đang lan tràn, Giáo Hội bị phân chia bởi ly giáo, dân chúng đau khổ vì chiến tranh, đạo lý ở mức độ thấp nhất. Sau đó không lâu, ngài thấy không thể sống cuộc đời ẩn dật ở gần thành phố, dù lớn hay nhỏ, do đó ngài đi lên núi cao, sống trong một cái hang và ở đó ba năm. Trong một thời gian, một số đan sĩ chọn ngài làm vị lãnh đạo, nhưng họ cảm thấy không thể theo được sự nghiêm nhặt của ngài. Tuy nhiên, đó cũng là lúc ngài chuyển từ đời sống ẩn tu sang đời sống cộng đoàn. Ngài có sáng kiến quy tụ các nhánh đan sĩ khác nhau thành một “Ðại Ðan Viện”, đem lại cho họ lợi ích của sự hợp quần, tình huynh đệ, và luôn luôn thờ phượng dưới một mái nhà. Sau cùng, ngài khởi công xây dựng một đan viện nổi tiếng nhất thế giới ở núi Cassino, cũng là nơi phát sinh dòng Bênêđích.

        Cũng từ đó, một quy luật từ từ được hình thành nói lên đời sống cầu nguyện phụng vụ, học hỏi, lao động chân tay và sống với nhau trong một cộng đoàn dưới một cha chung là đan viện trưởng. Sự khổ hạnh của Thánh Bênêđích được coi là chừng mực, và đời sống bác ái của ngài được thể hiện qua sự lưu tâm đến những người chung quanh. Trong thời Trung Cổ, tất cả các đan viện ở Tây Phương dần dà đều sống theo Quy Luật Thánh Bênêđích.

Thánh nhân qua đời ngày 21 tháng 3 năm 547 tại Monte Cassino, nước Ý. Thánh nhân được cho an táng trong cùng một ngôi mộ với em của ngài là Thánh nữ Scholastica dưới bàn thờ chính của đan viện Monte Cassino, nước Ý. Thánh tích của thánh nhân hiện đang giữ tại đan viện Monte Cassino và một phần tại đan viện Saint Bernoit-sur-Loire tại Fleury, nước Pháp.

        Lễ mừng kính ngài vào ngày 11 tháng 7 theo nghi lễ Roma, còn dòng Biển Đức thì cử hành lễ kính vào ngày 21 tháng 3 hàng năm để kỷ niệm ngày Thánh Nhân qua đời. (Nguồn: Người Tín Hữu Online)

Mời Bạn:

❦ Hãy áp dụng câu châm ngôn của ngài vào những công việc hàng ngày : “Ora et Labora” (Cầu nguyện và Lao động).

❦ Suy niệm những câu đáng ghi nhớ trên huy hiệu kính thánh Bênêdíctô:

+ Chớ gì chúng con được củng cố bởi sự hiện diện của Chúa vào giờ chúng con chết!

+ Chớ gì Thánh giá của Chúa là ánh sáng cho con!

+ Hãy cút đi, hỡi Xatan, đừng gợi ý cho ta về những sự hào nhoáng của thế gian! Ngươi thèm khát sự dữ ư? Ngươi hãy uống lấy nọc độc của ngươi!

 Câu nào đánh động Bạn nhất?

 From: Đỗ Dzũng

Đến cuối cuộc đời còn gì để tiếc?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đến cuối cuộc đời, khi tuổi tác đã xế chiều, hay nói như nhà văn Huy Phương đến “Ga cuối đường tàu” rồi, ngẫm nghĩ, soát xét lại đời mình, có mấy điều ghi nhận như sau:

Những khó khăn nào rồi cũng qua đi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Sau đau khổ là có niềm vui. Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai. Chuyện thánh Job trong kinh thánh, chuyện tái ông mất ngựa hay luật bù trừ an ủi chúng ta rất nhiều.

Xưa nay, người ta thường nói “thất thập cổ lai hy”, sống được đến 70 tuổi khó lắm. Nay nhờ ơn Trời, được 80 tuổi, thì quý lắm rồi. Tạ ơn Trời. Cám ơn đời. Sống thêm ngày nào đều phải được xem là ân phúc, là “bonus” của Trời ban cho mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, đã từng nói:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” còn tôi là người tầm thường, vô danh tiểu tốt, thì sao?

*1)Suy tư cuộc đời theo vận nước nổi trôi

Nhìn lại quãng đời đã qua từ lúc còn nhỏ, sinh ra ở làng Đông Thạnh, quận Cần Giuộc, nghèo nàn, đường sá trơn trợt mỗi khi trời mưa, có bao giờ dám nghĩ về một tương lai phải sống xa nơi chôn nhau cắt rún đến nửa vòng trái đất.

Nổ lực học tập, hết sức khó khăn, để qua được các kỳ thi ở trung học, ở trường Đại học, rồi hoạt động chính trị, đi tù cộng sản rồi ra tù, không được dạy học nữa, phải làm đủ các nghề linh tinh để sống. Qua Mỹ lại bắt đầu từ số không, lại làm việc cật lực-nghề không ưa thích- để sống và về hưu.  

Tôi vẫn thích câu nói như sau: “Giá trị của bạn chính là việc bạn đã làm được gì, đóng góp gì, chứ không phải vỏ bọc hình thức bạn tốt nghiệp trường nào, có bao nhiêu bằng cấp.”

*Gia đình: Tất cả kho tàng trên trái đất không thể nào so sánh nổi với hạnh phúc gia đình. (Calderon)

Tôi cám ơn gia đình tôi vì đến ngày hôm nay- tháng 07 năm 2022- đã sống với bà xã tôi, vài tháng nữa, được 55 năm.  Sóng gió, gây gỗ, giận hờn, lục đục không biết bao nhiêu mà kể. Trong thời gian dài gần 8 năm tôi bị tù cộng sản, bà xã tôi một mình vừa đi dạy, vừa lo cái ăn, cái mặc cho bốn đứa con từ 8 tháng tuổi cho đến 7 tuổi. Khi đứa con gái út đi nằm nhà thương vì bịnh phổi có nước, cần săn sóc, mới là vấn đề nan giải. Làm sao sắp xếp thì giờ vừa đi dạy, vừa lo cho cháu nằm ở nhà thương, vừa lo cho các cháu còn lại ăn uống, tắm rửa, cơm nước, học hành?

Khi tôi bị đày ra Bắc, bà xã tôi phải vất vả thăm nuôi, mang đồ ăn từ trong Nam ra, lặn lội, gồng gánh, đem đến trại giam, ở trong thung lũng của rừng núi tỉnh Vĩnh Phú, gặp chồng được 15 phút rồi về. Tù chết quá nhiều nên trại mới cho thăm nuôi để gia đình của tù nuôi tù.

Cám ơn cha mẹ để gia đình vợ con cùng sống trong nhà, lúc tôi đi tù ở nơi rừng thiêng nước độc từ 1975 đến 1983. Để rồi sau khi tôi ra tù, qua thời gian dài 10 năm từ 1983-1993, gia đình tôi cũng nương tựa vào nhà ở của cha mẹ tôi mà làm ăn sinh sống.

* Sự nghiệp:

Thiên Chúa ban cho sức khỏe, khả năng, trí tuệ, sự hiểu biết; ta cần phải đem hết khả năng Thiên Chúa ban cho để kiếm tiền nuôi thân, nuôi gia đình và đóng góp cho xã hội càng ngày càng tốt đẹp hơn. Làm việc đàng hoàng, kiếm tiền lo cho gia đình, cũng là đóng góp cho xã hội rồi.

*2)Đến cuối cuộc đời còn gì để tiếc?

Ôn lại cuộc đời đã qua tôi thấy gì?

Đau thương, đau khổ, vui mừng, đói khát, no đủ, đắng cay, ngọt bùi trong cuộc đời tôi nếm đủ cả.

Tù đày: gần 8 năm trong các trại cải tạo miền Bắc, chịu nhục nhã, lạnh lẽo, đói khổ ở các vùng rừng núi âm u, sơn lam chướng khí, hy vọng sống còn để trở về gia đình rất mong manh. Địa danh Mai Côi, Thác Guồng ở K4 Vĩnh Phú là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với tôi cho đến ngày hôm nay.

Con chết: Con trai mới 48 tuổi, tuổi đã học tập được nhiều kinh nghiệm trong công ăn việc làm, lương bổng bắt đầu khá lên … Nhưng bất ngờ, đã ra đi, mọi sự đều bỏ dỡ hết. Để lại hai cháu nội ông bà phải để ý, lo toan.

Bôn ba làm việc kiếm tiền, đem hết trí khôn, sức lực để tạo một ngôi nhà để trú ngụ, một số tiền để dành khi hữu sự như bịnh hoạn hay rủi ro khác, rồi đến lúc nào đó, với tuổi già, không còn sức khỏe nữa… cuộc đời sẽ ra sao?

*Rồi 5, 10 năm nữa sau khi ta lìa đời, kẻ thương người ghét mình, chắc cũng chẳng ai còn nhớ đến mình đâu?

Con cái, cháu chắt, có thân phận của chúng nó, mình chỉ có thể làm việc hết khả năng của mình mà thôi. Thiên Chúa sẽ tiếp tục nâng đỡ, lo lắng cho các con cháu.

Tôi luôn tự nhủ rằng hãy cố gắng sống với tinh thần lạc quan, tích cực, vui tươi.

Tôi cố quên đi – nhưng vẫn nhớ – những đau khổ, khó khăn mà mình đã chịu đựng thí dụ gần 8 năm tù bị bỏ đói, sống lê lết trong các trại tù Long Thành, Thủ Đức, Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh… vừa đói, vừa lạnh, đi không muốn nổi vì bị suy dinh dưỡng…

*Con người có trí óc, khả năng để làm việc, để sống; nhưng con người còn có trái tim biết yêu thương, để biết phải quấy ở đời. Còn nợ ân nghĩa, ân tình làm sao mà trả được?

*Đã qua rồi những đau thương, khó khăn, khổ sở về vật chất và về tinh thần, gian nan, thử thách rất nhiều trong suốt thời gian đã qua. Vì vậy:

Tạ ơn trời – hôm nay tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
 ……

* – Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi biết bao kỷ niệm vui buồn, những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được.

*. – Xin cám ơn tất cả … những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi từng biết mà chưa quen.
* – Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để nhận ra cuộc sống này thật vô cùng ý nghĩa

*Tôi vẫn thường xuyên tập luyện, suy nghĩ vui tươi, lạc quan mỗi ngày, nghe những lời nói vui vẻ, nói những lời nói tích cực, tránh nghe lời nói chê bai, chỉ trích, công kích người khác. Để chi vậy? Để tâm hồn được thanh thoát, vui tươi, hạnh phúc từng ngày. Khó lắm. Nhưng, tạ ơn Chúa. Nhờ Chúa giúp sức mỗi ngày. Để giữ gìn cho tâm bình an, giúp ngủ được, nhờ đó giữ gìn được sức khỏe, giảm sự suy sụp, mệt mỏi.

Sống lâu, có sức khỏe thì tốt. Nếu sống lâu mà nằm một chỗ, không nói năng gì được, cuộc sống thực vật, không còn biết gì nữa, không tự sinh hoạt hay tự ăn uống được, sống bằng “máy thở, ống thức ăn”, nếu con cháu thấy bịnh không thể phục hồi được, không nên duy trì sự sống mà làm gì?

*Vì vậy nên cứ để cho người thân ra đi từ từ, vì sự chết là qui luật tất yếu của trời đất. Đâu có ai thoát được chuyện sinh tử đâu.

Hằng ngày, mỗi buổi sáng, khi vừa thức dậy cần nói “Tạ ơn Chúa vì tôi còn sống”, sẽ làm cho tâm hồn ta vui vẻ, bình an. “Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy, Cho con còn ngày nữa để yêu thương”.

*Mỗi ngày còn sống là một niềm vui

Tôi đã lo trước phần hậu sự. Con cái không phải lo lắng về chi phí cho đám tang. Khi chết, ở mộ bia nên ghi câu sau đây: “Chính lúc chết đi là khi sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi)

Mỗi tuần, chúng ta mất một giờ đi nhà thờ ca ngợi, chúc tụng Chúa, rồi khi chết, linh hồn được sống đời đời, được hưởng đời sống vĩnh cửu, thật tuyệt vời và đời sống chúng ta có ý nghĩa biết bao.

Khi còn sống, sinh hoạt cộng đồng hay ở nhà thờ, “sống cùng, sống với” bà con, bạn bè, người thân vẫn thú vị hơn. Kết thân, có thêm nhiều người bạn ở nhà thờ vẫn tốt hơn là kết thân với những người bạn ở Casino hay là kết thân với các bạn nhậu. Có phải như vậy không?

*Mặc dầu nước Việt Nam đã thống nhất sau 47 năm (gần nửa thế kỷ)

Lòng người vẫn ly tán, chưa có hòa hợp, hòa giải thực sự, vẫn phân biệt đối xử, vẫn chưa có tự do nghiệp đoàn, tự do bầu cử, tự do ngôn luận, chưa có đa đảng, đối lập chính trị; những quyền căn bản này đã được thực thi trước đây ở miền Nam Việt nam, cách nay 55 năm, dưới thời đệ nhị cộng hoà, với hiến pháp 01-04-1967.

             -Nơi nào có tình thương yêu, thì nơi đó luôn có những điều kỳ diệu. (Loilla Cather)

              -Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu. (Vincenl Van Gohg)         

Cùng đích của cuộc đời chúng ta là gì?

 Dân gian ta có câu “sống gởi, thác về”. Sự sống chỉ là tạm bợ. Chết mới là trở về. Trở về đâu? Trở về với cội nguồn, trở về với Thượng Đế, Đức Chúa Trời, đấng đã tạo dựng ra mình, rồi chúng ta sẽ gặp nhau ở nước Thiên đàng, gặp lại tất cả những người thân yêu, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân nhân, bạn hữu của chúng ta, những người mà ta đã gặp gỡ ở trên trần thế này, đã ra đi trước chúng ta.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

11 tháng 07 năm 2022

Kỷ niệm ngày sinh thứ 80

 Mời xem thêm:

*BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur…

*Sống như thể mình không bao giờ chếtLm Anmai, CSsR

*Tuổi Xế Chiều…!

Giấc mơ từ một cái chết – Tuấn Khanh

Giấc mơ từ một cái chết

09/07/2022

Tuấn Khanh

 

Về ông Shinzo Abe, dân Việt được nhìn thấy như là một người tận hiến cho quốc gia mình. Sự có mặt của vị Thủ tướng này trên chính trường Nhật để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong loạt các cải cách chính trị lớn mang tên ông, và thậm chí là thương hiệu kích thích kinh tế được công nhận trên toàn cầu của riêng ông, Abenomics.

***

Nhưng thời đại cầm quyền của ông Shinzo Abe không chỉ có tiếng thơm. Để bảo toàn cho công việc lãnh đạo của mình, ông Shinzo Abe đã thúc đẩy việc hình thành đạo luật Special state secrets: Những người tố cáo và báo giới ở Nhật Bản có thể sớm phải đối mặt với án tù dài hạn vì tiết lộ các báo cáo bí mật nhà nước, có thể bao gồm thông tin nhạy cảm về thảm họa hạt nhân Fukushima và mối quan hệ xấu đi của nước này với Trung Quốc. Nước Nhật đã rơi vào những cuộc tranh cãi khủng khiếp về việc đặt án tù cho các ngôn luận tự do. Theo luật này, các quan chức nhà nước và tư nhân làm rò rỉ ‘bí mật nhà nước đặc biệt’ sẽ phải đối mặt với án tù lên đến 10 năm, trong khi các nhà báo tìm cách lấy thông tin tuyệt mật có thể chịu án tù lên đến 5 năm.

Ông Shinzo Abe cũng là người cổ xúy và giúp cho nhiều dự án điện than ở Việt Nam, theo yêu cầu của Hà Nội. Và nỗ lực này của ông cũng khiến vào tháng 9/2019, ông bị từ chối, không được đọc bài phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu của Liên Hợp Quốc.

Nhưng ông Shinzo Abe là người đã mang nước Nhật trở lại với nhiều điều khác. Thái độ cứng rắn với Trung Quốc và Hàn Quốc đã tạo cho nước Nhật một vị thế mới. Bất chấp sự phản đối rộng rãi của công chúng, ông đã mở rộng chi tiêu quân sự của Nhật Bản và viết lại hiến pháp, cho phép lực lượng Phòng vệ Quốc gia của Nhật Bản được hoạt động ngoài biên giới nước Nhật để giúp đỡ các đồng minh đang bị tấn công. Ông cũng cho khởi động lại năng lượng hạt nhân, vốn đã không hoạt động kể từ thảm họa Fukushima năm 2011.

Cần thấy, mối quan hệ ngoại giao của ông Shinzo Abe với các nước khác, là giữa chính phủ với chính phủ, ít chạm đến người dân. Mục tiêu rất rõ: Nước Nhật phải là một quốc gia mạnh và thiết lập đủ các đường dây đồng minh trong một thời đại đầy bất an với đất nước mình. Chủ trương quan hệ chính phủ với chính phủ được đặt trên mọi thứ, nên Nhật luôn dẫn đầu trong việc tài trợ và giúp đỡ Việt Nam trong công việc phát triển, thậm chí xem nhẹ những vấn đề về tham nhũng và bất cập của thể chế trong suốt một thời gian dài. Có lẽ vì vậy, nên thủ tướng Shinzo Abe dù được coi như là chính khách luôn vì con người, nhưng chưa bao giờ ông đá động gì về vấn đề nhân quyền hay tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ngày ông mất, các trang mạng ở Trung Quốc và Hàn Quốc xuất hiện nhiều các ngôn luận reo mừng, vì cuối cùng, cái gai trong mắt họ đã mất. Ngược lại, nhiều nơi tiếc thương, trong đó có người dân Việt Nam. Và như đã nói ở trên, người dân Việt Nam thì không nhận được gì nhiều từ đường lối ngoại giao của thủ tướng Shinzo Abe, nhưng họ ủng hộ vì điều gì?

Rõ là, làm chính trị, sẽ bị phán xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng ông Thủ tướng Shinzo Abe được kính trọng bởi vượt lên với tinh thần phục vụ quốc gia chứ không vì đảng của mình, hay vị thế của bản thân mình. Quyền lợi và phát triển của nước Nhật được ông Abe nhắm tới, dành cho tổ quốc và dân tộc chứ không nhằm giữ vững quyền lực chính trị của đảng hay tạo vây cánh, trục lợi cho một âm mưu cầm quyền lâu dài.

Nhiều người Việt trân trọng đưa lại các bức ảnh của ông Abe quỳ gối lắng nghe dân nói, hình ảnh ông cúi chào một cách khiêm cung, và cả cuộc đời giản dị của ông. Đến Việt Nam nhiều lần, nhưng chưa bao giờ ông Abe tổ chức đi xuống đường bắt tay dân chúng như các lãnh tụ khác, nên sự kính trọng lan rộng với ông Abe lúc này, có thể được diễn giải như một giấc mơ thầm kín của người Việt Nam về một lãnh tụ thật sự vì dân, vì đất nước.

So với các quan chức Việt Nam xuất hiện và luôn được hệ thống tuyên truyền và báo chí một chiều rầm rộ ca ngợi, bất chấp hậu quả về sau, ông Shinzo Abe không được lực lượng đó yểm trợ truyền thông. Nhưng ngược lại, rất nhiều người Việt biết và đứng lên tưởng niệm ông, như để bày tỏ về một giấc mơ về một Việt Nam khác, về những quan chức chân chính, và một chế độ sẽ phục vụ, sống và chết cho quê hương mình, chứ không nhân danh vì bất kỳ một lý tưởng nào khác.

T.K.

Nguồn: Tuấn Khanh’s blog

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Văn Vàng Bis

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Văn Vàng Bis

Trong những trang sổ tay trước, tôi đã có dịp ghi lại đôi điều về cuộc đời hoạt động của linh mục Nguyễn Văn Vàng (N.V.V) và những ngày tháng cuối cùng của ngài nơi trại kiên giam A 20. Tuần qua, có độc giả nêu câu hỏi: Cha Vàng đã “đột tử” ra sao trong trại tù Xuân Phước, nơi đã từng được mệnh danh là Thung Lũng Chết?

Thực sự, người tù N.V.V không lìa đời một cách đột ngột. Cái chết của ông đã được nhà nước hiện hành “định sẵn,” ngay từ khi ông vừa bị bắt:

“Khoảng tháng 8-1977, Mặt Trận Liên Tôn tức Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng 2 do Linh-mục Nguyễn Văn Vàng lãnh đạo bị bể. Cha Vàng và người em là Thiếu-tá Nguyễn Văn Viên cùng tất cả bộ phận đầu não và những người tham gia tổ chức bị bắt gần 100 người. Thiếu-tá Nguyễn Văn Viên là một trong những người Tiểu Đoàn Trưởng kỳ cựu của Lữ Đoàn Dù VNCH. Cha Vàng bị giam ở xà lim 25 khu C-1 và ông Viên giam ở xà lim 11 khu C-2 tại Phan Đăng Lưu.

 “Thời gian hỏi cung, Cha Vàng và ông Viên được đối xử rất đặc biệt làm ngạc nhiên tất cả tù ở khu C-1 và C-2. Chúng tôi ăn tiêu chuẩn mỗi ngày một khúc khoai mì buổi trưa và 1 chén cơm với nước muối vào buổi chiều, thì Cha Vàng và ông Viên được một tô cơm với thịt hoặc cá và một trái chuối tráng miệng, mỗi ngày trại trưởng đều xuống tận xà lim hỏi han sức khỏe…

 “Sự biệt đãi hai anh em Cha Vàng kéo dài hơn hai tháng cho đến khi kết thúc hỏi cung. Vụ án ra tòa, ông Nguyễn Văn Viên bị tử hình, Cha Vàng và ông Nguyễn Quốc Bảo, Ủy-viên Quân Sự của tổ chức bị kết án chung thân, những người khác trong Bộ Tham Mưu lãnh án 20 năm. Những người không ra tòa bị đưa đi tập trung cải tạo lao động.

“Năm 1982, gặp Cha Vàng ở trại Xuân Phước, tôi hỏi Cha vì sao Cha và ông Viên được “ưu đãi”, Cha Vàng giải thích đó là một thủ đoạn dụ cung rẻ tiền của chấp pháp…” (Nguyễn Chí Thiệp. Trại Kiên Giam. Los Angeles, CA: Sông Thu, 1992).

Thay vì bị tử hình như bào đệ Nguyễn Văn Viên, nhờ vào chức danh tu sỹ và uy tín cá nhân đối với giáo dân nên linh mục N.V.V chỉ bị kết án chung thân. Tuy thế, cái chết của ông thì đã được Cục Quản Lý Trại Giam “sắp sẵn” rồi – theo lời của người bạn chung tù (và cùng chung xà lim biệt giam) cho biết:

“Tết Nguyên Ðán năm 1984, chúng tôi lại trải qua một cuộc “xóa bài làm lại” trong khu biệt giam của Phân trại E thuộc A-20 Xuân Phước, nghĩa là phải thay đổi chỗ ở sau một màn tất cả lần lượt “bị” lùa ra giếng nước ngay bên cạnh ao thả cá rô phi sau khu biệt giam. Trời Tháng Giêng ở thung lũng tử thần lạnh như có ai cầm dao cắt vào da, nhất là khi trời vào tiết Xuân, gió hiu hiu làm lay động hàng dừa trong sân trại.

 “Cái lạnh thiên nhiên cộng với việc thiếu đường và chất béo từ 9 năm qua khiến cho buổi sáng ngày 30 Tết Nguyên Ðán năm 1984 trở thành buổi sáng không thể nào quên được trong đời. Chân tay anh em chúng tôi gần như tê liệt. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng đứng như trời trồng trước cửa biệt giam số 5 khi ngài được trật tự mở còng cho đi tắm và làm tổng vệ sinh buồng giam.

“Một tu sĩ Công Giáo nhỏ con, lanh lẹ như một con sóc, nổi tiếng hùng biện và can trường như ngài mà chỉ mới hơn 3 năm bị cùm trong xà lim, thân xác không khác gì người tù Do Thái trong các trại tập trung của Ðức Quốc Xã hồi Thế Chiến Thứ Hai.

“Linh Mục Vàng đứng lên được nhưng không thể nào bước đi được… Tôi được tháo cùm sau Linh Mục Vàng, hai đầu gối tê cứng, thân mình xiêu đổ khi đứng lên và cũng được hai tù hình sự dìu ra giếng nước. Một trong hai tù hình sự đứng kéo nước từ giếng lên để xối cho chúng tôi biết ông Vàng là linh mục nên nói: “Cha ngồi xuống dựa vào bức tường chắn cho đỡ lạnh. Anh cũng vậy. Em kéo nước lên sẽ dội ra ngoài để che mắt bọn nó. Cả hai người yếu quá rồi chỉ nên thay quần áo chứ không thôi thì ở dơ không chết mà chết vì cảm lạnh đấy.” Chúng tôi thấy người tù hình sự này nói có lý nên làm theo.

“Cả hai chúng tôi ngồi cho đến hết giờ tắm để lại được dìu ra khỏi giếng nước đến ngồi ở bờ hè bên bức tường hông nhà bếp nơi có thùng nước nóng mà tù cải tạo đội nhà bếp xin mang ra để phát cho những tù nhân biệt giam ra tắm. Tôi cho ca nước của mình múc một ca, uống hết một nửa, một nửa đưa cho Linh Mục Vàng.

 “Ngài uống hết rồi múc thêm một nửa ca nữa. Tôi hỏi ngài: “Bố vẫn còn khát hả” Ngài trả lời: “Uống phòng xa.” Ðộng từ “phòng xa” anh em chúng tôi dùng để chỉ thời kỳ bị nhục hình bằng chính sách hai muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối khi chúng tôi bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc nên mỗi khi bị gọi ra “làm việc” phải xin uống cho thật nhiều nước trước lúc bị dẫn trở lại buồng giam rồi đái ra để uống cho đỡ khát.” (Vũ Ánh. Thung Lũng Tử Thần. Westminster, CA: Người Việt Books, 2014).

Tôi cũng đã đi qua đôi ba nhà tù, và cũng có dịp tìm biết qua sách báo/phim ảnh về nhiều loại trại giam ở khá nhiều nơi nhưng chưa thấy nơi đâu (kể cả những trại tập trung của Đức Quốc Xã) mà tù nhân phải uống nước thải để sinh tồn cả. Với “chính sách hai muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối” mỗi ngày (và tình trạng thường xuyên “bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc”) mà tù nhân vẫn còn có thể sống sót thì mới là chuyện lạ.

Linh mục Nguyễn Văn Vàng lìa đời trong xà lim, tại Trại Kiên Giam A20 vào tháng 4 năm 1985, qua lời tường thuật (và cảm thán) của một người đồng cảnh –  nhà báo Vũ Ánh:

“Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn…

 “Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi. Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ.

 “Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.”

Có bao nhiêu tu sỹ (Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) và bao nhiêu người dân Việt Nam đã bị “giết nguội” trong nhà giam một cách dã man và tàn độc như thế – gần thế kỷ qua – trong chế độ hiện hành?

Trao đổi với với BBC, luật sư Phạm Công Út, trưởng văn phòng luật Phạm Nghiêm phát biểu:

“Một khi kết quả giám định pháp y những vụ này không được công khai và vẫn được xem là ‘bí mật nhà nước’ thì người dân càng hoang mang và hoài nghi không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi mình hoặc người thân được mời đến đồn công an.”

Không có nhà nước nào tồn tại mãi, những “bí mật” của mọi chế độ cũng thế. Rồi ra – chắc chắn – sẽ phải có những phiên tòa “muộn” về những cái chết oan khuất và thảm khốc của linh mục Nguyễn Văn Vinh (1971), thượng tọa Thích Thiện Minh (1978), linh mục NVV… Quá khứ cần phải được thanh thỏa để hậu thế có thể an tâm sống với hiện tại, và tránh bớt những lỗi lầm (cùng tội ác) cho mai sau.

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

Có một lần, một người bạn Mỹ dạy học chung với tôi bảo với tôi rằng: “Người Việt Nam bọn mày lúc nào cũng bảo người Mỹ bọn tao sống thực dụng. Bọn tao không sống thực dụng mà sống thực tế. Tao ở Việt Nam hơn chục năm nay thấy người Việt Nam mới sống thực dụng“.

Hơi nóng mặt, tôi hỏi lại: “Thế mày định nghĩa thế nào là thực tế, thế nào là thực dụng?”

Bạn tôi bảo:

“Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại.

Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.

Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào”.

Đã từng sống ở Mỹ một thời gian dài, tôi biết bạn tôi nói đúng.

Ở Mỹ, học sinh học vừa sức, không nhồi nhét, không quan tâm đến thành tích và cũng không có khái niệm trường chuyên lớp chọn. Bằng cấp đối với họ chỉ là một tờ giấy chứng nhận rằng họ đã đạt yêu cầu về mặt kiến thức lẫn chuyên môn ở một trình độ nhất định, không có gì ghê gớm cả. Cái họ quan tâm là trên thực tế, năng lực và kiến thức của anh có tương xứng với bằng cấp và vị trí của anh trong xã hội hay không. Ở Việt Nam thì bằng cấp và thành tích là thước đo quyết định địa vị cũng như thu nhập. Cha mẹ ép con cái học cố sống cố chết để vào trường chuyên lớp chọn rồi vào đại học. Học xong đại học thì phải cố bơi cho được cái thạc sĩ. Tất cả không phải vì kiến thức mà chỉ vì chỗ đứng trong xã hội. Kết quả là học được gì không quan trọng, có sử dụng được không cũng không quan trọng, thậm chí bằng giả cũng chả sao. Cái quan trọng nhất là kiếm sao cho được nhiều tiền.

Ở Mỹ, mỗi lần một công trình được thi công, người ta phải tính toán sao cho thiên nhiên ở đó bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất, hệ cân bằng sinh thái ít bị tổn hại nhất, môi trường sống của người và động thực vật không bị phá hoại, vì họ hiểu được một vấn đề thực tế rằng tài nguyên thiên nhiên là những di sản vô giá bắt buộc phải bảo tồn cho thế hệ sau.

Còn ở Việt Nam, miễn là kiếm được ít tiền bỏ túi, người ta sẵn sàng xả độc ra biển, hút cát dưới sông, phá rừng xây thuỷ điện, thậm chí san bằng cả một khu bảo tồn sinh thái độc đáo để xây resort, gắn cáp treo bất chấp hậu quả về sau.

Ở Mỹ, người dân quan tâm đến bầu cử, đến chính trị vì họ biết họ có quyền công dân cũng như mọi quyết định chính trị của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ.

Ở Việt Nam, người dân chỉ lo kiếm tiền vun đắp cho bản thân được ngày nào hay ngày nấy. Họ thờ ơ dửng dưng với những bất công tiêu cực của xã hội miễn sao những điều đó không xảy ra với họ là được. Tham nhũng tràn lan, nợ công tăng vọt, doanh nghiệp quốc doanh thất thoát nghìn tỉ… đối với họ đều không phải là vấn đề đáng bận tâm nếu ngày mai vẫn còn bia để dô dô.

Ở Mỹ người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự cường thịnh của quốc gia. Họ không làm những điều có lợi cho bản thân nhưng đi ngược lợi ích cộng đồng.

Ở Việt Nam, người ta thể hiện lòng yêu nước bằng cách ngồi tự hào khoe khoang bề dày lịch sử dân tộc với những chiến công của tổ tiên, hoặc lên cơn mê sảng vì một giải bóng đá khu vực hoặc lên mạng không tiếc lời thoá mạ một thằng Tây nào đó dám cả gan nói xấu Việt Nam. Còn lại họ thản nhiên dùng đủ mánh khoé xấu xa để giết đồng bào mình và trục lợi từ việc đó, từ việc rải đinh ra đường cho tới việc bơm hoá chất độc hại vào thực phẩm.

Ở Mỹ, người dân cân bằng cuộc sống bằng niềm tin tôn giáo. Họ đến nhà thờ để tìm sự yên bình trong tâm trí và sinh hoạt cộng đồng giúp đỡ những người cùng đức tin.

Ở Việt Nam, người ta đi lễ chùa, đền, miếu cầu tiền bạc, cầu trúng số, cầu thi đậu, cầu chức quyền… như thể thánh thần sẽ vì những thứ hương hoa xôi thịt rẻ tiền mà thoả mãn lòng tham không đáy của đám người trần mắt thịt.

Ở Mỹ, những dịp cưới hỏi hay ma chay, giỗ chạp là những sự kiện riêng tư. Họ tổ chức đơn giản, trang trọng và chỉ mời những người thực sự có ý nghĩa với họ.

Ở Việt Nam, ma chay hiếu hỉ cưới xin là những dịp tốt để làm rùm beng tốn kém vừa để chứng tỏ với thiên hạ vừa để kiếm tiền mừng.

Ở Mỹ, người ta dạy trẻ con cách tự lập, cách ứng xử giao tiếp, cách bảo vệ bản thân không bị xâm phạm, cách thoát hiểm… những kĩ năng thực tế con người cần để tồn tại và phát triển trong xã hội.

Ở Việt Nam, người ta nhồi vào đầu bọn trẻ một mớ kiến thức cao siêu nhưng vô dụng với đích đến là những bằng cấp.

Ở Mỹ, người ta đánh giá trí thông minh và năng lực của con người qua sự sáng tạo, phát minh và đóng góp cho xã hội. Anh là ai không quan trọng, miễn sao anh có đóng góp cho xã hội thì anh sẽ được sự công nhận và tưởng thưởng xứng đáng.

Ở Việt Nam, năng lực của con người được đánh giá qua, gốc gác, sự khôn lỏi ma lanh và khả năng dùng thủ đoạn để thăng tiến. Đóng góp cống hiến là chuyện hết sức xa vời.

Lối sống thực tế và lối sống thực dụng không hề giống nhau mặc dù chúng dễ gây ra nhầm lẫn. Lối sống thực tế mang đến những sự phồn vinh vững mạnh và lâu dài vì nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của những giá trị thực.

Ngược lại lối sống thực dụng triệt tiêu và đảo lộn những giá trị thực tiễn để tạo ra cái lợi nhỏ trước mắt, để lại những tác hại khôn lường. Chọn lối sống thực dụng, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho lựa chọn thiếu sáng suốt này.

Viên Huynh

Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới

Bà Akie Abe sinh năm 1962, kém chồng 8 tuổi. Bà vốn xuất thân từ một gia đình giàu có, với cha là chủ tịch của Morinaga & Co, một trong những công ty bánh kẹo lớn nhất Nhật Bản.

“Lần hẹn hò đầu tiên, chúng tôi ra ngoài ăn tối. Ấn tượng đầu tiên về chồng mình là ông ấy hài hước, trưởng thành và có kiến thức sâu rộng”.

Cặp đôi kết hôn vào năm 1987 và hai người không có con. Bà cho biết, trong giai đoạn đầu, bà đã điều trị vô sinh nhưng không thành công. Thời gian qua đi, việc mang thai đối với bà càng khó khăn do tuổi tác, và mọi người cũng không còn bảo bà cố gắng nữa. Bà cho biết chồng bà đã gợi ý chuyện nhận con nuôi, nhưng bà từ chối vì không tự tin “có thể nuôi dạy con nuôi đúng cách”.

Trong 1 cuộc trả lời phỏng vấn, bà Akie Abe cho biết bà chấp nhận hai vợ chồng sẽ không có con.

“Tôi nghĩ tất cả đều là số phận và tôi phải chấp nhận, thực tế là tôi kết hôn với một chính trị gia, rằng ông ấy trở thành thủ tướng và chúng tôi không được ban phúc để có con. Dù vợ chồng không có con trong 35 năm sống với nhau nhưng chồng bà luôn yêu thương bà như ngày đầu tiên”.

Ra ngoài cố Thủ tướng Shinzo Abe là 1 vị lãnh đạo hết lòng vì dân vì nước, về nhà là 1 người chồng yêu thương vợ hết mực. Thế giới không chỉ mất đi một nhà lãnh đạo vĩ đại mà còn mất đi người đàn ông đích thực.

Ảnh: Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới.

Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến – Trần Khuê

Trần Khuê – Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến

“Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng thảm thương, ai oán!”

Những câu trên được trích dẫn từ tập truyện O Chuột mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe, khi còn thơ ấu. Hơn nửa thế kỷ đã qua nhưng tôi vẫn tin rằng mình vừa ghi lại “gần” đúng nguyên văn, theo trí nhớ. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà côi cút đó, và có cảm tình hoài với tác giả của đoạn văn dẫn thượng.

Tô Hoài chắc chắn sẽ rất sung sướng khi biết có một người đọc đã nhớ nằm lòng cả một đoạn văn của mình, và (có lẽ) sẽ bớt sướng đi nhiều, nếu biết thêm rằng tôi chưa bao giờ đọc thêm một trang sách nào khác của ông.

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn – nhỏ) nào phải hoàn thành. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mãi chơi nên không rảnh để đọc sách vở của bất cứ ai.

Mãi cho đến khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt tôi mới bắt đầu để ý đến sách báo. Cũng như nhiều người dân miền Nam khác, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi  bỗng hoá ra rất rảnh, và rất … đói!

Tác phẩm duy nhất mà tôi tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập. Đây là bộ cuốn sách đồ sộ, giấy in cực tốt nhưng giá rất bèo nên được những bà và những cô bán hàng rong vô cùng ưa thích. Họ cần giấy để gói (hoặc để chùi) còn tôi thì cần một phần ăn nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua.

Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi chịu khó đi (lòng vòng) mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn, cho đỡ khổ cái dạ dầy!

Nói tình ngay, lỡ có thấy những tác phẩm của Tô Hoài – trong hoàn cảnh ấy – tôi chắc mình cũng sẽ ngó lơ thôi. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo dác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.

May mắn là tôi chui lọt.

Lưu lạc mãi, có hôm, tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài trong tác phẩm (Cây Bút, Đời Người, nxb Phương Nam 2002) của nhà phê bình xã hội & văn học Vương Trí Nhàn:

“Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế Mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng…  Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là công tác.” (sđd 264).

Tiểu sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung lang tang, ngổn ngang cả đống chức vụ, nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”. Toàn là những công việc chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.

Được thế thì đã phúc!

Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán (hẳn) có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – vẫn theo như ghi nhận của Vuơng Trí Nhàn: “Đại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.” (sđd 266).

Tôi thực muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vuơng Trí Nhàn chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” (chật hẹp) của Tô Hoài!

Đến như Nguyễn Tuân – dù vốn tính bất tuân – khi phải mặc đồng phục, trông cũng rúm ró và thảm hại chả kém gì cái hình ảnh Tô Hoài cả. Ở vào hoàn cảnh đó, mới hiểu và thông cảm cho sự cuống cuồng của một người – vốn tính đồng bóng và yếu bóng vía – như Xuân Diệu:

“Xuân Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc đồng quá tử vì đạo, rồi không giữ được ngòi bút của mình. Hơn ai hết, ông hiểu về những lưỡi gươm Damoclès thường xuyên treo trên đầu người làm văn nghệ. Khi nói chuyện này đột nhiên giọng ông đột nhiên nhỏ hẳn đi, khe khẽ thì thào. Rồi ông lắc đầu, ông le lưỡi, ý bảo rằng sợ lắm, mà cỡ các cậu thì càng phải nên biết sợ ngay thì vừa, nên nhớ là sau có hối cũng không kịp nữa” (sđd 295).

Xuân Diệu đã chết. Cái cung cách và thái độ ‘đột nhiên giọng nhỏ hẳn đi’, ‘khe khẽ thì thào”, “lắc đầu”, “le lưỡi” cũng … chết luôn. Thế hệ của những người cầm bút kế tiếp, không có vẻ gì là hào hứng và sẵn sàng tiếp nhận sự khiếp đảm mà Xuân Diệu muốn truyền đạt cho họ.

Trần Khuê là một trong những người này.

Ông đòi đổi tên Nước, tên Đảng, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, đòi Trường Chinh phải xin lỗi Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, tác giả của Khoán 10), đòi Tố Hữu phải xin lỗi những văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn, đòi Lê Đức Thọ phải xin lỗi những người trong “vụ án xét lại”, đòi lập Hội Chống Tham Nhũng …

Nói tóm lại là Trần Khuê không để yên cho bất – cứ – cái – gì và bất – cứ – ai, kể cả những nhân vật được coi là untouchable:

“Chúng ta đề nghị Tổng cục thống kê và Bộ tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dụ chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn trắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi … Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thê xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo …” (Trần Khuê – Ng. T. Thanh Xuân, Đối Thoại Năm 2000).

Đến cỡ như bác Hồ (dù đã mồ yên mả đẹp) mà còn bị hạch hỏi đủ điều như thế thì có ai khác mà được không bị … làm phiền. Mọi kẻ có chức quyền, từ Tổng Bí Thư trở xuống – kể cả ông TBT Giang Trạch Dân của nuớc bạn Trung Hoa vĩ đại – đều bị mang ra hỏi tội và chửi mắng (xối xả) vì sự ngu dốt, cũng như tội gian tham – của từng người một!

Thảo nào mà đã có lúc Trần Khuê được mô tả như một Sao Khôi hoặc Sao Khuê. Vì sao này (tiếc thay) lại “khi tỏ khi mờ,” theo nhận xét của một vị thức giả cùng thời – nhà văn Phạm Đình Trọng:

Trần Khuê thấy được giữ lại thi thể Hồ Chí Minh trong hòm kính dù đặt trong nhà hầm vẫn là tênh hênh trên mặt đất, là không thuận ý nguyện cuối cùng, ý nguyện thiêng liêng nhất của người chết, không thuận qui luật tự nhiên, là đày đọa thân xác người quá cố và tạo ra cái thùng không đáy ngốn tiền mồ hôi nước mắt dân. Nhận ra những cái có hại sờ sờ như vậy, Trần Khuê đòi đốt xác Hồ Chí Minh nhưng hồn vía Trần Khuê vẫn thuộc về Hồ Chí Minh.

Sắt son với con người rước họa cộng sản về đày đọa người dân Việt Nam, thờ phụng con người mất gốc không còn hồn Việt Nam là khoảng mờ rất đáng tiếc của ngôi sao Khuê họ Trần.

Kể cũng “hơi” tiếc thật nhưng vẫn hơn rất nhiều vị thức giả (cùng thời) chỉ sống cả đời trong cái khoảng mờ!

Tưởng Năng Tiến
7/2022

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? – Cha Vương

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không?

Chúc bạn một weekend vui vẻ hạnh phúc bên cạnh những người thân thương. Đừng quên cầu nguyện cho chiến tranh được chấm dứt bên nước Ukraine nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 08/07/2022

GIÁO LÝ: Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? Tất cả những ai đã được Rửa tội đều thuộc về Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, những người đã được rửa tội, dù không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, họ cũng được gọi cách chính đáng là Kitô hữu, và do đó họ là anh chị em với chúng ta. (YouCat, số 130)

SUY NIỆM: – Những đổ vỡ trong Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô đều xuất phát từ những bóp méo giáo huấn của Chúa Kitô, từ những lầm lỗi của con người và từ những thiếu sót trong ý muốn hòa giải, nhất là nơi các vị hữu trách trong Hội Thánh. Ki tô hữu ngày nay không chịu trách nhiệm về những chia rẽ trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên vì muốn cả nhân loại được cứu rỗi, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong các Hội thánh và các cộng đồng đã ly khai khỏi Hội Thánh công giáo. Tất cả những ân sủng sẵn có, như Kinh Thánh, các bí tích, đức tin, cậy, mến, và các đặc sủng khác đều do Chúa Kitô mà đến. Ở đâu có Thánh Thần Chúa Kitô, ở đó có một năng lực nội tại thúc đẩy phải “khôi phục lại sự hiệp nhất”, bởi vì ai thuộc về Thánh Thần đều khao khát tập họp lại với nhau.

❦Các Hội Thánh và các cộng đồng Hội Thánh. Nhiều cộng đồng Kitô hữu khắp thế giới lấy tên là Hội Thánh. Đối với người Công giáo, chỉ là Hội Thánh khi trong cộng đồng đó các bí tích của Chúa Giêsu Kitô được duy trì nguyên vẹn. Điều này đúng với các cộng đồng Chính thống và các Hội Thánh Đông phương trước hết. Trong những cộng đồng Hội Thánh phát xuất từ cuộc cải cách của Tin lành, các bí tích không được duy trì nguyên vẹn. (YouCat, số 130 t.t.)

LẮNG NGHE: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (Ga 15:7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa luôn ao ước sự hiệp nhất Ki-tô giáo giữa những người tin vào Chúa Giêsu, xin giúp con vượt qua những gương xấu của sự chia rẽ, biết gạt sang một bên những ưu tiên riêng để thúc đẩy những gì mang lại sự hiệp nhất và công ích chung cho Giáo Hội.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Chúa Thánh Thần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Ki-tô giáo.

From: Đỗ Dzũng

Phát hiện lỗ thủng ozone cực lớn đe dọa 1/2 dân số thế giới, trong đó có Việt Nam

Phát hiện lỗ thủng ozone cực lớn đe dọa 1/2 dân số thế giới, trong đó có Việt Nam

Một lỗ thủng ozone ‘khổng lồ’ vừa được phát hiện tại vùng nhiệt đới, khi nó có diện tích lớn gấp 7 lần so với lỗ thủng nổi tiếng tại Nam Cực.

Lỗ thủng ozone tại Nam Cực – Ảnh: NASA

Mới đây, tạp chí khoa học AIP Advances cho biết lỗ thủng ozone tại vùng nhiệt đới đã có thể hoạt động từ những năm 1980, nhưng gần đây mới được phát hiện bởi các nhà khoa học Canada.

Với diện tích gấp 7 lần so với lỗ thủng trước đó tại Nam Cực, sự tồn tại xuyên suốt trong năm của lỗ thủng nhiệt đới và không có chu kỳ đóng như của lỗ thủng Nam Cực cũng đã khiến nhiều chuyên gia về khí tượng lo lắng.

Thật vậy, thay vì tuân theo chu kỳ mở ra và đóng lại vào thời điểm tháng 9 và 10 như tại Nam Cực, lỗ thủng tại vùng nhiệt đới hầu như mở xuyên năm. Điều này khiến nhiều người phải đối mặt với nguy cơ tiếp xúc với mức độ bức xạ UV lớn hơn quanh năm, tạp chí khoa học AIP Advances cho biết.

“Phát hiện mới này khiến phần lớn dân số toàn cầu sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vì các vùng nhiệt đới là nơi sinh sống của khoảng một nửa dân số thế giới (trong đó có Việt Nam)”, tạp chí khoa học AIP Advances thông tin.

Ông Qing-Bin Lu, nhà khoa học thuộc Đại học Waterloo (Canada), cho biết sự tồn tại của lỗ thủng ozone vùng nhiệt đới có thể gây ra mối quan ngại lớn trên toàn cầu.

Trên thực tế, hiện tượng này xảy ra khi lượng ozone (O₃) bị mất đi khoảng 25% trong bầu khí quyển. Từ đó khiến bức xạ tia cực tím có thể dễ dàng xâm nhập vào bề mặt Trái đất và làm tăng nguy cơ bị ung thư da cũng như các tình trạng sức khỏe khác như đục thủy tinh thể, hệ thống miễn dịch bị suy yếu.

Tuy nhiên, ông Lu cho biết phát hiện mới này rất quan trọng, khi nó có thể giúp các nhà khoa học đánh giá về sự thay đổi của tầng ozone, tia cực tím và sự ảnh hưởng mà nó gây ra với con người cũng như hệ sinh thái.

Nguồn: Tuổi Trẻ Online

Chuyện ông Boris Johnson từ chức và người Việt không chịu lớn

Chuyện ông Boris Johnson từ chức và người Việt không chịu lớn

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

8-7-2022

Vậy là Boris Johnson, đã từ chức sau hơn hai năm giữ chức Thủ tướng Anh.

Theo nhận định của giới quan sát thì ông có một sự nghiệp chính trị rất đặc biệt. Từ một nhà báo đến một chính khách nổi tiếng, ít ai thành công như ông.

Dưới bàn tay của ông, nhiều dự luật khi phải bỏ phiếu, đều được chấp thuận, trong đó nổi bật nhất là Brexit, đưa Anh quốc ra khỏi Liên minh Âu châu.

Boris Johnson nhiều cá tính. Tuyên bố thẳng thừng, đôi khi không như các chính khách truyền thống, phát ngôn kỹ lưỡng và cẩn trọng.

Ông cũng là vị lãnh đạo đầu tiên của G7 sang thăm Kyiv vào trung tuần tháng 4/2022 khi cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt. Ông tăng cường sự trợ giúp về quân sự cho Ukraine. Chính Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, gọi Boris Johnson là một “người bạn lớn của Ukraine”.

Boris Johnson còn quay lại thăm Kyiv một lần nữa vào ngày 17/6/2022 với những tuyên bố cứng rắn về phía Nga. Ông nhận định thẳng thắn rằng phía Nga đã gây ra “những tội ác chiến tranh không thể chối cãi”.

Ông cũng lập lại sự hậu thuẫn về quân sự và sự đoàn kết với nhân dân Ukraine trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nga.

Thái độ cứng rắn của Boris Johnson trong vấn đề Ukraine đã đưa ông lên vai trò lãnh đạo trong giới chính khách phương Tây trong cuộc đối đầu với Putin.

Hôm nay, Boris Johnson đã tuyên bố từ chức. Ông không còn cách nào khác để tiếp tục đứng đầu chính phủ. Phải đợi đến khi 57 nghị sĩ và bộ trưởng trong chính phủ của ông từ chức thì ông mới tuyên bố ra đi. Đảng Bảo thủ không còn muốn ông đứng đầu nữa, không còn muốn ông là Thủ tướng nữa. Trong bối cảnh ấy, trong một quốc gia dân chủ, Boris Johnson phải từ chức.

Boris Johnson từ chức. Chắc chắn không ít người Anh tiếc nuối và người dân Ukraine chắc cũng buồn và lo lắng.

Và cũng không ít người Việt xem đó là một thuyết âm mưu của đảng Dân chủ tại Mỹ nhằm hạ bệ Boris Johnson, chỉ vì ông muốn giúp Ukraine còn Biden và Obama thì không muốn…

Không ít người Việt đến giờ vẫn còn “hận” ông Obama lắm, dẫu họ chỉ là công dân của nước CHXHCN Việt Nam xa xôi.

Hận Biden, hận Obama nên chụp mũ cái chính phủ của nước Mỹ ngày nay là hèn nhát, là bỏ rơi Ukraine.

Chưa kể các thuyết âm mưu không kém phần ly kỳ và ngập mùi tình báo. Đó là Putin đã lũng đoạn chính trường Anh quốc. Mua chuộc các chính khách đảng Bảo thủ nhằm lật đổ Boris Johnson vì ông này dám đối đầu với Putin.

Và họ cũng không quên “đi guốc trong bụng” Tập Cận Bình để đưa ra những lý giải cho sự từ chức của ông Thủ tướng Boris Johnson.

Nhưng có một điều dường như họ cố tình quên và không chịu hiểu, đó là sự khác biệt căn bản giữa một quốc gia độc tài và một quốc gia dân chủ như Anh quốc: không còn sự tín nhiệm thì dẫu có là ai, có khả năng như thế nào thì cũng phải ra đi. Qui luật khắc nghiệt của cuộc chơi dân chủ là thế.

Boris Johnson trong hơn hai năm làm Thủ tướng đã để nhiều scandal xảy ra. Khi toàn nước Anh bị phong toả, đóng cửa để phòng ngừa Covid thì ông lại để cho các buổi tiệc diễn ra tại số 10 Downing Street vào dịp Noel 2020. Ông cũng tham gia và bỏ mặc những biện pháp nghiêm ngặt phòng ngừa đại dịch. Không chỉ một lần mà là cả chục lần các buổi tiệc như thế đã diễn ra trong các trụ sở của các Bộ khác nhau.

“Partygate” đã khiến cho cái ghế của ông bị lung lay.

Boris Johnson còn bị tai tiếng bởi vụ Owen Paterson. Đây là một người bạn thuộc đường dây “vận động hành lang” của Boris Johnson. Owen Paterson đã chấp nhận những khoản tiền của giới tài phiệt về nông nghiệp để đổi lại những sự can thiệp hay giúp đỡ tại Quốc hội.

Rồi vụ bê bối về tài chính khi báo chí khui ra toà nhà của ông ở (số 11 Downing Street) được sửa chữa và ông đã không tự bỏ tiền túi để trang trải chi phí.

Khi Boris Johnson đi nghỉ hè vào năm 2019 cũng bị phanh phui khi ông chấp nhận sự đài thọ của một nhân vật giàu có và thân thiết với đảng Bảo thủ. Boris Johnson đã nhận không ít chỉ trích khi mất nhiều thời gian để làm sáng tỏ vụ việc này

Hai năm cầm quyền còn để lại những “dấu ấn” về những vụ bê bối tình dục. Có tất cả 7 nghị sĩ của đảng Bảo thủ bị tố cáo quấy rối tình dục đối với phụ nữa, nam giới và trẻ vị thành niên.

Và những lần như thế, Boris Johnson không dứt khoát lên án các vụ việc trên. Ông tìm cách chối bỏ mọi liên quan và khi ông lên tiếng lại là để tìm cách bảo vệ cho các vị nghị sĩ trên.

Tất cả các scandal trên khiến ông bị suy yếu nhưng ông luôn tìm ra được nguồn năng lượng để vượt qua mọi sự chỉ trích của phe đối lập và của chính đảng Bảo thủ nhằm bảo vệ cái ghế của mình. Ngay cả vụ “Partygate”, ông cũng “thoát chết” với 59% phiếu tín nhiệm của các nghị sĩ đảng Bảo thủ.

Tuy nhiên vụ scandal tình dục mới đây với nhân vật Chris Pincher là giọt nước tràn ly khiến Boris Johnson bị mất sự tín nhiệm hoàn toàn của đảng Bảo thủ.

Chris Pincher, một nhân vật không tiếng tăm được Boris Johnson bổ nhiệm vào vai trò trợ tá, chịu trách nhiệm về kỷ luật Quốc hội cho các nghị sĩ đảng Bảo thủ. Nhưng ông này lại có nhiều tai tiếng về các vụ quấy rối tình dục. Khi bị báo chí lên tiếng, Chris Puncher đã phải từ chức.

Ban đầu, Boris Johnson chối bỏ khi cho rằng ông ta không biết gì về các tật xấu của Chris Pincher nên mới bổ nhiệm ông này. Tuy nhiên, sau đó ông thừa nhận có biết những tai tiếng ấy!

Vì vậy, chỉ trong vài ngày, vụ án Pincher đã trở thành tâm điểm cho những vụ bê bối lớn đánh dấu kỷ nguyên “BoJo”: bê bối tình dục, và một ông Thủ tướng nói dối về những gì ông ta biết hoặc không biết.

Boris Johnson “bị đẩy” ra khỏi ghế Thủ tướng chính là do những vụ bê bối trên chứ chẳng có thuyết âm mưu nào cả.

Không chịu nhìn và chấp nhận sự thật, tức đồng nghĩa với việc hạ thấp một xã hội dân chủ thuộc hàng gương mẫu như nước Anh với các chính quyền độc tài toàn trị như Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam hay so sánh nước Anh với một nền “dân chủ kiểu Putin” như nước Nga.

Dẫu có tài và có làm nên chuyện nhưng không gương mẫu và chuẩn mực trong tư cách và đạo đức thì cũng phải từ chức. Luật chơi của chính trị dân chủ là vậy. Sự minh bạch luôn phải được tôn trọng.

Nhiều người Việt, cả trong lẫn ngoài nước, vốn có thái độ, kiểu “kệ mẹ nó, miễn làm được chuyện lớn thì cứ để nó làm!”

“Chuyện lớn” theo họ là làm giùm họ những gì họ ao ước hay mơ tưởng! Bất chấp tư cách, đạo đức hay những bê bối, hậu quả xấu gắn liền!

Nên mới có chuyện cứ để ông Boris Johnson làm vì ông ủng hộ Ukraine (điều không thể chối bỏ).

Nhưng người Anh, dân Anh, dân trí họ vốn cao hơn, họ sẽ không bao giờ chấp nhận những chuyện bê bối của ông Thủ tướng Boris Johnson.

Người Việt mình không chịu lớn. Nhìn đâu cũng thuyết âm mưu và sẵn sàng bảo vệ cái xấu, cái ác để đạt được mục tiêu.

“Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, bất chấp đúng sai là thế!

HUYỀN NHIỆM CỦA ƠN GỌI

HUYỀN NHIỆM CỦA ƠN GỌI
“Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại”; “Và Ngài đã sai mười hai vị này đi”.

“Tất cả những người khổng lồ của Chúa đều là những người yếu đuối!”. Hudson Taylor, nhà truyền giáo vĩ đại, trả lời như thế cho một người bạn khen ngợi ông. “Dường như Chúa đã tìm khắp thế giới để kiếm một người đủ yếu để làm công việc của Ngài; và khi tìm thấy tôi, Ngài nói, ‘Con đủ yếu, con sẽ làm được!’”. Đó là ‘huyền nhiệm của ơn gọi!’. Những người yếu đuối lại là những người khổng lồ đã làm những điều vĩ đại cho Chúa, vì họ tin vào sự hiện diện của Ngài.

Kính thưa Anh Chị em,

Ơn gọi của ‘người khổng lồ’ Hudson Taylor lại được gặp thấy trong Tin Mừng hôm nay qua những ‘nhân vật chính’ đầy yếu đuối mà với họ, Chúa Giêsu sẽ xây dựng Nước Trời; Nhóm Mười Hai! Chúa Giêsu từ chối “sô diễn một người!”. Họ là những người sẽ truyền bá đức tin bằng cuộc sống, lời nói, việc làm và cả cái chết. Không có sự đáp trả của những con người yếu đuối này, sẽ không có Nước Trời! Qua đó, chúng ta cảm nhận sự ‘huyền nhiệm của ơn gọi!’.

Nhiều người đã ở trên núi với Chúa Giêsu vào ngày hôm ấy, nhiều người bị thu hút bởi Ngài và khao khát được gần gũi Ngài, nhưng chỉ có mười hai người nhận được lời kêu gọi để trở thành tông đồ. Chúa thích ai, Ngài chọn người ấy! Không ai hiểu tại sao mình được chọn; muốn biết, cứ hỏi Ngài! Chúng ta được gọi bằng tên, có nghĩa là Chúa Giêsu biết rõ chúng ta khi Ngài gọi, bao gồm tất cả mọi khiếm khuyết và yếu đuối của mỗi người. Ngài không hỏi Nhóm Mười Hai về sở thích, bảng điểm khảo sát, hoặc lý lịch của họ. Sự lựa chọn của Chúa Giêsu thuộc quyền tối cao của Chúa Cha, thể hiện qua việc Ngài thức suốt đêm để cầu nguyện. Nhóm Mười Hai không thể nghĩ rằng, đã có một số sai lầm, hoặc một số tính toán sai lầm. Vì lẽ, chính tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng không lừa dối, cũng không thể bị lừa dối, đang nói!

Chúa Giêsu đã tự do kêu gọi; cũng trong tự do, Nhóm Mười Hai đã đáp lại! Ngài không đưa các thiên thần từ trời xuống để áp đảo họ hợp tác; Ngài chỉ cầu nguyện với Chủ Mùa. Ơn gọi làm tông đồ không phải là vấn đề ai đó muốn trở thành một tông đồ, cũng không phải là tài năng hay cảm xúc hấp dẫn của ai đó đối với điều này, điều kia; nhưng là sự nhận biết dựa trên đức tin về việc Chúa đang mời gọi và chúng ta đáp lại. Tại sao tôi đang ở vị trí ơn gọi hiện tại trong bậc gia đình hay đời dâng hiến này? Đó là ‘huyền nhiệm của ơn gọi’ mỗi người. Không bao giờ chúng ta có thể biết đầy đủ, vì chỉ Thiên Chúa mới biết chiều kích sâu thẳm sự khôn ngoan của Ngài. Đây là mầu nhiệm Nước Trời đầu tiên chạm đến cá nhân mỗi người chúng ta: Thiên Chúa gọi, Ngài muốn điều đó, và chúng ta thưa “Vâng!”. Và đây là câu trả lời duy nhất mà một môn đệ phải tìm kiếm; bất cứ điều gì khác sẽ chỉ làm chậm trễ sự cấp bách của sứ mệnh mà thôi!

Qua bài đọc thứ nhất hôm nay, ơn gọi lạ lùng của Hôsê cũng là một ‘huyền nhiệm của ơn gọi’. Hôsê đã đáp lại tiếng Chúa một cách nhanh nhạy khi ông được Ngài sai đến với dân, một dân chạy theo bụt thần. Hôsê lên tiếng kêu gọi họ trở về với Ngài, “Đây là lúc phải tìm kiếm Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca cũng lặp đi lặp lại một sứ điệp, “Hãy không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan!”.

Anh Chị em,

“Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại!”. ‘Huyền nhiệm của ơn gọi’ không chỉ được gặp thấy nơi Hudson Taylor, Nhóm Mười Hai, nhưng rõ nét nhất nơi Chúa Giêsu. Ngài là Thiên Chúa toàn năng, trời cao không chứa nổi, lại bỏ trời mà xuống trong hình hài một phàm nhân. Ngài đến thực thi ơn cứu độ trong kế hoạch vĩ đại của Chúa Cha; và Ngài đã chu toàn thánh ý Chúa Cha một cách tuyệt vời, “Của ăn tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi”; Ngài đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, mỗi người chúng ta cũng hãy sống làm sao như muốn nói với Chúa Giêsu rằng, tất cả công việc của chúng ta hôm nay sẽ là sự đáp lại tiếng Ngài đã gọi để mỗi người trở nên ánh sáng cho những người khác trên thế giới, dẫu chúng ta hèn yếu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu con chưa là ‘người khổng lồ’ của Chúa, nhưng xin cứ chúc lành cho những công việc nhỏ bé của con; với Chúa, con tin rằng, chúng cũng có thể trở thành vĩ đại!”, Amen.

From: KimBang Nguyen