Tìm hiểu về lạm phát toàn cầu năm 2022

Tìm hiểu về lạm phát toàn cầu năm 2022

Bởi  AdminTD

Báo Tiếng Dân

Đào Tăng Dực

2-7-2022

Lạm phát (inflation) toàn cầu năm 2022 là một hiện tượng phổ thông trên mọi quốc gia và chúng ta cần phân tích. Ở mức độ những người tiêu dùng (consumers) như chúng ta thì rất phiền toái.

Bà xã thường tâm sự với tôi khi mua sắm, nhất là khi tôi đi chợ mua đồ ăn và giá tăng quá sức như sau: “Mình nên chấp nhận và vui vẻ với giá tăng lên vì thằng Putin của Nga quá ác. Nó xâm lăng Ukraine gây bao nhiêu tang tóc. Dân Ukraine còn chịu bao nhiêu thảm nạn. Chúng ta bị xăng dầu và thực phẩm đắt đỏ chút ít thì cũng nên vui vẻ hy sinh một thời gian”.

Thật vậy khi tôi đi đổ xăng:

  1. Diesel lúc trước khoảng hơn 1 Úc Kim một lít bây giờ là 2.30 Úc Kim
  2. Chúng tôi ăn chay mà đậu Green Bean lúc xưa 3 UK một ký bây giờ $30UK một ký
  3. Rau cải từ 1.30UK một bó có giai đoạn tăng lên 5UK một bó và bây giờ mới giảm xuống còn 4 UK một bó
  4. Bầu bí thông thường 4UK một ký bây giờ 8-10 UK một ký
  5. Rau muống 16UK một ký

Hình như chỉ có thịt là ít bị lạm phát nhất. Tôi nhận xét nửa ký thịt heo xay, nạt và ít mỡ chỉ có 6 UK mà thôi. Úc là một quốc gia sản xuất quá nhiều thịt nên giá cả không bị ảnh hưởng nhiều. Chính vì thế lạm phát tổng thể của Úc chỉ có 5.1%.

Dĩ nhiên tuy bất công cho những người ăn chay nhưng không phải vì thế mà tôi chuyển qua ăn mặn được.

Một bữa ăn của chúng tôi, theo tinh thần Nguyễn Công Trứ (ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch) gồm 3 bó cải ngọt (15UK) nấu canh đậu hũ (4UK), nước tương (50 cents), ớt (10 cents), cơm (1UK). Tổng cộng cũng lên đến hơn 20UK rồi.

Tuy nhiên khi nghiên cứu nạn lạm phát thêm thì Putin chỉ chịu trách nhiệm một phần, dù là một phần quan trọng. Phần kia thì Tập Cận Bình phải chịu.

Một cách tổng quát nguyên nhân lạm phát khởi sinh từ một sự mất thăng bằng giữa cung (supply) và cầu (demand). Khi cung mạnh và cầu yếu thì chúng ta rất ít lạm phát hoặc thậm chí ngược lại nữa là nạn giảm phát (deflation). Giảm phát lâu bền như tại Âu châu và Nhật Bản trước năm 2022 cũng nguy hiểm cho sự phát triển kinh tế không kém lạm phát cao.

Chính vì thế Ngân Hàng Trung Ương Úc (Reserve Bank of Australia) luôn luôn muốn duy trì lạm phát ở mức lý tưởng cho phát triển kinh tế bền vững là giữa 2% và 3% hầu phát triển kinh tế bền vững và tránh đại nạn giảm phát (deflation) như tại Âu Châu và Nhật Bản trước giai đoạn Đại Dịch Vũ Hán.

Tuy nhiên thực tế hiện nay trên thế giới năm 2022 là lạm phát quá cao vượt qua mức độ lạm phát lý tưởng do Ngân Hàng Trung Ương Úc quy định.:

Australia lạm phát 5.1%

USA 7.9%

Greece 7.44%

Israel 5.67%

Kinh khủng nhất trong các quốc gia phát triển là Turkey 54.8 %

Khi chúng ta nghiên cứu về nguyên nhân chính xác của lạm phát năm nay thì nhận thấy như sau:

  1. Cung ứng (suppy) yếu kém vì 2 biến cố quan trọng:
  2. Covid19 do Trung Quốc và Tập Cận Bình gây ra và
  3. Cuộc xâm lăng của LB Nga tại Ukraine do Putin gây ra.
  4. Hậu quả của cung ứng kém là:
  5. Không đủ chip tức vi mạch hay bán dẫn (transistors or semi- conductors) vốn là yếu tố then chốt cho mọi kỹ nghệ biến chế
  6. Nguồn năng lượng thiếu thốn (nhất là dầu hỏa) vì cấm vận LB Nga.
  7. Yếu tố cầu (demand) quá cao vì sau khi Covid19 được kiểm soát thì nền kinh tế phục hoạt mạnh, kéo theo nhu cầu công ăn việc làm (job growth) và nhu cầu tăng lương cho nhân công (wage growth)

Theo cơ quan Pew Research thì 37 trong 44 quốc gia OECD có lạm phát ít nhất gấp 2 lần năm 2020, 16 quốc gia gấp 4 lần.

Đây là những quốc gia dân chủ và phát triển nhất thế giới.

Muốn chống lại lạm phát thì biện pháp kinh điển của các quốc gia bao gồm 2 khía cạnh:

  1. Chính sách tiền tệ (monetary policy) của Ngân Hàng Trung Ương là tăng tiền lời hầu kiểm soát lạm phát. Tiền thật sự cũng chỉ là một thứ “mặt hàng” (goods or commodities) và có cái giá (price) của nó. Nếu nâng cao tiền lời thì giá của nó đắt hơn và sẽ ít người mua hơn. Kết quả là sẽ ít lượng tiền luân lưu trong nền kinh tế và lạm phát sẽ giảm.
  2. Chính sách ngân sách quốc gia (budgetary policy). Chính phủ cần phải chỉnh đốn ngân sách và giảm chi tiêu hầu giảm lượng tiền luân lưu trong nền kinh tế tương tự.

Dĩ nhiên chính phủ nào cũng phải cân nhắc khi thi hành các biện pháp kiểm soát lạm phát vì nếu quá đà sẽ đưa đến nhiều công ty phá sản, nhiều cá nhân phải bán nhà vỡ nợ vì tiền lời (tức giá của tiền như một mặt hàng) quá cao …

Dĩ nhiên nếu có những biện pháp khác có thể tái phục hồi lượng cung (supply) của nhiên liệu (từ Trung Đông hoặc năng lượng tái tạo, hoặc nguyên tử lực, hoặc than đá…) và phục hồi sự cung ứng chất bán dẫn (semi-conductors) mà Đài Loan đang dẫn đầu thì lạm phát sẽ giảm mạnh.

Quản trị kinh tế là trách nhiệm của chính quyền, nhất là khi kinh tế khủng hoảng và lạm phát hoành hành. Trong các chế độ dân chủ sẽ có nhiều chính quyền bị dân chúng cho ra rìa vì thiếu khả năng quản trị kinh tế. Quy luật này dĩ nhiên sẽ không áp dụng cho các quốc gia độc tài, độc đảng như Việt Nam. Dân ta dù có khổ cũng phải cắn răng chịu vậy dù đảng CSVN có ngu dốt đến đâu.

Nguyễn Phú Trọng, người chiến sĩ sát cộng số một của Việt Nam

Nguyễn Phú Trọng, người chiến sĩ sát cộng số một của Việt Nam

Bởi  AdminTD

Nguyễn Tiến Dân

2- 7- 2022

1.- “Cộng sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực”. Tùy thời điểm, tùy sắc tộc và tùy vị trí địa lý, bọn chúng có thể khác nhau vài thứ râu ria. Riêng cái khoản bất nhân – thất đức và ăn tàn – phá hại, đứa nào cũng thế. Nhắc tới chúng, là phải nhắc tới những tội ác hủy diệt tự nhiên, nhắc tới những tội ác chống lại loài người. Dưới ách cai trị của Cộng sản, luân thường, đảo lộn – đạo lý, suy đồi. Quyền lợi, chúng riêng giành – quyền hành, chúng độc chiếm. Đi theo Cộng sản, Đất nước nào cũng lầm than và trì trệ – Dân tộc nào cũng lụn bại và luôn đối mặt với họa diệt vong. Bởi thế, “nó chỉ là giấc mơ của vài người. Nhưng nó lại là cơn ác mộng kinh hoàng của toàn nhân loại”. Khi đã nhìn ra cái bản chất tột cùng xấu xa và đê tiện của Cộng sản, ai cũng căm ghét chúng và ai cũng mong, sẽ góp được một phần công sức, để tru triệt chúng.

Nhưng than ôi! Cộng sản, chúng giống như loài cỏ dại. Triệt được chúng, nào có phải là cái công việc dễ dàng:

– Ngay sau khi Nga Xô được thành lập, thế và lực của họ, chỉ có thể gói gọn trong mấy chữ: “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế ấy, ai cũng tưởng, có thể dễ dàng “ăn sống – nuốt tươi” được họ. Nhân đó, triệt đi cái di họa cho nhân loại về sau. Hệ quả, 14 nước Đế quốc đã đồng sức – đồng lòng, đã góp quân – góp của cho lực lượng Bạch vệ của Nga. Những mong, đánh Nga Xô cho đến khi nó đổ sụp. Ai ngờ, chẳng những không sụp đổ, mà sau cuộc chiến, nó còn nuốt chửng thêm hàng loạt lân quốc, để trở thành một thế lực có số má trên vũ đài Chính trị Thế giới.

– Trong Đệ nhị Thế chiến, chỉ riêng nước Đức Quốc xã, họ đã mạnh vô cùng. Ngay sau khi dùng xe tăng và lưỡi lê đè bẹp châu Âu, thế và lực của ho, khác nào “hổ mọc thêm cánh”. Tấn công Liên Xô, họ tự tin: “sẽ hoàn thành nốt cái công việc, mà nội chiến ở Nga đã phải bỏ dở”. Kết quả, chẳng những Liên Xô không tan vỡ, mà trên đường phản công, nó còn thôn tính hàng loạt quốc gia Đông Âu. Dân chúng ở đó, họ chưa kịp vui mừng vì vừa tránh được cái vỏ dưa Phát xít, thì đã phải ôm trọn vào lòng cả một đống vỏ sầu riêng mang cái tên Cộng sản. Thê thảm, vô cùng.

Bất hạnh, nào đã dừng lại. Chế độ Cộng sản, nó còn nhuộm đỏ cả Trung Hoa, Bắc Triều Tiên và Việt Nam.

– Đến thời chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đổ quân vào tham chiến tại Việt Nam. Lúc đó, mọi con số thống kê đều cho thấy, họ áp đảo đối phương. Nhưng cuối cùng, Hoa Kỳ vẫn buộc phải rút quân và bất lực nhìn miền Nam nước Việt rơi vào tay Cộng sản. Tuy không thắng, nhưng nhờ có họ, đại dịch Cộng sản, nó mới bớt ngông cuồng và chỉ còn có thể tự tung – tự tác ở xứ Đông dương. Vĩnh viễn, không có cơ hội, để bung ra và tràn tiếp xuống vùng Đông Nam Á.

– Liệt ra những sự kiện ấy, để minh chứng cho cái Chân lý phổ quát: “Chiến tranh, đó là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng Cộng sản. Bởi thế, chiến tranh không thể làm cho chúng yếu đi, mà ngược lại”. Sinh thời, Mao Trạch Đông cũng rất tâm đắc với luận điểm này. Có điều, nó được ông diễn đạt một cách hết sức thô lỗ: “Súng, đẻ ra chính quyền” và Thế giới chỉ có thể được cải tạo bằng súng đạn”. Tuy “bầu dục chấm mắm cáy”, nhưng nó vẫn nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của đám lâu la cuồng tín và lũ chư hầu bưng bô. Bởi, giống như Mao, tất cả bọn chúng, đứa nào cũng ưa bạo lực và phải thừa nhận, chúng rất mạnh về cái khoản này. Thế nên, dùng “nắm đấm” để phân thắng – thua với Cộng sản, đó chỉ là cách làm của những người, mà “trái tim nhầm chỗ, để trên đầu”.

Muốn ganh đua với chúng, phải đi đường vòng. Phải mở ra và kéo chúng vào những cuộc chiến, mà ở đó, sở trường của chúng không được phát huy. Trái lại, cái sở đoản ngu dốt và dối trá của chúng, nó phải bị bộc lộ.

2.- Người xưa, tổng kết: 狮子身中虫 自食狮子肉. Sư tử thân trung trùng, tự thực sư tử nhục. Tạm hiểu, Sư tử là chúa sơn lâm. Nó thắng tất cả mọi loài trong rừng sâu – núi thẳm. Nhưng cuối cùng, kẻ có thể hạ gục được nó, chính là cái loài dòi bọ được sinh ra ngay trong những vết thương đã nhiễm trùng của nó.

Cộng sản, cũng vậy. Không ai có thể thắng được chúng, trừ những khiếm khuyết được nảy sinh ngay trong lòng chế độ thối nát của chúng. “Cơ đồ xây dựng 75 năm có nguy cơ sụp đổ. Không ai mang máy bay, đại bác đến để lật đổ ta. Ta không làm tốt, thì ta tự lật đổ ta. Chẳng phải, do kẻ thù đâu” – Trần Quốc Vượng, nguyên thường trực Ban Bí thư.

Từ cái nguyên lý sâu xa này, ngay sau khi được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev và những cộng sự, họ đã nhanh chóng vạch kế hoạch và khẩn trương bắt tay hành động. Tất cả, đều hướng tới mục đích: “xóa bỏ chế độ Xô viết”. Cách họ làm, là cấy những ấu trùng độc vào trong cái vết thương đã lở loét của chế độ Xô viết và cuối cùng, chính cách làm đúng đắn đó, nó đã góp phần quyết định, để hạ gục chế độ Xô viết.

Trong cuốn hồi kí của mình, Yakovlev nhớ lại: “Chúng tôi có thể xóa bỏ hệ thống chính trị Xô viết bằng nhiều cách khác nhau. Tỷ như, công khai ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Tuy vậy, biện pháp này không triệt để và hiệu quả không cao. Cần phải phá Liên bang Xô viết từ bên trong và cách duy nhất để đạt được mục đích, đó là: “Kết hợp công khai hóa với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng”.

Lợi dụng chiêu bài công khai hóa, họ bóc mẽ những yếu kém, lệch lạc và bệnh hoạn của nền kinh tế Xô viết – những thứ, mà chế độ Xô viết vẫn giấu, như “mèo giấu cứt”. Thay vì “khoan thư sức dân”, những đồng tiền thu được từ bán tài nguyên và thu được từ thuế, phần lớn được ném vào việc phát triển Quốc phòng và luôn coi đó là niềm tự hào, là nhân tố quyêt định, để bảo vệ Liên bang Xô viết. Qua đó, chỉ ra vực thẳm ngay trước mặt: “Sự thực, không ai có thể phủ nhận được sức mạnh quân sự khủng khiếp của chúng ta. Nhưng nó đang được vận hành, để đứng trên đôi chân kinh tế đã èo uột, lại còn được nặn bằng đất sét. Quốc phòng càng mạnh, sức ép của nó lên nền kinh tế càng lớn và đến một ngưỡng nhất định, đất nước sẽ đổ sập xuống, như trời long – đất lở”.

Với việc công khai hóa, cái mặt nạ của chế đô Xô viết được vén tới đâu, bộ mặt quái thai, phi nhân và thất đức của nó sẽ được phơi ra đến đó. “Chúng ta ăn cắp từ chính bản thân chúng ta. Chúng ta coi đưa và nhận hối lộ, là việc tất yếu. Chúng ta nói dối trong các báo cáo, nói láo trên báo chí và man trá trên các diễn đàn cấp cao. Đắm mình trong dối trá, rồi chúng ta trao huân chương cho nhau và trên hết, tất cả những điều này, nó diễn ra từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên” – Nikolai Kyzhkov, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng của Liên bang Xô viết. Khi ma quỉ hiện nguyên hình, dân chúng sốc và suy sụp toàn tập. Từ đây, chẳng cần ai xúi dục, họ cũng quay lưng lại với nó.  众志成城, chúng chí thành thành. Mất đi sự ủng hộ của dân chúng, chế độ Xô viết, nó cũng chỉ như một con tàu đang nằm bờ. Ngày 18 – 8 –1991, những người cộng sản theo đường lối cứng rắn, họ đã làm một cuộc đảo chính, hòng lật đổ Gorbachev. Việc, bất thành. Nguyên do, ở đó.

Với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng, tất cả những kẻ không ăn cánh và những kẻ cuồng tín Mác – Lê, chúng đều bị đưa vào tầm ngắm và cuối cùng, đều bị thải hồi. Trong hơn sáu năm cầm quyền, Gorbachev đã thay máu toàn bộ Bộ Chính trị và các bộ phận chủ yếu của Ban Chấp hành Trung ương. Thế vào đó, là những người cùng chung chí hướng. Trong số đó, nổi bật nhất là Yakovlev và Shevardnadze. Khi nanh đã bị nhổ, vuốt cũng chẳng còn, con cọp Xô viết, nó chỉ hơn con mèo ở mỗi chỗ: Đó là, to xác.

Với chiến lược tổng thể này, không tốn một mũi tên – một hòn đạn, không hao một người lính – một cỗ xe, nhưng Gorbachev và những cộng sự, họ đã hãm Đảng Cộng sản Liên Xô vào thế, chỉ còn sống thực vật. Như rắn mất đầu, Liên bang Xô viết, nó phải tự tan rã.

Chớp thời cơ, tất cả các nước Cộng sản Đông Âu, họ đều đồng loạt đứng lên, để tự phá tan xiềng xích, ngục tù và sau hơn 30 năm đoạn tuyệt với cái mớ rác rưởi Mác – Lê, chửa thấy ai lưu luyến hồi đầu.

3.- Viết tới đây, không thể không nhắc tới luận điểm nổi tiếng của Tôn tử: 是故百战百胜,非善之善者也;不战而屈人之兵,善之善者也. Thị cố, bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã. Bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã. Tạm hiểu, “đánh thắng” hết Thực dân to này, đến Đế quốc nhớn khác, có gì gọi là giỏi. Bởi sau “chiến thắng”: đất nước, tan hoang – dân chúng, kiệt quệ. Không đánh mà hạ gục được đối phương, như cách mà Gorbachev đã làm, ấy mới tài.

Tài giỏi thế, nhưng Gorbachev và những cộng sự, họ cũng chửa được thiên hạ phong Thần. Bởi dẫu sao, Liên bang Xô viết, nó cũng được phát triển trên một nền tảng nhất định của Tư bản công nghiệp và mặt bằng dân trí ở đó, nó cũng không đến nỗi nào. Riêng Việt Nam, ngoài 2 trở ngại bất khả kháng nói trên, nó còn phải đối mặt với “tâm lí ngu trung” đã trở thành thâm căn – cố đế của vô số những kẻ mù quáng. Những kẻ, luôn cúc cung thần phục bề trên một cách vô điều kiện. Không đánh, mà vẫn phá tan được những bức tường thành kiên cố đó, ấy mới xứng, là bậc vĩ nhân.

Người xưa nói: “Mục đích, biện minh cho phương pháp”. Lịch sử, rồi sẽ phán xét mọi việc một cách công bằng và trước sau, sẽ dành vị trí xứng đáng cho Nguyễn Phú Trọng – một ông già “mặt nhân từ, mà ruột hiểm sâu”. Ngay từ những bước đi đầu tiên, cho tới những “mưu, hiểm độc – kế, xảo quyệt”, chàng luôn khiến cho quỷ khốc – thần sầu. Chỉ với cái mẹo vặt 假痴不癫, giả si bất điên – vờ lú lẫn, chàng cũng khiến cho bao cao thủ võ lâm phải lả tả rớt đài và lâm vào thảm cảnh “sống, không bằng chết”.

4.- Bàn về cái sự bất tài của Đảng Cộng sản Việt Nam, có lẽ, không ai thâm và sắc bằng Vũ Khoan: “Thụy sĩ không có gì, mà có tất cả. Trong khi, mình có tất cả, nhưng lại không có gì”.

Nôm na, Việt Nam là một trong những nơi hiếm hoi trên trái đất, mà cùng lúc, hội tụ được “tất cả” các yếu tố “thiên thời, địa lợi và nhân hòa”. Nhưng khi những thứ đó rơi vào tay lũ côn đồ có cái đầu đất, chúng đã đẩy cả Xã hội Việt Nam vào vòng hỗn loạn và làm băng hoại nó về mọi mặt:

Luật pháp, không còn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, thống trị.

Từ đường lối cho đến đường đi, chỗ nào cũng vá chằng – vá đụp như cái váy rách của nhà chị Dậu. Nền “công nghiệp hóa” mà chúng ta hằng ao ước, cho đến giờ, nó đang đánh vật với “những con ốc vít tiêu chuẩn”. Một nước nông nghiệp, mà từ giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, cho đến giá nông sản, tất cả, đều bị thả nổi và chịu sự thao túng của thương lái nước ngoài. “Được mùa – mất giá” và ngược lại. Đó là thảm cảnh của người nông dân Việt Nam dưới thời Cộng sản. Công nông, nào phải là cá biệt. Mọi tầng lớp khác trong Xã hội, nó cũng đều y như thế.

Tài nguyên và khoáng sản, tất cả đều bị đám Cộng sản đào bới tới mức cạn kiệt. Đất đai, chỗ nào chưa sang nhượng hoặc chưa cho ngoại bang thuê, chúng đều nhăm nhe đem phân lô – bán nền, rồi nhượng lại cho dân chúng với cái giá cắt cổ. Kiều hối, đều như vắt chanh. Năm nào cũng tiệm cận ở mức 20 tỷ USD. Còn dân chúng, ai cũng điêu đứng, vì bị chế độ bóp nặn qua sưu cao – thuế nặng. Thu nhiều như thế, nhưng “ngân sách” Quốc gia, lúc nào nó cũng “như dòng sông đã cạn”. Trái lại, cán bộ Cộng sản, đứa nào cũng giàu ú ụ. Xe sang và biệt phủ khủng, xưa rồi. Cái mà chúng hãnh diện đem khoe, đó là những tài khoản ngoại tệ và những bất động sản ở nước ngoài. Hữu sự, chế độ “đóng cửa”, để xách bị gậy “đi ăn mày” ở khắp bốn phương trời. Thậm chí, sẵn sàng “đeo mo vào mặt”, rồi lân la đi ăn dỗ của những đứa trẻ miệng vẫn còn hoi mùi sữa và lừa đảo cả những ông bà già đã cập kề miệng lỗ. An sinh Xã hội ư? Đừng có hòng. Bước chân ra khỏi cửa, mỗi bước đi, là một bước phải xuống tiền.

Rõ ràng, lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, chúng gồm một lũ bất tài – vô dụng. Chúng kinh doanh thứ gì, thứ đó lỗ chỏng cu. Chúng quản lí cái gì, cái đó đều tồi tệ và ngược lại. Chỉ cần so sánh việc cung ứng lương thưc và thực phẩm trước và sau thời bao cấp, chúng ta sẽ nhận ra ngay cái điều đó. Bởi thế, chừng nào chưa “giải thể cái đám ăn hại – đái khai Cộng sản” và “trả lại quyền lực thực sự cho Nhân dân”, chừng đó, Việt Nam còn sấp mặt. Trong bối cảnh đó, Phú Trọng được sinh ra, để “thế Thiên”, mà “hành” cái “đạo” triệt Sản.

5.- “Lượng đổi – chất đổi”. Người ta chẳng nên hấp tấp, để nặn một cái mụn, khi nó còn non. Thế nên, Lê nin mới đưa ra luận điểm: “Muốn cho chế độ Nga hoàng chóng sụp đổ, hãy đẩy nó tới tận cùng của sự khốn nạn”. Sang Nga du học, Phú Trọng rất tâm đắc với chiến lược này. Về nước, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê vào hoàn cảnh Việt Nam”, ông thay chữ “Nga hoàng”, bằng từ “Cộng sản” và kiên định, đẩy nhanh quá trình chín mõm của cái ung nhọt Cộng sản Việt Nam. Giống như bậc tiền bối, ông cũng dùng 2 thứ vũ khí: “Công khai hóa” và “Kỉ luật toàn tri”, để bẻ nanh – cắt vuốt và rút gân của cái Đảng Cộng sản Việt Nam. Có điều, Gorbachev phá Cộng sản theo cách, từ trong phá ra. Riêng Phú Trọng, ông phá nó, từ gốc rễ.

a- Hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh

– Chuyện dân gian, kể rằng: Nguyễn Sinh là một dòng họ nghèo kiết xác ở xứ ông Đồ. Muốn đổi đời, họ tìm đến nhà một thầy Địa lý nổi tiếng, để xin giúp đỡ. Nhìn thấu hoàn cảnh và âm đức của nhà đó, thày phán: “Ta vừa tìm được một huyệt mộ. Mả táng vào đó, phú quý tột cùng. Ngặt nỗi, kết cục sẽ là tuyệt tự. Các người, nghĩ sao?”. Còn gì, để mà mất. Cả nhà mừng quýnh, đồng ý liền. Việc, hoàn tất. Tạ ơn thầy xong, họ bỏ đi như chạy. Vì thế, chẳng nghe thấy thầy gọi với theo: “Này, ta nói đùa đó. Muốn không bị tuyệt tự, việc đầu tiên, là phải lấy vợ”.

– Theo chính sử, Hồ Chí Minh không có cả vợ lẫn con và có lẽ, đó chẳng phải là ước nguyện của ông ta. Bởi lẽ, “từ rốn trở xuống, bác cũng như các chú”. Làm ra cái việc thất đức này, là mưu đồ của đám đệ tử. Chúng muốn lợi dụng ông ta, để lôi kéo cái đám đông u mê, mà có lúc, nó chiếm tới 95% dân số Việt Nam. Vì thế, chúng buông xuống một bức màn sắt, rồi thêm râu – vẽ ria và bắt ông phải trở thành một vị Thánh nhân. Dĩ nhiên, không chút tì vết.

Đầu tiên, chúng khoác tấm long bào của Thiên tử lên vai ông Hồ: “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh Thánh” và giải thích bừa rằng: “Khi núi Đụn, chẻ đôi/ Nước chảy xuống từ khe Bò Đái, mất tiếng/ Sông Lam, phạm núi Lam thành/ Lúc đó, Nam Đàn sinh ThánhThánh ở đây, chính là bác Hồ (!)

Bước 2, chúng tìm một kẻ bẻm mép, rồi đôn y lên hàng Giáo sư và giao cho việc “sưu tầm” và “sáng tác” những mẩu chuyện có thật và kể cả không có thật về ông Hồ. Kế đó, mang chúng đi kể ở khắp hang cùng – ngõ hẻm. Đám quần chúng u mê, ai cũng há hốc mồm ra nghe và ai cũng tin, bác của họ, là Thánh sống. Bác của họ, tài đến mức, thông thạo “29 ngoại ngữ” – giỏi đến mức, “tiên tri được ngày ta thắng Mỹ” và nhân văn đến mức, gặp các cháu gái miền Nam, bác hỏi luôn: “Các cháu kinh nguyệt có đều không?”.

Tuy vậy, ối lúc y nhỡ mồm. Y kể, hồi ở Paris, bác đã từng tham gia sản xuất hàng giả. Đã từng, vì quyền lợi ích kỉ của mình, mà nhẫn tâm 移尸嫁祸 di thi giá họa cho dân lành. Khiến họ, tan cửa – nát nhà và nếu sống ở Việt Nam thời Sản trị, cái thòng lọng của giá treo cổ, chắc chắn, nó sẽ được tròng vào cổ họ.

Ở xứ Văn minh, nói láo như y, thiên hạ bôi vôi vào mồm. Nhưng ở chốn “thiên đường”, y và đám đồng đảng, chúng lại thành công rực rỡ. Hình tượng Hồ Chí Minh với những gam màu sáng, nó đã được khắc ghi đậm nét trong trái tim và khối óc của đa số dân chúng Việt Nam. Nó trở thành cái bình gốm đẹp đẽ, để những con chuột cống Cộng sản có chỗ chui vào và yên ổn hưởng thụ những gì mà chúng có được do ăn cướp. Ai cũng biết, nếu không đập vỡ cái bình, hoặc không dốc ngược nó lên, muôn đời, không bao giờ tiêu diệt được đàn chuột ở trong cái bình đó. Các bác “thế lực thù địch và phản động”, họ biết rất rõ về cái luận điểm này và diễn đạt nó dưới dạng: “Muốn giải Cộng, trước tiên, phải giải thiêng được hình tượng Hồ Chí Minh”.

Nhưng rồi, bao nhiêu thời gian và công sức mà các bác ấy đổ vào đó, nó đều như “nước đổ lá khoai”. Chẳng mấy ai tin các bác ấy cả. Phải đến khi Phú Trọng nhập cuộc, tình thế mới bắt đầu thay đổi. Vậy, Phú Trọng đã làm những gì, để người đời dần tin rằng, Hồ Chí Minh cũng hết sức tầm thường?

– Ai cũng biết, những “khai quốc công thần” của chế độ Cộng sản, từ Ba – Đồng – Chinh – Bằng – Tôn, cho đến Mười – Phương – Kiệt – Nguyên – Liệu, ai cũng đội ông Hồ lên đầu và tranh nhau nhận mình là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Riêng Phú Trọng, học hàm và học vị đầy mình, sao phải khuất thân mà nhận rằng, mình là học trò của cái ông chẳng có mảnh bằng nào giắt lưng? Tệ hơn, ông còn bật đèn xanh, để Võ Văn Thưởng thổi đít mình lên: “Tổng bí thư hiện nay, thực sự là nhà lý luận có tầm tư tưởng”. Nghe nói, dạo còn trốn trong núi rừng Việt bắc, có kẻ cũng đã nói ra câu đó với ông Hồ. Không ngờ, ông ta gạt phắt: “Bác không có tư tưởng gì cả. Mọi tư tưởng, là của ông kia, ông kia và ông kia”. Miệng nói, tay chỉ vào hình của Mác, Lê nin, Staline và Mao Trạch Đông. Cái mà ông nhận, chỉ là “tác phong Hồ Chí Minh”.

Chẳng biết, lúc đó ông Hồ khiêm tốn, hay ông không muốn tự lâm vào tình thế hiểm nghèo, khi dám đặt mình ngang hàng với các tay kia. Trong khi, tầm của bọn kia, còn lâu chúng mới sánh được với những nhà tư tưởng và triết học vĩ đại của Trung hoa như Khổng tử 孔子, Mạnh tử 孟子. Nếu công tâm, Thưởng hãy nói xem, cụm từ “tư tưởng Hồ Chí Minh” nó xuất hiện trước hay sau khi ông Hồ từ trần? Ông Hồ còn không tự nhận mình là Hồ tử 胡子. Hà cớ gì, con ễnh ương Võ Văn Thưởng phải cố tự phình mình, để đẻ ra nhà tư tưởng Trọng tử 仲子. Tuy chưa chết, nhưng “tiếng vang như mõ”?

– “Miếng ăn, là miếng nhục”. Thiên hạ, thiếu gì kẻ, chỉ vì miếng nhục đó mà bán rẻ đi cái lương tâm của mình. Mượn sân khấu của Thưởng, chúng véo von hót rằng, Phú Trọng có cái tiết tháo của một bậc sĩ phu Bắc hà. Bởi thế, trừ Tập tiên sinh, ông không bao giờ khuất phục trước cường quyền và tà quyền. Khi đã ở trong cái chăn Cộng sản, hơn ai hết, ông ta phải biết rất rõ về thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Nhưng đã lâu lắm rồi, thiên hạ thấy ông vẫn một mực lẩn tránh việc vào Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để cúi chào người quá cố. Có lẽ, ông đã học được chiêu độc của các vị vua chúa nước Nam: Khi không muốn quì lạy, để nhận chiếu chỉ/ sắc phong của phương Bắc, ai cũng nại ra việc mình đi săn, bị ngã ngựa. Phú Trọng, cũng vậy. Ông ta có thể một lần nại ốm, để không phải lạy ông Hồ. Nhưng triền miên “ốm”, thì vấn đề, nó lại nằm ở chỗ khác. Xin độc giả hãy chiêm ngưỡng bức ảnh “Phú Trọng dâng hương trong nhà Bác”.

Hương dâng rồi, ông ta quay lại và điềm nhiên ngồi luôn lên cái ngai của Bác mình. Việc này, Phong kiến thời nào, họ cũng “nâng cao quan điểm”, để khép vào tội: “khi quân – phạm thượng”. Cố tình, thì bị chém đầu – vô ý, thì đem treo cổ. Đã thế, ông còn ngồi quay lưng vào bàn thờ, nơi mà khói hương vẫn đang nghi ngút.

Thế gian, nào ai mà biết, “chuyện ma ăn cỗ”. Bởi thế, “anh em, khinh trước – làng nước, theo sau”. Chắc ông Hồ cũng phải như thế nào, thì mới bị Tổng Trọng giỡn mặt đến mức ấy chứ?

– Nào, đã hết. Sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, nên khát vọng cháy bỏng của tầng lớp bần cố nông Cộng sản, nó cũng chỉ dừng lại ở cái nồi cám lợn nơi xó bếp. Vì thế, khi được ăn bo bo, ai cũng tưởng, mình đã đặt được một chân tới thiên đàng. Trong bối cảnh đó, họ tung ông Hồ lên tận chín tầng mây và “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”, nó đã làm lóa mắt tất cả cái lũ mù quáng ấy. Cơn lên đồng tập thể, nó chỉ chấm dứt, khi Thánh mới lừng lững xuất hiện cùng với xô nước đá trên tay. Thánh phán: “Nhìn một cách tổng quát, Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay”. Nôm na, từ thủa khai thiên – lập địa của nước Việt đến giờ, chưa một chế độ nào, chưa một triều đại nào có được những thành tích vẻ vang và đặc biệt xuất sắc bằng thời Phú Trọng.

Không phải nhỡ mồm, Thánh lặp đi, lặp lại nó ở mọi nơi, mọi lúc và có lẽ, ngay cả trong giấc ngủ. Lũ bê hồng, nghe rõ chửa: “Thánh Hồ, sao mà bằng Thánh TrọngCòn Thánh Trọng, đang ở ngoài bức màn sắt và đang sống trong thời @. Bởi thế, chỉ những kẻ đui mù và đần độn, chúng mới không đánh giá được những lời nói và những việc làm của ông ta.

b- Đưa Luật rừng vào, để phá nát Xã hội Việt Nam.

– Trên danh nghĩa, Việt Nam có một Nhà nước “Pháp quyền”. Ấy thế mà, đến Hiến pháp, nó còn bị Phú Trọng cho đặt ngồi bệt xuống dưới chân Cương lĩnh của Đảng. Đến lượt Cương lĩnh của Đảng, nó lại được ông nâng niu và sử dụng như một vật lót mông của mình. Bằng chứng, kệ con mẹ Điều lệ Đảng và mặc xác cái gọi là dư luận, ông lì lợm giữ rịt cái ghế Tổng Bí thư tới tận 3 khóa liền tù tì.

Lột mặt nạ của Đảng như thế, chưa đủ. Ông còn cố tình trì hoãn việc xây dựng Luật về Đảng và Hội, để bắt cái Đảng của ông, lúc nào nó cũng hoạt động trong tư thế bất hợp pháp. Quyền lãnh đạo, nó giành – trách nhiệm với Dân, nó bỏ. Có quyền rồi, chúng ngang nhiên lấy tiền của Ngân sách, để chi tiêu một cách vô tội vạ và tùy ý lèo lái Đất nước đi theo những cái sở thích riêng quái đản của mình. Tạm kể ra, 2 vụ:

Theo Hiến pháp: “Nhiệm kì của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng, đều theo nhiệm kì của Quốc hội”. Thậm chí, họ còn phải đương nhiệm cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra được người thay thế. Nhưng, Quốc hội khóa 13 còn chưa kết thúc, “tam trụ” kia, chẳng ai bị kỉ luật, chẳng ai bị liệt hoặc chết, cũng chẳng có ai làm đơn xin từ chức. Ấy thế mà, ông Tổng vẫn lùa họ lên toa xe lửa, đóng cửa lại, rồi cho họ “đi tàu suốt”. Lạ cái, từ 3 vị kia cho tới dân chúng cả nước, chẳng thấy ai dám hé răng, để bình phẩm lấy một lời. Hèn đến thế, là cùng.

Ăn cắp, quen tay – ngủ ngày, quen mắt”. Trong nước, chà đạp lên Luật pháp mà không sợ bị trừng trị, nó quen rồi. Ra nước ngoài, bệnh cũ, tái phát. Mồm nói, tôn trọng chủ quyền Quốc gia và Luật pháp của Đức quôc, nhưng ấm đầu lên, ông vẫn tìm mọi cách, để “khều” cho bằng được cừu thù Trịnh Xuân Thanh về nước. Bất chấp, vụ “khều” người này, nó sẽ còn “ám” mãi vào nước Việt.

Trên, vô pháp – dưới, vô luân. Từ đó, cả Xa hội được vận hành theo những “khẩu dụ”, theo những Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng – những thứ, luôn trong tình trạng “sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng”. Khi không còn tiêu chuẩn để phân biệt trắng – đen; phải – trái; đúng – sai, cả Xã hội lộn tùng phèo: “Bây giờ, làm việc gì cũng sợ sai. Làm xong rồi, cũng không biết có sai hay không. Sai rồi, cũng không biết sai ở chỗ nào và thậm chí, không làm gì cũng có thể dẫn đến sai phạm(!)” – Mai Thị Phương Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội. Khi trói được chân – buộc được tay cán bộ, đó là lúc mà Phú Trọng đã đạt đến đỉnh cao của việc: “vô hiệu hóa bộ máy Nhà nước Việt Nam”. Gorbachev, tuổi gì.

Kỷ cương, không có – đường lối, ưỡn ẹo như cây tre trước gió và ông trùm, một tay thao túng tất cả. Đó là đặc điểm chung của mọi băng nhóm được tổ chức theo kiểu Mafia hoặc thổ phỉ. Phú Trọng, ông đã có công làm cho cả Thế giới thấy rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam, nó cũng đang tiệm cận với cái mức ấy.

c- “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Bần cùng hóa nhân dân, ép họ phải đối đầu với chế độ.

– Ở một nước nông nghiệp, tất yếu, phải lấy “Nông dân làm trụ đỡ”, phải đặt “Nông nghiệp vào trọng tâm”. Mồm thì nói thế, nhưng tay này cướp đất của nông dân, tay kia dựng lên cả một rừng thuế phí, để vặt lông người cày. Một quả trứng, chúng thu tới 14 loại phí. Đến con lợn, con số đó, nó đã nhảy lên thành 51. Nào, đã hết. Khi mang hàng hóa đi tiêu thụ, họ phải khóc ròng với giá cước vận tải. Do xăng tăng – xe đắt, do dày đặc những trạm cố định thu phí mãi lộ và do bị “ăn cháo hành” khi qua đầy rẫy những trạm di động, chuyên xin đểu “bánh mì”. Trừ hết chi phí, đồng tiền mang về, may lắm cũng chỉ đủ để nuôi vợ con. Làm gì có dư, để mà tái sản xuất mở rộng. Khi bị ép phải lựa chọn giữa “sống, hay là chết”, những người nông dân ở Văn Giang, Đồng tâm, Dương nội…, tất cả, đều không chọn vế sau. Cho dù, có bị đàn áp khốc liệt.

Nước lụt, thì lút cả làng”. Khi đại dịch cúm Tàu tràn qua nước Việt, nó đã phơi ra trước bàn dân thiên hạ: Một hệ thống truyền thông, dối trá. Một hệ thống quan chức, ngu dốt. Một hệ thống tham nhũng và thối nát, từ trên xuống dưới. Một sự vi phạm nhân quyền trắng trợn dưới rất nhiều hình thức. Cuối cùng, là một hệ thống nhóm lợi ích siêu quyền lực. Chúng đã tạo ra cả hệ thống chính sách, để trục lợi và trên hết, đó là một sự lũng đoạn Nhà nước, ở quy mô khủng khiếp…” – Nhà báo Nguyễn Vũ Bình.

Chỉ bằng vài tháng phong tỏa, ông Tổng và những cộng sự, họ đã khiến đồng bào ta: người chết – nhà tan – của tàn – đói khát. Giữa lúc tứ bề thọ khổ, cái mà dân chúng cần, đó là lương thực, thực phẩm, thuốc men, y bác sĩ và phác đồ điều trị. Nhưng chế độ, không làm thế. Trái lại, họ vẫn hối hả tăng giá xăng dầu, điện nước, khí gas… Mặt khác, tiếp viện cho họ: bộ đội, cảnh sát cơ động, cùng AK 47, xe bọc thép và hàng rào dây kẽm gai. Chẳng cần nói, ai cũng biêt nguyên nhân sâu xa của những việc làm thất nhân tâm này.

d- Xói mòn sức mạnh chiến đấu của Đảng CS Việt Nam, bằng cách bồi dưỡng và đề bạt những cán bộ vô tài – thất đức.

Muôn việc thành công, ở khâu cán bộ. Luận về cái việc này, Nguyễn Trãi viết: “Sĩ tốt, kén người hùng hổ. Bầy tôi, chọn kẻ vuốt nanh”. Đến thời Phú Trọng, ông không làm thế. Bỏ qua qui luật “chọn lọc tự nhiên”, ông “phát hiện, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ” theo kiểu “hôn nhân cận huyết”. Vì thế, nhắc tới bất cứ một cán bộ nào, nhân gian cười nửa miệng: “Đồng chí này, là con của đồng chí nào?”.

Trong khi, ghế thì ít, mà đồng chí đểu lại hơi bị nhiều. Dựa vào chiêu “luân chuyển cán bộ”, ông thay máu xoành xoạch trong những cơ quan đầu não của Đảng. Có điều, “hòn ngọc, ném đi – hòn chì, giữ lại”. Việc “dây thép” ông giao cho một thằng “bán trời không văn tự”. Không phụ lòng chủ, y “vén tay áo xô”, chỉ một phát, đốt trên ngàn tỉ tiền thuế vào cái “mạng xã hội Lotus” với lời hứa chắc như đinh đóng cột: “Lotus sẽ lật đổ facebook(!)”. Đến lượt, “Giáo dục và Đào tạo nhân tài cho Đất nước”, ông giao cho một kẻ đạo văn, có bằng đểu, lại còn nói ngọng. Kết quả nhãn tiền, thi gian – học dối, nó nở rộ ở khắp mọi nơi. “Phi công, bất phú – phi thương, bất hoạt”. Để mạnh giàu, thời nào cũng phải coi trọng Công thương. Biết thế, nên ông giao nó cho một cán bộ Đoàn, mà sở trường của y là chăng đèn, kết hoa và quét cống rãnh. Hệ quả, nghe chàng nói – nhìn chàng làm, dân chúng càng thêm tin yêu bọn… Tư bản.

Với cán bộ yếu kém, Gorbachev chọn cách thải hồi. Riêng Phú Trọng, ông biến chúng thành củi. Chính tay ông đã huấn luyện, nâng đỡ và đặt La Thăng ngồi trên cái núi vàng ở Sài gòn. Nhưng khi không lay chuyển được lòng trung thành của y với chủ cũ, ông trở mặt, đem những tội lỗi của y từ thuở “Naponeon còn cởi truồng” ra, để tống La Thăng vào lò. Hằng hà sa số những cán bộ khác, cũng thế, Tay này, ông bồi dưỡng và bổ nhiệm họ. Còn tay kia, ông bới lông – tìm vết, để kỉ luật họ. Sau đó, cười hềnh hệch và khoe thành tích chống tham nhũng với bàn dân thiên hạ. Khốn nạn ở chỗ, ông luôn coi mình, là kẻ vô can.

6- “Cùng trong một tiếng tơ đồng”. Nhưng ở Nga, Gorbachev đã hoàn thành việc giải thể cả Đảng Cộng sản lẫn Liên bang Xô viết và chứng kiến việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Riêng Phú Trọng, ông sẽ không có được cái cơ may đó. Ngày ra đi, cái mà ông để lại, chỉ là một đống đổ nát bừa bãi. Ước mơ Tự do và Dân chủ, đành gửi gắm vào những kẻ thay thế mình. Tiếc rằng, Trí của chúng, đều ngắn – Đức của chúng, đều mỏng. Bởi thế, giỏi lắm, chúng chỉ đóng vai trò trái độn như Hoa Quốc Phong ở Trung hoa. Có điều, sau Quốc Phong, đã có sẵn Tiểu Lọ. Còn Việt Nam, chẳng biết, ông có để lại cái túi gấm nào, hay không?

7- Này, ông Tổng!

Có đi có lại, mới toại lòng nhau”. Mọi lần khác, bỏ qua. Riêng lần này, lão viết ra bài điếu tân thời, để chiêu tuyết, để tế sống ông. “Sống khôn – thác thiêng”, hãy cười lên một tiếng. Sau đó, nhớ viết bài phản biện, để người trong thiên hạ, không ai phải lăn tăn về trình độ của một “nhà lí luận, có tầm tư tưởng” và cũng đừng hấp tấp, để làm những chuyện ngu ngốc, khiến người trong thiên hạ, ai ai cũng phải đàm tiếu: “Tưởng, sĩ phu Bắc hà. Ai ngờ, cũng chỉ là một thằng côn đồ nơi đất Bắc”.

Nguyễn Tiến Dân

Tel: 038 – 50 – 56 – 430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ Cộng sản đê hèn, nên bị chúng lừa đảo và cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây, mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Gia tài của mẹ và chuyện chủ quyền biển đảo…

Gia tài của mẹ và chuyện chủ quyền biển đảo…

2-7-2022

Tình hình theo tôi là tuyên giáo “xử” vụ “gia tài của mẹ” như “đem con cá đi trấn nước”. Trấn cách mấy con cá cũng không thể chết ngộp. Vấn đề “hai mươi năm nội chiến từng ngày” là một sự thật lịch sử. Ngay cả khi lịch sử luôn được viết bởi phe thắng cuộc. Cây súng có thể giết người nhưng cây súng không thể giết chết sự thật.

 

Việc làm hồ đồ của tuyên giáo CSVN ảnh hưởng sâu sắc lên hồ sơ chủ quyền biển đảo của VN. Tuyên giáo càng lên gân VN càng tự bắn thêm vào chân mình. Nếu không thiết lập lại sự thật lịch sử VN có thể mất vĩnh viễn Hoàng Sa (HS) và Trường Sa (TS) cùng hàng triệu cây số vuông biển cho TQ.

Chiến tranh chống Pháp 1945-1954 là một cuộc “nội chiến”. VN gọi tên “chín năm kháng chiến chống Pháp” nhưng Luật quốc tế xếp loại các cuộc chiến “giải thực – décolonisation” thuộc thể loại “nội chiến”.

Chiến tranh 54-75 “chống Mỹ cứu nước”. Mỹ là “thực dân mới” và chính quyền VNCH là “chính quyền tay sai”. Thực dân là thực dân. Luật quốc tế không phân biệt cũ hay mới. Cuộc chiến này cũng là một cuộc nội chiến.

Răn đe người dân cách nào, phạt vạ hay cấm hát bài Gia tài của mẹ, tuyên giáo cũng không thể thay đổi thực chất “nội chiến” của hai cuộc chiến.

Luật quốc tế qui định từ “chiến tranh” chỉ dành cho “chiến tranh quốc tế”, tức xung đột vũ trang giữa “quốc gia với quốc gia”.

Luật lệ chiến tranh là luật hiện hữu từ thời thượng cổ. Chiến tranh có mục đích làm cho tất cả của cải, lãnh thổ… của một bên thành ra “vô chủ – res nullius”. Phe thắng trận có quyền chiếm hữu tất cả. (Phe thắng cuộc ở VN áp dụng tận tình luật này. Của cải của ngụy ta tịch thu, nhà của ngụy ta ở, vợ của ngụy ta lấy, con của ngụy ta bắt làm nô lệ còn ngụy ta bắt đi học tập cải tạo, đuổi đi kinh tế mới…)

Cả hai phe CSVN và VNCH (tức phe cộng sản và phe quốc gia) đều có chung quan điểm: chiến tranh VN (1954-1975) không phải là cuộc “nội chiến”.

Cả hai cùng tự bắn vào chân mình.

Lập trường của phe cộng sản đã nói rồi. Chính nghĩa của cuộc chiến (jus ad bellum) là mục tiêu “giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước”.

Còn phe quốc gia mỗi người mỗi ý.

Lập luận (áp đảo) của phe quốc gia hiện nay cho rằng VNDCCH và VNCH là “hai quốc gia độc lập có chủ quyền”. Vấn đề là lập luận của nhóm học giả này không thuyết phục. Họ không chứng minh được cuộc chiến 1954-1975 là “chiến tranh quốc tế, nước này xâm lược nước kia”.

Chiến tranh – War là một vấn đề quốc tế. Chiến tranh – War là quốc gia (state) này xâm lược quốc gia (state) kia.

So sánh với chiến tranh Nga xâm lược Ukraine. Chính nghĩa của phe Nga (jus ad bellum) trong cuộc chiến này là gì?

Trước khi phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” thì Putin tuyên bố nhìn nhận độc lập có chủ quyền của hai quốc gia tự phong Donetsk và Luhansk. Chính nghĩa của Nga khi phát động cuộc xâm lược là giúp hai quốc gia Donetsk và Luhansk “tự vệ” đồng thời bảo vệ những người nói tiếng Nga sinh sống ở hai cộng hòa tự phong này. Quyền “tự vệ” này “chính đáng” nếu (và chỉ nếu) hai cộng hòa Donetsh và Luhansk là hai quốc gia thực sự độc lập có chủ quyền. Đại đa số các quốc gia, ngay cả các quốc gia thân cận nhứt với Nga, không nước nào nhìn nhận thực tế này. Cuộc chiến của Nga vì vậy không có chính nghĩa. Nga bị cô lập trên trường quốc tế.

VNCH chưa bao giờ tuyên bố “quốc gia độc lập” như hai cộng hòa tự phong Luhansk và Donetsk. Lập luận “tự vệ đa phương” của VNCH rõ ràng thiếu thuyết phục.

Tương tự như Đài Loan – lục địa, Nam-Bắc Hàn. Hai miền Nam-Bắc VN chỉ là những “quốc gia bị phân chia – divided state”. Quốc gia bị phân chia là những “quốc gia chưa hoàn tất”. Tư cách pháp nhân của VNDCCH (và VNCH) trước luật quốc tế là không hoàn chỉnh.

Ông Ngô Đình Diệm là tổng thống VNCH duy nhứt được quốc tế tiếp đón như là một “nguyên thủ quốc gia”, với lễ nghi dành cho “quốc khách”. Dĩ nhiên lãnh thổ của quốc gia VNCH này bao gồm luôn miền Bắc.

Sau khi ông Diệm bị quân đảo chánh giết chết, các thủ lĩnh chính quyền quân sự hay dân sự sau này không ai được quốc tế tiếp đón với thủ tục dành cho nguyên thủ quốc gia. Ông Thiệu chưa bao giờ được Mỹ tiếp đón như là “quốc khách”, với tư cách nguyên thủ quốc gia. Ông Thiệu chỉ được Nixon tiếp đón ở trại David, như một “cá nhân đặc biệt”. Tư cách pháp nhân của VNCH trước trường quốc tế đã bị sụp đổ từ 1-11-1963.

Nhiều bài viết cố gắng chứng minh VNCH và VNDCCH là “hai quốc gia độc lập có chủ quyền”. Các học giả vịn đủ thứ luật lệ quốc tế, điển hình Công ước Motevideo về quốc gia.

Các học giả rành về luật quốc tế nhưng dường như đã bỏ sót nhiều điều cơ bản cấu thành luật quốc tế. Nếu Công ước Motevideo là “luật” thì Hiệp định Genève 1954 hay Hiệp đinh Paris 1973 về chiến tranh VN cũng là “luật”. Các học giả chỉ dựa vô công ước Motevideo mà không tính tới hai hiệp định Genève 1954 và Paris 1973. Theo nội dung hai hiệp định này thì quốc gia VN chỉ có một. Cả hai bên VNDCCH và VNCH từ 1954 luôn hành sử như là “Quốc gia duy nhất – Etat Unitaire”. Quốc tế, nước nào công nhận VNCH thì sẽ không công nhận VNDCCH và ngược lại.

Lập luận “hai quốc gia VN” của các học giả là có vấn đề.

Giả sử bây giờ “thượng đế” ban phép lạ cho phe quốc gia “xóa bài làm lại”. Theo tôi phe VNCH vẫn thua. Thua vì đến nay nhiều người (còn sót lại) vẫn không hiểu được thực chất của cuộc chiến 1954-1975 là gì?

Làm cách nào để chống lại chính nghĩa “thống nhất đất nước”? Càng dựa vô Mỹ càng đánh càng thua. Mỹ can thiệp vào VN là can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia. Càng đánh Mỹ càng bị quốc tế chống đối và VNCH càng bị cô lập.

Ngoại trừ việc tuyên bố VNCH độc lập và làm trưng cầu dân ý để sự tham dự của Mỹ vào cuộc chiến có tính chính đáng. Điều này hoặc ra ngoài kiến thức của phe VNCH hoặc đa số lãnh tụ chính trị VNCH là dân miền Bắc.

Khẳng định chiến tranh 1945-1954 và chiến tranh 1954-1975 là nội chiến VN có nhiều cái lợi. VN kế thừa di sản của Pháp về lãnh thổ HS và TS. Sau này VN kế thừa di sản VNCH về “danh nghĩa chủ quyền” tại HS.

Tư cách pháp nhân của VNDCCH không phải (hay chưa phải) là quốc gia. Vì vậy tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đông không có hiệu lực ràng buộc trước pháp lý quốc tế.

KHÁC BIỆT GIỮA ĐÀN ÔNG BẤT TÀI VÀ ĐÀN ÔNG CÓ BẢN LĨNH

Chau Nguyen Thi

KHÁC BIỆT GIỮA ĐÀN ÔNG BẤT TÀI VÀ ĐÀN ÔNG CÓ BẢN LĨNH

So với việc gả cho một người đàn ông không có bản lĩnh, phải hạ thấp tiêu chuẩn cuộc sống của mình xuống, chi bằng cứ ở một mình, vui vẻ, tự do tự tại.

Nếu gả cho ai đó, vậy thì nhất định hãy “sáng mắt ra”, tìm lấy cho mình một người đàn ông có bản lĩnh để có thể dựa dẫm suốt đời.

Đàn ông, là trụ cột của một gia đình, đàn ông có bản lĩnh hay không, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới tương lai của cả một gia đình.

Đàn ông càng bản lĩnh, gia đình càng hạnh phúc, hòa thuận; đàn ông càng vô dụng, không khí gia đình càng u ám, buồn bã.

  1. Đàn ông có bản lĩnh, mạnh ở bên ngoài, Đàn ông bất tài, ra vẻ ở trong nhà

Ông trùm xã hội đen một thời của Thượng Hải, Trung Quốc, Đỗ Nguyệt Sanh từng có một câu nói nổi tiếng như này: “Người thượng đẳng, có bản lĩnh, không nóng nảy; người trung đẳng, có bản lĩnh, hơi nóng nảy; người hạ đẳng, không có bản lĩnh, vô cùng nóng nảy.”

Càng là đàn ông bản lĩnh, đạo đức, tâm thái và sự nhẫn nại của họ càng lớn, họ có thể kiểm soát được cảm xúc của bản thân, đặc biệt là sẽ không mang sự bực tức hay nóng giận theo cùng về đến nhà.

Ở bên ngoài, họ có thể là những trùm khởi nghiệp đang không ngừng nỗ lực vất vả phấn đấu, là những tinh anh có chút thành tựu nhỏ hay là những lãnh đạo của cả một tập đoàn lớn, ngày thường phải trải qua không biết bao nhiêu mưa gió bão bùng, hay những bực dọc không đâu, nhưng chỉ cần bước chân vào nhà thôi, họ sẽ trở thành một người chồng, một người ba dịu dàng.

Trong tâm lý của họ, nhà là nơi tránh gió, là chốn ấm áp và thoải mái nhất trong cuộc đời. Bất luận bên ngoài có phải chịu đựng bao nhiêu khổ sở vất vả, bao nhiêu mệt mỏi, chỉ cần về tới nhà, mọi thứ đều sẽ tan biến hết.

Đàn ông có bản lĩnh, mạnh ở bên ngoài

Còn người đàn ông vô dụng lại vừa hay ngược lại.

Ở bên ngoài, họ thấp cổ bé họng, làm gì cũng không xong. Khởi nghiệp không chịu được khổ, làm công thì không biết điều, sống kiểu cố gắng cho qua ngày.

Bản lĩnh của họ không lớn, nhưng sự nóng nảy thì vừa hay tỷ lệ nghịch. Đừng trông ở ngoài tỏ ra yếu đuối, thấp bé, một dạ hai vâng, một khi về tới nhà, họ sẽ trút hết những ấm ức và tức giận đó ra với vợ con.

Đàn ông đích thực là người che mưa chắn bão cho vợ con; đàn ông xấu xa chuyên tạo ra hỏa hoạn cho gia đình.

  1. Đàn ông bản lĩnh, thương vợ, Đàn ông bất tài, yêu bản thân

Đàn ông bản lĩnh thường có một gia đình hạnh phúc.

Họ có giáo dục, có lòng biết ơn, luôn ghi nhớ rằng đằng sau thành công của mình là những sự bỏ ra âm thầm của vợ, nó khiến họ phấn đấu vì vợ con và đồng thời yêu vợ con gấp bội.

“Gia hòa” mới có thể “vạn sự hưng”, đàn ông muốn thành công, gia đình trước tiên phải hạnh phúc, hòa thuận. Vì vậy, vị trí của gia đình trong lòng họ là vô cùng quan trọng.

Có bận rộn tới đâu, họ cũng sẽ dành thời gian ra để ở bên gia đình; có mệt mỏi tới đâu, họ cũng sẽ về nhà chia sẻ việc nhà với vợ con.

Họ hiếm khi tức giận với vợ, càng không tùy tiện đánh người ta, bởi lẽ họ biết, làm tổn thương tới người thân yêu, là biểu hiện của kẻ vô năng nhất.

Ngược lại, đàn ông vô dụng, họ luôn luôn chỉ biết yêu bản thân, bất kể là làm gì, họ đều sẽ nghĩ tới bản thân mình trước tiên.

Cãi nhau, trước giờ không bao giờ suy nghĩ tới cảm nhận của vợ, hai từ “nhượng bộ” không hề tồn tại, thay vào đó sẽ chỉ là những tiếng quát tháo cùng những hành động chân tay khiến người ta sợ hãi.

Công việc cũng không thấy bận rộn hơn vợ là bao, nhưng về tới nhà là như Phật sống, ngồi chềnh ềnh ra đó không biết làm gì. Không xem tivi thì chơi điện tử, không biết chia sẻ việc nhà với vợ, thậm chí tới con cái cũng lười quản.

Đối với mình thì rất hào phóng, lấy tiền hai vợ chồng tiết kiệm ra mua xe, thay đồng hồ, nhưng đối với vợ lại vô cùng keo kiệt, tới một chiếc váy đắt tiền một chút cũng không nỡ mua.

Đàn ông bất tài, yêu bản thân

Đàn ông bản lĩnh, yêu vợ nhất; đàn ông vô dụng, yêu mình nhất.

Đàn ông bản lĩnh, cầu tiến

Đàn ông bất tài, ca thán

Có câu nói rất đúng rằng, nghèo vật chất không đáng sợ, nghèo tinh thần mới là đòn chí mạng.

Đàn ông muốn có bản lĩnh, nội tâm nhất định phải kiên cường, phong phú.

Xuất thân không tốt, không sao hết; gia đình bình bình, cũng chẳng đáng lo, khó khăn là chuyện bình thường, nó cũng không phải là cái hố mà bạn không bao giờ nhảy qua được, việc cần thiết nhất đó là phải thay đổi quyết tâm và dũng khí ở hiện tại.

Đàn ông thành công, sẽ không bao giờ ca thán.

Họ lạc quan, tích cực hướng về phía trước, luôn luôn mang trong mình nguồn năng lượng nhiệt huyết, tích cực, có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Ông trời trước giờ không bao giờ phụ lòng người, càng nỗ lực, nhất định sẽ càng may mắn.

Đàn ông bản lĩnh, cầu tiến

Nhưng còn đàn ông vô dụng thì lại đang làm cái gì?

Không ca thán thì cũng là oán than.

Hôm nay than mình mệnh khổ, không được đầu thai vào gia đình giàu có, ba mẹ không cho được chút vốn nào.

Ngày mai ca thán xã hội bất công, bao nhiêu thịt cũng dành hết cho người khác ăn, bản thân đến cơ hội húp canh cũng không có.

Ngày kia ca thán vợ không tốt, không biết chia sẻ khó khăn với mình, không kiếm được nhiều tiền một chút để chia sẻ gánh nặng với chồng.

Đàn ông bất tài chính là loài sinh vật yếu đuối và tàn tật về tinh thần như vậy, chốt lại là một câu nói thôi: không phải tôi sai, là xã hội sai, ba mẹ sai, vợ sai, đều là mọi người không giúp được gì cho tôi!

  1. Đàn ông bất tài, ca thán

Ngày nay, vì sao ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn kết hôn?

Nguyên nhân chí tử nhất, không phải vì họ không muốn kết hôn, mà là bởi họ sợ bị gả cho nhầm người.

Nếu phải gả cho một người đàn ông không có bản lĩnh, vậy thì thả rằng “ở vậy nuôi thân béo mầm”, vậy còn sung sướng hơn.

Tuyệt đối đừng để hôn nhân của bạn, trở thành nấm mồ chôn vùi thanh xuân và cả cuộc sống của bạn!

Điều hối hận nhất mà một người già nói với chúng ta: Việc lập kế hoạch là tốt nhưng cuộc sống nhiều “biến số”, quan trọng nhất là sống trọn vẹn từng ngày!

Theo internet

 

DÌ PHƯỚC


Lê Hoàng Nam 

DÌ PHƯỚC

Chợt nhớ lại một câu chuyện hồi lớp 7, anh kia là con cô nhi tức từ nhỏ sống trong trại cô nhi viện và các soeur nuôi anh, khi lớn lên có vợ rồi anh khao khát tìm mẹ, soeur nuôi dạy anh thương anh nên tìm giấy tờ truy mẹ dùm anh.

Rồi cũng kiếm ra, khi tìm ra nhà mẹ ruột, khi đó bà này đã có chồng con khác, nhà rất giàu thì bà mẹ ruột không nhìn.

Ông con trai già đầu ôm mặt khóc hu hu ở góc đường, bà soeur cũng ôm anh mà khóc.

Anh chợt nhận ra một chân lý, té ra anh ảo tưởng, mơ mộng, anh tìm chi xa, mẹ anh kế bên anh đó, là soeur chứ ai. Từ đó về sau anh gọi soeur là mẹ, con anh gọi soeur là bà nội, một gia đình hạnh phúc như bao niềm mơ ước.

Trong tiếng Pháp, Soeur có nghĩa là chị hay là em gái.

Soeur tiếng Pháp = Sister tiếng Anh = tiếng La Tinh Soror.

Trong nhà thờ Ki Tô giáo, chữ Soror (Soeur) là chỉ nữ tu, nam là frater (frère), brother là các nam tu sĩ, linh mục, cha sở.

Ki Tô vô Việt Nam. Dân Nam Kỳ kêu Soeur là bà phước, dì phước hoặc bà mụ. Mụ là chữ có hai nghĩa, kiểu Nam rặc là bà tiên hoặc bà thánh phụ trách sanh nở nặn ra em bé, che chở cho em bé, mụ vườn là người đỡ đẻ. Mụ tiếng Huế cũng có nghĩa là bà.

Kêu soeur dì như chị em của mẹ là một sự yêu thương. Tiếng “dì” thường đi kèm với tiếng “phước” thành dì phước

Phước lành thay! Nuôi con nít không cha mẹ bị bỏ rơi, nuôi người cùi, chăm sóc người già, chăm sóc bịnh nhân là những việc làm phước đức lớn lao. Những mái trường dòng dạy trẻ em, những ấu trĩ viên, cô nhi viện, viện dưỡng lão, nhà thương (bịnh viện), trai cùi, trại tâm thần, trại tế bần đều có bàn tay của các soeur.

Hãnh diện thay! chữ “nhà thương” trong văn hóa Miền Nam cũng có bàn tay của các soeur. Nhà thương Đồn Đất, nhà thương Chợ Rẩy, nhà thương Saint Paul, nhà thương thí…

Chữ phước là một chữ có từ xưa ở Việt Nam ta, phước lành, phước phần, hạnh phước.

Phước (Phúc) chữ Hán là 福.

Chữ này gồm có bốn chữ, chữ bên trái là bộ kỳ (示) chỉ về thần (神) tức Ông Trời, Thần Linh, Phật, sau này Ki Tô lý giải có thêm Đức Chúa Trời hay Thiên Chúa.

Chữ bên phải có 3 chữ là: nhứt (一) là một,khẩu (口) là miệng hay người, điền (田) là ruộng vườn.

Phước 福 có nghĩa là người được Trời Phật độ mà bản thân có ruộng vườn. Tức là có của ăn của để mà được Trời thương do ăn hiền ở lành, tạo nhiều niềm vui cho xóm làng, bá tánh.

Chữ “Phước” được Đức Phật nhắc tới nhiều lần.

“Lánh xa kẻ xấu ác

Được thân cận người hiền

Tôn kính bậc đáng kính

Là phước đức lớn nhứt”

Con người ta có “phước báu” và phải biết sử dụng nó cho cuộc đời.

Phước duyên cũng là một thuật ngữ của Phật giáo, tại chùa Thiên Mụ Huế có bửu tháp Phước Duyên.

Dòng nữ tu Ki Tô đầu tiên vào và tạo lập ở Việt Nam là Dòng nữ Mến Thánh Giá được thành lập năm 1670 ở Bắc Kỳ và 1671 ở Nam Kỳ.

Khi đó các soeur đã hoạt động thiện nguyện rất nhiều. Phước duyên lành ở mọi chúng sanh.

Sau những năm Pháp vô thì các soeur hoạt động trong trị bịnh, giáo dục, nuôi cô nhi, dưỡng lão, coi trại cùi, người tâm thần… rất tích cực.

Thành ra người Nam Kỳ kêu bịnh viện là nhà thương,các soeur là dì phước, bà phước.

Nam Kỳ nói “Thằng đó con bà phước” thì hiểu nó ở trại cô nhi của bà phước nuôi.

Bà phước là người đi làm việc phước thiện, ban bố ơn lành phước huệ, tạo đức, phước lành cho mọi người.

Bà phước lúc nào cũng hiền lành, nhẫn nại, chịu thương chịu khó, mặt không son phấn, áo quần đơn sơ nhưng toát lên sự thánh thiện mà cả những người ngoại đạo cũng phải công nhận.

Bà phước hiền nhưng rất nghiêm khắc, con nhà ai cứng đầu, khi trường học hết dạy nổi thì đem vô trường dòng cho bà dạy. Mà người Nam Kỳ xưa hay cho con vô trường của các bà soeur dạy học lắm, dù nhà đó không có đạo Ki Tô.

Tại VN hiện tại có 59 dòng tu nữ của các bà phước, thí dụ dòng Saint Paul, Cát Minh, dòng Chúa Quan Phòng…

Người đứng đầu một tu viện nữ là Mẹ Bề Trên, tên thông dụng là Bà Nhứt. Có Bà Nhứt sẽ có Bà Nhì. Các bà chỉ là dòng nữ tu không được giảng đạo như các linh mục.

Tại VN Dòng Mến Thánh Giá là dòng cổ nhứt và có nhiều chi nhánh nhứt, thí dụ Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn …

Các soeur sống rất bình dân, có khi tự trồng trọt, làm ruộng, bán trái cây tự sanh sống.

Người dân rất thương các soeur.

Nguyễn Gia Việt

chia sẻ từ 8 SÀI GÒN

Làm sao để cấm một bài hát?

Làm sao để cấm một bài hát?

Jackhammer Nguyễn

30-6-2022

Tác giả Nguyễn Khoa đặt câu hỏi như thế trong một bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên trang Viet-Studies.

Vài ngày sau, chính quyền Việt Nam trong nước, không rõ có đọc bài viết đó hay không, nhưng dường như đã có câu trả lời. Báo Tuổi Trẻ đưa tin (nói là theo nguồn tin riêng của họ) rằng bà Khánh Ly đã bị cơ quan chức năng mời làm việc, vì bà đã cả gan hát bài “Gia tài của mẹ”, của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Cơ quan tổ chức buổi biểu diễn của bà Khánh Ly ở Đà Lạt, cũng bị mời làm việc.

Bà Khánh Ly được xem là ca sĩ hát nhiều bản nhạc của ông Trịnh Công Sơn, hát thành công nhất cho tới nay. Bài “Gia tài của mẹ”, nằm trong nhóm sáng tác Ca khúc da vàng, được xem là phản chiến của cố nhạc sĩ vào thời chiến tranh Việt Nam, trong đó có đề cập đến nội chiến, điều mà nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay không chấp nhận.

Khái niệm nội chiến là vô cùng nhạy cảm đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đến mức một cuốn sách viết về thời Tây Sơn, trước khi Đảng Cộng sản ra đời hàng trăm năm cũng không được ghi là nội chiến khi xuất bản ở Việt Nam (quyển Nước Việt Nam thời Tây Sơn của sử gia Tạ Chí Đại Trường có tên gốc là Lịch sử nội chiến Việt Nam).

Thôi hãy cứ cho là nội chiến hay ngoại chiến là quan điểm, có thể tranh cãi, nhưng khi tôi lướt qua mấy trăm bình luận dưới bài của Nguyễn Khoa trên Facebook của Viet-Studies, thì rõ ràng là nội chiến.

Chẳng phải nội chiến hay sao khi có những phe khác nhau nhưng toàn là người Việt, sử dụng toàn là tiếng Việt, để mắng nhau, thóa mạ nhau, chẳng hề có một… “yếu tố nước ngoài” nào cả, có chăng đó là yếu tố nước ngoài Facebook, sản phẩm công nghệ của … “đế quốc Mỹ”.

Trong những cãi vả chửi bới trên trang Facebook của Viet-Studies, nổi bật lên nhóm ủng hộ chính quyền Hà Nội hiện nay, nhóm ghét ông Trịnh Công Sơn “thuộc” (!?) Việt Nam Cộng hòa, rất ít. Trong số hơn 300 bình luận (đến ngày 29/6/2022), có đến khoảng 50 bình luận là thóa mạ “đế quốc Mỹ”, phủ nhận “nội chiến”, mắng chửi tác giả, dù là tác giả đưa ra những sự việc mang tính chỉ trích cả hai bên.

Có thể là với đoạn cuối của bài viết, nói về sang chấn tâm lý dân tộc, hay là căn bệnh tinh thần có vẻ như vô phương cứu chữa của Việt Nam, tác giả đã làm cho những người ủng hộ Hà Nội, cảm thấy bất an, từ đó có một phản ứng thóa mạ, mạt sát dữ dội như thế.

Phân tích ngôn ngữ của nhóm này (tạm gọi là nhóm Hà Nội), ta thấy họ bị ảnh hưởng rất mạnh của ngôn ngữ tuyên truyền của cơ quan tuyên giáo của Đảng. Họ dùng những từ mẫu, có sẵn trong các bài viết tuyên truyền của Đảng, mà từ ông đảng trưởng là tổng bí thư cho đến viên chủ tịch xã đều dùng. Ngoài vô vàn lỗi chánh tả, lỗi ghép câu, thì nội dung cũng rất lộn xộn. Khi đọc những bình luận này ta thấy sự trộn lẫn rất thú vị của sự mạt sát, ý muốn làm nhục, tấn công (đánh, giết) người khác, của tầng lớp… “vô sản lưu manh”, với ngôn ngữ chính trị của Đảng Cộng sản, với ngôn ngữ trịch thượng “hủ nho” của các lũy tre làng.

Nếu lấy hơn 300 bình luận làm một mẫu khảo sát nhỏ thì tỷ lệ của nhóm “Hà Nội” này là 1/6, một tỷ lệ khá cao mà chế độ có thể an tâm dựa vào đó mà sống còn.

Tuy nhiên, không thể lấy cái mẫu 300 và 1/6 ấy làm đại diện cho nước Việt Nam hiện tại được, vì có hàng chục triệu nông dân Việt Nam đang lo lắng mùa màng thất bát, hàng triệu công nhân, lương chết đói, không có thì giờ đâu mà vào Facebook.

Nhưng có thể nhóm 1/6 này là nhóm gần với bộ máy của chế độ, hay là những ốc vít của bộ máy chế độ, vì thế nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành xã hội Việt Nam ngày nay.

Trở lại câu hỏi của Nguyễn Khoa, làm thế nào để cấm một bài hát. Sau vụ mời bà Khánh Lý và cơ quan tổ chức cho bà biểu diễn, tôi vẫn không thể hiểu được là liệu họ có cấm được bài hát “Gia tài của mẹ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay không!

Theo báo Tuổi Trẻ thì, có đến 1000 người đến nghe bà Khánh Ly hát, trong đó ắt hẳn có rất đông người đã biết bài hát ấy. Những người này hát nho nhỏ cho vợ chồng họ nghe trong nhà, trong quán cà phê cho bè bạn, chuyền tay nhau những clip kỹ thuật số, USB, chứ đâu cần những bản chép tay cồng kềnh dễ bị các viên bí thư đoàn thanh niên bắt gặp, hồi hơn 40 năm trước!

Trong bài Gia tài của mẹ, Trịnh Công Sơn hát rằng:

Gia tài của mẹ, một bọn lai căng

Mẹ mong lũ con cùng cha quên hận thù

Gia tài của mẹ, một nước Việt buồn

Đọc lại các bình luận của nhóm Hà Nội 1/6, tôi thật khâm phục sự tiên tri của ông.

Cục Nghệ Thuật Biểu diễn lên tiếng vụ Khánh Ly hát bài ‘Gia tài của Mẹ’ ở Đà Lạt

 

Cục Nghệ Thuật Biểu diễn lên tiếng vụ Khánh Ly hát bài ‘Gia tài của Mẹ’ ở Đà Lạt

Đại diện Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch Việt Nam, ông Trần Hướng Dương, vào ngày 30/6 lên tiếng về vụ việc ca sỹ hải ngoại Khánh Ly hát bài Gia tài Của Mẹ trong một chương trình tại Đà Lạt.

Truyền thông Nhà nước dẫn phát biểu của ông Trần Hướng Dương- Cục phó Cục Nghệ thuật Biểu diễn rằng, cơ quan của ông đã biết vụ việc và đang chờ Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch tỉnh Lâm Đồng xử lý. Sau đó Cục sẽ có biện pháp tiếp theo.

Bài hát Gia Tài Của Mẹ của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn được ca sỹ Khánh Ly hát trong đêm nhạc “Dấu chân địa đàng” tổ chức tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đêm 25/6.

Truyền thông Nhà nước đưa tin bài này không có trong danh sách 24 bài hát được ban tổ chức sự kiện đăng ký và được nhà chức trách địa phương đồng ý duyệt.

Ngay sau đêm diễn, Sở Văn hoá-Thể thao-Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với cơ quan chức năng để làm việc với ban tổ chức đêm nhạc là Công ty TNHH Mây Lang Thang. Sở đã lập biên bản xử lý hành chính và đang cân nhắc mức xử phạt đối với doanh nghiệp này vì cho rằng việc công ty này tự ý để ca sỹ Khánh Ly biểu diễn bài hát trên là vi phạm quy định của pháp luật trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Nhiều người cho rằng bài hát Gia Tài Của Mẹ, được Trịnh Công Sơn sáng tác vào năm 1965, còn bị cấm ở Việt Nam là trong bài hát có câu “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” ám chỉ thời gian 1945-1965. Trong thời gian này có cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài chín năm từ năm 1945 đến 1954.

Trả lời phỏng vấn Đài Á Châu Tự Do, bác sỹ quân y Đinh Đức Long, từ thành phố Hồ Chí Minh nói:

“Theo tôi biết bài hát mà bà Khánh Ly hát mà bị người ta nhắc nhở không nằm trong chương trình. Nếu một bài hát không nằm trong chương trình mà ca sỹ cứ hát còn ban tổ chức cứ để việc đó xảy ra thì cả hai bên đều có sai phạm và việc xử lý là đúng pháp luật.”

Bác sỹ Long cũng cho rằng nội dung bài hát Gia Tài Của Mẹ xuyên tạc lịch sử dân tộc vì đánh đồng cuộc kháng chiến chống Pháp với nội chiến, và do vậy việc nhà chức trách Việt Nam cấm bài hát này là đúng.

Tuy nhiên, những người dân khác như ông Nguyễn Quang Vinh ở Hà Nội và Quang Hữu Minh ở thành phố Hồ Chí Minh lại có quan điểm khác. Cả hai ông cho rằng việc nhà chức trách Việt Nam cấm bài hát này là vi phạm quyền tự do ngôn luận và ảnh hưởng xấu đến hoà giải dân tộc.

Trong tin nhắn với RFA, ông Nguyễn Quang Vinh cho biết:

“Nghị định số 144/2020/NĐ-CP của Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VH-TT&DL) được Chính phủ ban hành thay Nghị định 79 trước đây bỏ quy định cấp phép phổ biến ca khúc miền Nam trước 1975. Như vậy ca khúc “Gia tài của mẹ” của Trịnh Công Sơn nằm trong điều chỉnh của Nghị định này. Tôi không rõ lý do của việc ‘xử lý’ của Sở Văn hóa TT& DL tỉnh Lâm Đồng như thế nào, vì lý do gì nhưng việc ‘xử lý’ này là trái với Nghị định 144.”

Một nhà kinh tế ở tỉnh Nghệ An nói trong điều kiện ẩn danh vì lý do an ninh, rằng việc Lâm Đồng xử lý ban tổ chức đêm nhạc của Khánh Ly là: “một hành động dại dột và phản tác dụng vì trong thời đại thế giới thông tin phẳng, việc xử phạt càng gây ra sự tò mò cho dân chúng và kích thích sự phát tán. Nếu không xử phạt thì nhiều người không biết nhưng sau sự việc này thì rất nhiều trong số họ tìm hiểu về bài hát.”

Ông cũng cho rằng lý do việc xử phạt cũng là do sự máy móc và sợ trách nhiệm của viên chức nhà nước. Họ thường hành động theo văn bản chỉ đạo mà không hiểu hậu quả sẽ đến sau đó.

Ông nhấn mạnh mọi cấm đoán ở Việt Nam, trong đó có cấm nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật biểu hiện sự độc quyền chân lý của Đảng.

Ông nói thêm, Nhà nước Việt Nam hiện tại hay nói về chính sách hoà giải dân tộc, tuy nhiên, Chính phủ chỉ nói đầu môi để tuyên truyền chứ không có một kế hoạch hay chương trình cụ thể hoặc biện pháp thực hiện.

“Họ cứ nói hoà giải hoà hợp suông thế nhưng những gì không có lợi cho Đảng hay một phe nhóm nào đó trong đảng hoặc thậm chí cho chính những người thực hiện trực tiếp, thì họ không làm.”

Ông Quang Hữu Minh nói nhiều bài hát bị nhà chức trách Việt Nam cấm vì nội dung nói lên thực trạng của Việt Nam.

Gia Tài Của Mẹ là một trong ba bài hát của Trịnh Công Sơn hiện chưa được nhà chức trách Việt Nam cho phép biểu diễn ở Việt Nam. Hai bài kia là Bài Ca Dành Cho Những Xác Người và Hát Cho Người Nằm Xuống.

Có hơn 50 ngàn lượt tìm kiếm từ khóa “Gia tài của mẹ” trên công cụ tìm kiếm Google chỉ trong ngày 29/6, sau khi có thông tin người tổ chức đêm diễn của ca sĩ Khánh Ly bị mời lên làm việc vì bà hát ca khúc chưa được cấp phép của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Hồi năm 2020, chính quyền bỏ quy định cấp phép phổ biến ca khúc trước năm 1975, thay vào đó, Nhà nước sẽ quản lý tác phẩm bằng cách hậu kiểm.

https://www.rfa.org/…/performing-arts-department-on-the…

Ai bảo dân VN không có óc sáng tạo

Ai bảo dân VN không có óc sáng tạo…

Sẵn dịp đang có vụ ăn tô phở gà bị tính 300.000 đ, khách phản đối thì chủ quán nói ăn sao không hỏi giá trước, để tôi kể bạn nghe chuyện này, thật 100%, đọc thôi bỏ qua, đừng kể ai nghe nhé!

Có anh bạn người Miền Nam ra Bắc công tác, vào ăn phở, bị tính 80.000 đ, trong khi mọi người xung quanh chỉ trả 40.000 đ, anh hỏi tại sao thì được trả lời: giá nó thế ai bảo anh không hỏi trước!

Anh cay lắm nhưng rút kinh nghiệm, mai đi chùa, ghé vào mua dừa uống. Lần này anh kinh nghiệm hỏi kỹ : bao tiền một trái! 20.000 nghìn! Ok cho hai quả!

Chút tính tiền, hai quả 100.000đ! Anh nói tôi hỏi rõ là 20.000 một quả mà! Đúng, quả này 20.000đ còn quả kia 80.000đ, 2 quả 100.000đ giờ có trả không hay ăn dao chặt dừa?

Anh trả tiền xong cay lắm! Mai ghé ăn ốc ghẹ ở quán lề đường! Anh gọi hai ba đĩa, bày lên mâm hỏi rất rõ: tất cả mâm này bao nhiêu tiền? Chủ quán nói 150 nghìn! Anh đắc chí ngồi ăn!

Ăn xong tính tiền, cho xin 300.000 ạ, đồ ăn 150.000 đ, chỗ ngồi 150.000 đ ai bảo không hỏi trước!

Anh ấy bỏ dở công tác bỏ về nhà luôn!

Vậy đó, một dân tộc chả lo để đầu óc suy nghĩ làm ra của cải vật chất, chỉ toàn nghĩ cách đẽo tiền của nhau thôi thì bao giờ mới khá được!

Từ fb Dennie Lam

TUỔI GIÀ

TUỔI GIÀ

Lê Thanh Dũng dịch

Tuổi già mới là tuổi đẹp nhất trong đời, như mặt trời khi lên cao nhất là sáng nhất và nóng nhất, như hoa nở rộ đến tột cùng, là lúc hương sắc tỏa ra rực rỡ nhất.

Về già, không còn sục sôi như thời niên thiếu, không còn lãng mạn như hồi còn trẻ, nhưng ngộ ra nhiều điều về lẽ đời.

Về già, không còn nét cười của trẻ thơ và vẻ đẹp của tuổi thanh xuân nhưng chỉ đến khi về già ta mới hiểu rằng, đời người cho dù thành công hay thất bại, vui sướng hay khổ đau, thịnh hay suy, vinh hay nhục, tất cả đều như dòng suối tự nhiên, đến từ đâu sẽ chảy về đó. Đó là trăm sông về biển và tất cả là MỘT.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng trên đời không có trắng đen rõ ràng, giữa đen và trắng có nhiều màu trung gian, cho nên cô đơn, thất vọng, buồn phiền, đau đớn là những thứ gia vị không thể thiếu trong cuộc sống. Tử tế với chúng tức là tử tế với đời.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng không phải ai cũng thành công, không phải ai cũng danh giá, nhưng ai cũng có dấu chân của mình để lại trong đời. Nếu ta đã phấn đấu, đã theo đuổi, vậy thì được và mất có là gì !

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng tuổi già có sắc màu của tuổi già. Trẻ trung cho dù lộng lẫy nhưng sẽ phai mờ dần theo năm tháng. Chỉ có TÂM THẾ trẻ trung mới là màu sắc bất biến trong cuộc sống, và vì thế tuổi già không có nghĩa là suy tàn. Thất vọng, thờ ơ, chán đời mới thực sự là suy tàn.

Chỉ đến khi về già người ta mới hiểu rằng, trên đời không có người đàn bà nào đúng như ý người đàn ông mong muốn, và cũng không có người đàn ông nào đúng như ý người đàn bà mong muốn. Chìa khóa của hạnh phúc gia đình là sự bao dung và hiểu nhau, là lòng biết ơn và sự tôn trọng.

Về già mới bắt đầu nhàn rỗi. Khi ta già, bọn trẻ đã đi làm. Chúng nó trở thành trụ cột của gia đình, ta được thong thả sống cuộc sống của mình.

Về già, ta có quyền hưởng hạnh phúc. Khi còn trẻ luôn nghĩ rằng khi việc làm ăn ổn định và bọn trẻ lớn lên là ta có thể hưởng phúc. Nay ta già thật rồi, cũng nên hưởng sự chăm sóc và yêu thương của con cháu. Hãy để bọn trẻ quây quần bên mình mà tận hưởng niềm vui gia đình. Ta được coi là thần tượng của gia đình, là chỗ dựa tinh thần của gia đình. Không có người già, gia đình mất đi một kho báu.

Về già, nhàn nhã hơn và không có gì vội vã.

Về già, không còn sự khôn lanh và xông xáo, nhưng sự chu đáo và tỉ mỉ khi suy xét mọi việc thì chắc chắn là hơn thời trẻ.

Ta chỉ muốn thụ hưởng phần thuộc về mình và thuận với lẽ tự nhiên trong một đời người bình thường để thực sự bước vào quãng đời tự do tự tại sung sướng của cõi nhân sinh.

Người già, được thời gian rửa tội. Chân chất mà Bền bỉ. Hiểu biết mà Vững vàng …

Người già, được tuổi tác tôn vinh. Minh triết mà Điềm đạm. Tỉnh táo mà Thong dong…

Lê Thanh Dũng dịch

From: Truong Le

KHI CHÚA THƯƠNG GỌI TÔI VỀ – Michael Le

KHI CHÚA THƯƠNG GỌI TÔI VỀ

Đến tận giờ, sau hơn 50 năm, tôi vẫn còn nhớ rõ tên, khuôn mặt và vóc dáng của bốn nữ tu Dòng Đa Minh phụ trách trường nội trú nơi tôi trải qua hai năm cuối tiểu học.

Đó là trường nội trú dành cho phần lớn là trẻ em cô nhi, con của những quân nhân tử trận. Có độ 60 em nội trú như thế, cả nam lẫn nữ. Ngoài ra, ban ngày còn có độ hơn 100 học sinh bán trú, là trẻ em địa phương.

Trường ở Gò Vấp, thuở đó còn là ngoại ô của Sài Gòn, còn nghèo và còn ‘thôn quê’ lắm. Đúng với cái tên Gò Vấp, vì cứ đi vài bước là vấp phải cái ‘ổ gà’ to như ‘ổ voi’. Những con đường đất bị cày nát vì nhiều xe nhà binh qua lại.

Sơ Nhất, nhưng có lẽ đó không phải là tên thật của Sơ, mà gọi thế chỉ vì Sơ là trưởng cộng đoàn 4 chị em.

Sơ Mãn, lúc đó lãnh nhiệm vụ như hiệu trưởng của trường. Sơ Mãn phụ trách hai lớp 4 và 5. Sơ là cô giáo tuyệt vời mà suốt đời tôi mang ơn. Sau này tôi giỏi Văn và Toán chính là nhờ Sơ.

Sơ Nhi, trẻ nhất, lúc đó còn nhỏ mà tôi đã thấy Sơ rất đẹp, cái đẹp thật thuần khiết và trong sáng. Sơ có nhiều tài khéo. Thủ công, ca hát, đàn, vẽ, múa… môn nào Sơ cũng giỏi.

Đặc biệt là Sơ Phượng, giám thị, người gần gũi gần như 24/24 đám học sinh nội trú chúng tôi. Sơ dạy chúng tôi giáo lý, dạy đọc kinh, cầu nguyện. Sơ ốm yếu và trông khắc khổ nhất nhà. Sơ nhỏ nhẹ, dịu dàng và tận tụy.

Tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ Sơ Phượng. Tôi mấy lần trốn giờ chơi, lẻn vô nhà nguyện một mình, quỳ nhắm mắt cầu nguyện quên cả thời gian, có lẽ cũng vì bị hấp dẫn bởi hình ảnh Sơ đắm mình trong cầu nguyện. Có lẽ chính Sơ Phượng là người đầu tiên nghĩ đến chuyện giới thiệu tôi đi tu.

Sơ Phượng, sau này ngẫm lại, tôi biết cũng ảnh hưởng rất nhiều đến Mạ tôi. Mạ tôi cũng tên Phượng, và nhiều lần trò chuyện với Sơ như phụ huynh của 5 đứa con gởi nội trú đương nhiên phải có nhiều dịp trao đổi với Sơ giám thị.

Năm lớp 6 tôi vào Chủng viện. Lần đầu tiên, và cũng là lần duy nhất cho đến tận nay, Mạ tôi viết thư riêng cho tôi. Lá thư dài tới 2 trang, làm tôi nhớ mãi. Mạ tôi báo tin Sơ Phượng qua đời rồi. Tôi đọc thấy sự xúc động của Mạ tôi.

Mạ, “bà Trung tá” lúc đó chỉ mới độ tuổi 30, mẹ của một bầy con 10 đứa, từng theo chồng thuyên chuyển công tác ở rất nhiều tỉnh thành suốt từ Trung vô Nam… Mạ tôi cũng từng trải lắm, người mẹ thời chiến mà, nhưng tôi hiểu là Mạ tôi rất có ấn tượng khi được quen biết chuyện trò nhiều lần với chị nữ tu Đa Minh khắc khổ và hiền dịu, cùng tên và cùng độ tuổi với mình.

Tôi nghĩ chính cái chết còn rất trẻ của Sơ Phượng đã làm Mạ tôi viết cho tôi lá thư hay đến thế. “Hà, nếu Chúa chọn con đi tu làm linh mục, thì Mạ vui mầng và sẵn lòng dâng con cho Chúa. Mạ tin Sơ Phượng ở trên thiên đàng cũng sẽ luôn dõi theo con, giúp đỡ con và cầu nguyện cho con!…”

Tôi rất biết ơn Ba Mạ tôi đã gởi chúng tôi vào trường nội trú nghèo đó, được sống, được ăn học cùng các bạn nghèo, được các Sơ dấn thân phục vụ người nghèo dạy dỗ trong 2 năm. Năm anh em chúng tôi là những học sinh duy nhất của trường cuối tuần được Ba Mạ đến đón bằng… xe hơi.

Gò Vấp bây giờ, sau nửa thế kỷ, đã trở nên một quận nội thành, đã sầm uất và giàu có khác hẳn ngày xưa. Bạn học của tôi ngày xưa giờ chắc đã có nhiều người thành đạt, giàu có, và sống nếp sống ‘văn minh’ hơn hẳn.

Sự phát triển và thịnh vượng của một vùng đất, luôn luôn được xây bằng bao giọt mồ hôi và cả xương máu. Nhưng lẫn trong mồ hôi và xương máu đó, chắc chắn không thể không kể đến cái nền chắc chắn của những tu sĩ dấn thân xây dựng chính ‘con người’, chính ‘tâm hồn’ của cả một thế hệ đang tới.

Sơ Nhất, Sơ Mãn, Sơ Phượng, Sơ Nhi… chắc đã qua đời hết rồi, khi thằng nhỏ học trò năm xưa là tôi giờ đã 61 tuổi! Suốt bao nhiêu năm qua, nhất là từ khi có mạng xã hội, tôi thỉnh thoảng cứ thèm gặp được ai đó biết gì về các Sơ, kể cho tôi nghe với.

Sơ Phượng đột ngột qua đời vì bạo bệnh khi tuổi còn trẻ, khi đang trong hành trình phục vụ đồng bào và quê hương mình. Tết năm nay nghe tin một anh em tu sĩ Đa Minh khác, linh mục Thanh, cũng đột ngột qua đời ở vùng đất Kontum xa xôi nghèo khó…

Cuộc đời của những anh em, chị em ấy thật đẹp! Tôi rất muốn hát cùng Sơ Phượng, cùng cha Thanh, bài thánh ca quen thuộc mà người Công giáo VN hay hát trong các tang lễ. Mạ tôi nay đã tuổi 90, đang trong nhà dưỡng lão bên Úc, chắc chắn cũng biết bài này. Mạ hát với con nghen, Mạ ơi:

“Khi Chúa thương gọi con về

Hồn con hân hoan, như trong một giấc mơ

Miệng con nức vui tiếng cười

Lưỡi con vang lời ca hát

Ngàn dân tung hô: con thật vinh phúc!”.

=Michael Le=

Tâm hồn cao đẹp

Tâm hồn cao đẹp

Mạc Văn Trang

28-6-2022

Yêu nước, hy sinh chống ngoại xâm thì thấy ở nhiều dân tộc và trải nghiệm biết bao cảm xúc ở Việt Nam mình. Nhưng cách mà người Ukraine phản ứng trước cuộc xâm lăng ào ạt, vô cùng tàn bạo, khủng khiếp của quân Nga từ ngày 24/2/2022, có một cái gì đó thật đặc biệt. Cái trạng thái tâm lý xã hội Ukraine đặc biệt ấy hẳn là đề tài vô cùng lớn cho các nhà nghiên cứu Tâm lý- xã hội, Văn học, Nghệ thuật, sử học …Ở đây tôi chỉ xin nêu mấy cảm nhận ban sơ từ quan sát những tấm hình thấy được.

Khi xe tăng, máy bay, tên lửa, lính dù, bộ binh quân Nga ào ạt tấn công vào khắp lãnh thổ Ukraine, rất nhiều người dân bất ngờ, nhưng không thấy cảnh từng dòng người hoảng loạn, dẫm đạp lên nhau chạy thục mạng.

Gia đình Tổng thống, cựu tổng thống và các quan chức không bỏ chạy ra nước ngoài. Họ bình tĩnh cùng quân dân chiến đấu. Những dòng người đàn bà trẻ con di tản khỏi đất nước thì từng đoàn người đàn ông từ nước ngoài trở về bảo vệ đất nước. Không có những lời hô hào, hiệu triệu…, tất cả diễn ra một cách khẩn thiết, tự nhiên, bình tĩnh: Cựu Tổng thống, Hoa hậu, doanh nhân, võ sĩ lừng danh, cầu thủ, diễn viên, ca sĩ, giáo sư, sinh viên, công nhân, viên chức… xếp hàng nhận vũ khí ra chiến trường. Nhiều đôi cưới nhau trước khi ra trận.

Những người dân ở nhiều thành phố, không lo giữ nhà mình, lại kéo nhau ra tìm cách bảo vệ những tượng đài, những công trình văn hoá của thành phố.

Không thấy có phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” và đồng ca những bài hát “diệt quân thù” đầy khí thế, máu lửa, căm thù. Họ hòa nhạc giữa thành phố tan hoang, dưới bom đạn, dưới hầm trú ẩn, trong nhà ga xe điện… Họ đàn hát giữa chiến hào; họ nhảy múa, đàn hát trong hầm trú ẩn cho trẻ em bớt sợ hãi. Đó là những bản nhạc của Mozart, Beethoven, Chopin… và những bài dân ca thân thuộc.

Một cô gái trước khi rời ngôi nhà đổ nát đã mở đàn Piano đàn một bài tình ca rồi mới lặng lẽ từ biệt ngôi nhà thân yêu của mình.

Ở biên giới, nơi tiếp đón những phụ nữ, trẻ em đói, mệt, sợ hãi…, một nghệ sĩ đem đàn Piano ra đàn để làm dịu bớt nỗi đau buồn, căng thẳng, đem lại sự êm dịu cho tâm hồn những người đang đau khổ, sợ hãi.

Giữa chiến tranh ác liệt, những nhân viên sở thú ở thành phố, vẫn lo chăm nuôi các con thú, không rời xa chúng và tìm cách bảo vệ chúng. Một số thú quý hiếm được sơ tán… Nhiều con chó, mèo bị thương, bị lạc chủ được người lạ cứu chữa, chăm sóc.

Quân Nga vừa rút đi, bom đạn vẫn trút xuống thành phố tan hoang, nhưng người dân đã kéo nhau ra dọn dẹp quảng trường và trồng hoa, trước tiên ở nơi công cộng làm đẹp thành phố đã…

Trong tàn phá, đau thương, chết chóc vẫn hài hước! Người ta hỏi người phát ngôn của Bộ Quốc phòng: Tại sao trong lúc đưa tin chiến sự ác liệt, ông vẫn có thể hài hước? – Tôi muốn người dân bớt căng thẳng, sợ hãi, tiếng cười giúp người ta thêm sức mạnh.

Ở Thủ đô Kiev không thấy pano, áp phích, khẩu hiệu “Căm thù”, “Thắng lợi”, “Anh hùng”, “Hy sinh”… lại thấy cái biển quảng cáo hài hước “Ở đây bán xe tăng Nga”…

Khi con người biết hài hước một cách trí tuệ và có nhiều tiếng cười là một cuộc sống tươi trẻ, lạc quan, lành mạnh. Có lẽ với tâm hồn như vậy, người dân Ukraine đã chọn bầu Danh hài Volodymyr Oleksandrovych Zelensky làm Tổng thống của mình.

Hình như văn hào Ph. Đôxtôiepxki nói: Cái Đẹp sẽ cứu rỗi thế giới. Và M.Gorki còn nói thêm: Bẩm sinh con người là một nghệ sĩ. Chỉ có con người, vị chúa tể của muôn loài mới biết coi cái đẹp là phương tiện, là mục đích cũng là nội dung của cuộc sống. Cái đẹp sẽ giúp con người sống sang trọng và tinh tế, cao thượng và trong sáng.

Với một tâm hồn cao đẹp lạ thường thì dù phải trả giá đắt biết bao nhiêu người dân Ukraine cũng sẵn sàng chấp nhận để mãi mãi thoát khỏi ách thống trị của những kẻ như Putin. Cái Đẹp không thể sống chung với Quỷ dữ!

Viva Ukraine!

Dưới đây là một số hình ảnh sưu tầm trên mạng:

Không được bóp nghẹt hơi thở người dân

Không được bóp nghẹt hơi thở người dân

28-6-2022

Ảnh trên mạng

Tôi phản đối dự án xây nhà hát Opera của Sun Group bởi những lý do sau:

1. Không được lấp bất cứ một hồ, ao, đầm nào nữa của Hà Nội bởi thành phố này đã bị ngập lụt rất tồi tệ rồi. Chẳng phải những khu mới xây ở Hà Nội cũng ngập lụt sao? Đã xây một công trình trên mặt đất thì phải có một hệ thống thoát nước tương xứng thêm vào để khắc phục ngập lụt. Chính quyền Hà Nội cũng như ở TP.HCM chỉ lo một phía và vẫn tiếp tục sự sai trái ấy là không thể chấp nhận được.

2. Tôi cảm ơn Sun Group đã có ý định tốt đẹp xây dựng một nhà hát tầm cỡ, đại diện cho bộ mặt của thủ đô nhưng xin các vị cùng những người đứng đằng sau cái ý định này cất hộ cái “lòng tốt” ấy đi cho.

Giữa thời buổi nhiễu nhương, tham nhũng tràn lan khắp nước, tôi không tin vào ý định “tốt đẹp” của các vị. Sự “tốt đẹp” ấy tôi tìm mãi không thấy, tôi chỉ nhìn thấy âm mưu chiếm đoạt đất, đền bù cho dân rẻ mạt để kiếm lợi.

Giả sử ý định ấy là tốt thật thì cũng nên dừng lại tại thời điểm này khi mà lòng tin của người dân đang rất thấp. Sự nghi ngờ giữa ích lợi một dự án mang lại cho người dân và lợi ích của một tập đoàn kinh tế và những người đang chống lưng cho họ chắc chắn đang tồn tại rất lớn.

3. Tôi thà chịu thiệt thòi không được biết đến cái nhà hát Opera của Sun Group còn hơn là phải chứng kiến cái công trình ấy sẽ góp phần làm cho thủ đô thêm ngập lụt, tắc đường, ô nhiễm, chật chội bức bối. Chưa có nhà hát Opera tầm cỡ thì dân chúng tôi chưa chết, nhưng ngập lụt, tắc đường, hít thở khói xăng sẽ làm chúng tôi chết sớm hơn và nhà hát của các vị xây dựng cũng vắng người xem.

4. Thay vì công trình xây dựng nhà hát Opera, tôi đề nghị Sun Group hãy xây một hệ thống thoát nước cho Hà Nội. Khi Hà Nội không ngập lụt nữa, người dân thủ đô sẽ vui mừng ủng hộ các dự án bay bổng trên trời, với cái ý định lo cho phần hồn của dân của các vị.

Hơn nữa, chẳng phải các vị đã xây một toà nhà to tổ chảng mấy chục tầng ngay sát Hồ Tây rồi sao? Công trình chềnh ềnh ngay sát mặt hồ như vậy đã mang lại nhiều lợi nhuận, vậy các vị đã làm gì để đóng góp giải quyết những vấn đề đang tồn tại của Hà nội?

5. Một Hà Nội ô nhiễm, tắc đường, ngập lụt, các vị đã không đóng góp gì để giải quyết thì đừng làm một công trình lấy bớt đường đi của dân, lấp một cái đầm sen gây thêm ngập lụt và tạo ra sự bức bối về môi trường sống của người dân.

Xây dựng một công trình lớn tại nơi không khí ít ô nhiễm nhất thì khác nào bóp nghẹt thêm hơi thở của người dân?

Bạn nào đang đói văn hoá, muốn có nhà hát Opera để được chăm sóc phần hồn, để có thể bay bổng cùng Sun Group thì vui lòng viết số 1. Bạn nào lo không thở được do ô nhiễm, tắc đường và lo không biết bơi lội vào mùa mưa ở Hà Nội và phản đối công trình này thì vui lòng viết số 0. Xin cảm ơn các bạn!

P.S: Theo quyết định cũ thì Sun Group được giao nhiệm vụ lập quy hoạch, đến năm 2021 thành phố có quyết định mới, điều chỉnh nhiệm vụ quy hoạch và giao cho UBND quận Tây Hồ. Tôi tin rằng đấy chỉ là một cách né dư luận bởi bản quy hoạch 1/500 đang được công bố vẫn theo nội dung mà Sun Group đã đưa ra, trong ấy có nhiều phân khu thương mại, dịch vụ, shop house và trung tâm vui chơi giải trí.