NGAY CẢ MẸ TÊRÊXA CŨNG SUÝT TỪ CHỐI TIẾNG CHÚA GỌI

NGAY CẢ MẸ TÊRÊXA CŨNG SUÝT TỪ CHỐI TIẾNG CHÚA GỌI

 Francis Phillips

Khi nhìn vào những vị thánh, chúng ta thường có khuynh hướng xem đó là những người với vầng hào quang thánh thiện, chứ không phải những người với những đấu tranh chật vật như mọi người chúng ta.  Cách nghĩ như thế khiến các thánh ít giống con người, và có vẻ quá xa vời đến nỗi chúng ta không thể noi gương các vị được.

Quyển Tình yêu làm nên thánh Têrêxa của David Scott muốn đảo ngược chuyện này . Ông suy ngẫm về những khía cạnh cuộc đời của Mẹ Têrêxa thành Calcutta vốn thường bị bỏ qua, chẳng hạn như 18 năm mẹ sống trong Nhà kín Loreto ở Calcutta, và không thấy được những cảnh khốn cùng bên ngoài bức tường nhà kín.  “Sự biến đổi của mẹ hướng đến người nghèo, là một tiến trình chậm rãi,” ông Scott xác nhận.

Và đặc biệt hơn nữa là những chi tiết mà ông Scott đưa ra về đêm tối tâm hồn hơn 50 năm của mẹ, và thị kiến vào năm 1947 khi Mẹ Têrêxa thấy Chúa Giêsu và Đức Mẹ khiến Mẹ dấn thân cho người nghèo và người hấp hối.  Dù cho Mẹ đã hủy các ghi chú và nhật ký của mình, nhưng một tập các lá thư Mẹ gửi cho các linh hướng của mình trong năm 1947 đã cho thấy có những lúc Mẹ kháng cự lại yêu cầu của Chúa Giêsu khi Ngài muốn có “các Nữ tử Bác ái, ngọn lửa yêu thương của Ta giữa những người nghèo, người bệnh, người hấp hối, những đứa trẻ trên đường phố.”

Chúa Giêsu đã bảo Mẹ là “người bất tài nhất, yếu đuối và tội lỗi, nhưng chính vì thế Ta muốn dùng con cho vinh quang của Ta!  Chẳng lẽ con từ chối sao?”  Mẹ Têrêxa mô tả việc Mẹ phản đối yêu cầu khẩn thiết này và “bảo Chúa Giêsu tìm một người khác, nói rằng Mẹ sợ những khó khăn và lời chế giễu Mẹ sẽ phải chịu.  Mẹ hứa sẽ trở thành một nữ tu tốt nếu Ngài để Mẹ ở yên bình trong nhà kín.  Nhưng Ngài cứ tiếp tục nài nỉ Mẹ, thách thức Mẹ: “Con từ chối làm việc này cho Ta sao?”

Tất cả những chuyện này khiến chúng ta thấy thật không tương hợp với hình ảnh cảm tính của mình về sự thánh thiện.  Nhưng nó cho thấy các vị thánh rất giống chúng ta, và đôi khi các vị phải rất vất vả trong việc đón nhận lời mời gọi của Chúa.  Và chúng ta hẳn cũng nghĩ một chuyện này: Liệu Mẹ Têrêxa đã nói “không” với Chúa?  Biết bao nhiêu người đã từ chối những thúc đẩy của Thần Khí hay của chính Chúa Kitô, chống cự lại công cuộc cứu độ?

Từ năm 1957, những năm đầu tiên Mẹ bắt đầu cảm thấy mình bị Chúa bỏ rơi, dù cho sau đó Mẹ vẫn bắt đầu hoạt động sứ mạng của mình, Mẹ Têrêxa có viết cho một linh hướng của mình rằng: “Họ nói những người trong hỏa ngục chịu đựng đau khổ muôn đời vì mất Chúa…  Trong lòng con cũng đang cảm giác nỗi đau mất mát khủng khiếp đó… cảm thấy Thiên Chúa không hiện hữu… cảm thấy như mình chối bỏ Chúa.  Xin cầu nguyện cho con để con không trở thành một Giuđa với Chúa Giêsu trong đêm tối đau đớn này.”

Mẹ đã xin những người khác hủy các lá thư của Mẹ đi.  Nhưng tôi mừng vì có những người đã không làm theo ý Mẹ.  Vì nhờ như thế, chúng ta mới thấy Mẹ Têrêxa anh hùng đến thế nào, và cũng con người đến thế nào.

Francis Phillips

J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Catholic Herald

From: Langthangchieutim

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ NGHI ÁN “HIẾP DÂM” Ở TÂY BAN NHA.

Hoai Linh Ngoc Duong 

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ NGHI ÁN “HIẾP DÂM” Ở TÂY BAN NHA.

Lướt facebook thì thấy có một số thông tin của báo chí và của những người ủng hộ nghi phạm bằng những lập luận phi logic. Đồng ý rằng khi tòa chưa xử thì nghi phạm được suy đoán vô tội. Nhưng suy đoán vô tội không có nghĩa là đổ tội cho nạn nhân.

Những người bóng gió cho rằng có một đường dây gài bẫy khiến 4000 người mắc bẫy tình dục ở Tây Ban Nha quên rằng những người bị gài bẫy đều là cầu thủ bóng đá, vận động viên thể thao ,doanh nhân hay nghệ sĩ nổi tiếng của thế giới. Điều kiện họ bị gài bẫy là sẵn sàng ký những tấm check 6 con số để giữ kín thông tin.Nhạc sĩ và diễn viên Việt Nam vốn hành nghề để bảo vệ chế độ độc tài nên tiền lương hoặc lợi nhuận mà họ nhận được không đủ để các tổ chức này đưa vào danh sách tống tiền.

Một logic quan trọng là nếu nghi phạm bị tống tiền thì không thể sự việc vừa mới xảy ra đêm 24/6 thì ngay sáng 25/6 nạn nhân đã trình báo sự việc với nhà chức trách. Phải có ít nhất một tuần cho các thỏa thuận. Bởi lẻ khi báo cảnh sát đường dây này sẽ chẳng nhận được gì mà chỉ tốn công vô ích. Hơn nữa nếu gài bẫy nghi phạm sẽ nhận được những email nặc danh, messege để chuyển tiền vào các tài khoản bí mật.Đây cũng sẽ là những bằng chứng để nghi phạm tố cáo với cảnh sát.

Cảnh sát Tây Ban Nha và ngành tư pháp lập nghi án là đã điều tra về thân nhân nạn nhân. Họ cũng rất sợ nghi phạm tố ngược. Phiên tòa trước khi nạn nhân rời đi đã xác lập các chứng cứ bước đầu.

Vấn đề còn lại chính là khoản tiền tại ngoại. Ngành tư pháp Tây Ban Nha vốn chậm chạp nên đại sứ quán Việt Nam ở Tây Ban Nha với chính sách bảo hộ công dân sẽ can thiệp để công dân mình được xử theo hiệp ước song phương. Nhưng Tây Ban Nha thừa biết Việt Nam không có luật pháp mà chỉ có luật rừng. Vì vậy tòa án sẽ xác lập một khoản tiền bảo lãnh đủ lớn để khiến nghi phạm quay lại chịu chế tài. Vấn đề là nghi phạm, gia đình và cả cơ quan ngoại giao Việt Nam không đủ tài chính cho khoản tiền này. Vì thế nghi phạm đang thuê luật sư để tìm giải pháp lấy lại hộ chiếu để về nước. Nhưng có lẻ muốn có 2 cuốn hộ chiếu sẽ phải tốn trên 2 triệu USD tùy theo việc tòa xác lập những tổn hại do nghi phạm tạo ra với trẻ vị thành niên nếu bị buộc tội.

Với các nước sử dụng luật pháp bằng lý trí thì không bao giờ có chuyện bao biện theo kiểu “mua dâm là bình thường”. Tất cả các nước dân chủ đều tôn trọng nữ quyền và đặt mại dâm ngoài vòng pháp luật trừ một số rất ít ngoại lệ. Do đó với các chứng cứ bước đầu khi nạn nhân đã chịu ra tòa không ngại tổn thương tâm lý thì khả năng bị buộc tội của nghi phạm rất cao.

Sống như thể mình không bao giờ chết – Lm Anmai, CSsR

Sống như thể mình không bao giờ chết

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Người ta sống như thể mình không bao giờ chết, rồi cuối cùng chết đi như thể mình chưa từng sống.

Sinh lão bệnh tử là định luật cho đời sống của con người. Đã là người, sinh ra thì phải có ngày chết chứ chả ai lột da sống đời.

Có chép một lời dạy dỗ khôn ngoan: “Đến nhà tang lễ hơn là đến nơi yến tiệc, vì ở đó người ta nhìn thấy sự cuối cùng của đời mình”.

Thoạt nghe có thể thấy hơi tiêu cực, tuy nhiên ngẫm nghĩ sâu xa hơn một chút ta sẽ thấy ý nghĩa của nó vô cùng sâu sắc và ẩn chứa một ảnh hưởng vô cùng lớn đến cuộc đời mỗi người.

Thánh Vịnh 102 nói về phận người:

“Đời sống con người chóng qua như cỏ.
Như bông hoa nở trong cánh đồng.
Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi,
Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”.
(Tv. 102, 3)

Dẫu biết định luật đời người là như thế nhưng trong thực tế cuộc sống ta lại thấy có những người cứ nghĩ rằng mình sống như không phải chết hay mình như là cái rốn của vũ trụ. Nhìn dễ hiểu trong cách hành xử, họ cứ ngỡ không ai thay thế được họ nhưng rồi “không mợ thì chợ vẫn đông”.

Làm gì có cái chuyện gì là mãi mãi và vĩnh viễn. Đi làm thì cũng chỉ làm trong độ tuổi lao động. Đến tuổi hưu thì dù muốn dù không thì cũng phải nhường chỗ cho người khác.

Đâu đó ta thấy câu: “Người ta thường sống như thể mình không bao giờ chết, và cuối cùng thì chết đi như thể mình chưa từng sống”. Bao đời nay, dẫu triều đại đổi thay, ở Đông hay Tây, thì một đời người vẫn không ngoài mấy việc: thành gia lập nghiệp, sinh con đẻ cái, tích cóp làm giàu… Người ta thường nhọc nhằn chạy theo những ham muốn này, mà ít ai tự hỏi: Ý nghĩa cuộc đời mình rốt cuộc là gì?

Thế nên, để sống cuộc đời có ý nghĩa và để người đời còn nhớ tới mình sau khi đã chết, lời khôn ngoan đã khuyên dạy chúng ta:

“Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

Ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” (TV 90:12)

“Đếm tháng ngày mình sống” đồng nghĩa với suy niệm về cái chết, về một ngày không xa mình sẽ phải bỏ lại tất cả khi từ giãi cõi đời. Bởi vì mỗi ngày qua đi là một ngày ta tiến gần đến cái chết.

Một suy nghĩ sai lầm khá phổ biến ngày nay cho rằng, đằng nào cũng chết nên ta hãy tìm mọi cách để tận hưởng ngày hôm nay bằng cách thoả mãn bản thân bất kể giá nào, kể cả bằng cách vô đạo nhất, hậu quả của cách nghĩ này không những không mang lại cho người ta hạnh phúc mà ngược lại là đau khổ và thất vọng vô biên.

Khi chúng ta suy nghĩ cuộc sống là hữu hạn, chúng ta cần làm những gì tốt nhất và có ý nghĩa nhất cho trong ngày hôm nay không chỉ cho bản thân mà là cho gia đình, cho những người xung quanh, cho cộng đồng,… để ngày mai ra đi không phải hối tiếc, đó mới là cách sống tích cực nhất.

Một người biết mình đang đi dần đến cái chết thường sống cho thật trọn vẹn trong những ngày còn lại. Họ sống thật chậm để nhìn cuộc đời, để nhìn người thân lần sau cuối. Tất cả xung quanh họ đều thật đẹp, thật quý biết bao. Họ trân trọng từng phút giây đi qua và từng phút giây đang đến. Đối với họ, mỗi giây được sử dụng một cách cẩn trọng, không bao giờ họ đánh mất một giây phút nào cho việc làm vô ích.

Như vậy, suy nghĩ về những ngày giờ mình sống trên dương thế để tìm ra ý nghĩa khôn ngoan cho cuộc sống không những giúp ta sẵn sàng khi phải đối diện với cái chết, mà còn giúp cho ta sống tốt, sống hạnh phúc ngay ở đời này nữa. Một cuộc sống không buông thả, lo lắng, buồn phiền, mánh mung, chộp giật như cái nhìn của những người cứ nghĩ rằng mình không bao giờ chết, muốn sống lâu, sống hưởng thụ để rồi phải hối hận, cay đắng bỏ lại tất cả khi giờ chết đến.

Nhà cửa, công danh, thân bằng quyến thuộc… thảy đều không thể theo ta mãi mãi. Ý nghĩa cuộc đời là gì? Ta có nghĩ đến ngày ta phải chết không ? Mỗi chúng ta đã có câu trả lời cho mình chưa?

Lm. Anmai, CSsR

Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh (2 Cr 12:10) – Cha Vương

Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.

Happy July 4th đến bạn và gia đình nhé. Tạ ơn Chúa, cảm ơn U.S.A.!

Cha Vương

Thứ 2: 04/07/2021

TIN MỪNG: Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh. (2 Cr 12:10)

SUY NIỆM: Trên đời nay không ai muốn tự cho mình là yếu cả, thế mà Thánh Phao-lô dám tuyên bố rằng: tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối… Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh! Điều bí ẩn gì mà Thánh Phao-lô muốn nói với bạn hôm nay? Ý ngài muốn giúp bạn khám phá ra về lợi ích thiêng liêng trong sự yếu đuối của mình.

Để chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của mình một cách dễ dàng, bạn cần phải có đức khiêm nhường, qua đó bạn mới đến với Chúa trong sự yếu đuối mỏng giòn của mình được.

Khiêm nhường là mở lòng để đón nhận ý Chúa, mở lòng để sống theo ý Chúa. Như bạn cũng đã biết nước Hoa Kỳ được liệt kê là một cường quốc. Thế mà trong bản tuyên ngôn độc lập có viết một câu đã trở thành niềm kiêu hãnh và sự công nhận quyền bình đẳng, quyền tự do cho mỗi công dân Hoa Kỳ trong đó có bạn nữa: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Đấng Tạo Hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc.”

Vì cả guồng máy chính trị được đặt trên nền tảng bất cả xâm phạm này mà nước Hoa Kỳ được trở nên hùng mạnh. Họ hùng mạnh không phải vì họ có những loại vũ khí tối tân nhất thế giới nhưng mà là do họ biết đặt Đấng Tạo Hoá (Thiên Chúa) lên hàng đầu.

Đúng là họ đã hiểu được lời thánh Gioan nói: “vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (x Ga 15:5b) Vậy hôm nay trong bầu không khí mừng Lễ Độc Lập, mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cách riêng cho đất nước Hoa Kỳ, xin Chúa luôn bảo vệ mảnh đất tự do mà Chúa đã ban để mọi người công dân được “có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc”.

LẮNG NGHE: ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. (St 12:1,2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Đấng hiền lành khiêm nhường, thật diễm phúc cho con được gọi là con của Chúa, xin đoái nhìn đến phận yếu hèn của con, xin đừng để con đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho con, và xin cho con luôn bước theo Chúa để được hạnh phúc muôn đời.

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng để dâng đất nước Hoa Kỳ cho Mẹ Maria.

Mời nghe Nhạc: Tất Cả Là Hồng Ân

 https://youtu.be/MfJ78D-zUZY

From: Đỗ Dzũng

Tuổi Xế Chiều…!

Tuổi Xế Chiều…!

Rồi ai cũng phải về với cát bụi, có ai sống mãi trên nhân thế này đâu. Và thời gian càng ngày càng ngắn lại, sức khỏe càng ngày càng yếu đi.

Sao không bắt tay làm ngay những điều mình mong ước, sao không đi đến ngay những nơi mà ta thích thú, sao không sắm ngay những vật mà ta từng mơ tưởng khi trong túi vẫn đủ tiền.

Sao không chào mọi người bằng cái vẫy tay, bằng một nụ cười bởi nhiều khi đó là lần đầu tiên ta gặp họ nhưng có thể cũng là lần cuối cùng bởi không còn duyên gặp lại,

Tuổi già nên tạo cho mình một đam mê sáng tạo: chụp hình, vẽ tranh, nặn tượng, làm gốm, làm vườn, trồng cây, viết nhạc, làm thơ, đi đây đi đó…tất cả trở thành gia vị cho cuộc sống mà thời trẻ bận rộn với manh áo, miếng cơm, lo âu cuộc sống ta không thực hiện được. Gắng đọc sách, đọc báo, vào mạng, viết mail để rèn luyện trí nhớ. Sống lâu mà chẳng nhớ gì, chẳng biết gì đang xảy ra cũng phí một quãng đời.

Đoạn đường trước mặt của mọi người ngày càng ngắn lại, sao không thể tha thứ, bao dung cho nhau những tỵ hiềm, những đụng chạm của một thuở. Sao không siết tay nhau khi còn sống.Sao không kiếm miếng ngon để thưởng thức hương vị của cuộc đời khi túi còn đủ tiền để trả cho món ăn ngon, đã đến lúc không nên hà tiện, keo kiệt để làm khổ thân mình, bởi khi ta mất đi mà vẫn còn tiền nhiều quá cũng là điều bất hạnh.

Nếu con cháu ngoan hiền thành đạt, có tình cảm với ta, có chăm sóc, thăm hỏi ta cũng là điều hạnh phúc. Bằng không, nếu chúng quên tình cảm gia đình, thì cũng đừng lấy điều đó làm buồn mà thất vọng.

Con cái muốn đi theo con đường nào, chọn ngành nghề gì, yêu ai và muốn lập gia đình với ai, ta chỉ nên khuyên nhủ, định hướng, không nên bắt chúng phải theo ý ta, sống vì ta. Bởi chúng có cuộc đời riêng của chúng và chúng ta chắc chắn sẽ không sống mãi với chúng nên phải để chúng quyết định đời mình.

Cũng không nên quá tin tưởng vào con cái mà giao hết số tiền dành dụm suốt cuộc đời cho chúng. Vì đó là mở đầu cho những bất hạnh mà ta phải chịu đựng sau này. Nếu khi đến tuổi mà cứ ôm khư khư các cháu, ta đã phí phạm thời gian còn lại ngắn ngủi của mình.

Người biết lo xa là khi tuổi trung niên đã chuẩn bị cho tuổi già, chuẩn bị để khỏi lệ thuộc vào con cái về vật chất, được như thế những ngày của tuổi già không phải trông mong vào những đồng tiền chu cấp của các con, được thoải mái và tự do trong sinh hoạt.

Người ta bảo tuổi già buồn, nhưng thật ra nếu biết cách sống và có sức khỏe, tuổi già là tuổi vui. Đó là tuổi đã làm xong những phận sự, chẳng còn nhiều trách nhiệm với cuộc đời, mọi lo toan cũng chẳng còn mấy chút. Giàu cũng giàu rồi, nghèo cũng nghèo rồi, chẳng còn sức lực và thời gian để thay đổi số mệnh.

Đau khổ, lo âu hay hạnh phúc, hoan hỉ đều do tâm ta mà ra. Cuối con đường của cuộc sống, an lạc, an nhiên mà đi, chăm sóc bản thân, chấp nhận cái đích cuối cùng của loài người, không âu lo, chẳng sợ hãi cái chết, hãy xem cuộc đời chẳng có gì là quan trọng nữa và tận hưởng nó đến giây phút cuối cùng, âu đó chính là con đường hạnh phúc…!

From: Kristie Phan & Lucie 1937

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA NGU DÂN – Nhà văn Dương Thu Hương.

TrongDe Ho

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA NGU DÂN

Nhà văn Dương Thu Hương.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:

– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?

Tôi đáp:

– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.

Anh bạn chưng hửng:

– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.

Tôi cười:

– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.

Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

Fb Vũ Tuân

Đôi điều cần Suy Gẫm

Đôi điều cần Suy Gẫm

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường… Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được…

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu: Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mãi mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ…

 Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

 Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

 Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm

Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

 Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

 Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.

 Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

 Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

 Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Đế.

Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được : Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG

 S.T.

From: X.Truong

BẠN ĐANG THIỆN TÂM hay ÁC TÂM?-Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R 

 BẠN ĐANG THIỆN TÂM hay ÁC TÂM?

Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R 
 
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14)
 
Thiện tâm là gì?  Ác tâm là gì? 
   

  Hiểu đơn giản thì thiện tâm là tâm ngay lành, là nghĩ tốt, nói đúng và làm tốt cho người khác. Thiện tâm là lòng tốt, là chân tình, là tình yêu thương.
      Ác tâm là nghĩ xấu, nói xấu, và làm xấu cho người khác. Ác tâm là lòng độc ác.
Dấu chỉ của người thiện tâm là luôn luôn bình an trước những khó khăn, bất công của cuộc sống, vì người thiện tâm biết rằng một khi đã sống thiện tâm thì không sự dữ nào có thể tấn công, làm hại được họ. Trái lại, người ác tâm luôn sống bất an trước mọi vấn đề của cuộc sống, vì họ luôn nhìn mọi biến cố theo chiều hướng có thể “ác tâm” cho mình, hoặc cho người khác.
     

Chuyện nghe và quan sát được: Một lần kia, tôi được mời đến giảng tĩnh tâm cho một xứ nọ. Đây là một cộng đoàn Công Giáo của người Việt, mới được giáo phận trao cho một nhà thờ để toàn quyền lo cho đời sống đức tin của cộng đồng người Việt trong giáo phận. Nhà xứ và nhà thờ này cách nhau chừng năm phút lái xe. Bên cạnh nhà thờ Công giáo này là một cở sở nhỏ của anh em tin lành. Cơ sở này nếu nhà thờ Công giáo mua để làm nhà xứ rất thích hợp và thuận tiện – nhà xứ nằm ngay bên cạnh nhà thờ theo văn hoá, tinh thần mục vụ của người Việt.

Một lần, cha xứ ở đây và tôi trên xe đi từ nhà ra nhà thờ, tôi hỏi: làm thế nào để mình mua được cơ sở này của anh em giáo phái Tin Lành để làm nhà xứ?
 Cha xứ trả lời: Cầu nguyện thôi! Cầu nguyện xin Chúa cho họ có nhiều người đi hội họp, cầu nguyện… để cơ sở này trở nên chật chội, và họ cần kiếm một cơ sở mới, khang trang, rộng rãi hơn để sinh hoạt việc thờ phượng. 
 

Nói theo ngôn ngữ đời thường thì cha xứ này đã cầu nguyện cho người ta “ăn nên làm ra.” Một khi đã ăn nên làm ra thì chỗ nhỏ bé này không xứng tầm với người giàu nữa. Cần chỗ khang trang để xứng tầm với người ăn nên làm ra.
   

Cũng câu hỏi ấy, tôi hỏi một giáo dân khi người ấy chở tôi đi công chuyện ngang qua khu nhà thờ: nếu bên Công giáo mà mua được cơ sở của anh em thuộc giáo phái Tin lành bên cạnh để làm nhà xứ thì tiện lợi biết bao?
     

Người đó trả lời: Cầu nguyện! Cầu nguyện cho ÍT người đến sinh hoạt ở đó để họ không đủ chi trả, và phải bán cho bên chúng ta.
   

 Nói theo ngôn ngữ đời thường thì người này đã cầu nguyện cho người ta “làm ăn bết bát.” Làm ăn bết bát thì không còn tiền bạc để sinh sống, đến nỗi phải bán cả tài sản, đất đai để trang trải cho cuộc sống.
   

 Cùng một cầu hỏi, cùng một ý hướng là mua cở sở của anh em giáo phái Tin lành, và mong muốn người ta bán cho, nhưng qua câu trả lời khác nhau đã diễn tả nội tâm, tâm hồn khác nhau được ẩn chứa bên dưới: Thiện tâm và ác tâm. Thiện tâm là muốn điều tốt cho người ta có thể mình cũng được hưởng lợi theo hoặc không; còn ác tâm là muốn điều không tốt cho người ta và mình có thể hưởng lợi hoặc không.
   

 Để có thể làm sáng danh Thiên Chúa, và sống cuộc đời bình an, cần lắm việc huấn luyện lương tâm, tập luyện lòng chúng ta hướng về sự thiện.

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14).

Để có hành động, lời nói thiện tâm thì trước đó lòng, trái tim phải thiện tâm. Vì lẽ, Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, yếu tố này làm con người trổi vượt hơn các loài thọ tạo hiện hữu trong trần gian này, và con người có tự do chọn lựa. Con người có tự do đưa ra những chọn lựa luân lý cho mình, nhưng con người hoàn toàn không có tự do vì những hậu quả do những chọn lựa của họ (You are free to choose, but you are not free from the consequences of your choices). Do vậy, có ai đã nói: 

Hãy cẩn thận với NHỮNG SUY NGHĨ của bạn vì chúng sẽ biến thành Lời Nói.
Hãy cẩn thận với những LỜI NÓI của bạn vì chúng sẽ biến thành Hành Động.
Hãy cẩn thận với những HÀNH ĐỘNG của bạn vì chúng sẽ biến thành Thói Quen.
Hãy cẩn thận với các THÓI QUEN của bạn vì chúng sẽ tạo nên Tính Cách của bạn.
Hãy chú trọng tới TÍNH CÁCH của bạn vì nó sẽ tạo nên Số Mệnh của bạn.
Và SỐ MỆNH của bạn sẽ là CUỘC ĐỜI của bạn . . .và . . .

Cùng Suy Nghĩ và Hành Động: Tôi có kinh nghiệm như thế nào về việc: miệng nhanh hơn não, hoặc nói mà chưa kịp suy nghĩ kỹ, rồi sau đó cảm thấy giá mà đừng nói những lời đó thì tốt hơn không? Nhìn vào lòng mình, tìm xem trong quá khứ đã bao nhiêu lần tôi ác tâm cố ý? Ác tâm không cố ý? Tôi đã cảm nhận như thế nào về sự bình an do ý ngay lành của tôi không?

Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R   

From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 

Tìm hiểu về lạm phát toàn cầu năm 2022

Tìm hiểu về lạm phát toàn cầu năm 2022

Bởi  AdminTD

Báo Tiếng Dân

Đào Tăng Dực

2-7-2022

Lạm phát (inflation) toàn cầu năm 2022 là một hiện tượng phổ thông trên mọi quốc gia và chúng ta cần phân tích. Ở mức độ những người tiêu dùng (consumers) như chúng ta thì rất phiền toái.

Bà xã thường tâm sự với tôi khi mua sắm, nhất là khi tôi đi chợ mua đồ ăn và giá tăng quá sức như sau: “Mình nên chấp nhận và vui vẻ với giá tăng lên vì thằng Putin của Nga quá ác. Nó xâm lăng Ukraine gây bao nhiêu tang tóc. Dân Ukraine còn chịu bao nhiêu thảm nạn. Chúng ta bị xăng dầu và thực phẩm đắt đỏ chút ít thì cũng nên vui vẻ hy sinh một thời gian”.

Thật vậy khi tôi đi đổ xăng:

  1. Diesel lúc trước khoảng hơn 1 Úc Kim một lít bây giờ là 2.30 Úc Kim
  2. Chúng tôi ăn chay mà đậu Green Bean lúc xưa 3 UK một ký bây giờ $30UK một ký
  3. Rau cải từ 1.30UK một bó có giai đoạn tăng lên 5UK một bó và bây giờ mới giảm xuống còn 4 UK một bó
  4. Bầu bí thông thường 4UK một ký bây giờ 8-10 UK một ký
  5. Rau muống 16UK một ký

Hình như chỉ có thịt là ít bị lạm phát nhất. Tôi nhận xét nửa ký thịt heo xay, nạt và ít mỡ chỉ có 6 UK mà thôi. Úc là một quốc gia sản xuất quá nhiều thịt nên giá cả không bị ảnh hưởng nhiều. Chính vì thế lạm phát tổng thể của Úc chỉ có 5.1%.

Dĩ nhiên tuy bất công cho những người ăn chay nhưng không phải vì thế mà tôi chuyển qua ăn mặn được.

Một bữa ăn của chúng tôi, theo tinh thần Nguyễn Công Trứ (ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch) gồm 3 bó cải ngọt (15UK) nấu canh đậu hũ (4UK), nước tương (50 cents), ớt (10 cents), cơm (1UK). Tổng cộng cũng lên đến hơn 20UK rồi.

Tuy nhiên khi nghiên cứu nạn lạm phát thêm thì Putin chỉ chịu trách nhiệm một phần, dù là một phần quan trọng. Phần kia thì Tập Cận Bình phải chịu.

Một cách tổng quát nguyên nhân lạm phát khởi sinh từ một sự mất thăng bằng giữa cung (supply) và cầu (demand). Khi cung mạnh và cầu yếu thì chúng ta rất ít lạm phát hoặc thậm chí ngược lại nữa là nạn giảm phát (deflation). Giảm phát lâu bền như tại Âu châu và Nhật Bản trước năm 2022 cũng nguy hiểm cho sự phát triển kinh tế không kém lạm phát cao.

Chính vì thế Ngân Hàng Trung Ương Úc (Reserve Bank of Australia) luôn luôn muốn duy trì lạm phát ở mức lý tưởng cho phát triển kinh tế bền vững là giữa 2% và 3% hầu phát triển kinh tế bền vững và tránh đại nạn giảm phát (deflation) như tại Âu Châu và Nhật Bản trước giai đoạn Đại Dịch Vũ Hán.

Tuy nhiên thực tế hiện nay trên thế giới năm 2022 là lạm phát quá cao vượt qua mức độ lạm phát lý tưởng do Ngân Hàng Trung Ương Úc quy định.:

Australia lạm phát 5.1%

USA 7.9%

Greece 7.44%

Israel 5.67%

Kinh khủng nhất trong các quốc gia phát triển là Turkey 54.8 %

Khi chúng ta nghiên cứu về nguyên nhân chính xác của lạm phát năm nay thì nhận thấy như sau:

  1. Cung ứng (suppy) yếu kém vì 2 biến cố quan trọng:
  2. Covid19 do Trung Quốc và Tập Cận Bình gây ra và
  3. Cuộc xâm lăng của LB Nga tại Ukraine do Putin gây ra.
  4. Hậu quả của cung ứng kém là:
  5. Không đủ chip tức vi mạch hay bán dẫn (transistors or semi- conductors) vốn là yếu tố then chốt cho mọi kỹ nghệ biến chế
  6. Nguồn năng lượng thiếu thốn (nhất là dầu hỏa) vì cấm vận LB Nga.
  7. Yếu tố cầu (demand) quá cao vì sau khi Covid19 được kiểm soát thì nền kinh tế phục hoạt mạnh, kéo theo nhu cầu công ăn việc làm (job growth) và nhu cầu tăng lương cho nhân công (wage growth)

Theo cơ quan Pew Research thì 37 trong 44 quốc gia OECD có lạm phát ít nhất gấp 2 lần năm 2020, 16 quốc gia gấp 4 lần.

Đây là những quốc gia dân chủ và phát triển nhất thế giới.

Muốn chống lại lạm phát thì biện pháp kinh điển của các quốc gia bao gồm 2 khía cạnh:

  1. Chính sách tiền tệ (monetary policy) của Ngân Hàng Trung Ương là tăng tiền lời hầu kiểm soát lạm phát. Tiền thật sự cũng chỉ là một thứ “mặt hàng” (goods or commodities) và có cái giá (price) của nó. Nếu nâng cao tiền lời thì giá của nó đắt hơn và sẽ ít người mua hơn. Kết quả là sẽ ít lượng tiền luân lưu trong nền kinh tế và lạm phát sẽ giảm.
  2. Chính sách ngân sách quốc gia (budgetary policy). Chính phủ cần phải chỉnh đốn ngân sách và giảm chi tiêu hầu giảm lượng tiền luân lưu trong nền kinh tế tương tự.

Dĩ nhiên chính phủ nào cũng phải cân nhắc khi thi hành các biện pháp kiểm soát lạm phát vì nếu quá đà sẽ đưa đến nhiều công ty phá sản, nhiều cá nhân phải bán nhà vỡ nợ vì tiền lời (tức giá của tiền như một mặt hàng) quá cao …

Dĩ nhiên nếu có những biện pháp khác có thể tái phục hồi lượng cung (supply) của nhiên liệu (từ Trung Đông hoặc năng lượng tái tạo, hoặc nguyên tử lực, hoặc than đá…) và phục hồi sự cung ứng chất bán dẫn (semi-conductors) mà Đài Loan đang dẫn đầu thì lạm phát sẽ giảm mạnh.

Quản trị kinh tế là trách nhiệm của chính quyền, nhất là khi kinh tế khủng hoảng và lạm phát hoành hành. Trong các chế độ dân chủ sẽ có nhiều chính quyền bị dân chúng cho ra rìa vì thiếu khả năng quản trị kinh tế. Quy luật này dĩ nhiên sẽ không áp dụng cho các quốc gia độc tài, độc đảng như Việt Nam. Dân ta dù có khổ cũng phải cắn răng chịu vậy dù đảng CSVN có ngu dốt đến đâu.

Nguyễn Phú Trọng, người chiến sĩ sát cộng số một của Việt Nam

Nguyễn Phú Trọng, người chiến sĩ sát cộng số một của Việt Nam

Bởi  AdminTD

Nguyễn Tiến Dân

2- 7- 2022

1.- “Cộng sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực”. Tùy thời điểm, tùy sắc tộc và tùy vị trí địa lý, bọn chúng có thể khác nhau vài thứ râu ria. Riêng cái khoản bất nhân – thất đức và ăn tàn – phá hại, đứa nào cũng thế. Nhắc tới chúng, là phải nhắc tới những tội ác hủy diệt tự nhiên, nhắc tới những tội ác chống lại loài người. Dưới ách cai trị của Cộng sản, luân thường, đảo lộn – đạo lý, suy đồi. Quyền lợi, chúng riêng giành – quyền hành, chúng độc chiếm. Đi theo Cộng sản, Đất nước nào cũng lầm than và trì trệ – Dân tộc nào cũng lụn bại và luôn đối mặt với họa diệt vong. Bởi thế, “nó chỉ là giấc mơ của vài người. Nhưng nó lại là cơn ác mộng kinh hoàng của toàn nhân loại”. Khi đã nhìn ra cái bản chất tột cùng xấu xa và đê tiện của Cộng sản, ai cũng căm ghét chúng và ai cũng mong, sẽ góp được một phần công sức, để tru triệt chúng.

Nhưng than ôi! Cộng sản, chúng giống như loài cỏ dại. Triệt được chúng, nào có phải là cái công việc dễ dàng:

– Ngay sau khi Nga Xô được thành lập, thế và lực của họ, chỉ có thể gói gọn trong mấy chữ: “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế ấy, ai cũng tưởng, có thể dễ dàng “ăn sống – nuốt tươi” được họ. Nhân đó, triệt đi cái di họa cho nhân loại về sau. Hệ quả, 14 nước Đế quốc đã đồng sức – đồng lòng, đã góp quân – góp của cho lực lượng Bạch vệ của Nga. Những mong, đánh Nga Xô cho đến khi nó đổ sụp. Ai ngờ, chẳng những không sụp đổ, mà sau cuộc chiến, nó còn nuốt chửng thêm hàng loạt lân quốc, để trở thành một thế lực có số má trên vũ đài Chính trị Thế giới.

– Trong Đệ nhị Thế chiến, chỉ riêng nước Đức Quốc xã, họ đã mạnh vô cùng. Ngay sau khi dùng xe tăng và lưỡi lê đè bẹp châu Âu, thế và lực của ho, khác nào “hổ mọc thêm cánh”. Tấn công Liên Xô, họ tự tin: “sẽ hoàn thành nốt cái công việc, mà nội chiến ở Nga đã phải bỏ dở”. Kết quả, chẳng những Liên Xô không tan vỡ, mà trên đường phản công, nó còn thôn tính hàng loạt quốc gia Đông Âu. Dân chúng ở đó, họ chưa kịp vui mừng vì vừa tránh được cái vỏ dưa Phát xít, thì đã phải ôm trọn vào lòng cả một đống vỏ sầu riêng mang cái tên Cộng sản. Thê thảm, vô cùng.

Bất hạnh, nào đã dừng lại. Chế độ Cộng sản, nó còn nhuộm đỏ cả Trung Hoa, Bắc Triều Tiên và Việt Nam.

– Đến thời chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đổ quân vào tham chiến tại Việt Nam. Lúc đó, mọi con số thống kê đều cho thấy, họ áp đảo đối phương. Nhưng cuối cùng, Hoa Kỳ vẫn buộc phải rút quân và bất lực nhìn miền Nam nước Việt rơi vào tay Cộng sản. Tuy không thắng, nhưng nhờ có họ, đại dịch Cộng sản, nó mới bớt ngông cuồng và chỉ còn có thể tự tung – tự tác ở xứ Đông dương. Vĩnh viễn, không có cơ hội, để bung ra và tràn tiếp xuống vùng Đông Nam Á.

– Liệt ra những sự kiện ấy, để minh chứng cho cái Chân lý phổ quát: “Chiến tranh, đó là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng Cộng sản. Bởi thế, chiến tranh không thể làm cho chúng yếu đi, mà ngược lại”. Sinh thời, Mao Trạch Đông cũng rất tâm đắc với luận điểm này. Có điều, nó được ông diễn đạt một cách hết sức thô lỗ: “Súng, đẻ ra chính quyền” và Thế giới chỉ có thể được cải tạo bằng súng đạn”. Tuy “bầu dục chấm mắm cáy”, nhưng nó vẫn nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của đám lâu la cuồng tín và lũ chư hầu bưng bô. Bởi, giống như Mao, tất cả bọn chúng, đứa nào cũng ưa bạo lực và phải thừa nhận, chúng rất mạnh về cái khoản này. Thế nên, dùng “nắm đấm” để phân thắng – thua với Cộng sản, đó chỉ là cách làm của những người, mà “trái tim nhầm chỗ, để trên đầu”.

Muốn ganh đua với chúng, phải đi đường vòng. Phải mở ra và kéo chúng vào những cuộc chiến, mà ở đó, sở trường của chúng không được phát huy. Trái lại, cái sở đoản ngu dốt và dối trá của chúng, nó phải bị bộc lộ.

2.- Người xưa, tổng kết: 狮子身中虫 自食狮子肉. Sư tử thân trung trùng, tự thực sư tử nhục. Tạm hiểu, Sư tử là chúa sơn lâm. Nó thắng tất cả mọi loài trong rừng sâu – núi thẳm. Nhưng cuối cùng, kẻ có thể hạ gục được nó, chính là cái loài dòi bọ được sinh ra ngay trong những vết thương đã nhiễm trùng của nó.

Cộng sản, cũng vậy. Không ai có thể thắng được chúng, trừ những khiếm khuyết được nảy sinh ngay trong lòng chế độ thối nát của chúng. “Cơ đồ xây dựng 75 năm có nguy cơ sụp đổ. Không ai mang máy bay, đại bác đến để lật đổ ta. Ta không làm tốt, thì ta tự lật đổ ta. Chẳng phải, do kẻ thù đâu” – Trần Quốc Vượng, nguyên thường trực Ban Bí thư.

Từ cái nguyên lý sâu xa này, ngay sau khi được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev và những cộng sự, họ đã nhanh chóng vạch kế hoạch và khẩn trương bắt tay hành động. Tất cả, đều hướng tới mục đích: “xóa bỏ chế độ Xô viết”. Cách họ làm, là cấy những ấu trùng độc vào trong cái vết thương đã lở loét của chế độ Xô viết và cuối cùng, chính cách làm đúng đắn đó, nó đã góp phần quyết định, để hạ gục chế độ Xô viết.

Trong cuốn hồi kí của mình, Yakovlev nhớ lại: “Chúng tôi có thể xóa bỏ hệ thống chính trị Xô viết bằng nhiều cách khác nhau. Tỷ như, công khai ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Tuy vậy, biện pháp này không triệt để và hiệu quả không cao. Cần phải phá Liên bang Xô viết từ bên trong và cách duy nhất để đạt được mục đích, đó là: “Kết hợp công khai hóa với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng”.

Lợi dụng chiêu bài công khai hóa, họ bóc mẽ những yếu kém, lệch lạc và bệnh hoạn của nền kinh tế Xô viết – những thứ, mà chế độ Xô viết vẫn giấu, như “mèo giấu cứt”. Thay vì “khoan thư sức dân”, những đồng tiền thu được từ bán tài nguyên và thu được từ thuế, phần lớn được ném vào việc phát triển Quốc phòng và luôn coi đó là niềm tự hào, là nhân tố quyêt định, để bảo vệ Liên bang Xô viết. Qua đó, chỉ ra vực thẳm ngay trước mặt: “Sự thực, không ai có thể phủ nhận được sức mạnh quân sự khủng khiếp của chúng ta. Nhưng nó đang được vận hành, để đứng trên đôi chân kinh tế đã èo uột, lại còn được nặn bằng đất sét. Quốc phòng càng mạnh, sức ép của nó lên nền kinh tế càng lớn và đến một ngưỡng nhất định, đất nước sẽ đổ sập xuống, như trời long – đất lở”.

Với việc công khai hóa, cái mặt nạ của chế đô Xô viết được vén tới đâu, bộ mặt quái thai, phi nhân và thất đức của nó sẽ được phơi ra đến đó. “Chúng ta ăn cắp từ chính bản thân chúng ta. Chúng ta coi đưa và nhận hối lộ, là việc tất yếu. Chúng ta nói dối trong các báo cáo, nói láo trên báo chí và man trá trên các diễn đàn cấp cao. Đắm mình trong dối trá, rồi chúng ta trao huân chương cho nhau và trên hết, tất cả những điều này, nó diễn ra từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên” – Nikolai Kyzhkov, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng của Liên bang Xô viết. Khi ma quỉ hiện nguyên hình, dân chúng sốc và suy sụp toàn tập. Từ đây, chẳng cần ai xúi dục, họ cũng quay lưng lại với nó.  众志成城, chúng chí thành thành. Mất đi sự ủng hộ của dân chúng, chế độ Xô viết, nó cũng chỉ như một con tàu đang nằm bờ. Ngày 18 – 8 –1991, những người cộng sản theo đường lối cứng rắn, họ đã làm một cuộc đảo chính, hòng lật đổ Gorbachev. Việc, bất thành. Nguyên do, ở đó.

Với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng, tất cả những kẻ không ăn cánh và những kẻ cuồng tín Mác – Lê, chúng đều bị đưa vào tầm ngắm và cuối cùng, đều bị thải hồi. Trong hơn sáu năm cầm quyền, Gorbachev đã thay máu toàn bộ Bộ Chính trị và các bộ phận chủ yếu của Ban Chấp hành Trung ương. Thế vào đó, là những người cùng chung chí hướng. Trong số đó, nổi bật nhất là Yakovlev và Shevardnadze. Khi nanh đã bị nhổ, vuốt cũng chẳng còn, con cọp Xô viết, nó chỉ hơn con mèo ở mỗi chỗ: Đó là, to xác.

Với chiến lược tổng thể này, không tốn một mũi tên – một hòn đạn, không hao một người lính – một cỗ xe, nhưng Gorbachev và những cộng sự, họ đã hãm Đảng Cộng sản Liên Xô vào thế, chỉ còn sống thực vật. Như rắn mất đầu, Liên bang Xô viết, nó phải tự tan rã.

Chớp thời cơ, tất cả các nước Cộng sản Đông Âu, họ đều đồng loạt đứng lên, để tự phá tan xiềng xích, ngục tù và sau hơn 30 năm đoạn tuyệt với cái mớ rác rưởi Mác – Lê, chửa thấy ai lưu luyến hồi đầu.

3.- Viết tới đây, không thể không nhắc tới luận điểm nổi tiếng của Tôn tử: 是故百战百胜,非善之善者也;不战而屈人之兵,善之善者也. Thị cố, bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã. Bất chiến nhi khuất nhân chi binh, thiện chi thiện giả dã. Tạm hiểu, “đánh thắng” hết Thực dân to này, đến Đế quốc nhớn khác, có gì gọi là giỏi. Bởi sau “chiến thắng”: đất nước, tan hoang – dân chúng, kiệt quệ. Không đánh mà hạ gục được đối phương, như cách mà Gorbachev đã làm, ấy mới tài.

Tài giỏi thế, nhưng Gorbachev và những cộng sự, họ cũng chửa được thiên hạ phong Thần. Bởi dẫu sao, Liên bang Xô viết, nó cũng được phát triển trên một nền tảng nhất định của Tư bản công nghiệp và mặt bằng dân trí ở đó, nó cũng không đến nỗi nào. Riêng Việt Nam, ngoài 2 trở ngại bất khả kháng nói trên, nó còn phải đối mặt với “tâm lí ngu trung” đã trở thành thâm căn – cố đế của vô số những kẻ mù quáng. Những kẻ, luôn cúc cung thần phục bề trên một cách vô điều kiện. Không đánh, mà vẫn phá tan được những bức tường thành kiên cố đó, ấy mới xứng, là bậc vĩ nhân.

Người xưa nói: “Mục đích, biện minh cho phương pháp”. Lịch sử, rồi sẽ phán xét mọi việc một cách công bằng và trước sau, sẽ dành vị trí xứng đáng cho Nguyễn Phú Trọng – một ông già “mặt nhân từ, mà ruột hiểm sâu”. Ngay từ những bước đi đầu tiên, cho tới những “mưu, hiểm độc – kế, xảo quyệt”, chàng luôn khiến cho quỷ khốc – thần sầu. Chỉ với cái mẹo vặt 假痴不癫, giả si bất điên – vờ lú lẫn, chàng cũng khiến cho bao cao thủ võ lâm phải lả tả rớt đài và lâm vào thảm cảnh “sống, không bằng chết”.

4.- Bàn về cái sự bất tài của Đảng Cộng sản Việt Nam, có lẽ, không ai thâm và sắc bằng Vũ Khoan: “Thụy sĩ không có gì, mà có tất cả. Trong khi, mình có tất cả, nhưng lại không có gì”.

Nôm na, Việt Nam là một trong những nơi hiếm hoi trên trái đất, mà cùng lúc, hội tụ được “tất cả” các yếu tố “thiên thời, địa lợi và nhân hòa”. Nhưng khi những thứ đó rơi vào tay lũ côn đồ có cái đầu đất, chúng đã đẩy cả Xã hội Việt Nam vào vòng hỗn loạn và làm băng hoại nó về mọi mặt:

Luật pháp, không còn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, thống trị.

Từ đường lối cho đến đường đi, chỗ nào cũng vá chằng – vá đụp như cái váy rách của nhà chị Dậu. Nền “công nghiệp hóa” mà chúng ta hằng ao ước, cho đến giờ, nó đang đánh vật với “những con ốc vít tiêu chuẩn”. Một nước nông nghiệp, mà từ giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, cho đến giá nông sản, tất cả, đều bị thả nổi và chịu sự thao túng của thương lái nước ngoài. “Được mùa – mất giá” và ngược lại. Đó là thảm cảnh của người nông dân Việt Nam dưới thời Cộng sản. Công nông, nào phải là cá biệt. Mọi tầng lớp khác trong Xã hội, nó cũng đều y như thế.

Tài nguyên và khoáng sản, tất cả đều bị đám Cộng sản đào bới tới mức cạn kiệt. Đất đai, chỗ nào chưa sang nhượng hoặc chưa cho ngoại bang thuê, chúng đều nhăm nhe đem phân lô – bán nền, rồi nhượng lại cho dân chúng với cái giá cắt cổ. Kiều hối, đều như vắt chanh. Năm nào cũng tiệm cận ở mức 20 tỷ USD. Còn dân chúng, ai cũng điêu đứng, vì bị chế độ bóp nặn qua sưu cao – thuế nặng. Thu nhiều như thế, nhưng “ngân sách” Quốc gia, lúc nào nó cũng “như dòng sông đã cạn”. Trái lại, cán bộ Cộng sản, đứa nào cũng giàu ú ụ. Xe sang và biệt phủ khủng, xưa rồi. Cái mà chúng hãnh diện đem khoe, đó là những tài khoản ngoại tệ và những bất động sản ở nước ngoài. Hữu sự, chế độ “đóng cửa”, để xách bị gậy “đi ăn mày” ở khắp bốn phương trời. Thậm chí, sẵn sàng “đeo mo vào mặt”, rồi lân la đi ăn dỗ của những đứa trẻ miệng vẫn còn hoi mùi sữa và lừa đảo cả những ông bà già đã cập kề miệng lỗ. An sinh Xã hội ư? Đừng có hòng. Bước chân ra khỏi cửa, mỗi bước đi, là một bước phải xuống tiền.

Rõ ràng, lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, chúng gồm một lũ bất tài – vô dụng. Chúng kinh doanh thứ gì, thứ đó lỗ chỏng cu. Chúng quản lí cái gì, cái đó đều tồi tệ và ngược lại. Chỉ cần so sánh việc cung ứng lương thưc và thực phẩm trước và sau thời bao cấp, chúng ta sẽ nhận ra ngay cái điều đó. Bởi thế, chừng nào chưa “giải thể cái đám ăn hại – đái khai Cộng sản” và “trả lại quyền lực thực sự cho Nhân dân”, chừng đó, Việt Nam còn sấp mặt. Trong bối cảnh đó, Phú Trọng được sinh ra, để “thế Thiên”, mà “hành” cái “đạo” triệt Sản.

5.- “Lượng đổi – chất đổi”. Người ta chẳng nên hấp tấp, để nặn một cái mụn, khi nó còn non. Thế nên, Lê nin mới đưa ra luận điểm: “Muốn cho chế độ Nga hoàng chóng sụp đổ, hãy đẩy nó tới tận cùng của sự khốn nạn”. Sang Nga du học, Phú Trọng rất tâm đắc với chiến lược này. Về nước, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê vào hoàn cảnh Việt Nam”, ông thay chữ “Nga hoàng”, bằng từ “Cộng sản” và kiên định, đẩy nhanh quá trình chín mõm của cái ung nhọt Cộng sản Việt Nam. Giống như bậc tiền bối, ông cũng dùng 2 thứ vũ khí: “Công khai hóa” và “Kỉ luật toàn tri”, để bẻ nanh – cắt vuốt và rút gân của cái Đảng Cộng sản Việt Nam. Có điều, Gorbachev phá Cộng sản theo cách, từ trong phá ra. Riêng Phú Trọng, ông phá nó, từ gốc rễ.

a- Hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh

– Chuyện dân gian, kể rằng: Nguyễn Sinh là một dòng họ nghèo kiết xác ở xứ ông Đồ. Muốn đổi đời, họ tìm đến nhà một thầy Địa lý nổi tiếng, để xin giúp đỡ. Nhìn thấu hoàn cảnh và âm đức của nhà đó, thày phán: “Ta vừa tìm được một huyệt mộ. Mả táng vào đó, phú quý tột cùng. Ngặt nỗi, kết cục sẽ là tuyệt tự. Các người, nghĩ sao?”. Còn gì, để mà mất. Cả nhà mừng quýnh, đồng ý liền. Việc, hoàn tất. Tạ ơn thầy xong, họ bỏ đi như chạy. Vì thế, chẳng nghe thấy thầy gọi với theo: “Này, ta nói đùa đó. Muốn không bị tuyệt tự, việc đầu tiên, là phải lấy vợ”.

– Theo chính sử, Hồ Chí Minh không có cả vợ lẫn con và có lẽ, đó chẳng phải là ước nguyện của ông ta. Bởi lẽ, “từ rốn trở xuống, bác cũng như các chú”. Làm ra cái việc thất đức này, là mưu đồ của đám đệ tử. Chúng muốn lợi dụng ông ta, để lôi kéo cái đám đông u mê, mà có lúc, nó chiếm tới 95% dân số Việt Nam. Vì thế, chúng buông xuống một bức màn sắt, rồi thêm râu – vẽ ria và bắt ông phải trở thành một vị Thánh nhân. Dĩ nhiên, không chút tì vết.

Đầu tiên, chúng khoác tấm long bào của Thiên tử lên vai ông Hồ: “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh Thánh” và giải thích bừa rằng: “Khi núi Đụn, chẻ đôi/ Nước chảy xuống từ khe Bò Đái, mất tiếng/ Sông Lam, phạm núi Lam thành/ Lúc đó, Nam Đàn sinh ThánhThánh ở đây, chính là bác Hồ (!)

Bước 2, chúng tìm một kẻ bẻm mép, rồi đôn y lên hàng Giáo sư và giao cho việc “sưu tầm” và “sáng tác” những mẩu chuyện có thật và kể cả không có thật về ông Hồ. Kế đó, mang chúng đi kể ở khắp hang cùng – ngõ hẻm. Đám quần chúng u mê, ai cũng há hốc mồm ra nghe và ai cũng tin, bác của họ, là Thánh sống. Bác của họ, tài đến mức, thông thạo “29 ngoại ngữ” – giỏi đến mức, “tiên tri được ngày ta thắng Mỹ” và nhân văn đến mức, gặp các cháu gái miền Nam, bác hỏi luôn: “Các cháu kinh nguyệt có đều không?”.

Tuy vậy, ối lúc y nhỡ mồm. Y kể, hồi ở Paris, bác đã từng tham gia sản xuất hàng giả. Đã từng, vì quyền lợi ích kỉ của mình, mà nhẫn tâm 移尸嫁祸 di thi giá họa cho dân lành. Khiến họ, tan cửa – nát nhà và nếu sống ở Việt Nam thời Sản trị, cái thòng lọng của giá treo cổ, chắc chắn, nó sẽ được tròng vào cổ họ.

Ở xứ Văn minh, nói láo như y, thiên hạ bôi vôi vào mồm. Nhưng ở chốn “thiên đường”, y và đám đồng đảng, chúng lại thành công rực rỡ. Hình tượng Hồ Chí Minh với những gam màu sáng, nó đã được khắc ghi đậm nét trong trái tim và khối óc của đa số dân chúng Việt Nam. Nó trở thành cái bình gốm đẹp đẽ, để những con chuột cống Cộng sản có chỗ chui vào và yên ổn hưởng thụ những gì mà chúng có được do ăn cướp. Ai cũng biết, nếu không đập vỡ cái bình, hoặc không dốc ngược nó lên, muôn đời, không bao giờ tiêu diệt được đàn chuột ở trong cái bình đó. Các bác “thế lực thù địch và phản động”, họ biết rất rõ về cái luận điểm này và diễn đạt nó dưới dạng: “Muốn giải Cộng, trước tiên, phải giải thiêng được hình tượng Hồ Chí Minh”.

Nhưng rồi, bao nhiêu thời gian và công sức mà các bác ấy đổ vào đó, nó đều như “nước đổ lá khoai”. Chẳng mấy ai tin các bác ấy cả. Phải đến khi Phú Trọng nhập cuộc, tình thế mới bắt đầu thay đổi. Vậy, Phú Trọng đã làm những gì, để người đời dần tin rằng, Hồ Chí Minh cũng hết sức tầm thường?

– Ai cũng biết, những “khai quốc công thần” của chế độ Cộng sản, từ Ba – Đồng – Chinh – Bằng – Tôn, cho đến Mười – Phương – Kiệt – Nguyên – Liệu, ai cũng đội ông Hồ lên đầu và tranh nhau nhận mình là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Riêng Phú Trọng, học hàm và học vị đầy mình, sao phải khuất thân mà nhận rằng, mình là học trò của cái ông chẳng có mảnh bằng nào giắt lưng? Tệ hơn, ông còn bật đèn xanh, để Võ Văn Thưởng thổi đít mình lên: “Tổng bí thư hiện nay, thực sự là nhà lý luận có tầm tư tưởng”. Nghe nói, dạo còn trốn trong núi rừng Việt bắc, có kẻ cũng đã nói ra câu đó với ông Hồ. Không ngờ, ông ta gạt phắt: “Bác không có tư tưởng gì cả. Mọi tư tưởng, là của ông kia, ông kia và ông kia”. Miệng nói, tay chỉ vào hình của Mác, Lê nin, Staline và Mao Trạch Đông. Cái mà ông nhận, chỉ là “tác phong Hồ Chí Minh”.

Chẳng biết, lúc đó ông Hồ khiêm tốn, hay ông không muốn tự lâm vào tình thế hiểm nghèo, khi dám đặt mình ngang hàng với các tay kia. Trong khi, tầm của bọn kia, còn lâu chúng mới sánh được với những nhà tư tưởng và triết học vĩ đại của Trung hoa như Khổng tử 孔子, Mạnh tử 孟子. Nếu công tâm, Thưởng hãy nói xem, cụm từ “tư tưởng Hồ Chí Minh” nó xuất hiện trước hay sau khi ông Hồ từ trần? Ông Hồ còn không tự nhận mình là Hồ tử 胡子. Hà cớ gì, con ễnh ương Võ Văn Thưởng phải cố tự phình mình, để đẻ ra nhà tư tưởng Trọng tử 仲子. Tuy chưa chết, nhưng “tiếng vang như mõ”?

– “Miếng ăn, là miếng nhục”. Thiên hạ, thiếu gì kẻ, chỉ vì miếng nhục đó mà bán rẻ đi cái lương tâm của mình. Mượn sân khấu của Thưởng, chúng véo von hót rằng, Phú Trọng có cái tiết tháo của một bậc sĩ phu Bắc hà. Bởi thế, trừ Tập tiên sinh, ông không bao giờ khuất phục trước cường quyền và tà quyền. Khi đã ở trong cái chăn Cộng sản, hơn ai hết, ông ta phải biết rất rõ về thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Nhưng đã lâu lắm rồi, thiên hạ thấy ông vẫn một mực lẩn tránh việc vào Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để cúi chào người quá cố. Có lẽ, ông đã học được chiêu độc của các vị vua chúa nước Nam: Khi không muốn quì lạy, để nhận chiếu chỉ/ sắc phong của phương Bắc, ai cũng nại ra việc mình đi săn, bị ngã ngựa. Phú Trọng, cũng vậy. Ông ta có thể một lần nại ốm, để không phải lạy ông Hồ. Nhưng triền miên “ốm”, thì vấn đề, nó lại nằm ở chỗ khác. Xin độc giả hãy chiêm ngưỡng bức ảnh “Phú Trọng dâng hương trong nhà Bác”.

Hương dâng rồi, ông ta quay lại và điềm nhiên ngồi luôn lên cái ngai của Bác mình. Việc này, Phong kiến thời nào, họ cũng “nâng cao quan điểm”, để khép vào tội: “khi quân – phạm thượng”. Cố tình, thì bị chém đầu – vô ý, thì đem treo cổ. Đã thế, ông còn ngồi quay lưng vào bàn thờ, nơi mà khói hương vẫn đang nghi ngút.

Thế gian, nào ai mà biết, “chuyện ma ăn cỗ”. Bởi thế, “anh em, khinh trước – làng nước, theo sau”. Chắc ông Hồ cũng phải như thế nào, thì mới bị Tổng Trọng giỡn mặt đến mức ấy chứ?

– Nào, đã hết. Sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, nên khát vọng cháy bỏng của tầng lớp bần cố nông Cộng sản, nó cũng chỉ dừng lại ở cái nồi cám lợn nơi xó bếp. Vì thế, khi được ăn bo bo, ai cũng tưởng, mình đã đặt được một chân tới thiên đàng. Trong bối cảnh đó, họ tung ông Hồ lên tận chín tầng mây và “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”, nó đã làm lóa mắt tất cả cái lũ mù quáng ấy. Cơn lên đồng tập thể, nó chỉ chấm dứt, khi Thánh mới lừng lững xuất hiện cùng với xô nước đá trên tay. Thánh phán: “Nhìn một cách tổng quát, Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay”. Nôm na, từ thủa khai thiên – lập địa của nước Việt đến giờ, chưa một chế độ nào, chưa một triều đại nào có được những thành tích vẻ vang và đặc biệt xuất sắc bằng thời Phú Trọng.

Không phải nhỡ mồm, Thánh lặp đi, lặp lại nó ở mọi nơi, mọi lúc và có lẽ, ngay cả trong giấc ngủ. Lũ bê hồng, nghe rõ chửa: “Thánh Hồ, sao mà bằng Thánh TrọngCòn Thánh Trọng, đang ở ngoài bức màn sắt và đang sống trong thời @. Bởi thế, chỉ những kẻ đui mù và đần độn, chúng mới không đánh giá được những lời nói và những việc làm của ông ta.

b- Đưa Luật rừng vào, để phá nát Xã hội Việt Nam.

– Trên danh nghĩa, Việt Nam có một Nhà nước “Pháp quyền”. Ấy thế mà, đến Hiến pháp, nó còn bị Phú Trọng cho đặt ngồi bệt xuống dưới chân Cương lĩnh của Đảng. Đến lượt Cương lĩnh của Đảng, nó lại được ông nâng niu và sử dụng như một vật lót mông của mình. Bằng chứng, kệ con mẹ Điều lệ Đảng và mặc xác cái gọi là dư luận, ông lì lợm giữ rịt cái ghế Tổng Bí thư tới tận 3 khóa liền tù tì.

Lột mặt nạ của Đảng như thế, chưa đủ. Ông còn cố tình trì hoãn việc xây dựng Luật về Đảng và Hội, để bắt cái Đảng của ông, lúc nào nó cũng hoạt động trong tư thế bất hợp pháp. Quyền lãnh đạo, nó giành – trách nhiệm với Dân, nó bỏ. Có quyền rồi, chúng ngang nhiên lấy tiền của Ngân sách, để chi tiêu một cách vô tội vạ và tùy ý lèo lái Đất nước đi theo những cái sở thích riêng quái đản của mình. Tạm kể ra, 2 vụ:

Theo Hiến pháp: “Nhiệm kì của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng, đều theo nhiệm kì của Quốc hội”. Thậm chí, họ còn phải đương nhiệm cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra được người thay thế. Nhưng, Quốc hội khóa 13 còn chưa kết thúc, “tam trụ” kia, chẳng ai bị kỉ luật, chẳng ai bị liệt hoặc chết, cũng chẳng có ai làm đơn xin từ chức. Ấy thế mà, ông Tổng vẫn lùa họ lên toa xe lửa, đóng cửa lại, rồi cho họ “đi tàu suốt”. Lạ cái, từ 3 vị kia cho tới dân chúng cả nước, chẳng thấy ai dám hé răng, để bình phẩm lấy một lời. Hèn đến thế, là cùng.

Ăn cắp, quen tay – ngủ ngày, quen mắt”. Trong nước, chà đạp lên Luật pháp mà không sợ bị trừng trị, nó quen rồi. Ra nước ngoài, bệnh cũ, tái phát. Mồm nói, tôn trọng chủ quyền Quốc gia và Luật pháp của Đức quôc, nhưng ấm đầu lên, ông vẫn tìm mọi cách, để “khều” cho bằng được cừu thù Trịnh Xuân Thanh về nước. Bất chấp, vụ “khều” người này, nó sẽ còn “ám” mãi vào nước Việt.

Trên, vô pháp – dưới, vô luân. Từ đó, cả Xa hội được vận hành theo những “khẩu dụ”, theo những Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng – những thứ, luôn trong tình trạng “sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng”. Khi không còn tiêu chuẩn để phân biệt trắng – đen; phải – trái; đúng – sai, cả Xã hội lộn tùng phèo: “Bây giờ, làm việc gì cũng sợ sai. Làm xong rồi, cũng không biết có sai hay không. Sai rồi, cũng không biết sai ở chỗ nào và thậm chí, không làm gì cũng có thể dẫn đến sai phạm(!)” – Mai Thị Phương Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội. Khi trói được chân – buộc được tay cán bộ, đó là lúc mà Phú Trọng đã đạt đến đỉnh cao của việc: “vô hiệu hóa bộ máy Nhà nước Việt Nam”. Gorbachev, tuổi gì.

Kỷ cương, không có – đường lối, ưỡn ẹo như cây tre trước gió và ông trùm, một tay thao túng tất cả. Đó là đặc điểm chung của mọi băng nhóm được tổ chức theo kiểu Mafia hoặc thổ phỉ. Phú Trọng, ông đã có công làm cho cả Thế giới thấy rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam, nó cũng đang tiệm cận với cái mức ấy.

c- “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Bần cùng hóa nhân dân, ép họ phải đối đầu với chế độ.

– Ở một nước nông nghiệp, tất yếu, phải lấy “Nông dân làm trụ đỡ”, phải đặt “Nông nghiệp vào trọng tâm”. Mồm thì nói thế, nhưng tay này cướp đất của nông dân, tay kia dựng lên cả một rừng thuế phí, để vặt lông người cày. Một quả trứng, chúng thu tới 14 loại phí. Đến con lợn, con số đó, nó đã nhảy lên thành 51. Nào, đã hết. Khi mang hàng hóa đi tiêu thụ, họ phải khóc ròng với giá cước vận tải. Do xăng tăng – xe đắt, do dày đặc những trạm cố định thu phí mãi lộ và do bị “ăn cháo hành” khi qua đầy rẫy những trạm di động, chuyên xin đểu “bánh mì”. Trừ hết chi phí, đồng tiền mang về, may lắm cũng chỉ đủ để nuôi vợ con. Làm gì có dư, để mà tái sản xuất mở rộng. Khi bị ép phải lựa chọn giữa “sống, hay là chết”, những người nông dân ở Văn Giang, Đồng tâm, Dương nội…, tất cả, đều không chọn vế sau. Cho dù, có bị đàn áp khốc liệt.

Nước lụt, thì lút cả làng”. Khi đại dịch cúm Tàu tràn qua nước Việt, nó đã phơi ra trước bàn dân thiên hạ: Một hệ thống truyền thông, dối trá. Một hệ thống quan chức, ngu dốt. Một hệ thống tham nhũng và thối nát, từ trên xuống dưới. Một sự vi phạm nhân quyền trắng trợn dưới rất nhiều hình thức. Cuối cùng, là một hệ thống nhóm lợi ích siêu quyền lực. Chúng đã tạo ra cả hệ thống chính sách, để trục lợi và trên hết, đó là một sự lũng đoạn Nhà nước, ở quy mô khủng khiếp…” – Nhà báo Nguyễn Vũ Bình.

Chỉ bằng vài tháng phong tỏa, ông Tổng và những cộng sự, họ đã khiến đồng bào ta: người chết – nhà tan – của tàn – đói khát. Giữa lúc tứ bề thọ khổ, cái mà dân chúng cần, đó là lương thực, thực phẩm, thuốc men, y bác sĩ và phác đồ điều trị. Nhưng chế độ, không làm thế. Trái lại, họ vẫn hối hả tăng giá xăng dầu, điện nước, khí gas… Mặt khác, tiếp viện cho họ: bộ đội, cảnh sát cơ động, cùng AK 47, xe bọc thép và hàng rào dây kẽm gai. Chẳng cần nói, ai cũng biêt nguyên nhân sâu xa của những việc làm thất nhân tâm này.

d- Xói mòn sức mạnh chiến đấu của Đảng CS Việt Nam, bằng cách bồi dưỡng và đề bạt những cán bộ vô tài – thất đức.

Muôn việc thành công, ở khâu cán bộ. Luận về cái việc này, Nguyễn Trãi viết: “Sĩ tốt, kén người hùng hổ. Bầy tôi, chọn kẻ vuốt nanh”. Đến thời Phú Trọng, ông không làm thế. Bỏ qua qui luật “chọn lọc tự nhiên”, ông “phát hiện, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ” theo kiểu “hôn nhân cận huyết”. Vì thế, nhắc tới bất cứ một cán bộ nào, nhân gian cười nửa miệng: “Đồng chí này, là con của đồng chí nào?”.

Trong khi, ghế thì ít, mà đồng chí đểu lại hơi bị nhiều. Dựa vào chiêu “luân chuyển cán bộ”, ông thay máu xoành xoạch trong những cơ quan đầu não của Đảng. Có điều, “hòn ngọc, ném đi – hòn chì, giữ lại”. Việc “dây thép” ông giao cho một thằng “bán trời không văn tự”. Không phụ lòng chủ, y “vén tay áo xô”, chỉ một phát, đốt trên ngàn tỉ tiền thuế vào cái “mạng xã hội Lotus” với lời hứa chắc như đinh đóng cột: “Lotus sẽ lật đổ facebook(!)”. Đến lượt, “Giáo dục và Đào tạo nhân tài cho Đất nước”, ông giao cho một kẻ đạo văn, có bằng đểu, lại còn nói ngọng. Kết quả nhãn tiền, thi gian – học dối, nó nở rộ ở khắp mọi nơi. “Phi công, bất phú – phi thương, bất hoạt”. Để mạnh giàu, thời nào cũng phải coi trọng Công thương. Biết thế, nên ông giao nó cho một cán bộ Đoàn, mà sở trường của y là chăng đèn, kết hoa và quét cống rãnh. Hệ quả, nghe chàng nói – nhìn chàng làm, dân chúng càng thêm tin yêu bọn… Tư bản.

Với cán bộ yếu kém, Gorbachev chọn cách thải hồi. Riêng Phú Trọng, ông biến chúng thành củi. Chính tay ông đã huấn luyện, nâng đỡ và đặt La Thăng ngồi trên cái núi vàng ở Sài gòn. Nhưng khi không lay chuyển được lòng trung thành của y với chủ cũ, ông trở mặt, đem những tội lỗi của y từ thuở “Naponeon còn cởi truồng” ra, để tống La Thăng vào lò. Hằng hà sa số những cán bộ khác, cũng thế, Tay này, ông bồi dưỡng và bổ nhiệm họ. Còn tay kia, ông bới lông – tìm vết, để kỉ luật họ. Sau đó, cười hềnh hệch và khoe thành tích chống tham nhũng với bàn dân thiên hạ. Khốn nạn ở chỗ, ông luôn coi mình, là kẻ vô can.

6- “Cùng trong một tiếng tơ đồng”. Nhưng ở Nga, Gorbachev đã hoàn thành việc giải thể cả Đảng Cộng sản lẫn Liên bang Xô viết và chứng kiến việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Riêng Phú Trọng, ông sẽ không có được cái cơ may đó. Ngày ra đi, cái mà ông để lại, chỉ là một đống đổ nát bừa bãi. Ước mơ Tự do và Dân chủ, đành gửi gắm vào những kẻ thay thế mình. Tiếc rằng, Trí của chúng, đều ngắn – Đức của chúng, đều mỏng. Bởi thế, giỏi lắm, chúng chỉ đóng vai trò trái độn như Hoa Quốc Phong ở Trung hoa. Có điều, sau Quốc Phong, đã có sẵn Tiểu Lọ. Còn Việt Nam, chẳng biết, ông có để lại cái túi gấm nào, hay không?

7- Này, ông Tổng!

Có đi có lại, mới toại lòng nhau”. Mọi lần khác, bỏ qua. Riêng lần này, lão viết ra bài điếu tân thời, để chiêu tuyết, để tế sống ông. “Sống khôn – thác thiêng”, hãy cười lên một tiếng. Sau đó, nhớ viết bài phản biện, để người trong thiên hạ, không ai phải lăn tăn về trình độ của một “nhà lí luận, có tầm tư tưởng” và cũng đừng hấp tấp, để làm những chuyện ngu ngốc, khiến người trong thiên hạ, ai ai cũng phải đàm tiếu: “Tưởng, sĩ phu Bắc hà. Ai ngờ, cũng chỉ là một thằng côn đồ nơi đất Bắc”.

Nguyễn Tiến Dân

Tel: 038 – 50 – 56 – 430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ Cộng sản đê hèn, nên bị chúng lừa đảo và cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây, mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Gia tài của mẹ và chuyện chủ quyền biển đảo…

Gia tài của mẹ và chuyện chủ quyền biển đảo…

2-7-2022

Tình hình theo tôi là tuyên giáo “xử” vụ “gia tài của mẹ” như “đem con cá đi trấn nước”. Trấn cách mấy con cá cũng không thể chết ngộp. Vấn đề “hai mươi năm nội chiến từng ngày” là một sự thật lịch sử. Ngay cả khi lịch sử luôn được viết bởi phe thắng cuộc. Cây súng có thể giết người nhưng cây súng không thể giết chết sự thật.

 

Việc làm hồ đồ của tuyên giáo CSVN ảnh hưởng sâu sắc lên hồ sơ chủ quyền biển đảo của VN. Tuyên giáo càng lên gân VN càng tự bắn thêm vào chân mình. Nếu không thiết lập lại sự thật lịch sử VN có thể mất vĩnh viễn Hoàng Sa (HS) và Trường Sa (TS) cùng hàng triệu cây số vuông biển cho TQ.

Chiến tranh chống Pháp 1945-1954 là một cuộc “nội chiến”. VN gọi tên “chín năm kháng chiến chống Pháp” nhưng Luật quốc tế xếp loại các cuộc chiến “giải thực – décolonisation” thuộc thể loại “nội chiến”.

Chiến tranh 54-75 “chống Mỹ cứu nước”. Mỹ là “thực dân mới” và chính quyền VNCH là “chính quyền tay sai”. Thực dân là thực dân. Luật quốc tế không phân biệt cũ hay mới. Cuộc chiến này cũng là một cuộc nội chiến.

Răn đe người dân cách nào, phạt vạ hay cấm hát bài Gia tài của mẹ, tuyên giáo cũng không thể thay đổi thực chất “nội chiến” của hai cuộc chiến.

Luật quốc tế qui định từ “chiến tranh” chỉ dành cho “chiến tranh quốc tế”, tức xung đột vũ trang giữa “quốc gia với quốc gia”.

Luật lệ chiến tranh là luật hiện hữu từ thời thượng cổ. Chiến tranh có mục đích làm cho tất cả của cải, lãnh thổ… của một bên thành ra “vô chủ – res nullius”. Phe thắng trận có quyền chiếm hữu tất cả. (Phe thắng cuộc ở VN áp dụng tận tình luật này. Của cải của ngụy ta tịch thu, nhà của ngụy ta ở, vợ của ngụy ta lấy, con của ngụy ta bắt làm nô lệ còn ngụy ta bắt đi học tập cải tạo, đuổi đi kinh tế mới…)

Cả hai phe CSVN và VNCH (tức phe cộng sản và phe quốc gia) đều có chung quan điểm: chiến tranh VN (1954-1975) không phải là cuộc “nội chiến”.

Cả hai cùng tự bắn vào chân mình.

Lập trường của phe cộng sản đã nói rồi. Chính nghĩa của cuộc chiến (jus ad bellum) là mục tiêu “giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước”.

Còn phe quốc gia mỗi người mỗi ý.

Lập luận (áp đảo) của phe quốc gia hiện nay cho rằng VNDCCH và VNCH là “hai quốc gia độc lập có chủ quyền”. Vấn đề là lập luận của nhóm học giả này không thuyết phục. Họ không chứng minh được cuộc chiến 1954-1975 là “chiến tranh quốc tế, nước này xâm lược nước kia”.

Chiến tranh – War là một vấn đề quốc tế. Chiến tranh – War là quốc gia (state) này xâm lược quốc gia (state) kia.

So sánh với chiến tranh Nga xâm lược Ukraine. Chính nghĩa của phe Nga (jus ad bellum) trong cuộc chiến này là gì?

Trước khi phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” thì Putin tuyên bố nhìn nhận độc lập có chủ quyền của hai quốc gia tự phong Donetsk và Luhansk. Chính nghĩa của Nga khi phát động cuộc xâm lược là giúp hai quốc gia Donetsk và Luhansk “tự vệ” đồng thời bảo vệ những người nói tiếng Nga sinh sống ở hai cộng hòa tự phong này. Quyền “tự vệ” này “chính đáng” nếu (và chỉ nếu) hai cộng hòa Donetsh và Luhansk là hai quốc gia thực sự độc lập có chủ quyền. Đại đa số các quốc gia, ngay cả các quốc gia thân cận nhứt với Nga, không nước nào nhìn nhận thực tế này. Cuộc chiến của Nga vì vậy không có chính nghĩa. Nga bị cô lập trên trường quốc tế.

VNCH chưa bao giờ tuyên bố “quốc gia độc lập” như hai cộng hòa tự phong Luhansk và Donetsk. Lập luận “tự vệ đa phương” của VNCH rõ ràng thiếu thuyết phục.

Tương tự như Đài Loan – lục địa, Nam-Bắc Hàn. Hai miền Nam-Bắc VN chỉ là những “quốc gia bị phân chia – divided state”. Quốc gia bị phân chia là những “quốc gia chưa hoàn tất”. Tư cách pháp nhân của VNDCCH (và VNCH) trước luật quốc tế là không hoàn chỉnh.

Ông Ngô Đình Diệm là tổng thống VNCH duy nhứt được quốc tế tiếp đón như là một “nguyên thủ quốc gia”, với lễ nghi dành cho “quốc khách”. Dĩ nhiên lãnh thổ của quốc gia VNCH này bao gồm luôn miền Bắc.

Sau khi ông Diệm bị quân đảo chánh giết chết, các thủ lĩnh chính quyền quân sự hay dân sự sau này không ai được quốc tế tiếp đón với thủ tục dành cho nguyên thủ quốc gia. Ông Thiệu chưa bao giờ được Mỹ tiếp đón như là “quốc khách”, với tư cách nguyên thủ quốc gia. Ông Thiệu chỉ được Nixon tiếp đón ở trại David, như một “cá nhân đặc biệt”. Tư cách pháp nhân của VNCH trước trường quốc tế đã bị sụp đổ từ 1-11-1963.

Nhiều bài viết cố gắng chứng minh VNCH và VNDCCH là “hai quốc gia độc lập có chủ quyền”. Các học giả vịn đủ thứ luật lệ quốc tế, điển hình Công ước Motevideo về quốc gia.

Các học giả rành về luật quốc tế nhưng dường như đã bỏ sót nhiều điều cơ bản cấu thành luật quốc tế. Nếu Công ước Motevideo là “luật” thì Hiệp định Genève 1954 hay Hiệp đinh Paris 1973 về chiến tranh VN cũng là “luật”. Các học giả chỉ dựa vô công ước Motevideo mà không tính tới hai hiệp định Genève 1954 và Paris 1973. Theo nội dung hai hiệp định này thì quốc gia VN chỉ có một. Cả hai bên VNDCCH và VNCH từ 1954 luôn hành sử như là “Quốc gia duy nhất – Etat Unitaire”. Quốc tế, nước nào công nhận VNCH thì sẽ không công nhận VNDCCH và ngược lại.

Lập luận “hai quốc gia VN” của các học giả là có vấn đề.

Giả sử bây giờ “thượng đế” ban phép lạ cho phe quốc gia “xóa bài làm lại”. Theo tôi phe VNCH vẫn thua. Thua vì đến nay nhiều người (còn sót lại) vẫn không hiểu được thực chất của cuộc chiến 1954-1975 là gì?

Làm cách nào để chống lại chính nghĩa “thống nhất đất nước”? Càng dựa vô Mỹ càng đánh càng thua. Mỹ can thiệp vào VN là can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia. Càng đánh Mỹ càng bị quốc tế chống đối và VNCH càng bị cô lập.

Ngoại trừ việc tuyên bố VNCH độc lập và làm trưng cầu dân ý để sự tham dự của Mỹ vào cuộc chiến có tính chính đáng. Điều này hoặc ra ngoài kiến thức của phe VNCH hoặc đa số lãnh tụ chính trị VNCH là dân miền Bắc.

Khẳng định chiến tranh 1945-1954 và chiến tranh 1954-1975 là nội chiến VN có nhiều cái lợi. VN kế thừa di sản của Pháp về lãnh thổ HS và TS. Sau này VN kế thừa di sản VNCH về “danh nghĩa chủ quyền” tại HS.

Tư cách pháp nhân của VNDCCH không phải (hay chưa phải) là quốc gia. Vì vậy tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đông không có hiệu lực ràng buộc trước pháp lý quốc tế.

KHÁC BIỆT GIỮA ĐÀN ÔNG BẤT TÀI VÀ ĐÀN ÔNG CÓ BẢN LĨNH

Chau Nguyen Thi

KHÁC BIỆT GIỮA ĐÀN ÔNG BẤT TÀI VÀ ĐÀN ÔNG CÓ BẢN LĨNH

So với việc gả cho một người đàn ông không có bản lĩnh, phải hạ thấp tiêu chuẩn cuộc sống của mình xuống, chi bằng cứ ở một mình, vui vẻ, tự do tự tại.

Nếu gả cho ai đó, vậy thì nhất định hãy “sáng mắt ra”, tìm lấy cho mình một người đàn ông có bản lĩnh để có thể dựa dẫm suốt đời.

Đàn ông, là trụ cột của một gia đình, đàn ông có bản lĩnh hay không, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới tương lai của cả một gia đình.

Đàn ông càng bản lĩnh, gia đình càng hạnh phúc, hòa thuận; đàn ông càng vô dụng, không khí gia đình càng u ám, buồn bã.

  1. Đàn ông có bản lĩnh, mạnh ở bên ngoài, Đàn ông bất tài, ra vẻ ở trong nhà

Ông trùm xã hội đen một thời của Thượng Hải, Trung Quốc, Đỗ Nguyệt Sanh từng có một câu nói nổi tiếng như này: “Người thượng đẳng, có bản lĩnh, không nóng nảy; người trung đẳng, có bản lĩnh, hơi nóng nảy; người hạ đẳng, không có bản lĩnh, vô cùng nóng nảy.”

Càng là đàn ông bản lĩnh, đạo đức, tâm thái và sự nhẫn nại của họ càng lớn, họ có thể kiểm soát được cảm xúc của bản thân, đặc biệt là sẽ không mang sự bực tức hay nóng giận theo cùng về đến nhà.

Ở bên ngoài, họ có thể là những trùm khởi nghiệp đang không ngừng nỗ lực vất vả phấn đấu, là những tinh anh có chút thành tựu nhỏ hay là những lãnh đạo của cả một tập đoàn lớn, ngày thường phải trải qua không biết bao nhiêu mưa gió bão bùng, hay những bực dọc không đâu, nhưng chỉ cần bước chân vào nhà thôi, họ sẽ trở thành một người chồng, một người ba dịu dàng.

Trong tâm lý của họ, nhà là nơi tránh gió, là chốn ấm áp và thoải mái nhất trong cuộc đời. Bất luận bên ngoài có phải chịu đựng bao nhiêu khổ sở vất vả, bao nhiêu mệt mỏi, chỉ cần về tới nhà, mọi thứ đều sẽ tan biến hết.

Đàn ông có bản lĩnh, mạnh ở bên ngoài

Còn người đàn ông vô dụng lại vừa hay ngược lại.

Ở bên ngoài, họ thấp cổ bé họng, làm gì cũng không xong. Khởi nghiệp không chịu được khổ, làm công thì không biết điều, sống kiểu cố gắng cho qua ngày.

Bản lĩnh của họ không lớn, nhưng sự nóng nảy thì vừa hay tỷ lệ nghịch. Đừng trông ở ngoài tỏ ra yếu đuối, thấp bé, một dạ hai vâng, một khi về tới nhà, họ sẽ trút hết những ấm ức và tức giận đó ra với vợ con.

Đàn ông đích thực là người che mưa chắn bão cho vợ con; đàn ông xấu xa chuyên tạo ra hỏa hoạn cho gia đình.

  1. Đàn ông bản lĩnh, thương vợ, Đàn ông bất tài, yêu bản thân

Đàn ông bản lĩnh thường có một gia đình hạnh phúc.

Họ có giáo dục, có lòng biết ơn, luôn ghi nhớ rằng đằng sau thành công của mình là những sự bỏ ra âm thầm của vợ, nó khiến họ phấn đấu vì vợ con và đồng thời yêu vợ con gấp bội.

“Gia hòa” mới có thể “vạn sự hưng”, đàn ông muốn thành công, gia đình trước tiên phải hạnh phúc, hòa thuận. Vì vậy, vị trí của gia đình trong lòng họ là vô cùng quan trọng.

Có bận rộn tới đâu, họ cũng sẽ dành thời gian ra để ở bên gia đình; có mệt mỏi tới đâu, họ cũng sẽ về nhà chia sẻ việc nhà với vợ con.

Họ hiếm khi tức giận với vợ, càng không tùy tiện đánh người ta, bởi lẽ họ biết, làm tổn thương tới người thân yêu, là biểu hiện của kẻ vô năng nhất.

Ngược lại, đàn ông vô dụng, họ luôn luôn chỉ biết yêu bản thân, bất kể là làm gì, họ đều sẽ nghĩ tới bản thân mình trước tiên.

Cãi nhau, trước giờ không bao giờ suy nghĩ tới cảm nhận của vợ, hai từ “nhượng bộ” không hề tồn tại, thay vào đó sẽ chỉ là những tiếng quát tháo cùng những hành động chân tay khiến người ta sợ hãi.

Công việc cũng không thấy bận rộn hơn vợ là bao, nhưng về tới nhà là như Phật sống, ngồi chềnh ềnh ra đó không biết làm gì. Không xem tivi thì chơi điện tử, không biết chia sẻ việc nhà với vợ, thậm chí tới con cái cũng lười quản.

Đối với mình thì rất hào phóng, lấy tiền hai vợ chồng tiết kiệm ra mua xe, thay đồng hồ, nhưng đối với vợ lại vô cùng keo kiệt, tới một chiếc váy đắt tiền một chút cũng không nỡ mua.

Đàn ông bất tài, yêu bản thân

Đàn ông bản lĩnh, yêu vợ nhất; đàn ông vô dụng, yêu mình nhất.

Đàn ông bản lĩnh, cầu tiến

Đàn ông bất tài, ca thán

Có câu nói rất đúng rằng, nghèo vật chất không đáng sợ, nghèo tinh thần mới là đòn chí mạng.

Đàn ông muốn có bản lĩnh, nội tâm nhất định phải kiên cường, phong phú.

Xuất thân không tốt, không sao hết; gia đình bình bình, cũng chẳng đáng lo, khó khăn là chuyện bình thường, nó cũng không phải là cái hố mà bạn không bao giờ nhảy qua được, việc cần thiết nhất đó là phải thay đổi quyết tâm và dũng khí ở hiện tại.

Đàn ông thành công, sẽ không bao giờ ca thán.

Họ lạc quan, tích cực hướng về phía trước, luôn luôn mang trong mình nguồn năng lượng nhiệt huyết, tích cực, có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Ông trời trước giờ không bao giờ phụ lòng người, càng nỗ lực, nhất định sẽ càng may mắn.

Đàn ông bản lĩnh, cầu tiến

Nhưng còn đàn ông vô dụng thì lại đang làm cái gì?

Không ca thán thì cũng là oán than.

Hôm nay than mình mệnh khổ, không được đầu thai vào gia đình giàu có, ba mẹ không cho được chút vốn nào.

Ngày mai ca thán xã hội bất công, bao nhiêu thịt cũng dành hết cho người khác ăn, bản thân đến cơ hội húp canh cũng không có.

Ngày kia ca thán vợ không tốt, không biết chia sẻ khó khăn với mình, không kiếm được nhiều tiền một chút để chia sẻ gánh nặng với chồng.

Đàn ông bất tài chính là loài sinh vật yếu đuối và tàn tật về tinh thần như vậy, chốt lại là một câu nói thôi: không phải tôi sai, là xã hội sai, ba mẹ sai, vợ sai, đều là mọi người không giúp được gì cho tôi!

  1. Đàn ông bất tài, ca thán

Ngày nay, vì sao ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn kết hôn?

Nguyên nhân chí tử nhất, không phải vì họ không muốn kết hôn, mà là bởi họ sợ bị gả cho nhầm người.

Nếu phải gả cho một người đàn ông không có bản lĩnh, vậy thì thả rằng “ở vậy nuôi thân béo mầm”, vậy còn sung sướng hơn.

Tuyệt đối đừng để hôn nhân của bạn, trở thành nấm mồ chôn vùi thanh xuân và cả cuộc sống của bạn!

Điều hối hận nhất mà một người già nói với chúng ta: Việc lập kế hoạch là tốt nhưng cuộc sống nhiều “biến số”, quan trọng nhất là sống trọn vẹn từng ngày!

Theo internet