S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Văn Vàng Bis

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Văn Vàng Bis

Trong những trang sổ tay trước, tôi đã có dịp ghi lại đôi điều về cuộc đời hoạt động của linh mục Nguyễn Văn Vàng (N.V.V) và những ngày tháng cuối cùng của ngài nơi trại kiên giam A 20. Tuần qua, có độc giả nêu câu hỏi: Cha Vàng đã “đột tử” ra sao trong trại tù Xuân Phước, nơi đã từng được mệnh danh là Thung Lũng Chết?

Thực sự, người tù N.V.V không lìa đời một cách đột ngột. Cái chết của ông đã được nhà nước hiện hành “định sẵn,” ngay từ khi ông vừa bị bắt:

“Khoảng tháng 8-1977, Mặt Trận Liên Tôn tức Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng 2 do Linh-mục Nguyễn Văn Vàng lãnh đạo bị bể. Cha Vàng và người em là Thiếu-tá Nguyễn Văn Viên cùng tất cả bộ phận đầu não và những người tham gia tổ chức bị bắt gần 100 người. Thiếu-tá Nguyễn Văn Viên là một trong những người Tiểu Đoàn Trưởng kỳ cựu của Lữ Đoàn Dù VNCH. Cha Vàng bị giam ở xà lim 25 khu C-1 và ông Viên giam ở xà lim 11 khu C-2 tại Phan Đăng Lưu.

 “Thời gian hỏi cung, Cha Vàng và ông Viên được đối xử rất đặc biệt làm ngạc nhiên tất cả tù ở khu C-1 và C-2. Chúng tôi ăn tiêu chuẩn mỗi ngày một khúc khoai mì buổi trưa và 1 chén cơm với nước muối vào buổi chiều, thì Cha Vàng và ông Viên được một tô cơm với thịt hoặc cá và một trái chuối tráng miệng, mỗi ngày trại trưởng đều xuống tận xà lim hỏi han sức khỏe…

 “Sự biệt đãi hai anh em Cha Vàng kéo dài hơn hai tháng cho đến khi kết thúc hỏi cung. Vụ án ra tòa, ông Nguyễn Văn Viên bị tử hình, Cha Vàng và ông Nguyễn Quốc Bảo, Ủy-viên Quân Sự của tổ chức bị kết án chung thân, những người khác trong Bộ Tham Mưu lãnh án 20 năm. Những người không ra tòa bị đưa đi tập trung cải tạo lao động.

“Năm 1982, gặp Cha Vàng ở trại Xuân Phước, tôi hỏi Cha vì sao Cha và ông Viên được “ưu đãi”, Cha Vàng giải thích đó là một thủ đoạn dụ cung rẻ tiền của chấp pháp…” (Nguyễn Chí Thiệp. Trại Kiên Giam. Los Angeles, CA: Sông Thu, 1992).

Thay vì bị tử hình như bào đệ Nguyễn Văn Viên, nhờ vào chức danh tu sỹ và uy tín cá nhân đối với giáo dân nên linh mục N.V.V chỉ bị kết án chung thân. Tuy thế, cái chết của ông thì đã được Cục Quản Lý Trại Giam “sắp sẵn” rồi – theo lời của người bạn chung tù (và cùng chung xà lim biệt giam) cho biết:

“Tết Nguyên Ðán năm 1984, chúng tôi lại trải qua một cuộc “xóa bài làm lại” trong khu biệt giam của Phân trại E thuộc A-20 Xuân Phước, nghĩa là phải thay đổi chỗ ở sau một màn tất cả lần lượt “bị” lùa ra giếng nước ngay bên cạnh ao thả cá rô phi sau khu biệt giam. Trời Tháng Giêng ở thung lũng tử thần lạnh như có ai cầm dao cắt vào da, nhất là khi trời vào tiết Xuân, gió hiu hiu làm lay động hàng dừa trong sân trại.

 “Cái lạnh thiên nhiên cộng với việc thiếu đường và chất béo từ 9 năm qua khiến cho buổi sáng ngày 30 Tết Nguyên Ðán năm 1984 trở thành buổi sáng không thể nào quên được trong đời. Chân tay anh em chúng tôi gần như tê liệt. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng đứng như trời trồng trước cửa biệt giam số 5 khi ngài được trật tự mở còng cho đi tắm và làm tổng vệ sinh buồng giam.

“Một tu sĩ Công Giáo nhỏ con, lanh lẹ như một con sóc, nổi tiếng hùng biện và can trường như ngài mà chỉ mới hơn 3 năm bị cùm trong xà lim, thân xác không khác gì người tù Do Thái trong các trại tập trung của Ðức Quốc Xã hồi Thế Chiến Thứ Hai.

“Linh Mục Vàng đứng lên được nhưng không thể nào bước đi được… Tôi được tháo cùm sau Linh Mục Vàng, hai đầu gối tê cứng, thân mình xiêu đổ khi đứng lên và cũng được hai tù hình sự dìu ra giếng nước. Một trong hai tù hình sự đứng kéo nước từ giếng lên để xối cho chúng tôi biết ông Vàng là linh mục nên nói: “Cha ngồi xuống dựa vào bức tường chắn cho đỡ lạnh. Anh cũng vậy. Em kéo nước lên sẽ dội ra ngoài để che mắt bọn nó. Cả hai người yếu quá rồi chỉ nên thay quần áo chứ không thôi thì ở dơ không chết mà chết vì cảm lạnh đấy.” Chúng tôi thấy người tù hình sự này nói có lý nên làm theo.

“Cả hai chúng tôi ngồi cho đến hết giờ tắm để lại được dìu ra khỏi giếng nước đến ngồi ở bờ hè bên bức tường hông nhà bếp nơi có thùng nước nóng mà tù cải tạo đội nhà bếp xin mang ra để phát cho những tù nhân biệt giam ra tắm. Tôi cho ca nước của mình múc một ca, uống hết một nửa, một nửa đưa cho Linh Mục Vàng.

 “Ngài uống hết rồi múc thêm một nửa ca nữa. Tôi hỏi ngài: “Bố vẫn còn khát hả” Ngài trả lời: “Uống phòng xa.” Ðộng từ “phòng xa” anh em chúng tôi dùng để chỉ thời kỳ bị nhục hình bằng chính sách hai muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối khi chúng tôi bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc nên mỗi khi bị gọi ra “làm việc” phải xin uống cho thật nhiều nước trước lúc bị dẫn trở lại buồng giam rồi đái ra để uống cho đỡ khát.” (Vũ Ánh. Thung Lũng Tử Thần. Westminster, CA: Người Việt Books, 2014).

Tôi cũng đã đi qua đôi ba nhà tù, và cũng có dịp tìm biết qua sách báo/phim ảnh về nhiều loại trại giam ở khá nhiều nơi nhưng chưa thấy nơi đâu (kể cả những trại tập trung của Đức Quốc Xã) mà tù nhân phải uống nước thải để sinh tồn cả. Với “chính sách hai muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối” mỗi ngày (và tình trạng thường xuyên “bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc”) mà tù nhân vẫn còn có thể sống sót thì mới là chuyện lạ.

Linh mục Nguyễn Văn Vàng lìa đời trong xà lim, tại Trại Kiên Giam A20 vào tháng 4 năm 1985, qua lời tường thuật (và cảm thán) của một người đồng cảnh –  nhà báo Vũ Ánh:

“Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn…

 “Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi. Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ.

 “Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.”

Có bao nhiêu tu sỹ (Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) và bao nhiêu người dân Việt Nam đã bị “giết nguội” trong nhà giam một cách dã man và tàn độc như thế – gần thế kỷ qua – trong chế độ hiện hành?

Trao đổi với với BBC, luật sư Phạm Công Út, trưởng văn phòng luật Phạm Nghiêm phát biểu:

“Một khi kết quả giám định pháp y những vụ này không được công khai và vẫn được xem là ‘bí mật nhà nước’ thì người dân càng hoang mang và hoài nghi không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi mình hoặc người thân được mời đến đồn công an.”

Không có nhà nước nào tồn tại mãi, những “bí mật” của mọi chế độ cũng thế. Rồi ra – chắc chắn – sẽ phải có những phiên tòa “muộn” về những cái chết oan khuất và thảm khốc của linh mục Nguyễn Văn Vinh (1971), thượng tọa Thích Thiện Minh (1978), linh mục NVV… Quá khứ cần phải được thanh thỏa để hậu thế có thể an tâm sống với hiện tại, và tránh bớt những lỗi lầm (cùng tội ác) cho mai sau.

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

Có một lần, một người bạn Mỹ dạy học chung với tôi bảo với tôi rằng: “Người Việt Nam bọn mày lúc nào cũng bảo người Mỹ bọn tao sống thực dụng. Bọn tao không sống thực dụng mà sống thực tế. Tao ở Việt Nam hơn chục năm nay thấy người Việt Nam mới sống thực dụng“.

Hơi nóng mặt, tôi hỏi lại: “Thế mày định nghĩa thế nào là thực tế, thế nào là thực dụng?”

Bạn tôi bảo:

“Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại.

Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.

Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào”.

Đã từng sống ở Mỹ một thời gian dài, tôi biết bạn tôi nói đúng.

Ở Mỹ, học sinh học vừa sức, không nhồi nhét, không quan tâm đến thành tích và cũng không có khái niệm trường chuyên lớp chọn. Bằng cấp đối với họ chỉ là một tờ giấy chứng nhận rằng họ đã đạt yêu cầu về mặt kiến thức lẫn chuyên môn ở một trình độ nhất định, không có gì ghê gớm cả. Cái họ quan tâm là trên thực tế, năng lực và kiến thức của anh có tương xứng với bằng cấp và vị trí của anh trong xã hội hay không. Ở Việt Nam thì bằng cấp và thành tích là thước đo quyết định địa vị cũng như thu nhập. Cha mẹ ép con cái học cố sống cố chết để vào trường chuyên lớp chọn rồi vào đại học. Học xong đại học thì phải cố bơi cho được cái thạc sĩ. Tất cả không phải vì kiến thức mà chỉ vì chỗ đứng trong xã hội. Kết quả là học được gì không quan trọng, có sử dụng được không cũng không quan trọng, thậm chí bằng giả cũng chả sao. Cái quan trọng nhất là kiếm sao cho được nhiều tiền.

Ở Mỹ, mỗi lần một công trình được thi công, người ta phải tính toán sao cho thiên nhiên ở đó bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất, hệ cân bằng sinh thái ít bị tổn hại nhất, môi trường sống của người và động thực vật không bị phá hoại, vì họ hiểu được một vấn đề thực tế rằng tài nguyên thiên nhiên là những di sản vô giá bắt buộc phải bảo tồn cho thế hệ sau.

Còn ở Việt Nam, miễn là kiếm được ít tiền bỏ túi, người ta sẵn sàng xả độc ra biển, hút cát dưới sông, phá rừng xây thuỷ điện, thậm chí san bằng cả một khu bảo tồn sinh thái độc đáo để xây resort, gắn cáp treo bất chấp hậu quả về sau.

Ở Mỹ, người dân quan tâm đến bầu cử, đến chính trị vì họ biết họ có quyền công dân cũng như mọi quyết định chính trị của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ.

Ở Việt Nam, người dân chỉ lo kiếm tiền vun đắp cho bản thân được ngày nào hay ngày nấy. Họ thờ ơ dửng dưng với những bất công tiêu cực của xã hội miễn sao những điều đó không xảy ra với họ là được. Tham nhũng tràn lan, nợ công tăng vọt, doanh nghiệp quốc doanh thất thoát nghìn tỉ… đối với họ đều không phải là vấn đề đáng bận tâm nếu ngày mai vẫn còn bia để dô dô.

Ở Mỹ người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự cường thịnh của quốc gia. Họ không làm những điều có lợi cho bản thân nhưng đi ngược lợi ích cộng đồng.

Ở Việt Nam, người ta thể hiện lòng yêu nước bằng cách ngồi tự hào khoe khoang bề dày lịch sử dân tộc với những chiến công của tổ tiên, hoặc lên cơn mê sảng vì một giải bóng đá khu vực hoặc lên mạng không tiếc lời thoá mạ một thằng Tây nào đó dám cả gan nói xấu Việt Nam. Còn lại họ thản nhiên dùng đủ mánh khoé xấu xa để giết đồng bào mình và trục lợi từ việc đó, từ việc rải đinh ra đường cho tới việc bơm hoá chất độc hại vào thực phẩm.

Ở Mỹ, người dân cân bằng cuộc sống bằng niềm tin tôn giáo. Họ đến nhà thờ để tìm sự yên bình trong tâm trí và sinh hoạt cộng đồng giúp đỡ những người cùng đức tin.

Ở Việt Nam, người ta đi lễ chùa, đền, miếu cầu tiền bạc, cầu trúng số, cầu thi đậu, cầu chức quyền… như thể thánh thần sẽ vì những thứ hương hoa xôi thịt rẻ tiền mà thoả mãn lòng tham không đáy của đám người trần mắt thịt.

Ở Mỹ, những dịp cưới hỏi hay ma chay, giỗ chạp là những sự kiện riêng tư. Họ tổ chức đơn giản, trang trọng và chỉ mời những người thực sự có ý nghĩa với họ.

Ở Việt Nam, ma chay hiếu hỉ cưới xin là những dịp tốt để làm rùm beng tốn kém vừa để chứng tỏ với thiên hạ vừa để kiếm tiền mừng.

Ở Mỹ, người ta dạy trẻ con cách tự lập, cách ứng xử giao tiếp, cách bảo vệ bản thân không bị xâm phạm, cách thoát hiểm… những kĩ năng thực tế con người cần để tồn tại và phát triển trong xã hội.

Ở Việt Nam, người ta nhồi vào đầu bọn trẻ một mớ kiến thức cao siêu nhưng vô dụng với đích đến là những bằng cấp.

Ở Mỹ, người ta đánh giá trí thông minh và năng lực của con người qua sự sáng tạo, phát minh và đóng góp cho xã hội. Anh là ai không quan trọng, miễn sao anh có đóng góp cho xã hội thì anh sẽ được sự công nhận và tưởng thưởng xứng đáng.

Ở Việt Nam, năng lực của con người được đánh giá qua, gốc gác, sự khôn lỏi ma lanh và khả năng dùng thủ đoạn để thăng tiến. Đóng góp cống hiến là chuyện hết sức xa vời.

Lối sống thực tế và lối sống thực dụng không hề giống nhau mặc dù chúng dễ gây ra nhầm lẫn. Lối sống thực tế mang đến những sự phồn vinh vững mạnh và lâu dài vì nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của những giá trị thực.

Ngược lại lối sống thực dụng triệt tiêu và đảo lộn những giá trị thực tiễn để tạo ra cái lợi nhỏ trước mắt, để lại những tác hại khôn lường. Chọn lối sống thực dụng, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho lựa chọn thiếu sáng suốt này.

Viên Huynh

Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới

Bà Akie Abe sinh năm 1962, kém chồng 8 tuổi. Bà vốn xuất thân từ một gia đình giàu có, với cha là chủ tịch của Morinaga & Co, một trong những công ty bánh kẹo lớn nhất Nhật Bản.

“Lần hẹn hò đầu tiên, chúng tôi ra ngoài ăn tối. Ấn tượng đầu tiên về chồng mình là ông ấy hài hước, trưởng thành và có kiến thức sâu rộng”.

Cặp đôi kết hôn vào năm 1987 và hai người không có con. Bà cho biết, trong giai đoạn đầu, bà đã điều trị vô sinh nhưng không thành công. Thời gian qua đi, việc mang thai đối với bà càng khó khăn do tuổi tác, và mọi người cũng không còn bảo bà cố gắng nữa. Bà cho biết chồng bà đã gợi ý chuyện nhận con nuôi, nhưng bà từ chối vì không tự tin “có thể nuôi dạy con nuôi đúng cách”.

Trong 1 cuộc trả lời phỏng vấn, bà Akie Abe cho biết bà chấp nhận hai vợ chồng sẽ không có con.

“Tôi nghĩ tất cả đều là số phận và tôi phải chấp nhận, thực tế là tôi kết hôn với một chính trị gia, rằng ông ấy trở thành thủ tướng và chúng tôi không được ban phúc để có con. Dù vợ chồng không có con trong 35 năm sống với nhau nhưng chồng bà luôn yêu thương bà như ngày đầu tiên”.

Ra ngoài cố Thủ tướng Shinzo Abe là 1 vị lãnh đạo hết lòng vì dân vì nước, về nhà là 1 người chồng yêu thương vợ hết mực. Thế giới không chỉ mất đi một nhà lãnh đạo vĩ đại mà còn mất đi người đàn ông đích thực.

Ảnh: Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới.

Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến – Trần Khuê

Trần Khuê – Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến

“Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng thảm thương, ai oán!”

Những câu trên được trích dẫn từ tập truyện O Chuột mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe, khi còn thơ ấu. Hơn nửa thế kỷ đã qua nhưng tôi vẫn tin rằng mình vừa ghi lại “gần” đúng nguyên văn, theo trí nhớ. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà côi cút đó, và có cảm tình hoài với tác giả của đoạn văn dẫn thượng.

Tô Hoài chắc chắn sẽ rất sung sướng khi biết có một người đọc đã nhớ nằm lòng cả một đoạn văn của mình, và (có lẽ) sẽ bớt sướng đi nhiều, nếu biết thêm rằng tôi chưa bao giờ đọc thêm một trang sách nào khác của ông.

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn – nhỏ) nào phải hoàn thành. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mãi chơi nên không rảnh để đọc sách vở của bất cứ ai.

Mãi cho đến khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt tôi mới bắt đầu để ý đến sách báo. Cũng như nhiều người dân miền Nam khác, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi  bỗng hoá ra rất rảnh, và rất … đói!

Tác phẩm duy nhất mà tôi tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập. Đây là bộ cuốn sách đồ sộ, giấy in cực tốt nhưng giá rất bèo nên được những bà và những cô bán hàng rong vô cùng ưa thích. Họ cần giấy để gói (hoặc để chùi) còn tôi thì cần một phần ăn nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua.

Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi chịu khó đi (lòng vòng) mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn, cho đỡ khổ cái dạ dầy!

Nói tình ngay, lỡ có thấy những tác phẩm của Tô Hoài – trong hoàn cảnh ấy – tôi chắc mình cũng sẽ ngó lơ thôi. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo dác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.

May mắn là tôi chui lọt.

Lưu lạc mãi, có hôm, tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài trong tác phẩm (Cây Bút, Đời Người, nxb Phương Nam 2002) của nhà phê bình xã hội & văn học Vương Trí Nhàn:

“Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế Mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng…  Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là công tác.” (sđd 264).

Tiểu sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung lang tang, ngổn ngang cả đống chức vụ, nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”. Toàn là những công việc chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.

Được thế thì đã phúc!

Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán (hẳn) có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – vẫn theo như ghi nhận của Vuơng Trí Nhàn: “Đại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.” (sđd 266).

Tôi thực muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vuơng Trí Nhàn chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” (chật hẹp) của Tô Hoài!

Đến như Nguyễn Tuân – dù vốn tính bất tuân – khi phải mặc đồng phục, trông cũng rúm ró và thảm hại chả kém gì cái hình ảnh Tô Hoài cả. Ở vào hoàn cảnh đó, mới hiểu và thông cảm cho sự cuống cuồng của một người – vốn tính đồng bóng và yếu bóng vía – như Xuân Diệu:

“Xuân Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc đồng quá tử vì đạo, rồi không giữ được ngòi bút của mình. Hơn ai hết, ông hiểu về những lưỡi gươm Damoclès thường xuyên treo trên đầu người làm văn nghệ. Khi nói chuyện này đột nhiên giọng ông đột nhiên nhỏ hẳn đi, khe khẽ thì thào. Rồi ông lắc đầu, ông le lưỡi, ý bảo rằng sợ lắm, mà cỡ các cậu thì càng phải nên biết sợ ngay thì vừa, nên nhớ là sau có hối cũng không kịp nữa” (sđd 295).

Xuân Diệu đã chết. Cái cung cách và thái độ ‘đột nhiên giọng nhỏ hẳn đi’, ‘khe khẽ thì thào”, “lắc đầu”, “le lưỡi” cũng … chết luôn. Thế hệ của những người cầm bút kế tiếp, không có vẻ gì là hào hứng và sẵn sàng tiếp nhận sự khiếp đảm mà Xuân Diệu muốn truyền đạt cho họ.

Trần Khuê là một trong những người này.

Ông đòi đổi tên Nước, tên Đảng, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, đòi Trường Chinh phải xin lỗi Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, tác giả của Khoán 10), đòi Tố Hữu phải xin lỗi những văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn, đòi Lê Đức Thọ phải xin lỗi những người trong “vụ án xét lại”, đòi lập Hội Chống Tham Nhũng …

Nói tóm lại là Trần Khuê không để yên cho bất – cứ – cái – gì và bất – cứ – ai, kể cả những nhân vật được coi là untouchable:

“Chúng ta đề nghị Tổng cục thống kê và Bộ tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dụ chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn trắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi … Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thê xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo …” (Trần Khuê – Ng. T. Thanh Xuân, Đối Thoại Năm 2000).

Đến cỡ như bác Hồ (dù đã mồ yên mả đẹp) mà còn bị hạch hỏi đủ điều như thế thì có ai khác mà được không bị … làm phiền. Mọi kẻ có chức quyền, từ Tổng Bí Thư trở xuống – kể cả ông TBT Giang Trạch Dân của nuớc bạn Trung Hoa vĩ đại – đều bị mang ra hỏi tội và chửi mắng (xối xả) vì sự ngu dốt, cũng như tội gian tham – của từng người một!

Thảo nào mà đã có lúc Trần Khuê được mô tả như một Sao Khôi hoặc Sao Khuê. Vì sao này (tiếc thay) lại “khi tỏ khi mờ,” theo nhận xét của một vị thức giả cùng thời – nhà văn Phạm Đình Trọng:

Trần Khuê thấy được giữ lại thi thể Hồ Chí Minh trong hòm kính dù đặt trong nhà hầm vẫn là tênh hênh trên mặt đất, là không thuận ý nguyện cuối cùng, ý nguyện thiêng liêng nhất của người chết, không thuận qui luật tự nhiên, là đày đọa thân xác người quá cố và tạo ra cái thùng không đáy ngốn tiền mồ hôi nước mắt dân. Nhận ra những cái có hại sờ sờ như vậy, Trần Khuê đòi đốt xác Hồ Chí Minh nhưng hồn vía Trần Khuê vẫn thuộc về Hồ Chí Minh.

Sắt son với con người rước họa cộng sản về đày đọa người dân Việt Nam, thờ phụng con người mất gốc không còn hồn Việt Nam là khoảng mờ rất đáng tiếc của ngôi sao Khuê họ Trần.

Kể cũng “hơi” tiếc thật nhưng vẫn hơn rất nhiều vị thức giả (cùng thời) chỉ sống cả đời trong cái khoảng mờ!

Tưởng Năng Tiến
7/2022

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? – Cha Vương

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không?

Chúc bạn một weekend vui vẻ hạnh phúc bên cạnh những người thân thương. Đừng quên cầu nguyện cho chiến tranh được chấm dứt bên nước Ukraine nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 08/07/2022

GIÁO LÝ: Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? Tất cả những ai đã được Rửa tội đều thuộc về Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, những người đã được rửa tội, dù không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, họ cũng được gọi cách chính đáng là Kitô hữu, và do đó họ là anh chị em với chúng ta. (YouCat, số 130)

SUY NIỆM: – Những đổ vỡ trong Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô đều xuất phát từ những bóp méo giáo huấn của Chúa Kitô, từ những lầm lỗi của con người và từ những thiếu sót trong ý muốn hòa giải, nhất là nơi các vị hữu trách trong Hội Thánh. Ki tô hữu ngày nay không chịu trách nhiệm về những chia rẽ trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên vì muốn cả nhân loại được cứu rỗi, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong các Hội thánh và các cộng đồng đã ly khai khỏi Hội Thánh công giáo. Tất cả những ân sủng sẵn có, như Kinh Thánh, các bí tích, đức tin, cậy, mến, và các đặc sủng khác đều do Chúa Kitô mà đến. Ở đâu có Thánh Thần Chúa Kitô, ở đó có một năng lực nội tại thúc đẩy phải “khôi phục lại sự hiệp nhất”, bởi vì ai thuộc về Thánh Thần đều khao khát tập họp lại với nhau.

❦Các Hội Thánh và các cộng đồng Hội Thánh. Nhiều cộng đồng Kitô hữu khắp thế giới lấy tên là Hội Thánh. Đối với người Công giáo, chỉ là Hội Thánh khi trong cộng đồng đó các bí tích của Chúa Giêsu Kitô được duy trì nguyên vẹn. Điều này đúng với các cộng đồng Chính thống và các Hội Thánh Đông phương trước hết. Trong những cộng đồng Hội Thánh phát xuất từ cuộc cải cách của Tin lành, các bí tích không được duy trì nguyên vẹn. (YouCat, số 130 t.t.)

LẮNG NGHE: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (Ga 15:7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa luôn ao ước sự hiệp nhất Ki-tô giáo giữa những người tin vào Chúa Giêsu, xin giúp con vượt qua những gương xấu của sự chia rẽ, biết gạt sang một bên những ưu tiên riêng để thúc đẩy những gì mang lại sự hiệp nhất và công ích chung cho Giáo Hội.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Chúa Thánh Thần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Ki-tô giáo.

From: Đỗ Dzũng

Phát hiện lỗ thủng ozone cực lớn đe dọa 1/2 dân số thế giới, trong đó có Việt Nam

Phát hiện lỗ thủng ozone cực lớn đe dọa 1/2 dân số thế giới, trong đó có Việt Nam

Một lỗ thủng ozone ‘khổng lồ’ vừa được phát hiện tại vùng nhiệt đới, khi nó có diện tích lớn gấp 7 lần so với lỗ thủng nổi tiếng tại Nam Cực.

Lỗ thủng ozone tại Nam Cực – Ảnh: NASA

Mới đây, tạp chí khoa học AIP Advances cho biết lỗ thủng ozone tại vùng nhiệt đới đã có thể hoạt động từ những năm 1980, nhưng gần đây mới được phát hiện bởi các nhà khoa học Canada.

Với diện tích gấp 7 lần so với lỗ thủng trước đó tại Nam Cực, sự tồn tại xuyên suốt trong năm của lỗ thủng nhiệt đới và không có chu kỳ đóng như của lỗ thủng Nam Cực cũng đã khiến nhiều chuyên gia về khí tượng lo lắng.

Thật vậy, thay vì tuân theo chu kỳ mở ra và đóng lại vào thời điểm tháng 9 và 10 như tại Nam Cực, lỗ thủng tại vùng nhiệt đới hầu như mở xuyên năm. Điều này khiến nhiều người phải đối mặt với nguy cơ tiếp xúc với mức độ bức xạ UV lớn hơn quanh năm, tạp chí khoa học AIP Advances cho biết.

“Phát hiện mới này khiến phần lớn dân số toàn cầu sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vì các vùng nhiệt đới là nơi sinh sống của khoảng một nửa dân số thế giới (trong đó có Việt Nam)”, tạp chí khoa học AIP Advances thông tin.

Ông Qing-Bin Lu, nhà khoa học thuộc Đại học Waterloo (Canada), cho biết sự tồn tại của lỗ thủng ozone vùng nhiệt đới có thể gây ra mối quan ngại lớn trên toàn cầu.

Trên thực tế, hiện tượng này xảy ra khi lượng ozone (O₃) bị mất đi khoảng 25% trong bầu khí quyển. Từ đó khiến bức xạ tia cực tím có thể dễ dàng xâm nhập vào bề mặt Trái đất và làm tăng nguy cơ bị ung thư da cũng như các tình trạng sức khỏe khác như đục thủy tinh thể, hệ thống miễn dịch bị suy yếu.

Tuy nhiên, ông Lu cho biết phát hiện mới này rất quan trọng, khi nó có thể giúp các nhà khoa học đánh giá về sự thay đổi của tầng ozone, tia cực tím và sự ảnh hưởng mà nó gây ra với con người cũng như hệ sinh thái.

Nguồn: Tuổi Trẻ Online

Chuyện ông Boris Johnson từ chức và người Việt không chịu lớn

Chuyện ông Boris Johnson từ chức và người Việt không chịu lớn

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

8-7-2022

Vậy là Boris Johnson, đã từ chức sau hơn hai năm giữ chức Thủ tướng Anh.

Theo nhận định của giới quan sát thì ông có một sự nghiệp chính trị rất đặc biệt. Từ một nhà báo đến một chính khách nổi tiếng, ít ai thành công như ông.

Dưới bàn tay của ông, nhiều dự luật khi phải bỏ phiếu, đều được chấp thuận, trong đó nổi bật nhất là Brexit, đưa Anh quốc ra khỏi Liên minh Âu châu.

Boris Johnson nhiều cá tính. Tuyên bố thẳng thừng, đôi khi không như các chính khách truyền thống, phát ngôn kỹ lưỡng và cẩn trọng.

Ông cũng là vị lãnh đạo đầu tiên của G7 sang thăm Kyiv vào trung tuần tháng 4/2022 khi cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt. Ông tăng cường sự trợ giúp về quân sự cho Ukraine. Chính Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, gọi Boris Johnson là một “người bạn lớn của Ukraine”.

Boris Johnson còn quay lại thăm Kyiv một lần nữa vào ngày 17/6/2022 với những tuyên bố cứng rắn về phía Nga. Ông nhận định thẳng thắn rằng phía Nga đã gây ra “những tội ác chiến tranh không thể chối cãi”.

Ông cũng lập lại sự hậu thuẫn về quân sự và sự đoàn kết với nhân dân Ukraine trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nga.

Thái độ cứng rắn của Boris Johnson trong vấn đề Ukraine đã đưa ông lên vai trò lãnh đạo trong giới chính khách phương Tây trong cuộc đối đầu với Putin.

Hôm nay, Boris Johnson đã tuyên bố từ chức. Ông không còn cách nào khác để tiếp tục đứng đầu chính phủ. Phải đợi đến khi 57 nghị sĩ và bộ trưởng trong chính phủ của ông từ chức thì ông mới tuyên bố ra đi. Đảng Bảo thủ không còn muốn ông đứng đầu nữa, không còn muốn ông là Thủ tướng nữa. Trong bối cảnh ấy, trong một quốc gia dân chủ, Boris Johnson phải từ chức.

Boris Johnson từ chức. Chắc chắn không ít người Anh tiếc nuối và người dân Ukraine chắc cũng buồn và lo lắng.

Và cũng không ít người Việt xem đó là một thuyết âm mưu của đảng Dân chủ tại Mỹ nhằm hạ bệ Boris Johnson, chỉ vì ông muốn giúp Ukraine còn Biden và Obama thì không muốn…

Không ít người Việt đến giờ vẫn còn “hận” ông Obama lắm, dẫu họ chỉ là công dân của nước CHXHCN Việt Nam xa xôi.

Hận Biden, hận Obama nên chụp mũ cái chính phủ của nước Mỹ ngày nay là hèn nhát, là bỏ rơi Ukraine.

Chưa kể các thuyết âm mưu không kém phần ly kỳ và ngập mùi tình báo. Đó là Putin đã lũng đoạn chính trường Anh quốc. Mua chuộc các chính khách đảng Bảo thủ nhằm lật đổ Boris Johnson vì ông này dám đối đầu với Putin.

Và họ cũng không quên “đi guốc trong bụng” Tập Cận Bình để đưa ra những lý giải cho sự từ chức của ông Thủ tướng Boris Johnson.

Nhưng có một điều dường như họ cố tình quên và không chịu hiểu, đó là sự khác biệt căn bản giữa một quốc gia độc tài và một quốc gia dân chủ như Anh quốc: không còn sự tín nhiệm thì dẫu có là ai, có khả năng như thế nào thì cũng phải ra đi. Qui luật khắc nghiệt của cuộc chơi dân chủ là thế.

Boris Johnson trong hơn hai năm làm Thủ tướng đã để nhiều scandal xảy ra. Khi toàn nước Anh bị phong toả, đóng cửa để phòng ngừa Covid thì ông lại để cho các buổi tiệc diễn ra tại số 10 Downing Street vào dịp Noel 2020. Ông cũng tham gia và bỏ mặc những biện pháp nghiêm ngặt phòng ngừa đại dịch. Không chỉ một lần mà là cả chục lần các buổi tiệc như thế đã diễn ra trong các trụ sở của các Bộ khác nhau.

“Partygate” đã khiến cho cái ghế của ông bị lung lay.

Boris Johnson còn bị tai tiếng bởi vụ Owen Paterson. Đây là một người bạn thuộc đường dây “vận động hành lang” của Boris Johnson. Owen Paterson đã chấp nhận những khoản tiền của giới tài phiệt về nông nghiệp để đổi lại những sự can thiệp hay giúp đỡ tại Quốc hội.

Rồi vụ bê bối về tài chính khi báo chí khui ra toà nhà của ông ở (số 11 Downing Street) được sửa chữa và ông đã không tự bỏ tiền túi để trang trải chi phí.

Khi Boris Johnson đi nghỉ hè vào năm 2019 cũng bị phanh phui khi ông chấp nhận sự đài thọ của một nhân vật giàu có và thân thiết với đảng Bảo thủ. Boris Johnson đã nhận không ít chỉ trích khi mất nhiều thời gian để làm sáng tỏ vụ việc này

Hai năm cầm quyền còn để lại những “dấu ấn” về những vụ bê bối tình dục. Có tất cả 7 nghị sĩ của đảng Bảo thủ bị tố cáo quấy rối tình dục đối với phụ nữa, nam giới và trẻ vị thành niên.

Và những lần như thế, Boris Johnson không dứt khoát lên án các vụ việc trên. Ông tìm cách chối bỏ mọi liên quan và khi ông lên tiếng lại là để tìm cách bảo vệ cho các vị nghị sĩ trên.

Tất cả các scandal trên khiến ông bị suy yếu nhưng ông luôn tìm ra được nguồn năng lượng để vượt qua mọi sự chỉ trích của phe đối lập và của chính đảng Bảo thủ nhằm bảo vệ cái ghế của mình. Ngay cả vụ “Partygate”, ông cũng “thoát chết” với 59% phiếu tín nhiệm của các nghị sĩ đảng Bảo thủ.

Tuy nhiên vụ scandal tình dục mới đây với nhân vật Chris Pincher là giọt nước tràn ly khiến Boris Johnson bị mất sự tín nhiệm hoàn toàn của đảng Bảo thủ.

Chris Pincher, một nhân vật không tiếng tăm được Boris Johnson bổ nhiệm vào vai trò trợ tá, chịu trách nhiệm về kỷ luật Quốc hội cho các nghị sĩ đảng Bảo thủ. Nhưng ông này lại có nhiều tai tiếng về các vụ quấy rối tình dục. Khi bị báo chí lên tiếng, Chris Puncher đã phải từ chức.

Ban đầu, Boris Johnson chối bỏ khi cho rằng ông ta không biết gì về các tật xấu của Chris Pincher nên mới bổ nhiệm ông này. Tuy nhiên, sau đó ông thừa nhận có biết những tai tiếng ấy!

Vì vậy, chỉ trong vài ngày, vụ án Pincher đã trở thành tâm điểm cho những vụ bê bối lớn đánh dấu kỷ nguyên “BoJo”: bê bối tình dục, và một ông Thủ tướng nói dối về những gì ông ta biết hoặc không biết.

Boris Johnson “bị đẩy” ra khỏi ghế Thủ tướng chính là do những vụ bê bối trên chứ chẳng có thuyết âm mưu nào cả.

Không chịu nhìn và chấp nhận sự thật, tức đồng nghĩa với việc hạ thấp một xã hội dân chủ thuộc hàng gương mẫu như nước Anh với các chính quyền độc tài toàn trị như Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam hay so sánh nước Anh với một nền “dân chủ kiểu Putin” như nước Nga.

Dẫu có tài và có làm nên chuyện nhưng không gương mẫu và chuẩn mực trong tư cách và đạo đức thì cũng phải từ chức. Luật chơi của chính trị dân chủ là vậy. Sự minh bạch luôn phải được tôn trọng.

Nhiều người Việt, cả trong lẫn ngoài nước, vốn có thái độ, kiểu “kệ mẹ nó, miễn làm được chuyện lớn thì cứ để nó làm!”

“Chuyện lớn” theo họ là làm giùm họ những gì họ ao ước hay mơ tưởng! Bất chấp tư cách, đạo đức hay những bê bối, hậu quả xấu gắn liền!

Nên mới có chuyện cứ để ông Boris Johnson làm vì ông ủng hộ Ukraine (điều không thể chối bỏ).

Nhưng người Anh, dân Anh, dân trí họ vốn cao hơn, họ sẽ không bao giờ chấp nhận những chuyện bê bối của ông Thủ tướng Boris Johnson.

Người Việt mình không chịu lớn. Nhìn đâu cũng thuyết âm mưu và sẵn sàng bảo vệ cái xấu, cái ác để đạt được mục tiêu.

“Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, bất chấp đúng sai là thế!

HUYỀN NHIỆM CỦA ƠN GỌI

HUYỀN NHIỆM CỦA ƠN GỌI
“Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại”; “Và Ngài đã sai mười hai vị này đi”.

“Tất cả những người khổng lồ của Chúa đều là những người yếu đuối!”. Hudson Taylor, nhà truyền giáo vĩ đại, trả lời như thế cho một người bạn khen ngợi ông. “Dường như Chúa đã tìm khắp thế giới để kiếm một người đủ yếu để làm công việc của Ngài; và khi tìm thấy tôi, Ngài nói, ‘Con đủ yếu, con sẽ làm được!’”. Đó là ‘huyền nhiệm của ơn gọi!’. Những người yếu đuối lại là những người khổng lồ đã làm những điều vĩ đại cho Chúa, vì họ tin vào sự hiện diện của Ngài.

Kính thưa Anh Chị em,

Ơn gọi của ‘người khổng lồ’ Hudson Taylor lại được gặp thấy trong Tin Mừng hôm nay qua những ‘nhân vật chính’ đầy yếu đuối mà với họ, Chúa Giêsu sẽ xây dựng Nước Trời; Nhóm Mười Hai! Chúa Giêsu từ chối “sô diễn một người!”. Họ là những người sẽ truyền bá đức tin bằng cuộc sống, lời nói, việc làm và cả cái chết. Không có sự đáp trả của những con người yếu đuối này, sẽ không có Nước Trời! Qua đó, chúng ta cảm nhận sự ‘huyền nhiệm của ơn gọi!’.

Nhiều người đã ở trên núi với Chúa Giêsu vào ngày hôm ấy, nhiều người bị thu hút bởi Ngài và khao khát được gần gũi Ngài, nhưng chỉ có mười hai người nhận được lời kêu gọi để trở thành tông đồ. Chúa thích ai, Ngài chọn người ấy! Không ai hiểu tại sao mình được chọn; muốn biết, cứ hỏi Ngài! Chúng ta được gọi bằng tên, có nghĩa là Chúa Giêsu biết rõ chúng ta khi Ngài gọi, bao gồm tất cả mọi khiếm khuyết và yếu đuối của mỗi người. Ngài không hỏi Nhóm Mười Hai về sở thích, bảng điểm khảo sát, hoặc lý lịch của họ. Sự lựa chọn của Chúa Giêsu thuộc quyền tối cao của Chúa Cha, thể hiện qua việc Ngài thức suốt đêm để cầu nguyện. Nhóm Mười Hai không thể nghĩ rằng, đã có một số sai lầm, hoặc một số tính toán sai lầm. Vì lẽ, chính tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng không lừa dối, cũng không thể bị lừa dối, đang nói!

Chúa Giêsu đã tự do kêu gọi; cũng trong tự do, Nhóm Mười Hai đã đáp lại! Ngài không đưa các thiên thần từ trời xuống để áp đảo họ hợp tác; Ngài chỉ cầu nguyện với Chủ Mùa. Ơn gọi làm tông đồ không phải là vấn đề ai đó muốn trở thành một tông đồ, cũng không phải là tài năng hay cảm xúc hấp dẫn của ai đó đối với điều này, điều kia; nhưng là sự nhận biết dựa trên đức tin về việc Chúa đang mời gọi và chúng ta đáp lại. Tại sao tôi đang ở vị trí ơn gọi hiện tại trong bậc gia đình hay đời dâng hiến này? Đó là ‘huyền nhiệm của ơn gọi’ mỗi người. Không bao giờ chúng ta có thể biết đầy đủ, vì chỉ Thiên Chúa mới biết chiều kích sâu thẳm sự khôn ngoan của Ngài. Đây là mầu nhiệm Nước Trời đầu tiên chạm đến cá nhân mỗi người chúng ta: Thiên Chúa gọi, Ngài muốn điều đó, và chúng ta thưa “Vâng!”. Và đây là câu trả lời duy nhất mà một môn đệ phải tìm kiếm; bất cứ điều gì khác sẽ chỉ làm chậm trễ sự cấp bách của sứ mệnh mà thôi!

Qua bài đọc thứ nhất hôm nay, ơn gọi lạ lùng của Hôsê cũng là một ‘huyền nhiệm của ơn gọi’. Hôsê đã đáp lại tiếng Chúa một cách nhanh nhạy khi ông được Ngài sai đến với dân, một dân chạy theo bụt thần. Hôsê lên tiếng kêu gọi họ trở về với Ngài, “Đây là lúc phải tìm kiếm Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca cũng lặp đi lặp lại một sứ điệp, “Hãy không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan!”.

Anh Chị em,

“Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại!”. ‘Huyền nhiệm của ơn gọi’ không chỉ được gặp thấy nơi Hudson Taylor, Nhóm Mười Hai, nhưng rõ nét nhất nơi Chúa Giêsu. Ngài là Thiên Chúa toàn năng, trời cao không chứa nổi, lại bỏ trời mà xuống trong hình hài một phàm nhân. Ngài đến thực thi ơn cứu độ trong kế hoạch vĩ đại của Chúa Cha; và Ngài đã chu toàn thánh ý Chúa Cha một cách tuyệt vời, “Của ăn tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi”; Ngài đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, mỗi người chúng ta cũng hãy sống làm sao như muốn nói với Chúa Giêsu rằng, tất cả công việc của chúng ta hôm nay sẽ là sự đáp lại tiếng Ngài đã gọi để mỗi người trở nên ánh sáng cho những người khác trên thế giới, dẫu chúng ta hèn yếu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu con chưa là ‘người khổng lồ’ của Chúa, nhưng xin cứ chúc lành cho những công việc nhỏ bé của con; với Chúa, con tin rằng, chúng cũng có thể trở thành vĩ đại!”, Amen.

From: KimBang Nguyen

Cán cân lực lượng giữa Nga và Ukraine

Cán cân lực lượng giữa Nga và Ukraine

06/07/2022

Phan Châu Thành

1. Về thực lực, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang mạnh hơn Ukraina nhiều lần. Nhưng về lâu dài, Ukraina có sự hậu thuẫn của khoảng 40 quốc gia giàu nhất thế giới – và theo những cam kết họ đã đưa ra, thì tiềm lực của Ukraina sẽ mạnh hơn Nga nhiều lần.

2. Về vũ khí, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang nhiều hơn và mạnh hơn Ukraina nhiều lần. Nhưng về lâu dài, cùng với sự cấm vận của các nước phương Tây, Nga không thể tiếp tục sản xuất các vũ khí tối tân, chỉ có thể dùng “bom đạn ngu”, thiên về số lượng chứ không phải chất lượng. Ngược lại, Ukraina ngày càng có nhiều vũ khí hiện đại, được viện trợ số lượng ngày càng lớn, nên càng để lâu thì sẽ càng chiếm ưu thế hơn.

3. Về quân đội, trên lý thuyết và hiện tại, Nga đang nhiều hơn. Nhưng quân đội Ukraina đang được huấn luyện liên tục, rất nhiều và chuyên nghiệp, về lâu dài, quân số Ukraina sẽ ngày càng trội hơn, chưa kể họ có lý tưởng để chiến đấu. Trong khi Nga lo vơ vét lính từ khắp các vùng, đủ sắc tộc, vùng miền, ngày càng tỏ ra là một đám ô hợp, thổ phỉ, vô kỷ luật.

4. Về chính trị, Ukraina luôn luôn thắng cho tới giờ, và cũng nhờ có vậy, họ mới tồn tại được tới hôm nay – khi cả thế giới văn minh và tiến bộ nghiêng mình trước sự anh dũng của họ, rồi nhìn Nga với con mắt khinh bỉ cùng sự ghê tởm. Đồng minh của Ukraina là Mỹ, EU, Nhật Bản, Úc… trong khi đồng minh của Nga là Belarus, Trung Quốc, Syria… “Hãy chỉ cho tôi những người bạn của bạn, tôi sẽ nói được bạn là người thế nào!” – câu nói muôn thủa đó chưa bao giờ là sai cả.

Nhìn gần thì tưởng Nga “ngon”, nhưng phóng tầm mắt ra xa chút, là sẽ thấy rằng Nga càng ngày càng “không có cửa”.

Thời gian qua, chính phủ Nga của Putin bộc lộ rõ bản chất dối trá, thủ đoạn ti tiện, tàn bạo – hãy nhớ rằng, nếu họ khốn nạn được trong chuyện này, thì có lý do gì để chuyện khác họ tử tế hơn đâu?

Chưa kể đi với Nga lúc này là sẽ chống lại cả thế giới văn minh nữa.

Không ai bắt mỗi chúng ta phải lựa chọn “bên nào”, nhưng việc đưa ra quyết định bộc lộ bản chất của chính chúng ta, tầm nhận thức, suy nghĩ – “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” thì chưa bao giờ là sai cả. Mà càng chần chừ, chờ đợi thì lại thành “trâu chậm uống nước đục” – một miếng khi đói bằng một gói khi no, bởi đến lúc họ thành công rồi mới lao vào xum xoe, thì ai người ta coi trọng?

Do bản thân mỗi chúng ta cả thôi mà.

P.C.T.

Nguồn: FB chau.t.phan

Những con số nóng mặt

Những con số nóng mặt

Lưu Trọng Văn

6-7-2022

Việc phổ cập giáo dục và miễn học phí đã được hiến định từ Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, trong đó có quy định: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí…”; Hiến pháp những năm 1959, 1980 đều có quy định tương tự và còn cao hơn nữa.

Luật Giáo dục năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020, trong đó nêu rất cụ thể “giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.”

Vậy thì kiến nghị của TS Nguyễn Kim Sơn bộ trưởng GD&ĐT vừa trình chính phủ yêu cầu miễn phí cho học trò trung học cơ sở hệ quốc doanh là quá… quá ư là chậm trễ.

Có thể nói toẹt: Chậm trễ đến mức xấu hổ. Chậm trễ đến mức thấy quá xúc phạm lòng tự tôn của người Việt và của quốc gia mang tên cộng hoà XHCN.

Thước đo để một thể chế tự hào có mang tính XHCN hay không, bao giờ giáo dục cũng là chỉ số đầu tiên.

Vậy thì nền giáo dục của VN đang ở đâu nếu tính theo quyền học trò được miễn phí khi đến trường?

Theo TS Nguyễn Hồng Cổn thì:

Bảng thống kê thời lượng giáo dục bắt buộc (ứng với số năm học được miễn phí hoàn toàn) ở 171 nước trên thế giới, đăng trên trang NationMaster – một trang chuyên cung cấp số liệu thống kê và so sánh giữa các nước (xem link):

Xem kỹ cái bảng này thì thấy trong 171 nước có:

– 6 nước miễn phí 13 năm

– 9 nước miễn phí 12 năm

– 18 nước miễn phí 11 năm

– 35 nước miễn phí 10 năm

– 37 nước miễn phí 9 năm

– 17 nước miễn phí 8 năm

– 15 nước miễn phí 7 năm

– 27 nước miễn phí 6 năm

– 6 nước miễn phí 5 năm

– 1 nước miễn phí 4 năm

Như vậy Việt Nam xếp thứ 165/171 đồng hạng với 5 nước vào loại lạc hậu nhất thế giới đó là Pakistan, Banglades, Nepal, Myanma, Guinea có số năm miễn học phí ít nhất (5 năm), chỉ hơn một nước duy nhất là Angola (4 năm).

Không biết khi đưa ra kiến nghị miễn phí cho học sinh trung học cơ sở, ngài bộ trưởng GD&ĐT có gửi cho chính phủ và đặc biệt cho Quốc hội các số liệu tụt hậu ê chề đến nóng mặt dân Việt này không?

Mà nếu chỉ dân Việt nóng mặt thì có tác dụng gì cơ chứ?

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Chết Không Nhắm Mắt

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Chết Không Nhắm Mắt

                                        Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ. Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của face booker Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”

Thằng chả hiền thiệt chớ. Cái ba lô xẹp lép hà. Ngó thấy mà thương. Là kẻ cầm súng, thuộc phe thắng trận, đương sự có thể thu góp được chiến lợi phẩm nhiều hơn thế.

Bên thua cuộc, rõ ràng, không mất mát chi nhiều mà Bắc/Nam đã được “nối vòng tay lớn” – theo như cách nói của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Rồi ra, tác giả còn dự tưởng, sẽ có những đoàn tầu thống nhất “toả khói trắng hai bên đường,” những đám “trẻ thơ đi hát đồng dao” khắp ngõ, và “mọi người ra phố mời rao nụ cười.”

Họ Trịnh, có lẽ, thực lòng tin tưởng như thế. Niềm tin của ông cũng được không ít người cùng thời chia sẻ. Sự thực, tiếc thay, khác thế. Sau ngày “Nam/Bắc hoà lời ca” thì nụ cười gần như biến mất trên môi của mọi người dân Việt. Dù thuộc bên thắng cuộc, những bộ đội phục viên cũng không hề được hân hoan cười đón khi họ trở về:

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ… ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là … họ được quy là công thần gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.” (Vi Đức Hồi – Đối Mặt, Chương II).

Đoạn hồi ký thượng dẫn giúp cho độc giả hiểu tại sao vỉa hè Hà Nội lại đông đảo những người làm nghề cửu vạn. Họ sống ra sao?

“Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường.” (Tô Hoài. Chiều Chiều. Phương Nam, Hà Nội: 2014).

Giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại mà trải chiếu “đéo nhau huỳnh huỵch” thì (ngó) cũng hơi khó coi. Tuy thế – và được thế – vẫn hơn hẳn nhiều bạn đồng đội (không may) khác, đang “nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng.”

Hạnh phúc hay đau khổ (nghĩ cho cùng) chỉ là sự so chiếu, và mọi so chiếu đều tương đối cả. Nói chi đến những người lính vô danh, ngay cả một nhân vật tiếng tăm cỡ như thi sĩ Tế Hanh (“từng là ủy viên ban chấp hành hoặc thường vụ Hội Nhà Văn VN, từng mười năm liền phụ trách đối ngoại của hội, từng có chân trong ban phụ trách nhà xuất bản Văn học”) đến cuối đời cũng đành chép miệng : “Trải qua hai cuộc chiến tranh mình còn được sống, được làm thơ, còn may mắn hơn khối người khác, thế là được rồi.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Phương Nam, Hà Nội: 2002).

Vâng, đúng thế. Còn sống là “may mắn hơn khối người” rồi!

Theo thống kê (chắc không khả tín) của Tổng Cục Chính Trị thì đến năm 2012, toàn quốc chỉ có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Wikipedia tiếng Việt cho biết thêm:

“Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý cho 44.253 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.”

Có bà bị lọt sổ vì không đủ “kiên trinh” nên đã (lỡ) đi thêm bước nữa – theo như tường trình của Tuổi Trẻ Online:

“Chúng tôi đến khi bà Trần Thị M. đang ăn tối ngay trên giường. Bà đã ở trên giường như vậy gần ba năm rồi, kể từ khi đôi chân không còn tự đứng lên được nữa. Ấy thế nhưng khi hỏi đến chuyện xưa, đôi mắt bà sáng lên. Bà say sưa kể về những ngày hoạt động cách mạng, những ngày tù ngục đòn roi tra tấn, thương tích tới 75% (thương binh hạng 2/4)… Vượt qua được hết, chỉ không chịu nổi mỗi lúc nghe tin chồng, tin con thôi” – bà chợt trầm giọng. Ba lần ‘không chịu nổi’ ấy là vào năm 1962, ông Võ Mười, chồng bà, hi sinh khi bà mới 30 tuổi; năm 1964, con trai út Võ Danh của bà bị bắn chết khi vừa 6 tuổi, đang được giao việc cảnh giới cho các chú cán bộ họp; năm 1971, con trai lớn Võ Thái làm giao liên cho ban binh vận Khu ủy Khu V hi sinh ở tuổi 16.

Còn lại một mình giữa đạn bom, hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà gá nghĩa với một người đồng đội, ông Thái Văn Thới. Chiến tranh vẫn ác liệt, đâu biết mai này sống chết thế nào. Thương nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau thì về với nhau thôi” – bà kể. Ngày 21-2-2014, UBND P.12, Q.Bình Thạnh đã tổ chức cuộc họp để xét duyệt và đề nghị Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng cho bà. Phường đã có tờ trình về trường hợp của bà gửi Phòng Lao động – thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) Q.Bình Thạnh, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM. Tuy nhiên, sau đó gia đình bà nhận được thông báo bà chưa được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng do đã… tái giá.”

Phải chi cái hồi giao “công tác cách mạng” cho hai đứa nhỏ (6 tuổi và 16 tuổi) mà Nhà Nước cũng xét (nét) kỹ càng như vậy thì đỡ cho mẹ Trần Thị M. biết mấy. Dù sao, vẫn còn có điều an ủi là nhờ đang sống ở thành phố mang tên Bác nên tờ trình về trường hợp của bà cũng đã được gửi tới Sở LĐ -TB&XH TP.HCM và đã được cứu xét (rồi) từ chối!

Có mẹ không nhận được danh hiệu anh hùng chỉ vì lỡ “chui rúc” ở những nơi hoang vu quá. Bên Kia Đèo Bá Thở là một nơi như thế:

“Trên bản đồ quân sự cũng như bản đồ của nha Địa Dư không bao giờ có địa danh ‘Đèo Bá Thở’. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn… Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng qua bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu rừng toàn thị là tre, nứa, giang…

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã sập. Người chủ căn nhà lấy vài thân tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất. Tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam.

Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi ‘bá thở’. Chúng tôi nghe lục đục trong cái chòi bỏ hoang, và phát giác đuợc một cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày.

Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp. Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện, song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù ‘Ngụy’ nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều, chúng tôi để hai người lại sửa còn tám người vào rừng đốn tre cho đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt tranh về để dậm lại những chỗ quá mục nát. Căn nhà sửa xong, có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi:

– Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì hoà bình lâu rồi, nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả vào đâu.” (Hoàng Khởi Phong. “Bên Kia Đèo Bá Thở.” Cây Tùng Trước Bão. Thời Văn, Hoa Kỳ: 2001).

Bà lão hẳn đã qua đời từ lâu. Những người lính thắng trận trên đường về quê (với con búp bê cầm tay) hơn 40 năm trước e cũng không còn mấy ai sống sót. Đám mẹ ngụy và lũ con thua cuộc cũng thế, cũng đều đã lần lượt đi vào lòng đất.

Kẻ Bắc/người Nam, bên thua/bên thắng nên họ đã phải trải qua những hoàn cảnh và kinh nghiệm sống khác nhau. Duy có điều này thì chắc chắc là hoàn toàn không khác : khi họ chết không ai nhắm mắt!

– Tưởng Năng Tiến

Cá Gỗ, Cá sắt – Phương Vũ Võ Tam-Anh

PHIẾM LUẬN…

Cá Gỗ, Cá sắt – Phương Vũ Võ Tam-Anh

Jean Lacouture, một học giả Pháp chuyên viết tiểu sử các nhân vật nổi tiếng trên thế giới, đã bắt đầu cuốn sách Président Hô Chí Minh bằng câu chuyện cá gỗ. Ông kể rằng HCM sinh ra ở Nghệ An, nơi có đời sống rất kham khổ, nơi mà những nhà nho thường dọn bửa ăn với một con cá bằng gỗ để che mắt người ngoài khỏi thấy được sự nghèo túng của họ, vì họ cho rằng nghèo là một chuyện xấu hổ đáng che dấu…

Cái tinh thần chuộng bề ngoài sợ sự thật đó còn lưu lại ngày nay ở ViệtNam để sinh ra một thứ văn hoá chạy theo khoa bảng, chạy theo “hoành tráng” mà bên trong thì trống rỗng. Hằng trăm ngàn tiến sĩ mà không làm nổi một cái đinh vít cho ra hồn mà vẫn huyênh hoang là đỉnh cao trí tuệ.

Trong khi đó thì tại Cam-pu-chia, một nước láng giềng nhỏ bé mà Jean Lacouture đã gán cho mấy chữ không lấy gì vui là “Cộng Sản Nhà Quê”, thì họ đang có một đầu óc thực tế hơn là các “đỉnh cao trí tuệ” Việt Nam.

Trước hết người Cam-pu-chia, không bị mặc cảm mà nhìn đúng sự thật để học hỏi và thâu nhận chất xám đến từ mọi nơi. Một nông dân Việt Nam có sáng kiến cải tạo những vũ khí phế thải thành những xe tăng đại bác tối tân thực dụng, đang bị Việt Nam nghi ngờ và coi thường, nếu không muốn nói là khinh bỉ vì không có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó tiến sĩ v…v…Thế nhưng anh nông dân này được đón tiếp rạng rỡ ở Cam-pu-chia như là một nhà sáng chế vũ khí có tầm cỡ và được phong ngay hàm Đại tướng. Tiết kiệm được cho Cam-pu-chia khỏi tốn hằng tỷ bạc mua vũ khí​ ​Nga Tàu để… vứt đi.

Cam-pu-chia đã thiết kế và sản xuất được xe hơi với giá rẻ và ít hao xăng, một cần thiết cho các nước mới mở mang phải biết liệu cơm gắp mắm.

Còn Việt Nam thì chỉ mới biết lắp ráp xe của các hãng ngoại quốc, do người ngoại quốc điều khiển và chỉ mới ở giai đoạn gia công, trong khi bao nhiêu đầu óc Việt Nam đang phí phạm ở khắp thế giới vì điều kiện chính trị không cho phép phục vụ đất nước.

Thủ tướng Hun Sen có người con trai là Hun Manith, được đào tạo tại trường West Point Hoa Kỳ, một bảo đảm về tư cách và khả năng cá nhân mà cả thế giới hâm mộ, thì chỉ giữ một chức vụ khiêm nhường tại bộ Quốc phòng (Giám đốc sở Tình báo). Khi được hỏi có tham vọng thay thế cha hay không, thì chàng trai 34 tuổi này trả lời rằng đó là chuyện định đoạt do bầu cử. Còn ở Việt Nam thì các thái tử đỏ đã bắt đầu được cài vào những chức vụ then chốt để sẵn sàng nối ngôi.

Trong khi Việt Nam đang say sưa với cái hào nhoáng bên ngoài đang cho dân ăn bánh vẽ nghĩa là ăn những con cá gỗ thời đại Hồ Chí Minh (theo nghĩa bóng) mà bụng vẫn đói mèm, thì ở Cam-pu-chia chính phủ đang cho dân ăn những con cá… sắt (theo nghĩa đen) để chửa bệnh thiếu máu.

Trên thế giới hiện nay có ba tỷ rưởi người bị bệnh thiếu máu vì thiếu chất sắt (anémie ferriprive), đó là bệnh của nhà nghèo, nhất là ở những nước kém mở mang vì thiếu dinh dưỡng. Sắt là chất cần thiết để tạo nên hạt máu đỏ trong đó có chứa một chất protéine gọi là hémoglobine (huyết cầu tố) có nhiệm vụ chuyên chở dưỡng khí (O2) hút được trong không khí từ phổi đến các tế bào, các mô. Cơ thể thiếu sắt sinh ra thiếu máu, thiếu dưỡng khí, thiếu sự sống….

Một sự tình cờ đã đưa con cá sắt nhảy lên bờ để cứu sống được hằng triệu người trên thế giới.

Cách đây ba năm, một sinh viên Canada 26 tuổi, Christopher Charles, vừa đậu xong bằng cử nhân ở đại học Guelph, Toronto, chọn đi nghỉ hè ở Cam-pu-chia, đồng thời chàng cũng giúp những nhà khoa học địa phương để cho thêm chất sắt vào thức ăn hầu làm giãm chứng bệnh thiếu máu rất phổ biến tại Cam-pu-chia. Ở đây 60 phần trăm phụ nữ phải làm việc vất vả ở tuổi rất sớm, ăn uống thiếu thốn, thiểu thịt đỏ, trái cây, đồ biển v.v…

Họ thường bị mất máu trong các kỳ kinh nguyệt và mỗi khi sanh đẻ, ảnh hưởng đến sự chậm phát triển não bộ nơi thai nhi v.v… nghĩa là ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả dân tộc. Các thứ thuốc chứa chất sắt thì đắt đỏ so với túi tiền của họ. Chris Charles lấy đó làm đề tài nghiên cứu để lấy bằng tiến sĩ. Trong ba năm trời chàng làm việc trong những túp lều tranh, không nước, không điện để xử dụng máy vi tính, phải học tiếng Cam-pu-chia, nhất là học nghệ thuật lấy máu bệnh nhân từ những chiếc thuyền nan chòng chành trên sông Mékong…

Thoạt tiên Charles đề nghị các bà nội trợ nấu ăn bằng những cái nồi bằng sắt nhưng không ai nghe vì vừa nặng vừa đắt tiền. Đề nghị bỏ một khoanh sắt vào nồi canh cũng không ai theo. Ý kiến chạm một cái hoa sen bằng sắt thì cũng bị chê vì hoa sen là để cúng Phật chứ không phải để bỏ vào nồi canh. Sau cùng có lẽ vì được gợi ý bởi cuốn sách Président Hồ Chí Minh của Jean Lacouture về con cá gỗ nên Charles đề nghị chạm hình con cá vừa hấp dẩn vừa rẻ tiền thì được chấp nhận ngay. Một bác thợ rèn ở đầu xóm có thể làm việc đó với giá 1,5 đô la Mỹ

Con cá của BS Charles đem lại 75% nhu cầu về sắt hằng ngày cho một người lớn. Đàn ông cần 9mg, đàn bà 16mg mỗi ngày. Chỉ cần nấu ít nhất 10 phút để cho cá….chín. Vắt thêm chút chanh vì acide citrique và acide ascorbique (vitamine C) trong chanh làm dễ hấp thụ chất sắt và để mùi vị thêm hấp dẩn, không thua gì tô canh chua cá bông lau mà người dân Campuchia thích ăn hằng ngày. Ở đây hiện có trên 2500 đang “ăn” cá sắt. Cuộc khảo sát cho biết phân nửa người dùng sau 12 tháng thì không còn thiếu sắt trong cơ thể nữa, hết những triệu chứng của bệnh thiếu máu như mỏi mệt, tim đập nhanh, người xanh xao, chóng mặt nhức đầu, kém trí nhớ…. Họ thấy yêu đời hơn và năng động hơn. Chính phủ Cam-pu-chia đang khuyến khích xử dụng rộng rãi trong dân gian.

Tôi còn nhớ vào năm 1982, khi bà bs Dương Quỳnh Hoa còn làm Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Dinh Dưỡng Nhi Khoa tại bệnh viện Nhi Đồng 2, Sai-Gòn, một hôm có phái đoàn đài BBC đến thăm, thấy có nhiều trẻ em bị mù vì bệnh khô mắt (xérophtalmie) vì thiếu vitamine A, thì được bs Quỳnh Hoa giải thích:

“Ở đây chính phủ thích choàng khăn quàng đỏ lên cổ các em hơn là phát cho các em mỗi ngày một viên vitamine A để khỏi bị mù”

Một câu nói còn ý nghĩa đến ngày nay, gần nữa thế kỷ sau, để thấy rõ chính sách lo cho dân của cộng sản Việt Nam. Khi bà bộ trưởng y tế Kim Tiến thờ ơ trước các em bé chết vì chích thuốc ngừa mà bận lo đi nếm nước piscine để kiểm soát lượng thuốc khử trùng chlore, thật là một cử chỉ phường tuồng vô liêm sĩ. Trong khi anh cộng sản “nhà quê” (chữ của J.Lacouture) đã biết lo sức khoẻ cho dân bằng cách khuyên ăn cá sắt thì ViệtNam còn cho dân ăn cá gỗ dài dài….

Cá sắt, cá gỗ, ai ngu hơn ai?