GIEO LỜI NÓI TỐT LÀNH SẼ GẶT ĐIỀU TỐT LÀNH

GIEO LỜI NÓI TỐT LÀNH SẼ GẶT ĐIỀU TỐT LÀNH

Tuyết Mai

Nhất là trong Mùa Chay chúng ta thường được nhắc nhở câu Chúa dạy ấy là “Xé lòng chớ đừng xé áo” bao gồm nhiều ý nghĩa và nhiều cách giữ chay nhưng nhận thấy rất khó để chúng ta có thể chay được cả lời nói: khiếm nhã, cay đắng, mỉa mai, cố ý làm đau lòng người. Vâng, nhất là người trong gia đình; người thân thương nhất của chúng ta. Luôn làm cho cả bầu khí trong gia đình và cả nơi công cộng bị nhiễm độc, khó thở … có khi gây ra sự xô xát không đáng có. Còn nhẹ hơn thì cũng toàn là những lời than thở, than thân trách phận; chán đời, chán người mà không ai thích bị nghe cả. Nên rất nhiều khi chúng ta né tránh để phải giáp mặt với những người này vì nơi họ luôn phát xuất ra những khí độc gây hại cho người khác. Gặp người mềm yếu, nhạy cảm thì có khả năng làm cho người ta sẽ bị bệnh tâm thần mất.

***

Một trong những lý do là chúng ta đã để cho tiền bạc nó áp lực mạnh mẽ trên cuộc sống lành mạnh của chính mình. Ngoài cái cần thiết nhất trên đời là được Thiên Chúa ban cho “Hằng ngày dùng đủ” thì ai ai cũng muốn cho có thêm nhưng khả năng thì có giới hạn. Thời giờ cũng có giới hạn và nhất là sức khỏe càng có giới hạn hơn. Nhưng vì lòng tham muốn nên con người chúng ta đã bị mê hoặc. Mê tậu nhà, tậu xe, tậu phone mới và tậu nhiều thứ mơ ước để có … Nhưng có phải những điều muốn có đó đã làm cho chúng ta có thêm nghị lực để vượt xa cái khả năng của chính mình; có nghĩa làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm và làm cả ngày Chúa Nhật!?.

***

Nhưng điều tệ hại nhất và nguy hiểm nhất cho sức khỏe ấy là chúng ta rất dễ bị bệnh tâm thần do cuộc sống có quá nhiều căng thẳng vì sự đòi hỏi quá mức. Do khả năng có giới hạn thì chúng ta đâm buồn, chán đời và bất mãn với người. Dẫn đến bệnh Trầm Cảm từ mức nhẹ cho đến mức trầm trọng. Kế đến là bị đứt mạch máu não (stroke) hay bị nhồi máu cơ tim (heart attack). Chưa kể bị những phản ứng phụ cũng không kém phần nguy hiểm là bệnh đau bao tử, nhức đầu kinh niên, nhức lưng, v.v…

***

Người Việt Nam chúng ta có rất nhiều câu dạy đời rất hay do cha ông chúng ta có dầy kinh nghiệm sống như “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” hay “Uốn lưỡi 10 lần trước khi nói”. Mà thực sự thì cuộc sống ngày qua ngày ai ai cũng có những khó khăn, những nỗi niềm riêng được chôn giấu tận sâu trong cõi lòng nhưng cố phải đè nén chúng xuống, chứ chẳng ai sướng hơn ai cả đâu, vì cuộc đời nó là như thế mà. Đã có mặt trên trần gian này thì giầu nghèo gì cũng phải chịu qua cái đau khổ, đắng đót, chua cay, mất mát, chia ly và sau cùng là sự chia lìa của cái chết.

***

Vâng, sống ở đời được nhiều người thương mến thì đòi hỏi cả một nghệ thuật, gắng công luyện tập và có được tràn đầy ơn Chúa … Thì mới có thể trở nên một Tông Đồ làm việc tích cực, mới có công ích trước mặt Thiên Chúa và lợi ích cho anh chị em. Nếu trong chúng ta ai muốn được trở thành khí cụ hữu ích của Chúa thiết tưởng chúng ta nên hằng ngày cố gắng tập luyện cho được như câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” như ai trong chúng ta cũng học biết “cái Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”.

–*–

Công việc của cái Lưỡi quả là rất quan trọng cho linh hồn sống đời của từng người chúng ta. Vì “Nó” có thể cho chúng ta sự chết hay sự sống muôn đời. Nó chẳng khác nào là con rắn được đặt để ngay trong cái miệng của chúng ta. Nên lạy Chúa của yêu thương của Lòng Thương Xót! Xin Người ban cho chúng con biết cẩn trọng đến lời nói và hiểu rằng gieo lời nói tốt lành thì sẽ gặt được điều tốt lành, nhất là trên chúng con trẻ. Amen.

Y tá con Chúa,
Tuyết Mai
12 tháng 7, 2022

Tại sao Hội Thánh có đặc tính là Thánh Thiện? – Cha Vương

Tại sao Hội Thánh có đặc tính là Thánh Thiện?

Thứ 4 rồi bạn ơi, chúc một ngày tuyệt vời và thánh thiện hơn hôm qua nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương

Thứ 4: 13/7/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Hội Thánh có đặc tính là Thánh Thiện? Hội Thánh là Thánh, không phải là tất cả các thành phần của Hội Thánh đều thánh, nhưng vì Thiên Chúa chí thánh là nguồn gốc của Hội Thánh, và Người hành động trong Hội Thánh. Mọi phần tử của Hội Thánh được thánh hóa nhờ phép Rửa tội.(YouCat, số 131)

SUY NIỆM: Mỗi khi ta để cho Thiên Chúa Ba Ngôi hành động trong ta, tình yêu ta lớn lên, ta được thánh hóa và chữa lành. Các thánh là những “người yêu”, không phải vì họ biết yêu hơn những người khác, nhưng vì Thiên Chúa đã cảm hóa các ngài. Các ngài truyền lại cho mọi người tình yêu các ngài đã nhận từ Thiên Chúa; nhưng theo cách riêng của mình mà thường là độc đáo. Vì được tiến tới gần Thiên Chúa, chính các ngài cũng thánh hóa Hội Thánh bởi vì các ngài “sống trên trời” để nâng đỡ ta trên đường thánh thiện. (YouCat, số 131 t.t.)

Thánh thiện: Đây là đặc tính cổ xưa nhất của Thiên Chúa, có nghĩa là thần thiêng, trong trắng, xa cách trần tục, xa cách chuyện thường ngày. Thiên Chúa là Đấng “khác tất cả”, là Đấng thánh của Israel (Is 30,15). Chúa Giêsu đến thế gian như “ Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,69). Nhờ Người ta có thể thấy “thánh” nghĩa là : yêu bằng tình yêu vô bờ bến và đầy thương xót, vừa nâng đỡ vừa cứu giúp vừa tìm cách nên hoàn thiện trong thập giá và sống lại.

LẮNG NGHE: Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su. (Ep 2:19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thật là một diễm phúc cho con vì được làm con của Chúa qua bí tích Rửa tội và được gia nhập Hội Thánh Chúa, xin giúp con biết noi gương các thánh để sống thánh thiện hơn mỗi ngày trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời con.

THỰC HÀNH: Trong sứ mạng là Mẹ Hội Thánh, mỗi lần hiện ra, Đức Ma-ri-a đều kêu gọi mọi người lần chuỗi Mân côi để cầu cho hoà bình thế giới. Mời bạn gia tăng việc lần chuỗi Mân Côi của mỗi cá nhân, trong gia đình, cộng đoàn để đáp lại lời kêu gọi đó của Mẹ.

From: Đỗ Dzũng

Dân Tộc Lưu Vong – FB Ngọc Vinh

Dân Tộc Lưu Vong – FB Ngọc Vinh

1- Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.

Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mãnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…

Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30-4-1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm. Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt “vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.

Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có. Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…

  1. Sau 30-4-1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp “đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài Gòn, với giá vài ba cây vàng/ người, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch. Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng… những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về.Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “Bao giờ đi?” Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!

3- Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài phát thanh TPHCM xách va ly qua Mỹ để… lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.

Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L. Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Hoàng qua Mỹ năm 1978 và tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá 800.000 đô la và lái chiếc Mẹc 7 chỗ. 17 tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo: “tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này.”

Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài Gòn và những người vượt biển. Thế hệ 2 là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để… lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương tháng của thủ tướng VN chưa tới 20 triệu đồng (khoảng 850 đô Mỹ) thì họ lấy gì để nuôi con du học?

4- Mỗi năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở VN, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. TBT phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có TBT một tờ báo chửi Mỹ ko còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống… lưu vong!

Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài Gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới ko chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ, Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình ko gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao… vân vân… Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp ko chọn trước cho mình một chỗ để… lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là dzọt thôi. Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để… lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.

5- Vậy tại sao người Việt lại khát khao… lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam: đất lành chim đậu. Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mãnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong môi trường nhiễm độc, nền giáo dục – y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả; những “thành phố đáng sống” thì kẹt xe và ngập nước quanh năm, sinh mạng con người không biết “đứt bóng” lúc nào bởi tai nạn giao thông; dân sinh thì khổ ải, dân chủ và dân quyền thì lắm vấn đề và người dân thì bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình… vân vân và vân vân, đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương bắc…

6- Chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn… lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự , kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học… tiếng Anh.

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái. Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta. Vì đâu nên nỗi hả người?

” Gió đưa cây cải về trời.

Rau răm ở lại,chịu đời đắng cay .”

Fb Ngọc Vinh

Từ trước khi “báo chí cách mạng” khởi sinh, Sài Gòn đã có một làng báo chính trị sôi động

Từ trước khi “báo chí cách mạng” khởi sinh, Sài Gòn đã có một làng báo chính trị sôi động

Giới thiệu một biên niên sử có một không hai về báo chí Việt Nam đầu thế kỷ 20.

On  21/06/2022

By  HIỀN MINH

Ảnh sách: DienDan.org. Ảnh nền: Flickr/ Chưa rõ nguồn.

Bạn có thể thấy xa lạ với khái niệm “báo chí cách mạng”, nhưng nếu ai đó dùng từ “làng báo”, hẳn là bạn sẽ thấy rất quen.

Tính đến ngày 21/6/1925, khi Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tờ báo Thanh Niên ở Quảng Châu, Trung Quốc (sau này được chọn làm ngày kỷ niệm duy nhất của báo chí Việt Nam), ở Sài Gòn đã có một làng báo chính trị hoạt động sôi nổi với hàng chục tờ báo lớn nhỏ khác nhau.

Khi báo Thanh Niên vẫn còn được viết bằng bút sắt trên giấy sáp, [1] phát hành vài trăm bản một tuần, các tờ báo có tên tuổi như Đông Pháp Thời Báo được in một tuần ba kỳ trên khổ lớn bốn trang. Mỗi kỳ khoảng 3.000 bản.

Tôi không đặt ra những so sánh này nhằm xúc phạm hay cười cợt nền báo chí cách mạng vốn có sứ mệnh riêng và vận hành trong sự thiếu thốn đặc thù của nó. Điều tôi muốn nói là việc chúng ta vẫn hàng năm nói về báo chí Việt Nam như thể không hề có một nền báo chí chính trị đã ra đời và phát triển mạnh mẽ từ trước đó ở Sài Gòn là một thiếu sót nghiêm trọng.

Rất may cho chúng ta là có người đã ghi chép lại thời kỳ ngắn ngủi mà sôi động có một không hai này. Ông là Philippe M. F. Peycam, một học giả người Pháp. Cuốn sách mà tôi muốn nhắc đến là “The Birth of Vietnamese Political Journalism: Saigon, 1916-1930“, được Nhà xuất bản Đại học Columbia ấn hành tháng 5/2012. Một điều rất may khác nữa là cuốn sách quý giá này đã được dịch sang tiếng Việt, dưới tên gọi “Làng báo Sài Gòn, 1916-1930” (Trần Đức Tài dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 2015).

“Sài Gòn vào những năm 1920 là trung tâm tranh luận chống thực dân công khai ở Việt Nam và không khí ấy đầy kích thích.” (Peycam, 2012, bản dịch của Trần Đức Tài).

Với sự nới lỏng kiểm soát của chính quyền thực dân Pháp, một lực lượng đối lập đã hình thành vào thời gian này. Họ là những trí thức thuộc nhóm đặc quyền trong xã hội, có tư tưởng chính trị cấp tiến, quan tâm đến đất nước, và dùng báo chí để bày tỏ quan điểm của mình. Cùng với họ, một nền báo chí chính trị sôi động được sinh ra trong một môi trường công khai chỉ có thể hình thành ở một đô thị đặc thù như Sài Gòn.

Có thể kể đến những cái tên mà lịch sử không thể quên như Đông Pháp Thời Báo, Nam Kỳ Kinh Tế Báo, Công Luận Báo, Đuốc Nhà Nam và nhiều tờ báo cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp khác, đi liền với những nhân vật kiệt xuất như Nguyễn An Ninh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phan Long, Bùi Quang Chiêu, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ. Chính thời đại này đã định hình cái gọi là một nền báo chí chuyên nghiệp tại Việt Nam, nơi không chỉ nội dung mà cả mô hình tòa soạn, cách thức kinh doanh cũng liên tục được đổi mới để tiếp cận độc giả, trong một không khí cạnh tranh sôi động.

Đông Pháp Thời Báo, số ra ngày 29/3/1926. Ảnh: trinhnhattuan.com.

Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng sự sinh sôi của báo chí dành cho người Việt vào thời gian này rất mạnh mẽ. “Không một tuần lễ nào trôi qua mà lại không có một đầu báo mới ra đời ở Hà Nội hay Sài Gòn.” [2] Và họ tranh biện về đủ mọi điều, từ giá cà phê bỗng tăng lên một xu, sự bành trướng của các doanh nghiệp Hoa Kiều, đến tình trạng độc quyền Cảng Sài Gòn của chính quyền thực dân. Họ đề xuất những đường lối khai phóng dân tộc. Họ công khai thách thức nhà cầm quyền bằng những tờ báo của mình.

Dù không hề là một nền báo chí toàn bích (tất nhiên, dưới ách đô hộ của thực dân), cái không khí kích thích của môi trường tranh biện từ 100 năm trước khiến tôi… chỉ biết ước. Nếu bạn muốn tìm một chút niềm cảm hứng về nghề báo, thứ bạn cần đọc có lẽ là cuốn sách này.

“Làng báo Sài Gòn 1916-1930” bắt nguồn từ luận án tiến sĩ của Philippe M. F. Peycam. Nó được đánh giá là một “biên niên sử báo chí thực sự công phu, chi tiết và hấp dẫn” và là một “đóng góp độc đáo” vào lịch sử Việt Nam đương đại. Peycam nghiên cứu và viết luận án này trong suốt bảy năm, trong đó có bốn năm ở Việt Nam. Ông tiếp cận với một lượng đồ sộ những tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Pháp trước đó chưa ai đụng tới, và điều này làm nên giá trị đặc biệt của công trình. Với tôi, sự đặc biệt còn nằm ở chỗ sách được viết rất hay. Tôi chưa từng biết một biên niên sử, lại là một luận án tiến sĩ nào hấp dẫn đến nhường ấy.

Bản dịch tiếng Việt của Trần Đức Tài cũng cực kỳ trôi chảy. Danh tiếng của dịch giả này đã được xác lập trong các cuốn sách khác trước đây, và ông không làm độc giả thất vọng. Chỉ có một điều đáng tiếc lớn không thể không nhắc đến là để sách được ra đời, nhà xuất bản đã phải cắt đi ba đoạn ở phần kết luận. Những đoạn này liên quan đến hành xử của Việt Minh sau 1945 với các nhà hoạt động ở miền Nam, đến thái độ của chính quyền Hà Nội với báo chí sau 1975, và đoạn kết nói về tính cấp thiết của việc chất vấn cách nhìn lịch sử “nhất nguyên, đơn điệu, và thiếu tính phân tích”. (Nhà nghiên cứu Hà Dương Tường đã diễn giải và dịch lại những đoạn này trong một bài giới thiệu của ông. [3])

Kiểm duyệt rõ ràng là một chuyện xấu xí, nhưng từ góc độ độc giả, tôi trân trọng nỗ lực của những người đã giúp bản tiếng Việt được ra đời, và đặc biệt hơn, đã chú thích cẩn thận những chỗ mà họ đã cắt, ba lần, rằng “Nhà xuất bản có cắt một đoạn”. Tôi nhìn thấy trong đó tinh thần phản kháng của làng báo Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

Mafia đỏ Việt Nam

Mafia đỏ Việt Nam

12-7-2022

Đằng sau mỗi tay triệu/tỷ phú đỏ Việt Nam là một thế lực chính trị tại Hà Nội. Cho nên cứ mỗi khi có tranh giành quyền lực là có chuyện một tay triệu/tỷ phú đi tù.

Không biết có ai còn nhớ tay bầu Kiên làm bóng đá đình đám, tự tin và huênh hoang một thời? Anh chàng này vẫn đang ở tù đó thôi.

Riêng bầu Đức cũng ồn ào không kém nhưng có lẽ biết thân, biết phận nên im re dạo này.

Cướp, cưỡng chiếm đất đai. Tàn phá, đốn chặt rừng để thực hiện các dự án tiền tỷ bất chấp môi trường sinh thái bị đe doạ. Kết cấu với nhau để thao túng thị trường chứng khoáng hay kinh doanh bất động sản, phát hành trái phiếu, huy động tiền nhà đầu tư nhằm chiếm đoạt tài sản,… đó chỉ là bề nổi của tản băng tội phạm mà giới mafia tài chính Việt Nam bị truy tố bởi luật rừng, bởi sự thanh trừng lẫn nhau, dưới cái gọi là chống tham nhũng.

Đừng nguỵ biện nói đến sự thành công từ những ý tưởng hơn người của giới tỷ phú Việt Nam. Trong một môi trường tù tội, một cơ chế cứng nhắc và tham nhũng, không thể có tự do sáng tạo để khơi dậy những ý tưởng siêu việt như tại Silicon Valley chẳng hạn.

Hãy thử nhìn lại những ý tưởng của Phạm Nhật Vượng và Elon Musk thì ắt chúng ta sẽ rõ giá trị của sự thành công của họ.

Cái tài của giới tỷ phú đỏ Việt Nam là mánh mung, là xảo trá và biết chớp lấy cơ hội để chiếm đoạt và gây dựng ảnh hưởng chính trị.

Trong một môi trường tiến bộ, đó là tất cả những gì mà xã hội tẩy chay và lên án.

Những Đỗ Anh Dũng (Tân Hoàng Minh) hay Trịnh Văn Quyết (FLC) đang trong tù cũng như tất cả các triệu/tỷ phú Việt Nam khác có thể cũng đang lo lắng chờ đợi đến lượt mình…

Khó có thể hình dung những tay tội phạm kinh tế, tài chính ấy có thể đơn thân hành động, lũng đoạn nền kinh tế và làm giàu một cách bất chính nếu không có sự yểm trợ và bảo kê của các thế lực chính trị đằng sau.

Số tài sản kếch xù được cho là của họ nhưng chắc chắn rằng không ít cũng thuộc về các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Những khối tàn sản khổng lồ ấy, đôi khi được cướp đoạt từ xương máu và công sức lao động của người dân nghèo, có lẽ cũng đã được tẩu tán ra ngoài, nơi các thiên đường quốc tế về rửa tiền. Bọn tội phạm kinh tế chắc chắn đã toan tính và dự trù những kịch bản tệ hại nhất trong cuộc tranh giành quyền lực này.

Và một khi đã làm giàu một cách bất hợp pháp thì các tranh chấp tài sản, quyền lực sẽ rất tàn bạo và không còn chỗ cho tình đồng chí chuyên chính vô sản gì cả!

Họ thanh trừng nhau, bất chấp đời sống nghèo khổ của người dân lương thiện trong một xã hội đầy bất công và dối trá!

 Các nhóm lãnh đạo Việt Cộng dưới nét nhìn của Bà Dương Thu Hương.

Linh hồn cao cả của Thái-Bình đất Bắc hiện có một người …! Biết đâu rồi sẽ có hàng ngàn người…! hàng triệu triệu người từ đất Bắc, Trung, Nam sẽ ” Hành Động.Hành Động…! vì linh hồn của họ chưa bị bán rẻ cho ma quỷ… hay chưa chết và mục nát…!  

Trích một đoạn trong bài của Phạm Bá Hoa:

 Các nhóm lãnh đạo Việt Cộng dưới nét nhìn của Bà Dương Thu Hương.

Thưa quý vị, với nội dung này tôi trích dẫn và tóm lược bài viết trong Wikipedia + bài phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái năm 2005 + bài phỏng vấn của Nguyễn Huy Đức năm 2006 + và bài phỏng vấn của Quốc Phương đài BBC năm 2009.

Người được phỏng vấn là bà Dương Thu Hương, người phụ nữ bên thắng cuộc. (Bên Thắng Cuộc là tựa một quyển sách của Huy Đức)

Bà từng là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1989.

Năm 1994, Bà được Bộ Trưởng Văn Hoá Pháp -ông Jacques Toubon- trao tặng Huân Chương Văn Hoá Nghệ Thuật (Chevalier des Arts et des Lettre). 

Tháng 4/2006, bà được mời sang Paris (Pháp), sau đó sang New York (Hoa Kỳ) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế.

Xin có đôi lời để mong quý vị thông cảm, sở dĩ tôi giữ nguyên những chữ quá mạnh -nếu không nó là chói tai- khi Bà Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn của đài BBC, và sau đó là nhà báo Đinh Quang Anh Thái, vì đó là tính cách của Bà.

Và đây là lời của Bà Dương Thu Hương:

Tôi chào đời năm 1947 tại tỉnh Thái Bình trên đất bắc.

Năm 1955 -lúc ấy 8 tuổi- tôi trong đoàn học sinh tiểu học, do nhà trường dẫn đi dự buổi đấu tố những người bị xếp vào hàng địa chủ trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, và bị giết chết ngay tại chỗ.

Tôi thật sự hãi hùng vì những cách giết những người bị đấu tố!

Năm 1967, theo tiếng gọi của nhà nước, tôi trong số 120 bạn học cùng trường, đã cắt máu xin theo đoàn quân vào Nam đánh Mỹ cứu nước, vì những bài học chính trị mà họ đã dạy chúng tôi, thì Mỹ Ngụy rất tàn ác với gười dân trong đó, cho nên người dân rất khổ..   

Năm 1968, tôi theo đoàn quân vào chiến trường miền Nam để cứu dân tộc trong Nam.

Sau những năm tháng bị cuốn vào cuộc chiến đẫm máu, đến tận bây giờ, cuộc chiến đó vẫn ám ảnh tôi. Nhớ lại, số học sinh của cả bốn lớp 10 của trường gồm 120 học sinh chúng tôi vào chiến trường miền Nam.

Sau 7 năm, chiến tranh kết thúc, chúng tôi chỉ còn lại 2 người: Tôi thì bị bom làm tai bên phải bị điếc, còn người kia là cậu Lương bị cụt một tay, và trở nên ngớ ngẩn. 

Chưa hết. Khi tôi đi tìm mộ của những bạn đã chết, tôi mới biết là trong những trận đánh mà chúng tôi thua, thì không lưu lại tên tuổi của bất cứ người nào đã chết, cũng không chôn cất người nào. Và họ giải thích rằng:

“Dân tộc ta là dân tộc anh hùng phải chiến thắng quân thù, nhưng trận này chưa thắng, nên không thể kiểm kê các liệt sĩ được. Cho nên hàng trăm người chết dưới đáy hồ, dưới đáy vực, không cần tìm tung tích”.

Và dấu mốc quan trọng làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi, là khi “đoàn quân của bên thắng cuộc” vào Sài Gòn, trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

Từ ngày đó, là ngả rẽ trong đời tôi. Khi mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười, thì tôi ngồi bên lề đường, và khóc. Tôi khóc, vì thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách oan phí.

Vào Sài Gòn, tôi không choáng ngộp vì nhà cao cửa rộng, vì xe cộ trên đường phố thênh thang, mà tôi choáng ngộp vì những tác phẩm của những nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do mà tôi không thể tưởng tượng được.

Trong nhà sách, trưng bày vô số những tác phẩm của các tác giả tôi từng biết tên cũng như chưa biết tên, và cả tác phẫm của các tác giả ngoại quốc nổi danh,với nội dung trong các lãnh vực xã hội, đặc biệt là những tác phẫm chính trị, có cả tác phẫm của Karl Marx, Lénine nữa.

Đến các phương tiện truyền đạt tin tức, như Radio, Tivi, Cassette, ..v..v… Những tác phẩm, những phương tiện truyền đạt tin tức, hình ảnh, đối với người dân miền Bắc chúng tôi, chỉ là những giấc mơ không tưởng. 

 Ở miền Bắc chúng tôi, tất cả báo chí, sách vở, đều do nhà nước quản trị. Những cán bộ được đảng tin tưởng, mới được nghe đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn dân chúng tôi chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể ở từng khu phố. Tôi muốn nói là, người dân chỉ được nghe một tiếng nói mà thôi.  

 Vào được Sài Gòn, tôi mới hiểu rõ rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ. Vì nó chọc mù mắt con người, nó bịt lỗ tai mỗi người dân.

Trong khi đó ở miền Nam, mọi người trong xã hội tự do nghe bất cứ thứ đài nào trong nước, và cả đài phát thanh của Pháp, của Anh, của Mỹ, tùy người dân muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh.

Và thật chua chát, khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.

Sự chống đối mạnh mẽ của Bà, đã đẩy bà vào nhà tù Việt Cộng từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1991.

Bà nói tiếp: Năm 1998, trong bài diễn văn tôi đọc ở Đại Hội Nhà Văn, tôi nói rằng: “Đảng cộng sản phải biết ơn nhân dân. Bởi vì xưa nay họ chỉ nói nhân dân phải biết ơn đảng thôi. Tôi phân tích rằng, cả một dân tộc đã đổ xương máu để kháng chiến chống Pháp, và những gì dân tộc đạt được là do truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, nhưng đảng cộng sản đã cướp tất cả công đó, và nhận vơ là công của đảng. Họ còn dậy dỗ quần chúng là phải biết ơn đảng. Hành động như thế vừa đểu cáng, vừa vô ơn bạc nghĩa, và tự cao tự đại. Những kẻ như thế, không xứng đáng để lãnh đạo dân tộc.

Vẫn trong năm 1998, trong một nghị của trí thức Hà Nội, tôi đọc bài diễn văn với tựa  là “Nhân Cách Trí Thức”. Đọc xong, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh tỏ ra đắc ý với nội dung, ông ta đến ôm tôi và hôn tôi thắm thiết, đồng thời xin bài diễn văn của tôi. Đến lúc giải lao, người thư ký của ông ta tìm tôi và chuyển đề nghị của ông Linh muốn tặng tôi một căn nhà theo tiêu chuẩn cấp cho hàng Bộ Trưởng. Cùng lúc, người thư ký này muốn tôi im lặng để cho đảng tự cải sửa. Tôi trả lời rằng, tất cả những việc tôi làm là vì dân tộc chứ không phải vì bản thân tôi. Tôi không giàu có, nhưng cũng có một căn nhà đủ để ở. Tôi nhờ ông ta nói với ông Tổng Bí Thư rằng, hiện giờ đang có 20.000 giáo viên tiểu học ở Hà Nội không có nhà để ở, nếu nhà nước có dư nhà thì nên cấp cho họ có chổ ở.

Bà còn nói rằng: Tổng Bí Thư Việt Cộng Nguyễn Văn Linh chửi tôi là “con đỉ chống đảng. Lúc đó tôi nói với một ông trong ban tổ chức đảng rằng, nếu tôi là đĩ thì may cho cái đảng này; nhưng vì tôi không được làm đĩ, nên tất cả năng lực của tôi đều dồn vào việc ỉa vào mặt đảng. Họ đã chửi tôi như vậy thì từ giờ trở đi mọi sự đều rõ ràng, không còn con đường thứ ba nữa. Nghĩa là tôi dấn thân đến cùng trong mục tiêu đấu tranh cho dân chủ.

Tôi chẳng có gì phải kiêng dùng những danh từ mà nhiều người cho là thô bỉ, như là “ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”. Vì đó là cách nói thuần của người Việt Nam răng đen mắt toét như tôi. Là ngôn ngữ đích xác của người nông dân, khi họ biểu lộ thái độ khinh bỉ và bất chấp. Tôi hành động như thế là có dự tính, chứ không phải ngẫu hứng. Tôi rất ghét những thứ ngôn ngữ nhờ nhờ nhạt nhạt. Chế độ hiện nay tại Việt Namchỉ sống bằng xác chết thôi. Nó không có giá trị gì trong thời đại này cả. Những người lãnh đạo chế độ hoàn toàn vô năng và tham nhũng”.

“Những kinh nghiệm trong chiến tranh, những chua chát của tháng 4 năm 1975, được Bà gói ghém trong những tác phẩm “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, và  “No Man Land” là bản Anh ngữ, dịch sang tiếng Pháp là “Terre Des Oublis”.

Và đây là nhận định của nhà báo Đinh Quang Anh Thái về bà Dương Thu Hương: “Từ nhận thức trên đây, báo chí Pháp gọi bà là “Con Sói Đơn Độc” ngay giữa bầy sói của mình. Vì hầu như không có người nào trong hàng ngũ lên tiếng đấu tranh cho dân chủ sau năm 1975, mà có lối nói như “chém đinh chặt sắt” như bà. Trong khi Bà tự nhận mình là người đàn bà nhà quê”.     

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái nêu câu hỏi: “Bà đã tiêu phí tuổi trẻ trong chiến tranh, để rồi bị chế độ mà bà phục vụ đày đọa vì họ nói bà làm giặc, bản thân bà thì không ai dám giao tiếp vì sợ bị liên lụy. Vậy, có bao giờ bà chùn bước không?”

Bà trả lời: “Không. Không bao giờ chùn bước”.

“Bà có tin vào thuyết nhân quả không?”

Bà trả lời: “Có. Tôi hoàn toàn tin vào thuyết nhân quả. Tôi hoàn toàn tin vào kiếp sau. Khi dậy các con tôi,  tôi không yêu cầu các con tôi phải trở thành bác sĩ, kỹ sư, hay tiến sĩ, mà yêu cầu duy nhất của tôi là các con tôi phải làm con người tử tế trong gia đình, trong xã hội, vì  đạo đức là cốt lõi của con người”.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái nhận định: “Bà Dương Thu Hương có nguyên tắc sống đạo đức rạch ròi, không khoan nhượng. Tôi xin phép biếu bà chút quà, thì Bà quát lên: Tôi không nhận bất cứ vật chất nào của bất cứ ai”.

Thậm chí những bữa ăn tại Paris,  bà giành trả tiền và khẳng định rằng: “Nếu Anh trả tiền thì từ nay đừng  phỏng vấn tôi nữa’.

Câu cuối cùng trong bài viết của Đinh Quang Anh Thái như sau: “Tôi đành bó tay chịu thua “mụ nhà quê mắt toét. Đó là cách mà tôi vẫn gọi bà Hương mỗi khi điện thoại thăm hỏi Bốp chát, bõ bã, không khoan nhượng, chính là Bà Dương Thu Hương. Đạo đức cốt lõi, cũng chính là Bà Dương Thu Hương.

Và bây giờ, “Con Sói Đơn Độc” đã bước vào tuổi 70, vậy mà ngọn lửa đấu tranh cho một tương lai Việt Nam tươi sáng vẫn ngùn ngụt cháy trong trái tim bà.

From: TU-PHUNG

Mạn đàm về người Việt và “văn hóa” ngụy biện

Lê Hoàng Nam

Mạn đàm về người Việt và “văn hóa” ngụy biện

  1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại đốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

  1. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

  1. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện” rồi. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

  1. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

  1. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

  1. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”

Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả.

Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

  1. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

  1. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận.

Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

  1. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

Nguồn: https://tachcaphe.com/man-dam-ve-nguoi-viet-va-van-hoa-ngu…/

CHẾT ĐỂ BẤT TỬ TRONG TRÁI TIM CON NGƯỜI!

Hữu Kim Thạch

CHẾT ĐỂ BẤT TỬ TRONG TRÁI TIM CON NGƯỜI!

Cái chết của ông Abe khiến mình nhớ về sự kiện John Lennon bị người hâm mộ bắn chết ngay trước khi bước qua cánh cửa để vào nhà.

Nó nói lên rằng: Không phải sống lâu, mà cái chết mới khiến người ta trở thành bất tử.

Cũng như thời khắc hạ màn sân khấu là lúc khán giả bàn về hay dở của vở kịch, thì chết cũng chính là thời điểm người ta bắt đầu nhận phán xét về cả cuộc đời.

Cái chết của cựu Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã tạo thành 1 làn sóng thương tiếc một tài năng, một nhân cách lớn.

Vì người ta bắt đầu tìm hiểu về ông và nhận thấy, đó là 1 người đặc biệt. Hoá ra, những cống hiến của ông cho nước Nhật, cho Việt Nam và thế giới là rất nhiều, đến mức cần phải tôn vinh và cùng nhau nhắc nhở để bảo tồn những giá trị ấy.

Người ta cũng tìm hiểu đời tư và thấy ông đúng là người đàn ông của gia đình đáng ngưỡng mộ với 35 năm yêu thương vợ dù 2 người không có con.

Ông cũng 2 lần xin từ chức Thủ tướng vì thấy sức khoẻ không đảm bảo. Đây là 1 việc khó nhất đối với những người đang ở đỉnh cao quyền lực. Vậy mà ông đã làm tới 2 lần.

Ông dẫn dắt đất nước bằng tầm nhìn rộng lớn và làm chính trị bằng sự chân thành. Không khó để thấy những hình ảnh ông gần gũi, chia sẻ, đau đớn với người dân như thế nào.

Người ta cũng bắt đầu nhớ lại và thấy vô cùng nhiều phẩm chất hội tụ ở 1 nhà lãnh đạo đất nước giàu có bậc nhất thế giới, những điều mà đôi khi ở nước khác coi là không cần thiết cho việc quản trị quốc gia.

Người dân thương tiếc, thậm chí nhiều người khóc vì cái chết của 1 lãnh đạo ở 1 đất nước xa xôi, cho thấy họ vẫn luôn mong chờ những vị lãnh đạo như vậy ở quanh mình. Và dù ở bất cứ đâu, giá trị nhân văn, sự chính trực, cao thượng, bao dung cũng đều xứng đáng được tôn vinh, nhớ mãi.

Ai rồi cũng chết, chết như thế nào đôi khi không phải là điều quan trọng, khác biệt chính là ở việc người còn sống nói thế nào về điều đó.

R.I.P ông Abe, 1 người đàn ông vĩ đại có khuôn mặt vô cùng hiền lành và trái tim nhân hậu!

(Nguồn: Nguyễn Quyết)

DIỄN VĂN CỦA THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN SHINZO ABE KHI THĂM TRÂN CHÂU CẢNG (27/12/2016)

Võ Văn Tạo

Đọc diễn văn của TT Shinzo Abe thăm Trân Châu Cảng (2.016), lại nhớ phát biểu (2.000- Hà Nội) của TBT Lê Khả Phiêu “đốp” mặt Clinton – TT Mỹ bỏ cấm vận kinh tế VN, nồng nhiệt khai thông quan hệ Mỹ – Việt.

Quan đần, dân khổ. Các cụ xưa nói cấm có sai!

Dễ hiểu vì sao ra khỏi chiến tranh với Mỹ 25 năm, Nhật vươn thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Sau 49 năm, người Việt vẫn tỏa đi khắp thế giới làm osin, dâu xứ người.

Hu hu!

—–

DIỄN VĂN CỦA THỦ TƯỚNG NHẬT BẢN SHINZO ABE KHI THĂM TRÂN CHÂU CẢNG (27/12/2016)

(Người dịch: Nguyễn Quốc Vương)

Kính thưa tổng thống Obama, tư lệnh Harris, quý vị quan khách và toàn thể quốc dân Mĩ!

Giờ đây, tôi đang đứng ở Trân Châu Cảng, Pear Habour, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản.

Khi lắng tai nghe, tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ và trở lại ngoài khơi. Mặt vịnh xanh và yên bình được chiếu sáng bởi ánh nắng mềm mại tỏa xuống từ mặt trời.

Phía sau tôi, trên biển kia là khu tưởng niệm Arizona (Arizona Memorial-ND) màu trắng.

Tôi đã cùng với tổng thống Obama đến thăm nơi được xây dựng để an ủi linh hồn những người đã mất ấy.

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm.

Nơi đang khắc tên những người lính đã mất.

Những người lính tới đây từ California, Michigan, New York, Texas và nhiều nơi khác vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc cao cả đã chết trong lửa đỏ khi bom đạn xé chiến hạm Arizona thành hai mảnh vào ngày ấy.

Giờ đây, đã 75 năm trôi qua, dưới con tàu Arizona nằm nghiêng dưới đáy biển sâu vẫn còn rất nhiều binh sĩ đang yên nghỉ.

Khi lắng tai nghe với tất cả lòng mình, tôi nghe thấy tiếng của những người lính cùng với âm thanh của gió và của sóng.

Những tiếng trò chuyện vui vẻ, sôi nổi và dịu dàng vào buổi sáng chủ nhật ngày đó.

Tiếng của những người lính trẻ đang trò chuyện với nhau về tương lai và những giấc mơ của mình.

Tiếng gọi tên người mình yêu thương trong khoảnh khắc cuối cùng.

Tiếng nguyện cầu hạnh phúc cho những đứa trẻ sẽ chào đời.

Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt.

Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời.

Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành.

Kính thưa tổng thống Obama, toàn thể quốc dân nước Mĩ và người dân trên toàn thế giới!

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.

Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.

Trong suốt chặng đường 70 năm sau chiến tranh với tư cách là một quốc gia hòa bình, người Nhật chúng tôi đã vừa thầm tự hào vừa duy trì phương châm không gì lay chuyển ấy.

Ở đây, trước những người lính đang ngủ yên trên chiến hạm Arizona, trước toàn thể quốc dân Mĩ và mọi người trên thế giới, tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản muốn thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ quyết tâm ấy.

Ngày hôm qua tôi đã đến thăm tấm bia tưởng niệm một sĩ quan đế quốc Nhật Bản ở căn cứ hải quân Kaneohe.

Đó là trung tá Ida Fusata, phi công máy bay chiến đấu, người đã trúng đạn và không thể trở lại mẫu hạm trong khi tấn công Trân Châu Cảng.

Những người lập tấm bia ở địa điểm trung tá Ida Fusata rơi không phải là người Nhật. Chính là những người lính Mĩ, những người ở phía bị tấn công đã làm điều ấy. Họ đã dựng tấm bia vì tôn trọng sự dũng cảm của người đã chết.

Trên tấm bia khắc ghi “Đại úy hải quân đế quốc Nhật Bản”, cấp bậc lúc đương thời, tỏ ý kính trọng đối với người lính đã dâng hiến sinh mệnh cho tổ quốc.

“The brave respect the brave”.

Người dũng cảm kính trọng người dũng cảm.

Nhà thơ Ambrose Bierce đã viết câu thơ như thế!

Cho dù là kẻ địch của nhau cũng vẫn thể hiện lòng kính trọng. Cho dù là kẻ thù căm tức lẫn nhau vẫn cố gắng để hiểu nhau.

Ở đó là tấm lòng khoan dung của quốc dân nước Mĩ.

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ.

Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai.

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi.

Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên.

Trong đầu tôi lại hiện ra những lời được khắc trên bức tường ở khu tưởng niệm Lincoln ở Washington, nơi tôi đã đến thăm cùng tổng thống Obama.

“Cho dù với ai cũng phải hướng đến nhau bằng thiện ý thay vì ác ý. Tất cả chúng ta sẽ cùng hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn hòa bình vĩnh viễn”.

Đấy là lời của tổng thống Abraham Lincoln.

Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản, một lần nữa xin được chân thành cảm ơn sự khoan dung mà nước Mĩ và thế giới đã dành cho Nhật Bản.

Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử.

Đấy là hai nước đồng minh mà hơn bao giờ hết đã luôn cùng nhau đối mặt với biết bao khó khăn trên thế giới. Đấy là “Đồng minh của hi vọng”, thứ mở ra tương lai.

Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

Thứ mà tôi, cùng với tổng thống Obama, tại Trân Châu Cảng này muốn nói với tất cả mọi người trên thế giới chính là sức mạnh hòa giải.

Tấn thảm kịch của chiến tranh hiện nay vẫn chưa hề biến mất trên thế giới. Cái vòng luẩn quẩn của thù hận vẫn chưa hề chấm dứt.

Chính lúc này, thế giới đang cần đến lòng khoan dung và sức mạnh hòa giải.

Nhật-Mĩ, hai nước đã bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn, sự tin cậy dưới những giá trị chung lúc này có nghĩa vụ phải tiếp tục nói với thế giới về tầm quan trọng của khoan dung và sức mạnh của hòa giải.

Đồng minh Nhật-Mĩ vì thế là “Đồng minh của hi vọng”.

Vùng vịnh đang dõi theo chúng ta kia chỗ nào cũng thật thanh bình. Đấy là vịnh Trân Châu.

Vùng vịnh đẹp đẽ ngập tràn ánh sáng trân châu này chính là biểu tượng của khoan dung và hòa giải.

Tôi mong rằng con cái người Nhật chúng tôi, các con của tổng thống Obama, con của tất cả người Mĩ và con cháu của những người con ấy cùng toàn thể mọi người trên thế giới sẽ tiếp tục ghi nhớ Trân Châu Cảng như là biểu tượng của hòa giải.

Để có được điều đó, chúng tôi từ giờ về sau sẽ luôn cố gắng. Ở đây, cùng với tổng thống Obama, tôi cương quyết nói lời thề như thế.

Xin trân trọng

 Thánh Biển Đức (480-547) – Cha Vương

 Thánh Biển Đức (480-547)

Chúc Bạn và gia đình một ngày an lành nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Biển Đức (Benedict), mừng Bổn Mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Hãy cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương 

Nếu Bạn muốn đi tour Tổng Tu Viện Bênêdíctô ở Montecassino bên Ý thì hãy vào linh sau đây. Mình đã có cơ hội đến đó. Tuyệt đẹp!!! Thánh Bênêdíctô, cầu cho chúng con.

YouTube player

Thứ 2: 11/07/2022

Thánh Biển Đức (480-547), Ngài sinh năm 480 trong một gia đình lỗi lạc ở Nursia, Umbria thuộc miền trung nước Ý, anh em song sinh cùng với nữ thánh Scholastica, theo học tại Rôma và ngay từ khi còn trẻ, ngài đã thích đời sống đan viện. Lúc đầu, ngài là một vị ẩn tu sống trong một cái hang ở Subiaco, xa lánh thế giới nhiều chán nản mà lúc bấy giờ giặc ngoại giáo đang lan tràn, Giáo Hội bị phân chia bởi ly giáo, dân chúng đau khổ vì chiến tranh, đạo lý ở mức độ thấp nhất. Sau đó không lâu, ngài thấy không thể sống cuộc đời ẩn dật ở gần thành phố, dù lớn hay nhỏ, do đó ngài đi lên núi cao, sống trong một cái hang và ở đó ba năm. Trong một thời gian, một số đan sĩ chọn ngài làm vị lãnh đạo, nhưng họ cảm thấy không thể theo được sự nghiêm nhặt của ngài. Tuy nhiên, đó cũng là lúc ngài chuyển từ đời sống ẩn tu sang đời sống cộng đoàn. Ngài có sáng kiến quy tụ các nhánh đan sĩ khác nhau thành một “Ðại Ðan Viện”, đem lại cho họ lợi ích của sự hợp quần, tình huynh đệ, và luôn luôn thờ phượng dưới một mái nhà. Sau cùng, ngài khởi công xây dựng một đan viện nổi tiếng nhất thế giới ở núi Cassino, cũng là nơi phát sinh dòng Bênêđích.

        Cũng từ đó, một quy luật từ từ được hình thành nói lên đời sống cầu nguyện phụng vụ, học hỏi, lao động chân tay và sống với nhau trong một cộng đoàn dưới một cha chung là đan viện trưởng. Sự khổ hạnh của Thánh Bênêđích được coi là chừng mực, và đời sống bác ái của ngài được thể hiện qua sự lưu tâm đến những người chung quanh. Trong thời Trung Cổ, tất cả các đan viện ở Tây Phương dần dà đều sống theo Quy Luật Thánh Bênêđích.

Thánh nhân qua đời ngày 21 tháng 3 năm 547 tại Monte Cassino, nước Ý. Thánh nhân được cho an táng trong cùng một ngôi mộ với em của ngài là Thánh nữ Scholastica dưới bàn thờ chính của đan viện Monte Cassino, nước Ý. Thánh tích của thánh nhân hiện đang giữ tại đan viện Monte Cassino và một phần tại đan viện Saint Bernoit-sur-Loire tại Fleury, nước Pháp.

        Lễ mừng kính ngài vào ngày 11 tháng 7 theo nghi lễ Roma, còn dòng Biển Đức thì cử hành lễ kính vào ngày 21 tháng 3 hàng năm để kỷ niệm ngày Thánh Nhân qua đời. (Nguồn: Người Tín Hữu Online)

Mời Bạn:

❦ Hãy áp dụng câu châm ngôn của ngài vào những công việc hàng ngày : “Ora et Labora” (Cầu nguyện và Lao động).

❦ Suy niệm những câu đáng ghi nhớ trên huy hiệu kính thánh Bênêdíctô:

+ Chớ gì chúng con được củng cố bởi sự hiện diện của Chúa vào giờ chúng con chết!

+ Chớ gì Thánh giá của Chúa là ánh sáng cho con!

+ Hãy cút đi, hỡi Xatan, đừng gợi ý cho ta về những sự hào nhoáng của thế gian! Ngươi thèm khát sự dữ ư? Ngươi hãy uống lấy nọc độc của ngươi!

 Câu nào đánh động Bạn nhất?

 From: Đỗ Dzũng

Đến cuối cuộc đời còn gì để tiếc?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đến cuối cuộc đời, khi tuổi tác đã xế chiều, hay nói như nhà văn Huy Phương đến “Ga cuối đường tàu” rồi, ngẫm nghĩ, soát xét lại đời mình, có mấy điều ghi nhận như sau:

Những khó khăn nào rồi cũng qua đi. Sau cơn mưa trời lại sáng. Sau đau khổ là có niềm vui. Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai. Chuyện thánh Job trong kinh thánh, chuyện tái ông mất ngựa hay luật bù trừ an ủi chúng ta rất nhiều.

Xưa nay, người ta thường nói “thất thập cổ lai hy”, sống được đến 70 tuổi khó lắm. Nay nhờ ơn Trời, được 80 tuổi, thì quý lắm rồi. Tạ ơn Trời. Cám ơn đời. Sống thêm ngày nào đều phải được xem là ân phúc, là “bonus” của Trời ban cho mà thôi.

Thi sĩ Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, đã từng nói:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” còn tôi là người tầm thường, vô danh tiểu tốt, thì sao?

*1)Suy tư cuộc đời theo vận nước nổi trôi

Nhìn lại quãng đời đã qua từ lúc còn nhỏ, sinh ra ở làng Đông Thạnh, quận Cần Giuộc, nghèo nàn, đường sá trơn trợt mỗi khi trời mưa, có bao giờ dám nghĩ về một tương lai phải sống xa nơi chôn nhau cắt rún đến nửa vòng trái đất.

Nổ lực học tập, hết sức khó khăn, để qua được các kỳ thi ở trung học, ở trường Đại học, rồi hoạt động chính trị, đi tù cộng sản rồi ra tù, không được dạy học nữa, phải làm đủ các nghề linh tinh để sống. Qua Mỹ lại bắt đầu từ số không, lại làm việc cật lực-nghề không ưa thích- để sống và về hưu.  

Tôi vẫn thích câu nói như sau: “Giá trị của bạn chính là việc bạn đã làm được gì, đóng góp gì, chứ không phải vỏ bọc hình thức bạn tốt nghiệp trường nào, có bao nhiêu bằng cấp.”

*Gia đình: Tất cả kho tàng trên trái đất không thể nào so sánh nổi với hạnh phúc gia đình. (Calderon)

Tôi cám ơn gia đình tôi vì đến ngày hôm nay- tháng 07 năm 2022- đã sống với bà xã tôi, vài tháng nữa, được 55 năm.  Sóng gió, gây gỗ, giận hờn, lục đục không biết bao nhiêu mà kể. Trong thời gian dài gần 8 năm tôi bị tù cộng sản, bà xã tôi một mình vừa đi dạy, vừa lo cái ăn, cái mặc cho bốn đứa con từ 8 tháng tuổi cho đến 7 tuổi. Khi đứa con gái út đi nằm nhà thương vì bịnh phổi có nước, cần săn sóc, mới là vấn đề nan giải. Làm sao sắp xếp thì giờ vừa đi dạy, vừa lo cho cháu nằm ở nhà thương, vừa lo cho các cháu còn lại ăn uống, tắm rửa, cơm nước, học hành?

Khi tôi bị đày ra Bắc, bà xã tôi phải vất vả thăm nuôi, mang đồ ăn từ trong Nam ra, lặn lội, gồng gánh, đem đến trại giam, ở trong thung lũng của rừng núi tỉnh Vĩnh Phú, gặp chồng được 15 phút rồi về. Tù chết quá nhiều nên trại mới cho thăm nuôi để gia đình của tù nuôi tù.

Cám ơn cha mẹ để gia đình vợ con cùng sống trong nhà, lúc tôi đi tù ở nơi rừng thiêng nước độc từ 1975 đến 1983. Để rồi sau khi tôi ra tù, qua thời gian dài 10 năm từ 1983-1993, gia đình tôi cũng nương tựa vào nhà ở của cha mẹ tôi mà làm ăn sinh sống.

* Sự nghiệp:

Thiên Chúa ban cho sức khỏe, khả năng, trí tuệ, sự hiểu biết; ta cần phải đem hết khả năng Thiên Chúa ban cho để kiếm tiền nuôi thân, nuôi gia đình và đóng góp cho xã hội càng ngày càng tốt đẹp hơn. Làm việc đàng hoàng, kiếm tiền lo cho gia đình, cũng là đóng góp cho xã hội rồi.

*2)Đến cuối cuộc đời còn gì để tiếc?

Ôn lại cuộc đời đã qua tôi thấy gì?

Đau thương, đau khổ, vui mừng, đói khát, no đủ, đắng cay, ngọt bùi trong cuộc đời tôi nếm đủ cả.

Tù đày: gần 8 năm trong các trại cải tạo miền Bắc, chịu nhục nhã, lạnh lẽo, đói khổ ở các vùng rừng núi âm u, sơn lam chướng khí, hy vọng sống còn để trở về gia đình rất mong manh. Địa danh Mai Côi, Thác Guồng ở K4 Vĩnh Phú là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với tôi cho đến ngày hôm nay.

Con chết: Con trai mới 48 tuổi, tuổi đã học tập được nhiều kinh nghiệm trong công ăn việc làm, lương bổng bắt đầu khá lên … Nhưng bất ngờ, đã ra đi, mọi sự đều bỏ dỡ hết. Để lại hai cháu nội ông bà phải để ý, lo toan.

Bôn ba làm việc kiếm tiền, đem hết trí khôn, sức lực để tạo một ngôi nhà để trú ngụ, một số tiền để dành khi hữu sự như bịnh hoạn hay rủi ro khác, rồi đến lúc nào đó, với tuổi già, không còn sức khỏe nữa… cuộc đời sẽ ra sao?

*Rồi 5, 10 năm nữa sau khi ta lìa đời, kẻ thương người ghét mình, chắc cũng chẳng ai còn nhớ đến mình đâu?

Con cái, cháu chắt, có thân phận của chúng nó, mình chỉ có thể làm việc hết khả năng của mình mà thôi. Thiên Chúa sẽ tiếp tục nâng đỡ, lo lắng cho các con cháu.

Tôi luôn tự nhủ rằng hãy cố gắng sống với tinh thần lạc quan, tích cực, vui tươi.

Tôi cố quên đi – nhưng vẫn nhớ – những đau khổ, khó khăn mà mình đã chịu đựng thí dụ gần 8 năm tù bị bỏ đói, sống lê lết trong các trại tù Long Thành, Thủ Đức, Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh… vừa đói, vừa lạnh, đi không muốn nổi vì bị suy dinh dưỡng…

*Con người có trí óc, khả năng để làm việc, để sống; nhưng con người còn có trái tim biết yêu thương, để biết phải quấy ở đời. Còn nợ ân nghĩa, ân tình làm sao mà trả được?

*Đã qua rồi những đau thương, khó khăn, khổ sở về vật chất và về tinh thần, gian nan, thử thách rất nhiều trong suốt thời gian đã qua. Vì vậy:

Tạ ơn trời – hôm nay tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
 ……

* – Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi biết bao kỷ niệm vui buồn, những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được.

*. – Xin cám ơn tất cả … những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi từng biết mà chưa quen.
* – Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để nhận ra cuộc sống này thật vô cùng ý nghĩa

*Tôi vẫn thường xuyên tập luyện, suy nghĩ vui tươi, lạc quan mỗi ngày, nghe những lời nói vui vẻ, nói những lời nói tích cực, tránh nghe lời nói chê bai, chỉ trích, công kích người khác. Để chi vậy? Để tâm hồn được thanh thoát, vui tươi, hạnh phúc từng ngày. Khó lắm. Nhưng, tạ ơn Chúa. Nhờ Chúa giúp sức mỗi ngày. Để giữ gìn cho tâm bình an, giúp ngủ được, nhờ đó giữ gìn được sức khỏe, giảm sự suy sụp, mệt mỏi.

Sống lâu, có sức khỏe thì tốt. Nếu sống lâu mà nằm một chỗ, không nói năng gì được, cuộc sống thực vật, không còn biết gì nữa, không tự sinh hoạt hay tự ăn uống được, sống bằng “máy thở, ống thức ăn”, nếu con cháu thấy bịnh không thể phục hồi được, không nên duy trì sự sống mà làm gì?

*Vì vậy nên cứ để cho người thân ra đi từ từ, vì sự chết là qui luật tất yếu của trời đất. Đâu có ai thoát được chuyện sinh tử đâu.

Hằng ngày, mỗi buổi sáng, khi vừa thức dậy cần nói “Tạ ơn Chúa vì tôi còn sống”, sẽ làm cho tâm hồn ta vui vẻ, bình an. “Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy, Cho con còn ngày nữa để yêu thương”.

*Mỗi ngày còn sống là một niềm vui

Tôi đã lo trước phần hậu sự. Con cái không phải lo lắng về chi phí cho đám tang. Khi chết, ở mộ bia nên ghi câu sau đây: “Chính lúc chết đi là khi sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi)

Mỗi tuần, chúng ta mất một giờ đi nhà thờ ca ngợi, chúc tụng Chúa, rồi khi chết, linh hồn được sống đời đời, được hưởng đời sống vĩnh cửu, thật tuyệt vời và đời sống chúng ta có ý nghĩa biết bao.

Khi còn sống, sinh hoạt cộng đồng hay ở nhà thờ, “sống cùng, sống với” bà con, bạn bè, người thân vẫn thú vị hơn. Kết thân, có thêm nhiều người bạn ở nhà thờ vẫn tốt hơn là kết thân với những người bạn ở Casino hay là kết thân với các bạn nhậu. Có phải như vậy không?

*Mặc dầu nước Việt Nam đã thống nhất sau 47 năm (gần nửa thế kỷ)

Lòng người vẫn ly tán, chưa có hòa hợp, hòa giải thực sự, vẫn phân biệt đối xử, vẫn chưa có tự do nghiệp đoàn, tự do bầu cử, tự do ngôn luận, chưa có đa đảng, đối lập chính trị; những quyền căn bản này đã được thực thi trước đây ở miền Nam Việt nam, cách nay 55 năm, dưới thời đệ nhị cộng hoà, với hiến pháp 01-04-1967.

             -Nơi nào có tình thương yêu, thì nơi đó luôn có những điều kỳ diệu. (Loilla Cather)

              -Yêu thương là cái gì đó vĩnh cửu. (Vincenl Van Gohg)         

Cùng đích của cuộc đời chúng ta là gì?

 Dân gian ta có câu “sống gởi, thác về”. Sự sống chỉ là tạm bợ. Chết mới là trở về. Trở về đâu? Trở về với cội nguồn, trở về với Thượng Đế, Đức Chúa Trời, đấng đã tạo dựng ra mình, rồi chúng ta sẽ gặp nhau ở nước Thiên đàng, gặp lại tất cả những người thân yêu, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân nhân, bạn hữu của chúng ta, những người mà ta đã gặp gỡ ở trên trần thế này, đã ra đi trước chúng ta.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

11 tháng 07 năm 2022

Kỷ niệm ngày sinh thứ 80

 Mời xem thêm:

*BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur…

*Sống như thể mình không bao giờ chếtLm Anmai, CSsR

*Tuổi Xế Chiều…!

Giấc mơ từ một cái chết – Tuấn Khanh

Giấc mơ từ một cái chết

09/07/2022

Tuấn Khanh

 

Về ông Shinzo Abe, dân Việt được nhìn thấy như là một người tận hiến cho quốc gia mình. Sự có mặt của vị Thủ tướng này trên chính trường Nhật để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong loạt các cải cách chính trị lớn mang tên ông, và thậm chí là thương hiệu kích thích kinh tế được công nhận trên toàn cầu của riêng ông, Abenomics.

***

Nhưng thời đại cầm quyền của ông Shinzo Abe không chỉ có tiếng thơm. Để bảo toàn cho công việc lãnh đạo của mình, ông Shinzo Abe đã thúc đẩy việc hình thành đạo luật Special state secrets: Những người tố cáo và báo giới ở Nhật Bản có thể sớm phải đối mặt với án tù dài hạn vì tiết lộ các báo cáo bí mật nhà nước, có thể bao gồm thông tin nhạy cảm về thảm họa hạt nhân Fukushima và mối quan hệ xấu đi của nước này với Trung Quốc. Nước Nhật đã rơi vào những cuộc tranh cãi khủng khiếp về việc đặt án tù cho các ngôn luận tự do. Theo luật này, các quan chức nhà nước và tư nhân làm rò rỉ ‘bí mật nhà nước đặc biệt’ sẽ phải đối mặt với án tù lên đến 10 năm, trong khi các nhà báo tìm cách lấy thông tin tuyệt mật có thể chịu án tù lên đến 5 năm.

Ông Shinzo Abe cũng là người cổ xúy và giúp cho nhiều dự án điện than ở Việt Nam, theo yêu cầu của Hà Nội. Và nỗ lực này của ông cũng khiến vào tháng 9/2019, ông bị từ chối, không được đọc bài phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu của Liên Hợp Quốc.

Nhưng ông Shinzo Abe là người đã mang nước Nhật trở lại với nhiều điều khác. Thái độ cứng rắn với Trung Quốc và Hàn Quốc đã tạo cho nước Nhật một vị thế mới. Bất chấp sự phản đối rộng rãi của công chúng, ông đã mở rộng chi tiêu quân sự của Nhật Bản và viết lại hiến pháp, cho phép lực lượng Phòng vệ Quốc gia của Nhật Bản được hoạt động ngoài biên giới nước Nhật để giúp đỡ các đồng minh đang bị tấn công. Ông cũng cho khởi động lại năng lượng hạt nhân, vốn đã không hoạt động kể từ thảm họa Fukushima năm 2011.

Cần thấy, mối quan hệ ngoại giao của ông Shinzo Abe với các nước khác, là giữa chính phủ với chính phủ, ít chạm đến người dân. Mục tiêu rất rõ: Nước Nhật phải là một quốc gia mạnh và thiết lập đủ các đường dây đồng minh trong một thời đại đầy bất an với đất nước mình. Chủ trương quan hệ chính phủ với chính phủ được đặt trên mọi thứ, nên Nhật luôn dẫn đầu trong việc tài trợ và giúp đỡ Việt Nam trong công việc phát triển, thậm chí xem nhẹ những vấn đề về tham nhũng và bất cập của thể chế trong suốt một thời gian dài. Có lẽ vì vậy, nên thủ tướng Shinzo Abe dù được coi như là chính khách luôn vì con người, nhưng chưa bao giờ ông đá động gì về vấn đề nhân quyền hay tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ngày ông mất, các trang mạng ở Trung Quốc và Hàn Quốc xuất hiện nhiều các ngôn luận reo mừng, vì cuối cùng, cái gai trong mắt họ đã mất. Ngược lại, nhiều nơi tiếc thương, trong đó có người dân Việt Nam. Và như đã nói ở trên, người dân Việt Nam thì không nhận được gì nhiều từ đường lối ngoại giao của thủ tướng Shinzo Abe, nhưng họ ủng hộ vì điều gì?

Rõ là, làm chính trị, sẽ bị phán xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng ông Thủ tướng Shinzo Abe được kính trọng bởi vượt lên với tinh thần phục vụ quốc gia chứ không vì đảng của mình, hay vị thế của bản thân mình. Quyền lợi và phát triển của nước Nhật được ông Abe nhắm tới, dành cho tổ quốc và dân tộc chứ không nhằm giữ vững quyền lực chính trị của đảng hay tạo vây cánh, trục lợi cho một âm mưu cầm quyền lâu dài.

Nhiều người Việt trân trọng đưa lại các bức ảnh của ông Abe quỳ gối lắng nghe dân nói, hình ảnh ông cúi chào một cách khiêm cung, và cả cuộc đời giản dị của ông. Đến Việt Nam nhiều lần, nhưng chưa bao giờ ông Abe tổ chức đi xuống đường bắt tay dân chúng như các lãnh tụ khác, nên sự kính trọng lan rộng với ông Abe lúc này, có thể được diễn giải như một giấc mơ thầm kín của người Việt Nam về một lãnh tụ thật sự vì dân, vì đất nước.

So với các quan chức Việt Nam xuất hiện và luôn được hệ thống tuyên truyền và báo chí một chiều rầm rộ ca ngợi, bất chấp hậu quả về sau, ông Shinzo Abe không được lực lượng đó yểm trợ truyền thông. Nhưng ngược lại, rất nhiều người Việt biết và đứng lên tưởng niệm ông, như để bày tỏ về một giấc mơ về một Việt Nam khác, về những quan chức chân chính, và một chế độ sẽ phục vụ, sống và chết cho quê hương mình, chứ không nhân danh vì bất kỳ một lý tưởng nào khác.

T.K.

Nguồn: Tuấn Khanh’s blog