Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Phương Tây ngả mũ trước nỗ lực gìn giữ nền dân chủ của một đất nước châu Phi bé nhỏ.

30/12/2020

By  JASON NGUYEN

Cử tri Malawi mừng chiến thắng của Tổng thống tân cử Lazarus Chakwera trong cuộc bầu cử lịch sử năm 2020. Ảnh: Amos Gumulira/ AFP.

Năm 2020, tổ chức Freedom House đánh giá rằng tình hình dân chủ đã xấu đi ở ít nhất 80 nước, trong đó có cả nước Mỹ.

Theo đó, các giá trị dân chủ đã xói mòn trong bối cảnh đại dịch. Nhiều quốc gia đã có những động thái như giới hạn tự do truyền thông và ngôn luận, trì hoãn nhiều cuộc bầu cử quan trọng, cũng như tăng cường giam giữ những tiếng nói đối lập – tất cả với lý do phòng chống dịch bệnh.

Duy chỉ có một đất nước có điểm số dân chủ tăng lên, đó là Malawi. Tạp chí The Economist (Anh) mới đây đã trang trọng gọi đất nước châu Phi này là quốc gia của năm.

Tình hình dân chủ xấu đi ở nhiều quốc gia trong năm 2020. Malawi là điểm sáng duy nhất. Đồ họa: The Economist.

Theo nhận định của Freedom House, câu chuyện ở Malawi đã “nêu bật tầm quan trọng của các thiết chế nhà nước độc lập cũng như một khu vực xã hội dân sự năng động trong việc duy trì tính toàn vẹn và dân chủ của bầu cử, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các cuộc bầu cử tương tự trong khu vực”.

Câu chuyện về mặt hồ phát sáng

Malawi là một quốc gia còn khá xa lạ với nhiều người trên thế giới, không riêng gì với người Việt Nam. Nằm giữa vùng Đông Nam châu Phi với dân số khoảng 19 triệu người, Malawi tiếp giáp với ba quốc gia là Mozambique, Tanzania, và Zambia.

Thu nhập bình quân đầu người của Malawi vào năm 2019 chỉ là 411 USD, theo số liệu của World Bank. Mức thu nhập này chỉ bằng ⅙ của Việt Nam. Malawi, theo đó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ánh bình minh phản chiếu trên mặt hồ Malawi khi các ngư dân trở về nhà sau một đêm làm việc dài. Ảnh: Marcus Westberg/ New York Times.

Địa danh nổi tiếng nhất tại quốc gia này có lẽ là hồ Malawi – một trong những hồ nước ngọt chứa lượng cá phong phú nhất thế giới. Dù có diện tích tương đối nhỏ (chỉ bằng một nửa Việt Nam), Malawi sở hữu đến 1/3 diện tích nước ngọt của cả châu Phi. Tên gọi của quốc gia này phản ánh đặc trưng đó. Malawi trong tiếng bản địa nghĩa là “vùng nước phát sáng” (flaming waters), tượng trưng cho hình ảnh mặt hồ Malawi phản chiếu những tia nắng mặt trời.

Malawi chỉ trở thành tên gọi chính thức khi quốc gia này giành độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 6/7/1964, thay cho tên cũ là Nyasaland (mang nghĩa “vùng nước rộng lớn” – broad waters).

Vào ngày độc lập, hơn 40.000 người đã đổ ra Quảng trường Trung tâm (Central Stadium) tại thủ đô Lilongwe và hô vang ‘Ufulu! Ufulu’ (‘Tự do! Tự do!) cho một khởi đầu mới của đất nước, và của chính họ.

Trong một khu vực vẫn còn mang nặng quá khứ thuộc địa, Malawi được xem là một hình mẫu khá thành công. Khi các quốc gia châu Phi khác vẫn đang phải đắm chìm trong xung đột giữa các bộ tộc, Malawi đang từng bước vững chãi chuyển mình sang thể chế dân chủ hậu thực dân.

Thăng trầm dân chủ hóa

Không lâu sau khi giành được độc lập, một cuộc tranh chấp quyền lực xảy ra giữa thủ tướng lúc bấy giờ là Hastings Kamuzu Banda và các bộ trưởng trong nội các chính phủ. Ba bộ trưởng sau đó bị bãi nhiệm, ba người khác từ chức.

Vào ngày 6/7/1966, Malawi trở thành một nước cộng hòa, và Banda được bầu làm tổng thống. Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm tổng thống trọn đời. Hiến pháp cũng chính thức công nhận Đảng Quốc hội Malawi (Malawi Congress Party – MCP), lúc bấy giờ do tổng thống Banda lãnh đạo, là chính đảng duy nhất tại đây.

Tuy là đảng phái lâu đời nhất và có sức ảnh hưởng tại Malawi, nhưng bên cạnh công trạng lớn trong việc đưa quốc gia này thoát khỏi thuộc địa Anh và thúc đẩy phát triển kinh tế, MCP được cho là dùng phần lớn thời gian trong suốt 31 năm cầm quyền của mình để củng cố quyền lực và xây dựng một chế độ độc đảng.

Tổng thống đầu tiên của Malawi từ ngày giành độc lập – Hastings Banda, cùng với Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Blantyre, Malawi vào ngày 22/7/1979. Ảnh: Popula.com/ AP.

Mọi chuyện chỉ thay đổi từ ngày 8/3/1992, khi một lá thư mục vụ (pastoral letter) của Hội đồng Giám mục Công giáo Malawi được đọc tại các nhà thờ trên khắp đất nước.

Nội dung lá thư bày tỏ mối quan tâm về tình hình nhân quyền tồi tệ, nạn nghèo đói, và những ảnh hưởng nghiêm trọng của chúng đến cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Xuất hiện vào một thời điểm không thể thích hợp hơn, lá thư này như một luồng gió khích lệ với các đảng phái đối lập đang hoạt động ngầm. Họ chờ đợi cơ hội khơi mào một chiến dịch cải cách dân chủ.

Thổi thêm vào luồng gió này là áp lực từ quốc tế, khi chính phủ các quốc gia viện trợ đe dọa sẽ cắt các nguồn trợ cấp nếu Malawi không chịu đa nguyên hóa thể chế chính trị.

Các yêu cầu cải cách đã có một chiến thắng vang dội.

Vào cuối năm 1992, hai đảng phái đối lập trong nước là Liên minh cho Dân chủ (Alliance for Democracy) và Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front – UDF) chính thức được thành lập và ra mắt công chúng.

Tháng 5/1994, cuộc bầu cử tự do đầu tiên chính thức diễn ra tại Malawi sau 30 năm kể từ ngày giành độc lập. Thủ tướng Banda sau đó bị ứng cử viên Bakili Muluzi của đảng đối lập UDF đánh bại. Đảng UDF cũng đã giành được đa số ghế trong quốc hội sau cuộc bầu cử này.

Năm 1995, một hiến pháp mới ra đời, đặt những viên gạch nền tiếp theo giúp Malawi chuyển mình sang một xã hội dân chủ. Hiến pháp mới cũng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống Malawi xuống tối đa là hai, với mỗi nhiệm kỳ kéo dài 5 năm.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Muluzi đã tiến hành những cải cách dân chủ sâu rộng hơn, thúc đẩy các quyền tự do cơ bản như quyền tự do ngôn luận và hội nhóm. Đó là một giai đoạn trái ngược hoàn toàn với thời kỳ lãnh đạo của cựu tổng thống Banda.

Tưởng chừng mọi việc đã an bài, thế nhưng, nền dân chủ của Malawi lại bị đe dọa một lần nữa.

Muluzi tái đắc cử tổng thống vào năm 1999, nhưng nhiệm kỳ thứ hai của ông không suôn sẻ như nhiệm kỳ đầu. Kết quả bầu cử bị đặt nghi vấn, kéo theo đó là một giai đoạn của các cuộc biểu tình, bạo lực, và cướp bóc.

Tổng thống Muluzi bị các tiếng nói cả trong và ngoài nước chỉ trích vì đã có những động thái ngày càng chuyên quyền. Không muốn bị giới hạn chỉ trong hai nhiệm kỳ, ông cũng đã nỗ lực sửa đổi hiến pháp nhằm gia hạn thời gian cầm quyền của mình, nhưng bất thành.

Bingu wa Mutharika và Bakili Muluzi, hai tổng thống của Malawi. Ảnh: Maravipost.com.

Không thể tiếp tục nắm quyền, vào cuộc bầu cử tiếp theo (năm 2004), Muluzi đề cử một ứng viên khác của Đảng UDF là Bingu wa Mutharika. Ông Mutharika sau đó đắc cử tổng thống.

Mutharika, giống như những người tiền nhiệm của mình, là đại diện cho một tình trạng đáng lưu tâm trong tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia châu Phi. Đó là việc người lãnh đạo trở nên chuyên quyền sau một thời gian tại vị.

Là một trong những thành viên sáng lập chủ chốt của Đảng UDF, Mutharika có một nền tảng học thuật và hoạt động công ích vững chắc. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới trước khi bước vào chính trường.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Mutharika, Malawi trải qua nhiều thách thức lớn. Đất nước nhỏ này phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dịch bệnh HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các đòn bẩy kinh tế, mất cân bằng an ninh lương thực, nền giáo dục xuống cấp, và cơ sở hạ tầng yếu kém.

Giống những người tiền nhiệm, Mutharika đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, ông tập trung vào việc chống tham nhũng và thiết lập các chính sách kinh tế bền vững để giúp đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Còn về chính trị, Mutharika tập trung vào quá trình cải thiện tình hình nhân quyền và pháp quyền với một tôn chỉ: vì người dân Malawi.

Thế nhưng vào nhiệm kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 2009, chính sách của Mutharika đã quay ngoắt 180 độ so với những gì ông cố thực hiện trước đó. Có thể nói, Mutharika của năm 2004 và 2009 là hai phiên bản đối nghịch của nhau.

Mutharika ngày càng trở nên chuyên quyền và kém khoan dung trước những lời chỉ trích. Ông cách chức tùy tiện các quan chức chính phủ, sách nhiễu các nhà hoạt động phản đối chính sách mình đưa ra, công khai tuyên bố rằng sẽ “xử lý” và bỏ tù những người tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chế độ của mình.

Biểu tình lớn ở Malawi năm 2011. Ít nhất 19 người đã chết trong cuộc đụng độ với quân đội. Ảnh: VOA.

Vào tháng 7/2011, sức ép lên chính quyền của Mutharika càng lên cao. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra tại Malawi vì người dân bất mãn với giá lương thực tăng cao và cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn quốc. Quân đội được triển khai để trấn áp. 19 người biểu tình bị giết chết, hàng trăm người khác bị thương.

Ngày 5/4/2012, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Mutharika đột ngột qua đời vì một cơn đau tim.

Cái chết của vị tổng thống chỉ được công bố chính thức hai ngày sau đó. Lý do là vì các quan chức chính quyền (vốn theo Mutharika) không muốn phó tổng thống lúc bấy giờ là Joyce Banda thế vào chỗ trống theo hiến pháp. Tấm thảm dẫn tới ghế tổng thống lúc đó đã được trải sẵn cho cậu em trai Peter Mutharika. Tuy vậy, với sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong nước và quốc tế, Banda vẫn nhậm chức tổng thống tạm quyền.

Đến cuộc bầu cử năm 2015, Peter Mutharika giành thắng lợi với 36,4% số phiếu bầu. Ông vượt qua Lazarus Chakwera, ứng cử viên của đảng MCP, và Tổng thống tạm quyền Banda (đạt lần lượt là 27,8% và 20,2% số phiếu). Mặc dù Banda cáo buộc có gian lận bầu cử, Tòa án Tối cao Malawi đã bác bỏ cáo buộc này.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi sự tập trung không dành cho người về nhất, mà lại đổ dồn vào người về nhì: Lazarus Chakwera.

Khi người dân quyết tâm giành lại cuộc bầu cử

Lazarus Chakwera là một cái tên khá mới mẻ trong chính trường Malawi. Cuộc đời ông lẽ ra đã được định sẵn để trở thành một mục sư, chứ không phải là tổng thống.

Sinh ra trong gia đình có cha là một nhà truyền giáo, Chakwera theo học và tốt nghiệp cử nhân triết học tại Malawi, sau đó theo học thạc sỹ ngành thần học (theology) tại Nam Phi và Hoa Kỳ. Ông quyết định xông pha vào chính trường khi nhận thấy rằng đất nước của mình đang lâm vào khủng hoảng và trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết trong suốt 25 năm qua.

Dáng dấp của Chakwera gợi nhớ đến một trong những nhà lãnh đạo dân sự vĩ đại nhất nước Mỹ – mục sư Martin Luther King Jr. – và bài phát biểu “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) nổi tiếng. Trong các bài diễn thuyết của mình, Chakwera thậm chí còn truyền đi những hy vọng táo bạo hơn.

“Đã đến lúc chúng ta vươn xa hơn những giấc mơ của mình”, ông nói. “Tất cả phải thức dậy, bởi vì đây chính là thời điểm để thoát khỏi giấc ngủ dài và biến giấc mơ của chúng ta thành hiện thực”.

Đó cũng chính là thời khắc người dân Malawi chợt thức tỉnh.

Lazakrus Chakwera gợi nhớ đến huyền thoại Martin Luther King Jr. Ảnh: Reuters.

Vào cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2019, cái tên Peter Mutharika lại được xướng lên là người chiến thắng với 38,57% số phiếu, theo sau là Chakwera với 35,41%. Thế nhưng, chiến thắng lần này của ông Mutharika không kéo dài được lâu.

Ủy ban Bầu cử Malawi (MEC) nhận được 147 báo cáo về gian lận bầu cử, trong đó có việc sử dụng hóa chất Tipp-Ex để tẩy xóa các phiếu bầu của ứng cử viên đảng đối lập. Các đảng đối lập đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp, còn người biểu tình Malawi thì tràn ra đường để cất lên tiếng nói ủng hộ quyết định trên.

Vào tháng 2/2020, Tòa án Tối cao Malawi đưa ra phán quyết rằng đã có những sai sót “lớn, mang tính hệ thống, và nghiêm trọng” trong quá trình bầu cử; đồng thời yêu cầu tổ chức lại một cuộc bầu cử mới trong vòng 150 ngày.

Lần này thì hàng triệu cử tri Malawi quyết tâm không để gian lận bầu cử lặp lại.

Đại dịch COVID-19 ngăn cản các quan sát viên quốc tế đến giám sát cuộc bầu cử mới, nhưng điều này chẳng thành vấn đề. Các tổ chức dân sự, phóng viên, và các nhà hoạt động xã hội địa phương đã thay phiên giám sát từng quá trình, từ vận động, bầu chọn, cho đến kiểm và đếm phiếu.

Để đảm bảo không có gian lận xảy ra, người dân tuần hành “hộ tống” các thùng phiếu đến các trung tâm kiểm phiếu. Quân đội lại được triển khai, nhưng giờ đây là để bảo vệ dòng người biểu tình đang diễu hành đòi công lý.

Tháng 6/2020, cả đất nước trải qua giai đoạn hồi hộp nhất kể từ ngày độc lập. Người người chăm chú bên chiếc radio trong hàng tháng trời để dõi theo từng diễn biến của cuộc bầu cử mới.

Sau biết bao chờ đợi, người dân Malawi đã có lý do để ăn mừng. Kết quả cuối cùng không phụ lòng họ.

Người dân Malawi đón mừng phán quyết của Tòa án Tối cao tại thủ đô Lilongwe. Ảnh: The Economist/ AP.

Trong cuộc bầu cử “sạch” này, ứng cử viên Lazarus Chakewra đã chiến thắng với 59% trong tổng số 4,4 triệu phiếu bầu, bỏ xa đối thủ Mutharika.

Đây không chỉ là chiến thắng của riêng Chakewra, mà còn là của cả người dân Malawi trong nỗ lực bảo vệ nền dân chủ của mình.

Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của các thiết chế vững chãi đối với những quốc gia đang bước đầu xây dựng nền dân chủ: một hệ thống tòa án độc lập, một khu vực xã hội dân sự sôi động, một nền báo chí dấn thân, và một quốc hội đủ mạnh. Tất cả kết hợp lại sẽ khiến cho những kẻ đam mê quyền lực khó lòng bám trụ vào ảo tưởng của mình.

Đây cũng là một bài học cho tất cả các quốc gia khác – những nước xét về quy mô dân số và điều kiện phát triển đều hơn hẳn quốc gia châu Phi nhỏ bé này.

Người Malawi đã lựa chọn dân chủ. Họ không viện dẫn cái nghèo để thờ ơ với chính trị, hay để những kẻ chuyên quyền tước đi các quyền dân sự cơ bản nhất của mình: quyền được cất lên tiếng nói, quyền được bầu chọn người lãnh đạo, và quan trọng hơn hết, quyền được tiếp cận sự thật.

Malawi đáng được ngưỡng mộ vì lẽ đó. Tạp chí The Economist vinh danh họ là quốc gia của năm 2020 với một phát biểu hùng hồn:

“Dù đất nước còn nghèo, nhưng người dân Malawi không chấp nhận làm đối tượng bị cai trị. Họ là những công dân tự do.”

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện đời sống của những công dân tự do nơi đây. Nhưng trước mắt họ đang là rất nhiều hy vọng.

Tham khảo:

How Malawi saved its democracy, The Continent

Which is The Economist’s country of the year?, The Economist

A historic day for Malawi’s democracy, The Economist

Malawi’s re-run election is a victory for democracy, The Economist

Nyasaland Becomes Malawi, 37th Free African Country; New Name Helps Mark Shift of Control From Whites to Black Majority, New York Times

History of Malawi, Britannica
The Erosion of Democracy in Malawi: President Bingu wa Mutharika’s Unholy Conversion, Brookings Institution

CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦ

  Image may contain: text that says 'Pluralism'

 
CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦĐỗ Ngà

Đa nguyên về bản chất nó là dựa trên nguyên tắc “tất cả đều hòa thuận”. Nguyên tắc này được nêu ra từ rất xa xưa bởi các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Họ cho rằng chủ nghĩa đa nguyên là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, nó cho phép và thậm chí khuyến khích sự đa dạng của chính kiến. Để phát triển được chủ nghĩa đa nguyên thì mỗi người có phẩm chất “biết chấp nhận sự khác biệt”. Tuy nhiên để có con người biết chấp nhận sự khác biệt thì giáo dục thời cổ đại không thực hiện nổi. Chính vì vậy mà dù chủ nghĩa đa nguyên đã có từ lâu nhưng đợi đến thế kỷ 17 nó mới bắt đầu nảy nở và từ đó các nền dân chủ mới hình thành và phát triển.

Để đi đến bản hiến pháp tọa dựng nên nền dân chủ cho Hoa Kỳ thì tháng 10 năm 1787, 3 người thuộc đảng Liên Bang gồm Alexander Hamilton, James Madison và John Jay viết loạt sách có tựa The Federalist Paper, mỗi cuốn là một bài tiểu luận có giá trị. Nó là những bài phản biện sắc sảo để chuẩn bị viết nên bản Hiến pháp nổi tiếng. Trong đó có nhiều bài James Madison đã phản biện lại lỗ hổng mà Montesquieue đã viết trong cuốn Tinh Thần Pháp Luật nổi tiếng. Có tất cả 85 bài luận.

Trong bài luận The Federalist Paper số 10, James Madison đã cho rằng, nếu không có chủ nghĩa đa nguyên thì chính chủ nghĩa bè phái sẽ đưa đất nước đến các cuộc giao tranh chính trị cố hữu của và nó sẽ làm tan rã nền cộng hòa mới của Mỹ. Madison lập luận rằng, chỉ khi cho phép nhiều phe phái cạnh tranh bình đẳng để tham gia vào chính phủ thì nước Mỹ sẽ tránh kết quả thảm khốc này. Nghĩa là những đảng mạnh phải chấp nhận luật chơi công bằng, không dùng thế để loại bỏ đảng yếu hơn. Chính James Madison đã dựa vào chủ nghĩa đa nguyên xây dựng nên một nhà nước dân chủ và qua 245 năm, nó đã quá vững chắc.

Chính dựa trên nền tảng chủ nghĩa đa nguyên mà nền giáo dục nước này tạo ra cho nước Mỹ một nền tảng dân chủ vững chắc vì người dân Mỹ biết chấp nhận khác biệt. Chủ nghĩa đa nguyên nó giúp con người giảm căng thẳng với nhau, giúp con người chấp nhập sự thật rất dễ dàng. Một tổng thống hôm hay làm đúng, ngày mai ông ta lại trở thành kẻ phá hoại nền dân chủ thì với con người theo chủ nghĩa đa nguyên, họ sẽ dễ dàng vứt bỏ việc mến mộ và chuyển sang chỉ trích. Đó là lý do tại nao người dân Mỹ dồn phiếu cho Joe Biden trong cuộc bầu cử vừa qua. Nền dân chủ nước Mỹ được các vị khai quốc đặt nền tảng trước đây 2,5 thế kỷ giờ nó đã mọc rễ rất sâu trong lối sống người Mỹ rồi, phá không nổi dù cho người đó là tổng thống đầy quyền uy.

Chủ nghĩa CS nó nảy nở trên đất nước này qua 75 năm tạo ra tác hại ghê gớm. Bộ máy nhà nước CS không chấp nhận sự tồn tại của các đảng phái khác, không chấp nhận sự chỉ trích từ phía người dân đã đành, nó còn dựng nên một nền giáo dục thối tha mà nó gọi là “giáo dục XHCN”. Nền giáo dục này nó nặn ra con người phục tùng thiếu tư duy độc lập. Nếu nói ở Mỹ chủ nghĩa đa nguyên nó tồn tại trong bộ máy nhà nước lẫn trong tâm thức người dân thì tạo Việt Nam ngược lại nó chẳng tồn tại được ở chỗ nào cả. Nền tảng cho dân chủ Việt Nam vẫn là con số zero. Đó là lí do tại sao người Việt Nam dễ sùng bái lãnh tụ và dễ bị dắt mũi bởi những loại tin giả.

Có thể nói với nước Mỹ thì không ai đá đổ nổi nền dân chủ, còn với Việt Nam thì ngược lại, rất rất khó có thể gầy dựng nên một nền dân chủ được. Chỉ khi nào con người Việt Nam biết chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên, thì khi ấy dân chủ mới nảy nở và lớn mạnh được.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.thoughtco.com/pluralism-definition-4692539

https://www.history.com/topics/early-us/federalist-papers

 

10 Điều Phương Tây Đã Dạy Tôi

GÓC SUY GẪM….

10 Điều Phương Tây Đã Dạy Tôi

Là một người may mắn được ăn học ở Phương Tây, tôi cũng đã ít nhiều học được nhiều thứ mà tôi nghĩ ở Việt Nam sẽ chẳng bao giờ dạy.

Trước đây có một bài báo mang tên “2 tỷ đồng du học có mua được một người văn minh không?” Theo tôi, văn minh không phải là một cái gì đó có thể mua được, vì tôi thấy có nhiều bạn du học mà vẫn xấu tính như thường. Văn minh là một thứ gì đó chúng ta phải tiếp thu và truyền lại cho người khác.

Chúng ta không cần phải bỏ ra 2 tỷ để mua một con người văn minh. Sau đây là 10 điều mà tôi đã học và Phương Tây đã dạy tôi.

  1. Nụ cười. Người Phương Tây rất thích cười. Thậm chí, đó là điều bạn sẽ trông thấy đầu tiên từ người quen cho đến người ngoài đường. Khi bạn đi bộ và thấy một người lạ nào đi đối diện, họ sẽ nhìn bạn và nở một nụ cười, và thậm chí hỏi “bạn khỏe không?”
  2. Cảm ơn và xin lỗi. Đây là 2 câu cửa miệng của người Phương Tây mà tôi nghĩ còn xa lạ đối với đại đa số người Việt. Không phải vì chúng ta kém văn minh hơn mà chúng ta có cái suy nghĩ khác về việc sử dụng 2 từ này. Nếu bạn vô tình va chạm một ai đó cho dù lỗi là bạn, nhưng họ cũng sẽ nói “I’m sorry.” Và khi bạn làm gì đó cho họ, họ sẽ đáp lại với câu “thank you.” Nhiều bạn sống lâu năm ở Phương Tây khi trở về Việt Nam sinh sống và làm việc cảm thấy rất khó chịu vì môi trường Việt Nam thiếu đi điều này.
  3. Tư duy cá nhân. Trường lớp Phương Tây khuyến khích tư duy cá nhân, khác với tư duy tập thể của văn hóa Đông Á. Thậm chí, tư duy cá nhân là nền tảng của giáo dục Phương Tây. Mỗi cá nhân là một cái gì đó đặc biệt và không thể gom chung được.
  4. Văn hóa đọc sách. Trung bình, một người Tây sẽ đọc tầm 4-7 cuốn sách trong một năm. Còn ở Việt Nam thì con số là 0.7. Bạn sẽ hỏi “rồi sao? Đọc sách thì liên quan gì?” Sách là kho tàng kiến thức, là nơi một người tìm đến để mở mang tầm nhìn của mình. Ngành xuất bản ở Phương Tây rất phát triển, khác hoàn toàn đối với ở Việt Nam. Một đất nước mà trung bình một người dân chỉ đọc 0.7 cuốn sách thì bạn nghĩ đất nước đó có đủ kiến thức để phát triển không? Tôi nghĩ là không.
  5. Không soi mói đời tư cá nhân. Người Phương Tây chỉ tập trung vào chuyên môn của bạn, họ không quan tâm bạn là ai, từ đâu đến. Điều quan trọng nhất vẫn là năng lực của bạn. Ngược lại, người Việt Nam thường hay soi mói cá nhân và những thứ chẳng liên quan gì.
  6. Tư duy chỉ trích những lãnh đạo chính trị. Cái này mình xin không nói nhiều nhé…..Nói tóm lại là người Phương Tây coi lãnh đạo của họ là những viên chức ăn lương bình thường như bao người khác, không hơn không kém. Họ đã nhận lương thì họ phải làm tốt công việc của mình. Còn ở Việt Nam thì sao?
  7. Tầm nhìn dài hạn. Người Phương Tây khi đã lên kế hoạch và xây dựng cái gì thì họ sẽ có tầm nhìn dài hạn, ít nhất là 20 năm trở lên. Các doanh nghiệp Tây không bao giờ làm ăn chụp giật để kiếm lời trong ngắn hạn như Đông Á. Họ luôn có cái nhìn lâu dài và bền vững.
  8. Tôn trọng và nâng niu phụ nữ. Ở Phương Tây, quy luật tất yếu là “phụ nữ là nhất.” Phụ nữ luôn được đàn ông tôn trọng. Ở Việt Nam thì khi đàn ông nhìn phụ nữ tôi cá rằng họ chỉ muốn “chịch.” Cách tán gái của đàn ông Việt vì vậy mà thô tục không kém. Chẳng có văn hóa và đẳng cấp chút nào.
  9. Tôn trọng sự khác biệt của người khác, đừng bao giờ ép người khác phải theo mình. Đây cũng là một phần của “chủ nghĩa cá nhân.” Mỗi cá nhân là một món quá đặc biệt của Thượng Đế. Nên đừng bao giờ ép người khác phải làm theo ý mình, trừ khi họ tự nguyện.
  10. Và cuối cùng, tôi nghĩ cái này là quan trọng nhất, đó là “tư duy thắc mắc” hoặc cái mà tôi gọi là “văn hóa tại sao?”

Người Phương Tây luôn luôn hỏi, luôn tìm hiểu và luôn hỏi tại sao. Họ không bao giờ ngừng suy nghĩ hay tự cao về bản thân. Cũng ít khi nào lấy bằng cấp mình đi khoe và coi đó là sự thể hiện rằng mình hơn người khác. Họ không bao giờ ngừng học hỏi. Ở đây không phải tôi so sánh, mà hình như người Việt Nam không có cái tư duy này. Trong mắt người Việt luôn có cái nhìn “kệ nó” hay “tại vì xứ mình nó thế.”

Đó là 10 điều trong vô số điều mà tôi đã học được từ Phương Tây. Người Việt Nam là một dân tộc rất đẹp, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải học hỏi nhiều từ Phương Tây.

Không phải vì chúng ta thấp hơn hay họ cao hơn, mà vì những thứ trên là những yếu tốt giúp họ trở thành những nước phát triển.

Hy vọng các bạn đọc và hiểu.

Cafe Ku Búa….

LS STEVEN ĐIÊU: TRUMP HỦY HOẠI TRUYỀN THÔNG & ĐỊNH CHẾ DÂN CHỦ MỸ?

httpv://www.youtube.com/watch?v=79s91CL8znM

LS STEVEN ĐIÊU: TRUMP HỦY HOẠI TRUYỀN THÔNG & ĐỊNH CHẾ DÂN CHỦ MỸ?

Những nhà độc tài thường ra nhiều chiêu bài như: tạo mâu thuận phân hóa trong xã hội, Tạo kỳ thị tôn giáo ,chủng tộc, hủy hoại truyền thông là đệ tứ quyền” Truyền thông là kẻ thù nhân dân “. Đó là những điều Trump đưa ra trong suốt 4 năm qua.

‘Nghĩa đời trong ba tiếng’ (*)

Image may contain: one or more people, people sleeping, baby and closeup

 

TẠP GHI HUY PHƯƠNG….

*******

‘Nghĩa đời trong ba tiếng’ (*)

Nhân loại, ai khi mới sinh ra cũng cất tiếng khóc. Theo y học, sau khi ra đời, cuống nhau thai nhi cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng bị cắt bỏ, đứa bé buộc phải tự hô hấp. Tiếng khóc làm phổi mở rộng và đứa trẻ bắt đầu thở. Tiếng khóc của em bé giúp đẩy ra và hít không khí vào phổi liên tục với tốc độ nhanh, giúp phổi nhanh chóng thích ứng với việc hô hấp. Tiếng khóc còn giúp trẻ sơ sinh loại bỏ được những chất dịch còn đọng lại trong phổi, mũi hoặc miệng.

Nghe tiếng khóc, bác sĩ còn có thể biết được tình trạng sức khoẻ của đứa trẻ.

Trẻ không khóc là không thở được, người ta sẽ dốc ngược thân em bé xuống và vỗ mạnh vào mông đứa trẻ.

Tiếng khóc đầu đời của một bé sơ sinh cũng là nỗi vui cả người cha đang ngồi ở phòng chờ và người mẹ vừa mới qua cơn sống chết để sinh con. Tiếng khóc cũng là âm thanh khởi đầu cho một đời người, mà theo triết lý bi quan, có buồn nhiều hơn vui, vì “đời là một thung lũng nước mắt,” hay “đời là bể khổ.”

Chính Nguyễn Công Trứ cũng đã có lần hỏi: “Trần có vui, sao chẳng cười khì?”

Dù thế nào đi nữa, tiếng khóc cũng là biểu hiện cho sự sống. Đó chính là niềm hạnh phúc cho mỗi gia đình.

Lớn lên, ai cũng phải vất vả mới có miếng ăn. Dù là “cổ xanh” hay “cổ trắng,” ai cũng phải chạy theo thời gian, dính líu đến chiếc đồng hồ chỉ giờ.

Ngày còn đi làm, tôi ghét nhất là cái đồng hồ báo thức, lúc sáng sớm, bỗng reo lên, phá tan cơn mộng mị và giấc ngủ đang ngon lành, vì cứ đi trễ vài lần là chắc chắn mất việc, mà mất việc sẽ dẫn đến chuyện mất nhà, và mất… vợ!

Qua thời gian đi làm việc mưu sinh trên xứ này, nếu có người hỏi tôi, cái gì làm cho tôi chịu đựng nhiều nhất, đó là gặp một ông boss khó tính hay bạn đồng nghiệp thiếu thân thiện, kỳ thị, thì tôi trả lời ngay đó là cái đồng hồ báo thức khi phát kêu lên những tiếng kêu khó thương mỗi buổi sáng, những buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo, nhất là những ngày ở miền Đông, vén màn nhìn ra ngoài trời, thấy tuyết đang rơi mù mịt.

Dù là cái đồng hồ hay chiếc radio phát ra những nốt nhạc trầm bổng, hay tiếng kêu lích kích thì cũng chẳng ai ưa, nhưng nếu cái vật biết kêu này, một sáng nào đó, nhức đầu sổ mũi, ngủ quên, làm chính chủ nhân nó cũng ngủ quên theo, thì lại là một đại họa.

Đó là “nhân vật” gần gũi khó chịu nhất, mà tối trước khi đi ngủ, chúng ta phải sờ đến nó, trừ tối Thứ Bảy và những ngày nghỉ lớn trong năm. Có lẽ đến tuổi về hưu, chúng ta nên “làm lễ” tống khứ cái đồng hồ báo thức, hay lấy búa đập nó thành mớ sắt vụn, cho hả dạ.

Thời gian làm lụng vất vả, ai cũng mong cho đến một này “rửa tay, gác kiếm,” thong dong bước vào tuổi già, mắc võng giữa hai cây lớn, đầy bóng im trong vườn nhà, đong đưa cho quên hết việc đời. Nhưng khổ nỗi, chữ “hưu” gần với chữ “già,’ mà già, bệnh, và chết là ba giai đoạn cuối cùng của cuộc đời. Ít ai được chết như ngọn đèn hết dầu tắt phụt hay như chiếc xe hết nhiên liệu, đột ngột tắt máy, dừng lại giữa đường. Không ít thì nhiều, khi ta về già, ai cũng trải qua nhiều thứ bệnh tật, vào ra bệnh viện, trước khi xuôi tay.

Nhìn quanh bạn bè, chẳng ai khá hơn ai. Người thì bị troke bán thân bất toại, người thì suy thận, phải vào bệnh biện ba lần mỗi tuần để lọc thận, người phải mang bình tiểu quanh năm, người mắc bệnh ung thư, sau nhiều năm chữa bệnh, tóc rụng, thân gầy nằm chờ chết. Mà không ai biết ngày mai, mình sẽ ra sao? Không biết đêm nay có phải là một đêm yên lành, để sáng mai thức giấc, còn được nhìn thấy ánh mặt trời qua khung cửa hay không. Chuyện gì sẽ đến trong đêm hôm nay?

Nhiều đêm, chúng ta chợt thức giấc nửa khuya, nghe tiếng còi cấp cứu vang rền trong đêm vắng, để đưa một ai đó vào bệnh viện. Chúng ta đã có lúc, hay rồi ra sẽ có khi là nhân vật nằm trên chiếc cáng, trong chiếc xe màu trắng, loang loáng ánh đèn đỏ, chớp tắt liên hồi ấy, hối hả trên đường đến bệnh viện.

Tiếng còi xe cứu thương đã trở thành một âm thanh ghê sợ, hãi hùng, có khi đem một người đi mãi không về, nếu không thì cũng bệnh viện với màu trắng của giường nệm, y phục của những người y tá, dây nhợ chuyền thuốc men, nước biển… Những đoạn thời gian hôn mê trong phòng mổ, những cơn đau vật vã, những mũi thuốc vội vàng từ người y tá và một nỗi buồn tê dại mỗi chiều, mỗi đêm, cô quạnh với những giọt thuốc nhỏ giọt thấm vào cơ thể, tiếng nói cười của những người xa lạ, trần nhà trước mắt và những ánh đèn chong sáng suốt đêm.

Con đường từ nhà ra nghĩa địa hay lò thiêu mà không đi qua bệnh viện là con đường đẹp nhất! Phúc cho ai chưa bao giờ phải nằm trên chiếc cáng trong xe cứu thương hay chưa trải qua một ngày nào trong bệnh viện.

Đêm nay, một đêm cuối năm lạnh lẽo, trời trở gió, văng vẳng đâu đây một tiếng còi xe cấp cứu, nghe khi gần khi xa.

Xin cầu nguyện cho chúng ta được một đêm yên lành, và không bao giờ chiếc xe đó, dù chỉ một lần, trực chỉ đến địa chỉ căn nhà của chúng ta đang sống!

Phải chăng,“Nghĩa đời trong ba tiếng”: Tiếng khóc của trẻ thơ. Chuông buổi sáng báo giờ. Hồi còi xe cấp cứu!

– Em bé chào đời. (Hình: PHILIPPE HUGUEN/AFP via Getty Images)

Giá Trị Con Người Là Số 1 Hay Số 0?

 

GÓC SUY GẪM…

Giá Trị Con Người Là Số 1 Hay Số 0?

“Nhà toán học Ả Rập vĩ đại Al Khawarizmi khi được hỏi về giá trị của con người, ông đã trả lời:Nền tảng con người là đạo đức. Nếu có đạo đức, thì giá trị của bạn là 1.

Cách mà nhà toán học Al-Khwarizmi diễn giải để thiết lập giá trị của một con người theo các con số toán học có chút gì đó… kỳ kỳ mà đảm bảo khi xem kỹ, khối dân công sở sẽ giật mình. Đâu là giá trị làm nên một con người?

Đối diện với câu hỏi này, tin chắc rằng không ít dân công sở sẽ trả lời rằng nó nằm trong trí tuệ, sự giàu có, mức độ thành công và thậm chí là cả nhan sắc.

Bởi lẽ, hầu hết đều ngộ nhận rằng, trong môi trường làm việc, một cá nhân thông minh thì sẽ được sếp và đồng nghiệp đánh giá cao; thân thế tốt thì ít nhiều cũng nhận được sự coi trọng nhất định. Nếu thêm đẹp đẽ xinh xắn nữa thì ai ai cũng muốn ở gần để được… chiều chuộng thị giác.

Và Muhammad Musa al-Khwarizmi – nhà toán học vĩ đại người Ả Rập cũng đồng tình với những điều trên. Ấy thế nhưng, cách mà ông diễn giải để thiết lập giá trị của một con người theo các con số toán học có chút gì đó… kỳ kỳ mà đảm bảo khi xem kỹ, khối dân công sở sẽ giật mình.

Cụ thể, có câu chuyện kể rằng, lúc Khwarizmi được hỏi về giá trị của con người, ông điềm đạm đã trả lời như sau:Nền tảng con người là đạo đức. Nếu có đạo đức, thì giá trị của bạn là 1.

Nếu cũng thông minh, thêm một số 0 và giá trị của bạn sẽ là 10.

Nếu cũng giàu có, thêm một số 0 nữa và giá trị của bạn sẽ là 100.

Nếu trên tất cả bạn lại còn xinh đẹp, lại thêm một số 0 và giá trị tổng sẽ là 1000.

Nhưng nếu bạn bị mất số 1, tương ứng với mất đạo đức, bạn sẽ mất tất cả giá trị và giá trị của bạn chỉ còn là số 0.

Quả thật, dù đạo đức là thứ không thể đo lường bằng các định lượng khách quan được, nhưng suy cho cùng từ xưa đến nay, không chỉ Khwarizmi, cổ nhân từ phương Đông cho đến phương Tây mà cả những thế hệ người lớn gần gũi xung quanh chúng ta như ông bà, bố mẹ, thầy cô đều đồng tình cho rằng nền tảng để tạo nên giá trị của một con người là nằm ở mặt đạo đức.

Đúng thật là như nhiều người nghĩ, xinh đẹp, tài giỏi hay thông minh đều mang đến cho chúng ta nhiều lợi ích nhất định trong mắt người đời. Tuy nhiên, một khi nền tảng đạo đức không có thì giá trị của chúng ta chỉ dừng ở mức có và rất khó để dùng.

Riêng trong môi trường công sở mà nói. Tài giỏi mà không có đạo đức, người ta rốt cuộc cũng chỉ là kẻ tiểu nhân, dùng cái tài của mình để mưu cầu lợi ích cho bản thân hoặc xem sự tài giỏi của mình là vũ khí để công kích đồng nghiệp, uy hiếp cả sếp.

Đẹp mà không có đạo đức cũng chẳng làm gì ra hồn, không “chọc trời” cũng quay sang “khuấy nước”, gây chuyện điên đảo thị phi trong công ty.

Giàu vật chất mà không có đạo đức, đời sống tinh thần chẳng lúc nào yên vui vì chất chứa tâm cơ, đồng nghiệp chán ghét.

Ngược lại, nếu dân công sở dẫu chẳng đẹp đẽ, thông minh hay tài giỏi, chỉ cần có đạo đức, biết kính trên nhường dưới, nắm rõ nghệ thuật đối nhân xử thế và tử tế tốt bụng với mọi người xung quanh, đảm bảo ai cũng yêu quý và nể trọng.

Nên nhớ, trí tuệ kiến thức có thể trau dồi nhưng nhân phẩm và đạo đức một khi đánh mất sẽ rất khó tìm lại được. Nhân phẩm tốt có thể bù đắp lại sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng tài vận vĩnh viễn không thể bù đắp được thiếu sót trong nhân cách.

“Tả thị Xuân Thu” có câu “trước lập đức, sau lập công”. Câu này có nghĩa là phàm làm người muốn thành danh, thành công trên con đường sự nghiệp thì trước tiên phải biết “lập đức”, tức là trau dồi nhân phẩm, dung dưỡng đạo đức và đạo làm người cho tốt cái đã.

Image may contain: one or more people and indoor

Quan Sát Tâm

Chính xác. Có câu, “có đức không sức mà ăn” là vậy. Có đức thì những thứ khác từ từ sẽ bị hút đến.

Cuối cùng rồi, sau khi nhắm mắt xuôi tay, cái gì sẽ còn giữ lại, theo ta mãi mãi, đó không phải là tiền bạc, giàu sang, quyền lực, chức vụ, địa vị, đó chính là nhân cách, là đạo đức của con người. Khi nhắm mắt có nhiều người thương tiếc, nhiều người cầu nguyện cho. Tục ngữ ta có câu”Có đức không sức mà ăn” chỉ cảm nghiệm được sau khi trải qua cuộc đời thăng trầm, sẽ nhìn thấy dễ dàng hơn lúc về già.

LỰA CHỌN CÁCH SỐNG

LỰA CHỌN CÁCH SỐNG

Ta chọn làm người lương thiện không có nghĩa là mềm yếu, mà bởi vì ta hiểu rằng lương thiện là bản tính nguyên sơ của con người, “nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Làm người thì không thể chọn con đường trở thành kẻ ác, người ác tất sẽ có báo ứng.

Ta chọn “khờ khạo” không phải vì ta khờ khạo thật, mà bởi vì ta hiểu rằng, khi đối diện với hiểu lầm, oan ức, bất công thì không nên so đo tính toán quá, cứ nở nụ cười mà lặng nhìn thế thái nhân tình. Đôi khi chủ động ngốc không phải là ngốc thật, mà chỉ là muốn cấp cho đối phương thêm một cơ hội nữa.

Ta chọn nhường nhịn không có nghĩa là ta thụt lùi, mà vì ta hiểu rằng, “một sự nhịn, chín sự lành”, nhịn một chút sóng yên biển lặng, lùi một chút biển rộng trời cao.

Ta chọn tha thứ không phải vì ta nhu nhược, mà bởi vì ta hiểu rằng tha thứ là một trong những đức tính tốt đẹp nhất trên đời, không bao giờ là sai cả. Ta lựa chọn tha thứ còn một nguyên nhân nữa, không phải vì ta không giữ vững lập trường, mà bởi vì ta hiểu rằng mọi chuyện không nên làm cho tuyệt tận…

Ta chọn chân thành và nói lời thẳng thắn là bởi vì ta hiểu rằng, những lời nói dối, trái với lương tâm chỉ dùng để đối phó tình huống, trong khi thật lòng đối đãi, nói lời chân tình mới thật sự giải quyết tận gốc vấn đề và không có hậu họa về sau.

Cuộc đời vốn dĩ có nhiều điều dù ta có muốn hay không chúng vẫn tồn tại. Tuy nhiên khi đối diện với cuộc đời thì bản tính của mình như thế nào mới là điều quan trọng nhất.

St ảnh “Ta béo, không phải vì ta muốn béo.

Mà nhìn món ăn, đã muốn ăn rồi “.

Đặng Đài

Image may contain: 1 person, sitting

VÔ THƯỜNG

VÔ THƯỜNG

Tương lai là những điều không thể biết trước và đời người có những chuyện không thể thay đổi, không nên sợ và có những chuyện không thể lựa chọn. Đời người luôn có 2 chuyện không thể đợi, 2 việc không thể sợ và 2 việc không thể lựa chọn.

Đời người có 2 thứ không thể sợ, không nên sợ, bạn có biết là gì không?

Thứ duy nhất bạn có thể làm là đối mặt !

Hai điều không nên sợ

Sợ cái chết

Đã là con người ai cũng phải theo vòng tuần hoàn của trời đất, sinh ra, lớn lên, trưởng thành và già đi rồi trở về với cát bụi. Thế nhưng cũng có những người số phận ngắn, bệnh tật hay tai nạn khiến họ không thể ở lại thế gian lâu hơn nữa. Cuộc đời sinh lão bệnh tử đó là quy luật của tự nhiên, không thể nào làm trái, đến một ngày nào đó ai cũng phải mất đi.

Nếu sống mà chỉ như “tồn tại”, sống không có ý nghĩa, không mục đích thì cuộc sống ấy bạn có thấy hạnh phúc hay không. Nếu chết mà như không chết, được người đời tôn trọng, lưu danh và mãi mãi khắc ghi những thành tựu của bạn, thì đó không phải là chết. Đó là “sống mãi’, trong tim mọi người, được người đời yêu quý.

Hãy coi trọng từng ngày sống trên thế gian để làm việc thiện, việc có ích, có lý lẽ sống. Như vậy mỗi ngày sống của bạn không hề hoài phí, không hề vô vị. Và cái chết khi ấy đã bị bạn xem thường.

Sợ nỗi cô đơn

Rất nhiều người chia sẻ họ sợ cô đơn, vì vậy họ luôn cố gắng tìm một mối quan hệ mới để khỏa lấp chỗ trống. Thực ra con người từ khi sinh ra đã đối diện với nỗi cô đơn, khi bé thì sợ ở nhà một mình, sợ bóng tối nên khóc đòi mẹ. Khi lớn đi đến trường lại sợ cô đơn nếu không có ai chơi cùng, bị bạn bè xa lánh. Khi đó ai cũng cố gắng tìm kiếm cho mình một người bạn.

Lớn lên vì sợ nỗi cô đơn nên ta tìm một nửa yêu thương để san sẻ tình cảm, để cuộc sống trở nên bận rộn, sinh động hơn. Khi những đứa con đủ lông đủ cánh để bay xa, ta lại sợ nỗi cô đơn vì thiếu vắng, vì nhớ nhung chúng. Khi đó là lại tìm tới những người bạn và những thú vui tuổi già.

Như vậy ta luôn trốn tránh nỗi cô đơn trong một mối quan hệ mới, nhưng ít người biết học cách đối diện, tìm cách tự bản thân cảm thấy vui vẻ, hài lòng. Ví như những người tu luyện trên núi, rừng quanh năm chẳng gặp bóng người, há chẳng phải rất cô đơn lạc long sao? Thế nhưng tại sao họ lại vẫn cảm thấy an yên, vui vẻ. Đó là cách họ học cách đối diện với nỗi cơ đơn, làm bạn với thiên nhiên, tự khắc lòng mình bình lặng lại.

Hai điều không thể đợi

Đợi báo hiếu

Tình thương của cha mẹ luôn vô bờ bến và không bao giờ phải đợi chúng ta “đền đáp”. Rất nhiều người nhầm tưởng rằng hiếu thảo là ‘trách nhiệm”, không đâu đó là việc hiển nhiên, xuất phát từ chính cái tâm chúng ta. Đừng biến nó thành khuôn khổ.

Lòng hiếu thảo với cha mẹ như dòng chảy tự nhiên trong con người, nhưng người ta vẫn cần nhiều nỗ lực – để chữ hiếu còn là một chuẩn mực hành vi.

Sự hiếu thảo của con cái không phải là việc cho bố mẹ tiền bạc, nhung lụa mà đơn giản là những hành động, quan tâm nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống. Bởi ở tuổi già, bố mẹ chẳng cần gì cả, chỉ cần con cái cháu chắt khôn ngoan, lễ phép với ông bà.

Đừng đợi để báo hiếu, bởi ba mẹ già “như chuối chín cây”, không thể biết cha mẹ có thể ở bên cạnh chúng ta bao lâu. Vì vậy hãy trân quý thời gian bên cạnh họ, bù đắp lại nỗi vất vả, hi sinh vì con cái. Cảm ơn ba mẹ đã sinh ra, dưỡng dục thành người.

Giữ gìn sức khỏe

Sức khỏe là thứ đáng quý trong cuộc sống này, bạn có thể có tiền bạc của cải nhưng lại không có sức khỏe. Khi ấy tiền chẳng còn nghĩa lý gì, có tiền nhưng chẳng tiêu vào bản thân được. Khi chết cũng không thể nào mang đi được. Đừng nghĩ chúng ta còn trẻ mà coi thường sức khỏe, có những thứ khi đã mất đi rồi có bao nhiêu tiền cũng không thể lấy lại.

Hãy giữ cho tâm hồn luôn khoáng đạt, yêu thương cộng đồng và gia đình. Ăn uống và luyện tập lành mạnh để có sức khỏe tốt nhất, để có thể giải quyết những khó khăn của cuộc sống. Người đời thường nói “có sức khỏe, là có tất cả”, quả đúng như vậy.

Hai điều không thể thay đổi

Vận may

Sống trên đời ai chẳng muốn bản thân gặp được nhiều may mắn, mọi chuyện suôn sẻ, hanh thông. Tuy nhiên nếu gặp chuyện xui xẻo bạn cũng đừng nên nản lòng, đã là vận thì không thể thay đổi. Hãy đối diện và tìm cách hóa giải nó.

Hãy sống có ích cho đời, sống an yên và làm những việc thiện, tự khắc bạn sẽ thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn

Xuất thân

Không ai có quyền lựa chọn thân phận khi mới sinh ra. Là người giàu, người nghèo hay những người có số phận kém may mắn đều không thể lựa chọn. Xuất thân như thế nào không quan trọng, quan trọng là bạn có biết cách khiến cuộc đời bạn trở nên ý nghĩa hay không. Có dám vượt lên số phận để có một tương lai mới mẻ hay không? Đó là ở quyết định, nghị lực của chính bạn.

Như vậy xuất thân không thể thay đổi nhưng tương lai của bạn, chính bạn có thể thay đổi.

S.T.

From: TU-PHUNG

 Ba câu chuyện ý nghĩa…

 Ba câu chuyện ý nghĩa, đọc đi đọc lại để thấy lẽ đời trong từng nhịp sống

*******

Câu chuyện thứ nhất.

Người thợ mộc chặt được một cây gỗ, anh làm ra 3 cái thùng.

Một thùng đựng phân gọi là “thùng phân”, mọi người đều tránh xa;

Một thùng đựng nước gọi là “thùng nước”, mọi người đều dùng nó;

Một thùng đựng rượu vang gọi là “thùng rượu”, mọi người cùng thưởng thức rượu ngon trong thùng.

Ba chiếc thùng giống nhau hoàn toàn từ chất liệu đến hình thức, nhưng vì chứa các vật chất khác nhau mà nhận được “sự đối xử” khác nhau. Cuộc đời cũng như vậy. Giá trị của chúng ta không nằm ở ngoại hình hay địa vị, mà là ở bên trong mỗi người.

Câu chuyện thứ hai

Báo chí đưa tin về một trường hợp trúng số độc đắc, mọi người liền đổ xô đi mua vé số với mong muốn vận may sẽ đến với mình. Nhưng khi báo đưa tin về một vụ tai nạn, trong 50 hành khách trên xe thì có 2 người mua bảo hiểm nhân thọ, mỗi người đều được bồi thường một khoản tiền rất lớn.

Chắc hẳn bạn cũng đồng ý rằng họ đã mua đúng thứ cần thiết, nhưng không vì điều đó mà bạn đi mua bảo hiểm vì cho rằng rủi ro này không thể xảy ra với bạn được. Hai sự việc này đã phản ánh rõ tâm lý mâu thuẫn của con người.

Câu chuyện thứ ba

Sói đi ngàn dặm để săn mồi, ngựa đi ngàn dặm để có cỏ xanh tươi, cá để sinh tồn phải bơi ngược dòng, đến khi chết xác sẽ xuôi theo dòng nước.

Có một câu nói như thế này: “Bạn thực sự mệt ư? mệt là đúng rồi, thảnh thơi là chỉ khi ta không còn sống!”

Khổ mới là cuộc sống,

Mệt mới là công việc,

Biến mới là số phận,

Nhẫn mới là tôi luyện,

Dung (bao dung) mới là trí tuệ,

Tĩnh mới là tu dưỡng,

Xả (bỏ qua) mới là có,

Tác (làm việc) mới là sở hữu!

Nếu bạn thấy mình đang quá vất vả, hãy nhắc nhở bản thân: Đoạn đường dễ đi đều là những đoạn xuống dốc, hãy cố gắng lên vì đoạn đường bạn đang đi là đoạn lên dốc!

Tác giả Quỳnh Chi.

So sánh mức sinh hoạt ở Mỹ và Việt Nam

Một chiếc xe Lexus 570 ở Mỹ được bán ra với giá khoảng 2 tỷ đồng nhưng ở Việt Nam được bán với giá 9 tỷ đồng, cộng thêm thuế và phí để lăn bánh được thì khoảng 10,5 tỷ đồng.

Thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ khoảng 60 nghìn USD/năm (tương đương 1,35 tỷ đồng) trong khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 3 nghìn USD/năm (tương đương 70 triệu đồng).

Như vậy, để mua 1 chiếc xe Lexus 570 thì dân Mỹ phải làm 1 năm 4 tháng trong khi người Việt Nam phải làm khoảng 145 năm.

Nếu giá xe tham chiếu trên mức thu nhập bình quân đầu người thì giá chiếc Lexus 570 ở Việt Nam chỉ là 94 triệu. Nói dễ hiểu thì nếu dân ta là dân Mỹ với mức thu nhập hiện tại thì chỉ phải bỏ ra 94 triệu để sở hữu chiếc xe này.

Người Mỹ thu nhập cao hơn ta 20 lần nhưng lại mua xe với giá rẻ hơn 5 lần. Tại sao vậy? Giá xe thì nhà sản xuất bán ra ở đâu cũng gần giống nhau, chẳng qua ở ta phải mua giá cao là do nhà nước thu thuế, phí cao.

Thuế, phí đánh lên xe ô tô quá cao như hiện nay đã tước đi cơ hội sở hữu xe ô tô của phần lớn dân chúng trong khi hệ thống giao thông công cộng yếu kém buộc người dân phải chọn xe máy để đi lại, đây là nguyên nhân số người chết vì tai nạn giao thông ở ta rất cao vì phần lớn bị thiệt mạng trong các vụ TNGT đều là người đi xe máy.

Thuế, phí cao đánh lên xe hơi thì nhà nước tăng thu nhưng dân lại chết nhiều, đó là sự thật.

Chỉ khi nào chi tiêu ngân sách minh bạch, bộ máy nhà nước tinh gọn và không còn các hội đoàn ăn bám vào ngân sách thì người Việt Nam mới được mua 1 chiếc xe hơi có giá như người dân các nước trong khu vực.

Ls Nguyễn Danh Huế

 CHỨNG NHÂN LẶNG LẼ

 CHỨNG NHÂN LẶNG LẼ

“Người ta nghe tiếng khóc than nức nở,

đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất ngạc nhiên khi nói, trước cả cái chết của Têphanô, vị thánh phó tế, các trẻ sơ sinh thời Chúa Giêsu giáng thế là những chứng nhân tử đạo đầu tiên của Ngài; bằng chứng là Giáo Hội tôn kính các Thánh Anh Hài như các vị thánh tử đạo. Thật bất ngờ, những trẻ này nói với chúng ta nhiều điều nhân dịp Giáng Sinh, dẫu đó là những ‘chứng nhân lặng lẽ’ không mấy ai chú ý.

Trước hết, các trẻ này nói rằng, ‘Kìa, sự độc ác của con người sâu xa đến mức, khi ai đó muốn duy trì quyền lực, họ có thể cướp đi mạng sống của người khác!’. Thế nhưng, chính những trẻ thơ này lại âm thầm nhắc cho chúng ta về một thực tế khác rằng, ‘Có một nơi mà các chế độ chuyên chế không thể ngự trị; bởi lẽ, sẽ có một vị Vua trị vì thần dân Ngài bằng tình yêu; Vương Quốc Ngài không thể bị đánh bại bởi sự ác’. Những trẻ thơ này là sứ giả của Vương Quốc đó, Vương Quốc tình yêu của Giêsu. Các bé thơ này đã được kêu gọi để đưa ra một chứng tá lặng lẽ, gãy gọn, nhưng đầy sức mạnh về một cuộc chiến mà Vua Giêsu sẽ đích thân nghinh chiến vì tình yêu; các em là những ‘chứng nhân lặng lẽ’ đã đi trước Ngài; mẹ các em sẽ gặp lại con mình, bồng ẵm chúng mãi mãi vào một ngày nào đó trước sự chứng kiến của vị Vua đầy yêu thương.

Tiếp đến, các trẻ này đã đọc trước Kinh Lạy Cha mà vị Vua của họ sẽ dạy cho các môn đệ của Ngài, “Nước Cha trị đến!”; đây là tiếng khóc, tiếng nài van, cũng là lời cầu nguyện đầu tiên của những tâm hồn thánh thiện thơ bé. Một ngày nào đó, Tân Vương của họ sẽ trị vì trong Nước Cha; nhưng trước đó, sẽ có một cuộc chiến khủng khiếp giữa Ngài với quyền lực sự dữ; các trẻ này là những ngôn sứ quyền năng tiên báo bi kịch lịch sử của nhân loại cũng như cuộc chiến giữa vị Vua ánh sáng và ác thần của bóng tối; thư Thánh Gioan hôm nay nói, “Thiên Chúa là sự sáng, nơi Người không có sự tối tăm nào”.

Sau cùng, tiếng khóc của các thơ nhi này còn là một lời cầu nguyện mạnh mẽ được Chúa Cha nhậm lời vì Người đã lắng nghe; tiếng khóc của các em, những ‘chứng nhân lặng lẽ’ này đã khơi dậy trong trẻ Giêsu ước muốn hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc các linh hồn. Thật tuyệt vời! Ngài sẽ trị vì bằng cách hiến trọn đời mình đến nỗi chết trên thập giá như một quà tặng ân sủng cho những trẻ này và cho vô số các linh hồn qua muôn thế hệ sau Ngài và cả trước Ngài.

Hoài niệm những hài nhi vô tội cách đây hơn 2,000 năm, chúng ta nhớ các hài nhi vô tội hôm nay, hàng triệu thai nhi trên thế giới phải chết mỗi năm. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói, “Chúng ta thường xuyên nghe nói về những bước tiến nhảy vọt kỹ thuật phục vụ con người, nhất là y khoa. Tuy nhiên, bác ái và lòng nhân là những thứ mà hình như ngày càng vắng bóng hơn”.

Trong một bữa tiệc khoản đãi tại toà bạch ốc, đệ nhất phu nhân Hillary Clinton hỏi nhỏ một thực khách cùng bàn, “Bà nghĩ sao, khi mãi đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có một phụ nữ làm tổng thống?”; người phụ nữ nhỏ thó đồng bàn không chần chừ trả lời, “Có lẽ bởi vì người phụ nữ ấy đã bị bóp chết ngay từ lúc còn là bào thai”. Đúng là câu trả lời của một vị thánh! Người phụ nữ nhỏ thó ấy không ai khác là Mẹ Têrêsa. Và ngày 22/01/1994, trong bữa điểm tâm truyền thống, cũng tại toà bạch ốc, Mẹ được mời làm diễn giả. Trước vợ chồng Bill Clinton cùng quan khách, Mẹ dõng dạc nói, “Tôi tin rằng, thủ phạm tồi tệ nhất đang huỷ hoại nền hoà bình thế giới là nạn phá thai, đó là cuộc chiến trực tiếp giết hại trẻ thơ vô tội, mà kẻ giết người chính là mẹ của chúng. Nếu nhẫn tâm chấp nhận để người mẹ ra tay sát hại con mình, làm sao chúng ta có thể nói cho người khác đừng giết nhau?”. Những tràng pháo tay từ phía cử toạ đang nhất loạt đứng lên biểu tỏ lòng ngưỡng mộ, ngoại trừ vợ chồng Bill; ông bà không đứng lên, cũng chẳng hề vỗ tay.

Anh Chị em,

Để duy trì quyền lực người ta có thể giết chết những người khác; để duy trì Vương Quốc tình yêu, Chúa Giêsu hiến dâng mạng sống Ngài. Là môn đệ Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta được mời gọi mỗi ngày, dâng lời cầu nguyện cho “Nước Cha trị đến”, đồng thời, như một ‘chứng nhân lặng lẽ’, chúng ta ra sức bảo vệ quyền lợi trẻ em; bảo vệ quyền sống, quyền học hành và quyền vui đùa của các thiên thần; đó chính là con em của chúng ta, xóm giềng của chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn dành những gì tốt nhất của bản thân con cho các trẻ thơ Chúa trao cho con; xin cho đời con luôn là ‘chứng nhân lặng lẽ’ của tình yêu Chúa, Đấng luôn yêu mến và đề cao trẻ thơ”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

image.png

Hoa Thốt Nốt & Đàn Ta Lư

Hoa Thốt Nốt & Đàn Ta Lư

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tôi qua Cambodia chơi, nhìn quanh, thấy thiên hạ xếp hàng nườm nượp đi thăm Đế Thiên – Đế Thích nên tôi cũng đi luôn cho nó… giống với người ta. Tới nơi mới biết – té ra – hồi đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Hiến Lê đã tìm đến nơi này rồi. Ông ghi nhận:

“Người Miên ưa đục hình trên đá. Ở điện Angkor Vat có trên 12.000 thước vuông đá đục hình về đời các vị thần thánh. Ở đền Bayon, hình diễn lại đời sống hàng ngày và phong tục đương thời. Ở Sân Voi tại Angkor Thom, trên bốn trăm thước chiều dài, hiện lên hình những loài vật lớn bằng vật thiên nhiên.”

Qua đầu thế kỷ XXI thì nhiếp ảnh gia NgyThanh cũng đã vác máy đến đây, và thu vào ống kính nhiều hình ảnh tuyệt vời:

“Tôi không có thói quen mang thước và máy ảnh theo người nên không biết Đế Thiên – Đế Thích dài/rộng cỡ nào, và kỳ vỹ ra sao. Chỉ nhớ mình vừa qua khỏi cổng chính là đã thấy… mấy mợ hàng rong. Họ chào mời du khách mua nước thốt nốt ướp lạnh.

Tôi cũng muốn thử chơi một ly cho biết nhưng ngần ngừ một lát rồi tiếp tục đi. (Mới ực hai lon bia Cambodia xong, còn chưa biết W.C chỗ nào, ngu sao mà uống nữa). Vừa đi, vừa nhớ tới một người bạn cũ: Hà Trung Liêm.

Gần 30 năm trước (lúc cả Khmer Rouge và lính Việt Nam đều còn hiện diện ở Cambodia) tôi và anh cũng đã lén chui từ tỉnh Aranyaprathet (Thái Lan) sang Poipet để “tham quan” Xứ Chùa Tháp mấy lần rồi.

Có lần, đang nằm võng giữa rừng thì Liêm móc trong ba lô ra tờ báo Quân Đội Nhân Dân, rồi chỉ cho tôi xem một đoạn thư tình của một anh lính bộ đội gửi (từ chiến trường phía Tây) về cho người yêu bé bỏng ở hậu phương Hà Nội: “Anh muốn cài lên tóc em một cành hoa thốt nốt…”

Hai thằng cười lăn, cười lộn thiếu điều muốn đứt võng luôn. Hơn một phần tư thế kỷ đã qua, tôi không còn nhớ được tên tác giả bức thư tình (“bất hủ”) nói trên nhưng vẫn còn giữ nguyên ấn tượng về sự liều lĩnh (quá cỡ) của tác giả.

Ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cây thốt nốt nên mới dám có ý nghĩ dại dột cài nguyên một buồng hoa (dám nặng cỡ chục kí lô) lên mái tóc của người yêu bé bỏng. Con nhỏ mà gẫy cổ là vô tù về tội ngộ sát (hay cố sát) như không, chớ đâu phải chuyện giỡn chơi – cha nội?

Sau này, có dịp nghe Huy Thục tâm sự trên báo Công An Nhân Dân (“Nhạc Sĩ Huy Thục Và Những Bài Ca Đi Cùng Năm Tháng”) tôi mới biết là ông nhạc sĩ này còn liều lĩnh và ẩu tả hơn nhiều: “Đi cùng các đơn vị chiến đấu ở Cam Lộ, Khe Sanh, hình ảnh các cô gái Vân Kiều gùi trên vai những quả đạn pháo, tên lửa nặng trĩu, vẫn với chiếc đàn Ta Lư đeo trước ngực, cất tiếng ca mừng các anh giải phóng quân đã làm tôi xúc động viết nên những nốt nhạc đầu tiên cho Tiếng đàn Ta Lư.” 

Tôi bảo đảm là đại tá nhạc sĩ Huy Thục cũng chưa bao giờ nhìn thấy một cái tên lửa. Thằng chả chỉ “suy đoán” rằng “tên lửa” và “tên tre” đều là tên cả, và chỉ khác nhau (xíu xiu) về kích thước và trọng lượng thôi nên mới dám “bắt” đám con gái Vân Kiều “gùi trên vai nặng trĩu” như thế. Đã thế, trước ngực mỗi cô còn đeo lủng lẳng chiếc đàn ta lư, và vừa đi vừa hát nữa chớ.

Thiệt là quá đã, và quá đáng!

Huy Thục nổi tiếng với hai bản nhạc cách mạng: “Tiếng Đàn Ta Lư” và “Cô Gái Pa Kô.” Ông cũng nhận được nhiều bổng lộc cùng khen thưởng: giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1993, 1995), giải thưởng Bộ Quốc Phòng (1994), giải thưởng Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (1980), cùng với cả đống huy hiệu hay huy chương gì đó – ngó mà hoa mắt!

Thế còn còn mấy cô gái Vân Kiều và cô gái Pa Kô thì sao? Câu trả lời có thể tìm được qua một bài phóng sự (“Người Dân Tộc Thiểu Số Vân Kiều Và Pa –Kô”) của Nhóm Phóng Viên Tường Trình Từ Việt Nam, RFA:

“Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.

Thi thoảng, trên đường đi, bắt gặp vài cụ già gùi củi trên lưng khom người đi bộ, cố lê chân từng bước một, bước đi vô hồn, nghe có cả âm thanh réo sôi của bụng đói và nỗi buồn tuổi già bóng xế trong tiếng chân bước. Không những thế, có nhiều cụ bà già 60, 70 tuổi phải gùi củi, măng, bắp chuối đi từ 6 đến 9km từ nhà đến trung tâm thương mại Việt – Lào – Thái hoặc chợ Khe Sanh để bán.”

Mấy “bà già gùi củi trên lưng khom người đi bộ, cố lê chân từng bước một, bước đi vô hồn, nghe có cả âm thanh réo sôi của bụng đói” trên “đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo” hôm nay chính là những cô gái Vân Kiều hay Pa Kô mấy chục năm về trước. Chớ còn ai vô đó nữa?

Ngày trước: “Gùi trên vai súng đạn ra hoả tuyến/ Gạo ngàn cân em gùi ra chiến trường/Để bộ đội chúng ta ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ…” Ngày nay họ “gùi củi, măng, bắp chuối đi từ 6 đến 9km” để mang đi bán kiếm tiền độ nhật. Và đời sống thường nhật của họ được thiên hạ mô tả là “khổ cực không còn gì để nói.”

Nghe như thế người ta rất dễ có cảm tưởng (hay hiểu lầm) rằng Chính Quyền Cách Mạng là cái đồ ăn cháo đá bát, hoặc cái thứ bạc nghĩa vô ơn.

Không dám “vô ơn bạc nghĩa” đâu!

Coi nè:

“Tổng công ty Hàng không VN (Vietnam Airlines) cho biết, sẽ triển khai Quy định ưu tiên đối với người có công với cách mạng khi làm thủ tục lên máy bay…

Ưu tiên tại khu vực soi chiếu an ninh, khách được ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia hoặc khách hàng thường xuyên.

Dịch vụ ra tàu bay khách ra tàu bay trước cùng với các khách ưu tiên khác.

Hành khách là người có công với cách mạng cần xuất trình đầy đủ giấy tờ xác nhận đi kèm (bản sao không cần chứng thực) để được ưu tiên phục vụ.”

Thiệt là ơn nghĩa và tử tế hết biết luôn.

Còn bằng cách nào mấy bà già Vân Kiều, Pa Kô lọt vô được sân bay để các “hãng hàng không ưu tiên phục vụ đối tượng người có công với cách mạng theo quy định của nhà nước” thì lại là chuyện khác. Chuyện này nhà nước hoàn toàn vô can. Tui… cũng vậy.

Mới đi thăm quần thể Đế Thiên – Đế Thích về, lội bộ muốn rã cẳng luôn. Mệt thấy mẹ. Viết được bi nhiêu cũng đã muốn ứ hơi rồi. Thôi tui đi ngủ nha. Chuyện (dài) của mấy má Pako và mấy má Vân Kiều xin để lại bữa sau, hoặc kiếp sau, đi. Good night & good luck!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com