NGÀY NÀO MANG NỖI ĐAU, TÔI MỚI HIỂU NỔI ĐAU LÀ GÌ …

NGÀY NÀO MANG NỖI ĐAU, TÔI MỚI HIỂU NỔI ĐAU LÀ GÌ …

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Một người mẹ đã chia sẻ với tôi như thế này :

Con xin phép được tâm sự với cha như người con đang gặp biến cố cần lời động viên của cha mẹ. Con khóc nhiều 4 năm nay khi con trẻ từ 1 đứa bé học giỏi, biết phụ việc nhà, đi lễ học giáo lý  phụ việc nhà thờ , giúp lễ cho các cha, lại trở mặt là 1 đứa con hư vì nghiện game, mà đau là ở nhà ko chơi game, đi học học giỏi cô phân công kèm cho bạn học kém  học để tổ và lớp ko có học sinh yếu, kém. Những bạn học kém lại là con nhà giàu ăn chơi đua đòi , đi học sài điện thoại xịn , và con trai của con đã học theo thói hư : trốn học ngồi quán chơi game, ăn cắp tiền bạn bè, ông bà , cha mẹ để có tiền chơi game, và chính thức hư luôn từ năm 2020, con khuyên con nhắc nhở đủ mọi biện pháp nhưng giờ đành bất lực buông tay. Khi con trẻ còn nhỏ, con đi làm việc bác ái ở đâu, hay giúp 1 hoàn cảnh ốm đau bệnh tật nào con cũng phân tích và hướng dẫn con trẻ hãy biết thương người kém may mắn, biết tiết kiệm ko ăn bánh kẹo để dành tiền làm việc bác ái mùa chay … mỗi khi con trẻ làm gì sai con phân tích chỉ dạy, nếu tái phạm , 3, 4 lần con mới đánh đít hoặc tay vài roi răn đe, còn lại toàn là khuyên và phân tích chứ ko kiểu dạy con cái gì cũng đánh.

Con tìm đến bác sĩ tâm lý để học cách dạy con, con tìm đến các Linh Mục và Sơ tâm sự để nhận lời khuyên cách dạy con, nhưng tất cả mọi cố gắng gần 5 năm nay đều đổ sông đổ biển cha ơi. Con suy sụp và nghĩ quẩn, có khi con thèm 1 giấc ngủ mãi không thức… Con xin phép chuyển những tin con viết cho con trẻ để cha đọc và hiểu cho nỗi khổ tâm của con. “nhìn cây biết trái ” và hãy “nhìn những việc họ làm đừng nghe những gì họ nói” .

Con mong có 1 phép mầu của Chúa xuống ơn cho con thời điểm này. Con buồn nhiều có khi chạy xe ngoài đường mà đầu óc lan man không tập trung nhém bị xe tông mấy lần, bác sĩ nói con hiện tượng  bị trầm cảm nặng rồi con không biết có đúng hay không, con chỉ biết là con buồn nhiều và thèm 1 giấc ngủ mãi không thức …

Đọc xong những dòng chia sẻ này, tôi lặng người và chỉ biết cầu nguyện.

Làm cha làm mẹ mà có con như thế này thì quả là đau khổ. Xin dâng gia đình này lên Chúa và xin Chúa hoán cải đứa trẻ để đứa trẻ trở nên người tốt.

Qua câu chuyện người mẹ đau khổ này, đến chuyện chẳng may của đôi vợ chồng nọ.

Cuộc sống quả là khó khăn, người thân phải đến bệnh viện chạy thận (1 tuần 3 lần) quả là điều không ai muốn.

Một cơn mưa chiều của Sài Gòn đã làm cho bao nhiêu người phải lúng túng trong đó có đôi vợ chồng đang dắt díu nhau vào viện để chạy thận.

Cơn mưa đang dịu, người chồng loay hoay đưa xe vào phía bên trong để chở vợ về. Và rồi người có trách nhiệm đã không vui. Câu chuyện còn nặng nề hơn nữa là người chồng đã được mời vào làm việc như là khiển trách chuyện đưa xe vào tận trong để đón vợ.

Dĩ nhiên nguyên tắc vẫn là nguyên tắc nhưng vẫn còn đó chút tình người. Vợ bị thận và giờ chuyển biến đến 2 con mắt bị lòa để rồi khả năng di chuyển thật là khó. Tiếc thay những người bảo vệ không đồng lòng và thông cảm cho phận người không may mắn nọ.

Đọc xong tự sự của người chồng, tôi lại chạnh lòng với hoàn cảnh của họ. Thật sự chả ai muốn rơi vào cảnh chẳng đặng đừng của bệnh tật, của hạn chế của sức người. Nỗi đau càng chồng thêm đớn vì như không một người thông cảm.

Nghe ngóng từ người thân và câu chuyện đôi vợ chồng dính mưa, nhiều để rồi đôi khi dân cũng khổ cùng với cơn mưa chiều dường như rất  vội như đè thêm gánh nặng của gia đình nọ và bao nhiêu người khác nữa. Cơn mưa đã làm cho nỗi đau cũng như khốn khó của nhiều người càng thêm khổ.

Vùng tôi đang ở dường như mưa không thèm ngó ngàng đến. Ở đây chúng tôi thèm một cơn mưa nhỏ chứ cũng chả dám xin cơn mưa dài. Đời sống người dân ở đây cùng khốn nay lại khốn. Ở cái vùng nghèo này phải nói rằng cây mì cây bắp cũng lỳ đòn lắm nhưng cũng không chịu được những cơn nắng dữ. Cái nghèo dường như nó mến dân ở vùng này như trầu yêu mến cau vậy.

Người đồng bào khổ đã đành, người Kinh ở vùng này cứ loay hoay mãi để tìm kế sinh nhai.

Sáng hôm nay, nghe những lời chân thật của những bạn Giáo Lý  Viên nhiệt tâm muốn ra giúp nhà thờ nhưng cuộc sống khó khăn đè nặng mà lòng tôi lại quặn đau. Có khi họ cũng muốn tham dự Thánh Lễ, có khi họ cũng muốn ra giúp Giáo Lý nhưng có những hoàn cảnh không có tiền để đổ xăng.

Vậy đó, ở đời mà! Ai ai cũng có nỗi đau riêng của người đó để rồi ngày nào mình mang nỗi đau mình mới hiểu nỗi đau là gì? Tôi cũng có những nỗi đau và ưu tư của riêng tôi chứ! Trong thân phận làm người, như ước mong của người chồng có vợ đang phải chạy thận ước ao: “Thánh Giá khi nào nở hoa!”

Vâng! Thánh Giá vẫn nở hoa cứu độ khi treo Con Người chịu chết trên đó để rồi những ai cùng hiệp thông với sự đau khổ với Người ở trên Thánh Giá cũng sẽ được phần phúc vinh quang với Ngài.

Xin Chúa cho mỗi chúng ta (cho kẻ mọn này) đủ sức để vác Thánh Giá mà Chúa trao ban cho đến hết cuộc đời cũng như xin cho mỗi chúng ta được phúc trường sinh với Đấng chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá.

Lm. Anmai, CSsR

 

Giữa Rắn & Người -­ Tưởng Năng Tiến

Giữa Rắn & Người -­ Tưởng Năng Tiến 

Báo Tiền Phong vừa ái ngại loan tin: “Đang ngủ, bé gái 4 tuổi bị rắn cạp nia bò vào nhà cắn tử vong… Trưa ngày 22/5, trao đổi trên báo Công an Nhân dân, ông Sô Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa (Phú Yên) cho biết, 5 ngày sau khi bị rắn cạp nia cắn, cháu Sô Thị Như N., dân tộc Chăm (SN 2018, trú ở buôn Ma Y, xã Phước Tân) đã tử vong rạng sáng 22/5.

Bác sĩ Phạm Văn Minh, Giám đốc Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Phú Yên cho biết, ngay sau khi tiếp nhận bệnh nhân vào lúc 2h30 sáng 16/5, các y bác sĩ khoa hồi sức cấp cứu tiến hành cho bệnh nhân thở máy. Tuy nhiên, cơ sở y tế này không có huyết thanh kháng nọc rắn cạp nia nên phải liên hệ một bệnh viện ở TP Hồ Chí Minh vẫn không có. Do diễn biến bệnh trạng thêm nặng nên sau 5 ngày cấp cứu tại bệnh viện, gia đình đã đưa cháu N. về nhà trong đêm 21/5, đến rạng sáng 22/5 thì nạn nhân tử vong…

Bỉnh bút Du Uyên (Trẻ Magazine, Dallas, TX) cảm thán:

Tôi đã rơi nước mắt khi đọc bản tin trên, vì tức (hộc máu). Không biết nếu sự việc xảy ra ở các nước khác, Bộ y tế VN, giám đốc phụ trách bệnh viện trên có bị gia đình em bé kiện trọc đầu hay không? Nhưng ở VN, vụ kiện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Không giám đốc bệnh viện VN nào bị khởi tố vì tưởng mấy ông giám đốc bệnh viện khác có loại dược liệu đó. Không ông Bộ trưởng y tế VN nào cúi đầu xin lỗi gia đình bệnh nhân chết vì rắn cắn cả – lỗi do con rắn mà.

Thì rõ ràng là thế (“lỗi do con rắn mà”) nhưng báo Tuổi Trẻ vẫn đặt vấn đề: “Bệnh nhi tử vong do rắn cắn: Vì sao bệnh viện không có huyết thanh?” Trưởng khoa bệnh nhiệt đới bệnh viện Chợ Rẫy, TS.BS Lê Quốc Hùng, cho biết: “Không có huyết thanh kháng nọc rắn cạp nia từ một năm nay. Loại huyết thanh này được nhập từ nước ngoài, cụ thể là Thái Lan. Hiện tại do ảnh hưởng của dịch COVID-19, huyết thanh kháng cạp nia chưa được sản xuất, Việt Nam chưa thể nhập được, do vậy không có thuốc để điều trị cho bệnh nhân.”

Hóa ra, ngoài chính phạm là con rắn cạp nia; còn có đồng phạm là con Covid 19 nữa đấy. Hai sinh vật nguy hiểm (chết người) này – tuy thế – vẫn có thể “khắc phục” được bằng tiền, nếu có! Gia đình nạn nhân, tiếc thay, không có. Họ vốn là người dân bản địa khốn khó (ở miền núi Sơn Hòa – Phú Yên) nên đành phải bó tay.

Họ nghèo, quá nghèo, và cũng không biết “thủ tục đầu tiên” của cư dân ở miền xuôi khi nhập viện. Hà Nội và Sài Gòn đều không có huyết thanh, chứ Bangkok thì thiếu (mẹ) gì và rẻ rề hà. Mà khoảng cách giữa Việt Nam với Thái Lan chỉ hơn một giờ bay thôi, trong khi bé N. nằm ở nhà thương đến …  ngày thứ năm mới lìa đời. Giá bố mẹ em có khả năng dấm dúi đôi ba cái phong bì thì đâu đến nỗi!

Ở hay! Ở đâu mà người nghèo không chết, chứ nào có riêng chi xứ Việt?

Đành thế nhưng vẫn có sự dị biệt đáng nói là ở nước ta thì dù có tiền (đôi khi) vẫn chết, nếu mua nhằm thuốc giả đang tràn lan trên thị trường – theo thông tin của giới truyền thông nhà nước:

Tuy cấp phép cho 838.100 hộp thuốc giả, và ký giấy cho nhập gần chục tấn chất tạo nạc (Salbutamol) độc hại nhưng ông Cường chỉ bị lãnh một bản án rất tượng trưng (bốn năm tù) khiến dư luận hết sức bất an.

Bỉnh bút Nguyễn Hoàng (Diễn Đàn Doanh Nghiệp) băn khoăn: “Liệu công lý có qua xa vời? Bởi khi và chỉ khi công lý được thực thi bằng lẽ phải và sự công bằng khiến người dân tin tưởng, thì khi đó công lý mới đích thực của dân do dân và vì dân. Công lý nào cho bệnh nhân ung thư dùng thuốc giả của VN Pharma!”

Vụ VN Pharma, thực ra, chỉ là chuyện nhỏ (cỡ con thỏ là cùng) nếu so với vụ Việt Á – theo nhận định của nhiều vị thức giả:

  • Nhà bình luận thời sự Trương Nhân Tuấn :“Vụ Việt Á là một đại án giết người có tổ chức.”
  • Nhà thơ Thái Hạo: “Tôi cho rằng chính cách gọi tên là ‘Vụ án Việt Á’ đã gây hiểu lầm và hiểu sai về quy mô cũng như tính chất của vụ đại án này. Nó cần một cái tên gọi khác để phản ánh đúng về một liên minh ma quỷ mà trong đó công ty Việt Á chỉ một mắt xích, cái mắt xích dường như không hề có vai trò quyết định trong việc đạo diễn vở đại bi kịch này trên đất nước ta.”
  • T.S Phạm Quý Thọ: “Vì sao một doanh nghiệp ‘tép riu’ khiến cả guồng máy trục lợi và hệ thống quan chức suy thoái?”
  • Họa sỹ Đỗ Duy Ngọc: Trong vụ án đốn mạt này còn có ai nữa chưa bị lộ mặt. Kẻ gọi là “Trùm cuối” là ai? Nếu chủ trương không có vùng cấm, không có ngoại lệ thì xin đề nghị hãy làm đến tận hang ổ cuối cùng.
  • Nhà báo Nguyễn Vũ Bình: “Đại dịch cho thấy một hệ thống truyền thông dối trá, bịp bợm; một hệ thống tham nhũng thối nát từ trên xuống dưới, ăn không từ một thứ gì xuất hiện và liên quan đến đại dịch; sự vi phạm quyền con người trắng trợn dưới nhiều hình thức; hệ thống quan chức ngu dốt; cuối cùng là một hệ thống nhóm lợi ích siêu quyền lực đã tạo ra cả hệ thống chính sách để trục lợi, một sự lũng đoạn nhà nước quy mô khủng khiếp…”

Mức độ “khủng khiếp” này được một người cầm viết khác, Bùi Thanh Hiếu, ghi nhận như sau:

“Bao nhiêu người dân nghèo, người công nhân ở mọi miền đất nước phải móc tiền ra để trả cho cái gọi là xét nghiệm covid, cái thứ được làm không biết ở đâu, trong cái cơ sở chỉ vài chục mét vuông với giá cắt cổ, để rồi phần lớn số tiền đó vào tay bọn quan lại tham nhũng. Ăn như thế là ăn thẳng từ máu, nước mắt, mồ hôi của dân. Ăn đất, ăn dự án, ăn nọ kia , cướp của nhau chưa đủ. Giờ còn thẳng thừng cướp trực tiếp vào máu toàn nhân dân. Tội của bọn này còn đáng chết ngàn vạn lần tội của kẻ khác.”

Thực cũng khó mà kết luận (hay bình luận) ai “đáng chết” hơn ai. Những câu chữ thống thiết thượng dẫn chỉ khiến tôi nhớ đến đến lời của một nhân viên ở trại rắn Đồng Tâm – huyện Châu Thành – đọc được trên báo Tuổi Trẻ hôm 24 tháng 5 năm 2022:

“Từ ngày 1-5 đến nay, trại rắn này đã tiếp nhận 139 ca bị rắn lục đuôi đỏ và rắn hổ cắn. Trung bình mỗi ngày trại tiếp nhận từ 6-7 ca bị rắn cắn từ các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Long An… chuyển đến. Nguyên nhân do vào mùa mưa nên số ca bị rắn cắn tăng.”

Dù là đang vào mùa mưa (và dù là một xứ sở thuộc vùng khí hậu nhiệt đới) số người dân Việt chết vì rắn rít thật không đáng kể, chỉ vài ba mạng mỗi ngày. Đây là một con số nhỏ  – rất nhỏ – nếu so với số lượng tử vong gây ra bởi sự nhẫn tâm (hay nói chính xác hơn là ác tâm) của đám quan chức lãnh đạo ở đất nước này.

Tưởng Năng Tiến
6/2022

Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử – Phạm Tín An Ninh

Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử

June 24, 2022

Phạm Tín An Ninh

CALI TODAY NEWS – Đầu năm 2022, tôi bất ngờ đọc được bài viết “Níu Một Đời, Giữ Một Thời” của tác giả Ban Mai, một nhà văn trẻ trong nước. Cô đang là giáo sư giảng dạy về Khoa Học Công Nghệ và Hợp Tác Quốc Tế tại Trường Đại Học Qui Nhơn

Mở đầu bài viết, tác giả đã vẽ lại bức tranh đen tối, kinh hoàng sau ngày 30.4.75:

“…phần lớn người Miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức Miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương Miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên…

 Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật Miền Nam vô cùng gía trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…”

Và tác giả cho biết sự tình cờ được may mắn tiếp cận với dòng văn chương miền Nam:

“Mùa hạ năm 2010, tôi tình cờ đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu về tác phẩm “Những cơn mưa mùa Đông” của tác giả Lữ Quỳnh do nxb Thư Ấn Quán ở Mỹ xuất bản, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng văn chương Miền Nam nên liên hệ, ngay lập tức nhà văn Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh trả lời, tôi biết họ từ ngày ấy.

Bắt đầu từ đó, tôi tìm đọc dòng văn chương Miền Nam Việt Nam do nxb Thư Ấn Quán phát hành, vì ngày xưa trước năm 1975 tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì, tôi sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn, thuộc Miền Nam Việt Nam vì vậy tôi không muốn văn chương Miền Nam bị thất lạc và bôi xoá, tôi cần phải tìm hiểu và phổ biến lại cho thế hệ trẻ ở trong nước biết.

Thật may mắn, mùa thu năm 2011 nhà thơ Vũ Trọng Quang từ Sài Gòn photo cho tôi trọn bộ “Văn Miền Nam” (4 tập) và 2 tập “Thơ Miền Nam thời chiến” do Thư Ấn Quán phát hành năm 2009. Cuốn sách mới nhất tôi được Trần Hoài Thư tặng là cuốn “Những tạp chí Văn học Miền Nam” do ông sưu tầm và nhận định in năm 2018, ông đã sưu tầm được 15 tạp chí đã từng xuất bản ở Miền Nam Việt Nam gồm các tạp chí: Ý thức, Bách khoa, Văn, Sáng tạo, Khởi hành, Vấn đề, Trình bày, Thời tập, Hiện đại, Văn nghệ, Nghệ thuật, Mai, Văn học, Văn hóa nguyệt san, Tình thương.

Nhờ ông, tôi có được một cái nhìn khái quát về diện mạo nền văn chương Miền Nam Việt Nam mà hiện nay ở trong nước đã không còn nữa.

Nếu không có ông, làm sao tôi biết 462 tác giả trong 2 tập “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, mà phần nhiều là những người lính cầm bút đã chết, đó là “những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rỏ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”

Cuối bài, tác giả có nhiều lạc quan về cái nhìn của một một số trí thức trẻ trong nước và kêu gọi sự tiếp tay của mọi người trong trách nhiệm “bảo tồn và chia sẻ Văn Học Miền Nam cho đời sau”.

“Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm Văn học Miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn: “Ta về như lá rơi về cội/Bếp lửa nhân quần ấm tối nay/Chút rượu hồng đây xin rưới xuống/Giải oan cho cuộc biển dâu này”. Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng Văn chương Miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ Văn học Miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam.”

Đọc bài viết của tác giả Ban Mai, tôi bỗng nghĩ ngay đến một người khác, mà diện mạo của ông trong lĩnh vực này lúc nào cũng sáng lên trong suy nghĩ và hy vọng của tôi: Nhà văn Đỗ Trường.

(nhà văn Đỗ Trường)

Đỗ Trường người Nam Định, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm năm 1980. Sau thời gian theo học Khoa Anh Ngữ tại Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, năm 1987 ông nghỉ học, đi buôn rồi theo lao động xuất khẩu sang CHDC Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, ông ở lại và cùng cả gia đình định cư tại thành phố Leipzip, CHLB Đức. Tác phẩm đầu tay là tập truyện “Không Bao Giờ Thành Sẹo” do Vipen xuất bản 2013. Sau đó là “Về Miền Ký Ức” (tạp bút),“Đất Nước Với Những Đường Cong”, “Không Thể Sống Trong Im Lặng”, “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” (xuất bản năm 2019, là một tác phẩm đặc biệt nói về những khổ nạn mà chính quyền CS Việt nam đã hành xử đối với ông, vì những bài viết của ông), và mới nhất là “Men Còn Đọng Lại Đáy Vò”, viết về một số tác giả tiêu biểu, những người lính cầm bút miền Nam (Nhân Ảnh xuất bản năm 2022.) Ngoài ra, là một loạt các truyện ngắn, tùy bút, ký sự, biên khảo đựợc độc giả khắp nơi đón nhận khá nồng nhiệt.

Sự nghiệp văn chương chưa dày lắm, nhưng tên tuổi ông đã nổi bật cả trong lẫn ngoài nước, bởi các bài nghiên cứu khá tường tận, với những nhận định một cách khá công tâm, sâu sắc, tinh tế về nềnvăn học miền Nam, đặc biệt qua những tác giả vốn là những người lính cầm bút trong và sau cuộc chiến.

Lần đầu tiên tôi biết và đặc biệt lưu ý tới Đỗ Trường, cách nay hơn mười năm, khi đọc được bài viết “Những Giải Văn Học Không Có Thật”. Ông phê phán (có thể gọi là lên án) Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội đã trao giải thưởng cho tác phẩm Dị Hương của một tác giả trong nước:

“Ngắc ngứ mãi, rồi tôi cũng đọc xong truyện ngắn Dị Hương của Sương Nguyệt Minh. Quả thật, ngoài những pha làm tình mang dáng dấp từ truyện Đồi Thông Hai Mộ, Gia Long Nguyễn Ánh hiện lên đậm tính lục lâm thảo khấu với giọng văn kiếm hiệp phương Bắc. Còn lại tôi không tìm được điều gì khác tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.”

Để rồi ông nhận định thêm về “hiện tượng” đa số các cây bút trong nước lúc ấy:

“Trong khi viết về chiến tranh, các cây bút trong nước thật sự chưa có cái nhìn công bằng với những người quân, cán của VNCH. Họ vẫn hiện lên đầy rẫy ở các tác phẩm với những hình ảnh méo mó, với những tên gọi xếch mé. Gần đây nhất tôi mới thấy các cây viết trong nước ca ngợi một người lính VNCH, vì anh có công cùng với người lính Mỹ cất giữ cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm, để hôm nay chúng ta mang ra phát động tuyên truyền. Chúng ta hãy bình tâm đọc lại những vần thơ của nhà thơ Trần Trung Đạo, anh là một thuyền nhân. Cũng viết về người lính, nhưng anh không phân biệt đâu lính VNCH, hay là anh bộ độ…”

Sau này, qua nhiều bài giới thiệu, nhận định, phê bình về một số tác giả và tác phẩm miền Nam của ông, tôi dần dà có nhiều thiện cảm và đánh giá cao về khả năng văn chương, đặc biệt ý thức về một nền văn học mà cá nhân ông trước đây chưa từng biết qua, và chắc chắn khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã từng bị đầu độc đó là loại “văn chương phản động”, “văn chương đồi trụy” mà sau tháng 4 /1975 chính quyền Cộng Sản tìm mọi cách hủy diệt, nhưng không thể.

Ông nghiên cứu và viết khá nhiều về những tác giả, tác phẩm miền Nam. Một số tôi đã đọc được:

  • Trần Trung Đạo – Tiếng Vọng Từ Bên Kia Đại Dương
  • Luân Hoán – Người Kể Chuyện Bằng Thư
  • Vũ Hữu Định – Đường Đi Không Đến
  • Vũ Hoàng Chương – Lạc Loài Trong Cõi Nhân Sinh
  • Đinh Hùng – Con Đường Thi Ca Độc Đạo
  • Hòa Thượng Thích Như Điển – Chân Dung Một Nhà Văn
  • Du Tử Lê – Đời Lưu Vong Chưa Tận Tuyệt Với Linh Hồn
  • Phạm Tín An Ninh – Con Đường Giải Oan Cho Một Cuộc Bể Dâu
  • Cao Xuân Huy – Người Vẫn Không Thể Thoát Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Tô Thùy Yên – Tiếng Thơ Lầm Than Hào Kiệt Từ Một Thời Khủng Khiếp, Một Vận Phân Ly
  • Nguyễn Đức Sơn – Chập Chờn Trong Cõi Hư Vô
  • Thảo Trường – Những Mảng Ghép Của Chiến Tranh
  • Duyên Anh – Từ Cảm Xúc Cho Đến Tận Cùng Của Con Chữ
  • Trần Hoài Thư – Người Ngồi Vá Lại Những Linh Hồn…
  • Trần Hoài Thư Với Những Vần Thơ Lúc Nửa Đêm
  • Nguyễn Bắc Sơn – Một Đặc Phẩm Của Thi Ca Miền Nam
  • Phạm Ngọc Lư – Người Vẫn Giữ Lửa Cho Văn Học Miền Nam
  • Tùy Anh – Từ tháng Tư buồn đến nỗi đau biệt xứ
  • Phan Nhật Nam – Hè Vẫn Còn Đỏ Lửa
  • Nguyễn Tất Nhiên – Một Trường Thiên Kịch Bản Bi Ai
  • Cao Đăng Khánh – “Lửa Ngoài Giới Hạn” Chúng Không Tạ Từ
  • Nguyễn Nho Sa Mạc – Một Ngôi Sao Xẹt Qua Bầu Trời Thi Ca
  • Lữ Quỳnh – Chiếc Cán Cân Của Văn Học Miền Nam
  • Song Vũ – Người Vẫn Chưa Thể Bước Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Trạch Gầm – Một Giọng Thơ Độc Đáo
  • Cung Trầm Tưởng – Từ Chuyện Tình Lãng Mạn Đến Hồn Thơ (Thế Sự) Lưu Đày

Đặc biệt, trong bài “Văn Học Miền Nam – Một Góc Nhìn” được viết  ngày 16.11.2021, nhà văn Đỗ Trường đã có cái nhìn rất sâu sắc về Văn Học Miền Nam, đặc biệt hai khía cạnh Hiện Thực và Nhân Bản. Xin trích đoạn một số  tiêu biểu:

…tuy bị bức tử, song cũng như âm nhạc, sức sống của nền văn học ấy vẫn mãnh liệt lắm. Nó không chỉ âm thầm đi sâu vào lòng người ở ngay đó, mà còn sinh sôi nảy nở ngoài cương thổ, nơi có mấy triệu người Việt nữa kìa!

…có được sức sống lâu dài ấy, cũng bởi Văn học miền Nam chứa đựng những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hai giá trị cơ bản của văn học này, dường như ta rất ít gặp ở những tác phẩm ngoài Bắc trong cùng giai đoạn chiến tranh 1954-1975, bởi tính tuyên truyền đã bóp nghẹt những giá trị ấy. Dù miền Bắc có rất nhiều nhà văn tài năng

…dù bị đánh tráo khái niệm, hay khoác cho một chiếc áo, một tên gọi mới, thì thực chất Văn học miền Nam không hề bị méo mó, đổi thay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào cái giá trị hiện thực, và nhân đạo của Văn học miền Nam (trong chiến tranh) dưới ngòi bút của những nhà văn người lính mà thôi.

…Có thể nói, chiến tranh tuy tàn khốc, nhưng đã sản sinh ra một loạt các nhà văn, nhà thơ tài năng xuất thân từ những người lính: Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, Tô Thùy Yên, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Trần Dzạ Lữ… Những tác phẩm còn nguyên mùi khói thuốc, vang tiếng đạn bom của họ như một luồn gió mới làm thức tỉnh, và giải tỏa sự bế tắc của Văn thơ miền Nam đang gà gật lúc đó. Và những tác phẩm ấy gắn liền với hiện thực của xã hội, sự tàn khốc chiến tranh, cũng như thân phận người lính.

…Có thể nói, những nhà văn miền Nam (1954-1975) không chịu ảnh hưởng, chi phối bởi bất kể thế lực, đảng phái nào. Cái tôi, và tự do tư tưởng, sáng tạo của họ đã được coi trọng, phát triển. Với tư tưởng như vậy, nên nền Văn học miền Nam được hình thành bởi những giá trị hiện thực, và nhân đạo là điều hiển nhiên. Với tôi đó chính là một nền văn học đích thực.

…Nếu không có thơ văn đích thực, thì chúng ta và các thế hệ sau này chắc chắn sẽ không hiểu sự thật về bản chất của cuộc chiến này, cũng như tâm trạng người lính với những năm tháng tang thương đó. Văn học như một chiếc cầu nối lịch sử đến với con người vậy. Và chính những nhà văn người lính đã nối những nhịp cầu ấy. Thật vậy, giữa sự sống và chết rất mỏng manh nơi chiến trường, vậy mà ta vẫn thấy tính nhân bản của con người chợt hiện lên…Và cái tình người ấy, dường như xuyên suốt trang thơ của người lính.

Trong bài “Phạm Ngọc Lư -, Người Vẫn Giữ Lửa Cho Nền Văn Học Miền Nam”, (khi đang ngồi đọc Văn thơ miền Nam 1954-1975, tác giả chợt nhớ đến nhà thơ Phạm Ngọc Lư, sống trong nước, gốc giáo chức (theo lệnh động viên nhập ngũ vào khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nhưng chỉ một thời gian ngắn, được biệt phái trở lại ngành giáo dục), sau 1975  dù phải sống đời lang bạt khốn cùng, nhưng vẫn tiếp tục sáng tác những bài thơ (hành) đầy khí khái miền Nam, nhà văn Đỗ Trường đã viết:

“…Từ độ“đất trời dị biệt, gió mây bất đồng” thì nền Văn học miền Nam bị khai tử. Và tròn bốn mươi năm, tưởng chừng nó cũng đã chìm vào lãng quên. Nhưng nhìn lại, dường như dòng văn học ấy vẫn nảy nở, âm thầm chảy trong lòng đất Việt. Có thể nói, ngay sau biến cố 1975 dòng chảy đó tự chẻ ra như những nhánh sông luân lạc… rồi tìm về, tụ lại đó đây. Tuy chưa thể cháy lên, nhưng nó đã cùng với những nhà thơ, nhà văn hải ngoại làm ấm lại phần nào cho nền Văn học miền Nam.

Nếu được phép đi tìm những khuôn mặt cho Văn học miền Nam còn ở lại trong nước, chắc chắn thi sĩ tôi nghĩ đến trước nhất phải là Phạm Ngọc Lư. Tuy viết không nhiều, nhưng cốt cách Con Người cũng như hồn vía văn thơ của ông trong một cái xã hội dối trá lọc lừa, không phải ai cũng giữ được.”

Không chỉ viết về những tác giả, tác phẩm của Văn Học Miền Nam, nhà văn Đỗ Trường cũng đã viết về một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu miền Bắc. Ông ca ngợi tài năng, sự thành công và cả thái độ “phản tỉnh”của họ, nhưng cũng đã thẳng thắn phê phán những trường hợp sai lầm, tiêu cực:

-Trong bài “Vài Suy Nghĩ Về Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh Của Nguyên Ngọc” có một đoạn nhà văn Đỗ Trường viết:

“Đọc “Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh” của nhà văn Nguyên Ngọc, tuy rất khoái, nhưng tôi cảm thấy còn chút lăn tăn. Bởi, không chỉ Nguyên Ngọc, mà một số nhà văn trong nước vẫn còn luyến tiếc cái Trường viết văn Nguyễn Du. Một cái trường, dường như có tác dụng hợp thức hóa bằng cấp cho các bác vừa từ chiến trường trở về thì đúng hơn. Chứ các bác đã thừa biết, có cái trường quái nào đào tạo được nhà văn, nhà thơ đâu. Do vậy, không những giải tán cái trường này, mà các bác nên giải tán luôn cái Hội nhà văn, cái Văn Nghệ Quân Đội, cũng như các trường báo chí tuyên truyền, trường luật pháp cùng các đoàn, trường nghệ thuật quân đội đỡ gánh nặng thuế má của người dân

Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc về sự đánh giá cao Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Tuy nhiên, cuốn sách này còn không ít những đoạn Bảo Ninh lên gân, và bốc phét hơi bị nghĩa lộ, chứ không toàn bích như Nguyên Ngọc đã viết

Cách nay vừa tròn hai mươi năm(1993), tôi có về Hà Nội, gặp được ông em họ vừa ở tù ra vì can tội là lính thám kích, quân đội VNCH. Tôi có đưa cho hắn cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh. Đọc xong, hắn bảo, ông Bảo Ninh viết hoàn toàn sai về người lính VNCH. Như câu chuyện bốn người lính thám kích bị bắt, tác giả viết một cách không đúng sự thật. Từ cách mô tả hành động đến thuật lại những mẩu đối thoại của những người lính thám kích này.

Lính thám kích được chọn, hầu hết còn trẻ, gan dạ và có bản lãnh. Họ không thể nào quá hèn hạ, van xin như Bảo Ninh kể. Nếu có xin tha đi nữa, thì cách nói và những lời nói ấy, nhất định không phải của họ. Điều này hắn khẳng định không thể có. Người lính thám kích đã được giáo dục về nhân cách, ngay sau khi đã được tuyển chọn. Trong nhiệm vụ đặc biệt, những toán thám kích cần phải tránh nổ súng, tránh bị phát hiện, trừ trường hợp, tự vệ, bất khả kháng. Cho nên, không thể có trường hợp phát hiện, bắt ba cô gái, rồi dẫn đi nhởn nhơ như vậy, để nhóm của Kiên tóm được. Hơn nữa, trong trường hợp đã bị bắt, trước sự sống chết, không thằng nào ngu xuẩn, nói giọng trêu cợt: Ba nhỏ đó trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi… Mấy nhỏ la khóc quá trời..

Hắn cũng cho rằng, cuốn truyện còn nhiều cảnh tưởng tượng quá mức, như trường hợp, một đám lính, làm thịt con xà niêng, nhưng sau khi cạo lông mới phát hiện ra đó là một người đàn bà.

Tôi viết lại lời hắn theo trí nhớ của mình. Và còn nhiều lời nặng nề khác của hắn về Nỗi Buồn Chiến Tranh, nhưng tôi xin phép không chép ra đây. Hắn ra người thiên cổ đã lâu. Vài dòng như một chút tưởng niệm đến hắn và những người lính cả hai miền Nam-Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua.”

Trong bài “Hữu Loan – Tài Năng Và Sự Mâu Thuẫn Trong Tư Tưởng Cũng Như Thi Ca”, (viết nhân 10 năm ngày mất của thi sĩ Hữu Loan), nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra một vài chi tiết mà gần như hầu hết trong chúng ta chưa được biết về tác giả bài thơ nổi tiếng“Màu Tím Hoa Sim” này:

“Khó hiểu, và bất ngờ hơn nữa, trong cùng một thời điểm Hữu Loan viết bài ngợi ca: Chế Độ Ta, khác hẳn với sự châm biếm, đả kích ở bài: Cũng Những Thằng Nịnh Hót. Sự mâu thuẫn, nhức nhối này, làm cho người đọc một cảm giác “Cây gỗ vuông chành chạnh” Hữu Loan, dường như còn một khuôn mặt khác nữa:

“…Chế độ ta
Đến đâu
Mặt trời theo
Đến đấy
Chế độ ta
Đã dạy
Cho mặt trời
Công bình…

Chế độ ta
Không còn hành khất
Không còn người ăn sương
Nhân loại cần lao
Lớp lớp
Lên đường
Mặc áo muôn màu
Hát muôn thứ tiếng
Tay nắm tay thân mến
“Ta giữ hòa bình
Cho chế độ ta đây…”

Có thể nói, Hữu Loan có cái nhìn méo mó về Hà Nội và Saigon, cũng như cuộc di cư của hơn một triệu đồng bào miền Bắc (sau1954), khi ông viết bài Đêm vào tháng 5/1956. Qủa thực, dưới cái tư tưởng, quan điểm phiến diện như vậy của Hữu Loan, Hà Nội trước kia, và Saigon hôm nay (1956), hiện lên trong thơ như một thứ ung nhọt, giang mai cùng mã tấu. Sự đĩ điếm, bỉ ổi ấy, càng rõ nét hơn dưới phép so sánh của ông: “Đêm Hà Nội/ Ngày nay/ Như em nhỏ nằm tròn/ Ru trong nôi chế độ”. Cái khía cạnh, và sự ru ngủ này, trong thơ Hữu Loan, dường như ít được các nhà nghiên cứu, và phê bình nhắc đến:

“…Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Lõa lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả

Những đêm Sài Gòn
Ngày nay
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mưng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà-phê
100$ 1 con gái…”

Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên”

Sau 1954, những thi sĩ, nhà văn cùng thời như, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, hay Nguyễn Tuân… đều phải đảo bút, úp mặt quay lưng vì cuộc sống là điều dễ hiểu. Song với Hữu Loan một nhà thơ thẳng thắn, và can trường là một điều thật khó lý giải. Do vậy, cần lắm một sự nghiên cứu của các bậc tiền bối từ trong nước ra đến hải ngoại, để làm sáng tỏ một cách chân thật nhất về nhà thơ tài năng, đáng kính Hữu Loan.

Và một trong nhiều trường hợp thay đổi tư duy ngược lại: nhà thơ Đinh Thị Thu Vân (trong Hội Văn Nghệ Long An)

“…ngay từ những ngày đầu cầm bút Đinh Thị Thu Vân đã hồ hởi, reo vui: “Tháng Tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn.”. Và Ba mươi tháng Tư đến, nhà thơ như cởi bỏ dĩ vãng, gột rửa được tâm hồn. Lời tự thú ấy đã được Đinh Thị Thu Vân viết thành thi phẩm: Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư, rất đồng điệu với khí thế hừng hực của những ngày sau 30-4-1975. Quả thực, nó chẳng khác gì một bản kiểm thảo trước chi bộ đảng đoàn vậy

“…Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư
Em giờ vẫn như thuở nào, sợ tay mình lấm đất
Sẽ không biết tự khuyên mình những lời nghiêm khắc nhất
Không một lần dám sống hy sinh
Và giữa dòng người cuộc sống gấp bon chen
Em đâu biết tin ai một điều gì tuyệt đối
Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa tim kia đành giữ lại… để nghi ngờ

—-

Sẽ… rất nhiều, anh hiểu phải không anh
Ngày tháng trước em là con ốc nhỏ
Con ốc đa nghi cuộn mình trong lớp vỏ
Sống vô tình mà ngỡ sống thông minh…”

Nếu “Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư” là lời tự thú, để rũ bỏ quá khứ, gột rửa tâm hồn, thì đến với “Saigon Đau” lại là sự tìm về dĩ vãng, trong cái tiếc nuối và nỗi đau mất mát của Đinh Thị Thu Vân. Có thể nói, “Saigon Đau” là bài thơ tiêu biểu, và rõ nét nhất cái mâu thuẫn tư tưởng trên những trang viết của Đinh Thị Thu Vân. Và nó cũng là một trong những bài thơ viết về thế sự xã hội hay nhất, mà tôi được đọc. Thật vậy, nỗi đau và sự luyến tiếc đó, dường như không phải của riêng nhà thơ, mà nó đưa đến, và nhận được sự đồng cảm của rất nhiều người. Vẫn những lời thơ tự sự, Saigon Đau như một mũi khoan xoáy vào lòng người đọc. Nhất là những kẻ buộc phải rời xa quê. Ta hãy đọc lại những trích đoạn có lời thơ dân dã, song rất đẹp dưới đây để thấy rõ, (và so sánh) cái mâu thuẫn tư tưởng, cũng như cái tôi, và chất trữ tình trong thơ thế sự xã hội của Đinh Thị Thu Vân:

“em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ…
Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa…
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn!
không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?…”

 

-Một vài nhận xét về Đỗ Trường từ những nhà văn thành danh trong và ngoài nước:

-Trong bài viết về tác phẩm “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” của tác giả Đỗ Trường, nhà thơ Trần Trung Đạo đã có nhận xét:

“Nhà văn Đỗ Trường cảm nhận giá trị văn chương và hoàn cảnh của tác phẩm bằng trái tim trong sáng hơn là tình cảm riêng tư, quen biết trước. Anh không viết theo cách “mặc áo thụng vái nhau”. Cảm xúc dâng lên sau khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn anh bắt gặp đâu đó, và như thế anh ngồi xuống viết. Anh có thể không biết và cũng không quá cần phải biết ngay tác giả của bài thơ, bài văn mà anh đang phân tích là ai, tầm cỡ nào, còn sống hay đã chết, miền Nam hay miền Bắc, Cộng Sản hay Quốc Gia.

Trong không gian mênh mông không hố hầm ngăn cách của tâm hồn anh, họ là những con người có trái tim Việt Nam như anh và cùng rung môt nhịp xót xa hay hy vọng với anh.

Với nhà văn Đỗ Trường, giá trị của tác phẩm làm nên tên tuổi chứ không phải tên tuổi làm nên giá trị tác phẩm”

-Trong bài viết “Thân Phận Bút Mực Trong Con Chữ Đỗ Trường”, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có những nhận xét khá độc đáo:

“Đỗ Trường viết văn bí mật như người đi vào một thành phố bị chiếm. Chao ôi, những trang giấy trắng này đã bị sự dối trá chiếm đóng từ muôn nơi, trong đó có quê hương của ông tàn tạ những chân trời. Ông hân hoan trao sự thật lòng mình cho trang giấy như người vợ đêm tân hôn trao cho chồng sự trinh trắng cả tâm hồn và thể xác…”

-Đặc biệt và mãnh liệt hơn, trong bài viết ngày 28.8.2017, dưới cái tựa: “Đỗ Trường – Kẻ Không Khoan Nhượng Với “Bầy Sâu Đang Khiêng Nước Việt Đi Chôn”, được đăng trên RFA, nhà văn Võ Thị Hảo sau khi nhận định về tài năng và khí tiết của Đỗ Trường, đã kết luận như sau:

“Người Việt ở Đức và mọi nơi trên thế giới rất cần thêm những người viết mang nhân cách chính trực như Đỗ Trường. Ngay tại Đức quốc, ai ngờ lại quá hiếm hoi những người viết như vậy. Chúng ta cần biết bao những người dám nói và viết lên sự thật để tẩy rửa sự tanh tưởi của những cơ hội và nhạt đạo tâm hồn.

Không cần nổi danh, Đỗ Trường viết vậy là chỉ để tự cứu rỗi chính mình. Nhưng nhân cách viết da diết vì sự thật và cộng đồng ấy đã cần mẫn ngày ngày gắng gỏi cho một sự nghiệp lớn và vì thế anh thành danh ngoài mong muốn.

Bằng những gắng gỏi, góp gió thành bão của mỗi người, sẽ tới một ngày, Việt Nam…”

 

-LỜI KẾT:

Bài viết này, ngoài việc giới thiệu đến độc giả diện mạo đặc biệt đáng quí của một nhà văn sinh ra và lớn lên từ miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, cũng để thay cho lời cám ơn gởi đến nhà văn Đỗ Trường, người đã “chuyên chở văn học miền Nam, đặc biệt những người lính cầm bút miền Nam, vượt qua vũng lầy của cuộc chiến” do chế độ CS man rợ đã cố tình hủy diệt sau tháng 4.1975, để mang đến cho mọi người Việt Nam, đặc biệt những thế hệ hậu sinh trong nước, giá trị đích thực và vĩnh cữu của nó.

Bắc Âu, 23.6.2022

Phạm Tín An Ninh

Tại sao đến nông nỗi này?

Tại sao đến nông nỗi này?

24-6-2022

Đoàn Bảo Châu

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Trong nước, nội xâm đang hoành hành, đấy chính là nạn tham nhũng tràn lan khắp các tỉnh thành, khắp các bộ, ban ngành. Vấn đề là không có biện pháp quyết liệt và triệt để để chặn đứng nạn này, chỉ là hô hào chung chung, xử lý theo vụ việc.

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Để khỏi phải đốt lò, bước đầu tiên là đừng sản xuất ra củi. Hãy bắt đầu bằng việc cấm đưa phong bì ở tất cả các ban ngành, kê biên tài sản, kiểm soát dòng tiền trong tài khoản ngân hàng của quan chức, không cho phép các quan chức các cấp viếng thăm nhà riêng của nhau.

Chống tham nhũng không khó, cái khó là có thực tâm muốn làm không và có ai có tâm, có tầm, có chí, có quyết tâm làm không. Nội xâm không xử lý được triệt để thì tương quan sức mạnh của ta với ngoại bang sẽ kém đi và chúng muốn làm gì mà chẳng được.

Để rơi vào thế yếu là một điều đáng xấu hổ và không nên tự hào với cái kiểu đối ngoại “mềm mại” nhưng thực chất là kiểu ứng xử bất đắc dĩ. Việc này y như một cô gái yếu đuối, khi bị thằng cướp thò tay vào ngực thì chỉ chiêm chiếp thốt lên: “iem quan ngại, iem quan ngại lắm anh ôi…!”

Nó cứ bóp rồi tay nó thò lung tung nữa thì điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Có vị nào nói không đòi được Hoàng Sa thì thế hệ con cháu sẽ đòi được. Thế hệ này mà để tham nhũng bòn rút tài nguyên đất nước, làm kiệt quệ sức dân thì thế hệ sau lấy đâu ra nền tảng và sức mạnh để đòi lại phần đã bị ngoại bang cướp? Rồi chính vị này bảo phải dạy sao cho thế hệ trẻ khi đứng chào cờ mà mắt rưng rưng lệ.

Câu này đúng, không hề sai. Một đất nước chỉ có thể hùng cường được khi người trẻ có lòng ái quốc tha thiết và mạnh mẽ nhưng làm sao có được điều ấy thì cần phải bàn tiếp.

Đúng là chúng có quyền tự hào về lịch sử chống ngoại xâm hào hùng nhưng chúng cũng không thể giữ mãi cái lòng tự hào ấy trong một thế giới biến chuyển với tốc độ chóng mặt, khi các nền văn hoá mạnh xâm nhập vào Việt Nam và chúng nhìn thấy cái hạn chế của một chính thể nhiều tham nhũng, mà một chính thể nhiều tham nhũng thì không thể xây dựng được một nền văn hoá có thể toả sáng long lanh trên quốc tế được.

Mọi thứ đều liên quan tới nhau. Chúng cần có những niềm tự hào mới về một quốc gia đang phát triển rực rỡ, không phải chỉ là những trận đá bóng mà ở nhiều lĩnh vực khác. Đất nước này “rừng vàng biển bạc”, câu ấy không hề sai.

Các địa phương có văn hoá riêng phong phú và đặc sắc nhưng du lịch, các sản vật không có chỗ đứng trên quốc tế là bởi phong thái làm ăn làng nhàng, luộm thuộm, ăn chặn, gây khó dễ, các doanh nghiệp phải đối phó với đủ các khó khăn.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Điều đáng sợ nhất, khó thay đổi nhất là người dân cam phận, coi tất cả những điều ấy là tự nhiên, và lấy việc im miệng là phương châm sống yên bình của mình.

Hơn bao giờ hết, đất nước này cần những lãnh đạo có tâm, có tầm, quyết liệt và mạnh mẽ trong tư duy và hành động chứ không cần những lời phát biểu đèm đẹp, mơ màng, những ví von lơ lửng, lạc quan tếu như đang ngồi ở quán bia vỉa hè.

Hãy thay đổi trước khi quá muộn khi mà ngoại bang có thể lợi dụng sự yếu đuối của ta để lấn tới.

 

https://dantri.com.vn/xa-hoi/viet-nam-len-tieng-viec-trung-quoc-tap-tran-o-hoang-sa-20220623163434708.htm

Ngành sản xuất củi đốt lò của Việt Nam là vô địch (chú thích của BVN)

Đ.B.C.

Nguồn: FB Chau Doan

Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đếch ký!

Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đếch ký!

Mai Bá Kiếm

26-6-2022

Hỗm rày, dư luận đồn cựu chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong bị kỷ luật cảnh cáo vì ký đề xuất tặng huân chương “tào lao động đậy” hạng ba cho Việt Á, nhưng tôi nghĩ rằng đó là lỗi hệ thống, với Phong chỉ là lỗi nhỏ!

Cuối năm 2018, tại kỳ họp HĐNDTP, Nguyễn Thành Phong than thở: “Thanh tra, khởi tố nhiều làm cán bộ giảm năng động, chậm giải quyết hồ sơ hành chính”.

Ảnh chụp màn hình báo VNExpress

Anh Phong thanh minh, việc thanh tra, khởi tố liên quan đến các nhiêm kỳ trước, như việc khiếu kiện ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu công nghệ cao, Dự án Safari, Khu đất 8-12 Lê Duẩn, 2-4-6 Hai Bà Trưng.

Đúng, những vụ đó không liên quan anh Phong, mà Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Hữu Tín, Trần Vĩnh Tuyến đã chịu rồi. Nhưng, đương kim PCT UBNDTP Võ Văn Hoan cũng bị kỷ luật khiển trách trong nhiệm kỳ 2015-2020 thì tôi nghi có dính đến vụ Công ty Thuận Việt!

Ngày 11/12/2020, Võ Văn Hoan ký quyết định giao 27.393,1m2 đất tại P. Bình Khánh cho Công ty Thuận Việt là đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng 50 năm! Sau đó, Thuận Việt tạm nộp tiền sử dụng đất 700 tỷ đồng, tức 26 triệu đồng/m2 (cùng phường với lô đất Tân Hoàng Minh đấu 2,4 tỷ đồng/m2).

Thật ra, đó chỉ là “quyết định chạy tang” cho Thuận Việt. Trước đó, Thuận Việt là nhà thầu xây chung cư tái định cư (TĐC) 1330 căn, theo phương thức BT. Không hiểu bằng cách nào, Thuận Việt thay đổi thiết kế nhà TĐC thành nhà ở thương mại (NƠTM), đến đầu năm 2018, khi chưa hoàn thành, Thuận Việt đã rao bán với giá (70 triệu/m2) theo phương thức trả góp, ViettinBank bảo lãnh cho vay!

Khách đặt cọc, cầm hợp đồng đến ViettinBank mới Thuận Việt không có cái quần què để thế chấp! Vậy mà, Thuận Việt vẫn lừa bán được 1.122 căn, có người nộp đến 90% trị vẫn không được giao nhà.

Khi người mua nhà giăng biểu ngữ khiếu kiện, Thuận Việt thanh minh với các bồi bút: “Khi xây xong, TP không có tiền trả, Thuận Việt xin TP cho cấn trừ tiền xây dựng bằng 1330 căn hộ TĐC và xin chuyển Dự án New City thành NƠTM. Thuận Việt đã giải bài toán tài chính ngoạn muc cho TP, mà còn bị tai tiếng”.

Bị áp lực khiếu kiện, GĐ Sở XD Trần Trọng Tuấn (bị cáo trong vụ án Lê Tấn Hùng, em của “Hai Japan”) cho thanh tra và xử phạt Thuận Việt (ngày 11/1/2018) đã trả lời báo chí: “Nguồn 1330 căn của Thuận Việt nằm trong nguồn đất của Ban quản lý khu đô thị Thủ Thiêm. Tuy nhiên, nhà nước chưa chi trả để mua lại quỹ nhà này. Do đó, có thể khẳng định rằng dự án New City chưa đủ điều kiện để bán đấu giá. Ngoài ra, giá trị đất sẽ tính theo giá thị trường”.

Còn Sở Tài môi nói “Hồ sơ nộp tiền sử dụng đất dự án New City chưa tới Sở”.

Đến độ, Thanh tra Chính phủ nhập cuộc và kết luân: “TP.HCM đã thanh lý hợp đồng ĐTXD dự án 1.330 căn hộ New City Thủ Thiêm, khi chưa có ý kiến chấp thuận của Thủ tướng CP về giao đất là không đúng quy định tại Điều 118, Luật Đất đai năm 2013.

Cty Thuận Việt đã thay đổi thiết kế dự án New City Thủ Thiêm, từ nhà TĐC sang NƠTM. Nhà đầu tư này đã chuyển nhượng cho người mua 1.122 căn hộ. Sau đó, ngày 11/12/2020, UBND TP.HCM có quyết định giao khu đất diện tích 27.393,1m2 cho Công ty Thuận Việt. Đến nay chưa có một quyết định nào của cơ quan chức năng cho phép chuyển dự án này từ TĐC sang nhà ở thương mại”.

Như vậy, quyết định của Võ Văn Hoan ký để “chạy tang” cho vụ án Thuận Việt bán nhà khống!

Nếu Bộ Công an khởi tố Thuận Việt tội lừa đảo lớn nhất nước thì “nhiêm kỳ” 2015-2020 sẽ bung toang!

Anh Phong đã tiên tri: Thanh Tra, khởi tố làm cán bộ hết năng động ký hồ sơ!

Ký hồ sơ nộp thuế đất ở TP Thủ Đức ứ đọng 3, 4 tháng! Bên Y tế không dám ký đấu thầu thuốc, thiết bị y tế! Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đ*o ký, làm gì tao?

Nhiều lúc cũng cần phải quên…

Lê Hoàng Nam

Nhiều lúc cũng cần phải quên…

Cuộc đời con người giống như một cuộc hành trình dài, không ngừng bước đi, ven đường nhìn thấy vô vàn phong cảnh, trải qua biết bao những gập ghềnh, nếu như đem tất cả những nơi đã đi qua đã nhìn thấy ghi nhớ hết trong lòng thì sẽ khiến cho bản thân mình chất chứa thêm rất nhiều gánh nặng không cần thiết.

Sự từng trải càng phong phú, áp lực càng lớn, chẳng bằng đi một chặng đường quên một chặng đường, mãi mãi mang một hành trang gọn nhẹ trên đường.

Quá khứ đã qua, thời gian cũng không thể quay ngược trở lại, ngoài việc ghi nhớ lấy những bài học kinh nghiệm, còn lại không cần thiết để cho lòng phải vướng bận thêm.Sẵn sàng quên đi là một cách cân bằng tâm lý, cần phải chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống.

Có một câu nói rất hay rằng tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ đó để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.Rất nhiều người thích câu thơ : “Xuân có hoa bách hợp, thu có trăng. Hạ có gió mát, đông có tuyết”.

Trong lòng không có việc phải phiền lo mới chính là mùa đẹp của nhân gian.

Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ thật tươi đẹp.

Gia Nguyễn chia sẻ từ

thuvienvietnam

Thánh Giuse, mẫu gương sống khó nghèo – Cha Vương

Thánh Giuse, mẫu gương sống khó nghèo

 Thứ 6 rồi bạn ơi, chúc bạn một weekend hạnh phúc và zui zẻ bên cạnh những người thân yêu. Nếu có đi nghỉ hè nơi nào thì đừng để Chúa ở nhà nhé.

Cha Vương 

Thứ 6: 24/06/2022

Quà tặng thứ 6 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương sống khó nghèo

TIN MỪNG: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5:3)

SUY NIỆM: Thánh Giuse đã sống nghèo thực sự, nghèo cả vật chất lẫn tinh thần. Dù xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, nhưng Thánh Giuse đã cùng Đức Mẹ và Chúa Giêsu sống trong ngôi làng Nazarét nhỏ bé với nghề thợ mộc, chẳng mấy người biết đến. Thậm chí, chính sự nghèo khó này đã có lúc trở thành cản trở, khiến người Do Thái khó chấp nhận sứ mạng của Chúa Giêsu khi nhìn vào gốc gác, thân thế của Người. Cái nghèo nơi gia đình thánh không phải là sự thiếu thốn cơm ăn, áo mặc, bởi một người chăm chỉ lao động như Thánh Giuse chắc chắn sẽ đủ nuôi sống gia đình. Nhưng thâm sâu hơn, tinh thần nghèo khó của thánh nhân được thể hiện ở tấm lòng khiêm hạ, hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa, hạnh phúc là một người nghèo của Giavê.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, mẫu gương về sự khó nghèo, xin giúp chúng con noi gương ngài, sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, để giữa một xã hội đầy dẫy những bon chen và hưởng thụ, chúng con biết tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa và chia sẻ với tha nhân. Bây giờ và mãi mãi, xin cho chúng con được vững lòng trông cậy vào lòng nhân hậu của Chúa, biết quý trọng ơn gọi bậc sống mình và trau dồi các nhân đức, để chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con luôn thanh thoát, tự do, sống gắn bó với Đức Giêsu Kitô và phát huy gia bảo tốt đẹp của các bậc tiền nhân trong tình yêu và thánh ý Chúa. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

Vài suy nghĩ sau các phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc bạo loạn ngày 6.1.2021

Vài suy nghĩ sau các phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc bạo loạn ngày 6.1.2021

Song Chi

24-6-2022

Trong suốt 4 năm Donald Trump làm Tổng thống Hoa Kỳ, nhiều người đã đặt câu hỏi về sự bất ổn trong nhân cách, tính cách của ông. Nhưng giai đoạn đó, Donald Trump đang có sự ủng hộ, ngưỡng mộ của (luôn luôn) gần một nửa dân chúng Mỹ, đa số đảng viên đảng Cộng hòa, chưa kể 90% người Việt ở trong nước nên mọi lời nhận xét tiêu cực về Donald Trump đều bị những người ủng hộ Trump bất chấp lý lẽ, đúng sai, công kích dữ dội.

Nhưng trong những ngày tháng cuối cùng tại Nhà Trắng, khi biết mình bị thua trong cuộc bầu cử 2020, Donald Trump đã có hàng loạt lời nói, hành động khó mà tưởng tượng nổi là của một Tổng thống có lý trí, biết tôn trọng luật pháp, Hiến pháp Hoa Kỳ. Bây giờ khi nghe xong các phiên điều trần của Ủy Ban điều tra vụ bạo loạn ngày 6.1 thì ngoại trừ những người vẫn ngưỡng mộ, ủng hộ ông Donald Trump bất chấp đúng sai như vừa nói ở trên, bất cứ ai có một khả năng phân tính, suy xét vấn đề một cách bình thường cũng đều nhận ra 3 điều:

1. Vụ tấn công vào tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ngày 6.1.2021 hoàn toàn không phải là một vụ bạo loạn ngẫu nhiên, mà là một âm mưu đảo chính nhằm mục đích để Donald Trump tiếp tục làm TT thêm một nhiệm kỳ nữa, mà vai trò tích cực chính là cựu TT Donald Trump.

2. Nền dân chủ và Hiến pháp của Hoa Kỳ suýt chút nữa thì rơi vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, có những người đã dùng những cụm từ như: nền dân chủ của Hoa Kỳ đã bị đưa đến bờ vực thẳm (American democracy was brought to the brink), nền dân chủ của Hoa Kỳ đã ở trên cạnh của lưỡi dao (America on the knife’s edge). Cứ thử tưởng tượng vào cái ngày bạo loạn đó biết bao nhiêu điều tồi tệ hơn có thể xảy ra, chẳng hạn, những kẻ bạo loạn tìm được cựu Phó TT Mike Pence, giết chết Mike Pence, dẫn đến việc không có ai xác nhận kết quả Biden là TT, Trump nhân cơ hội đó ra lệnh “thiết quân luật” và tiếp tục nắm quyền, rồi cả nước Mỹ hỗn loạn, chia rẽ, xảy ra nội chiến v.v…

3. Toàn bộ những lời nói, hành vi của Donald Trump từ khi biết mình bị thua trong cuộc bầu cử vào tối ngày 3.11.209 cho tới cuộc bạo loạn ngày 6.1.2020 và cho tới tận bây giờ, đã chứng tỏ Donald Trump thực sự là một trường hợp bị rối loạn về nhân cách (personality disorder). Không có một con người bình thường nói chung và một TT Hoa Kỳ nói riêng nào có lý trí, đầu óc suy nghĩ lành mạnh, bình thường mà lại như vậy.

Ảnh chụp màn hình báo Người Việt

Rối loạn nhân cách có rất nhiều dạng, nhưng điều lạ lùng là giữa Donald Trump hay Vladimir Putin lại có một số nét giống nhau: yêu bản thân một cách thái quá hoặc rối loạn nhân cách tự ái kỷ (narcissistic personality disorder), một người nói dối bệnh hoạn (a pathological liar) có nghĩa là nói dối bất cần ai tin, nói dối liên tục đến mức tin luôn vào những điều mình nói, không chấp nhận sự thật nếu sự thật đó không có lợi cho mình hoặc không theo ý mình muốn, sống trong một thế giới khác (alternative world), không quan tâm đến cái gì khác ngoài bản thân mình, một khi cái ý nghĩ gì đó đã vô đầu thì khó mà lấy ra được (ví dụ như ý nghĩ của Putin là Ukraine không phải là một quốc gia, không phải là một dân tộc, Ukraine là một phần của nước Nga và ông ta sẽ lấy lại Ukraine; hay ý tưởng cuộc bầu cử đã bị đánh cắp, Mike Pence có khả năng đảo ngược kết quả… của Donald Trump); hoang tưởng (paranoia) về sức mạnh của chính mình… Và cả hai cũng có những xu hướng độc tài như chỉ thích tập hợp chung quanh mình những kẻ xu nịnh, trung thành chứ không muốn nghe những lời góp ý đúng đắn. Cái khác là luật pháp Hoa Kỳ, xã hội Hoa Kỳ không cho phép Donald Trump trở thành một kẻ độc tài toàn diện như Putin mà thôi.

Tuy nhiên, những người như Adolf Hitler, Vladimir Putin, Donald Trump,… vì họ có một tính cách mạnh mẽ, áp đảo người khác nên họ thường thu hút được đám đông quần chúng sùng bái những người có cá tính mạnh, cho họ mới đúng là những người đàn ông thực sự, những lãnh đạo, lãnh tụ thực sự. Trái ngược với Joe Biden luôn bị xem là mờ nhạt, thiếu sức hấp dẫn, thiếu động lực gây cảm hứng nên số lượng người kính trọng, tin cậy thì có mà số người ngưỡng mộ, thậm chí “cuồng” thì rất ít.

Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!

Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!

Diễm Thi, RFA
2022.06.23

Hình minh hoạ: Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước báo chí sau khi tham gia bỏ phiếu ở Hà Nội hôm 23/5/2021

AP

Tại buổi tiếp xúc cử tri tại Hà Nội hôm 23 tháng 6 năm 2022, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại lên tiếng về công tác chống tham nhũng. Ông Trọng cho biết, cuối tháng này Trung ương sẽ tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng để nhìn lại giai đoạn từ khi thành lập Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực thuộc Bộ Chính trị.

Ban này do ông Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban với cái tên ban đầu là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, được thành lập vào ngày 1 tháng 2 năm 2013. Đến ngày 16 tháng 9 năm 2021, ông Trọng đã ký quyết định sửa đổi ban này thành Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Nói tóm lại, ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cái cơ chế này. Phải có sự cạnh tranh giữa các đảng phái để họ nhìn vào cái đảng đang điều hành đất nước. Phải thay đổi tận gốc. – Nhà báo Trần Ngọc Tuấn

Nhà báo Trần Ngọc Tuấn ở Cộng hòa Séc, một người luôn đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trong nước cho rằng, muốn thật sự chống tham nhũng thì phải thay đổi thể chế:

“Tôi nghĩ chẳng có một quốc gia nào mà chống tham nhũng một cách tuyệt đối đâu. Còn ở Việt Nam thì chống tham nhũng chỉ chống từ rốn trở xuống. Nghĩa là không chống ở trên cao. Họ chỉ tỉa lá ở những cây bị sâu ăn mà thôi.

Cách tốt nhất và có hiệu lực nhất là phải thay đổi tận gốc, thay đổi cả một cái cây, trồng cây mới với cái tên là cây Dân Chủ. Phải có tam quyền phân lập và báo chí độc lập. Ở các nước dân chủ, báo chí có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ chính phủ chống tham nhũng, hạn chế tham nhũng.

Nói tóm lại, ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cái cơ chế này. Phải có sự cạnh tranh giữa các đảng phái để họ nhìn vào cái đảng đang điều hành đất nước. Phải thay đổi tận gốc.”

Giữa tháng 12 năm 2020, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020, Trưởng Ban chỉ đạo là ông Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; một cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Cũng nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, năm trước, Bộ Chính trị đã ban hành quy định số 85 về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Sau đó, một số đảng viên và học giả công bố một bức thư ngỏ yêu cầu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng “công khai tài sản” để “làm gương”. Cuối tháng 10 năm 2020, Thủ tướng Việt Nam ký ban hành Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Theo một số người quan tâm, việc chống tham những bằng nghị định, văn bản không hiệu quả. Muốn chống tham nhũng phải làm mạnh tay từ bên trong. Ông Lê Văn Triết, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại từng nêu quan điểm với RFA về biện pháp kê khai tài sản như một cách để làm sạch bộ máy:

“Nói vậy chứ có làm được gì đâu, có ai kê khai gì, lâu lâu có chỗ nổi cộm thì lại lôi ra… rồi lập hồ sơ, mở phiên tòa, rồi lại kết luận gây hậu quả nghiêm trọng do kém ý thức tổ chức… chứ có giải quyết gì đâu. Theo tôi muốn giải quyết vấn đề này phải nghiêm minh từ bên trong, từ trên xuống, nghiêm tức trong tổ chức thực hiện. Chứ không phải muốn nói gì thì cứ nói đại một cái, đưa ra văn bản này, văn bản nọ, nói thế thì ai nghe, ai làm, chả đi đến đâu, họ hết việc làm rồi…”

Việc kê khai tài sản, quan chức được nói đến nhiều mấy năm gần đây khi những căn biệt thự có giá từ hàng chục đế cả trăm tỷ của các quan chức xuất hiện trên mặt báo. Gần đây nhất là những căn biệt thự của ông Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ KH&CN, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội) được một số chuyên gia bất động sản đánh giá có giá thị trường dao động từ 80-100 tỷ/căn. Trong khi đó, theo quy định hiện hành, mức lương của chủ tịch thành phố Hà Nội là 15.347.000 đồng/tháng.

Các vị công khai tài sản hết đăng báo Nhân Dân cho dân đọc và nói luôn, nếu ai phát hiện tôi ngoài những tài sản đã kê khai mà còn có hơn một tỷ, hay cho mười tỷ cũng được, mà nguồn gốc không rõ ràng thì xin trả lại chức về nghỉ. – Luật sư Trần Quốc Thuận

Tuy các hình thức tham nhũng rất khó bị phát hiện nhưng kết quả của nó ai cũng có thể thấy, ít nhất với phần nổi là bất động sản. Nếu các quan chức phải kê khai và giải trình nguồn gốc tài sản một cách công khai thì chắc chắn tham nhũng sẽ giảm. Đó là nhận định của Luật sư Trần Quốc Thuận, cựu Phó chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội với RFA sáng 23 tháng 6 năm 2022:

Tham nhũng ở Việt Nam bây giờ là từ trong xương nó dòi ra cho nên phải trị bằng một loại thuốc đặc trị. Tôi đề nghị có những bước đi thích hợp. Thích hợp là từ xã, phường, ấp phải thực sự có tự do ứng cử, bầu cử. Tiếp đến là đến cấp quận, cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh rồi lên tới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Làm sao trong các cơ quan dân cử, Hội đồng Nhân dân và Quốc hội phải có năm đến mười phần trăm những người không là đảng viên để nghe tiếng nói thật sự của dân.

Ở Việt Nam bây giờ những người có chức đều là đảng viên mà tội tham nhũng là tội của những người có chức. Như vậy tham nhũng là từ trong đảng mà ra. Bây giờ phải thực hiện những câu mà Tổng bí thư đã nói về chống tham những. Muốn chống tham nhũng thì phải làm gương về tài sản. Làm gương trước nhất là Bộ chính trị rồi Ban bí thư, Ban chấp hành trung ương. Các vị công khai tài sản hết đăng báo Nhân Dân cho dân đọc. Và nói luôn, nếu ai phát hiện tôi ngoài những tài sản đã kê khai mà còn có hơn một tỷ, hay cho mười tỷ cũng được, mà nguồn gốc không rõ ràng thì xin trả lại chức. Về nghỉ.”

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của mình; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Một từ Chết thôi mà muốn điên cái đầu…

Ngọc LinhCâu nói hay mỗi ngày

Một ông Mỹ già học tiếng Việt đã được 2 tháng!

Sáng nay ổng nói tao không thèm học nữa, bởi có một từ Chết thôi mà muốn điên cái đầu…

(T.ử Vong) cũng ch.ết

(Tự s.át) cũng ch.ết

(Tự t.ử) cũng ch.ết

(Tự vận) cũng ch.ết

(Từ trần) cũng ch.ết

(Qua Đời) cũng ch.ết

(Mất) cũng ch.ết

(Rồi đời) cũng ch.ết

(Tiêu đời) cũng ch.ết

(Đi đứt) cũng ch.ết

(Đứt bóng) cũng ch.ết

(Hi sinh) cũng ch.ết

(Đã Khuất) cũng ch.ết

(Nhắm Mắt) cũng ch.ết

(Xuôi tay) cũng ch.ết

(Đứng tròng) cũng ch.ết

(Khuất Núi) cũng ch.ết

(Khuất bóng) cũng ch.ết

(Tắt thở) cũng ch.ết

(Đi rồi) cũng ch.ết

(Toi rồi) cũng ch.ết

(Xuôi tay) cũng ch.ết

(Ngủm củ tỏi) cũng ch.ết

(Đắp Chiếu) cũng ch.ết

(Chầu trời) cũng ch.ết

(Thăng thiên) cũng c.hết

(Theo Ông Bà) cũng ch.ết

(Về tổ tiên) cũng ch.ết

(Gặp Diêm Vương) cũng c.hết

(Băng hà) cũng ch.ết

(Vĩnh biệt) cũng c.hết

(Lìa trần) cũng ch.ết

(Chán sống) cũng ch.ết

(Buông tay) cũng ch.ết

(Lìa đời) cũng ch.ết

(Đã mất) cũng ch.ết

(Ra đi) cũng ch.ết

(Về cõi tây phương) cũng ch.ết

(Hóa kiếp lai sinh) cũng ch.ết

(Ra đi ngàn thu) cũng ch.ết

(Trở về cát bụi) cũng ch.ết

(Từ giã cõi đời) cũng ch.ết

(Đi lên niết bàn) cũng ch.ết

(Chia tay cõi trần) cũng ch.ết

(Nghẻo – Queo) cũng ch.ết

(Ngắm gà khỏa thân) cũng ch.ết

(Ăn chuối cả nải) cũng ch.ết

(Xong kiếp phàm trần) cũng ch.ết

(Xong một kiếp người) cũng ch.ết

(Xong một đời, ngủm củ tỏi) cũng ch.ết…

Philip VinhQuoc

Bán muối cũng chết

Mộ yêu nước, mộ thực dân

Mộ yêu nước, mộ thực dân

21-6-2022

Năm ngoái một người bạn Facebook hỏi nhưng không nhớ là ai nên góp ý chung ở đây. Câu hỏi là tại sao có Tây Ban Nha trong Liên Quân Pháp-Y Pha Nho đánh Việt Nam rồi bỗng dưng biến mất khỏi chiến tranh thuộc địa?

Trước 1975, chúng ta học về giai đoạn thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam có mặt của Tây Ban Nha và được gọi là liên quân Pháp-Y Pha Nho.

Tây Ban Nha không có ý định chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Lúc đó Tây Ban Nha đã có thuộc địa ở Á Châu là Philippines. Ý định chiếm Việt Nam làm thuộc địa là của Pháp. Nhiều thế kỷ trước đó Tây Ban Nha đã có những dòng tu truyền đạo tại Việt Nam và Cambodia. Vào thời điểm 1850, cả Pháp lẫn Tây Ban Nha đều có các nhà truyền đạo bị triều đình nhà Nguyễn bắt giữ.

Mùa hè 1857, Giám Mục Tây Ban Nha là Jose Sanjurjo Diaz bị bắt và bị kết án tử hình. Trong tuyệt vọng, Tổng Lãnh Sự Tây Ban Nha tại Macao là Nicasio Moral yêu cầu Pháp giúp để bảo vệ mạng sống của Giám Mục Diaz. Lá thư đến trễ, Giám mục Jose Sanjurjo Diaz đã bị tử hình ngày 20 tháng 7, 1857.

Pháp và Tây Ban Nha đều giận và có ý định trừng phạt Việt Nam về tội giết các nhà truyền giáo nên khi Pháp mời Tây Ban Nha tham gia chiến dịch đánh Đà Nẵng Tây Ban Nha nhận lời. Hải quân Tây Ban Nha gồm hai chiến hạm Jorge Juan và Elcano do Đại Tá Oscariz chỉ huy với 500 quân gồm phần lớn là người Philippines.

Chỉ huy quân đội Việt Nam để bảo vệ Đà Nẵng là Tổng thống Quân Vụ Nguyễn Tri Phương vừa được điều từ Nam ra. Vì phương tiện chiến tranh chênh lệch quá xa, danh tướng Nguyễn Tri Phương chủ trương đánh tiêu hao lực lượng địch thay vì đương đầu trực tiếp với hỏa lực của Pháp và Tây Ban Nha.

Trận Đà Nẵng là một chiến thắng của Việt Nam dù phải chống lại một quân đội hai nước, đúng ra là ba nếu tính cả Philippines, với võ khí vượt trội. Riêng hải quân Pháp có 12 tàu chiến và Tây Ban Nha có 2 tàu chiến. Số lượng tàu chiến khác nhau vài chiếc phát xuất từ nguồn trích dẫn. Chiến lược của Nguyễn Tri Phương chứng tỏ có tác dụng. Sau 6 tháng bị phục kích và bịnh tật, liên quân Pháp và Tây Ban Nha để lại một số đơn vị, chuyển hướng mục tiêu vào tấn công Gia Định.

Ngày 16 tháng 2, 1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công Gia Định. Quân Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của tướng Charles-Gabriel-Felicite Martin des Pallires. Tháng 2, 1861, Phó Đô Đốc Pháp Leonard Charner từ Thượng Hải đến Sài Gòn để tiếp tục kế hoạch đánh chiếm Việt Nam. (Filipino Involvement in the French-Spanish Campaign in Indochina 1858 – 1862)

Vào thời điểm này quân Tây Ban Nha dưới quyền Đô Đốc Bernardo Ruiz de Lanzarote rút lui theo lời yêu cầu của Pháp. Các đơn vị người Philippines, thuộc địa của Tây Ban Nha, rút khỏi Sài Gòn năm 1862. Tướng Carlos Palanca Gutiérrez sau này lên chức Thống Chế ghi lại các chi tiết củas cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Pháp và Tây Ban Nha trong giai đoạn từ 1857 đến 1862 trong tác phẩm: “La Reseña histórica de la Expedición de Cochinchina” (The Historical Review of the Cochinchina Expedition).

Danh tướng Việt Nam bảo vệ thành Gia Định cũng là Nguyễn Tri Phương. Trong trận này ông bị thương. Sau đó được điều ra bảo vệ miền Bắc và bị trọng thương khi bảo vệ thành Hà Nội. Vị tướng lãnh thao lược nhất của các triều đình nhà Nguyễn đã “chịu đói nhịn đau mà chết” ngày 20 tháng 12, năm 1873 (nhằm ngày 1 tháng 11 Âm Lịch), thọ 73 tuổi.

Hôm kia đọc trên facebook của một người bạn và thấy hình ảnh ngôi mộ của danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Mộ Nguyễn Tri Phương. Ảnh: Kienthuc.net.vn

Nhìn ngôi mộ cổ đầy cỏ dại như đã bỏ hoang từ lâu lắm mà không khỏi đau lòng. Dĩ nhiên không cần phải xây dựng theo cách khoe khoang các cổng làng ở Việt Nam hiện nay nhưng ít nhất một việc mà ai cũng làm được là giữ gìn sạch sẽ, trang nghiêm.

Khu mộ Trần Đại Quang. Ảnh trên mạng

Nhìn ngôi mộ của danh tướng suốt đời hy sinh cho dân tộc Nguyễn Tri Phương và các khu mộ của Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang v.v… người có nhận thức sẽ hiểu ra Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi chế độc thực dân vẫn còn tồn tại, chỉ đổi màu.