CỨ MÃI LẦN LỮA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế  

CỨ MÃI LẦN LỮA

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế  

Thứ Năm Tuần XXV  Mùa Thường Niên

“Ông Gioan, trẫm đã chém đầu!”.

Nữ văn sĩ Margaret Millar nói, “Hầu hết các cuộc trò chuyện chỉ đơn giản là ‘một cuộc độc thoại’ trước sự chứng kiến của ‘một nhân chứng!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay không nói đến ‘một cuộc độc thoại’ của một ai đó trước ‘một nhân chứng’ nào đó, nhưng nói đến ‘lời tự thú’ của một quận vương trước cả một quần thần. Đó là một sự thật trần trụi mà Hêrôđê nhìn nhận, “Ông Gioan, trẫm đã chém đầu!”. Tiếc thay, việc nhìn nhận nó không giúp ông đau buồn mà cải tà quy chánh; nhưng khiến cho lòng ông chai cứng thêm! Vậy điều gì khiến Hêrôđê ‘cứ mãi lần lữa?’.

Tin Mừng nói, Hêrôđê mong gặp Chúa Giêsu; nhưng mong ước gặp Ngài của ông, hoặc sự kính trọng của ông dành cho Gioan, không hoàn toàn dựa trên đức tin hay động cơ hoán cải. Thời gian Gioan bị giam cầm hẳn mang một ý nghĩa mời gọi Hêrôđê hoán cải; tuy nhiên, Hêrôđê vẫn trì hoãn sám hối. Tại sao? Ông không vượt được những ‘noạ tính’ của thế gian và xác thịt.

Điều này có thể cũng đang xảy ra nơi mỗi người chúng ta, những con người vốn rất cần biến đổi. Nói rằng, tôi vẫn ổn! Tôi tin nhận Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Rỗi; tôi đã được “sinh lại” là chưa đủ! Chúng ta phải sống một đời sống mới bằng việc nên thánh mỗi ngày; tôi cần quyết tâm đổi mới lựa chọn của mình đối với Chúa Kitô; và nhất là đừng ‘cứ mãi lần lữa!’. Hôm nay, tôi muốn chuyển những điểm yếu, thiếu sót và sai lỗi của tôi sang một điều gì đó mà Chúa Giêsu mong chờ; và đó là sự thật giục giã tôi phải biến đổi, để tôi có thể đến gần Ngài!

Sự thật là gì? Sẽ đến một khoảnh khắc nào đó trong cuộc sống khi chúng ta soi mình vào gương để thấy rõ con người thật của mình; gẫm suy thế sự vốn chỉ là phù vân khi mọi sự xoay vần tuần hoàn và “chẳng có chi mới lạ dưới ánh mặt trời” như sách Giảng Viên hôm nay lưu ý. Cần can đảm để mục kích trực tiếp và tự hỏi, “Tôi thực sự là ai? Tôi đã làm gì với hồng ân Chúa?”. Với Hêrôđê, không phải tất cả
mọi thứ nơi ông đều ổn; một sự thật ông đã nhìn thấy, ‘ông giết người!’. Đây có thể là khởi điểm cho ông để bắt đầu một cuộc hoán cải thực sự hầu đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa; ít nhất, ông cũng nhận ra mình đã phạm tội. Hoán cải luôn bắt đầu bằng việc chúng ta chấp nhận thất bại khi đã nghiêng chiều về điều ác. Tiếc thay, Hêrôđê chỉ dừng lại ở đó! Ông không tìm nương thân bên Chúa để được Ngài xót thương; Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia!”.

Anh Chị em,

“Ông Gioan, trẫm đã chém đầu!”. Lời tự thú công khai của Hêrôđê cho thấy lương tâm ông vẫn cắn rứt; ông đã giết một người vô tội, một vị thánh đã nói sự thật. Ấy thế, Hêrôđê vẫn không thay đổi! Chính điều này cho thấy, hoán cải là việc của ân sủng chứ không phải của sức người. Chỉ có Thánh Thần của Thiên Chúa mới giúp chúng ta đủ sức bật dậy. Hãy cậy vào Chúa, đừng cậy sức mình! Bên cạnh đó, một khi trải nghiệm sự khó khăn của việc thay đổi bản thân, chúng ta cảm thông với sự đổi thay cần có thời gian của người khác! Thiên Chúa kiên nhẫn đợi chờ tôi, sao tôi không nhẫn nhịn chờ đợi anh chị em tôi? Bắt chước Hêrôđê, bạn và tôi khởi sự bằng việc nhìn nhận tội lỗi đầu nậu của mình, đặt bàn chân mình vào khởi điểm của lộ trình hoán cải; nhưng đừng ‘cứ mãi lần lữa’ như Hêrôđê. Hãy cầu nguyện, van xin Chúa Thánh Thần, kết hợp với việc chay tịnh; quyết tâm đứng lên và đi tới. Được như thế, nhất định chúng ta sẽ gặp được lòng thương xót Chúa… để bắt đầu một hành trình mới, một hành trình có tên “nên thánh!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con nhìn nhận chân tướng thật của mình, đừng để con vờ vịt, và ‘cứ mãi lần lữa’, khiến Chúa hoài công. Xin ân sủng Chúa giúp con quyết tâm đứng lên và đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế  

From: KimBang Nguyen

Khi ‘làm thuê cho ngoại nhân’ mới có thể đổi đời…

Khi ‘làm thuê cho ngoại nhân’ mới có thể đổi đời…

Blog VOA

Trân Văn

23-9-2022

Sau khi các viên chức hữu trách của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (LĐTBXH) tuyên truyền: Nếu được Nhật, Nam Hàn cho phép đến làm thuê, các cá nhân có thể kiếm được “hàng ngàn đô/tháng”…

Tháng trước và tháng này, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền cũng như hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam thi nhau vẽ ra viễn cảnh tươi sáng nếu các cá nhân là “chủ nhân” của Việt Nam – tức người dân – giành được một suất… “xuất khẩu lao động” (XKLĐ) – mỹ từ chỉ chuyện đưa người Việt đi làm thuê ở khắp nơi trên thế giới. XKLĐ trở thành giải pháp hồi đầu thập niên 1980 và sau 40 năm đã trở thành “chiến lược” vì vừa có thể giải quyết việc làm cho các… “chủ nhân”, vừa dặm nền để… xây dựng CNXH.

Sau khi các viên chức hữu trách của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (LĐTBXH) tuyên truyền: Nếu được Nhật, Nam Hàn cho phép đến làm thuê, các cá nhân là… “chủ nhân” của Việt Nam có thể kiếm được “hàng ngàn đô/tháng” (1), lãnh đạo chính quyền nhiều địa phương tiếp tục tuyên truyền thêm. Ví dụ, đại diện chính quyền tỉnh Nghệ An khoe với Quốc hội và các “chủ nhân”: Mỗi năm, Nghệ An đưa từ 13.000 đến 14.000 “chủ nhân” đi làm thuê ở ngoại quốc, nhờ vậy tạo ra… “dòng chảy nửa tỉ USD/năm” (2). Công cuộc xây dựng CNXH trên toàn Việt Nam sắp tròn nửa thế kỷ nhưng cứ như những gì các viên chức hữu trách ở Nghệ An khoe thì chính việc đưa các “chủ nhân” đi làm thuê ở ngoại quốc mới… “mang lại nhiều lợi ích thiết thực, góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm và đẩy mạnh phát triển kinh tế, xây dựng quê hương”, kể cả tạo ra nguồn tiền để… “thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” – vốn vẫn được dùng như bằng chứng, chứng minh cho sự đúng đắn khi xây dựng CNXH tại Việt Nam!

Cho dù đã đưa hơn một trăm ngàn cư dân đi làm thuê ở “110 quốc gia và vùng lãnh thổ” nhưng các viên chức hữu trách ở Nghệ An chỉ trăn trở một điều, đó là làm sao để… “đưa công tác XKLĐ theo hướng có hiệu quả hơn”! Chẳng riêng Nghệ An, đưa các “chủ nhân” đi làm thuê cho ngoại nhân ở ngoại quốc mới được giới lãnh đạo đảng CSVN nâng lên thành… “chiến lược”, yêu cầu phải… “bài bản” hơn và được xác định như một yếu tố đặc biệt quan trọng trong… “Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội mười năm 2021-2030” (3).

Tuy giành và giữ độc quyền lãnh đạo toàn diện Việt Nam, dẫu luôn khẳng định về sự “tài tình và sáng suốt” của mình nhưng đảng CSVN hoàn toàn bất lực trong việc tạo dựng một xã hội mà “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Nếu không bế tắc về sinh kế, không tuyệt vọng về tương lai, chắc chắn những… “chủ nhân” của Việt Nam không thi nhau tìm đường đi làm thuê ở ngoại quốc bằng đủ mọi cách, kể cả việc chấp nhận bị biến thành hàng hóa cho thiên hạ buôn – khiến Việt Nam trở thành một điểm nóng về tệ nạn buôn người, chấp nhận mạo hiểm tính mạng, chấp nhận bị ngược đãi, bị làm nhục, chấp nhận trở thành những cá nhân sống bất hợp pháp trên xứ người.

Không chỉ có thế! Để quảng bá cho “chiến lược XKLĐ”, các viên chức hữu trách trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền và hệ thống truyền thông chính thức tiếp tục giới thiệu những… “ngôi làng đổi thay nhờ XKLĐ” (4). Chẳng hạn, đầu tháng này, tờ VnExpress giới thiệu xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đang “lột xác” khi “biệt thự mọc lên khắp xã” và gần như nhà nào cũng có “tivi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa, lò vi sóng…” nhờ đồng lòng… xuất ngoại đi làm thuê.

Đến giờ, chỉ thấy toàn đảng tiếp tục “hồ hởi, phấn khởi” với việc gửi các “chủ nhân” của quốc gia ra ngoại quốc làm thuê để họ tự cứu thân, cứu gia đình, qua đó giúp đảng… “xây dựng CNXH” bằng nguồn ngoại tệ càng ngày càng dồi dào, không thấy viên chức hữu trách nào thèm bận tâm về nhiều vấn nạn xã hội đã nảy sinh suốt bốn thập niên gửi “chủ nhân” đi làm thuê. Cách nay bốn tháng, tờ Công An Nhân Dân giới thiệu một phóng sự, nhấn mạnh, phía sau sự sung túc của chính xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là những sự thật đắng cay khi không ít lao động bỏ mạng xứ người, vợ chồng lục đục kéo nhau ra tòa, con cái hư hỏng khi thiếu sự chăm sóc, dạy bảo của bố mẹ” (4).

Tại sao “đội ngũ tiên phong” không nhận ra điều mà ai cũng biết: Những vấn nạn xã hội liên quan đến gia đình, đến nguồn nhân lực (không đủ sống, thiếu chuyên môn, thiếu kỹ năng) sẽ sớm trở thành chướng ngại vật đe dọa sự ổn định và phát triển của một quốc gia, một dân tộc? Tại sao không thấy “đội ngũ tiên phong” hổ thẹn, nhận trách nhiệm khi không hoàn thành “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” vào năm 2020 để các “chủ nhân” chỉ còn lựa chọn duy nhất là… xuất ngoại làm thuê nếu muốn đạt được ấm no?

Việc gia hạn mục tiêu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” thêm mười năm nữa có đạt được không khi doanh nghiệp trong nước thì “khát” lao động (5), còn đa số “chủ nhân” hoàn tất hợp đồng đi làm thuê ở ngoại quốc khi quay trở về xứ sở của mình thì tiếp tục thất nghiệp, rơi trở lại vào vũng lầy đói nghèo (6). Đâu phải tự nhiên mà các “chủ nhân” của Việt Nam thi nhau bỏ trốn, chấp nhận tình trạng cư trú – làm việc bất hợp pháp trên xứ người (7) cho nên hết quốc gia này đến quốc gia khác không “tạm ngưng” tiếp nhận những “chủ nhân” của Việt Nam đến làm thuê thì cũng “tạm ngưng” tiếp nhận những “chủ nhân” của Việt Nam cư trú ở một số huyện, một số tỉnh nào đó (8).

Chú thích

(1) https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/thu-nhap-nghin-do-khi-di-lao-dong-tai-nhat-ban-han-quoc-20220826091827373.htm

(2) https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/gan-14000-lao-dong-di-nuoc-ngoai-nua-ti-usd-chay-ve-nuoc-moi-nam-20220915230447191.htm

(3) https://baochinhphu.vn/xay-dung-chien-luoc-xuat-khau-lao-dong-bai-ban-10222082517405128.htm

(4) https://cand.com.vn/Phong-su/noi-buon-mang-ten-xuat-khau-lao-dong-i653023/

(5) https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/nha-may-khat-cong-nhan-kem-gia-tang-gia-tri-lao-dong-nen-bi-canh-tranh-20220915083826696.htm

(6) https://vietnamnet.vn/vi-sao-nhieu-lao-dong-tu-nhat-tro-ve-that-nghiep-2058959.html

(7) https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/vi-sao-nguoi-lao-dong-danh-doi-tat-ca-de-lam-viec-chui-o-nuoc-ngoai-20220916205839896.htm

(8) https://nld.com.vn/cong-doan/lao-dao-mat-uy-tin-vi-lao-dong-bo-tron-20220915205435411.htm

CHOÁNG NGỢP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CHOÁNG NGỢP

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần XXV – Mùa Thường Niên⁸

Ngày 23 tháng 9

Thánh Pi-ô Pi-ết-ren-si-na, (Padre Pio) linh mục

lễ nhớ bắt buộc

“Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”.

A. Lincoln nói, “Đã nhiều lần, tôi buộc phải quỳ gối, bởi tôi biết rằng, tôi không còn nơi nào khác để đi! Sự khôn ngoan của riêng tôi, và tất cả những gì tôi có, dường như không đủ cho ngày khốn quẫn đó. Và rồi, tình yêu Ngài phủ lấp, tôi ‘choáng ngợp!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Tình yêu Ngài phủ lấp, tôi ‘choáng ngợp!’”. Cùng với trải nghiệm của vị tổng thống, một sự trùng hợp đến thú vị, khi cả hai bài đọc hôm nay nói đến ‘choáng ngợp!’. Con người ‘choáng ngợp’ trước vũ trụ đã đành; lại càng ‘choáng ngợp’ hơn trước Đấng Tạo Thành ra nó!

Bài đọc Giảng Viên nói, “Thiên Chúa ban cho con người khả năng nhận thức về vũ trụ; tuy thế, con người cũng không thể nào hiểu hết ý nghĩa”. Cuộc sống của nó như được chia đều giữa niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau; “mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời” và con người có rất ít quyền đối với cái này hay cái kia. Do đó, nó có thể nhầm lẫn! Thế giới của Thiên Chúa đơn giản là ‘quá lớn’ so với con người, vốn ‘quá nhỏ’ để có thể nắm bắt. Thế giới đẹp đẽ nhưng khá trêu ngươi của Thiên Chúa khiến con người ‘choáng ngợp’; vậy mà, sự thoả mãn nó cung cấp lại ‘quá ít!’. Đang khi con người được tạo ra cho vô biên; thì làm sao những thứ hữu biên, thuộc về thời gian lại có thể thoả mãn nó đời đời? Rõ ràng, “ở đây không có thành phố lâu dài”; chúng ta, những lữ khách, “đi tìm thành tương lai”. Mục tiêu quan trọng không đạt được ở đây, bởi nó không có! Mục tiêu cuối cùng nằm ở chỗ khác, nơi Thiên Chúa! Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn!”.

Với bài Tin Mừng, khi hỏi “Dân chúng bảo Thầy là ai?”, Chúa Giêsu không quan tâm xác suất mến mộ quần chúng dành cho Ngài; Ngài quan tâm đến phúc đáp của một câu hỏi khác, “Các con bảo Thầy là ai?”; Phêrô thưa, “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa!”. Không thể đúng hơn! Phêrô nhìn nhận Ngài là Đấng Được Xức Dầu của Chúa; nói cách khác, Ngài là Thiên Chúa. Nhưng Phêrô vẫn chưa hiểu hết chiều sâu của mầu nhiệm! Cũng thế, dù biết điều này là đúng, nhiều lúc chúng ta vẫn ‘choáng ngợp’ trước chiều sâu của mầu nhiệm, “Mầu Nhiệm Đức Tin!”.

Thử tưởng tượng, bạn ngồi trước Chúa Giêsu, nghe Ngài nói, liệu bạn có kết luận, Ngài là Ngôi Hai của Ba Ngôi Chí Thánh? Ngài tồn tại từ muôn thuở, xưng mình “Tôi Hằng Hữu”, liệu bạn kết luận, Ngài hoàn hảo, Đấng Tạo Thành, Đấng gìn giữ cho mọi sự tồn tại? Không ai hiểu được chiều sâu của mầu nhiệm; chúng ta có thể nhận biết một điều gì đó đặc biệt về Ngài, nhưng vẫn ‘choáng ngợp’ vì không thể biết trọn vẹn Ngài là ai trong bản chất đầy đủ của Ngài.

Anh Chị em,

“Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”. Ngoài câu trả lời “từ trên ban xuống” và “được Cha mặc khải” của Phêrô, không ai có thể trả lời cách trọn vẹn! Bởi lẽ, Đức Kitô, Thiên Chúa, Vua Trời Đất, không xuất hiện trong uy nghi, oai hùng, nhưng trong hình hài một con người, lang thang trên những nẻo đường cho mắt phàm thấy được, sờ được. Vì muốn gần con người để có thể cứu nó, Ngài trở nên quá bình thường, nếu không nói là tầm thường! Cũng thế, ngày nay trong Thánh Thể, Ngài đợi đó để chúng ta đến gặp Ngài, sờ đụng Ngài. Ngài mong chúng ta đừng khoá chặt Ngài trong nhà thờ, hoặc đặt Ngài nơi cao chỉ để cung kính. Không! Ngài muốn ở với chúng ta, nên một với chúng ta; và qua chúng ta, những nhà tạm di động, Ngài đến với những người khác, chia sẻ nỗi niềm, hoàn cảnh của mỗi người, hầu bổ sức và đồng hành với họ. Ngài hạ mình thẳm sâu để mỗi người có thể được nâng lên cao nhất; Ngài không muốn một ai phải ‘choáng ngợp’ vì Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘choáng ngợp’ bởi những mời mọc của thế gian. Cho con ‘choáng ngợp’ trước tình yêu tuyệt vời của Chúa, vốn luôn để ý đến từng chi tiết đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Di dân Việt: Chính trị ổn, kinh tế tốt mà sao vẫn phải ra đi?

Di dân Việt: Chính trị ổn, kinh tế tốt mà sao vẫn phải ra đi?

Võ Ngọc Ánh

Gửi bài từ Tacoma, bang Washington, Hoa Kỳ

22 tháng 9 2022

Chưa bao giờ lại có nhiều người Việt xây tương lai bên ngoài tổ quốc mình nhiều như thế và như hiện nay.

Người nghèo ra đi với lý do của mình, người có tiền ra đi theo cách của họ. Tất cả tìm cách ra đi để mong có được công việc, cuộc sống, học hành… tốt hơn bên ngoài đất nước. Xin kể ra một số câu chuyện tôi biết.

Bạn tôi ra đi

Bỏ qua bằng đại học, bạn tôi để lại vợ con đi làm công nhân xây dựng tại Nhật Bản sau nhiều năm chật vật mưu sinh.

Từ Nhật, bạn gọi cho tôi hỏi việc làm, lương hưởng, cuộc sống ở Mỹ thế nào. Vì những người môi giới vừa kết nối với bạn và hứa đưa qua Mỹ làm việc.

Theo lời bạn, từ Nhật qua Mỹ dễ hơn Việt Nam. Nhưng chi phí cho chuyến đi hơn 50 nghìn đô la Mỹ.

Số tiền lớn không đảm bảo vào Mỹ hợp pháp mà với kịch bản: Môi giới đưa đến biên giới Mêxicô – Mỹ. Tiếp đến, phải tự nộp mình cho lực lượng biên phòng Mỹ để bị giam ở các trại biên giới. Sau đó tìm người ở Mỹ để bão lãnh ra ngoài. Cuối cùng ở lại làm việc bất hợp pháp trên đất Mỹ.

Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… các quốc gia người Việt hy vọng được bán sức lao động để đổi đời ở quê nhà.

Trên đất Nhật bạn nói, thu nhập ở đây không cao. Hợp đồng ba năm sau khi trừ các chi phí cũng chẳng còn được bao nhiêu. Trong khi đó, môi giới vẽ ra một tương lai thu nhập hấp dẫn ở Mỹ. Một năm làm việc đủ trả chi phí chuyến đi, các năm còn lại tích góp.

Kiếm tiền dễ dàng ở một nơi xa lạ, cách môi giới vẽ ra cho con mồi.

Việc nhẹ lương cao là cái bẫy được giăng để chiêu dụ. Không chỉ đi Mỹ, châu Âu… mà không ít người Việt bị sập bẫy đến Campuchia để rồi làm việc như nô lệ.

Đánh vào hy vọng, người Việt lừa lẫn nhau và xảy ra không biết bao chuyện đau lòng trên những vùng đất hứa.

Người Việt chỉ ra đi để được sống

Lịch sử Việt Nam cho đến khi người Pháp xâm lược không ghi nhận người Việt có các chuyến đi khám phá, thám hiểm, tìm kiếm cuộc sống tốt hơn ở nơi xa lạ.

Ngay cả khi bình định được vùng đất phương Nam, người Việt chỉ quanh quẩn ở vùng đồng bằng.

Bên trong dãy Trường Sơn, các triều đại phong kiến Việt Nam chưa thật sự có một chính quyền hiện diện. Sự hùng vĩ của dãy Trường Sơn là sự cản trở người Việt chưa thể vượt qua.

Trong thế kỷ 18 và 19, người Việt cho xây dựng Trường Lũy từ Quảng Nam đến Bình Định như trường thành biên giới để ngăn chặn sự xâm nhập của các dân tộc thiểu số miền núi.

Tây Nguyên, phải chờ người Pháp khai phá, đặt nền móng nhà nước thật sự cho các chính quyền của người Việt sau này.

Bờ biển dài, nhưng lịch sử 4000 năm người Việt chỉ quanh quẩn ven bờ.

Lịch sử chỉ ghi nhận chỉ có những người Việt ra đi để được sống.

Đầu thế kỷ 13, những hậu duệ của nhà Lý phải rời bỏ quê hương để bảo toàn tính mạng trước một Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt. Họ đi không trở về. Hậu duệ nhà Lý cùng gia nô trở thành những người gốc Việt không còn dấu ấn Việt trên văn hóa, khuôn mặt.

Sau khi chiếm được các vùng đất phương Nam, việc khai phá đa phần do dân chịu cảnh tù tội, thành phần khó trị với chính quyền bị đưa đi. Nhà Nguyễn được lập nên từ hậu duệ của Nguyễn Hoàng, trong thế kỷ 16 phải chạy vào phía Nam để bảo toàn tính mạng.

Cuộc di cư lớn nhất của người Việt vào năm 1954. Có khoảng một triệu người ở miền Bắc vào Nam. Họ ra đi bởi đã chứng kiến đấu tố, thù hận, chết chóc, man rợ… trong cải cách ruộng đất.

Sau ngày chính quyền phía Nam sụp đổ trong biến cố năm 1975, người Việt lại đối mặt với sự thù hận chính trị được đẩy lên cao độ trong một đất nước thống nhất với cái đói quay quắt.

Nhiều gia đình, từng đoàn người phải rời bỏ ruộng vườn, họ hàng, mồ mả, cha mẹ trong chuyến đi phải đối mặt với cái chết, hải tặc, lục lâm thảo khấu… Nhưng họ hy vọng một cuộc sống tử tế, đúng phẩm giá bên ngoài Việt Nam.

15 năm sau biến cố năm 1975, người Việt phải rời bỏ quê hương theo kiểu mạnh ai nấy chạy. Họ ra đi như sợ cái chết, tù đày kịp đến trước.

Hàng chục ngàn người Việt đã bỏ mạng trên biển, trong rừng, bị cưỡng hiếp. Những người vợ mất chồng, con mất cha, nhiều cá nhân bị tổn thương, biết bao câu chuyện thảm sầu của các gia đình trong một đất nước bị đày đọa bởi ý thức hệ, khoét thêm sự chia rẽ của một dân tộc.

Lịch sử của người Việt không thể ‘mất trí nhớ’ về “thuyền nhân”. Lịch sử ghi lại để thấy đau thương của một dân tộc. Không quên để tương lai tránh được. Không nên ‘rửa sạch’ lịch sử bằng ý thức chính trị.

Lịch sử càng không thể lên án những người phải rời bỏ quê hương ra đi để được sống.

Nghèo đi bán sức lao động, giàu đi tìm sự an toàn

Việt Nam giờ đây không còn đối mặt với cái đói quay quắt nhưng vì đâu người Việt vẫn tiếp tục ra đi?

Người nghèo dành độ tuổi sung sức nhất ra đi bán sức lao động xứ người, mong tích góp để có tiền trả nợ, chữa bệnh, xây nhà, tích lũy chút vốn để con cái học hành, cho tương lai… Rất nhiều người Việt chọn cách sống bên ngoài luật pháp ở nước ngoài, đối mặt với nhiều nỗi sợ để kiếm tiền.

Vẫn còn nhiều người Việt bỏ mạng trên đường, ở công trường, trong chỗ làm… nơi xứ người.

Cuối 2019, 39 người Việt bỏ mạng trên đường đến Anh tại hạt Essex, gây chấn động thế giới. Mới tháng 6 vừa qua, tin tức nói cảnh sát Anh phát hiện ra bốn người Việt chết cháy trong khu nhà kho ở Oldgam, rồi có tin người Việt làm việc như nô lệ tại Campuchia… Còn bao nhiêu số phận khác chưa được phơi bày ra. Thật xót xa!

Các thành tích mà đài báo Việt Nam luôn đăng tải xem ra không giải thích được lý do người dân bỏ đi.

Một đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc hàng đầu thế giới mà người dân chưa thể an tâm sống trong tổ quốc mình thì làm sao thành hổ, thành rồng.

Một đất nước tăng trưởng kinh tế cao, giàu văn hóa… mà phụ nữ cứ mong được lấy chồng nước ngoài để thoát khỏi Việt Nam, trong các cuộc hôn nhân vắng tình yêu.

Trong khi đó, người có điều kiện cho con tỵ nạn giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội…

Người có khả năng kiếm tiền tại Việt Nam, nhưng lại tiêu xài ở nước ngoài. Họ trở thành khách hàng của nền giáo dục Anh, Mỹ, Úc, Singapore…

Nền giáo dục Việt Nam không hưởng lợi từ những người đầu tư lớn cho việc học của con cái.

Có phải đây là lý do? Giáo dục Việt Nam nặng chính trị, yếu chuyên môn, không dạy người học phát triển toàn diện… để ngay cả người trong hệ thống vẫn không tin. Họ cho con cái thoát khỏi khi có cơ hội bằng trường quốc tế, du học.

Nền giáo dục nhiều khiếm khuyết, nửa quốc dân (bởi phải đóng tiền), không được đầu tư đủ dường như chỉ dành cho người nghèo.

Các lĩnh vực khác cũng trong tình cảnh tương tự. Người khá giả không tiêu tiền trong nước để kích thích sự phát triển. Không ít người Việt giàu có đối xử với đất nước mình như thực dân.

Mốt thời thượng của giới có tiền tại Việt Nam là đầu tư ở các nước dân chủ. Họ đầu tư cho sự an toàn hơn kinh doanh thật sự. Tôi đã thấy, đã chứng kiến vô số câu chuyện đầu tư kiểu này từ khi còn ở Việt Nam đến khi sang Mỹ.

Nhưng liệu chúng ta có thể trách họ được chăng? Bởi nhu cầu của họ chính quyền không đáp ứng được. Người dân đã thấy kết cục của các nền độc tài trên thế giới, nên lo lắng thiếu an toàn trong tương lai trên tổ quốc mình cũng là điều chính đáng.

Sự ổn định của Việt Nam do nhu cầu dân chủ, nhân quyền bị chính quyền gạt ra khỏi cuộc sống của công dân.

Và người ta cứ ra đi vì khó được sống tử tế trên quê hương. Cùng lúc, có quá nhiều lý do để người Việt hy vọng tốt hơn đang ở bên ngoài tổ quốc. Vận mệnh dân tộc rồi sẽ về đâu?

V.N.A.

* Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Võ Ngọc Ánh, hiện đang sinh sống tại thành phố Tacoma, tiểu bang Washington.

Nguồn: BBC Tiếng Việt

HAI CUỘC ĐỜI, HAI SỐ PHẬN –  TGM Vũ Văn Thiên 

 HAI CUỘC ĐỜI, HAI SỐ PHẬN

 TGM Vũ Văn Thiên 

Cũng như Chúa nhật trước, Lời Chúa hôm nay lại nói với chúng ta về chủ đề tiền bạc.  Tiền bạc rất cần thiết cho con người.  Tiền bạc cũng là lý do xung đột và gây nhiều thảm họa.  Hai cuộc đời, hai số phận được Chúa Giêsu dùng trong câu chuyện dụ ngôn để gửi gắm một giáo huấn quan trọng.  Người khuyên các thính giả, hãy mở lòng quảng đại và hãy nghĩ đến đời sau khi còn đang sống.  Người cũng lên án những ai coi của cải thế gian là lý tưởng và cùng đích của cuộc đời.  Những người này sẽ phải ân hận.  Hai nhân vật chính trong dụ ngôn hoàn toàn khác nhau khi họ sống trên đời cũng như khi họ đã chết.

Hai cuộc đời: ông nhà giàu và Lagiarô là hai thái cực của cuộc sống vật chất.  Một người giàu sang, một người nghèo khó.  Sự giàu sang cũng như sự giàu có đều được diễn tả ở mức cao nhất.  Người giàu lắm bạn bè thăm hỏi; Lagiarô chỉ có con chó làm bạn.  Người giàu quần là áo lượt; Lagiarô chỉ có lở loét toàn thân.

Hai số phận: có điểm giống nhau giữa hai nhân vật, đó là cả hai người đều chết.  Dụ ngôn không nói rõ, nhưng chắc chắn Lagiarô chết trong âm thầm; còn ông nhà giàu chắc phải có đám tang rất linh đình, như chúng ta thường thấy trong xã hội mọi thời.  Cả hai đều chết, nhưng hậu phận lại khác nhau.  Người xưa kia giàu, nay trở thành khốn khó; Lagiarô xưa kia nghèo, nay hạnh phúc thảnh thơi.  Cả sự khốn khó và hạnh phúc của hai nhân vật này cũng được diễn tả ở mức cao nhất.  Trước đây Lagiarô mong ước đồ ăn thừa, mà chẳng có ai cho; bây giờ ông nhà giàu chỉ mong được chấm một giọt nước vào lưỡi cho giảm nhiệt do bị thiêu đốt, cũng không được.

Người phân xử ở đây không phải là Thiên Chúa, mà là ông Abraham.  Ông là Tổ phụ của dân Do Thái.  Lề luật mà ông Abraham nại đến, đó là ông Môisen.  Ông được tôn kính trong truyền thống dân tộc và là nhân vật biểu tượng cho lề luật.  Như thế, sống ở đời là tự chọn cho mình sự phán xét.  Hạnh phúc hay khốn khó, nhiều khi tự mình chọn cho mình.  Trả lời cho đề nghị xin cử Lagiarô về để cảnh báo người thân, Tổ phụ trả lời: Ai có số phận người ấy.  Đã có giáo huấn của ông Môisen và các ngôn sứ.

Trong tin mừng thánh Luca, dụ ngôn này được xếp liền với một chuỗi giáo huấn của Chúa Giêsu về cách sử dụng của cải. Qua hình ảnh hai nhân vật trong dụ ngôn, Chúa muốn răn dạy mọi người, hãy khôn ngoan và thận trọng khi sử dụng của cải.  Ông nhà giàu đáng trách không phải vì ông ta lắm của.  Giàu có không phải là một tội, cũng như nghèo nàn không phải là điều xấu.  Tội của ông nhà giàu là sự dửng dưng vô cảm trước nỗi khổ của người nghèo nằm ngay trước cổng nhà mình.  Khoảng cách từ bàn ăn đến cánh cổng chẳng bao xa, mà ông chẳng bao giờ vượt qua, vì ông thực sự không muốn.  Theo giáo huấn của Kinh Thánh, Thiên Chúa là Đấng cảm thương và bênh vực những người nghèo khó và bé mọn.  Nếu người đời hắt hủi họ, thì Thiên Chúa lại ôm họ vào lòng.  Ông Abraham chính là hình ảnh của Thiên Chúa.  Ngài luôn giàu lòng xót thương những người đau khổ, và bảo vệ những người bị ức hiếp.

Lời phê phán của Tổ phụ Abraham đối với ông nhà giàu cũng là lời ngôn sứ Amos (khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên) lên án những người giàu mà bóc lột người nghèo (Bài đọc I).  Nếu sống ở thời đại chúng ta, ngôn sứ Amos sẽ lên án những quan tham gian lận của công, những con sâu mọt làm nghèo đất nước.  Một vị lãnh đạo của Việt Nam đã nói: “họ (bọn tham quan) ăn không từ thứ gì.”  Lưới trời lồng lộng, những kẻ tham nhũng có thể qua mắt người đời, nhưng không thể qua được mắt Thiên Chúa.  Ngôn sứ Amos đã tiên báo: giờ đây họ phải lưu đày và đi đầu các kẻ lưu đày; những buổi yến tiệc của các kẻ buông tuồng sẽ không còn nữa.”  Không những phải chấm dứt tiệc tùng xa hoa, mà tên tuổi của họ còn bị người đời lên án phỉ nhổ.  Lời của ngôn sứ Amos làm chúng ta liên tưởng đến những vụ đại án hiện nay tại Việt Nam, khi một số quan chức có địa vị cao trong xã hội lần lượt ra tòa.

Mối quan tâm hàng đầu của người tín hữu là gì?  Thánh Phaolô trả lời: hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành.  Đây chính là sự giàu sang thiêng liêng, không bị mối mọt với thời gian, nhưng bền vững và xứng đáng được Thiên Chúa ban thưởng.  Thánh Tông đồ khuyên Timôthê: hãy chiêm ngắm và noi gương Đức Giêsu.  Người vốn là Thiên Chúa cao sang, là Vua các Vua, Chúa các chúa, mà đã trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu sang.

Sống ở đời, ai cũng cần phải có tiền bạc.  Tuy vậy, không phải lúc nào tiền bạc cũng đem lại cho chúng ta hạnh phúc.  “Nhiều tiền mà làm gì?” trong khi gia đình tan vỡ, vợ chồng xung đột.  Trong cuộc sống của chúng ta, có cả ngàn câu chuyện buồn mà tiền bạc là nguyên nhân.  Xin Chúa cho chúng ta có một cuộc sống vật chất ổn định vừa đủ, đồng thời biết sử dụng của cải để sinh lợi thiêng liêng cho mình và những người xung quanh.

TGM Vũ Văn Thiên 

From: Langthangchieutim

Hết muốn sống trên đất nước này

Hết muốn sống trên đất nước này

 

Chu Mộng Long

21-9-2022

GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tuyên bố: “Giá trị đất đai tăng thêm đang nằm trong túi người dân, nhà nước phải kiên quyết thu hồi lại“. Tôi nghe mà hết muốn sống trên đất Việt!

Câu nói của GSTS Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế xã hội Việt Nam 2022 sáng ngày 18/9. Nguồn: VnEconomy

Ba mẹ tôi từng khóc hết nước mắt khi có cái chính sách gọi là “thu hồi” này.

Năm 1975, sau nhiều năm tản cư, cả nhà tôi từ phố thị về lại quê hương. Quê tôi chiến tranh khốc liệt, đằng đẵng suốt 20 năm, không thể sống được. Hòa bình, ba mẹ tôi trút hết vốn dành dụm mua một đôi bò, sắm lại nông cụ để về quê cày ruộng. Việc trước tiên là đắp lại mồ mả ông bà. Sau đó là khai hoang. Những đất đai ông bà để lại đã hoang hóa, cỏ gai mọc ngập đầu. Có những thân cây đã to bằng người ôm. Khai hoang đâu trồng cây lương thực đó để sống. Làm suốt hai ba năm, đánh đổi bao mồ hôi nước mắt để có đất trồng. Khi đất vừa thục thì đùng một cái nhà nước thu hồi để đưa vào hợp tác xã. Hai con bò ba mẹ tôi mua hơn một cây vàng cũng bị nhà nước thu hồi và trả lại cho mười mấy đồng. Và cũng chỉ vì nhà có đất đai, thêm hai con bò nữa mà bị xếp hạng trung nông. Phải đóng tiền cổ phần cho cửa hàng mậu dịch 100 ngàn đồng, lại còn bị ấn định công trái đến 500 ngàn đồng. Viết đơn trình bày hoàn cảnh cùng đinh (bần nông) thì bị xã cho là khai man. Ba bị xã bắt nhốt trong cái container ngoài nắng. Mẹ khóc hết nước mắt, phải chạy vạy, vay mượn đủ số tiền đó để cứu ba về. Thế là nhà nợ nần chồng chất.

Suốt mấy năm hợp tác xã ấy, nhà tôi chỉ ăn toàn mì lát mốc meo. Bởi ngày công 5 lạng thóc chỉ đủ gom góp trả nợ. Quần áo rách tả tơi, toàn mặc quần bao cát (loại bao lính Mỹ làm lô cốt). Mỗi năm cửa hàng mậu dịch bán cho mét vải tám thì để dành cho mẹ và các em gái.

Khi hợp tác xã giải tán, nhà nước trả lại đôi bò cho gia đình tôi, nhưng ba mẹ tôi phải mua lại giá cao gấp hơn trăm lần trước đó nhà nước trả lại cho ba mẹ tôi. Đất đai nhà tôi khai hoang thì không trả lại mà chia cho người khác. Tiền gọi là “cổ phần” cửa hàng mậu dịch thì trả lại một phần, đủ mua rau. Đáo hạn trả công trái, tôi đến kho bạc nhận tiền thì số tiền có giá không đủ mua mấy cân gạo. Mẹ nhớ lại số tiền trước đó tính hàng chục tạ thóc và tính bằng vàng, mẹ lại khóc tức tưởi.

Thời điểm đó, cùng tình cảnh với nhà tôi là hàng chục gia đình khác. Trong vòng mấy năm hợp tác xã mà một cái xóm hơn 30 nóc nhà thì đã bỏ đi gần hết. Họ yêu quê cha đất tổ, hòa bình họ đã trở về quê cha đất tổ của mình, thế mà lại phải ra đi. Những năm ấy, người quê tôi cứ nửa đêm lặng lẽ bỏ xứ mà đi, đi để trốn nợ (nợ thuế hợp tác xã), còn hơn cả chạy giặc trong chiến tranh.

Nhà tôi vẫn bám trụ cho đến bây giờ, chỉ vì cái lý của ba tôi: ở lại để giữ mồ mả ông bà. Vậy mà chục năm trở lại đây, khi làm hồ thủy lợi, cán bộ xã đã cho xe ủi đất lấp đi. Ba tôi phải ngày đêm trải chiếu nằm giữ từng nấm mồ. Lần này ông kiên quyết giữ, không giữ đất được thì giữ mồ mả và đòi khởi kiện. Thế là họ hứa sẽ đổ tạm đất xung quanh mồ mả rồi trả lại mặt bằng sau khi hoàn thành công trình. Bất ngờ sau khi hoàn thành công trình thì mảnh đất mồ mả tổ tiên nhà tôi lại thành rừng cây bạch đàn của phó chủ tịch xã. Nó lừa dân với chiêu gọi là thu hồi đất, nhưng âm thầm hợp thức hóa thành đất của nó.

Đọc cả bài phát biểu, tôi không hiểu GS. Đặng Hùng Võ nói gì, ngoài cái từ khóa: “thu hồi” từ “túi dân”. Bây giờ mà tư duy “thu hồi” như thời ấy nữa thì tôi biết đi đâu? Thưa ông Đặng Hùng Võ, nếu có chuyện “thu hồi” như ông muốn, tôi hết muốn sống trên đất nước này rồi!

Vợ Chồng: Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Vợ Chồng : Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Sau nhiều năm kết hôn, bạn và vợ/chồng của mình có bị cuốn vào một vòng luẩn quẩn của những cuộc cãi vã hay không? Chẳng hạn như làm thế nào để cân bằng giữa công việc và gia đình, hay ai là người phải thực hiện nghĩa vụ gia đình và giáo dục con cái…

Có thể mối quan hệ của bạn và nửa kia đang rơi vào cảnh khó khăn và phiền não về điều đó. Các cuộc tranh cãi đôi khi căng thẳng đến mức biến thành những lời chỉ trích vô ích, nhưng không ai muốn mạo hiểm xé bỏ mối quan hệ, và cũng không biết cách nào thoát ra. Bài viết này sẽ giới thiệu một phương pháp tuyệt diệu do các chuyên gia hôn nhân Mỹ phát hiện, để đưa mối quan hệ trở lại đúng quỹ đạo sau một cuộc tranh cãi nảy lửa thì chỉ cần nói một câu này thôi: “Chúng ta ở cùng một đội” (We are on the same team).

“Chúng ta ở cùng một đội”! Trong các cuộc tư vấn hôn nhân, người ta phát hiện rằng câu này có thể ngay lập tức đóng vai trò như một lời nhắc nhở và nhanh chóng kết thúc cuộc cãi vã. Rất nhiều cặp vợ chồng ngay lập tức nhận ra rằng người trước mặt không phải là kẻ thù của họ, sau đó có thể bắt đầu lắng nghe, giao tiếp và nhượng bộ để đi đến giải pháp.

Cô Marie Land, một nhà tâm lý học và trị liệu hôn nhân ở Washington, D.C. cho biết, khi từ “cùng một đội” xuất hiện, cường độ tranh cãi của các cặp vợ chồng có thể nhanh chóng giảm xuống. Sử dụng câu này một cách khôn ngoan và đúng lúc có thể nhắc nhở cả hai quay lại quá trình giải quyết vấn đề. Bởi vì hôn nhân giống như một trò chơi đồng đội, tinh thần hợp tác là đặc biệt quan trọng, dùng những lời lẽ sắc bén để đánh vào điểm yếu của đồng đội sẽ chỉ khiến bạn thua trận với tốc độ nhanh nhất.

“Khi nói ‘chúng ta ở cùng một đội’, có nghĩa là bạn không muốn cả hai rơi vào tình huống chia rẽ một lần nữa, trong khi vẫn đánh giá cao mối quan hệ giữa hai bên”. Cô Marie Land chỉ ra, “Làm như thế cho phép cả hai hạ tâm phòng bị xuống và bình tĩnh lại, cùng đi vào trạng thái tìm giải pháp.”

Khi thực hiện thành công một lần, từ đó về sau sẽ càng có cơ hội hình thành được một mối quan hệ hữu hảo giữa hai vợ chồng. Khi một sự việc tương tự xảy ra, từ “cùng đội” sẽ là một lời nhắc nhở tử tế và sự hiểu ngầm, cả hai bên đều sẽ nhớ lại trước đây họ đã đạt được những nhượng bộ và hiểu biết lẫn nhau như thế nào, từ đó có thể tập trung vào giải quyết vấn đề nhanh hơn và tốt hơn.

Hoặc là cả hai cùng có lợi, hoặc là cả hai đều thua

 

Cô Jennifer Chappell Marsh, một nhà trị liệu hôn nhân và gia đình ở San Diego chỉ ra rằng, điều khiến câu nói này trở nên hiệu quả là bởi vì nhu cầu tình cảm trong khi trò chuyện đã được công nhận, điều này rất quan trọng trong việc đạt được một kết quả tích cực. Nói chung, nguyên nhân biến một cuộc trò chuyện đơn giản thành chỉ trích lẫn nhau là vấn đề về giao tiếp. Nếu các cặp đôi xem cuộc trò chuyện như một cuộc chiến thắng thua, thì là đã đi sai hướng ngay từ đầu. Có thể một bên sẽ sử dụng thủ đoạn cưỡng chế để cuối cùng khiến bên kia phải phục tùng, nhưng điều này không có lợi cho sự phát triển lành mạnh giữa hai người trong tương lai, hơn nữa là rất thiếu khôn ngoan khi làm như vậy, nó không hề thực sự giải quyết được vấn đề.

Vì vậy, câu nói “chúng ta ở cùng một đội” có thể khơi dậy sự thông cảm và ý thức hợp tác của cả hai trên cơ sở nhìn nhận lẫn nhau, phá bỏ vòng luẩn quẩn của sự oán hận, loại bỏ sự cạnh tranh thắng thua. Bạn cũng có thể nghĩ như thế này trong đầu: Tại sao tôi lại bị ám ảnh về việc thắng trong cuộc cãi nhau như thế? Tại sao ngay từ đầu trong tiềm thức đã đặt đối phương vào phía đối lập?

 

Các nhà tâm lý học đã phân tích rằng điều này có thể liên quan đến nhu cầu cần được lắng nghe và chấp nhận trong tiềm thức của con người, và “người chiến thắng” có thể có được cảm giác an toàn, còn “thua trận cãi vã” trước mặt vợ/chồng có thể khiến người ta cảm thấy tồi tệ, sợ hãi, thất vọng, chán nản và mất đi cảm giác an toàn, đó là lý do tại sao mọi người muốn “chiến thắng” bằng mọi giá. Lâu dần, nhiều người hình thành thói quen tranh chấp, đặc biệt là trước mặt người thân yêu nhất của họ, nhưng lại bỏ qua thực tế rằng vợ chồng là một thể cùng chung lợi ích.

Một số cặp vợ chồng già đã kết hôn hàng chục năm, từng trải qua nhiều lần va vấp trong quan hệ tình cảm thuở còn trẻ, thậm chí có những tranh chấp gay gắt, nhưng những ai đã từng đi trên con đường này cuối cùng đều phát hiện rằng: vợ chồng thực sự là “cùng chung một đội”. Bạn vĩnh viễn không thể “chiến thắng” được người bạn đời của mình, nếu không phải cả hai cùng thắng, thì cả hai sẽ cùng thua.

Huấn luyện viên hôn nhân Trey Morgan ở Texas cho biết, nỗi sợ hãi và bất an sau khi “thua một cuộc tranh cãi” có thể khiến bạn khó chấp nhận sự thật rằng “vợ chồng cùng chung một đội”. “Ban đầu cả hai đều muốn giành chiến thắng, nhưng sau nhiều năm, chắc chắn họ sẽ thỏa hiệp với nhau.”

Xét từ rất nhiều trường hợp hôn nhân thực tế, một khi cặp vợ chồng nhận ra sự thật rằng họ “cùng đội”, thì tranh chấp sẽ biến mất, và phần còn lại chỉ là giải quyết vấn đề sao cho có hiệu quả. Lúc này, cả hai đều sẵn sàng suy nghĩ theo chiều hướng của đối phương, thấu hiểu nhau và đi đến thống nhất cuối cùng.

Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình Winfred Reilly ở Berkeley, California, đưa ra lời khuyên rằng: khi cả hai bên đã bình tĩnh lại, hãy hỏi nửa kia một cách cởi mở và trung thực rằng trong vấn đề này, đối với họ, khía cạnh nào là quan trọng nhất? Cái gì làm họ phiền nhất? Họ muốn bạn hiểu điều gì? Lúc này đừng nhấn mạnh vào lập trường của bản thân mà hãy bắt đầu lắng nghe và chấp nhận đối phương.

Các chuyên gia về hôn nhân khuyên mọi người khắc cốt ghi tâm câu nói “chúng ta ở cùng một đội”. Nếu có thể nắm vững được bí quyết sử dụng thì cuộc sống vợ chồng sẽ trở nên suôn sẻ hơn. Ngay cả khi mọi thứ không diễn ra theo cách bạn mong muốn, thì tâm thái cao của bạn sẽ khiến đối phương cảm thấy được tôn trọng chứ không phải bị tổn thương, mối quan hệ giữa cả hai vẫn có thể duy trì khăng khít như mọi khi, và sẽ tiếp tục phát triển lành mạnh lâu dài.

Chu Uyển Tình – Xuân Hoàng

Những Món Nợ phải Trả-Đinh lâm Thanh

Những Món Nợ phải Trả

Đinh lâm Thanh

 Đời người, ai cũng phải một lần mang nợ. Không nợ tình, nợ tiền, nợ vợ chồng, nợ cha mẹ, nợ con cái… thì cũng phải nợ với Bạn Bè, Quê Hương và Tổ Quốc. Riêng đối với những Vị một thời mặc áo lính, chắc chắn còn thêm một món nợ nữa : đó là nợ Đồng Đội.

Có thể nói rằng, trong các cấp chỉ huy quân đội cũ, một số nhỏ không còn bận tâm đến những món nợ nầy vì họ đã quên thuộc cấp, là những người lính dưới quyền hy sinh mạng sống, trong mỗi lần giao tranh, để cho họ may mắn sống sót đến ngày hôm nay. Đây là một món nợ phải trả đối với những người biết suy nghĩ, nhất là một số sĩ quan đang định cư nước ngoài. Tôi thấy trong số những người nầy, đôi lúc họ nhẫn tâm quên hẳn quá khứ đau thương của mình với đồng đội trước kia, nhưng lại thích xuất hiện trong nhiều cơ hội để đánh bóng cấp bậc cũng như huy chương.

Trong một lần họp mặt thân mật, có hai Vị không đồng ý với tôi về quan niệm trên. Người thứ nhất là một cựu sĩ quan làm việc ở thủ đô Sàigòn cho rằng, những sĩ quan suốt đời làm việc trong văn phòng Bộ-Nha-Sở hay biệt phái qua các cơ quan dân sự thì sự hy sinh của người lính ngoài chiến trường không liên quan trực tiếp đối với việc thăng quan tiến chức và khen thưởng của họ. Đó là kết quả của công việc, chức vụ đảm nhiệm cũng như thâm niên cộng vụ trong suốt quãng thời gian mặc áo nhà binh. Người thứ hai là một dân sự, chạy trốn cộng sản lúc 20 tuổi, Vị nầy phản đối rằng, ông ta không liên hệ nợ nần gì với những người lính đã chết ! Xin cám ơn việc góp ý nầy, nhưng theo thiển ý của tôi, đây là những quan niệm hẹp hòi và thiếu hiểu biết. Nếu không có những người lính nằm xuống ngoài mặt trận thì lấy ai để bảo vệ cho anh em quân nhân an thân làm việc trong bóng mát hậu phương, cũng như cho gia đình ông dân sự sống sung túc tại thành phố và an toàn thoát ra nước ngoài khi cộng quân vào chiếm Miền Nam ! Như vậy, nếu còn một chút tình và biết suy nghĩ thì Quý Vị nào có cấp bậc càng cao và huy chương đầy ngực thì càng mang nhiều món nợ trực tiếp với những người thương tật suốt đời hoặc đã nằm xuống vĩnh viễn ngoài chiến trận. Ngoài ra, bất cứ gia đình nào, dù là dân sự, chệt hay chợ trời, đem được cả gia tài và bà con dòng họ thoát ra nước ngoài một cách an toàn thì đều mang nợ, trực tiếp hoặc gián tiếp, với những người lính đã bỏ mình để bảo vệ quê hương đồng bào.

Tôi thích đọc hồi ký viết về các trận đánh của những sĩ quan cấp nhỏ, chỉ huy trực tiếp trung đội, đại đội đến tiểu đoàn trong các đơn vị từ nghĩa quân, địa phương quân đến chủ lực quân cũng như các lực lượng tổng trừ bị của QLVNCH. Qua các bài viết đó, tôi đã tìm thấy những hình ảnh đáng ghi nhớ giữa người sĩ quan chỉ huy hành quân và binh sĩ dưới quyền. Họ cùng băng rừng lội suối, vào ra sinh tử và chấp nhận sống chết với nhau. Tôi cũng hình dung được những đắng cay, ngọt bùi, gian khổ mà họ đã chia sẻ cho nhau qua từng viên đạn, vắt cơm, ca nước đến những hành động dũng cảm mà không bao giờ phai nhạt trong tim tôi, là các cấp chỉ huy trực tiếp không ra lệnh một cách vô trách nhiệm, xô quân lính của mình tiến lên để đạt được thắng lợi mà chính những sĩ quan chỉ huy cấp nhỏ nầy đã ôm súng nhảy vào tử địa với các khinh binh, đi hàng đầu nhằm mở đường, phá chốt cũng như tiến chiếm từng mục tiêu một… Ngoài ra tôi cũng nghi nhận tình ‘huynh đệ chi binh’ thắm thiết giữa những người lính chiến : họ đối xử với nhau còn còn nặng hơn cả tình gia đình. Những hình ảnh thân thương nầy, sau gần bốn mươi năm, vẫn còn đậm nét trong tôi qua những lần hành quân gian khổ cũng như những lúc chờ địch dưới giao thông hào, chịu pháo trong hố cá nhân hoặc ôm súng trắng đêm chờ giặc. Chúng ta phải vinh danh các cấp chỉ nhỏ vì họ không ham sống sợ chết, khi ra trận, không bao giờ dùng binh sĩ dưới quyền làm bia đở đạn để giành lấy sự sống và hưởng vinh quang. Cấp chỉ huy nhỏ bé nào cũng hăng hái xung phong lên tuyến đầu, chấp nhận hy sinh bản thân để cùng đồng đội tiến lên một lượt. Hơn nữa, qua những bài viết của những trung đội trưởng, đại đội trưởng cũng như tiểu đoàn trưởng trực tiếp cầm quân, tôi đã tìm thấy tình người một cách trung thực, anh dũng và cảm động. Đây là những sử liệu cần thiết cho hậu thế hơn là những hồi ký dày cộm của các ông tướng thuê mướn người viết nhằm đánh bóng hoặc chạy tội, càng đọc càng bực mình và đôi lúc phải văng tục… Thật vậy, tôi đã thật sự tìm thấy trong các bài hồi ký ngắn của các vị chỉ huy nhỏ những hình ảnh tình người thật lớn chân thật qua những liên hệ đồng đội ‘huynh đệ chi binh’, là một sự ràng buộc vô hình giữa những người cầm súng với nhau mà bất cứ ai chưa phải là lính trận thì không thể nào hiểu và cảm thông được.

Xin mượn bài viết nầy để nhắc những người đã một thời cầm súng về hai món nợ ‘tình nghĩa’ :

Trong nhiều hồi ký của các cấp chỉ huy nhỏ, từ những nhóm Biệt Kích, trung đội nghĩa quân, địa phương quân, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tác chiến (Sư Đoàn Bộ Binh) đến các đơn vị đặc biệt Trinh Sát, Công Binh, Pháo Binh thuộc đơn vị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân cũng như những bài viết về những phi vụ thả dù, tiếp tế, đổ quân, tải thương và cứu đồng đội của các anh em Không Quân…tôi đã thấy những cảnh quan và lính chia nhau từng ca nước bùn, từng vắt cơm nguội, từng miếng khô cháy, từng ngụm đế trắng, từng nửa điếu thuốc đến từng viên đạn một…để chia sẻ đùm bọc và bảo vệ cho nhau. “>Trong các lần hành quân bên cạnh các đơn vị tác chiến tôi đã tận mắt chứng kiến các anh Không Quân quên mình lao xuống đầu giặc để dội bom, đổ quân, tiếp tế, tải thương và cứu bạn, cứu đồng đội tại các mặt trận trong mùa Hè đỏ lửa ở Pleiku-KonTum. Một lời tri ân gởi đến các anh Không Quân, tuy bay bướm ở hậu phương nhưng khi đối điện với súng đạn, họ trở thành những con đại bàng, những anh hùng cứu tinh của những nguời lính bộ binh dưới đất đang cần đến sự yểm trợ của họ.

  1. Nợ ‘huynh đệ chi binh’

Có đi tác chiến rồi mới thấy cái tình sâu đậm và tha thiết giữa những người lính với nhau. Họ bỏ gia đình, vợ con, làng xóm để kết tình kết nghĩa, ăn chung lon (guigot), uống cùng ca (nước), chia nhau điếu thuốc, ngũ chung cùng hố, và nhất là, chấp nhận sống chết cùng một lượt. Đời lính chiến không ai sợ sệt nghĩ đến cái chết cũng như mơ ước được khen thưởng như những Vị chỉ huy cấp cao đang an toàn trong các hầm trú ẩn của Bộ Tư Lệnh ! Cuộc đời người lính trận, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là xương máu chết chóc đang rình rập từng giây từng phút. Đối với họ, cha mẹ anh em vợ con đều trở thành những cái bóng mờ khi họ trực diện với khói súng, tiếng đạn và kẻ thù. Họ cũng không có thời giờ để nhớ người yêu, thương gia đình, mà niềm mơ ước của họ thật tầm thường và bé nhỏ là mỗi năm được vài ngày phép…

Đọc những tâp thơ của Đại Đội Trưởng Trinh Sát Trạch Gầm, Hồi ký Đại Đội 5 Biệt Cách Nhảy Dù của Mũ Đỏ Út Bạch Lan, Hồi Ký Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh của Nguyễn Văn Khôi, hồi ký ngày ba mươi tháng tư của Phân Chi Khu Trưỏng Đỗ Văn Thọ (Dương Thượng Trúc viết lại theo lời kể) cũng như những chuyện thật trong đời binh nghiệp của Đại Đội Trưởng Bộ Binh Phạm Tín An Ninh…tôi sống lại với những kỷ niệm chiến trường và đồng đội. Viết đến đây tôi xin phép ngưng lại một phút để tưởng niệm anh Binh Nhì Xí, rất đẹp trai nhưng phải đặt tên Xí (xấu) cho dễ nuôi, là người đã theo sát tôi trong các cuộc hành quân trên các vùng rừng núi Quảng Đức, Buôn Mê Thuột. Nhưng đau đớn thay Anh đã đền nợ nuớc sau khi tôi chuyển qua đơn vị Tiếp Vận. Một đêm hành quân theo lối ‘mèo chuột vờn nhau’ với một đơn vị cộng sản trong vùng núi tỉnh Quảng Đức. Đến tối, đơn vị tôi âm thầm lên đỉnh đồi và dò dẫm từng bước tìm thế ngủ ngồi qua đêm. Lệnh phải hoàn toàn bất động, cấm hút thuốc, cấm nấu nướng, cấm căn võng và cấm luôn cả việc đào hố cá nhân vì đơn vị tôi đang ở thế cài răng lược với địch. Một trong bốn người lính gác ca đầu của trung đội nghe một tên việt cộng nào đó, cách chỗ anh ta chừng vài thước, lên tiếng hỏi mượn ống thuốc lào với một tên dép râu khác. Anh ta bò đến chỗ tôi để báo động ! Thập phần nguy hiểm vì mưa quá nặng hạt, trời tối đen như mực, ngữa bàn tay không thấy, nếu xảy ra đụng độ cận chiến thì anh em trong trung đội chắc chắn sẽ vật lộn, đâm chém và bắn nhầm nhau…Vậy mà anh Xí vẫn bình tĩnh nói nhỏ vào tai người lính gác, để cho ông thầy uống xong ca soupe. Tôi thật sự mất bình tĩnh, cầm ống liên hợp báo nhỏ qua Đại Đội đang đóng đồi bên kia. Xong tôi hỏi vào tai Xí, ‘gì vậy’ ? Anh ta trả lời như không có chuyện gì xảy ra…’ thì Đ.M. ông thầy ! Nước lạnh pha với gói bột nêm mì gói chứ có gì nữa ! Uống đi cho đở đói, ông thầy ! Đóng quân chung với quân lính cộng sản Bắc Việt trên một ngọn đồi nhỏ thì cái chết đang sẵn sàng trước mặt, nhưng ca nước soupe đối với tôi, tự nhiên nó ấm và ngon ngọt một cách lạ lùng đồng thời giúp tôi can đảm. Bây giờ mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn hình dung rõ ràng cái tình cảm quá sâu đậm giữa thầy với trò, giữa huynh với đệ. Không biết cái ca nước soupe bột ngọt hay hai chữ Đ.M. của người bạn chiến sĩ miền Nam mà, cho đến giờ nầy, mỗi đêm trăn trở tôi vẫn nhớ đến Anh Xí đẹp trai và dễ thương của tôi ngày nào.

  1. Nợ ‘xanh cỏ đỏ ngực’

Sau mỗi trận chiến, những vị sĩ quan chỉ huy hành quân ngồi ở Bộ Tư Lệnh, tùy theo kết quả thu được, không ít thì nhiều cũng được khen thưởng.

Nhưng họ quên ngay những người vừa nằm xuống để tổ chức mừng chiến thắng và chờ hoa nở, chờ sao mọc hay đợi những Anh Dũng Bội Tinh… Có thể xem đây là nhờ xương máu binh sĩ và công trạng của các sĩ quan cấp nhỏ ngoài trận địa để mai nở thêm trên vai và sao mọc thêm ở cổ. Trước kia, các vị nầy thường quên những người vừa nằm xuống sau cơn men chiến thắng, và ngày nay, nơi vùng trời tự do không biết có ai dành vài ba phút tính sổ cuộc đời ra thành những con số để thấy nợ của mình. Cứ một mai nở thêm trên vai, một sao nở thêm trên cổ áo là có bao nhiêu người đã bị thương tật suốt đời, bao nhiêu con côi quả phụ mất cha mất chồng cũng như bao nhiêu người lính nằm xuống cho cuộc đời binh nghiệp của mình ? Trường hợp nầy tôi gọi là ‘nợ xanh cỏ đỏ ngực’. Đây là những món nợ của những quan còn sống sót sau chuộc chiến, theo lẽ công bằng thì họ phải trả món nợ nầy dưới một hình thức nào đó đối với lính của họ !

  1. Nợ đã không trả mà còn gây thêm tủi nhục cho những người đã nằm xuống :

Tổ chức giúp anh em Thương Phế Binh tại Việt Nam, gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay các hình thức khác nhằm giúp đở vật lẫn chất tinh thần cho những người lính bất hạnh còn sống hay vong linh những người nằm xuống là những việc làm phải được vinh danh và yểm trợ. Nhưng buồn thay, một vài người đã lợi dụng sự đau khổ, xương máu và vong linh của những người đã bỏ mình vì tổ quốc để trục lợi vật chất hay mưu đồ chính trị cá nhân, là một điều cần phải lên án. Tổ chức thu lem nhem, gia tăng chi phí ma thì tiền cứu trợ còn lại chẳng bao nhiêu. Có khi cả vợ chồng đều nhập nhằng dùng tiền gây quỹ để mua vé may bay đi Việt Nam. Tiền còn lại nếu chia ra cho một ít thương phế binh, mỗi người cũng được hơn chục dollars, nhưng lại yêu cầu chụp hình để quảng cáo là một việc làm thất đức, ăn trên đầu người sống. Trường hợp gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, số tiền lớn thu được từ trước đến nay đã chạy vào đâu ? Và bây giờ họ lại bán cái Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cho việt cộng để chúng nó xóa hẳn di tích lịch sử VNCH và nơi đây biến thành ‘nghĩa trang nhân dân’. Nghĩa trang nhân dân là cái gì ? Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không thể biến dạng thành ‘nghĩa trang nhân dân’ để các TỬ SĨ ANH HÙNG MIỀN NAM bị nằm chung và đồng hóa với bọn nằm vùng, các bà già trầu nuôi việt cộng cũng như những thành phần du đảng, thành phần theo cộng đánh phá Việt Nam Cộng Hòa trước kia !

  1. Cách nào để trả nợ ?

Thực ra món nợ vật chất mà Quý Vị đã đóng góp chưa xứng đáng với xương máu đối đồng đội và thuộc cấp đã nằm xuống. Chỉ còn món nợ tinh thần mới có thể an ủi những người đã hy sinh xương máu, mà theo tôi, là phải tiếp tục con đường tranh đấu chống cộng sản mà đồng đội thuộc cấp đã chết cho cho Quý Vị, cho chính nghĩa quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như hai chữ tự do…Vậy cứ suy nghĩ và hãy dừng tay ngay những hành động có phương hại đến công cuộc chống cộng sản của toàn dân. Đừng vì tiền bạc và cái danh hão để đòi bắt tay hòa giải hòa hợp với cộng sản, đánh phá cộng đồng và nhất là làm tủi nhục những vong hồn những người đã nằm xuống để cho Quý Vị được sống sót đến ngày hôm nay.

Một điều quan trọng hơn nữa là hạn chế mặc quân phục, mang cấp bậc và huy chương cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến những nơi không xứng đáng như những buổi tiệc có tính cách tư nhân hoặc dân sự mà mục đích là tổ chức ăn uống và nhảy đầm. Điều nầy chắc chắn làm đau lòng những vong linh tử sĩ đã chết, vì chính cấp bậc và huy chương mà Quý Vị đang mang trên người đều do xương máu của họ đem đến cho Quý Vị !

Để chấm dứt bài viết, xin phép lặp lại một lần nữa để hỏi các cấp Chỉ Huy lớn. Có bao giờ Quý Vị thử làm bài tính cộng về những người lính cầm súng đã ‘xanh cỏ’ để Qúy Vị ‘đỏ ngực’ không ? Mỗi lần ‘sao’ mọc thêm trên cổ áo, ‘hoa mai’ nở thêm trên vai hay các Anh Dũng Bội Tinh đồng, bạc, vàng, nhành dương liễu đỏ thêm trên ngực…thì đã có thêm bao nhiêu người lính dưới quyền đã chết vì mình, bao nhiêu gia đình Tử Sĩ mẹ góa con côi mất cha mất chồng ? Nếu tính ra được con số thì xin Quý Vị hãy làm một cái gì để gọi là trả món Nợ Đồng Đội nầy ?

Đinh lâm Thanh

Share Quê Mẹ

From: TU-PHUNG

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần XXIV – Mùa Thường Niên

“Cùng đi với Ngài, có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được Ngài trừ quỷ và chữa lành”.

David Livingstone, nhà truyền giáo tiên phong đến Châu Phi, đã đi bộ hơn 46.000km. Là một bác sĩ, nhà thám hiểm, người chống chế độ nô lệ, người tử đạo; David nêu gương một cuộc sống bần hàn! David chết, nhật ký của ông ghi, “Lạy Chúa, hãy đặt trên con bất cứ gánh nặng nào, chỉ cần Chúa nâng đỡ con! Hãy cắt đứt khỏi con bất cứ ràng buộc nào, chỉ cần ràng buộc con với sứ vụ và trái tim của Chúa! Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”. Đó là câu nói của một người được Chúa Giêsu chạm đến! Một khi để Chúa Giêsu chạm vào cuộc sống, chúng ta sẽ ‘đi bất cứ nơi đâu’ Ngài đi, làm bất cứ điều gì Ngài muốn! Tin Mừng hôm nay cho biết, Chúa Giêsu không lên đường thi hành sứ vụ một mình; đi theo Ngài, còn có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được chữa lành. Câu nói gọn ghẽ này tiết lộ nhiều điều!

Trước hết, ước muốn đi theo Chúa Giêsu không chỉ là một cảm xúc; chắc chắn sẽ có những cảm xúc liên quan. Nhưng đúng hơn, đó là một cảm nhận biết ơn đáng kinh ngạc và kết quả là, một mối dây tình cảm sâu sắc triển nở; bởi lẽ, quan hệ đã trở nên sâu sắc hơn. Đó là một tình yêu mới được tạo ra bởi quà tặng ân sủng và cứu rỗi. Nghĩa là những người theo Chúa Giêsu trải nghiệm sự tự do thoát khỏi tội lỗi ở một mức độ cao hơn so với trải nghiệm trước đó. Ân sủng đã biến đổi cuộc sống của họ; và kết quả là, họ sẵn sàng và sẵn lòng biến Chúa Giêsu thành trung tâm đời mình. Họ sẽ theo Ngài ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Ngài muốn!

Thứ đến, nhờ ân sủng và lòng nhiệt thành này, các môn đệ Giêsu không chỉ loan báo Tin Mừng và thiết lập Nước Trời bằng lời nói và việc làm, bằng rao giảng và gương sáng; nhưng họ còn làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn! Họ hỗ trợ việc loan báo Tin Mừng bằng cách cung cấp vật chất và các phương tiện cho đại cuộc; ở đây là những phụ nữ khá giả mà Tin Mừng cho biết. Hai vai trò này bổ sung cho nhau và cùng làm nên công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.

Sau cùng, nhóm phụ nữ Galilê này sẽ được Luca nhắc đến khi từ đỉnh đồi Canvê, họ theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh cái chết của Thầy mình. Họ thấy ngôi mộ và cách thi hài Ngài được đặt; sau đó, họ đến mồ ngày thứ nhất trong tuần; Maria Mađalêna và Gioanna được nêu đích danh với câu chuyện ly kỳ khi thiên thần hỏi họ, tại sao lại tìm người sống giữa kẻ chết. Họ trở nên mẫu mực về sự cởi mở để đón nhận ân sủng từ Chúa Giêsu, về sự sẵn sàng cho đi một cách hào phóng những gì đã nhận được và về lòng yêu mến Đấng họ đã đi theo!

Anh Chị em,

“Cùng đi với Ngài”. Các môn đệ và các phụ nữ đã đi theo Chúa Giêsu ‘bất cứ nơi đâu’, vì họ đã được Ngài chạm đến; đồng thời, nhận ra Ngài là Đấng sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa Cha muốn. Họ rao giảng Tin Mừng theo cách thức của mình; các tông đồ giảng dạy, các phụ nữ lấy của cải để cung cấp những gì cần cho Thầy và trò. Cũng thế, mỗi người chúng ta được Chúa gọi cộng tác vào chương trình của Ngài theo cách rất riêng, và ai nấy nên thánh theo cách rất riêng ấy. Vấn đề là chúng ta cần cộng tác với ơn Chúa để chu toàn bổn phận và trách nhiệm mình. Chính Thánh Thần đang ở trong chúng ta, Ngài sẽ giúp sức để trước mỗi việc, chúng ta can đảm thưa lên với Chúa, “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa!”; “Con sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chạm vào con, biến đổi con; giúp con nhận ra ân sủng và đầu phục Chúa với lòng biết ơn sâu sắc, hầu con có thể ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

Khi đến tuổi nào đó, hãy chuẩn bị, dọn sẵn con đường  đi cho mình, ai rồi cũng sẽ tới đích, chỉ có người trước người sau thôi …thong thả mà sống để hưởng trọn vẹn những gì mình đang có

   HÃY THONG THẢ SỐNG
          TRẦN MỘNG TÚ

Suy ngẫm.

“Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.”

Trần Mộng Tú

Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau.

Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ…

Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.

Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật ! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết”, dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình . Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời.

Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết.

Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc.

Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”.

Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống. Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học.

Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời.

Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình.

Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ).

Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: “Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. “

Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt. Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li.

Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.”

Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không?

Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình. Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ.

Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết.

Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v, sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già.

Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống.

Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng. Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa.

Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước. Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

Trần Mộng Tú

From: LUCIE 1937

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Song Chi

20-9-2022

Tang lễ của Nữ hoàng Elizabeth II hôm nay cho thấy lịch sử lâu đời của Vương quốc Anh và chế độ quân chủ.

Nữ hoàng qua đời ở tuổi 96 tại nhà riêng của bà, Lâu đài Balmoral, ở Aberdeenshire, Scotland. Bà đã sống một cuộc sống lâu dài, luôn phục vụ cho đất nước của mình và cho Khối thịnh vượng chung. Tại Balmoral, chỉ hai ngày trước khi băng hà, bà chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng Boris Johnson và bổ nhiệm người tiếp theo, Lizz Truss. Truss là Thủ tướng thứ 15 dưới triều đại của Nữ hoàng, người đầu tiên là Winston Churchill. Hàng tuần, bà tổ chức một buổi tiếp kiến với Thủ tướng, thể hiện sự quan tâm đến công việc của chính phủ, của đất nước.

Những địa điểm nơi diễn ra tang lễ, đều được xây dựng từ lâu đời và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của vương quốc Anh. Quan tài của Nữ hoàng đầu tiên được đưa đến Cung điện Holyroodhouse ở Edinburgh, dinh thự chính thức của chế độ quân chủ Anh ở Scotland.

Từ Edinburgh, quan tài của Nữ hoàng đã được đưa đến London. Linh cữu được quàn trong Hội trường Westminster, bên cạnh Nhà Quốc hội, để công chúng đến viếng. Hội trường Westminster được xây dựng vào năm 1097 bởi Vua William II, con trai của William the Conqueror. Ngoài việc được sử dụng làm nơi quàn linh cữu các thành viên của Hoàng gia và một vài chính khách quan trọng (trong đó Winston Churchill), tòa nhà cũng được sử dụng như một tòa án, bao gồm cả việc luận tội Vua Charles I và xét xử Guy Fawkes, người định làm nổ tung Nhà Quốc hội và Vua James I.

Lễ tang diễn ra tại Tu viện Westminster. Một nhà thờ được xây dựng lần đầu tiên ở đó vào khoảng năm 1080, nhưng tòa nhà hiện tại được khởi công vào năm 1245. Được chôn cất trong tu viện là 3.300 người Anh lỗi lạc, bao gồm ít nhất 16 quốc vương, tám thủ tướng, nhà thơ, diễn viên, nhà khoa học và nhiều người khác.

Lễ tang có sự tham dự của hoàng gia, các nguyên thủ quốc gia và những người đứng đầu chính phủ từ khắp nơi trên thế giới. Trong số các nhà lãnh đạo nước ngoài có những người đứng đầu chính phủ của các vương quốc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth realms), thuộc địa cũ của Đế quốc Anh nơi Nữ hoàng vẫn là nguyên thủ quốc gia, và nguyên thủ quốc gia của các nước thuộc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth countries), nay đã trở thành các nước cộng hòa.

Sau đó, quan tài của Nữ hoàng được đưa đến lâu đài Windsor, nơi ở của hoàng gia ở phía tây London. Lâu đài được khởi công bởi William the Conqueror sau Cuộc chinh phạt Norman của Anh vào năm 1066. Tại lâu đài, một nghi lễ được tổ chức trong Nhà nguyện St George (được xây dựng vào năm 1348), nơi quan tài của bà được hạ xuống hầm bên dưới nhà thờ. Nơi an nghỉ cuối cùng của Nữ hoàng sẽ là trong nhà nguyện tưởng niệm Vua George VI, bên cạnh cha của Nữ hoàng (George VI), mẹ, em gái và người chồng yêu dấu là Vương tế Philip, Công tước xứ Edinburgh. Nhiều quốc vương và hoàng gia khác được chôn cất trong nhà nguyện (bao gồm Henry VIII, Charles I, George III, George IV, Edward VII, George V).

Tất cả những điều này cho thấy rằng Nữ hoàng, cũng như tất cả mọi người, là một phần của lịch sử lâu dài và đa dạng, một sự tiếp nối lâu dài của sự sống quý giá trên hành tinh này. Hầu hết chúng ta sẽ không đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử, như Nữ hoàng, nhưng tất cả chúng ta vẫn là những sợi dây trong tấm thảm lớn của cuộc sống.

Một sự kiện xảy ra dưới triều đại của George III, tất cả thu nhập từ Crown Estates (trừ Công quốc Cornwall), đất đai và tài sản thuộc về Quốc vương (nhưng không phải tài sản cá nhân của Vua hoặc Hoàng hậu), đều do chính phủ nắm giữ. Đổi lại, chính phủ trả lại một số tiền cho George III để chi trả cho chế độ quân chủ và hoàng gia. Sự sắp xếp này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, được Nữ hoàng cải tổ lại. Thu nhập từ toàn bộ đất đai, bất động sản đó, tính ra chế độ quân chủ Anh trả nhiều tiền hơn cho chính phủ so với chi phí để điều hành các hộ gia đình hoàng gia, hoàng gia không phải sống bằng tiền đóng thuế của người dân như nhiều người lầm tưởng.

Nữ hoàng là Người bảo trợ của hơn 600 tổ chức và hội từ thiện lớn nhỏ, ví dụ như tổ chức từ thiện lớn Nghiên cứu Ung thư của Vương quốc Anh và Hội Chữ thập đỏ Anh. Sự hỗ trợ và bảo trợ của bà đã giúp các tổ chức này gây quỹ (ước tính hơn 1,4 tỷ bảng Anh trong thời gian bà trị vì) và tiếp thêm tinh thần cho các tình nguyện viên và nhân viên của họ. Bà đã tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm để hỗ trợ các tổ chức này, cùng với hoạt động ngoại giao trong các chuyến viếng thăm các nước, chiêu đãi các nguyên thủ nước ngoài và những người đứng đầu chính phủ ở Vương quốc Anh. Khi còn sống, khối lượng công việc mà Vương tế Philip đảm nhận còn nhiều hơn, ông bảo trợ cho khoảng 800 tổ chức, đặc biệt tập trung vào môi trường, công nghiệp, thể thao và giáo dục, trong đó có việc sáng lập và là Chủ tịch của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund (WWF), thành lập Học bổng Kỹ thuật, sau này là Học viện Kỹ thuật Hoàng gia (Fellowship of Engineering, Royal Academy of Engineering)…

Các thành viên chịu trách nhiệm làm những công việc của Hoàng gia khác cũng vậy, họ cũng tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm, họ không ngồi không một chỗ cả ngày không làm gì cả như nhiều người lầm tưởng.

Hoa Kỳ tự hào về sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước. Tại Vương quốc Anh, Quốc vương là người đứng đầu Giáo hội Anh và Nữ hoàng là một tín đồ Cơ đốc sùng đạo, cũng như Vua Charles III. Phần lớn ý thức về bổn phận của họ đến từ đức tin Cơ đốc. Thay vào đó, ở Anh, có sự tách biệt giữa chính trị và đời sống công dân. Các chính trị gia đến rồi đi. Nữ hoàng luôn ở đó, là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, gắn kết mọi người. Với các chính trị gia, tất cả mọi lời nói, việc làm của họ trước hết phải thỏa mãn người dân ngay nhiệm kỳ này, thế hệ này, đồng thời phải đặt quyền lợi đảng của họ, những người bỏ phiếu bầu cho họ lên trên và không bao giờ có thể có sự hài lòng của toàn bộ người dân đối với một Tổng thống hay Thủ tướng. Vì vậy luôn luôn có sự chia rẽ, cứ nhìn Hoa Kỳ chẳng hạn.

Còn một chế độ quân chủ kiểu như Vương quốc Anh với Nữ hoàng hay Vua ở bên ngoài chính trị, bên trên chính trị, với tầm nhìn xa, cao hơn, cho một bức tranh lớn hơn.

Nữ hoàng hay Nhà Vua ở Anh hoàn toàn không can thiệp vào công việc chính trị. Quyền lực của họ là một thứ quyền lực mềm, dựa trên uy tín, hình ảnh, tư cách, ý thức về bổn phận, trách nhiệm của họ. Nếu làm tốt công việc và giữ gìn tốt hình ảnh, Quốc vương sẽ đại diện cho một lý tưởng và có sức mạnh truyền cảm hứng cho mọi người nỗ lực hết mình, cống hiến thời gian, công sức và nguồn lực cho những mục đích lâu dài, và đoàn kết mọi người. Và Nữ hoàng đã thể hiện điều đó trong suốt 70 năm trị vì của mình.

Tất nhiên sẽ khó khăn hơn nhiều để duy trì chế độ quân chủ, khi thiếu vắng một Nữ hoàng Elizabeth luôn sáng suốt, điềm tĩnh, đáng tin cậy và vững vàng. Tân vương Charles III chắc chắn hiểu rõ điều này.

Không có hệ thống nào tỏ ra hiệu quả như một bức tường thành chống lại chế độ chuyên chế. Hoa Kỳ có các giải pháp – phân chia quyền lực giữa các nhánh tư pháp, lập pháp và hành pháp, nhưng có lẽ là không đủ.

Mỗi quốc gia đều cần một người gánh vác gánh nặng biểu tượng của nhà nước. Nếu người đó không phải là quân chủ, được thiết lập rõ ràng để quản lý vai trò đó, trách nhiệm, và sự cám dỗ, có xu hướng rơi vào người đứng đầu nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tại sao đó lại là một vấn đề? Chẳng hạn, trong chế độ Tổng thống, với quyền lực tập trung quá nhiều vào Tổng thống, rất có nguy cơ trở thành độc tài.

Hệ thống quân chủ thực hiện một mục đích tâm lý/tinh thần và xã hội quan trọng. Nó cũng có tiện ích thực tế to lớn, về mặt văn hóa – và kinh tế. Ai có thể phủ nhận sức hút to lớn của các truyền thống của Vương quốc Anh, ví dụ, đối với thương mại, du lịch?

Và cuối cùng, ý thức về lịch sử, sự trường tồn, về truyền thống phát triển, về sự phục vụ và cống hiến, là một phần của điều gì đó vĩ đại hơn, đó là lý do tại sao hơn quá nửa người dân Anh vẫn tiếp tục ủng hộ và tôn trọng chế độ quân chủ của họ.

Còn nếu một ngày nào đó đa số người Anh cảm thấy chế độ quân chủ không còn có ích lợi gì nữa, thì họ cũng sẽ nhẹ nhàng dứt bỏ thôi.

KHÔNG THỂ GIÁP MẶT-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KHÔNG THỂ GIÁP MẶT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ không thể giáp mặt Ngài, vì dân chúng quá đông.”

Một nhà tu đức nói, “Ngài là Vua các vua, chói lọi vinh quang, Chúa vũ trụ vô tận, huyền ảo; toàn tri, toàn năng, toàn trị; thánh khiết không thể tả, không thể chạm tới, không thể giáp mặt, không thể đổi thay…  Ấy thế, Ngài được bao bọc trong thân xác một con người thấp hèn, sinh ra như một con cái Giuđa bị khinh dể, trong một hang lừa bẩn thỉu, từ lòng một phụ nữ giản dị và không phô trương. Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’”

Kính thưa Anh Chị em,

“Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’” Ngày xưa cũng như ngày nay, không ít người trong nhân loại khát khao giáp mặt Chúa Giêsu, một con người rất dễ gặp trên mọi nẻo đường cuộc sống của mỗi người; thế nhưng, Tin Mừng hôm nay cho thấy một điều xem ra ngược lại.  Nhiều lúc, gặp Chúa Giêsu không phải luôn luôn dễ!  Luca cho biết, “Mẹ và anh em Ngài đến tìm Ngài, nhưng họ ‘không thể giáp mặt’ Ngài, vì dân chúng quá đông.”

Mỗi người có lý do riêng của mình để tìm đến Chúa Giêsu!  Một số người cần được chữa lành, như Bartimê, anh mù thành Giêricô, la hét cho đến khi được Ngài xót thương; một số vì tò mò, như Giakêu, người đã leo lên cây để xem cho được Ngài; một số muốn nghe Ngài, như đám đông chen lấn bên hồ Gênêzareth; một số muốn chăm sóc Ngài, như Mẹ Maria, chị em Matta Maria.  Bạn và tôi, chúng ta có muốn gặp Chúa Giêsu không; tại sao tôi muốn gặp Ngài; điều gì đang ngăn cản khiến tôi ‘không thể giáp mặt’ Ngài?

Rõ ràng, nhiều lúc, thật không dễ dàng để chinh phục Chúa Giêsu; thậm chí cũng không dễ gặp Ngài.  Mặc dù chúng ta có thể tìm kiếm Ngài với ý định thuần khiết nhất, nhưng không phải lúc nào cũng toại nguyện.  Chắc chắn sẽ có những trở ngại, và chúng ta phải chuẩn bị!  Satan luôn tìm cách đẩy chúng ta ra xa Thiên Chúa qua tội lỗi, thậm chí đặt ra nỗi sợ, để cản ngăn chúng ta đến với phép Giải Tội, khiến chúng ta không nhận được ơn thứ tha và chữa lành.  Thế giới ra sức lôi kéo chúng ta càng xa Thiên Chúa càng tốt; nó cung cấp hàng ngàn sự xao nhãng và thú vui khiến chúng ta rời bỏ việc cầu nguyện, hồi tâm và hoán cải.  Bản thân chúng ta cũng rất ít có khuynh hướng thiên về điều lành, phục vụ tha nhân và sống các nhân đức.  Ngay cả lười biếng và ươn ế cũng có thể dập tắt những gì tốt nhất nơi chúng ta.  Vì thế, bạn và tôi, cần để Chúa Giêsu biết chúng ta đang tìm Ngài; nói cho Ngài lý do chúng ta ‘không thể giáp mặt’ Ngài.

Anh Chị em,

“Họ không thể giáp mặt Ngài.”  Tại sao bạn và tôi ‘không thể giáp mặt’ Ngài?  Đó là một câu hỏi quan trọng!  Vậy mà, với Chúa Giêsu, thật thú vị, được nhìn Ngài hay gặp Ngài vẫn không quan trọng!  Quan trọng là làm sao ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’; nhờ đó, được chữa lành và biến đổi.  Tuyệt vời thay!  Tin Mừng hôm nay tiết lộ, có một cách khác để có thể thường xuyên ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’, đó là khi chúng ta trở nên những con người biết “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.”  Bấy giờ, như Mẹ Maria, chúng ta sẽ sống mối tương quan với Chúa Giêsu đến một mức độ thân thiết còn hơn cả quan hệ huyết tộc.  Đây chính là vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta đạt đến phẩm giá và sự thân mật ngày càng cao hơn với Ngài.  Càng yêu mến Chúa, chúng ta càng yêu thương anh chị em mình.  Sách Châm Ngôn hôm nay nói, “Thực hành công bình và bác ái, thì đẹp lòng Chúa hơn là hy lễ.”  Quý biết bao khi chúng ta sống Lời Chúa như Ngài mong ước; Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đẩy xa mọi áp lực của ma quỷ và sự uể oải thiêng liêng nơi con; vì nó, con ‘không thể giáp mặt’ Ngài.  Xin chạm vào con, cho con chạm được Ngài; để con được biến đổi!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim