HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM–Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn

HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM –

 Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn,                                                                                    

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa, nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà, hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn, bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay. 

       Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng ! Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng ! Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa.

                                                                                            

   Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều. Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người Viet Nam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

                                                                                            

Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp… Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn : Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt. Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau :

                                                                                             Austin

                                                                                        New Orlean

                                                                                            Houston

                                                                                        San Antonio

                                                                                              Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất. Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc, làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

                                                                            

Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

                                                                                  

                                           Kemah Houston

   HOUSTON SỬ LƯỢC 

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù ! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh ! Chỉ có tử chiến mà thôi !                                                          

                                                                                            

 Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu diệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

    Chuẩn bị phòng thủ

                                                                                         Alamo

Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio, thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị Tổng chỉ huy Nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn theo 30 dân quân để phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch !” Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn. Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

         Tử chiến thành Alamo

                                                                                            

 Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836 Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành. Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha. Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành !

Mỗi đêm, quân Mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

                                                                           

Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đồng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”.

                                                                                            

Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

                                                                            

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

                                                   Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

                                                            TEXAS TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP 

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người ! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành 

Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas 

gấp 6 lần !

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

                  Trận chiến cuối cùng

                                                                                  

Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo !”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận

                                                                   

Cuối cùng Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên. Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bàu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

          Cuộc đời của Sam Houston

 

           Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết. Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền Nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

                                                                                           

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu ! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?                                 Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài – Michael Faraday.

Võ Ngọc Ánh

Hắn chỉ còn nhớ tên, “định luật Faraday”, còn nhân loại nhớ đến ông là nhà khoa học.

BIA MỘ CHỈ CẦN GHI TÊN THẾ LÀ ĐỦ. NGƯỜI CÓ NIỀM TIN TÔN GIÁO THÌ NÊN HIỂU, KHÔNG CẦN GHI CHỨC VỤ ĐẠO VÀ ĐỜI.

“Trên thế giới hiếm có người chỉ hoàn toàn tự học, không qua trường lớp đại học nào mà thành nhà bác học thiên tài như Michael Faraday.

Ông sinh ra tại nước Anh trong một gia đình thợ rèn nghèo vào năm 1791. Cha ốm, mẹ làm nghề giặt thuê, nhà có 4 anh em nheo nhóc. Cả nhà ông phải sống bằng tiền từ thiện nhiều phen khi khó khăn. Do đó ông phải bỏ học rất sớm. Khi xin nghỉ học, thày giáo của ông rất tiếc và động viên học trò: ”Hãy dũng cảm lên! Phải bỏ học giữa chừng như vậy thật tiếc, nhưng em hãy vững lòng tin và nhớ tới gương hiếu học của người xưa. Hãy bền chí.

13 tuổi, Faraday phải tới hiệu sách Ribo ở London làm nghề đóng sách. Cậu tranh thủ đọc sách ngay từ những cuốn sách mà mình phải đóng bìa. Cậu may mắn được ông chủ tiệm động viên hãy đọc sách nhiều hơn. Và cậu mê mải đọc nhiều cuốn sách khoa học, trong số đó cậu thích đọc nhất là cuốn Mạn đàm về hóa học và phần về điện trong Đại Anh Bách khoa toàn thư.

Tối về nhà, Faraday giải trí bằng việc tự mày mò làm các thí nghiệm theo sách hướng dẫn, dù phải bỏ vài xu từ thu nhập ít ỏi của mình mỗi tuần đầu tư cho các thí nghiệm này. Cậu còn chế tạo được máy móc dùng để học về điện. Ban đầu thì tôi dùng những lọ thủy tinh nhỏ, nhưng về sau thì cậu dùng những ống bằng đồng và những dụng cụ thí nghiệm về điện khác.

Khoa học đã làm cho Faraday cảm thấy hạnh phúc và say sưa vô cùng. Cậu bỏ công ra 2 năm liền ghi chép các bài giảng của các bậc thày khi đi tham gia các buổi thuyết trình khoa học do Hội Triết học ở Anh tổ chức.

Một ngày nọ, ông chủ hiệu sách tặng Faraday một tấm vé đi nghe thuyết trình tại Học viện Hoàng gia Anh của giáo sư Humphry Davy.

Nghe xong, cậu ghi chép lại nội dung diễn thuyết, bổ sung những ý tưởng và kiến giải của mình và đóng thành một cuốn sách cẩn thận rồi đem tặng giáo sư Humphry Davy cùng bức thư tự tiến cử mình vào tháng 10 năm 1812.

Là một quý tộc và là khoa học gia, Davy rất xúc động khi nhận món quà này. Ông viết thư trả lời cho Faraday với nhiều lời khen ngợi cậu và sẵn sàng giúp đỡ. Ông hào phóng nhận cậu bé bỏ học là thợ đóng sách đó vào làm trợ lý cho mình tại Học viện Hoàng Gia Anh. Khi đó Faraday đã là một thanh niên 22 tuổi.

Về sau này, giáo sư Davy cho rằng phát hiện quan trọng nhất của ông không hẳn là các công bố khoa học, mà chính là việc ông tìm ra Michael Faraday.

Faraday vào Học viện Hoàng gia chỉ làm phụ việc như rửa chai lọ, lau bàn ghế, quét dọn… nhưng không lâu sau, ông đã nắm được nhiều kỹ thuật và trở thành trợ thủ đắc lực của Davy. Ông được cùng giáo sư Davy đi nghiên cứu và học hỏi tại châu Âu trong 18 tháng. Đó là cơ hội vàng cho ông học hỏi và làm quen với các nhà khoa học bậc thày hồi đó như Marie Ampère, Count Alessandro Volta, Gay Lussac. . . và được tham quan nhiều phòng thí nghiệm lớn. Sau này, Ampère và Faraday đã có một tình bạn keo sơn. Trong hành trình này, ông lao vào học hỏi, ghi chép, tìm tòi.

Từ trợ lý làm việc vặt, Faraday sau đó thành Trợ thủ phòng thí nghiệm kiêm quản lý viên tiêu bản khoáng vật, kiêm tổng quản thiết bị và dụng cụ thí nghiệm cho giáo sư Davy.

Cứ như vậy, ông dần trở thành nhà khoa học. Ông hoàn tất luận văn khoa học đầu tiên năm 25 tuổi, vào năm 1816, dưới sự hướng dẫn của Davy. Sau này ông nhớ lại: “Đây là lần đầu tiên tôi thử bàn về vấn đề hóa học, và sự sợ hãi của tôi lớn hơn sự tự tin. Hơn nữa, cả hai tâm trạng đó lại lớn hơn cả tri thức của tôi. Lúc bấy giờ, tôi không thể tưởng tượng được là mình có thể viết một bài luận văn khoa học mà trong đó có nhiều sáng kiến như vậy”.

Từ sự thành công của bản luận văn đầu tiên, Faraday tiếp tục dấn thân vào con đường nghiên cứu với nhiều bản luận văn khác. Hai năm 26 và 27 tuổi, ông viết 17 luận văn về hóa học. Từ đó, ông trở thành nhà khoa học thực thụ bằng năng lực và sự chăm chỉ, cần cù tự học của mình.

Michael Faraday là nhà hóa học và vật lý học có đóng góp vô cùng to lớn cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa học của nhân loại. Những khám phá của ông là về cảm ứng điện từ, động cơ điện, máy phát điện, máy biến áp, và các luật về điện phân…

33 tuổi, ông được bầu làm Hội viên Hội Khoa học Hoàng gia London và bắt đầu giảng dạy tại Học viện Hoàng gia Anh. Sau đó ông được phong giáo sư, được bầu là thành viên của Viện hàn lâm khoa học Paris.

Tuy nhiên Faraday là người vô cùng khiêm tốn. Năm 40 tuổi, sau khi ông phát hiện ra cảm ứng điện từ, ông được vinh dự mời giữ chức Chủ tịch Hội khoa học Hoàng gia Anh và ông đã lịch sự từ chối vì muốn chuyên tâm làm khoa học. Để thưởng cho ông, Nữ hoàng Victoria đã tặng ông ngôi nhà ở Hampton Court và phong chức Hầu tước, nhưng ông chỉ nhận nhà với sự biết ơn, và từ chối tước vị.

Ngoài thời gian dành cho khoa học, Faraday còn là người thầy xuất sắc. Ông có trách nhiệm cao và rất quan tâm đến phương pháp giảng dạy phải thực nghiệm để xây dựng hình tượng trực quan. Cho tới tận ngày nay, Học viện Hoàng gia Anh vẫn duy trì những nguyên tắc giảng dạy mà Faraday đã đề ra bằng kinh nghiệm và lòng tận tâm với công việc của ông.

Ông có một gia đình rất hạnh phúc và tràn đầy tình yêu thương. Và dù là một nhà khoa học, ông vẫn có đức Tin mãnh liệt vào tôn giáo. Ông đi nhà thờ cùng vợ hàng tuần với sự cần mẫn và sùng đạo. Năm 1860, khi đã già, Faraday được bầu làm trưởng lão của giáo hội, tham gia chủ trì nghi lễ và giảng đạo. Ông chính là bằng chứng sống cho thấy Khoa học và Tôn giáo đều là những vật báu của loài người.

Ngày 20/3/1862 là ngày cuối cùng đánh dấu công việc nghiên cứu của Michael Faraday. Trong cuốn sổ ghi kết quả nghiên cứu của ông có ghi rõ con số thí nghiệm cuối cùng của ông: 16.041.

5 năm sau, ông bị điếc và mất trí nhớ. Nhà bác học đã từ trần ngày 25/8/1867, thọ 76 tuổi tại nhà riêng ở Hampton Court, khi đang ngồi trên cái ghế bành thân quen. Ông được an táng tại công mộ High Gate. Trên bia chỉ khắc họ tên của ông mà thôi. Đó chính là ước nguyện của ông – được sống và chết như một người bình thường.

Ông đã cống hiến rất nhiều phát kiến khoa học vĩ đại cho nhân loại. Và cuộc đời của ông là cuộc đời sáng chói của một tấm gương miệt mài vì khoa học, giữ Đức Tin vào tôn giáo, sống tử tế với gia đình vợ con và bạn bè, khiêm cung và tận tụy.

Ông cũng cho thấy rằng nếu làm một người tốt, cần cù chịu khó và ham học hỏi thì có biết bao người sẵn sàng giúp đỡ mình. Từ những người như thày giáo của ông cho tới ông chủ hiệu sách nơi ông làm công và giáo sư Davy, những quý nhân đó đã phù trợ một cậu bé nghèo bỏ học đi làm công trở thành nhà khoa học vĩ đại của thế giới.

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Hình đồng 20 bảng của Anh hiện in hình M Faraday – Twitter.”

Trần trọng Khiêm: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Trần trọng Khiêm 

 Những người Việt có số phận kỳ lạ: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Tác gỉa :Hà Đình Nguyên 

Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên xã trưởng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.

Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.

Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.

Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

“Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.

Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.

Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

 “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh.

Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”. 

(Dựa theo tài liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê 1912 – 1984).

From: TRUONG LE

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

August 13, 2022

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Sự thể quân đội của ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, sau khi chiếm đoạt rồi sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine vào Liên Bang Nga hồi năm 2014 mà thế giới đành bất lực đứng ngó, đã dẫn đến việc các lực lượng Nga ngày nay đang ngang nhiên giày xéo và hủy diệt từng phần đất nước Ukraine, bất chấp Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu (EU) cùng với “loài người tiến bộ” trên thế giới lên tiếng phản ứng.

Người Duy Ngô Nhĩ tại Kashgar, khu tự trị Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Trung Quốc. Nhóm dân tộc Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi phải đối mặt với những hạn chế về văn hóa và tôn giáo của chính phủ Trung Quốc. (Hình minh họa: Kevin Frayer/Getty Images)

Trong tình thế này, nếu một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh Nga-Ukraine không đạt được thì hậu quả trông thấy sẽ là, cuối cùng, con gấu Nga sẽ nuốt chửng con cừu Ukraine dựa trên cán cân lực lượng quá chênh lệch giữa siêu cường quân sự Nga và quốc gia đang phát triển Ukraine, kẻ tuy thuộc dòng máu anh hùng cái thế nhưng lực lượng quân sự lại yếu kém hơn nhiều so với đối thủ.

Rồi chuyện nước Cộng Hòa Ukraine bị vĩnh viễn xóa sổ trên bản đồ thế giới, cũng giống như trường hợp của Tây Tạng, miền Nam Việt Nam – và kế tiếp có thể là Đài Loan – sẽ không còn là viễn tượng nữa mà sẽ trở thành sự thật. Và điều này có nghĩa là nếu, một lần nữa, phe Thiện lại để mất Ukraine vào tay phe Ác thì những quốc gia bị nước khác thôn tính đó sẽ chẳng bao giờ có cơ hội được phục hồi sự sống.

Những chiến thắng liên tiếp của phe Ác trước phe Thiện

Lịch sử nhân loại từ sau Thế Chiến Thứ Hai cho đến nay đầy dẫy những chuyện cái Ác hễ đã chiến thắng ở đâu thì cứ tồn tại mãi nơi đó.

Tại Châu Á, các lực lượng Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đã đánh chiếm lục địa Trung Hoa khỏi tay chính quyền Trung Hoa Dân Quốc dưới sự lãnh đạo của ông Tưởng Giới Thạch, tổng thống, từ năm 1949 tới nay. Thấy thế giới chẳng có phản ứng gì nhằm ngăn cản hoặc trừng phạt chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản Trung Quốc trong hành động đặt ách cai trị lên dân chúng tại lục địa Trung Hoa, Cộng Sản Trung Quốc bèn đem quân xâm chiếm luôn vùng Tây Tạng tự trị hồi năm 1950 và sáp nhập phần đất này vào Hoa Lục.

Bắc Kinh hiện cũng đang cai trị vùng lãnh thổ Tân Cương (Xinjiang), với đa số dân chúng theo Hồi Giáo, dưới bàn tay sắt, và đang thi hành chính sách đồng hóa tàn bạo, nếu không nói là diệt chủng, để trừ khử cho bằng hết người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) bản xứ. Hồi năm 1989, Cộng Sản Trung Quốc cũng đã dập tắt một cách tàn nhẫn các cuộc biểu tình đòi tự do, dân chủ của giới trẻ tại Hoa Lục, khiến cả ngàn sinh viên, học sinh tham gia biểu tình bị tàn sát dưới mắt xích của xe tăng Giải Phóng Quân Trung Hoa.

Chế độ Cộng Sản tại Bắc Hàn, do Trung Quốc thiết lập từ thời Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953) đến nay, dù là một chế độ độc tài, gia đình trị, đảng trị, tàn bạo, và không hề tôn trọng nhân quyền, vẫn tồn tại từ ngày đó đến giờ. Sự thật thì Bắc Hàn đang ngày càng hùng mạnh hơn về quân sự nhờ thủ đắc thêm võ khí nguyên tử, để trở thành mối hiểm nguy trực tiếp cho Nam Hàn, Nhật Bản và ngay cả cho Hoa Kỳ.

Chế độ Cộng Sản tại Cuba, chiếm quyền trên đảo quốc này từ năm 1959 cho tới nay, vẫn còn là một chế độ độc tài, độc đảng và vi phạm nhân quyền trầm trọng mà thế giới vẫn cứ phải để yên. Chế độ Cộng Sản Việt Nam, nắm quyền cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau khi đánh bại đối thủ là nước Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1975 đến nay, vẫn là một chế độ độc tài, đảng trị, hà khắc và đầy tham nhũng, khiến dân chúng Việt Nam chán ghét tới mức rủ nhau bỏ nước ra đi qua các cuộc vượt biển tìm tự do trong suốt hai thập niên 1970 và 1980.

Chế độ Hồi Giáo chính thống tại Iran, nắm quyền từ năm 1979 cho tới nay, cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa của Hugo Chávez và Nicolás Maduro, cướp chính quyền từ 1999 tới nay, vẫn còn là những chế độ phi dân chủ và đàn áp nhân quyền bị dân chúng thù ghét mà thế giới đành bó tay và không có cách nào lật đổ được. Mới đây, nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã ra mặt ủng hộ ông Putin trong cuộc xâm lăng tàn bạo và diệt chủng của quân Nga tại Ukraine. Chế độ độc tài, tàn bạo của Bashar al-Assad tại Syria, được nước Nga của ông Putin hà hơi, tiếp sức, vẫn sống mãi với thời gian để cỡi đầu, cỡi cổ dân chúng Syria từ khi đảng Ba’ath lên cầm quyền hồi năm 2000 cho tới nay.

Islami Oikya Jote, một đảng chính trị Hồi Giáo ở Dhaka, Bangladesh, trong cuộc biểu tình vào ngày 4 Tháng Sáu, 2021, để phản đối Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ và tưởng niệm 32 năm vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, Trung Quốc. (Hình minh họa: Munir Uz Zaman/AFP via Getty Images)

Năm 2008, sáu năm trước khi nước Nga của ông Putin cướp lấy bán đảo Crimea khỏi tay Ukraine và hơn một thập niên trước khi nước Nga khởi sự cuộc chiến tranh diệt chủng và thôn tính nước Ukraine hiện nay, Moscow đã xúi giục người dân gốc Nga tại hai tỉnh Abkhazia và South Ossetia nổi lên tách ra khỏi nước Georgia và xin sáp nhập vào Liên Bang Nga. Các chế độ độc tài, đảng trị tại những quốc gia và vùng đất nói trên vẫ tồn tại mãi với thời gian sau khi giành được quyền cai trị.

Vì sao cái Ác hễ đã chiến thắng nơi đâu thì cứ tồn tại mãi ở đó?

Một khi đã bại trận và bị phe Ác thôn tính rồi, các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc phe Thiện chẳng bao giờ có khả năng khôi phục lại sự tồn tại hoặc vị thế cũ của mình trên trường quốc tế, cho dẫu phần còn lại của thế giới, được coi như thuộc phe Thiện, có đứng ngoài giậm chân thình thịch và la hét ỏm tỏi đến cách mấy đi nữa.

Các sự kiện sau đây có thể giải thích sự trường tồn của cái Ác trên những vùng đất và lãnh thổ mà họ từng chiếm được, đặc biệt là trong thế giới ngày nay:

1-Chủ nghĩa vật chất (materialism) ngự trị thế gian: Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với sự phát triển vượt bực của khoa học và kỹ thuật cùng với sự giàu có gia tăng của con người và của những quốc gia, chủ nghĩa vật chất đã phát triển song hành và đang tìm cách thay thế hai chủ nghĩa Tư Bản và Cộng Sản từng đối đầu nhau quyết liệt. Dựa trên nguyên tắc bất hủ “Cái gì lúc đầu không mua được bằng tiền thì cuối cùng cũng sẽ mua được bằng rất nhiều tiền,” chủ nghĩa vật chất liền xông lên ngự trị khắp thế gian sau khi đã thay thế hầu hết các giá trị tâm linh và tinh thần của con người, từ tôn giáo cho tới đức tính quân tử và tinh thần hiệp sĩ mà mãi cho tới hạ bán thế kỷ trước vẫn còn thấy tồn tại đó đây. Chính cái chủ nghĩa đầy tính thực tiễn này đang hỗ trợ và củng cố hết sức đắc lực cho chiếc ngai vàng của phe Ác, đồng thời hà hơi, tiếp sức cho cái Ác ngự trị lâu dài trên cõi thế gian ngày càng gian manh và gian ác này.

2-Thế giới đang thiếu vắng những tay “sen đầm quốc tế” cỡ siêu cường Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai (1945) cho đến lúc cuộc Chiến Tranh Iraq kết thúc (2011). Lẽ ra, sau khi Hoa Kỳ thôi không chịu đứng ra làm tay “sen đầm quốc tế” nữa, vai trò này phải do một tổ chức quốc tế lớn rộng như Liên Hiệp Quốc đảm đương, nhưng vì tổ chức quốc tế này chỉ có tính cách hữu danh, vô thực nên nó không thể can thiệp để chận đứng những cuộc xâm lược của nước này chống nước kia, mà cụ thể là cuộc xâm lược của quân Nga vào đất nước Ukraine đang diễn tiến hiện nay.

3-Chủ nghĩa thỏa hiệp (compromise) làm suy yếu sức chiến đấu chống cái Ác: Chủ nghĩa thỏa hiệp, qua các thể thức như “cho đi, lấy lại” (“give and take”), “dung hòa” (“finding a middle ground”, và “đánh đổi” (“trade off”), làm các cá nhân cũng như các quốc gia không chịu kiên nhẫn theo đuổi cuộc chiến đấu chống cái Ác cho đến khi đạt được chiến thắng sau cùng, dẫn đến tình trạng cái Ác cứ tồn tại mãi.

4-Con người ngày càng ham sống, sợ chết: Lúc con người ngày càng giàu có và ngày càng ham hưởng thụ các khoái lạc vật chất như hiện nay thì họ lại càng ham sống (để hưởng thụ mãi) và sợ chết (do chết đi thì uổng quá chừng), dẫn đến tình trạng thiếu các tay Kinh Kha dám liều mạng sống để lao vào chỗ chết mà diệt trừ cái Ác.

5-Tinh thần “quân tử” và “hiệp sĩ” xưa nay không còn nữa: Muốn diệt cái Ác để giúp đời và giúp người, cần phải có tinh thần của người “quân tử” thời xưa và các “hiệp sĩ” thời Trung Cổ mới thúc giục con người chấp nhận hy sinh, gian khổ để cứu người và giúp đời trên bước đường trừ gian, diệt bạo.

6-Đường lối lãnh đạo tập thể cản trở hành đông quyết liệt: Thế giới ngày nay hầu hết theo đường lối lãnh đạo tập thể qua các chính quyền hoặc tự do, dân chủ hoặc độc tài, đảng trị, dẫn đến tình trạng thiếu các hành động quyết liệt để trừ gian, diệt bạo, tức là loại trừ cái Ác ra khỏi cộng đồng nhân loại, điều mà các vua chúa và các vị tướng quân thuở xưa vẫn một mình hoàn thành sứ mạng. Giới lãnh đạo tập thể thường hay bị trói tay trong tình huống cần phải hành động nhanh chóng và dứt khoát để loại trừ kẻ Ác.

7-Tâm lý “liệng chuột sợ bể đồ” hoặc “chén kiểu ngại đổi chén sành”: Chính tâm lý này của một số dân tộc đang giàu sang, phú quý và có mức sống cao đã khiến cho họ ngần ngại phải lao đầu vào những cuộc chiến tranh với các đối thủ so ra kém phần giàu sang hơn họ. Ngược lại, tâm lý “cùi không sợ lở” tại những nước chỉ mới đủ sức phát triển về quân sự chứ chưa thể trở nên giàu có về kinh tế (cỡ Bắc Hàn) dễ khiến cho họ liều lĩnh hơn, cương quyết hơn và hiếu chiến hơn trong nỗ lực gây hấn với các nước khác hoặc làm điều ác.

8-Mô thức “toàn cầu hóa kinh tế” hiện nay đã ràng buộc đời sống vật chất và mức phồn thịnh của nước này vào nước kia: Việc “toàn cầu hóa kinh tế” dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong các nỗ lực trừng phạt kinh tế, chứ đừng nói gì đến đánh nhau, của phe Thiện chống phe Ác, rồi lại vô tình giúp giữ nguyên hiện trạng Ác thắng Thiện khắp nơi. Công cuộc trả đũa và trừng phạt các chế độ tàn ác chuyên vi phạm nhân quyền hoặc xâm lấn các nước khác, trong đó có cuộc cấm vận của thế giới chống Nga hiện nay và nỗ lực trừng phạt kinh tế Trung Quốc của Hoa Kỳ trước đây, xem ra chẳng hề dễ dàng gì.

9-Sự thiếu kiên nhẫn của các quốc gia thuộc phe Thiện trong nỗ lực cô lập hóa nhằm trừng phạt các quốc gia thuộc phe Ác: Tình trạng này lại có tác dụng “nối giáo cho giặc” khi, rốt cuộc, lại giúp các nước thuộc phe Ác củng cố thêm vị thế của họ và kéo dài tuổi thọ của các hành vi xâm lược hoặc vi phạm nhân quyền. Khi Hoa Lục mới được phe Cộng Sản “giải phóng,” ngoại trừ Liên Xô và các chư hầu của họ, hầu như không có quốc gia Tây phương nào ngoài Anh công nhận nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông cả. Ấy thế mà ngày nay, tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều hớn hở và lấy làm vinh dự được thiết lập bang giao với Trung Quốc.

Cảnh một tòa nhà tại thị trấn Vasylkiv gần Kiev bị hỏa tiễn tàn phá trong cuộc tấn công của quân Nga vào Ukraine ngày 27 Tháng Hai, 2022. (Hình minh họa: Dimitar Dilkoff/AFP via Getty Images)

Sự thể này dẫn tới tình trạng đối thủ của cường quốc khổng lồ này, là Đài Loan, tuy được thế giới mặc nhiên công nhận là thuộc phe Thiện, ngày càng bị các nước trên thế giới về hùa với các nước khác mà cắt đứt quan hệ ngoại giao đang có đặng có thể công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Mỉa mai thay, chính siêu cường Hoa Kỳ, từng là kẻ tử thù của Mao Trạch Đông thời chiến tranh Quốc-Cộng trước và sau Thế Chiến Thứ Hai, đã gục ngã trước sức cám dỗ mê hồn của thị trường béo bở cả tỷ người tại Hoa Lục mà tham đó bỏ đăng, phản bội tình đồng minh thân thiết và lâu đời với Đài Loan mà đành đoạn đi công nhận Cộng Sản Trung Quốc.

Thay lời kết

Nghĩ cho cùng, chính lòng tham lam cộng với tâm lý nhà giàu ham sống, sợ chết của của con người thời đại đã dung dưỡng cho các chế độ tàn ác trên thế giới tồn tại qua thời gian, khác hẳn với ngày xưa, khi các cường quốc bạo ngược, cỡ Quốc Xã Đức, đã bị thế giới xúm lại đánh cho tan tác rồi diệt vong.

Phải chăng, trong các giai đoạn Bắc thuộc thời phong kiến Trung Quốc, và Pháp thuộc vào các thế kỷ 19 và 20, vì dân tộc Việt Nam còn nghèo và kém mở mang nên đã có thể sản sinh được nhiều vị anh hùng dân tộc biết hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để giải phóng đất nước Việt Nam khỏi ách nô lệ ngoại bang? Ngược lại, ngày nay, khi đời sống kinh tế của con người được cải thiện hơn và tâm lý ham sống, sợ chết ngày càng gia tăng, người ta chờ mãi vẫn chưa thấy vị anh hùng nào nổi lên giải phóng dân tộc mình khỏi xích xiềng Cộng Sản. (Vann Phan) [qd]

Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

 Lê Hoàng Nam

“Hóa ra, vật nuôi cũng có những mong muốn cuối cùng trước khi chết, nhưng điều đó chỉ được biết bởi các bác sĩ thú y, những người đưa những con vật già và bệnh vào giấc ngủ ngàn thu. Người dùng Twitter Jesse Dietrich đã hỏi bác sĩ thú y đâu là phần khó nhất trong công việc của anh ta?

Bác sĩ chuyên khoa trả lời không chút do dự rằng việc tận mắt nhìn con vật tìm chủ trước khi chết là khó nhất đối với anh ta. Những con vật già yếu hay ốm yếu đưa mắt tìm chủ, ánh mắt đó thật đáng thương và khó quên.

Thực tế là 90% chủ của chúng không muốn ở trong phòng với một con vật sắp chết. Mọi người thường rời đi để không thấy thú cưng của mình ra đi. Nhưng họ không nhận ra rằng chính trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, con thú cưng của họ cần họ nhất.

Các bác sĩ thú y yêu cầu người chủ phải gần gũi với con vật cho đến phút cuối cùng. Không thể tránh khỏi việc các con vật chết trước bạn. Đừng quên rằng bạn là tất cả đối với cuộc đời của nó.

Có thể nó chỉ là một phần của bạn. Nhưng thú nuôi cũng là gia đình của bạn. Dù khó khăn đến đâu, đừng rời xa chúng trong giờ phút cuối cùng. Đừng để nó chết trong phòng với một người lạ ở một nơi mà nó không thích.

Các bác sĩ thú y rất đau lòng khi chứng kiến ​​cảnh vật nuôi không tìm được chủ trong những phút cuối đời. Nó không hiểu tại sao chủ của nó lại bỏ nó. Sau cùng, chúng cần sự an ủi của chủ nhân.

Các bác sĩ thú y làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng động vật không quá sợ hãi, nhưng họ hoàn toàn xa lạ với chúng. Cho nên đừng e ngại khi việc chứng kiến giây phút cuối cùng đó có thể gây đau đớn cho bạn. Hãy nghĩ về con vật cưng. Hãy chịu đựng nỗi đau này vì lợi ích của chúng. Hãy ở bên chúng cho đến giây phút cuối cùng.”

– Tricia Mo’orea

* Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

― Josh Billings

A dog is the only thing on earth that loves you more than he loves himself.

Chuyện vui : NÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO CÁI… MẸO!

Chuyện vui : NÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO CÁI… MẸO!

Hà Sĩ Phu

1/ Tôi mắt kém, lớ xớ vào mạng thấy cái hình chụp lời ông Nguyễn Đình Bin, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (hình chụp). À, thế ra vẫn còn mấy người CS biết nói một phần sự thật, nên tôi cũng viết thêm mấy lời bình như sau:

Lúc đầu thì bao nhiêu trí thức, văn nghệ sĩ do DUY CẢM nên bị mục tiêu tốt đẹp đánh lừa. Nhưng qua hơn một thế kỷ chứng nghiệm thì nay mọi điều đã rõ, con đường CS là con đường ảo tưởng, phi khoa học và phản nhân văn, làm khổ nhân dân nhưng làm sướng một bộ phận cầm quyền như một bọn vua tập thể. Vì thế hiện nay chỉ 3 loại người: kẻ cầm quyền và bọn cơ hội cùng với số ngu trung bị nhồi sọ là tìm mọi cách để duy trì con đường phản dân hại nước ấy (chính người CS lão thành Nguyên Ngọc đã công nhận như vậy). Thế giới đã rõ như ban ngày, còn gì lơ mơ nữa đâu mà phải thảo luận?”. 

https://www.facebook.com/photo/?fbid=591347725712505&set=gm.3299849127005163

2/ Hình chụp ấy là của trang “Nhóm Chúng Tôi Ghét Lừa Dối” (22,0K thành viên), rồi lại thấy có trang “Lưu Thơ Thầy Thái Bá Tân” (13,2K thành viên) gồm những bài thơ 5 chữ đầy sự thật của nhà thơ Thái Bá Tân mà tôi yêu mến…

Lại nhớ khi ĐCSVN muốn đánh lừa thế giới thì tuyên bố giải tán ĐCS, chỉ lập các “nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác” như rất hiền lành và chỉ ham học thôi.

* Thế là tôi bừng tỉnh: (Tôi ngồi trong phòng tối mà như đang nói trước ba quân): Đây là cái cần thiết của chúng ta! Hãy học theo cách làm của ĐCS ngày trước để ra khỏi cái đường hầm không lối thoát hiện nay! Hì…hì…

HÃY LẬP CÁC NHÓM KIỂU “NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC” như của ĐCS NGÀY TRƯỚC!

Tôi vẫn nói với bạn bè: Cả đời tôi chỉ phục ĐCS, Đ là bậc thánh của thế giới MƯU LANH (cấm nói lái chữ MƯU LANH này đấy nhá! Hì…hì…). Viết xong mấy dòng ba trợn mà cũng vui vui, thấy nhẹ cả người.

(Nhưng rồi lại chẳng dám quên… cái vỏ quít dày, vừa phục vừa giận cái ông… Tạo hóa!).

10/8/2022

H.S.P.

______

Cựu thứ trưởng ngoại giao Việt Nam nói về ‘nội chiến’ và ‘Đảng trị lạc lõng’

 https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-61280668

Ngược Lại Với Yêu Là Gì Các Bạn?

Van Pham

SỰ NGHỊCH LÝ ĐÁNG SUY GẪM…

Ngược Lại Với Yêu Là Gì Các Bạn?

Một giáo sư đang giảng về “tiểu thuyết” ở một lớp học của các nhà văn trẻ, giáo sư bỗng dừng lại hỏi các học viên:

– Ngược lại với yêu là gì?

– Ghét ạ!

Giáo sư đi đi, lại lại, trầm ngâm, ông bỏ giáo trình xuống bàn và nói:

– Thế này nhé: Ví như anh đang yêu, sau đó chia tay! 50 năm sau anh 70 tuổi, tình cờ gặp lại người cũ trong một chiều đi dạo. Lúc đó bà nọ chằm chằm nhìn anh và nói:

– “Ông A ơi tôi ghét ông!”. Nếu tình tiết xảy ra đúng như vậy, anh phải mừng cho bản thân mình!

– Vì sao?

– Vì anh là người may mắn mới có người ghét anh hàng nửa thế kỷ.

– May mắn quái gì, phi lý!

– Bình tĩnh, bình tĩnh, anh nghĩ kỹ xem, ghét cũng cuốn hút tình cảm như yêu như thương, tức là tình cảm của ai đó vẫn nghĩ về anh. Có người ghét anh 50 năm, tức là vẫn nghĩ về anh 50 năm, thật là hiếm có đấy! Anh may mắn không nào?

Điều đáng sợ là khi anh gặp lại người cũ, anh hỏi:

– “Bà B ơi có nhớ tôi không?”.

Người nọ đứng đực ra nhìn anh và nói:

– “Thưa ông, tôi nom ông hơi quen quen, ông là ai?”.

Cả lớp cười ồ lên, câu chuyện tưởng tượng này quả là thú vị pha thêm chút ngượng ngùng…

Giáo sư khẳng định:

“Ngược lại với yêu đâu phải là ghét! Đúng không nào?”.

Cả lớp đồng ý với giáo sư:

“Ngược lại với yêu là lãng quên!”

TỪ BI VỚI CHÍNH MÌNH

TỪ BI VỚI CHÍNH MÌNH

BS. Đỗ Hồng Ngọc

Ngậm ngùi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay. Ngậm ngùi “phải chi hồi đó” thế này thế khác… Hình như ta chẳng bao giờ thực sự sống.

Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, thì ta lại sống cho quá khứ. Nhỏ mong mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn mình, nhưng chuyện trò với một người khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào- ở mãi nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với bạn, thì nhiều khi đã lỡ nhịp.

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại- ở đây và bây giờ. Hiện tại thì không có Già, không có Trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, khám phá.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75. Vậy, sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải….nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào, thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa.

Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như: đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn, xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Cơ thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn, không cần biết có ta. Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn, nó càng làm dữ.

Trái lại, nếu biết thương yêu, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương cứng cáp, làm cho mạch máu thông thoáng, làm cho các khớp trơn tru, thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút, cho nó ăn, cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki).

Từ ngày biết thương “con lừa” hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá.

Một người cô tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ đắt tiền cho uống. Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được. Giá nghèo một chút còn hay hơn. Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng.

Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được.

Bảy trăm năm trước, vua Trần Nhân Tông viết: “Cơ tắc xan hề khốn tắc miên” (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền) trong bài Cư trần lạc đạo (Ở đời mà vui đạo). Ông là vị vua Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp.

Mỗi người có đồng hồ sinh học riêng, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, theo tính cách, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác.

Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt kém tinh, đấu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài, ai chịu cho nổi. Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại, mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng, không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

Rồi hôm đẹp trời nào đó, ta còn có thể phát hiện mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do thứ bệnh mắt nào đó, thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là: xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình. Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta.

Biết vậy, ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên. có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách đã khác, cái nhìn cũng đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi, người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả.

Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Nhưng muốn vậy, phải… chuyển đổi cách thở. Thở ư? Đúng vậy. Một bác sĩ có thể biết rất nhiều về bộ máy hô hấp, về cơ thể học, sinh lý học, bệnh lý học…nhưng chưa chắc đã biết thở.

Hình minh hoạ: không ai yêu mình hơn chính bản thân mình.

Facebook Hoang Giang

 Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền?-Cha Vương

 Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền?

Chúc bạn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong những bận rộn của ngày hôm nay nhé. Xin bạn một lời cầu nguyện cho linh hồn Thầy Cả Giu-se Vũ Thành, cựu chánh xứ Các Thánh Tử Vì Đạo VN mới qua đời vào lúc 12g10 đêm, Houston, TX. Xin Chúa đưa Lh Thầy cả Giuse về hưởng nhan thánh Chúa.

Cha Vương

Thứ 6: 12/8/2022

GIÁO LÝ: Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền? Trong Hội Thánh có sự phân biệt giữa các giáo dân và giáo sĩ. Nhưng tất cả đều là con cái Thiên Chúa như nhau và có cùng một phẩm giá. Tuy giáo sĩ và giáo dân có khác nhau, nhưng nhiệm vụ của họ có giá trị như nhau. Nhiệm vụ của giáo dân là hướng dẫn cả thế giới tiến về Nước Thiên Chúa. Cộng tác với họ là các thừa tác viên lãnh chức thánh, họ có nhiệm vụ cai quản, giáo huấn và thánh hóa Hội Thánh. Trong hai bậc sống kể trên, còn có những Kitô hữu được thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm: độc thân, nghèo khó, vâng phục, như trong các dòng tu. (YouCat, số 138)

SUY NIỆM: Mọi Kitô hữu có bổn phận làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống riêng của mình. Nhưng mỗi người bước đi với Chúa theo cách của mình. Có người Chúa trao sứ vụ làm giáo dân để xây dựng Nước Thiên Chúa giữa thế giới bằng đời sống gia đình và nghề nghiệp của mình: Người ban cho họ qua bí tích rửa tội và thêm sức tất cả các ơn huệ của Chúa Thánh Thần mà họ cần đến. Có những người đã được thêm sức, Người trao cho nhiệm vụ làm chủ chăn: họ phải điều khiển dân Chúa, giảng dạy và thánh hóa dân Chúa. Không ai được mạnh dạn tự gán cho mình nhiệm vụ đó: Chính Chúa sẽ ban cho họ nhờ bí tích truyền chức thánh, để thông truyền cho họ sức mạnh thần linh giúp họ hành động nhân danh Chúa Kitô và cử hành các Bí tích.

❦ Giáo dân là tình trạng chung của Kitô hữu trong Hội thánh là thành phần của Dân Chúa do bí tích rửa tội, nhưng không chịu chức thánh.

❦ Giáo sĩ là tình trạng trong Hội thánh của những người đã được chịu chức thánh. (YouCat, số 138 t.t.)

LẮNG NGHE: Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. (1 Cr 12:4-6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi người được Chúa dựng nên và được trao cho ơn gọi khác nhau để cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và cứu chuộc, xin giúp con hôm nay biết chu toàn ơn gọi riêng của mình để đưa mọi người đến gần với Chúa hơn.

THỰC HÀNH: Ơn gọi của bạn là gì? Lối sống của bạn có phản ảnh đúng với ơn gọi là con Thiên Chúa Không? Quyết tâm làm một thay đổi hôm nay để sống xứng đáng là một Ki-tô hữu Công Giáo nhé.

From: Đỗ Dzũng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vợ Tù

Ảnh của tuongnangtien

The Catcher in the Rye xuất bản năm 1951, khi tôi chưa kịp mở mắt chào đời. Tuy hai phần ba thế kỷ đã qua, và tôi cũng sắp sửa từ giã cõi trần (tới nơi rồi) nhưng vẫn chưa bao giờ tìm đọc nguyên văn tác phẩm này của J.D Salinger cả.

Lý do, giản dị, chỉ vì tôi đã đọc Bắt Trẻ Đồng Xanh (Thanh Hiên xb 1967) của Phùng Khánh tự lâu rồi. Dịch giả hẳn là phải thông thạo Anh ngữ lắm nên bản tiếng Việt vô cùng gẫy gọn, trong sáng (và cũng rất tài hoa) khiến tôi sợ rằng đọc nguyên tác chưa chắc đã thích bằng. Nó hay đến độ mà nhà văn Võ Phiến cũng có một tạp luận) cùng tên (“Bắt Trẻ Đồng Xanh”) vì ông đã mượn tựa từ bản dịch của ni sư Thích Nữ Trí Hải.

Bài viết này xuất hiện lần đầu trên tạp chí Bách Khoa – phát hành từ Sài Gòn, vào tháng 10 năm 1968 – và đến nay vẫn còn được độc giả quan tâm, dù hơn nửa thế kỷ đã qua. Một trong những vấn đề được tác giả đề cập đến là số phận bi đát của những người phụ nữ miền Nam, có chồng (và mất chồng) chỉ trong vài hôm – hoặc vài tuần – sau Hiệp Định Genève :

“Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954.”

Sáu năm sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, vào hôm 20 tháng 12 năm 1960, tại huyện Châu Thành – tỉnh Tây Ninh. Tuy được “dựng” lên ở miền Nam  nhưng phần lớn cán binh (và tử sĩ) lại là người miền Bắc, theo ghi nhận của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện :

Trại lính, trại tù, người đi không ngớt

Người về thưa thớt dăm ba

Trẻ con đói, xanh như tàu lá

Cày bừa phụ nữ đảm đang

Chốn thôn trang vắng bóng trai làng

Giấy báo tử rơi đầy mái rạ! (“Đất Này Chẳng Có Niềm Vui” – 1965)

Mười năm sau năm nữa (năm1975) thì chiến tranh chấm dứt. Tuy hòa bình đến nhưng trại lính, trại tù, người (vẫn) đi không ngớt. Bọn trẻ thì đi thi hành nghĩa vụ quốc tế (giải phóng nước bạn Cambodia), còn lớp già (thuộc phe thua trận) thì đi … học tập cải tạo.

Dù được bên thắng cuộc hứa hẹn là thời gian “thụ huấn” chỉ vài tuần thôi nhưng thực tế thì người về thưa thớt dăm ba, và không ít kẻ đã ra đi vĩnh viễn, để lại vô số những vành khăn tang trên đầu cô phụ (vào giữa thời bình) mà chả hề có một tờ thư hay mảnh giấy báo tử nào ráo trọi.

Nếu còn sống sót, kẻ thất trận cuối cùng cũng đã rời trại tù vào những năm đầu của thập niên 1990, sau gần 20 năm bị giam cầm. Hơn một phần tư thế kỷ đã qua. Tù nhân chính trị ở Việt Nam hiện nay đều thuộc vào lớp người mới, với tên gọi mới: tù nhân lương tâm – TNLT.

Hôm 22 tháng 6 năm 2021, VOA cho biết :

“Theo báo cáo mới được đưa ra của VNHR, ít nhất 46 người đã bị bắt giữ và truy tố tính đến ngày 31/5 vì vi phạm Bộ luật Hình sự 2015 sau khi ‘bày tỏ quan điểm chính trị của họ thông qua mạng xã hội’, một cáo buộc mà các nhà chức trách gọi là ‘chống phá nhà nước’. Nhóm nhân quyền ở California cho biết rằng những người khác bị bắt trong năm qua bao gồm các nhà hoạt động chính trị, nhà báo độc lập và những người khiếu kiện về quyền đất đai.”

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, bỉnh bút Nguyễn Văn Lung (Tạp Chí Luật Khoa) cập nhật thêm vài ba dữ kiện :

“Trong nửa đầu năm 2022, đã có 16 người bị bắt liên quan đến những vấn đề như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí hay quyền tự do hoạt động hội nhóm… Con số bị bắt đó tương đương với các năm trước, khi mà cả năm 2021 và 2020 đều có 39 người bị bắt vì những vấn đề nhân quyền. Hiện tượng này có thể gọi là ‘đàn áp một cách ổn định’. Những con số đáng buồn cho thấy không có tiến triển gì trong việc cải thiện tình hình nhân quyền trong nước.”

 

 

Tuy tuyệt nhiên “không có tiến triển gì trong việc cải thiện tình hình nhân quyền trong nước” nhưng đã có sự thay đổi lớn lao (và khá bất ngờ) nơi thái độ của không ít nạn nhân. Phụ nữ Việt Nam hiện nay không còn chịu nín lặng trong cảnh góa bụa, ngay sau ngày cưới, như lúc đình chiến 1954. Họ cũng không cắn răng và nuốt nước mắt, trước cảnh gia đình tan nát (chỉ vì chả may thuộc bên thua cuộc) như sau Đại Thắng Mùa Xuân 1975 nữa.

Những người vợ tù bây giờ đã cùng chồng tích cực nhận lãnh vai trò “tác nhân,” thay vì chỉ nhẫn nhục “cam chịu lịch sử” như lớp người đi trước, dù họ vẫn bị đe dọa và sách nhiễu thường xuyên :

Chính sách thô bạo và ti tiện cố hữu của nhà đương cuộc Hà Nội, xem ra, không có chút tác dụng nào đáng kể. Phản ứng và cách hành xử của những người vợ tù hiện nay, thế hệ sinh trưởng trong lòng cách mạng, đã hoàn toàn khác trước.

Xin ghi lại dăm ba trường hợp, theo thứ tự abc, để rộng đường dư luận :

– Bùi Huệ, phu nhân của TNLT Dũng Vova: “Đến nay Vova được sự ủng hộ và quý mến của không ít các bà con, anh em cùng lý tưởng. Nó giống như vị ngọt của cà phê đã trải qua cái đắng.”

– Đỗ Lê Na, phu nhân của TNLT Lê Trọng Hùng: “Tôi cũng muốn cho người dân ở trong nước, đặc biệt là những gia đình đấu tranh, một số gia đình thì cũng còn e ngại trong việc người thân của mình bị bắt bớ, có những gia đình không dám thẳng thắn lên tiếng, thì tôi muốn qua cái câu chuyện của gia đình mình để cho mọi người biết rằng là cái quyền lên tiếng để chống lại áp bức bất công – đó là quyền của mỗi người, và nếu chúng ta làm đúng thì chúng ta sẽ không có gì phải sợ hãi họ cả.”

– Trịnh Nhung, phu nhân của TNLT Bùi Văn Thuận: “Cháu/em là vợ của anh Thuận, luôn tự hào về anh, ủng hộ và tin tưởng rằng anh không làm gì sai cả, nên sẽ luôn đồng hành cùng anh trên con đường khó khăn phía trước.”

– Đỗ Thu, phu nhân của TNLT Trịnh Bá Phương: “Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần. Tôi nghĩ họ sẽ không để yên cho tôi đâu.”

– Nguyễn Thị Ánh Tuyết, hôn thê của TNLT Đỗ Nam Trung: Sau này Trung về chắc chắn chúng tôi sẽ thực hiện nốt những việc còn dang dở, mà chúng tôi đã có những dự tính cho tương lai của hai đứa. Và tôi cũng sẽ kể cho Trung nghe rất nhiều về những tháng ngày đã xa cách này, tôi đã nhớ Trung biết bao nhiêu…”

– Lê Bích Vượng, phu nhân của TNLT Nguyễn Lân Thắng: “Bốn tuần. Ba mươi ngày. Một tháng. Nghe nói tóc anh bạc nhiều. Nghe nói anh gầy đi. Nghe nói anh già đi đến vài tuổi. Uh. Không sao. Mọi người luôn bên anh – Như anh đã có mặt ở những vùng đất khó khăn, những khi bão lũ, thiên tai, nhân hoạ … tàn phá.”

 

Không chỉ thân nhân mà bằng hữu, hàng xóm, láng giềng cũng thế. Thái độ của họ đối với những TNLT của chế độ hiện hành hoàn toàn đã khác. Hình ảnh, biểu ngữ, cùng những bó hoa rực rỡ và bia bọt tràn lan khi mọi người chào đón Phạm Thanh NghiênCấn Thị ThêuBa Sàm Nguyễn Hữu Vinh (như những vị anh thư hay anh hùng của thời đại) đã khiến cho cư sỹ Phạm Nguyên Trường cảm thán: “Trong nước CS mà đón tù chính trị về vui vẻ như thế này thì thời gian tồn tại của chế độ có thể kéo dài bao lâu?”

Ơ hay, cái ông này hay nhỉ? ̣Sao đã tu tại gia (và đã muốn gác bỏ chuyện thế sự ngoài tai) mà vẫn còn “bao la” thế? “Thời gian tồn tại của chế độ còn có thể kéo dài bao lâu” nữa là chuyện của “các đồng chí lãnh đạo ở trên,” chứ việc gì mình phải bận tâm!

Vì sao con người ngày càng mê tín dị đoan một cách mông muội?

Vì sao con người ngày càng mê tín dị đoan một cách mông muội?

Chu Mộng Long

Mê tín dị đoan có từ thời cổ sơ, mông muội. Dù các vĩ nhân tìm cách khai sáng nhiều lần, nhưng con người mông muội thì vẫn mông muội. Sự mông muội tàn sát con người hơn bất cứ sự tấn công nào từ bên ngoài.

Huyền thoại Hy Lạp ghi nhận, khi Prometheus giao cho người em sáng tạo ra loài người, so với vạn vật, loài người là giống yếu đuối nhất: khó sinh đẻ, dễ chết yểu trước sự tấn công của giống loài khác, dù đó là con vật nhỏ bé nhất, như virut.

Prometheus thấy vậy mới cho con người trí khôn để tự khắc phục sự yếu đuối của nó.

Nhưng trí khôn của loài người thì phải hình thành qua hàng triệu năm. Trừ số ít những người hiểu biết hay giác ngộ, đa số phát triển trí khôn theo hai hướng và hình thành hai loại người: 1) Kẻ khôn ngoan cúi đầu khuất phục tất cả để cầu an, thậm chí hy vọng chết rồi hóa thân vào kiếp khác để tiếp tục sống, và như vậy, tốt nhất là cái gì cũng tôn thờ, quỳ lạy và hiến tế; 2) Lợi dụng sự yếu đuối của đám đông, kẻ khôn lỏi bịa chuyện đồng bóng với đủ loại thần linh, ma quỷ để đe dọa, và như vậy, loại người này có thể thống trị cả đám đông để trục lợi.

Loại thứ nhất cũng được xếp vào trí khôn nhưng khôn ngoan, đúng nghĩa là ngoan ngoãn để được bề trên chiếu cố, gọi ban phúc. Ban đầu đơn giản là người ta thờ cúng tự nhiên, mong mưa thuận gió hòa để kiếm sống. Họ thờ cúng từ cái to lớn như Trời, Đất, Núi, Sông… cho đến thờ cúng những loài vật nhỏ nhất như con chuột (tục cúng ông Tý), cả con virut (cúng trừ tà trong dịch bệnh). Nhờ trí khôn này, con người tự an ủi và nương theo tự nhiên mà tồn tại. “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” thành phương châm sống. Đến khi gặp thiên tai nặng nề, sự khôn ngoan này thành ngu muội, đến mức giết người lấy máu hay tế sống đồng loại cho thánh thần, ma quỷ. Tục trộn thịt người tế thần Zeus ở Hy Lạp, tế thần Baal ở Trung Đông, tế gái đồng trinh cho Hà Bá ở vùng sông nước là những điển hình.

Loại thứ hai hình thành nên cường quyền khi sự khôn lỏi, tức lưu manh, của nó nấp bóng thần quyền. Không ngẫu nhiên mà các bộ tộc nguyên thủy đều có các thầy mo đóng vai trò thủ lĩnh tinh thần của cả bộ tộc. Quan hệ giữa thầy mo và tù trưởng cứ như là quan hệ giữa cấp ủy và chính quyền vậy. Thầy mo nhân danh thánh thần, ra mệnh lệnh và phán xét tất cả. Vậy là vô số chuyện thần thánh, ma quỷ ra đời. Chúng tạo ra các nghi lễ gồm nghi thức và lễ vật bắt cả cộng đồng phải quy phục, hiến tế, bất khả kháng. Sự ngu muội của đám đông đã vỗ béo cho các thầy mo và kẻ đứng đầu, nhưng lại nhân danh vì thánh thần. Sự man rợ ngày một man rợ hơn. Khi kẻ có quyền lực được phong thần thì người ta thi nhau hiến tế, đến mức một thằng đàn ông giàu có chết đi còn được chôn sống theo cả đàn bà, người hầu để nêu gương tận tụy, hy sinh.

Mê tín dị đoan là một thứ tôn giáo thế tục. Sống sao chết vậy. Sống tham ăn, chết cũng tham ăn mới bày ra cũng tế mâm cao cỗ đầy. Sống hối lộ chết cũng hối lộ mới có chuyện buôn thần bán thánh trong tâm linh đi liền với buôn quan bán tước trong quan hệ thế tục.

Đó chính là lý do Đức Thích Ca, Lão Tử, Chúa Jesus làm cuộc cách mạng tín ngưỡng, kêu gọi thoát tục. Tất cả mọi mê tín dị đoan đều xếp vào tà giáo.

Tín ngưỡng thuộc đức tin: tin vào đạo trời (khác luật thế tục), tin vào điều thiện và tình thương. Tín ngưỡng khác với mê tín dị đoan, mà bản chất của nó là bịa đặt chuyện hoang đường để đe dọa, để vì lợi ích cá nhân, trục lợi. Đã mê tín dị đoan thì không việc xấu, việc ác nào người ta không làm. Nhiều khi cướp, giết, hiếp, chiến tranh, khủng bố chỉ vì mê tín dị đoan. Điều này dễ chứng minh khi khảo cổ các tập tục nguyên thủy cho đến xung đột tôn giáo trong cuộc sống hiện đại.

Các cuộc cách mạng tôn giáo, mặc dù vạch ra sự khác biệt giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan, nhưng các vĩ nhân khai sáng cho nhân loại này lại không ngờ chính tôn giáo do họ lập ra cũng rơi vào mê tín dị đoan. Điều này cũng giống như nhiều quốc gia ra luật “cấm tuyên truyền mê tín dị đoan”, “nói không với tà giáo” nhưng càng cấm, càng hô khẩu hiệu, mê tín dị đoan hay tà giáo càng mọc ra như nấm, cuối cùng chính tà bất phân, xã hội rơi vào rối loạn cực đỉnh. Càng khai sáng con người càng mông muội.

Trong khi các tôn giáo lớn trên thế giới đang tìm cách thoát tục, tức thoát khỏi mê tín dị đoan thì Phật giáo lại sa lầy một cách nghiêm trọng. Kể từ khi du nhập vào Trung Hoa, cái Niết Bàn được treo nơi Tây phương Cực lạc và 18 tầng Địa Ngục rùng rợn đặt dưới chân loài người, Phật giáo tự lột trần chiếc áo thầy tu để đưa con người về trạng thái nguyên thủy. Không khác các thầy mo cổ đại, các nhà tu tha hồ thêu dệt vô số chuyện thánh thần, ma quỷ để đe dọa mọi người, bắt mọi người phải quy phục. Các chiêu bài: “Càng nghèo càng phải cúng dường Tam bảo càng nhiều thì mới hết nghèo”, “Ăn cắp là việc làm sai quấy nhưng đem của ăn cắp cúng dường thì không sai quấy”… có khác gì thầy mo thời bộ tộc nguyên thủy bày trò đồng bóng vắt kiệt sức người nghèo, hút máu người bệnh để tăng cường sức mạnh cho các thế lực thống trị?

Một dân tộc ngày càng mê tín dị đoan, chứng tỏ đó là một dân tộc yếu đuối, bệnh hoạn, có khôn ngoan và cũng đầy khôn lỏi như thuở ban đầu tạo hóa mới sinh ra. Thiên nhiên khắc nghiệt, cường quyền tàn bạo đã gieo rắc sự sợ hãi đến tột cùng trong tâm lý mỗi người dân, đó là mảnh đất màu mỡ cho bọn quý tộc, tăng lữ bịa ra vô số chuyện đồng bóng để đe dọa, để trục lợi. Trong kế sinh nhai thì chỉ chờ vận hên xui, may rủi, ít người đủ tự tin về chính mình cũng là nguyên nhân biến con ngưởi trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ khoác áo thầy tu được cường quyền chống lưng. Một dân tộc mà luôn bị vong ám, vọng đè như vậy thì còn nặng nề hơn đeo trăm thứ gông xiềng, và ba trăm năm nữa vẫn không cất đầu lên được. Không chỉ không cất đầu lên được mà còn đem thứ sức mạnh của sự mông muội ra tàn phá núi rừng, tàn sát động vật… và kết quả là tự sát bằng sự đói nghèo và dịch bệnh.

C.M.L.

Nguồn: FB Chu Mộng Long

Châu Âu tính thuê SpaceX vì không dùng tên lửa đẩy của Nga nữa do cuộc chiến Ukraine

VOA Tiếng Việt 

 Theo một bản tin độc quyền của Reuters, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) vừa bắt đầu các cuộc thảo luận kỹ thuật sơ bộ với hãng SpaceX của ông Elon Musk, có thể dẫn đến việc tạm thời sử dụng các tên lửa đẩy của hãng này, sau khi cuộc xung đột ở Ukraine làm cho phương Tây không dùng tên lửa Soyuz của Nga nữa.

Vẫn bản tin độc quyền của Reuters cho hay hãng tư nhân của Mỹ, đối thủ cạnh tranh của hãng Arianespace ở châu Âu, hiện trở thành ứng cử viên quan trọng cho việc lấp chỗ trống tạm thời trong các hoạt động phóng hàng lên không gian, bên cạnh các ứng cử viên Nhật Bản và Ấn Độ. Nhưng các quyết định cuối cùng hiện phụ thuộc vào lịch hoạt động của tên lửa Ariane 6 của châu Âu. Việc sử dụng tên lửa này đã bị hoãn lại và lịch hoạt động của nó vẫn chưa có gì rõ ràng.

Tổng giám đốc ESA Josef Aschbacher nói với Reuters: “Tôi có thể nói rằng có hai lựa chọn rưỡi mà chúng tôi đang thảo luận. Một là SpaceX thì rõ rồi. Một lựa chọn nữa có thể là Nhật Bản”.

“Nhật Bản đang chờ chuyến bay đầu tiên của tên lửa thế hệ tiếp theo của họ. Một lựa chọn khác có thể là Ấn Độ”, ông nói thêm trong một cuộc phỏng vấn.

“Tôi có thể nói rằng SpaceX thực sự có hoạt động nhiều hơn cả trong số đó và chắc chắn đó là một trong những tên lửa đẩy dự phòng mà chúng tôi đang cân nhắc”.

Aschbacher cho biết các cuộc đàm phán vẫn ở giai đoạn thăm dò và mọi giải pháp dự phòng sẽ chỉ là tạm thời.

“Chúng tôi tất nhiên cần đảm bảo rằng các tên lửa đó phải phù hợp. Nó không giống như chuyện nhảy lên xe buýt”, ông nói. Ví dụ, giao diện giữa vệ tinh và tên lửa đẩy phải phù hợp, và phải bảo đảm là các thiết bị được phóng lên không bị ảnh hưởng bởi những sự rung lắc lạ thường trong quá trình phóng.

“Chúng tôi đang xem xét khả năng tương thích kỹ thuật này nhưng chúng tôi chưa đề nghị các bên đưa ra bản chào giá thương mại nào. Chúng tôi chỉ muốn đảm bảo rằng sẽ có một lựa chọn để đưa ra quyết định về việc đề nghị một đưa ra bản chào giá thương mại chắc chắn”, Aschbacher nói.

Việc Nga xâm lược Ukraine dẫn đến hệ quả chính trị là tên lửa Falcon 9 của hãng SpaceX được hưởng lợi. Giờ đây tên lửa này có thêm nhiều khách hàng khác, là những bên đã cắt đứt quan hệ với ngành vũ trụ ngày càng bị cô lập của Moscow.

Công ty internet vệ tinh OneWeb, đối thủ cạnh tranh với hãng internet vệ tinh Starlink của SpaceX, đã đặt trước ít nhất một cuộc phóng Falcon 9 vào tháng 3. Hãng này cũng đã đặt trước một cuộc phóng do Ấn Độ thực hiện.

Hôm 8/8, hãng Northrop Grumman đã đặt hàng 3 cuộc phóng bằng Falcon 9 để vận chuyển hàng hóa của NASA đến Trạm Vũ trụ Quốc tế trong khi NASA thiết kế một phiên bản mới của tên lửa Antares. Trước đây, tên lửa này có động cơ do Nga sản xuất, nhưng Moscow đã thu hồi các động cơ đó để đáp trả các lệnh trừng phạt.

Cho đến nay, châu Âu vẫn phụ thuộc vào tên lửa Vega của Ý để phóng hàng hạng nhẹ, Soyuz của Nga cho hàng hạng trung và Ariane 5 cho hàng hạng nặng. Loại Vega C thế hệ tiếp theo của họ đã phóng lần đầu hồi tháng trước, còn loại Ariane 6 mới đã bị hoãn phóng cho đến năm sau.

(Reuters)

Tên lửa Falcon 9 của SpaceX phóng đi từ Florida hồi tháng 7/2022 (ảnh tư liệu). 

Châu Âu tính thuê SpaceX vì không dùng tên lửa đẩy của Nga nữa do cuộc chiến Ukraine