THẾ NÀO LÀ “VÔ SẢN CHÂN CHÍNH”

 

Quyền Được Biết

Này thì ‘vô sản chân chính’…;
Này thì “đạo đức cách mạng”…;

Này thì “sống, học tập, làm theo tấm gương đạo đức hcm”…;
Mời mấy tay ‘ní nuận chính trị cao cấp’ của đảng giòi bọ vào mà phản biện, hùng biện và NGỤY BIỆN!

Nhiều người cứ ngỡ rằng cái đám này chúng nó qua Anh, qua Mỹ học hành thì cũng tiến bộ để tạo nên một sự thay đổi chính trị cho Việt Nam, đặc biệt là giới chính khách Hoa Kỳ.

Bé cái lầm, không phải chúng nó nốc Coca, xơi Hamburger là Mỹ hóa đâu, bởi vì dễ gì bọn chúng nó đá đổ cái nồi cơm mà cha mẹ chúng nó và chính bản thân chúng nó đang ăn?!
Không tin hả chú Sam?

Cứ nhìn thằng Nguyễn Thanh Nghị con thằng thủ tướng Ba Ếch Nguyễn Tấn Dũng du học bên Mỹ ngày nay là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng csVN đấy!
Hay là thằng út của Thủ Dũng Nguyễn Minh Triết hiện nay là Bí thư đoàn thanh niên cộng sản đấy!

Bọn chúng còn nhiều lắm, cha mẹ bọn chúng ăn cướp, tham nhũng khi có quyền hành, sau đó chúng dùng tiền bẩn đấy đi du học, cái ngữ bọn này mà thay đổi được Việt Nam thì đúng là tư duy của mấy thằng thần kinh.

ĐÊM TÂM CA TÌNH THƠ THẬP GIÁ 2 TẠI HOUSTON TEXAS CÓ GÌ HAY?

Phan Sinh Trần

Tâm ca là loại hình ca nhạc còn khá mới mẻ ở Houston, vậy Tâm Ca có gì đặc biệt, theo sự hiểu biết còn thiếu sót của chúng tôi, thì đó là ca nhạc với cái sâu lắng của các bài nhạc tĩnh ca và tâm ca độc đáo mà chúng ta không tìm được ở mọi nơi thường có show ca nhạc. Buổi Tâm Ca Houston là buổi ca nhạc hiếm có , nó vừa có tính thính phòng vì được nghe trong tâm tình của một nhóm nhỏ vừa có tính thánh thiêng, nghe trong sự cầu nguyện với Chúa Mẹ.

Bầu khí Tâm Ca Houston, không khô khan, trái lại buổi diễn vừa dí dỏm, nghệ sĩ trình bày cách duyên dáng mà không phô trương hay tỏ ra ồn ào, họ tỉnh thức mà không náo động, âm thanh tuyệt hảo cao vút, sâu trầm, làm hài lòng các khán giả khó tính nhất.

 

Ta có thể nhìn tổng quan vườn thơ Thập Giá trong bài hát sau đây của nhạc sĩ Mai Lợi, ca sĩ Ngọc Quý trình bày:

HINH 22

Nếu em đến để tìm thi ca trọng đại

Thì về đi, kìa vườn nhà ai sai trái

Nếu em đến để tìm lời thơ vụng dại

Nếu em không ngại cỏ ướt sương mai

Em ghé lại vườn bảo tôi kể chuyện cây táo địa đàng

Em ghé lại vườn cùng tôi ôn lại chuyện cũ gian nan

Thì vườn thơ của tôi là trái tim nhỏ

Và ở đó tôi sẽ sẵn sàng trồng hoa sám hối thiết tha

Nếu em đến để tìm tình thơ Thập Giá

Thì vườn thơ của tôi là trái tim nhỏ

Và ở đó, chúng mình sẽ có tên nhau.

Cha là lầu chuông gỗ
Con là cánh chim nhỏ
Khi biển đời bão gió
Con có chỗ nghỉ chân

Đêm Tâm Ca ở Houston, World Theater trên đường Mason, Katy lần này có gì đặc biệt:

  • Có thêm một bài hát mới, xin như là biển cả.
  • Khán giả được nghe bài hát sám hối mà Thiên Tôn tâm sự là “mình đã nổi da gà khi hát” cho dù đã hát bài này lần thứ hai.

  • Nghe tâm sự của tác giả với những bài thơ tâm ca ngủ yên trong 50 năm,

thơ làm từ hồi còn là một thanh niên, thơ chưa hề được mọi người  biết đến và buổi đối thoại lý thú của tác giả với nhạc sĩ phổ 30 bài nhạc tâm ca Tình thơ Thập Giá, nhạc sĩ Vũ Học, người  đã có những bài nhạc tâm ca ngủ yên trong 30 năm vì sáng tác chúng chỉ để dành riêng cho mình hát mà thôi.

Cho đến ngày vườn thơ tâm ca được mở ra cho công chúng kể từ năm 2020 tại nhà tĩnh tâm Lê thị Thành, rồi lan đi California và nay là Houston. Chúng tôi tin và hy vọng là tâm ca Tình Thơ Thập Giá sẽ về đến Việt Nam trong tương lai.

  • Ca sĩ vừa hát vừa cảm động như Mai Thiên Vân, Thiên Tôn là chuyện bình thường. Còn khán giả thì sao? Họ cũng vừa nghe vừa thấm thía trong bầu khí yêu thương vời vợi, thật là tuyệt vời. Đó là sự cảm động trong hy vọng an ủi và phản tỉnh mà không ủy mị hay bi quan.

Chúng tôi tham dự và ra về trong suy nghĩ như sau:

Đây là tâm ca mà người tham dự có niềm vui và an bình mang về nhà.

Chưa chi, chúng tôi đã mong đợi ban tổ chức sẽ cho thưởng thức Đêm Tâm Ca lần 3 trong tương lai ở Houston.

Xin cám ơn nỗ lực của Dòng Tận Hiến, Ban Tổ Chức, Các Thiện nguyện viên và Mạnh Thường Quân thật nhiều.

Chúng tôi  còn ao ước hơn nữa mong sao tâm ca tương tự như “Tình Thơ Thập Giá” sẽ lan tỏa ra khắp thế giới, nơi đang còn mênh mang nỗi thất vọng và đau buồn.

From: Phan Sinh Trần

50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới (Nguyễn Hải Di, Nguyễn Gia Kiểng, Từ Thức, Lê Mạnh Hùng)

27/1/2023 là tròn 50 năm ngày ký Hiệp định Paris, để Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến Việt Nam.

Nhìn lại Hiệp định Paris sau nửa thế kỷ, tôi phỏng vấn ông Từ Thức, ký giả của miền Nam có mặt theo dõi hội đàm từ đầu đến cuối ; sử gia Lê Mạnh Hùng ; và kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người sáng lập và đứng đầu Tập hợp Dân chủ Đa nguyên.

Hiệp định Paris có những lỗ hổng nào ?

Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, ký ngày 27/1/1973. Các bên đàm phán chính thức là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam), và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam “được coi như là một trong hai “bên miền Nam” trong khi ai cũng biết nó không có thực chất nào cả mà chỉ là một danh xưng rỗng nghĩa. Lực lượng cộng sản chiến đấu tại miền Nam hoàn toàn của Hà Nội và do Hà Nội điều khiển.

“Hai là hiệp định hoàn toàn không nói tới chính quyền cộng sản Bắc Việt, làm như là miền Bắc không có trách nhiệm gì trong cuộc chiến, trong khi chính quyền cộng sản Bắc Việt là kẻ chủ trương và điều động cuộc chiến đồng thời cũng là một trong hai bên đối thoại chính, cùng với Mỹ, trong hội nghị Paris.

“Ba là hiệp định quy định Mỹ sẽ rút hết quân khỏi miền Nam và hai bên miền Nam, đặc biệt là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, sẽ không được nhận thêm vũ khí và sử dụng cố vấn hay chuyên viên quân sự nước ngoài trong khi Hà Nội không bị bó buộc gì cả, không phải rút quân khỏi miền Nam và vẫn tiếp tục nhận viện trợ quân sự từ bên ngoài”.

Ông nói thêm, những người hiểu lầm nhất về Hiệp định khi đó có lẽ là những người thuộc “lực lượng thứ ba”.

“Họ nghĩ rằng hiệp định này sẽ dành cho họ một chỗ đứng trước hết trong Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc và sau đó trong một chính quyền miền Nam trung lập. Họ không hiểu rằng miền Nam đang đứng trước nguy cơ gần như chắc chắn sắp bị thôn tính. Trên thực tế họ chỉ tiếp tay làm cho Việt Nam Cộng hòa sụp đổ nhanh hơn”.

Ai vi phạm Hiệp định Paris ?

Năm 1973, Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, hai nhân vật chủ chốt trong đàm phán, được trao giải Nobel Hòa bình. Ông Lê Đức Thọ từ chối.

Ông Từ Thức nói “Hiệp định Paris 1973 đòi ngừng bắn trên toàn miền Nam ; việc thống nhất đất nước sẽ được thực hiện bằng phương pháp hòa bình, qua tổng tuyển cử, trong thời hạn do miền Bắc và miền Nam đồng thuận. Trên thực tế, ngay sau khi ký Hiệp định, Cộng sản đã đánh phá nhiều nơi, gia tăng quân sự để chiếm thêm đất ở những vùng “da beo”, thí dụ tổng công kích Bình Long, Ban Mê Thuột, và cuối năm 1974, đã chiếm trọn tỉnh Phước Long.

“Hiệp định Paris quy định miền Bắc phải ngưng việc đưa quân vào miền Nam. Trên thực tế, chỉ trong tháng 5/1973, Bắc Việt đã đưa thêm vào miền Nam 35.000 quân, 30.000 tấn võ khí”.

Hiệp định Paris cũng yêu cầu hai bên rút quân khỏi Lào và Campuchia, nhưng “Bắc Việt không những không rút quân, còn gia tăng hoạt động quân sự tại hai nước này”.

Sử gia Lê Mạnh Hùng thì cho rằng Hiệp định Paris “là một cách để Mỹ tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không mất mặt. Trên phương diện pháp lý nó không có cả tính chính đáng (legitimacy) vì cả bốn bên không bên nào thông qua. Việt Nam Cộng hòa, Bắc Việt và Giải phóng Miền Nam không nói làm gì, nhưng ngay cả đến Mỹ, Hiệp định này cũng không được Thượng viện Mỹ thông qua”.

Theo ông, “vì được thiết kế để cho Mỹ rút quân thành ra có thể nói không có điều khoản nào ràng buộc phía bên kia cả. Ngoài ra cũng không có biện pháp chế tài nào nếu bên kia vi phạm. Vả lại vì nó không có tính cách pháp lý thành ra ta cũng không thể lên án bên kia là vi phạm được”.

Nhưng Hiệp định Paris không chỉ nói ngừng chiến tranh và chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ với vấn đề Việt Nam.

Ông Từ Thức nói thêm :

“Hiệp định Paris cấm mọi hành động trả thù, phân biệt đối xử. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, tháng 4/1973, hàng triệu người bị bắt vào trại cải tạo, nhiều người mất mạng vì bị hành hạ, đói khát, mở đầu cho phong trào “boat people” của hàng triệu dân miền Nam liều chết vượt biển, tìm cách thoát khỏi chế độ”.

50 năm nhìn lại

Ông Lê Mạnh Hùng cho rằng “Trên quan điểm lịch sử, sau 50 năm nhìn lại, tôi nghĩ rằng trong tình thế lúc đó, Hiệp định Paris là một cái gì tất yếu phải xảy ra. Như Afghanistan trong năm 2021 cho thấy, khi Mỹ thấy cần bỏ chạy là họ bỏ chạy. Đối với Nixon và Kissinger, Việt Nam không còn quan trọng nữa khi họ đã mua được Tàu thành ra bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là tất yếu, nhất là khi sự chống đối chiến tranh Việt Nam đang dâng lên ào ạt tại Mỹ.

“Điều đáng buồn độc nhất là tuy rằng về phía Việt Nam Cộng Hòa, người ta có biết chuyện đó, nhưng giới lãnh đạo cũng vẫn không hoàn toàn tin hẳn rằng nó nói bỏ là bỏ ! Vì vậy không có bao nhiêu chuẩn bị để có thể cầm cự lâu dài với những phương tiện mình có hoặc là tìm thêm nguồn cung cấp vũ khí tại nơi khác”.

Ông Từ Thức thì nói “Nhiều người ngạc nhiên trước sự thất thủ nhanh chóng của miền Nam năm 75, nhưng hãy tưởng tượng những gì xảy ra ở Ukraine ngày nay, nếu một sớm một chiều các nước Tây Phương cắt đứt viện trợ kinh tế, quân sự cho nước này ?”

Ông cho rằng “Hiệp định Paris là một ô nhục đối với những người tranh đấu cho quyền tự quyết của các dân tộc, một vết đen trong lịch sử Hoa Kỳ, vì đây là lần đầu cường quốc này đã bỏ rơi đồng minh, tháo chạy. Nixon và Kissinger chỉ có một mục tiêu, làm quà cho cử tri Mỹ bằng cách chấm dứt chiến tranh”.

Vì làn sóng phản chiến tại nhà, và để ngưng chiến và mang quân Mỹ trở về, Nixon đã chấp nhận rút toàn bộ quân Mỹ nhưng không nói gì đến quân đội Bắc Việt ở miền Nam.

“Nixon hứa với ông Thiệu sẽ tái oanh tạc, sẽ phản ứng mạnh, nếu Bắc Việt vi phạm những điều đã ký kết, nhưng đã khoanh tay khi Cộng sản gia tăng chiến tranh, vì đang gặp khó khăn chính trị, đặc biệt là vụ Watergate. Sinh mệnh của hàng triệu người dân miền Nam rơi vào quên lãng”.

Nixon, theo ông Từ Thức, muốn “hòa bình trong danh dự”, nhưng cuối cùng “chẳng có hòa bình cũng chẳng có danh dự, như tựa đề một cuốn sách của sử gia Larry Berman, No Peace, No Honor : Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam. Theo Larry Berman, đó là một hiệp định tự sát, một hòa bình ô nhục”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho biết “Theo tôi hiệp định này đánh dấu một khúc quanh lớn của Mỹ trong đạo đức chính trị và chính sách đối ngoại. Đó là lần đầu tiên mà Mỹ rút lui và bỏ rơi một đồng minh, dần dần sự trở mặt đã thành một tập quán của Mỹ, dù là tại Liban, Iraq, Syria, Venezuela hay gần đây nhất tại Afghanistan.

“Điều mà tôi chỉ hiểu sau này khi các bí mật dần dần được tiết lộ là việc Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa có liên hệ mật thiết với việc Mỹ vừa bắt tay được với Trung Cộng. Theo tính toán của Nixon và Kissinger nếu Hà Nội thôn tính được Sài Gòn thì Việt Nam sẽ rơi hẳn vào quỹ đạo Liên Xô vì Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó theo Liên Xô và chống Trung Cộng, như thế Bắc Kinh sẽ phải sáp lại hơn nữa với Mỹ vì Liên Xô đang là thù địch của họ. Tính toán này ít nhiều được các tổng thống Mỹ sau đó tán thành, cho đến khi Trung Quốc trở thành mối đe dọa cho thế giới.

“Hệ quả là đất nước ta hoàn toàn bị đặt dưới chế độ cộng sản. Đó là một tai họa lớn. Chúng ta đang là một nước rất chậm tiến với một đảng cầm quyền cư xử như một lực lượng chiếm đóng hung bạo”.

Ông Từ Thức nói “Bài học cay đắng là miền Nam nhỏ bé rơi vào trò chơi, tính toán chính trị của các thế lực quốc tế”.

Nhìn lại sau 50 năm, ông Nguyễn Gia Kiểng nói “Thật đáng buồn, nếu miền Bắc chấp nhận bắt tay hợp tác với miền Nam để dần dần tiến tới thống nhất đất nước trong hòa bình thì bây giờ Việt Nam ít lắm cũng phải phồn vinh gấp nhiều lần hiện nay. Nhưng Đảng cộng sản đã đặt quyền lực và chủ nghĩa Mác Lênin lên trên hết”.

Nguyễn Hải Di

Nguồn : Diễn Đàn Thế Kỷ, 27/01/2023

50 năm sau hiệp định Paris, một Việt Nam không còn lịch sử-Jackhammer Nguyễn

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

28-1-2023

Bi kịch Paris

“Hòa bình ơi/ Tình yêu em như sông biển rộng/ Tình yêu em như lúa ngoài đồng/ Tình yêu em tát cạn biển Đông…” Lời bài hát này được nghe trên khắp các thành thị miền Nam Việt Nam, khi nó còn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng hòa 50 năm trước.

Người sáng tác bài hát đó là nhạc sĩ Thông Đạt, tức Ngô Văn Giảng, nhưng tôi không biết ai là người hát nó đầu tiên trên radio hay TV, chỉ biết rằng nó xuất hiện sau ngày 27-1-1973, ngày hiệp định đình chiến bốn bên được ký kết tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Tuy nhiên cuộc chiến không đình được, nỗi khát khao hòa bình trong bài hát nhanh chóng bị dập tắt. Chiến tranh tiếp tục trong hai năm tiếp theo, dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa. Với độ lùi thời gian nửa thế kỷ, cùng nhiều thông tin mới dần được công bố, nay đã rõ là việc ký kết hiệp định này có nguyên nhân lớn nhất là ý chí của người Mỹ, tìm kiếm một lối thoát trong vũng lầy Việt Nam của họ.

Việt Nam đã không còn là một tiền đồn chống cộng sản có giá trị nữa, chính sách mới của Washington bắt tay với Trung Hoa cộng sản nhằm phân hóa thế giới cộng sản bắt đầu. Tiền đồn của Mỹ bây giờ không phải là Sài Gòn nữa, mà là Bắc Kinh. Vũ khí không phải là ném bom nữa mà là những cái bắt tay thân mật bên cốc rượu Mao đài.

Cuộc chiến hai năm sau hiệp định Paris thực sự là nội chiến, là cuộc chiến giữa những người Việt với nhau, dù rằng cho đến 50 năm sau, cho tới bây giờ Hà Nội vẫn vô cùng “nhạy cảm” với hai từ “nội chiến”. Họ cũng “nhạy cảm” cả với ba từ “ý thức hệ”, lý do chính mà người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Điều trớ trêu và buồn cười nhất là tính chất ý thức hệ (đấu tranh giai cấp) là điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam lớn tiếng hơn ai hết khi họ nắm quyền trên toàn quốc.

Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vì sự yếu kém về tổ chức xã hội, nhà nước, của nó, không phải để chiến đấu, quân đội của họ dựa hoàn toàn vào người Mỹ, mà không sẵn sàng cho một cuộc chiến dựa trên sức mạnh của chính mình. Trong khi đó, xã hội và nhà nước miền Bắc, với mô hình toàn trị, thích hợp hơn rất nhiều lần để tiến hành một cuộc chiến. Vũ khí và tài lực từ Liên Xô vẫn tiếp tục cung cấp cho Hà Nội.

Bi kịch ngày 30-4-1975 của Việt Nam Cộng hòa là không thể tránh khỏi. Bi kịch đó kéo theo bị kịch tù cải tạo với hàng trăm ngàn người lao động khổ sai không án.

Bi kịch đó kéo theo bi kịch thuyền nhân với gần một triệu người liều mình đào thoát khỏi Việt Nam, trong đó không biết bao nhiêu người chết thảm khốc.

Lịch  sử và xóa bỏ lịch sử

Người cộng sản Việt Nam đã thắng cuộc chiến quân sự sau bi kịch Paris, nhưng họ đại bại trong cuộc chiến ý thức hệ.

Nước Việt Nam ngày nay không phải là một đất nước sống theo thiên đường cộng sản, “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, như trong các kinh điển Mác – Lê. Việt Nam ngày nay là đất nước của cụ già Nguyễn Phú Trọng sửa luật Đảng của chính ông ta để cầm quyền, là đất nước của hơn triệu công nhân bỏ chạy về quê vì đói trong đại dịch 2021, là đất nước của Phạm Nhật Vượng, chuyên thu gom đất đai giá rẻ để làm tỷ phú, và cũng là đất nước của những “thùng nhân” chết đông lạnh ở Anh.

Họ thất bại trong ý thức hệ, nhưng có thể họ đang thắng trong việc xóa bỏ lịch sử, ít nhất là đối với mấy chục triệu dân trong nước.

Tôi không nghĩ rằng có hơn 50% dân chúng Việt Nam trong nước biết Hiệp định Paris là cái gì! Dĩ nhiên họ cũng chẳng biết tới trại tù cải tạo khổ sai, không biết cả thảm họa thuyền nhân.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Hiệp định Paris năm 1973. Nguồn: Getty Images

Báo chí tuyên truyền của Đảng nói với họ rằng, có mấy triệu người Việt sống ở phương Tây, “lúc nào cũng hướng về tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (sic). Nhưng tại sao mấy triệu người ấy có mặt ở phương Tây? Báo chí và sách vở của Đảng … cứ làm như không biết!

Mấy ngày gần đây, báo chí Việt Nam cũng góp lời ca tụng hai diễn viên được đề cử giải Oscar danh giá ở Mỹ, có liên quan đến Việt Nam, là ông Quan Kế Huy và bà Hồng Châu. Họ ca tụng vì cả hai người đều được xem là người Mỹ gốc Việt. Tuy nhiên báo Đảng cắt bén đi cái lý lịch thuyền nhân của họ.

Mà không chỉ trong câu chuyện với hai người này, những cái từ như là thuyền nhân, trại cải tạo… cũng biến mất tăm ở Việt Nam ngày nay, dù rằng nó là một giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc.

50 năm hiệp định Paris, Việt Nam đi từ một nền hòa bình tưởng tượng, cho đến một tương lai bất định, trên nền của một dân tộc 100 triệu dân bị xóa bỏ lịch sử.

Bài học quét lá

Dòng Tên Việt Nam

Một đệ tử mới xin gia nhập vào cộng đoàn tu trì, vị bề trên đáng kính đã giao cho cậu bổn phận quét lá các khoảnh sân quanh nhà mỗi ngày. Vị bề trên dạy cậu rằng:

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường.”

Đệ tử nhiệt huyết gật gù đồng ý, cúi đầu chào vị bề trên rồi cầm cây chổi đặt sát góc tường để thi hành nhiệm vụ của mình cách vui vẻ.

Những ngày đầu đệ tử làm điều này với nụ cười trên môi, gặp ai bước vào khuôn viên tu viện cũng mỉm cười và chào hỏi. Nhưng việc được kéo dài trong vài tháng liên tục thì đệ tử chợt ngán ngẩm. Chỉ cần nghĩ tới chiếc cán chổi bằng thanh tre nhỏ đã phải sởn da gà. Dù không nói gì với vị bề trên, nhưng cậu tỏ lộ điều ấy qua chính nét mặt bực tức của mình. Khách vào tu viện cũng không còn thấy cậu mỉm cười hay chào như trước nữa, có khi khách đến thăm phải bước sát bên gọi tên thì đệ tử mới giật mình chào lại khách.

Một cảm giác chán nản vô vàn và một màu đen tối bủa vây quanh cậu sau mỗi sáng mở mắt ra nhìn cuộc sống. Vẫn tiếng chuông vọng đều gọi mọi người bước vào nguyện đường. Vẫn tiếng các bạn đồng môn nói cười đang khi làm việc bổn phận của họ cách thoải mái. Riêng cậu cảm thấy mình bị bó buộc và nặng trĩu bởi một tư tưởng nào đó khó tả.

“Quét! Quét! Quét!” Mỗi tiếng nói là mỗi nhát chổi đệ tử hằn lên mặt sân với thái độ khó chịu. Cứ ngỡ làm ở một góc chẳng ai nhìn thấy, cậu lại tiếp tục bộc lên ý tưởng: “Sao không chặt bỏ những cái cây quái quỷ này đi để khỏi quét! Quét gì quét hoài!”

Đệ tử không hay vị bề trên đã đứng sau lưng mình từ khi nào. Ngài chỉ thinh lặng với tràng chuỗi trên tay. Khuôn mặt ngài hiền từ và mỉm cười phúc hậu khiến những nếp nhăn hằn lên trán cũng giãn nở theo nụ cười. Vị bề trên đưa bàn tay vịn bờ vai đệ tử, cậu giật mình quay lại, một cảm giác sững sờ trước bề trên và nhất là cậu đoán bề trên đã nghe những gì cậu nói nãy giờ.

Gãi đầu ngại ngùng, cậu ấp úng :

-“Con! Con! Con xin lỗi…!”

Vị bề trên bước tới chỗ ghế đá đặt dưới gốc cây gần chỗ sân đệ tử thường quét, đệ tử rón rén đi theo sau. Một cơn gió thổi mát rượi mang lại một cảm giác dễ chịu. Vị bề trên hỏi :

-“Con! Nếu chúng ta chặt những cành cây này đi thì chắc chắn ta sẽ không còn bóng mát, sẽ không thấy dễ chịu như cơn gió vừa rồi mang đến con nhỉ! Rồi khách đến thăm tu viện sẽ ngồi hóng mát ở đâu? Và… có lẽ họ sẽ thấy vui lắm nếu khoảnh sân trước mặt họ sạch, họ biết có bàn tay ai đó đã dọn sạch khoảnh sân để họ có chỗ lý tưởng để ngồi. Con nghĩ người khách nào đó ngồi ở chiếc ghế này hoặc đi vòng quanh đây có vui không? Nghĩ tới đó con thấy việc mình làm có ý nghĩa lớn lao biết chừng nào con nhỉ!

Vị bề trên ngừng đôi lúc để cùng đệ tử nghe tiếng gió thổi qua các kẽ lá, cũng để cho đệ tử suy ngẫm đôi lúc. Lát sau ngài nói tiếp :

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường con à!

From: Phan Sinh Trần

NGẬM NGÙI THÂN PHẬN NGƯỜI DÂN MẤT NƯỚC

Phạm Đình Trọng

 PHẠM ĐÌNH TRỌNG

  1. Bằng lá phiếu người dân được tự do và bình đẳng bầu chọn hiền tài trong dân, thay mặt dân quản trị đất nước và tổ chức, điều hành hoạt động xã hội. Đó là quyền làm chủ đất nước của người dân. Không những là quyền lớn nhất, thiêng liêng nhất của con người, của công dân, quyền làm chủ đất nước còn gắn bó máu thịt người dân với đất nước. Từ đó mà có khái niệm Mẹ Tổ Quốc. Quyền làm chủ đất nước đặt trên vai người dân bổn phận công dân với đất nước như đứa con có bổn phận hiếu thảo với cha mẹ.

Thời thực dân Pháp cướp nước ta, dù người dân Việt Nam vẫn còn chút quyền tự do ngôn luận, tự do ra báo, tự do mít tinh, tự do hoạt động hội đoàn khi hội đoàn đăng kí hoạt động được chính quyền Pháp chấp nhận, tự do sản xuất kinh doanh trong luật pháp bình đẳng. Không có thành phần kinh tế nào được phép trở thành chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam. Dù doanh nghiệp của tư bản Pháp cũng không có chính sách biệt đãi riêng. Doanh nghiệp của người Pháp cũng bình đẳng với doanh nghiệp của người Việt. Nhưng người dân Việt Nam hoàn toàn không có quyền làm chủ đất nước Việt Nam máu thịt của mình. Người dân không có quyền làm chủ đất nước là mất nước thực sự rồi.

Thực dân Pháp cướp nước, chiếm đoạt quyền làm chủ đất nước Việt Nam của người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam cả nước một lòng rời bỏ gia đình yên ấm, rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, rời bỏ sự nghiệp công danh đi vào cuộc kháng chiến trường kì, chấp nhận mất mát tài sản, hi sinh xương máu, giành lại độc lập cho đất nước.

Cuộc kháng chiến đánh đuổi đội quân nước ngoài đã để lại trên khắp đất nước Việt Nam trắng xoá mồ liệt sĩ, nối tiếp những nghĩa trang mênh mông. Gia đình nào cũng chịu những mất mát hi sinh to lớn. Người dân vẫn hân hoan vui sướng khi đánh đuổi được đội quân nước ngoài, giành lại độc lập cho đất nước. Giành lại quyền người dân Việt Nam được làm chủ đất nước Việt Nam.

Niềm vui ngắn chẳng tày gang. Sau sự vui sướng bồng bột thoáng qua, người dân đã phải cay đắng, ngậm ngùi nhận ra đất nước sạch bóng giặc, danh nghĩa đất nước độc lập nhưng người dân không những không có quyền làm chủ đất nước, không có quyền tự do và bình đẳng cầm lá phiếu bầu chọn hiền tài trong dân, thay mặt dân quản trị đất nước và điều hành hoạt động xã hội. Ngay cả đến những quyền con người, quyền công dân thời Pháp thuộc người dân còn có như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do sinh hoạt hội đoàn, nay nước độc lập mà những quyền con người cơ bản và tối thiểu đó người dân Việt Nam cũng không có! Làm sao không ngậm ngùi, cay đắng!

Đảng cộng sản cầm quyền đóng kín cửa cơ quan đảng, lãnh đạo đảng chụm đầu bàn nhau, cắt cử, chia chác những chiếc ghế quyền lực quản trị đất nước, thâu tóm xã hội cho người của đảng rồi lại đổ hàng ngàn tỉ tiền thuế mồ hôi, xương máu của dân ra diễn trò bầu cử, lùa dân đi bỏ phiếu bầu những chiếc ghế quyền lực đã có người của đảng chiếm giữ! Lại diễn trò họp Quốc hội bầu bán. Những người được đảng đặt lên những chiếc ghế quyền lực đều nhận được xấp xỉ trăm phần trăm phiếu bầu của Quốc hội. Diễu cợt và khinh bỉ dân đến thế là cùng!

Đảng cộng sản cầm quyền biến người dân thành những con rối vô hồn, thành những rô bốt vô tri cầm lá phiếu đi bầu theo sự giật dây, theo lập trình cài đặt sẵn để hợp thức hoá người lãnh đạo đất nước và xã hội do đảng cộng sản cầm quyền áp đặt. Cầm lá phiếu đi bầu nhưng dân không có quyền chọn. Cả quyền ứng cử cũng không. Chỉ là diễn viên trong vở diễn dân chủ của đảng, người dân không còn được làm bổn phận công dân với đất nước.

Giang sơn gấm vóc, đất nước máu thịt do mồ hôi, xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam tạo nên bỗng trở thành tài sản riêng của đảng cộng sản cầm quyền. Người dân chỉ còn là kẻ sống nhờ, sống lưu vong ngay trên mảnh đất mồ hôi xương máu cha ông để lại. Mẹ Tổ Quốc Việt Nam cũng vật vờ lưu vong cùng người dân ngay trên đất nước Việt Nam! Người dân không được làm chủ đất nước, lũ lượt bỏ nước ra đi kéo dài suốt hơn nửa thế kỉ qua, đến tận hôm nay.

Không có quyền làm chủ đất nước, người dân Việt Nam lại thực sự mất nước rồi! Người nước ngoài chiếm đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân thì đó là kẻ xâm lược, là ngoại xâm. Lực lượng trong nước chiếm đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân là lực lượng chiếm đóng, là nội xâm.

  1. Đảng cộng sản cầm quyền toàn quyền chiếm đoạt những chiếc ghế quyền lực của dân. Những chiếc ghế để hiền tài trong dân mang tài trí cống hiến cho nước được chia chác trong phòng kín ở cơ quan đảng cho đám quan tham của đảng đã dẫn đến những cuộc đua rầm rộ chạy chức, chạy quyền bất tận. Quan chức đảng cõng con đặt lên những chiếc ghế quyền lực của dân. Tổ chức đảng cõng người của đảng giành những chiếc ghế của hiền tài trong dân.

Chỉ nêu vài dẫn chứng cá nhân các quan chức đảng hối hả cõng con, tổ chức đảng tất bật cõng người của đảng lên những chiếc ghế quyền lực của dân. Những chiếc ghế để hiền tài trong dân cống hiến tài năng cho nước thành những chiếc ghế chỉ để củng cố quyền cai trị của đảng.

Không học nổi chữ nghĩa, không thể làm việc bằng trí tuệ, phải đi xuất khẩu lao động, đứa con thất học, kiến thức văn hoá trống rỗng, làm thuê kiếm sống bằng cơ bắp được ông Tổng bí thư đảng Nông Đức Mạnh cõng vào cơ quan trung ương đảng, đặt lên ghế bí thư tỉnh uỷ, rồi Thứ trưởng, phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân Tộc Chính phủ.

Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cõng đứa con lớn tạm đặt vào ghế Thứ trưởng rồi lại đôn đáo mặc cả, dàn xếp để ông con cả lần lượt thăng tiến Bí thư tỉnh uỷ rồi Bộ trưởng. Con cả đã yên vị thành viên Chính phủ, Thủ tướng Ba Dũng lại đôn đáo cõng tiếp con bé đặt vào ghế bí thư trung ương đoàn. Đặt hai đứa con bất tài ngồi vào ghế hiền tài, ông Thủ tướng mới xoa tay, mãn nguyện về hưu. Mồm nói về làm người tử tế nhưng một nhân cách tham lam, bất lương như vậy làm sao có thể tử tế!

Có quyền lực quan đầu tỉnh, ông Bí thư tỉnh uỷ Bắc Ninh Nguyễn Nhân Chiến liền mang quyền lực ra điều chuyển, sắp xếp lại quan trường, đặt con trai lên ghế Bí thư thành uỷ Bắc Ninh. Đưa con trai chẳng tài càn gì ngồi trên đầu dân rồi ông Uỷ viên trung ương đảng, Bí thư tỉnh uỷ Nguyễn Nhân Chiến mới sung sướng, hà hê về nhấm nháp cuộc sống vương giả ở biệt phủ lộng lẫy.

Không sao kể xiết những quan đảng chỉ lo giành giật những chiếc ghế quyền lực của hiền tài trong dân cho con cháu quan. Cứ nhìn những ông to, bà lớn trên cả nước vẻ mặt thoả mãn trên những chiếc ghế quyền lực của dân, tiêu dao năm tháng chỉ nói được những lời đại ngôn sáo rỗng và chỉ để hưởng thụ, chẳng làm được tích sự gì cũng thấy bóng dáng lom khom của bố mẹ họ cõng họ vào quan trường.

Con quan đảng chiếm ghế quyền lực của hiền tài nhiều đến nỗi với bất kì ông quan, bà quan nào người dân đều phải đặt ra câu hỏi: Đồng chí này con đồng chí nào? Đồng chí này con đồng chí nào đã trở thành tiếng than cay đắng. tiếng kêu oan nghiệt, uất hận của dân mất quyền làm chủ đất nước, thành cung oán của xã hội Việt Nam thời cộng sản.

Quan đảng mải miết cõng con vào quan trường thì tổ chức đảng cũng bền bỉ và bài bản cõng người của đảng rải kín ghế quyền lực của hiền tài trong dân.

Trị nhậm quan đầu tỉnh Thái Bình, ông Bí thư tỉnh uỷ Nguyễn Hồng Diên chỉ có công trạng nổi bật là dung túng cho băng đảng xã hội đen Đường Nhuệ lộng hành, chi phối cả công an. Băng nhóm Đường Nhuệ ngang nhiên hành hung dân ngay trong đồn công an mà công an phải nhắm mắt bỏ qua đám tội phạm đàn em Đường Nhuệ. Lấn át cả chính quyền, băng nhóm Đường Nhuệ ngang nhiên áp đặt luật xã hội đen thu tiền của dân như nhà nước thu thuế. Để cho quyền lực xã hội đen Đường Nhuệ tồn tại song song với quyền lực chính quyền, ông quan đầu tỉnh Nguyễn Hồng Diên bộc lộ rõ là ông quan kém về năng lực, tồi về đức độ làm quan.

Dung túng cho băng nhóm xã hội đen Đường Nhuệ lớn mạnh, ông Bí thư đảng cấp tỉnh Nguyễn Hồng Diên vẫn vô can, lại được tổ chức đảng cõng về kinh đô, đưa lên cấp quốc gia, làm Phó Ban Tuyên giáo trung ương, rồi Bộ trưởng bộ lớn Công Thương. Nếu tổ chức đảng không cõng người của đảng vào chiếc ghế quyền lực thì ông quan kém năng lực, tồi đức độ như ông Diên làm sao có thể ngồi được vào chiếc ghế Bộ trưởng bộ Công Thương!

Tổ chức đảng có cả sách lược lâu dài, cả chính sách cụ thể ngang nhiên và trắng trợn cõng những nhân cách tầm thường của đảng đặt lên những chiếc ghế của hiền tài trong dân.

Đứng đầu một doanh nghiệp nhà nước khai thác dầu mỏ, Trịnh Xuân Thanh đã rút ruột hàng ngàn tỉ tiền của dân của nước mua đất, xây lâu đài riêng ở Tam Đảo và rải tiền ăn chơi sa đoạ từ trong nước ra nước ngoài. Thanh vẫn là nhân sự được qui hoạch, được tổ chức đảng cõng từ Hà Nội vào Hậu Giang đặt lên ghế phó chủ tỉnh để rồi thời gian ngắn sau sẽ lại trở về kinh đô ngồi lên ghế quan cấp quốc gia, nắm vận mệnh đất nước. Chỉ vì chiếc ô tô đắt tiền mang biển số xe triều đình mà Thanh ngông nghênh lượn trước dân tỉnh lẻ, gây ghen ghét, đố kị, bất bình rộng rãi trong xã hội buộc pháp luật phải vào cuộc khui ra con người thật, tham nhũng và sa đoạ của Thanh.

Người dân có quyền làm chủ đất nước thì lá phiếu bầu cử thực sự tự do của người dân mới có quyền quyết định nhân sự lãnh đạo đất nước. Chiếm đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân, tổ chức đảng cõng ông Nguyễn Xuân Phúc từ cơ quan đảng sang Quốc hội để bộ máy bỏ phiếu của đảng ở Quốc hội hợp thức hoá chức danh Chủ tịch nước cho một người chỉ biết lăng xăng đi khắp nước hô hào, tỉnh này là đầu tàu, tỉnh kia cũng phải là đầu tàu. Ông quan đảng chỉ có ngôn từ tuyên truyền sáo rỗng bộc lộ một tâm hồn nghèo nàn, xơ cứng cảm xúc, không có hồn nhân văn được tổ chức đảng đưa lên đại diện cho dân của một đất nước văn hiến!

Ở vị trí quốc gia, lo toan việc dân việc nước nhưng nhân cách thấp kém, tầm vóc nhỏ bé, nghĩ suy chưa vượt khỏi khung cửa gia đình thì chỉ là con người giá áo túi cơm, chỉ biết lấy quyền lớn lo cho dân cho nước mang về lo việc nhỏ để vinh thân phì gia, bảo kê cho vợ con thu lợi bất chính bằng việc làm phi pháp, bất lương trong vụ kinh doanh kit test giả xét nghiệm covid-19.

Chỉ cốt bán được nhiều kít test giả, thu lợi nhuận lớn, cả bộ máy nhà nước dưới quyền chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc rầm rộ bố ráp, truy bắt, đè ngửa gần trăm triệu dân ra chọc kit test giả vào mũi dân, ngoáy đi ngoáy lại nhiều lần để tiêu thụ kit test giả. Kít test giả, không thể phát hiện người nhiễm covid-19 làm cho dịch covid-19 bùng phát, lan rộng, dẫn đến hơn 43 ngàn người dân Việt Nam chết thảm trong dịch covid-19 nhưng đã mang về hàng ngàn tỉ tiền lời cho doanh nghiệp kinh doanh kit test giả!

Kinh doanh kit test giả là những ai? Chỉ có thường dân góp cổ phần ít ỏi, chỉ chiếm hai mươi phần trăm vốn (20%) phải chường mặt ra với pháp luật, tra tay vào còng số tám. Còn tám mươi phần trăm vốn của những người núp bóng quyền lực nhà nước cấp cao có thể huy động cả bộ máy nhà nước vào việc truy lùng, bắt bớ, đè dân ra ngoáy mũi. Quyền lực nhà nước ở cấp cao liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh kit test giả thì danh tính được giấu kín trong bóng tối, pháp luật không được phép công khai tên tuổi.

Người dân có quyền làm chủ đất nước thì mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và người dân phải được biết mọi hoạt động đúng, sai của người nắm quyền lực đại diện cho dân và mọi hành vi liên quan đến pháp luật của công dân phải được pháp luật xét xử công khai, bình đẳng. Nhưng đảng lại đóng kín cửa xử lí nội bộ trong đảng việc làm phi pháp bất lương diễn ra dưới bóng chiếc ô quyền lực Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc rồi đảng lệnh cho Quốc hội làm thủ tục loại bỏ chức danh của người được đảng đặt lên ghế Chủ tịch nước.

Những quan chức bị truy tố bắt giam, những Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh trong vụ kit test giả xét nghiệm covid-19 chỉ là những tội phạm thứ yếu, những tội phạm nhận tiền chia chác trong việc tiêu thụ kit test giả.

Những người nắm cổ phần lớn, có vai trò quyết định việc kinh doanh kit test giả mới là tội phạm chính, tội phạm hàng đầu nhưng nhờ núp bóng quyền lực cấp cao nên đều vô danh, hành vi phạm tội được pháp luật giấu kín, người dân không được biết.

Những ngày này liên tiếp chứng kiến tổ chức đảng chiếm đoạt quyền công dân, quyền làm chủ đất nước của người dân, gần trăm triệu người dân Việt Nam càng cay đắng, ngậm ngùi cho thân phận người dân mất nước!

ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, LỘ RA BỌN THÂN ĐỊCH!!!

Lê Hữu Thủy

Bài viết tuyệt hay! Đọc từ năm trước mãi sang năm nay vẫn hay một cách lạ thường.

*****

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”.

Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ cho tôi biết, bởi nó vô hình.

Vậy thì phải đi tìm thôi.

-Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày đầu hợp tác xã hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào.

Cái ngày mà qua sách báo và nghe kể là khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc.

Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông.

Cái ngày mà khi thu hoạch thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ.

Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu .

– Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết.

Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu.

“Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?”

Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”.

Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”.

Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ.

Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện.

Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta đã làm theo bạo lực.

Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã.

Thảm thay!!!

Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Tôi vào đại học. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ.

Khi mà tôi nhận thấy tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau.

Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công việc đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế.

Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước.

Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”.

Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im.

Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á – Phi – Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”.

Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì?

Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”.

Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất.

Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”.

Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta?

Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay.

Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ.

Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa.

Tóm lại như thế “Đất nước không đổ nát mới là sự lạ.!”

Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết:

“…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…”

Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai.

Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”.

Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”.

Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác.

Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường.

Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát.

– Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế.

– Tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh.

– Giáo dục lụn bại.

– Nhân cách đạo đức suy đồi.

– Kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng.

Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước.

Không nghi ngờ gì nữa“thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta.

Bài từ Fb Người Phú Yên

P.s: Đến thời điểm này. Bọn thân định đã làm nên những Việt Á, những chuyến bay giải cứu ngạo nghễ, những AIC … và rất nhiều thứ khác, phá nát đất nước nầy mà thôi!

Từ FB Trọng Hùng

Ung thư di căn ở cục đăng kiểm

Tin từ báo thanh niên trong nước

Đó là lời của Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thắng, sai phạm trong đăng kiểm thực chất là “căn bệnh ung thư di căn” nhiều năm … dù rất đau xót nhưng đã là tội phạm thì kể cả thay 100% người vẫn phải làm.

Phát biểu tại hội nghị tổng kết công tác của Cục Đăng kiểm Việt Nam chiều 16.1, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng nhiều lần nhấn mạnh sự cố “rất nghiêm trọng”, “đau xót” khi nhiều cán bộ của cục từ cục trưởng, trưởng phòng đến các cán bộ trung tâm đăng kiểm bị tạm giam, khởi tố.

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng

Lãnh đạo Bộ GTVT cũng cho rằng, sai phạm của Cục Đăng kiểm Việt Nam không ai kiểm soát, từ trên xuống dưới là một, vì “ông quản lý nhà nước nhưng buông lỏng quản lý, nhận tiền hàng tháng thì chỉ đạo, thanh kiểm tra gì nữa”. Xe đến không đảm bảo yêu cầu cho thuê phụ tùng để kiểm định, thậm chí còn sử dụng phần mềm để thay số kiểm định khí thải…

Khởi tố, tạm giam nhiều cán bộ, theo ông Thắng, bắt đến cục trưởng, Đặng Việt Hà.

Bài báo viết:

“Đây là quản lý nhà nước hay đây là lực lượng tội phạm? Chắc chắn là còn nhiều cán bộ nữa của chúng ta vướng vào vòng lao lý.

From: Phan Sinh Trần

Lịch sử cần sòng phẳng, rõ ràng với nhau

Lịch sử cần sòng phẳng, rõ ràng với nhau

Báo Tiếng Dân

Đỗ Thành Nhân

19-1-2023

Trung ương Đảng và Quốc hội cho ông Nguyễn Xuân Phúc thôi chức Chủ tịch nước là hoàn toàn đúng. Đất nước này không thiếu người có tài năng, uy tín và đạo đức để làm người đại diện cho quốc gia.

Lần đầu tiên trong lịch sử đảng Cộng sản có vị Chủ tịch nước (bị buộc, xin) thôi chức giữa nhiệm kỳ để nghỉ hưu. Tuy nhiên ông Nguyễn Xuân Phúc dù sao cũng là Chủ tịch nước, về mặt đối ngoại là “nguyên thủ quốc gia” – là một nhân vật của lịch sử hiện đại, nên cũng cần sòng phẳng, rõ ràng với nhau về công và tội của ông Phúc.

Ông Nguyễn Xuân Phúc làm CTN từ tháng 4-2021, cũng có nghĩa rời ghế Thủ tướng, không còn điều hành Chính phủ tại thời điểm đó, để trao quyền cho Thủ tướng kế nhiệm là ông Phạm Minh Chính. Tuy nhiên, quy cho ông Phúc “chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có 2 đồng chí Phó Thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng; 2 đồng chí Phó Thủ tướng đã xin thôi giữ các chức vụ, 2 bộ trưởng và nhiều cán bộ bị xử lý hình sự” là cần xem xét lại.

Thứ nhất: cần xác định rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu.

– Nếu trách nhiệm về Quản lý nhà nước trước Hiến pháp và pháp luật thì các Bộ trưởng, Phó Thủ tướng thuộc Chính phủ mà Thủ tướng là người đứng đầu, chứ không phải Chủ tịch nước.

– Nếu trách nhiệm về mặt Đảng thì nhiều Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị (Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh), thì ông Nguyễn Xuân Phúc không phải là người đứng đầu.

Thứ hai: cần xác định thời gian xảy ra sai phạm.

Những Phó thủ tướng, Bộ trưởng, Cán bộ sai phạm đều là người của Chính phủ nhiệm kỳ mới được Quốc hội phê chuẩn.

Hầu hết những sai phạm của những vị nói trên đến mức phải bị truy tố, kỷ luật đều liên quan tới chống dịch Covid, tới Việt Á, tới các chuyến bay giải cứu, xảy ra chủ yếu trong nhiệm kỳ Chính phủ mới, chứ không phải thời ông Phúc làm Thủ tướng Chính phủ.

Nếu nhiệm kỳ Chính phủ trước ông Phúc làm sai (hoặc không phù hợp), thì nhiệm kỳ mới, Chính phủ mới, Thủ tướng mới có quyền và phải có trách nhiệm điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới.

Ngay cả Chủ tịch UBND Tỉnh mới cũng có quyền ban hành nhiều quyết định hành pháp thay thế quyết định của Chủ tịch cũ là hoàn toàn bình thường. Tại sao Thủ tướng Chính phủ mới lại không thực hiện?

***

Cá nhân người viết bài này, qua dư luận xã hội và chứng nhận một số vụ việc thì ông Nguyễn Xuân Phúc không xứng đáng làm CTN nữa và rất đồng thuận với Trung ương Đảng, Quốc hội cho thôi chức.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn còn quyền con người, quyền công dân, ông chưa có tội gì, cho đến khi Tòa án phán quyết. Ông Nguyễn Xuân Phúc cũng không phải là cái thùng rác để đổ hết tất cả trách nhiệm, tội lỗi vào đó, là điều không công bằng với ông ta.

Điều quan trọng là ông Nguyễn Xuân Phúc từng là “nguyên thủ quốc gia” – là con người của lịch sử nên cần đánh giá trung thực, khách quan về lịch sử.

Nói thêm:

  1. Nếu cho rằng bà Trần Thị Nguyệt Thu, phu nhân nguyên CTN Nguyễn Xuân Phúc hoặc những người có quan hệ với ông Phúc “lợi dụng ảnh hưởng” để trục lợi, làm bậy, thì đây thuộc là vấn đề của thể chế, pháp luật chứ không phải riêng bà Thu.
  2. Nếu ông Nguyễn Xuân Phúc không phải “BỊ BUỘC thôi chức” mà “TỰ NGUYỆN XIN thôi chức” thì phải nói là ông Phúc còn hơn những “người tử tế” khác.

Đã đến lúc cần có Luật Hiến pháp và Tòa án Hiến pháp để phán quyết những trường hợp như Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.

CÓ THỂ THAY ĐỔI THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người này là lợi khí Ta chọn”.

“Thập giá, cột thu lôi của ân sủng, làm tắt cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng tình yêu Ngài! Trên đường Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi của ân sủng quật ngã, và con người này đã khám phá sức hút của Thần Khí; nhờ đó, đã ‘có thể thay đổi thế giới!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ thánh Phaolô, một con người bị “ân sủng và tình yêu Chúa quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu vào những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Thật khó để nhấn mạnh quá mức ảnh hưởng của ngày lễ hôm nay, lễ kính một con người, một vị thánh bị ân sủng quật ngã, cuốn theo Thần Khí; một người đã ‘có thể thay đổi thế giới!’.

Để hiểu tầm quan trọng của một sự kiện lớn nhỏ, hãy xét xem mọi thứ sẽ như thế nào nếu sự kiện đó đã không bao giờ xảy ra! Đây là tiền đề của bộ phim “It’s a Wonderful Life”, “Cuộc Đời Tuyệt Vời” của F. Capra; Capra so sánh cuộc sống thực tế với một kịch bản giả định, “Nếu không như thế, điều gì sẽ xảy ra?”. Điều gì sẽ xảy ra nếu Phaolô chưa bao giờ trở lại? Chưa bao giờ viết một lá thư? Chưa bao giờ xuống tàu cho một hành trình truyền giáo?

Điều đó có thể giả định một cách thuyết phục rằng, bản thân thế giới, không chỉ Giáo Hội, có lẽ sẽ trông ‘rất khác’ nếu không nói là ‘khá xa lạ’ so với ngày nay. Có lẽ, Kitô giáo vẫn sẽ giới hạn ở Palestine trong nhiều thế kỷ nữa, trước khi lan ra Âu Châu; có thể, Kitô giáo đã rẽ phải thay vì rẽ trái, và tất cả Trung Hoa, Ấn Độ sẽ theo văn hoá Công Giáo như Âu Châu ngày nay. Không thể nói được!

Nhưng tác động quy mô toàn cầu từ việc Phaolô cải đạo cho thấy ý nghĩa của việc trở lại nơi một con người vốn đã bị cuốn hút bởi Thần Khí, con người đó ‘có thể thay đổi thế giới’ như thế nào! Tại sao? Bởi lẽ, Phaolô đã quá say mê Chúa Kitô, “đã là lợi khí” Ngài chọn!

Dẫu Công Vụ Tông Đồ không nói rõ các chi tiết chung quanh cuộc trở lại, nhưng các nghệ sĩ thích vẽ lại một Phaolô bị ném khỏi yên ngựa trên đường Đamas. Đang khi quờ quạng trên mặt đường, Phaolô nghe, “Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?”, chứ không nghe, ‘Sao ngươi bắt bớ những người theo Ta?’. Rõ ràng, Chúa Kitô và Hội Thánh là một; bắt bớ Hội Thánh là bắt bớ Chúa Kitô. Phaolô tin điều các Kitô hữu đã tin trong nhiều thế kỷ, và vẫn tin cho đến ngày nay.

Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Hội Thánh và ngược lại. Hội Thánh không chỉ là phương tiện chuyên chở mặc khải, nhưng Hội Thánh thực sự là một phần trong sự mặc khải của Thiên Chúa; và nhất là với Chúa Kitô, Hội Thánh gồm những con người đã định hướng theo Ngài, được cuốn hút bởi Thần Khí, trở nên “lợi khí”, đó là những con người ‘có thể thay đổi thế giới!’.

Kitô hữu là những “lợi khí” đã được định hướng! Kitô hữu không biết mình đi đâu, đi với ai, làm gì… khác nào cô bé Alice trong chuyện cổ tích “Alice Ở Xứ Thần Tiên”. Trong cuộc trò chuyện giữa cô bé và con mèo Cheshire, Alice hỏi, “Bạn vui lòng cho tôi biết, tôi nên đi con đường nào từ đây?”; con mèo trả lời, “Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào nơi bạn muốn đến”. Alice bảo, “Tôi không quan tâm lắm!”; “Vậy thì bạn hãy đi theo con đường nào không quan trọng!”, con mèo trả lời. Kitô hữu biết mình đi đâu, đi với ai, làm gì!

Anh Chị em,

“Người này là lợi khí Ta chọn”. Khác với Alice lẻ loi trong xứ sở diệu kỳ, cuộc cải đạo của Phaolô tiết lộ rằng, Kitô hữu là người dò dẫm tìm đường dẫn đến Thiên Chúa. Đến với Chúa, bạn không đi một mình nhưng đi với tư cách thành viên của Hội Thánh vì bạn đã tháp nhập vào Hội Thánh trong ngày rửa tội; cũng từ ngày đó, bạn trở nên “lợi khí” của Ngài! Phaolô đã đến với Chúa qua biến cố Đamas; cũng bằng cách đó, trên những ‘Đamas’ của mình, sau khi bị quật ngã, bị cuốn hút bởi Thánh Thần, bạn và tôi đến với Chúa! Và như Phaolô, con người say mê Chúa Kitô, đã thay đổi thế giới; thì bạn và tôi, một khi say mê Ngài, chúng ta cũng ‘có thể thay đổi thế giới’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, hôm nay, kết thúc tuần cầu nguyện cho các Giáo Hội Kitô hiệp nhất, xin cho con luôn là “lợi khí”, đừng là “hung khí” của Chúa, hầu con cũng ‘có thể thay đổi thế giới!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Kể chuyện trước đêm giao thừa về Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Bá Thanh

Báo Tiếng Dân

Thu Hà

21-1-2023

Từ khi cướp được chính quyền năm 1945, lập nên nhà nước, đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt đầu chia bè phái, phe nhóm chính trị để thâu tóm quyền lực, thao túng chính trường, nhằm dễ bề biển thủ công quỹ, ăn cắp tài sản của dân, mua quan bán chức…

Sau năm 1975, các vấn nạn nói trên lan rộng trong cả hệ thống chính trị, từ trung ương đến địa phương. Quảng Nam – Đà Nẵng (QN-ĐN) cũng cuốn vào cơn lốc đó. Nội bộ lãnh đạo cốt cán chia hai phe, phe quê Quế Sơn và phe quê Hoà Vang. Hai phe này so găng, tranh giành quyền lực “một mất một còn”, dai dẵng suốt 30 năm, từ năm 1985 đến năm 2015, với đủ cung bậc thắng, thua. Ba cuộc so găng khốc liệt nhất là vào năm 1992, 2000 và 2014.

Trong cơn lốc tranh quyền đoạt vị đó, hai nhân vật để lại nhiều giai thoại nhất là Nguyễn Bá Thanh và Nguyễn Xuân Phúc.

Cuộc đời của Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Bá Thanh giống nhau một cách kỳ lạ:

– Nguyễn Bá Thanh sinh năm Quý Tỵ 1953, quê huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (sau 1997 mới tách tỉnh).

– Bố Thanh là ông Nguyễn Bá Tùng, năm 1954 ông Tùng tập kết ra Bắc, mẹ ông ở lại miền Trung. Sau đó, bố Thanh quay về Quảng Nam rồi hy sinh, được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang”.

– Năm 1968, Thanh được đưa ra Bắc, học sinh trường miền Nam. Thanh từng là Tỉnh uỷ viên Quảng Nam – Đà Nẵng khoá 15, vào Uỷ viên Trung ương khoá X.

– Vợ Thanh là Lê Thị Quý, quê Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

– Vợ chồng Bá Thanh có hai con, một trai một gái. Con trai Nguyễn Bá Cảnh, từng du học Anh quốc, ngành Quản trị công, về nước làm cán bộ Đoàn, từng giữ chức Bí thư thành đoàn Đà Nẵng.

Vợ chồng Nguyễn Bá Thanh, Lê Thị quý. Ảnh: PLTP

– Nguyễn Xuân Phúc tuổi Giáp Ngọ 1954, quê huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

– Bố ông là Nguyễn Văn Hiền, tập kết ra Bắc năm 1954. Mẹ ở lại Quảng Nam, tham gia Mặt trận Giải phóng miền Nam, năm 1966 thì bà hy sinh. Anh trai ông là Nguyễn Quốc Dũng, là Anh hùng Lực lượng vũ trang.

– Năm 1967, ông Phúc được đưa ra Bắc, học sinh trường miền Nam. Phúc từng là Tỉnh uỷ viên Quảng Nam – Đà Nẵng khoá 15, vào Uỷ viên Trung ương khoá X.

– Vợ Phúc là bà Trần Thị Nguyệt Thu, quê Điện Bàn, Quảng Nam.

– Vợ chồng ông Phúc có hai con, một gái một trai. Con trai Nguyễn Xuân Hiếu, từng du học ở Mỹ, ngành Quản trị công, về nước làm cán bộ Đoàn, từng giữ chức Phó bí thư Tỉnh đoàn Bắc Giang.

Vợ chồng Nguyễn Xuân Phúc và Trần Thị Nguyệt Thu. Nguồn: TTXVN

Sới vật một vùng quê

Năm 1992, sau nhiều năm hậm hực, phe nhóm Quế Sơn cầm đầu là Lê Quốc Khánh, sinh 1938, quê Quế Sơn, giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch HĐND tỉnh QN-ĐN, đại biểu QH khoá 9, liên kết với phe Điện Bàn để tấn công.

Phe nhóm Hoà Vang, đại diện là Nguyễn Văn Chi, sinh 1945, Uỷ viên Trung ương khoá VI, Bí thư Tỉnh uỷ và Trần Đình Đạm, sinh 1934, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh QN-ĐN, đại biểu QH khoá 8.

Trận này phe Quế Sơn thắng. Nguyễn Văn Chi bay chức bí thư, Trần Đình Đạm về vườn. Sau này nhờ lập công trong vụ án ông Nguyễn Hà Phan, ông Chi tái trúng cử Ủy viên Trung ương khoá VII, VIII, IX, vào Ban bí thư, Bộ Chính trị.

Không lâu sau, nội tình đảng bộ QN-ĐN mất đoàn kết nghiêm trọng. Trung ương phải cử hai Uỷ viên Trung ương là Mai Thúc Lân (1935-2014) quê Điện Bàn, Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, vào ngồi ghế bí thư. Trương Quang Được (1940-2016) quê Hội An, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, vào nắm Phó bí thư, chủ tịch UBND tỉnh. Được ba năm, cả hai phe hoà hoãn, dừng chiến sự.

Năm 1997, tỉnh QN- ĐN tách ra tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, trực thuộc trung ương. Trương Quang Được, rồi đến Phan Diễn lần lượt nắm ghế bí thư Đà Nẵng.

Thời điểm này, anh ruột ông Phúc là Nguyễn Quốc Dũng, tức Dũng “lửa”, Viện trưởng Viện kiểm sát QN-ĐN, được phân công làm Thành uỷ viên, Viện trưởng VKS Đà Nẵng. Ông Trần Văn Thanh, đồng hương Quế Sơn, bạn thân ông Phúc, làm Thường vụ Thành uỷ, giám đốc Công An. Giám đốc sở Du lịch Nguyễn Xuân Phúc đi theo bí thư Lân, làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam.

Nguyễn Bá Thanh nhờ Nguyễn Văn Chi và Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình hậu thuẫn, giành được ghế Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng. Nguyễn Bá Thanh độc đoán, tham nhũng, ra sức thâu tóm quyền lực cho nhóm Hoà Vang.

Năm 2000, trong “Vụ án cầu sông Hàn”, Trần Văn Thanh, Nguyễn Quốc Dũng cho khởi tố bắt giam một loạt đàn em của Nguyễn Bá Thanh tại Công ty Xây lắp và Kinh doanh nhà.

Đích nhắm của phe Quế Sơn là tống Nguyễn Bá Thanh vào nhà giam. Có lần, gây gổ trên sân tennis, Dũng “lửa” đã chỉ vào mặt Nguyễn Bá Thanh, nói “có ngày tao sẽ bắt mày!”

Nguyễn Bá Thanh cao tay, mua chuộc lính của Trần Văn Thanh, tiêu huỷ các bản cung, bút lục, liên quan đến ông ta. Uỷ viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Chi cũng ra tay giải cứu, nhờ đó Bá Thanh thoát nạn.

Cuộc tỉ thí lần này, phe Quế Sơn thua đau. Trần Văn Thanh mất chức giám đốc Công an, Dũng “lửa” về nghỉ hưu non.

Mặc dù thắng, nhưng Nguyễn Bá Thanh vẫn nuôi thù hận trong lòng. Mấy năm sau, ông ta dàn cảnh, Trần Văn Thanh phải sụp bẫy, thân bại danh liệt. Ngày Thanh “công an” ra toà trên cáng cứu thương, phe Quế Sơn thề sẽ tiêu diệt phe nhóm Hoà Vang.

Kể từ đó, Nguyễn Bá Thanh xem anh em Nguyễn Quốc Dũng – Nguyễn Xuân Phúc là kẻ thù “không đội trời chung”. Khi chỉnh trang đô thị ở quận 3, Nguyễn Bá Thanh cho mở đường đâm ra biển, cắt ngang bịt luôn đường Đặng Vũ Hỷ, nơi có nhà riêng của Dũng “lửa”, không cho thông ra đại lộ Phạm Văn Đồng. Ông ta cũng cấm không cho láng nhựa, vì vậy đường Đặng Vũ Hỷ mưa thì ngập, nắng thì cát bụi mịt mù.

Nguyễn Bá Thanh và Nguyễn Xuân Phúc như hai cọp dữ sống chung một rừng, không ai chịu thua ai. Khi ở miền Bắc, Thanh học đại học Nông Nghiệp 1, còn Phúc học đại học Kinh tế Quốc dân. Để hơn Phúc, Thanh rủ Vũ Ngọc Hoàng, (sau này là Phó Ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương khoá XI), cùng mua bằng Phó tiến sĩ.

Vợ Thanh là Lê Thị Quý, y tá tuyến quận. Vợ Phúc là Trần Nguyệt Thu, kế toán khách sạn Thu Bồn, TP Đà Nẵng. Thu trẻ và đẹp hơn Quý. Để vợ mình vượt lên, Thanh đưa Quý ra Huế học bác sĩ “chuyên tu”, sau về làm Phó giám đốc một bệnh viện.

Khi vợ chồng Phúc mua được căn nhà mặt tiền số 58 Nguyễn Thị Minh Khai, rộng khoảng 100 m2, Thanh cũng không chịu thua kém, nhanh chóng thâu tóm công sản đối diện nhà Phúc, số 83 Nguyễn Thị Minh Khai, vốn là công ty quốc doanh, mặt tiền rộng khoảng ba chục mét, gấp năm lần nhà Phúc. Thanh ở trên biệt phủ 189 Cách Mạng Tháng 8, còn căn nhà 83 Nguyễn Thị Minh Khai, Thanh cho Công ty Du lịch Việt Nam thuê.

Năm 2006, cả hai trúng Uỷ viên Trung ương khoá X. Nguyễn Xuân Phúc làm bộ trưởng chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Nguyễn Bá Thanh vẫn trụ lại, nắm chức Bí thư Đà Nẵng.

Năm 2011, Phúc lọt vào Bộ Chính trị khoá XI. Thanh là ứng viên Bộ Chính trị, nhưng bị “knock out”. Phúc làm Phó Thủ tướng, Thanh vẫn ngồi ghế Bí thư Đà Nẵng. Lòng Thanh đầy hằn học, đố kỵ, không thèm nhìn mặt Phúc, nói chi tới chuyện chúc mừng.

Trong Lễ hội văn hoá “Quảng Nam, hành trình di sản” được tổ chức tại Hội An, Nguyễn Bá Thanh làm bẽ mặt Nguyễn Xuân Phúc trước khá đông quan chức Trung ương và địa phương, khi yêu cầu Ban Tổ chức dời bản tên ông ta đi chỗ khác, không muốn ngồi gần ông Phúc.

Nguyễn Bá Thanh và Nguyễn Xuân Phúc tại lễ cắt băng khánh thành cầu Rồng và cầu Trần Thị Lý 10 năm trước. Ảnh: Kênh 14

Tháng 1-2013, Bá Thanh được phe Trọng – Sang kéo ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương đảng, nhằm đấu với Nguyễn Tấn Dũng.

Thanh vừa nhận quyết định, thì Nguyễn Xuân Phúc cho Thanh tra Chính phủ công bố kết luận thanh tra đất đai tại Đà Nẵng. Theo Kết luận Thanh tra, giai đoạn 2003 đến 2011, lãnh đạo Đà Nẵng đã làm thất thoát 3.434 tỷ đồng.

Biết Phúc chính thức nổ súng tấn công, Thanh phản ứng ra mặt. Trả lời báo chí, Thanh khẳng định,những kết luận sai phạm về quản lý đất đai gây thất thoát nguồn ngân sách nhà nước của Thanh tra Chính phủ là không có cơ sở, thiếu tính thuyết phục và không đi sát với thực tế”.

Được Nguyễn Phú Trọng bảo kê, dàn xếp, vụ 3.434 tỷ tạm xếp lại, chính phủ không nhắc đến nữa. Tuy vậy, ảnh hưởng vụ này làm Thanh rớt Uỷ viên Bộ Chính trị trong đợt bầu bổ sung hồi tháng 5-2013 tại hội nghị trung ương 7, khoá XI. Rất cay cú và điên tiết, Thanh chỉ biết nuôi hận, chờ ngày phục thù.

Vinh quang và cay đắng

Năm 2014, Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc phóng xạ, y học Hoa Kỳ cũng “bó tay”, không chữa trị được. Trang Chân Dung Quyền Lực tung tin, cho rằng Nguyễn Xuân Phúc chủ mưu. Nhưng nhiều nguồn khác cho biết, thủ phạm là những đồng đảng làm ăn chung với Thanh, ra tay diệt Thanh để chiếm đoạt hàng ngàn tỷ.

Sau khi Thanh chết, năm 2015, Phúc chỉ đạo điều tra Đà Nẵng toàn diện. Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Đà Nẵng, con trai ông Nguyễn Văn Chi bị lột bỏ tất cả các chức vụ, bị đuổi ra khỏi Trung ương. Vũ “nhôm”, đệ tử ruột của Nguyễn Bá Thanh đào tẩu và bị dẫn độ về nước. Hàng loạt quan chức Đà Nẵng bị ném vào tù. Nguyễn Bá Cảnh, con trai Thanh, cũng bị loại ra khỏi hệ thống chính trị, phải chạy sang Singapore sống.

Cuộc thư hùng kéo dài từ năm 2013 đến 2018 này, chỉ một mình Nguyễn Xuân Phúc đại diện cho phe Quế Sơn, đã đánh tan nát cả đội quân đảng viên lãnh đạo của phe Hoà Vang, mà Nguyễn Bá Thanh gầy dựng suốt 20 năm.

Thanh giã biệt nhân gian vào thứ 6, ngày 13-2-2015, tức 25 tháng Chạp năm Giáp Ngọ.

Điều lạ kỳ, không tin nổi nhưng có thật, Nguyễn Xuân Phúc bị buộc phải giã biệt đỉnh cao quyền lực vào ngày 17-1-2022, tức 26 tháng Chạp, năm Nhâm Dần, sau khi bị buộc thôi các chức vụ tối cao trong đảng.

Đối với dân Hoà Vang, Thanh tuy chết nhưng vẫn “sống” trong lòng họ. Còn với dân Quế Sơn, Phúc tuy còn sống sờ sờ ra đó, nhưng mọi thứ xem như đã “chết lâm sàng”.

Hàng ngàn người hâm mộ tiễn đưa Nguyễn Bá Thanh. Nguồn: Báo Thanh Niên Vài người bạn thân đón Nguyễn Xuân Phúc trở về. Nguồn: CTV Tiếng Dân

Vài người bạn thân đón Nguyễn Xuân Phúc trở về. Nguồn: CTV Tiếng Dân

Nhiều lý do khiến Phúc bị văng ra khỏi chính trường, trong đó có những điều ít người chú ý:

– Trần Cẩm Tú, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, là người được Nguyễn Văn Chi đỡ đầu vào Uỷ viên Trung ương khoá XI, giữ chức Phó chủ nhiệm UBKT Trung ương vào tháng 1-2011.

– Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính Trung ương, từng là cấp phó cho Nguyễn Bá Thanh hai năm, từ năm 2013 đến 2015.

– Vương Đình Huệ, Chủ tịch Quốc hội, người cùng Thanh được Nguyễn Phú Trọng bảo kê ngồi ghế Trưởng ban Kinh tế và Ban Nội chính vừa tái lập lúc đó. Năm 2013, Huệ cùng với Thanh từng bị phe Dũng – Phúc cho “out” trong cuộc đua vào Bộ Chính trị.

Ba nhân vật nêu trên ít nhiều ân nghĩa, có mối thân hữu với Nguyễn Bá Thanh và phe Hòa Vang. Cả ba cũng là những người yêu cầu “anh Phúc nên nghỉ đi” trong cuộc họp Bộ Chính trị kiểm điểm Nguyễn Xuân Phúc.

Còn Nguyễn Phú Trọng, dĩ nhiên luôn tin tưởng và dành tình cảm cho Nguyễn Bá Thanh, dù Thanh là “trùm tham nhũng”, với quá nhiều tai tiếng. Cho nên không quá khó hiểu vì sao Trương Tấn Sang tránh mặt, không muốn gặp Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 11-1-2023, khi Phúc vào thành Hồ, đến Bình Dương chúc Tết các cựu nguyên thủ, ông Sang đưa phu nhân ra Bắc hành hương Hà Tĩnh, Nghệ An, Hưng Yên vào ngày 10-1-2023.

Hậu trường chính trị của đảng CSVN luôn phức tạp, đầy rẫy thủ đoạn nham hiểm. Những “anh hai Nam Bộ” còn chịu không nổi các “tay kiếm Bắc Hà”, thì người xứ Quảng chân chất, quê mùa như Nguyễn Xuân Phúc, đi từ đỉnh cao vinh quang đến vực thẳm cay đắng là điều không tránh khỏi.

Cộng Sản = Tham Bạo