Nguyễn Bá Thanh và những vụ bức tử, “giết người diệt khẩu” kinh hoàng ở Đà Nẵng (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Mai Hoa Kiếm

4-12-2022

Tiếp theo phần 1

Xuất gia, đạo và đời

Sư thầy Thích Pháp Vân tên thật là Đỗ Vân, sinh năm 1972, quê ở thôn Quang Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, trong một gia đình đông con, cùng cực và đói nghèo. Đỗ Vân là con áp út, dưới Vân còn có một em gái.

Vốn hiếu thảo, học giỏi, nhưng “chọn đường tu, mong sao đủ công đức cho kiếp sau cha mẹ, anh em dòng họ bớt khổ”, như sư tâm sự của thầy.

Năm 1982, Đỗ Vân được Hoà thượng Thích Huệ Hướng (1940-1995) trù trì chùa Quán Thế Âm, dưới chân ngọn núi Kim Sơn, thu nạp đệ tử, đặt cho pháp danh Pháp Vân, cùng đồng môn: Pháp Như, Pháp Châu, Pháp Bửu, Pháp Chiếu…

Năm 1990, thể theo nguyện vọng các đồ đệ trưởng thành, Hoà thượng Thích Huệ Hướng khuyến khích đệ tử cứ tự lập tịnh thất để phát triển đạo pháp. Pháp Châu lập tịnh thất Huệ Quang tại ngọn núi Mộc Sơn (nay là chùa Huệ Quang). Pháp Bửu, Pháp Vân ở lại với thầy cho đến khi Hoà thượng lâm trọng bệnh và viên tịch vào năm Ất Hợi 1995.

Ảnh: Làng Quang Châu, quê của sư Pháp Vân. Nguồn: Tác giả gửi cho Tiếng Dân

Ảnh: Chùa Quán Thế Âm, nơi sư Pháp Vân tầm sư học đạo. Ảnh trên mạng

Sau đó mấy năm, khi nỗi nhớ, niềm thương sư phụ nguôi ngoai, sư Vân lên đỉnh Sơn Trà tìm nơi yên tĩnh, tịnh tâm, học đạo tu hành. Bãi Bụt, vùng đất bằng phẳng, hướng vọng về phía chùa Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn, vị trí này tương truyền có Phật Bà hiển linh, thường hiện ra trong sương mờ, là nơi sư Vân dừng chân, dựng một tịnh thất nho nhỏ. Tháng ngày trôi đi, nơi thâm sơn cùng cốc, sư làm bạn cùng chim muông, cây cỏ, cùng loài voọc chà vá chân nâu. Sư Vân sẽ bình yên gởi nốt phần đời còn lại nơi cửa Phật, nếu như không có một ngày…

Lửa thiêng gào thét

Năm 2004, sau khi đánh bại phe Trần Văn Thanh – Dũng “lửa”, thu tóm được hàng loại chức vụ, bí thư thành uỷ, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh chính thức trở thành ông trùm ở Đà Nẵng. Một mặt, Bá Thanh cho rà soát, thiết kế lại bộ máy công chức, cài cắm, đưa người của ông ta vào nắm hết công an và chính quyền.

Về tôn giáo, Bá Thanh cũng can thiệp, để đưa người tin cậy vào Hội đồng trị sự giáo hội Phật giáo thành phố, trong đó có thượng toạ Thích Thiện Nguyện (1946-2016), tức “thầy Nguyện”, trụ trì hai ngôi chùa Linh Ứng 1 ở Ngũ Hành Sơn và Linh Ứng 2 ở Bà Nà.

Mặc khác, Bá Thanh chỉ đạo cho ồ ạt “chỉnh trang đô thị”, thẳng tay đàn áp, cưỡng chế thu hồi đất, móc nối chia chác dự án, phân lô bán nền. Hàng ngàn đại gia, doanh nghiệp, “ông lớn” bất động sản từ TPHCM và Hà Nội đổ về Đà Nẵng để xí phần. Dân oan bị những kẻ nhân danh đảng và nhà nước cướp đất, mất nhà, kêu khóc như xé nát trời xanh.

Từ sau vụ án Phạm Minh Thông, Nguyễn Bá Thanh cảnh giác rất cao. Ông ta không trực tiếp nhận tiền chung chi, hối lộ, mà thông qua thư ký, tay chân như Phan Văn Tâm, Vũ “nhôm” và vài nhân vật tin cẩn khác. Thậm chí, doanh nhân đến nhà chơi, hầu chuyện dịp Tết, Bá Thanh cũng buộc họ cởi bỏ veston, áo khoác, để điện thoại bên ngoài, nhằm tránh bị ghi âm, ghi hình.

Để lấy được dự án, được giao đất, được bất động sản, công sản với giá bèo bọt, doanh nghiệp phải hối lộ cho Bá Thanh khoản tiền từ 8-10% giá trị lô đất, giá công sản, tùy vị trí. Tiền có được, một phần ông ta chung chi cho các “đại ca” trung ương, phần còn lại thì bỏ túi. Về sau, thấy việc lấy tiền qua các “đầu sai” dễ bị lộ, nên Bá Thanh nghĩ ngay đến việc rửa tiền qua chùa.

Bá Thanh cho phép thầy Nguyện chọn bất kỳ địa điểm nào mà thầy muốn, để xây chùa Linh Ứng 3, ông ta cũng giúp “giải phóng mặt bằng”. Thoả thuận “tội lỗi” được Bá Thanh đề nghị, tiền của thập phương cúng dường công đức xây chùa, thì thầy Nguyện lấy, còn tiền doanh nghiệp, công ty “ủng hộ xây chùa” sẽ là của Bá Thanh. Mỗi tuần, hai bên đối chiếu, chia tiền qua biên lai, sổ sách.

Thầy Nguyện muốn xây được chùa to, hoành tráng để đời, nên tất tật phải chấp nhận, nghe theo mọi yêu cầu Bá Thanh đưa ra. Bù lại, Bá Thanh hứa sẽ trích thêm chút tiền cho thầy Nguyện xây Linh Ứng 3 và đưa thầy lên đỉnh cao quyền lực trong hệ thống Phật giáo thành phố.

Chùa Linh Ứng 3, sau này có tên Linh Ứng Bãi Bụt, được thầy Nguyện chọn ngay địa điểm gần sư Vân thiền tu. Bá Thanh cấp ngay gần 20 hecta đất, lấy trùm luôn tịnh thất nhỏ bé của sư Vân. Chùa được khởi công ngày 4-7-2004 và khánh thành ngày 30-7-2010. Ròng rã suốt 6 năm, số tiền ước đoán lên đến hàng ngàn tỷ đồng hối lộ, núp dưới mác “ủng hộ xây chùa”, đã chảy vào túi Bá Thanh.

Chùa Linh Ứng Bãi Bụt. Ảnh trên mạng

Một số hình ảnh Nguyễn Bá Thanh trong ngày khánh thành chùa Linh Ứng – Bãi Bụt. Nguồn: Báo Giác Ngộ

Về phần sư Vân, được biết, sư không hề oán trách hay tranh giành đất đai gì với thầy Nguyện. Bởi lẽ, đất của “nhà nước quản lý”, tịnh thất nép mình sau đại tam bảo cũng là kính Phật, thầy Nguyện cũng là bạn thân với cố hoà thượng Thích Huệ Hướng và cũng là người sư Vân luôn kính trọng và ngưỡng mộ, lúc rỗi sư Vân thường sang bên thầy Nguyện đàm đạo. Thầy đâu biết rằng, những tháng ngày bình yên, tĩnh lặng mà thầy đang tu tập nơi núi cao, sắp chấm dứt.

Một buổi trưa đầu tháng 8-2008, sư Vân sang thăm thầy Nguyện như thường lệ. Cửa chính không đóng, sư Vân sững người lại khi nhìn thấy ông trùm Nguyễn Bá Thanh và thầy Nguyện đang kiểm đếm tiền, lấy từ các két sắt để chia nhau. Sư Vân không tin vào mắt mình, khi thấy toàn những xấp Mỹ kim dày cộm và những cây tiền đồng Việt Nam nguyên đai, nguyên kiện còn dấu niêm phong của ngân hàng. Quan ngại lẫn kinh sợ, sư Vân xin phép cáo từ, quay lui.

Sư Vân đi rồi, Bá Thanh chau mày nói với thầy Nguyện: “Thầy tính răng (sao) thì tính, chứ phải xử nó thôi”. Một tuần sau, thầy Nguyện cùng bộ phận hậu cần, quản viện bên chùa Linh Ứng 3, hô hoán, bị kẻ trộm lẻn vào lấy đi số tiền 50 triệu đồng. Rất nhanh, công an Đà Nẵng vào cuộc điều tra. Giám đốc CA Phan Xuân Sang, cùng các phó giám đốc như Thái Công Sỹ, Lâm Cao Luynh, Nguyễn Đình Chính đều thay nhau chỉ đạo rốt ráo. Người ta tìm thấy bọc tiền đúng 50 triệu được giấu trong chậu hoa trong khuôn viên tịnh thất của sư Vân.

Cơ quan điều tra liên tục triệu tập sư Vân để lấy cung, nhưng sư có biết gì đâu để khai báo. Không một ai đứng ra biện bạch, giải oan, ngược lại mọi con mắt hồ đồ đều ném cái nhìn đầy nghi kỵ về phía sư Vân. Cuối cùng, sư Vân cũng nhận được đề nghị lựa chọn từ điều tra viên. Một là sư Vân phải vĩnh viễn rời khỏi tịnh thất, ra đi thật xa; hai là sư sẽ bị khởi tố, tội danh “trộm cắp tài sản”.

Đớn đau cả về nhục thể lẫn tinh thần, nước mắt nhà sư uất nghẹn như hoà trong mây ngàn, gió núi…

Biết trước sau gì Bá Thanh cũng sẽ mượn bàn tay công an côn đồ hoặc

xã hội đen giết mình, nên sư Vân đã ghi âm toàn bộ sự thật câu chuyện, cùng đôi lời trăng trối vào điện thoại di động, rồi chuyển về cho gia đình.

Để giữ sự sáng trong, đạo hạnh suốt 25 năm của bậc chân tu nương nhờ cửa Phật, sư Vân đành phải hoá thân.

Lúc 9h sáng, ngày 15-8-2008, tức ngày 15-7 năm Mậu Tý, khi bình minh chưa tan hết những giọt sương mai, sư Vân rời tịnh thất, xuống khúc quanh cung đường dẫn lên chùa Linh Ứng 3, rồi tưới xăng châm lửa tự thiêu. Ngọn lửa bao trùm xác thân vị sư thầy vô tội, khói đen cuộn lên như dấu hỏi to ngáng giữa lưng trời.

Dân chài vùng Thọ Quang gần đó cho biết, công an phong toả tất cả các ngã đường lên xuống chùa. Không có ai dập lửa cho đến khi có tiếng sét đùng đùng nổ giữa trời quang. Có lẽ trời Phật cũng khóc thương cho thân phận cô đơn, oan khốc của bậc tu hành, nên giáng mưa giông bất ngờ, làm tắt ngọn lửa sắp tàn.

Công an Đà Nẵng xoá sạch hiện trường trong buổi sáng. Thi thể sư Vân được bàn giao cho gia đình đưa về quê mai táng. Truyền thông của đảng cấm đưa bất kỳ thông tin nào, vì vậy ngày đó, kể cả người dân Đà Nẵng, cũng không nhiều người biết sự việc.

Khúc quanh, địa điểm nơi sư Vân tự thiêu. Nguồn: Tác giả gửi tới Tiếng Dân

Tiếc thương bậc chân tu, khổ hạnh, nguyện duyên bạc mệnh, dân trong vùng lập một am nhỏ ngay vị trí sư tự thiêu, để nhang khói tưởng niệm. Người ta cho rằng, lửa thiêng gào thét đưa sư Vân hoá thân về cõi Phật tại Bãi Bụt năm ấy, như hồi chuông mong mỏi thức tỉnh lương tri những kẻ tham lam, gian ác, vô minh.

Mấy năm sau đó, luật pháp chưa đụng đến, nhưng luật trời đã ra tay. Những “đại quan” cai trị sở tại, từng dính líu đến oan án sư Vân, cũng lần lượt quy hồn địa phủ khi còn đương chức, nắm quyền sinh sát trong tay.

Thiếu tướng Phan Xuân Sang, giám đốc CA Đà Nẵng, bị ung thư gan, chết hồi tháng 1-2011, hưởng dương 59 tuổi.

Các cấp phó của Phan Xuân Sang cũng chịu chung số phận:

– Đại tá Lâm Cao Luynh, bị ung thư não, chết tháng 8-2015, hưởng dương 55 tuổi.

– Đại tá Thái Công Sỹ, bị ung thư vòm họng, nằm trên giường bệnh suốt 8 năm rồi đứt bóng vào tháng 9-2016, ở tuổi 61.

Riêng Nguyễn Bá Thanh được cho là bị đầu độc phóng xạ (ARS). Sau ba lần hoá trị không thành công, người co quắp, đen sì như bị hỏa thiêu rồi chết trong trong đau đớn hồi tháng 2-2015, khi gần tới tuổi 62.

Riêng cá nhân thầy Nguyện, đang khoẻ mạnh bỗng dưng phát bệnh, bệnh viện Đà Nẵng không chữa trị được. Dù đưa vào bệnh viện Việt-Pháp rồi bệnh viện 115 TPHCM, nhưng các bác sĩ hàng đầu vẫn bó tay.

Tháng 9-2016, hòa thượng Thích Thiện Nguyện, chức vụ Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo TP Đà Nẵng; Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Đà Nẵng; đại biểu HĐND TP khoá VII, VIII; Trụ trì chùa Linh Ứng 1,2,3 Đà Nẵng, trút hơi thở cuối cùng.

***

Dưới bàn tay của Nguyễn Bá Thanh, còn rất nhiều vụ án kinh người, mà trong khuôn khổ bài này không thể kể hết.

Vụ huy động cả ngàn công an Đà Nẵng đàn áp đẫm máu Giáo xứ Cồn Dầu vào ngày 4-5-2010, bắt nhiều người, đánh dập não đến chết giáo dân Nguyễn Thành Năm vào ngày 3-7- 2010, sau đó loan tin rằng ông Năm “bị đột quỵ” mà nhiều người đã biết.

Hay vụ kỹ sư Phạm Thanh Sơn, đến trụ sở UBND TP để khiếu kiện về việc cưỡng chế thu hồi đất, bị công an bảo vệ tại đây đánh chết, quẳng ra đường Bạch Đằng tưới xăng đốt xác phi tang, rồi rêu rao đó là vụ tai nạn giao thông lúc 12h30 trưa ngày 17-2-2011. Sau, truyền thông của đảng lại đưa tin, kỹ sư Sơn “bị bệnh tâm thần nên tự thiêu”.

Đó chỉ là hai trong số hàng trăm vụ oan án, dân bị cướp đất, bị đánh chết nếu khiếu kiện kéo dài.

Hai năm sau ngày Bá Thanh chết, Ban thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng chỉ đạo làm hồ sơ, đề nghị nhà nước truy phong cho ông ta danh hiệu “Anh hùng lao động” và đề nghị được lấy tên đặt cho một con đường.

Dư luận xã hội mỉa mai, kẻ sẵn sàng thủ tiêu đối thủ chính trị, bức tử cả người xuất gia tu hành, nấu cao hổ và nghiện món thịt chó như Bá Thanh, lại được xưng thánh và truy phong anh hùng, thì Lê Thanh Hải, tức Hai Nhựt ở Sài Gòn, phải được gọi là “đại thánh” và phong tặng “đại anh hùng”.

Còn dân nghèo bị cưỡng chế cướp đất, khi họ lên tiếng bảo vệ tài sản của mình thì bị quy chụp “phản động”, bị đánh đập dã man đến chết, là chuyện không hề hiếm tại xứ “thiên đường XHCN” dưới chế độ cộng sản.

Điều kỳ lạ là, dù cướp cạn của dân, bán hết tài nguyên lẫn công sản Đà Nẵng để rồi mở vài tuyến phố, xây dăm ba cây cầu, “hung thần” Nguyễn Bá Thanh lại được đồng đảng tôn vinh như thánh. Chừng đó thôi đủ để thấy chế độc độc tài tàn bạo khát máu, nhưng luôn dùng đủ ngón nghề, thủ đoạn xảo trá, mị dân, lừa đảo, bịp bợm, gây ra muôn vàn tội ác cho dân. Nhưng tất cả bọn chúng đều không thoát khỏi lưới trời!

Nguyễn Bá Thanh và những vụ bức tử, “giết người diệt khẩu” kinh hoàng ở Đà Nẵng (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Mai Hoa Kiếm

4-12-2022

Thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, trở thành thành phố trực thuộc trung ương từ tháng 1-1997. Kể từ đây, những cuộc quyết đấu tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm chính trị địa phương, gay gắt và kinh hoàng hơn bao giờ hết. Nguyễn Bá Thanh, một trong những hung thần khét tiếng, giờ đây đã mồ yên mả đẹp, nhưng dư âm về ông ta mãi là nỗi ám ảnh kinh hoàng…

Thủ tiêu Viện trưởng Viện Kiểm sát Phúc thẩm Tối cao 2

Nguyễn Văn Tùng sinh năm 1942, quê Nghệ An. Năm 1998, khi đang là Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát xét xử hình sự, thuộc VKS Tối cao, ông được chuyển về làm Viện trưởng VKS Phúc thẩm tại Đà Nẵng (còn gọi là Viện Phúc thẩm 2) phụ trách địa bàn từ Quảng Trị đến Khánh Hoà và các tỉnh Tây Nguyên. Nhận nhiệm sở mới, ông đưa cả vợ con vào Đà Nẵng sống. Nguyễn Văn Tùng là mẫu người cộng sản liêm chính còn sót lại của thời bao cấp, là cán bộ có năng lực, điềm đạm và khiêm tốn.

Ngày 4-6-2000, tin từ Viện Phúc thẩm 2 báo về VKS Tối cao, ông Tùng mất tích, không đến nhiệm sở, không liên lạc được. Sự việc chấn động, người của Vụ Tổ chức cán bộ VKS Tối cao bay gấp vào Đà Nẵng. C16 của Bộ Công an cũng vào cuộc. Thông tin từ cơ quan và người nhà dần hé lộ, diễn biến vụ án mất tích thật đáng ngờ…

Ngày ngày 30-5-2000, ông Tùng có lịch cùng vợ ra Hà Nội bằng máy bay. Sáng hôm đó, ông trực tiếp cầm CMND để đi mua vé và không thấy trở về. Xác minh tại Vietnam Airlines, thì trong danh sách hành khách các chuyến bay đi từ Đà Nẵng đến Hà Nội từ ngày 30-5 đến 1-6-2000, không tìm thấy tên ông Nguyễn Văn Tùng. Như vậy ông Tùng không hề bay ra Hà Nội, vậy ông đi đâu?

Trong khi đó, tại Thị xã Hội An (nay là TP Hội An) cách Đà Nẵng hơn 30km, buổi chiều ngày 31-5-2022, anh Trần Văn Tuấn sinh 1973, trú tại thôn Phước Trạch, xã Cẩm An, thị xã Hội An, đi thể dục và phát hiện ra tư trang của ông Tùng tại bãi tắm biển Cửa Đại, gần khách sạn Victoria. Tư trang gồm: đôi dép, một mũ lưỡi trai, một cặp da màu đen và chiếc áo mưa. Cách đó 200 mét, trên rừng dương liễu ven biển, phát hiện xe máy của ông Tùng, hiệu Custom màu xanh, biển số 29-846 K9.

Ảnh: Khu vực Victoria Hotel Cửa Đại, Hội An, nơi có hiện trường giả năm 2000. Nguồn: Tác giả gửi TD

Vụ mất tích của một Viện trưởng VKS đã dấy lên nhiều đồn đoán và dư luận xôn xao tại Việt Nam. Người ta thêu dệt, cho rằng ông tự sát, bị thủ tiêu hoặc tạo hiện trường giả để vượt biên trốn sang nước ngoài.

Cô Nguyễn Thu Trang, con gái ông Tùng, cho biết, gia đình cô rất hạnh phúc. Bố Tùng không việc gì phải đào tẩu hoặc tự vẫn.  Ngoài ra, trong quan hệ xã hội, công việc cũng không thấy bố Tùng than vãn gì về việc căng thẳng và ông cũng chưa từng gây thù, chuốc oán với ai.

Vụ án ông Nguyễn Văn Tùng, Viện trưởng VKS Phúc thẩm 2 mất tích được khởi tố điều tra. Có điều, cơ quan thụ lý là Công an tỉnh Quảng Nam, chứ không phải Công an Đà Nẵng, trong khi mọi diễn biến trước ngày ông Tùng mất tích, đều xảy ra trên địa bàn Đà Nẵng. Cơ quan điều tra đưa ra nhận định ban đầu, hiện trường trên bờ biển xã Cẩm An, Hội An, nơi phát hiện vật dụng của ông Nguyễn Văn Tùng, có khả năng chỉ là một cách đánh lạc hướng cơ quan điều tra.

Nhưng ai đã giết ông Tùng, tạo hiện trường giả đánh lừa cơ quan chức năng? Vì sao kẻ chủ mưu thủ tiêu ông Viện trưởng và xác ông Tùng hiện ở đâu?

Tất cả các câu hỏi đều đi vào ngõ cụt. Cơ quan Công an Quảng Nam im hơi lặng tiếng, không công bố bất kỳ tin tức gì. Báo chí quốc doanh cũng không có dòng nào lần theo dấu vết điều tra.

Một tháng sau, tức đầu tháng 7-2000, một xác chết được phát hiện, nổi trên vùng biển Quảng Ninh, khuôn mặt đã phân huỷ, quần áo nguyên vẹn, trong túi áo có CMND mang tên Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1942, quê Nghệ An. Thật bí ẩn, ly kỳ, khi mà người chết trôi ngược gần 1000 km, từ biển Hội An, Quảng Nam ra đến biển Quảng Ninh và quần áo còn nguyên trên người.

Không tìm ra hung thủ, Cơ quan điều tra CA Quảng Nam vĩnh viễn đóng lại hồ sơ vụ ông Nguyễn Văn Tùng mất tích bí ẩn.

Trong khi đó, dư luận ở Đà Nẵng và Quảng Nam, kể cả trong và ngoài ngành công an, lại rò rỉ nhiều thông tin đáng sợ đến ghê người.

Trước khi ông Tùng đi lấy vé máy bay, ông nhận được cuộc gọi hẹn gặp gấp. Đầu dây bên kia chắc chắn là người có thế lực, có thể liên quan hoạt động nội chính, tư pháp. Do đó, khi lên xe máy, ông Tùng đem theo cả cặp da đựng hồ sơ quan trọng. Tin nội bộ cho biết, ông Tùng có đầy đủ tài liệu vụ án Cầu Sông Hàn và Phạm Minh Thông đang gây xôn xao cả nước.

Vào ngày 29-3-2000, Cơ quan điều tra Công an TP Đà Nẵng bắt khẩn cấp Phạm Minh Thông, sinh năm 1938, quê Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam. Lúc đó, Thông là giám đốc Công ty hợp doanh Xây lắp và kinh doanh nhà Quảng Nam – Đà Nẵng. Trong các bản cung, Thông khai đã đưa hối lộ cho Nguyễn Bá Thanh, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhiều lần, số tiền xấp xỉ 4-5 tỷ đồng, theo yêu cầu chia phần trăm từ Nguyễn Bá Thanh.

Viện Phúc thẩm 2 nhận được các báo cáo từ VKS TP Đà Nẵng. Ông Tùng được cho là sẽ đi Hà Nội, xin lệnh bắt Nguyễn Bá Thanh, nhưng đã muộn…

Ông Nguyễn Bá Thanh (phải) tặng hoa cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc CA TP Đà Nẵng.

Ảnh: PLTP Ông Phạm Minh Thông, bị cáo vụ án Cầu sông Hàn. Nguồn: AS&CS

Những người theo dõi sự kiện này có chung nhận định rằng, sát thủ đã giết ông Tùng buổi sáng, xe máy cùng tư trang ông Tùng được chuyển đến Hội An vào tối 30-5-2000 để dựng hiện trường giả, trong đó chiếc cặp da trống rỗng. Xác ông Tùng được các thủ phạm nguỵ trang thành hàng hoá, gởi kho ướp đông. Gần một tháng sau, chúng lại đưa lên xe thùng chuyên chở hàng thuỷ sản đông lạnh, vận chuyển ra Quảng Ninh và ném xuống biển.

Vụ án ông Nguyễn Văn Tùng mất tích bế tắc, không lâu sau đó, đại tá Trần Văn Thanh, nhân vật đối đầu trong “Chuyện song Thanh tại Đà Nẵng” bị mất chức giám đốc Sở Công an và bị điều về Bộ Công an. Sau cái chết của ông Tùng, lo sợ đến lượt mình, ông Trần Văn Thanh nhanh chóng bán nhà tại Đà Nẵng, đưa cả vợ con ra Hà Nội…

Ông Nguyễn Quốc Dũng, tức Dũng “lửa”, Viện trưởng VKS Đà Nẵng, anh ruột ông Nguyễn Xuân Phúc, cũng nghỉ hưu sớm.

Đã hơn hai mươi năm trôi qua, các cơ quan nội chính của nhà nước cộng sản cố xoá đi tài liệu về vụ án. Tuy vậy, cái chết của ông Nguyễn Văn Tùng đến nay vẫn còn tranh cãi âm ỉ, nhức nhối trong hàng ngũ cán bộ CA và cả VKS Tối cao.

Vì sao một Viện trưởng VKS đầy quyền lực, bị giết hại giữa thanh thiên bạch nhật, mà cả hệ thống chính trị của đảng phải bó tay, hung thủ thì vẫn nhởn nhơ, thách thức pháp luật?

Đập chết “Anh hùng Lực lượng Vũ trang”

Đỗ Văn Quả, sinh năm 1948, quê làng Ô Gia Nam, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tuy sống miền quê thanh bình, nhưng tuổi thơ của Quả cực kỳ dữ dội. Đỗ Văn Quả bị xúi giục, lôi kéo đi làm giao liên cho Việt Cộng từ năm 15 tuổi. Lớn hơn một chút, được huấn luyện thành sát thủ, Quả tham gia đội vũ trang An ninh Quảng Đà và lập nhiều công trạng.

“Chiến công” lớn nhất của Quả phải kể đến là, ông ta đã giết rất nhiều đồng hương xứ Quảng, kể cả những người là bà con họ hàng, chỉ vì họ bị Việt Cộng tình nghi có cộng tác, làm việc hoặc có thân nhân dính dáng đến chế độ VNCH. Phần thưởng mà Quả nhận được là danh hiệu “Anh hùng LLVT” mà chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tặng vào năm 1976. Sau này, Đỗ Văn Quả mang lon trung tá, Trưởng công an huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Thời bao cấp, khoảng năm 1988-1989 có Đặng Thanh Bình, sinh năm 1963, Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp II, Đại Nghĩa – Đại Lộc – Quảng Nam, câu kết với Nguyễn Bá Thanh, lúc này là Chủ nhiệm HTX Hòa Nhơn 3, Hòa Vang, TP Đà Nẵng, buôn lậu hàng chục tấn thóc giống của nhà nước. Đỗ Văn Quả trực tiếp chỉ đạo điều tra, phá án, nhưng rốt cuộc tội phạm vẫn lọt lưới, cao chạy xa bay, bởi tội phạm được bảo kê, thậm chí nhiều kẻ có thế lực trong tổ chức đảng không muốn làm to vụ này.

Chẳng những không bị pháp luật sờ gáy, bộ đôi Bá Thanh – Thanh Bình càng ngày càng “chui sâu, leo cao”. Năm 2007, khi đã là Uỷ viên Trung ương đảng, Bí thư thành uỷ Đà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh đưa Đặng Thanh Bình lên ghế Giám đốc Công ty Phát triển và khai thác Hạ tầng KCN Đà Nẵng. Cùng năm ấy, “cuộc chiến song Thanh” đã đến đỉnh điểm, tướng Trần Văn Thanh, Chánh thanh tra Bộ công an bị khởi tố điều tra, đình chỉ công tác.

Có thông tin cho hay, trung tá Đỗ Văn Quả tuyên bố muốn “lật lại hồ sơ vụ án” để giúp giải nguy cho tướng Trần Văn Thanh, người bạn, người đồng đội cùng chiến hào năm xưa ở Ban An ninh Quảng Đà. “Tai vách mạch rừng”, Đỗ Văn Quả, Trưởng công an huyện Đại Lộc chưa kịp làm gì thì đối phương đã ra tay trước.

Vợ ông Quả là bà Trương Thị Hạnh, sinh năm 1954, kể rằng, ông đi công tác, có kẻ mạo danh, gọi điện thoại báo tin khẩn, kêu ông Quả về nhà ngay vì vợ đang cấp cứu. Nửa đêm, đường quê nhá nhem, sát thủ giấu mặt từ bụi rậm nhảy ra, phang một nhát gỗ to vào gáy Quả. Người và xe máy ông trung tá bị bay xuống mương nước. Quả bị gãy cổ, dập não, đa chấn thương, chết không kịp trối một lời.

Những tài liệu mà trung tá Đỗ Văn Quả có, mọi bí mật mà ông biết rõ về Nguyễn Bá Thanh, đã vĩnh viễn mang theo ông xuống mồ. Rất nhiều cơ quan vào cuộc điều tra mà không có kết quả. Hoặc người ta biết, nhưng không dám làm. Vụ án khép lại, hung thủ biệt tăm.

Ai giết Đỗ Văn Quả? Cơ quan điều tra không trả lời được. Nhưng dân chúng rất nhạy, họ biết kẻ chủ mưu không ai khác ngoài “hung thần” Nguyễn Bá Thanh và đám tay sai. Tuy nhiên, vì sợ đại hoạ vào thân, dân tình tụ tập đây đó chỉ dừng lại ở mức xầm xì, bàn tán.

Có bốn sĩ quan CA biết tường tận về những gì Nguyễn Bá Thanh nhúng tay. Đó là trung tướng Lê Ngọc Nam, cựu Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng BCA, giám đốc CA Đà Nẵng; đại tá Nguyễn Đình Chính, cựu Phó giám đốc CA, Chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát Đà Nẵng. Cả Nam và Chính đều cùng tuổi, đều là con liệt sĩ, học sinh miền Nam trên đất Bắc với Nguyễn Bá Thanh, cũng là hai “hung thần” khét tiếng tàn bạo tại Đà Nẵng. Hai nhân vật còn lại cũng hiểu rõ nội tình, đó là thượng tá Vũ “nhôm”, là người đang thụ án 30 năm tù giam và đại tá Hùng “CD”, một người bạn, được phong “anh hùng LLVT” cùng đợt với ông Quả vào năm 1976.

Chân dung Lê Ngọc Nam và Nguyễn Đình Chính 

Ảnh: Hùng “CD” và Vũ “nhôm”

Hùng “CD” tên thật là Nguyễn Thanh Hùng, sinh năm 1950, quê Quế Sơn, nhưng đầu quân dưới trướng Nguyễn Bá Thanh nên nhận bổng lộc đầy đủ. Hùng “CD” từng là Đội trưởng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, cấp bậc sau cùng là lon đại tá, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động CA Đà Nẵng. Ông ta nghỉ hưu năm 2011.

Sau mấy chục năm vơ vét đầy túi, Hùng “CD” đã kịp đưa hai cô con gái sang Mỹ du học, bỏ ra mấy triệu Mỹ kim để mua nhà ở Mỹ cho con bên đó. Hùng “CD” có ba vợ, có bốn cây xăng kinh doanh tại các vị trí đắc địa, cùng hàng chục căn nhà lầu đang cho thuê tại Đà Nẵng.

Vợ chồng Hùng “CD” có nhà riêng ở Ravensworth Virginia, Hoa Kỳ và đi về liên tục giữa Mỹ và Việt Nam mỗi năm vài lần.

Chúng tôi trở lại bốn nhân vật đồ đệ của Nguyễn Bá Thanh này vào một dịp khác.

(Còn nữa)

 Ðến cuối đời, có gì để tiếc?

Vũ Quí Hạo Nhiên

Một bài viết của một cô y tá người Úc dạy mình nhiều bài học về lẽ sống ở đời. Bài viết được truyền đi trên Internet, nhiều người bấm “like.”

Có một trang blog chỉ in lại bài này thôi mà cũng được tới 52,000 người bấm nút “like.”

Bài viết mang tựa đề “5 nỗi hối hận của người sắp qua đời,” cho thấy những điều người ta tiếc nuối khi biết mình sắp chết.

Tác giả Bronnie Ware là một nhạc sĩ sáng tác, từng là y tá chuyên điều trị người sắp chết. Ðây là những bệnh nhân biết mình không qua được, không muốn chữa trị nữa mà về nhà chờ ngày ra đi vĩnh viễn.

Trong những ngày đó, cô Ware tới chăm sóc họ, cho họ uống thuốc, và họ trò chuyện với cô.

Cô nói, “Họ trưởng thành rất nhiều khi họ phải đối mặt với cái chết của mình.” Khi cô hỏi họ có gì tiếc nuối không, một số câu trả lời cứ trở lại mãi. Dưới đây là 5 câu thường nghe nhất. Cô Ware hiện đã viết thêm thành một quyển sách mang tên “THE TOP FIVE REGRETS OF THE DYING,” nhà xuất bản Balboa Press, có bán trên Amazon.com.

  1. “Tôi ước gì tôi có đủ can đảm để sống cho mình, thay vì sống theo ước muốn của người khác.”

Ðây là điều tiếc nuối lớn nhất, cô Ware nói. Khi sắp qua đời, nhìn lại, người ta mới thấy mình có những điều ước chưa bao giờ thực hiện. Hầu hết mọi người còn chưa thực hiện được một nửa điều mình muốn và phải nhắm mắt ra đi biết rằng đó là do chọn lựa của mình. Cô Ware nói: “Ðiều quan trọng là thỉnh thoảng phải thực hiện vài điều mình ước mơ. Ðến lúc mình bệnh thì trễ mất rồi. Sức khỏe là điều kiện để thực hiện nhiều thứ, mất rồi thì quá trễ.”

  1. Tôi ước gì tôi đừng đi làm nhiều quá như vậy.”

Cô Ware nói gần như bệnh nhân phái nam nào cũng nói vậy. Các ông ấy do quá quan tâm việc làm, đã lỡ mất thời em bé hay thiếu niên của các con, lỡ mất tình bạn với người bạn đường. Phụ nữ cũng nuối tiếc như vậy nhưng ở thế hệ các bệnh nhân của cô Ware, số phụ nữ đi làm thường không nhiều. Còn đàn ông, thì “tất cả nuối tiếc đã phí đi quá nhiều phần của cuộc đời cho cuộc chạy đường trường vì sự nghiệp.”

  1. Tôi ước gì tôi có can đảm bày tỏ cảm xúc.”

Nhiều người cố nén cảm xúc để không bị đụng chạm. Kết quả là cuộc đời của họ bị đè nén. Có người còn vì thế mà bị bệnh.

  1. Tôi ước gì tôi giữ liên lạc được với bạn bè.”

Nhiều người không thực sự biết giá trị của tình bạn cũ cho tới những tuần cuối đời và nhiều khi không còn kịp tìm lại bạn cũ nữa. Ðời sống bận bịu, ai cũng có lúc bỏ bê bè bạn. Nhưng khi người ta biết mình sắp chết, người ta trước tiên hết lo sắp xếp vấn đề tài sản đâu ra đấy, nhưng nhiều khi họ muốn sắp xếp để giúp đỡ những người họ quan tâm. Rồi họ lại quá yếu, quá mệt, không làm được việc này. Ðến cuối đời, cái còn lại chỉ là bạn bè và người thân là quan trọng.

  1. Tôi ước gì tôi cho phép mình được hạnh phúc hơn.”

Ðiều đáng ngạc nhiên là rất nhiều người nói lên điều này. Nhiều người phải đến lúc gần ra đi mới thấy là hạnh phúc là một chọn lựa. Nhiều người cứ sống và làm theo thói quen, để quên đi mất mình có quyền thay đổi hết để tìm đến hạnh phúc. Ðến lúc nằm trên giường bệnh, nhiều người lúc đó mới thấy chuyện người khác nghĩ gì, chê bai gì, là chuyện không quan trọng gì hết. Họ chỉ muốn được vui, được cười, được hạnh phúc.

Nhớ một thời rực rỡ túc cầu VNCH

Báo Saigon nhỏ

Một sân bóng ở miền Nam trước 1975 (file photo)

Nhân mùa World Cup 2022, xin đọc lại vài hồi ức về túc cầu VNCH, qua những gì ghi chép của ông Nguyễn Ngọc Chính…

****

Hồi đó, nhóm học sinh nhà ở khu Địa dư, gần trường Lycée Yersin, có đội bóng hay nhất trong số các học sinh ở lại trường vào buổi trưa. Nhà tôi ở được xếp vào khu Địa dư dù cách đó hơi xa nhưng vẫn nằm trong khu Saint Benois hay còn gọi là Chi Lăng, gần trường Võ bị Đà Lạt. Chúng tôi đá bóng chân đất và sau mỗi trận đấu thường xuống hồ rửa ráy để chuẩn bị vào lớp buổi chiều. Sân bóng gần hồ rất tiện lợi cho việc tắm rửa nhưng cũng có điều bất lợi mỗi khi đá mạnh quá bóng có thể lăn theo triền dốc xuống hồ, mất công lội xuống nước để nhặt bóng.

Đá bóng là môn thể thao ưa thích của tôi ngay từ hồi còn nhỏ. Tôi thường chơi trong vai trò trung phong với những đường lừa bóng và sút bóng… có hạng. Tôi nhớ mãi đã có lần sút bóng mạnh đến nỗi thủ môn của phe đối phương phải chảy máu mũi vì bóng trúng mặt. Bản thân tôi lúc đó cũng thấy sợ phát khiếp. Điều lý thú là người giữ khung thành, Nguyễn Thanh Hà, sau này gia đình cũng chuyển qua Ban Mê Thuột học lớp Đệ Ngũ tại trường trung học Ban Mê Thuột. Hà về sau trở thành một cầu thủ có hạng còn tôi thì lại không còn chọn con đường đá bóng.

****

Ngày xưa, bóng đá được người Sài Gòn gọi nôm na là đá banh hay văn hoa hơn là túc cầu. VNCH thời 1966 đã từng đoạt cúp Merdeka của Malaysia, khi đó đội tuyển được đặt dưới sự dìu dắt của huấn luyện viên Weigang, người Đức. Đội hình ra sân có thủ môn Lâm Hồng Châu, hậu vệ gồm Phan Dương Cẩm (tự Hiển), Nguyễn Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lại Văn Ngôn, giữ vị trí tiền vệ có Đỗ Thới Vinh, Nguyễn Ngọc Thanh và hàng tiền đạo gồm Nguyễn Văn Ngôn, Nguyễn Văn Chiêu, Lê Văn Đức, Trần Chánh.

Trận chung kết giải Merdeka có khoảng 40,000 khán giả ngồi kín Sân Vận động Quốc gia với sự chủ tọa của Quốc vương Mã Lai và Thủ tướng Abdulraman. Đội tuyển VNCH ra sân trong màu áo vàng, quần trắng, vớ vàng, được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả Malaysia, nhất là tiền vệ Đỗ Thới Vinh, người dễ nhận ra nhất trong đội hình Việt Nam với cái đầu hói và những pha lừa bóng điệu nghệ cùng những cử chỉ pha trò có duyên của anh trên sân cỏ đã thu được cảm tình của khán giả và báo chí nước chủ nhà.

Với ý chí quyết tâm, toàn đội Việt Nam đã “ăn miếng trả miếng” trong trận chung kết với đội Miến Điện (ngày nay gọi là Myanmar) một cách xuất sắc. Tuy nhiên, hiệp một chấm dứt mà không bên nào mở được tỉ số. Sang đến hiệp hai, cơ hội bằng vàng đến với đội tuyển VNCH ở phút 72. Từ đường chuyền của thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang, nhà ảo thuật Đỗ Thới Vinh khéo léo dẫn banh qua hai cầu thủ Miến Điện, mở bóng xuống vừa đúng tầm để trung phong Nguyễn Văn Chiêu băng xuống.

Chiêu dùng ngực hứng bóng, xoay người, tung quả sút hiểm hóc từ xa 25 mét bằng chân trái, bóng đi như ánh chớp vào góc thượng của khung thành Miến Điện trước sự ngỡ ngàng của Đệ nhất Thủ môn Á Châu thời bấy giờ là Tin Tin An, mở tỷ số 1-0 cho Đội tuyển Việt Nam. Bàn thắng này cũng là tỷ số chung cuộc của trận đấu và là bàn thắng đáng giá ngàn vàng đưa đội tuyển VNCH lên ngôi Vô địch Giải Túc cầu Merdeka 1966 tại Mã Lai.

Trung phong Nguyễn Văn Chiêu và tiền vệ Đỗ Thới Vinh là đôi bạn thân thiết cùng chung màu áo từ đội Quan Thuế rồi khi vào quân ngũ cả hai đá cho Đội Tổng tham mưu. Giải ngũ, cả hai trở về đội Quan Thuế và cùng đá trong đội tuyển quốc gia. Cuộc đời hai anh gắn liền cả chục năm trời bên nhau trên sân cỏ.

Tại Giải Merdeka năm 1966, Vinh và Chiêu là hai người lập công trạng lớn nhất đem vinh quang về cho Việt Nam. Giờ đây, hai anh kẻ trước người sau ra đi trong âm thầm, thiếu vắng đồng đội tiễn đưa, không một lời ai điếu nhắc lại thời huy hoàng của trên sân cỏ.

Nguyễn Văn Chiêu đã vĩnh viễn ra đi năm 1987 tại Long Thành trong hoàn cảnh thương tâm, chỉ có người vợ cùng mấy người con khóc nghẹn trước thân xác lạnh lẽo của chồng và cha trong căn chòi lá nằm sâu trong một góc vắng của thị xã Long Thành. Đám tang anh vội vã, không kèn không trống. Mộ phần không tiền xây cất, đắp đất sơ sài.

Tiền vệ Đỗ Thới Vinh cũng mất tại Việt Nam năm 1995 vì bệnh tiểu đường. Anh là nhân vật tên tuổi trong giới túc cầu được nhiều người ái mộ từ trong nước ra tới hải ngoại nhưng anh cũng âm thầm ra đi trong hoàn cảnh đơn chiếc, túng thiếu.

Lão tướng Quách Hội, 73 tuổi, kể về chiếc Cúp Merdeka năm 1966 như sau:

“Năm 1995, một sáng tôi đi ngang một tiệm bán đồ lạc-xon trên đường Hải Thượng Lãn Ông, tình cờ tôi nhìn thấy, bày trong số đồ bán của tiệm, chiếc Cúp Vô Địch Giải Túc Cầu Merdeka mà Đội Tuyển Túc Cầu Việt Nam Cộng Hoà, trong đội có tôi, đoạt được năm 1966 tại Malaysia. Người chủ tiệm nói chắc giá 5 triệu đồng. Không có tiền, tôi đứng trước tiệm lạc-xon ấy từ sáng đến trưa với hi vọng có bạn đồng đội cũ nào đi ngang thì báo tin để kêu gọi anh em góp tiền mua lại chiếc Cúp. Chờ mãi không gặp được ai, tôi đi về mà nước mắt ứa ra vì tiếc cho kỷ vật ghi lại chiến tích một thời của anh em chúng tôi. Không biết giờ này chiếc Cúp Merdeka của anh em chúng tôi lưu lạc về đâu.”

Cũng phải nói thêm về thủ môn Phạm Văn Rạng một thời nổi tiếng với danh hiệu “Lưỡng thủ vạn năng” vẫn sống mãi trong ký ức của những người hâm mộ bóng đá thuộc lứa tuổi U-60 và U-70. Năm 1949, từ vai trò trung phong của trường Việt Nam Học đường, ông bất ngờ trở thành người giữ khung thành khi thủ môn chính thức không thể ra sân.

Năm 1951 Phạm Văn Rạng được đội Ngôi sao Bà Chiểu của ông bầu Võ Văn Ứng mời về giữ khung thành, rồi chỉ hai năm sau được chọn làm thủ môn cho đội tuyển Thanh Niên. Năm 1953 bị động viên, ông trở thành người trấn giữ khung thành cho đội Tổng Tham mưu. Cùng năm đó, ông được tuyển vào đội tuyển VNCH, khi mới 19 tuổi và khoác áo đội tuyển cho đến năm 1964 thì giải nghệ. Năm 1966, dù đã 31 tuổi, ông vẫn được mời vào đội tuyển Ngôi sao châu Á (All Stars Team of Asia), bởi vị trí thủ môn chưa có cầu thủ nào của châu Á có thể cạnh tranh được. Đội Ngôi sao châu Á do cựu danh thủ Lý Huệ Đường làm HLV trưởng, trợ lý HLV là ông Peter Velappan (hiện nay là Tổng Thư ký LĐBĐ châu Á).

Sau khi được các đồng đội như Tam Lang, Dương Văn Thà, Võ Thành Sơn, Tư Lê, Hồ Thanh Cang cùng nhiều người hâm mộ đã giúp đỡ xây dựng cho một ngôi nhà cấp 4 tại sân bóng Thuận Kiều, thủ môn huyền thoại Phạm Văn Rạng đã qua đời vào Tháng Mười Một 2008. Tôi còn nhớ, ngày xưa mỗi khi họp nhau đá bóng, bọn trẻ chúng tôi luôn luôn bàn cãi trong việc chọn lựa ai sẽ là… Gôn Rạng! Hai chữ Gôn Rạng đã đi vào đầu óc non trẻ của chúng tôi trong ngôn ngữ hàng ngày.

Danh thủ Tam Lang với cup vô địch Merdeka 1966 (file photo)

Tại sân vận động Cộng Hòa vào giữa Tháng Mười Hai 1967 có Giải Túc cầu Thân hữu Việt-Mỹ. Từ Mỹ sang là đội Dallas Tornado, họ đấu hai trận, trận thứ nhất gặp Hội tuyển Thanh niên ngày 14 Tháng Mười Hai 1967 và trận thứ nhì ngày 16 Tháng Mười Hai 1967 gặp Hội tuyển Sài Gòn. Trận gặp đội tuyển có tới 20,000 khán giả đến chật kín sân vận động và kết quả hai đội hòa nhau 1-1.

Đặc biệt vào thời xưa, trước các trận đấu chính luôn luôn có các trận mở màn để các đội bóng thanh thiếu niên hoặc lão tướng có dịp ra sân trình diễn trước khán giả. Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Tổng cục Túc cầu Việt Nam thời đó, một mặt khuyến khích các đội trẻ mặt khác phục vụ khán giả một cách tận tình bằng những “bữa tiệc” túc cầu có nhiều món khác nhau. Điều này, bóng đá sau năm 1975 không hề có.

Trở lại chuyện mê đá bóng của tôi hồi còn đi học. Túc cầu cũng mang lại cho tôi nhiều rắc rối. Đá bóng vào giờ nghỉ trưa thì không sao nhưng những trận đấu sau giờ học chiều mới có chuyện vì khi đó chắc chắn sẽ về nhà muộn. Tàn trận bóng mới bắt đầu lo vì đường từ trường Trần Hưng Đạo về đến khu Hòa Bình quá xa mà lại còn phải đi bộ. Đến bến xe đò đi Trại Hầm trước 6 giờ thì may còn kịp chuyến xe chót về nhà và nếu không còn xe thì đành cuốc bộ.

Như vậy, cuốc bộ suốt con đường từ trường về nhà, tròm trèm 6km, cũng mất độ gần hai tiếng. Về đến nhà còn phải nghĩ ra lý do để giải thích: Có việc đột xuất ở trường nên thầy giáo cho về trễ hoặc không hiểu sao xe đò lại nghỉ sớm, nhưng hoàn toàn không bao giờ có lý do… mê đá bóng.

Bây giờ tuổi đã già, niềm say mê bóng đá vẫn còn đó nhưng chỉ thể hiện qua việc xem bóng đá trên TV vào những ngày cuối tuần. Bóng đá Việt Nam vẫn chưa đi vào chuyên nghiệp, cầu thủ đa số là những người có chút ít kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo về văn hóa còn khán giả phần đông là những người trẻ, họ đến sân với một tinh thần “cay cú, ăn thua”. Những khán giả chân chính chỉ còn biết ngồi nhà xem TV để không phải “tai nghe, mắt thấy” những hành động thiếu văn hóa diễn ra trên sân cỏ!

(Trích Nguyễn Ngọc Chính, Hồi Ức Một Đời Người)

 

Vaclav Havel: Vì sao người bất đồng chính kiến bị coi là ‘phản động’ ở các nước XHCN?(BBC)

BBC

21 tháng 12 2021

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Vaclav Havel, một nhà viết kịch bất đồng chính kiến và là thành viên hàng đầu của Diễn đàn Công dân đối lập Tiệp Khắc, vẫy tay chào người dân, 29/12/1989 sau khi ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Tiệp Khắc.

Kỷ niệm ngày mất của cố tổng thống CH Czech Vaclav Havel (18/12/2011), BBC giới thiệu lại một phần tiểu luận của ông ‘Quyền lực của kẻ không quyền lực’, phần về khái niệm ‘bất đồng chính kiến’:

“Trong nhiều thập kỉ, lực lượng cai trị xã hội trong các nước thuộc khối Xô Viết đã dùng nhãn hiệu “đối lập” như là lời buộc tội ghê gớm nhất, đồng nghĩa với từ “kẻ thù”.

Dán cho ai đó cái nhãn “phần tử thuộc phe đối lập” cũng ngang với việc nói rằng anh ta, chị ta đang cố gắng lật đổ chính quyền và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội (tất nhiên được bọn đế quốc trả tiền). Có thời cái nhãn đó đưa người ta thẳng tới giá treo cổ, và tất nhiên, vì thế mà chẳng ai muốn dán lên mình cái nhãn ấy.

Hơn nữa, đấy chỉ là một từ, và việc làm bao giờ cũng quan trọng hơn là nhãn mác. Lí do cuối cùng làm cho nhiều người bác bỏ thuật ngữ đó vì khái niệm “đối lập” hàm chứa một cái gì đó có tính chất tiêu cực.

Những người tự coi mình là đối lập nghĩa là chống đối một quan điểm nào đó. Nói cách khác, họ đặt mình trong mối quan hệ đặc biệt với quyền lực đang cai trị xã hội, và qua đó mà định nghĩa mình, rút ra quan điểm của mình từ quan điểm của chính quyền.

Những người chỉ đơn giản là quyết định sống trong sự thật, nói mà không cần nhìn ngang nhìn ngửa, tỏ lòng đoàn kết với đồng bào của mình, sáng tạo theo ý mình, và chỉ đơn giản là sống hòa hợp với cái Tôi tốt đẹp nhất của mình, dĩ nhiên là sẽ cảm thấy khó chịu khi phải coi quan điểm độc đáo và có tính tích cực của mình là tiêu cực, theo một nghĩa nào đó và coi mình là đang chống lại một cái gì đó chứ không đơn giản là những người như họ vốn là.

Rõ ràng là chỉ có một cách duy nhất để tránh hiểu nhầm là nói rõ – trước khi người ta sử dụng – các thuật ngữ “đối lập” và “thành viên thuộc phe đối lập” đang được sử dụng có nghĩa là gì và trong hoàn cảnh của chúng ta, chúng thực sự có nghĩa là gì.

Nếu thuật ngữ “đối lập” đã được du nhập từ các xã hội dân chủ vào hệ thống hậu toàn trị mà thiếu sự thống nhất về việc từ này có nghĩa là gì trong những hoàn cảnh vốn rất khác nhau, thì ngược lại, thuật ngữ “bất đồng chính kiến” lại được các nhà báo phương Tây chọn và bây giờ được nhiều người coi là nhãn mác cho một hiện tượng đặc trưng cho hệ thống hậu toàn trị và không bao giờ xảy ra nhất ít nhất là không ở trong hình thức như thế – trong các xã hội dân chủ.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Hàng trăm sinh viên Tiệp Khắc quỳ gối khi đối mặt với cảnh sát chống bạo động,19/11/1989 tại trung tâm thành phố Praha trong cuộc biểu tình đòi dân chủ hơn và yêu cầu chấm dứt chế độ Cộng sản và bầu cử đa đảng tự do. Cảnh sát chống bạo động sau đó đã đánh đập và bắt giữ nhiều người trong số họ. Một phong trào phản đối bất đồng chính kiến mạnh mẽ đã dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản vào ngày 10/12 và sự hình thành của một chính phủ phi cộng sản ở Tiệp Khắc, 10 ngày sau khi bắt đầu hội nghị thượng đỉnh ở Malta, nơi Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev và người đồng cấp Hoa Kỳ George Bush thiết lập một kỷ nguyên mới, kết thúc Chiến tranh lạnh.

Những “người bất đồng chính kiến” này là ai?

Dường như thuật ngữ này được áp dụng chủ yếu cho công dân các nước thuộc khối Xô Viết, những người đã quyết định sống trong sự thật và thêm vào đó, đáp ứng được những tiêu chí sau đây:

  1. Họ thể hiện quan điểm bất phục tùng và ý kiến phê phán một cách công khai và có hệ thống, trong những giới hạn rất nghiêm ngặt dành cho họ và vì vậy mà họ được phương Tây biết tới.
  2. Mặc dù không được xuất bản ở trong nước và mặc dù bị chính quyền ngược đãi bằng đủ mọi cách, nhờ thái độ của mình, họ vẫn giành được sự kính trọng nhất định, cả từ phía công chúng lẫn từ phía chính quyền, và do đó mà họ thực sự có – dù mức độ rất hạn chế và thậm chí là lạ lùng nữa – quyền lực gián tiếp trong môi trường của mình. Quyền lực đó đã bảo vệ họ khỏi những hình thức ngược đãi tồi tệ nhất, hoặc ít nhất cũng đảm bảo rằng nếu họ bị ngược đãi thì chính quyền sẽ gặp một số rắc rối chính trị nhất định.
  3. Phạm vi phê phán và những cam kết của họ đã vượt ra ngoài khung cảnh chật hẹp của môi trường xung quanh họ hay vượt ra ngoài những lợi ích đặc thù, nó bao trùm lên những chủ đề thảo luận có tính bao quát hơn; và do đó, về thực chất là có tính chính trị mặc dù mỗi người lại tự coi mình như một lực lượng chính trị nhất ở những mức độ rất khác nhau.
  4. Họ là những người nghiêng về việc tìm kiếm tri thức, có nghĩa là, họ là những người “cầm bút”, những người mà ngôn từ được viết ra là phương tiện trực tiếp – và thường là phương tiện duy nhất họ có thể điều khiển được, và nhờ thế mà họ được sự chú ý, đặc biệt là từ nước ngoài. Những cách sống trong sự thật khác thì hoặc là không được các nhà quan sát nước ngoài chú ý tới vì nằm trong môi trường địa phương khó nắm bắt – đấy là nói nếu chúng vượt qua được khuôn khổ địa phương – hoặc chỉ là thành tố bổ sung cho những điều mà họ đã viết ra mà thôi.
  5. Dù nghề nghiệp của họ có là gì thì những người này cũng đã được nói tới ở phương Tây, chủ yếu là vì những hoạt động của họ trong vai trò những công dân tận tụy hay khía cạnh chính trị, khía cạnh phê phán trong các tác phẩm của họ chứ không phải là vì những công trình họ làm trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình.

Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi biết rằng có một lằn ranh vô hình mà nếu bạn vượt qua – mà thậm chí dù không muốn hay không nhận ra – thì họ sẽ không còn coi bạn như là người cầm bút vô tình trở thành một người công dân có quan tâm tới thời cuộc mà sẽ bắt đầu nói về bạn như là một “người bất đồng chính kiến” tình cờ cũng thích viết kịch (có thể là trong lúc trà dư tửu hậu?). Không nghi ngờ gì rằng có những người đạt được tất cả những tiêu chí này. Điều cần thảo luận là liệu chúng ta có nên dùng một thuật ngữ riêng cho một nhóm được định nghĩa một cách tình cờ như vậy không, và đặc biệt là có nên gọi họ là những “người bất đồng chính kiến” hay không. Nhưng, rõ ràng là, ta chẳng thể làm gì khác được.

Đôi khi để dễ nói chuyện, thậm chí tự bản thân chúng ta cũng dùng cái nhãn này, mặc dù không ưa, khá hài hước và hầu như lúc nào cũng để trong ngoặc kép nữa. Có lẽ đã đến lúc liệt kê một vài lí do vì sao chính những “người bất đồng chính kiến” lại không thích bị gọi như vậy.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LANGEVIN JACQUES

Nhà lãnh đạo cách mạng Vaclav Havel phát biểu trước đám đông tụ tập trên một con phố chính, trong cuộc biểu tình chống chính phủ dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ Cộng sản.

‘Họ không phản bội ai cả, chỉ muốn bình đẳng’

Trước hết, cách gọi này có vấn đề về mặt từ nguyên.

“Người bất đồng chính kiến”, như báo chí chúng ta vẫn nói, cũng tương tự “kẻ phản bội” hay “tái phạm” vậy. Nhưng những người bất đồng chính kiến không coi họ là phản bội, vì một lẽ đơn giản là họ chẳng phủ định hay bác bỏ bất cứ điều gì.

Ngược lại, họ đã và đang cố gắng khẳng định bản sắc nhân văn của chính họ, và nếu họ có bác bỏ cái gì đó, thì đó chỉ là những thứ sai lầm và vong thân trong cuộc đời họ, tức là bác bỏ khía cạnh của “sống trong dối trá” mà thôi.

Nhưng đấy không phải là điều quan trọng nhất. Thuật ngữ “người bất đồng chính kiến” thường ám chỉ một nghề đặc biệt, như thể, cùng với những nghề bình thường hơn, có một nghề đặc biệt nữa là cằn nhằn về tình trạng của đời sống.

Trên thực tế, một “người bất đồng chính kiến” chỉ đơn giản là một nhà vật lí học, nhà xã hội học, một người công nhân hay một nhà thơ, là những cá nhân đang làm những việc mà họ cảm thấy là cần phải làm, và vì thế, họ thấy mình xung đột công khai với chế độ. Về phần họ, cuộc xung đột này không xuất phát từ bất cứ mục đích hữu thức nào, mà xuất phát từ logic nội tại của tư tưởng, hành vi hay tác phẩm của họ (thường là xung đột với ngoại cảnh, nằm ngoài tầm kiểm soát của họ).

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Nhà cựu bất đồng chính kiến và nhà viết kịch Vaclav Havel, tân Tổng thống Tiệp Khắc, phát biểu 23/2/1990 từ ban công của Cung điện Kinsky tại Quảng trường Thành phố Cổ với khoảng 100.000 người trong cuộc mít tinh kỷ niệm 42 năm cuộc đảo chính năm 1948 của cộng sản. Đảng Cộng sản đầu hàng vào cuối tháng 11/1989 (trong “Cách mạng nhung” không đổ máu) và thành lập một chính phủ liên minh với Diễn đàn Công dân, và Havel được bầu làm chủ tịch, 29/12/1989. Vào tháng 6/1990, cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên kể từ 1946 được tổ chức tại Tiệp Khắc, kết quả trong chính phủ hoàn toàn phi cộng sản đầu tiên của đất nước trong hơn bốn mươi năm.

Nói cách khác, họ không cố tình trở thành một người bất mãn chuyên nghiệp, như người ta quyết định trở thành chị thợ may hay anh thợ rèn.

Trên thực tế, dĩ nhiên là họ thường không biết mình là những “người bất đồng chính kiến” cho đến khi họ thực sự trở thành một người như thế. “Người bất đồng chính kiến” xuất phát từ những động cơ khác hẳn với thói háo danh và chức tước. Nói ngắn, họ không quyết định trở thành “người bất đồng chính kiến”, và thậm chí nếu họ có dành hai bốn giờ một ngày cho nó, nó vẫn không phải là một nghề, mà trước hết đấy là một thái độ sống.

Hơn nữa, thái độ đó hoàn toàn không phải là tài sản độc quyền của những người xứng đáng với danh hiệu “người bất đồng chính kiến”, chỉ vì vô tình mà họ đáp ứng được những điều kiện bên ngoài, đã nói đến bên trên.

Có hàng ngàn người không tên tuổi khác đang cố gắng sống trong sự thật, và hàng triệu người muốn mà chưa thể, đơn giản vì có lẽ làm như thế trong điều kiện của họ cần lòng can đảm lớn hơn mười lần lòng can đảm của những người đã đi bước đầu tiên. Nếu vài chục người trong số đó được chọn ra một cách ngẫu nhiên và được xếp vào loại đặc biệt thì nó sẽ làm méo mó hoàn toàn bức tranh chung. Nó làm méo mó theo hai cách.

Hoặc là nó ngụ ý rằng những “người bất đồng chính kiến” là những người lỗi lạc, như “những loài cần được bảo vệ”, tức là người được phép làm những việc mà người khác không được làm, là những người mà chính phủ thậm chí còn nuôi dưỡng để làm bằng chứng về lòng khoan dung của nó; hoặc là nó đánh lừa người ta rằng đấy chỉ là một nhúm những kẻ bất mãn chẳng làm được trò trống gì, tất cả những người khác đều cảm thấy hài lòng, bởi vì nếu không thì họ đã là những “người bất đồng chính kiến” rồi.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LANGEVIN JACQUES

Mọi người cầm biểu ngữ và cờ trong cuộc biểu tình chống chính phủ dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Cộng sản.

Nhưng đấy không phải là tất cả.

Cách phân loại này vô tình đã tô đậm ấn tượng rằng quan tâm chủ yếu của những “người bất đồng chính kiến” là quyền lợi phe nhóm mà họ cùng chia sẻ, như thể toàn bộ cuộc tranh luận của họ với nhà nước chỉ là xung đột trừu tượng giữa hai nhóm đối đầu nhau, chẳng liên quan gì đến xã hội.

Nhưng ấn tượng này mâu thuẫn sâu sắc với ý nghĩa thực sự của thái độ “bất đồng chính kiến”, tức là lo lắng cho quyền lợi của người khác, lo lắng trước những hiện tượng đang làm cho xã hội nhức nhối, nói cách khác, lo lắng cho quyền lợi của những người chưa dám lên tiếng.

Nếu những “người bất đồng chính kiến” có một thứ uy quyền nào đó, và nếu họ còn chưa bị tiêu diệt như những con côn trùng ngoại lai có mặt không đúng chỗ, thì đấy không phải vì nhà nước muốn giữ lại một nhóm đặc biệt này và tôn trọng tư tưởng đặc biệt của họ, mà vì chính phủ hiểu rất rõ rằng sức mạnh chính trị tiềm tàng của “sống trong sự thật” bắt rễ từ không gian bị che giấu, nó cũng nhận thức rõ thế giới, nơi bất đồng chính kiến lớn lên và thế giới mà nó hướng tới: Đấy là thế giới của đời sống thường nhật, thế giới của mâu thuẫn hàng ngày giữa những mục tiêu của cuộc đời với mục tiêu của hệ thống.

NGUỒN HÌNH ẢNH,DEREK HUDSON

Khoảng 250.000 người biểu tình tại Quảng trường Wenceslas để kêu gọi tự do hơn và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ chức, Miloš Jakeš, Prague, hôm 22/11/1989

Các tổ chức chính trị và cảnh sát không phí nhiều thì giờ với những “người bất đồng chính kiến” – có thể tạo ra ấn tượng là chính quyền sợ họ như thể sợ một nhóm quyền lực khác vậy – chỉ vì họ thực sự là một nhóm quyền lực khác; mà bởi vì họ là những người bình thường, với những lo lắng của người bình thường, họ chỉ khác với những người kia ở chỗ họ nói lớn điều mà những người khác không thể nói hoặc vì sợ mà không dám nói.

Tôi đã từng nhắc đến ảnh hưởng chính trị của nhà văn Nga bị đày ải Aeksandr Solzhenitsyn: nó không nằm trong sức mạnh chính trị riêng biệt mà ông có với tư cách là một cá nhân, mà ở trải nghiệm của hàng triệu nạn nhân trại cải tạo Gulag, ông chỉ làm mỗi một việc là khuếch đại và nói lại cho hàng triệu người có lương tri biết mà thôi. Tách ra một nhóm những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng hoặc lỗi lạc, trên thực tế, cũng có nghĩa là phủ nhận khía cạnh đạo đức cốt lõi nhất trong hoạt động của họ.

Như ta đã thấy, phong trào “bất đồng chính kiến” phát sinh từ nguyên tắc bình đẳng, dựa trên quan niệm rằng quyền con người và quyền tự do là không chia tách được. Cuối cùng, chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng trong KOR ở Ba Lan đã đứng lên bảo vệ những người lao động không tên tuổi hay sao?

Và chẳng phải chính vì lí do này mà họ trở thành những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng hay sao? Và chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng tập hợp lại trong Hiến chương 77, sau khi họ đã tập hợp cùng nhau nhằm bảo vệ những nhạc sĩ vô danh và liên kết với họ, và chính vì lẽ đó mà trở thành những “người bất đồng chính kiến nổi tiếng” hay sao? Đúng là một nghịch lí tàn nhẫn: Càng nhiều người đứng lên bảo vệ những người khác, thì họ lại càng dễ bị gọi bằng một từ làm họ xa cách với “các công dân khác”. Tôi hi vọng rằng cách giải thích này sẽ làm rõ ý nghĩa của các dấu ngoặc kép mà tôi đặt cạnh từ “người bất đồng chính kiến” trong suốt tiểu luận này…

“Quyền lực của kẻ không quyền lực” là tiểu luận trên 130 trang được Vaclav Havel viết khi ông là trí thức đối lập ở Tiệp Khắc tháng 10/1978. Vaclav Havel (1933-2011) được bầu làm tổng thống cuối cùng của Tiệp Khắc và tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Czech. Bản tiếng Việt trích đoạn ở trên có nguồn từ bản tiếng Việt xuất bản năm 2014 (xem thêm trên trang của nhóm Văn Lang, CH Czech: QuyenLuc.pdf (vanlang.eu)). Tựa đề của bài này do BBC đặt.

Chú thích: *Ủy ban Bảo vệ Công nhân, KOR – một tổ chức của Ba Lan tồn tại trước khi có sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết năm 1980, sau được đổi tên thành KSS-KOR (Ủy ban Tự vệ Xã hội-KOR) để nhấn mạnh đến cam kết bảo vệ các quyền dân sự và ủng hộ các sáng kiến xã hội chống lại các thể chế của nhà nước toàn trị. Tiểu luận của Vaclav Havel đã đem lại hy vọng cho phong trào tại Ba Lan như lời kể của một lãnh tụ nghiệp đoàn cơ sở ở nhà máy Ursus, gần Warsaw, ông Zbigniew Bujak, khi họ bị công an Ba Lan nhốt nhiều ngày trong xưởng máy vì đình công.

** Khi Hiến chương 77 xuất hiện, chính quyền Tiệp Khắc đã tung ra chiến dịch buộc toàn dân phải tuyên bố rằng Hiến chương 77 là sai. Hàng triệu người buộc phải kí giấy ủng hộ quan điểm đó của Đảng CS.

Sài gòn và miền Nam, nền kinh tế ở đây rất cần “gói cứu trợ”

Báo Tiếng Dân

Bởi  AdminTD

Trương Nhân Tuấn

4-12-2022

Đọc báo trong nước, thấy nhiều xí nghiệp đóng cửa, khiến hàng loạt công nhân thất nghiệp. Tiến thoái lưỡng nan. Về quê không tiện vì con cái phải học hành. Mà ở lại thành phố cũng không xong. Tiền đâu trang trải? Báo chí trong nước đổ thừa cho Covid-19.

Đối với một chính phủ có trách nhiệm, vấn đề nào cũng có nhiều mặt phải tiên liệu, ngay cả vấn đề Covid-19.

Nhiều lần, trong khoản thời gian dịch tể, tôi viết bài cảnh báo rằng, Việt Nam, đặc biệt ở Sài gòn và miền Nam, nền kinh tế ở đây rất cần “gói cứu trợ”.

Gói cứu trợ ở đây không phải đơn thuần là vài chục kí gạo, vài gói mì, chai nước mắm, kèm phong bì một, hai triệu đồng. Và người dân ở đây không phải là “dân”, mà còn có những xí nghiệp, nhà sản xuất, những nhà làm vườn trồng bông, trồng cây ăn trái, nhà nuôi cá, nuôi tôm…

Nhiều lần tôi đặt vấn đề, nếu gói cứu trợ không hiệu quả, dây chuyền sản xuất sẽ đứt đoạn. Việc này sẽ tạo ra thảm cảnh xã hội. Nhà máy đóng cửa thì công nhân thất nghiệp hàng loạt. Tôi nhấn mạnh rằng các quốc gia tiên tiến, gói cứu trợ có thể lên tới 10% GDP. Có nước gói cứu trợ lên tới 50%GDP. Việt Nam, không có thống kê chính thức, (nghe nói) chỉ dành khoảng 1% GDP cho cứu trợ.

Giai cấp công nhân, nguyên thủy là lực lượng nòng cốt của phong trào cộng sản. Lý ra giai cấp công nhân là thành phần ưu đãi trong một chế độ xã hội chủ nghĩa.

Báo chí trong nước mới đăng tin công nhân quây quần ngồi dưới lề đường chia nhau ăn miếng bánh trong bữa tiệc chia tay. Xí nghiệp đóng cửa, công nhân hàng loạt thất nghiệp. Lại cận ngày tết. Tương lai thiệt là mù mịt.

Nhà máy đóng cửa do thiếu đơn đặt hàng. Khủng hoảng kinh tế đến từ Covid-19 năm trước. Việc này đã không tồi tệ nếu chính phủ có những chính sách đối phó đúng đắn.

Đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội. Mà công nhân là đại diện, là giai cấp cốt lõi, lập nên chủ nghĩa cộng sản.

Ta đâu thấy người công nhân nào có mặt trong “buổi tiệc” Việt Á? Chỉ có đảng viên cộng sản khoác chiếc áo y khoa. Ta cũng không thấy người công nhân nào “dự phần” chia chác “chiến lợi phẩm” ở những chuyến bay “giải cứu”. Chỉ có cán bộ cộng sản làm việc ở các cơ sở ngoại giao.

Gouverner c’est prévoir – quản lý là tiên liệu. Đảng CSVN đã “tiên liệu” được cái gì (trong vụ Covid-19)?

Không có gì cả, ngoài những thủ thuật “đạo đức giả” của những quan tham ngu xuẩn. Bốn tấm ván hòm của người dân nghèo đang nằm chờ chết mà họ còn “xiết” được thì khủng hoảng Covid-19 là gì nếu không phải là cơ hội tốt để họ làm giàu?

Có người nói (chí lý rằng) ở Việt Nam muốn “làm giàu” là phải làm cách mạng. Cuốn sách “con đường cách mạng” là “cẩm nang” chỉ dẫn cách làm giàu.

Thực tế cho ta thấy, đúng là như vậy. Những người giàu nhứt nước Việt Nam đều là những ông “quan cách mạng”.

Vụ Việt Á, vụ hàng không giải cứu… chỉ là phần chóp của tảng băng sơn. Cán bộ CSVN ăn của dân không từ một thứ gì, không bỏ sót lãnh vực nào. Cái gì ăn được là họ ăn. Từ quốc phòng, công an, thanh tra, giáo dục, văn hóa, đất đai, xây dựng, tài chánh v.v… Chỗ nào họ không ăn? Họ có thể ăn ở bất cứ chỗ nào, ở bất cứ trường hợp nào.

Giai cấp công nhân là giai cấp bị lợi dụng. Theo tôi, công nhân thay vì chua chát nhìn nhau uống ly nước chia ly, tất cả hãy tụ tập trước những cơ quan đại diện nhà nước. Bà con bị thất nghiệp, nguyên nhân xa là do Covid-19, nhưng nguyên nhân trực tiếp là do sự bất lực một cách tồi tàn của đảng CSVN.

Nhà nước CSVN phải có kế hoạch trợ giúp cho công nhân trong suốt khoản thời gian họ thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp là một chuyện. Chuyện bồi thường, vì đâu công nhân mất việc làm, là chuyện khác.

Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm về tất cả thảm cảnh đã và đang xảy ra, cho tầng lớp công nhân, nông dân và nhân dân cả nước.

Không phải do Covid-19, không phải do khủng hoảng kinh tế, mà do sự lãnh đạo tồi tàn của đảng CSVN.

10 ĐIỀU NÊN HỌC TỪ PHƯƠNG TÂY

Oanh Vy Lý

10 ĐIỀU NÊN HỌC TỪ PHƯƠNG TÂY

‘Phương Tây’ ở đây là chỉ những người ở các nước như Tây Âu, Bắc Âu, Anh, Mĩ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, v.v. Những điều dưới đây tôi rút ra từ kinh nghiệm thực tế trong giao tiếp với người phương Tây. Còn ‘Mười điều’ thì chỉ là cách nói tượng trưng thôi, vì trong thực tế tôi nghĩ chúng ta có thể học từ họ cả … trăm điều.

Điều thứ nhứt: Sự bao dung

Trái lại với nhiều người nghĩ Tây chúng nó ích kỉ và quỉ quyệt, trong thực tế Tây rất rộng lượng và bao dung. Người Mĩ, người Úc, người Canada có thể chẳng quen biết gì với người Việt chúng ta, nhưng họ lại sẵn sàng bảo trợ và nâng đỡ rất nhiều gia đình gốc Việt trong thời gian sau 1975. Ở cấp độ lớn hơn, các nước phương Tây đã mở rộng cánh cửa đón hàng triệu người tị nạn, không phải chỉ từ Việt Nam mà còn từ nhiều nước Đông Âu và Phi châu nữa, và họ đón với tấm lòng chân thành. Ngay cả những nước mà đất hẹp (như Thuỵ Sĩ và Bắc Âu) và chẳng liên hệ gì nhiều với Việt Nam, nhưng họ lại đón nhận hàng vạn người Việt trong thời tị nạn.

Không chỉ đón nhận ‘người dưng’ vào nước họ định cư, họ còn tạo điều kiện để người dưng được tiến thân trong môi trường mới. Từ nhà ở đến cái áo mặc đều được lo lắng chu đáo. Tôi nghĩ nhiều khi ngay cả người Việt cũng chưa chắc gì cư xử với người Việt như người phương Tây cư xử với người Việt.

Họ còn tích cực giúp đỡ các nước nghèo khó nữa, và Việt Nam là một trong những nước nhận rất nhiều giúp đỡ từ phương Tây. Họ tài trợ không hoàn lại để Việt Nam xây cầu, xây đường xá, họ hỗ trợ về kĩ thuật và công nghệ, họ giúp Việt Nam vào các thiết chế kinh tế thế giới, v.v. Trong trận đại dịch vừa qua, họ cấp vx miễn phí cho rất nhiều nước trên thế giới. Trong giáo dục, họ cấp học bổng cho mấy nước nghèo qua nhiều năm liền. Đó không là rộng lượng thì là gì?

Điều thứ 2: Đạo đức xã hội

Hồi còn ở Việt Nam, tôi thường nghe nói rằng ở mấy nước phương Tây người ta sống phóng đãng lắm, họ rất suy đồi, hay nói chung là chẳng có đạo đức gì đâu. Sai. Sai nghiêm trọng. Người phương Tây sống rất đạo đức, có khi còn hơn cả người phương Đông. Họ rất quan trọng đến con người, và lấy con người làm gốc cho mọi quyết sách. Họ cũng rất quan tâm đến chữ ‘lễ’ trong giao tế hàng ngày.

Người phương Tây, cũng giống như chúng ta, rất biết kính trên và nhường dưới. Họ có những qui chuẩn về lễ nghi rất lâu đời. Hãy nhìn các buổi lễ thụ phong huân chương do Nữ Hoàng Anh tiến hành, hay những buổi lễ tốt nghiệp đại học, chúng ta sẽ thấy họ có truyền thống ‘lễ’ rất lâu đời, và đáng nể là họ vẫn duy trì những lễ nghi đó cho đến ngày nay.

Không chỉ quan tâm đến con người, người phương Tây còn hơn chúng ta ở chỗ quan tâm đến thú vật. Cách họ cư xử với gia cầm và thú vật có thể làm cho nhiều người phương Đông kinh ngạc. Đó không phải là hình thức ‘hoa hoè’, mà là tôn trọng với thực chất. Trong thí nghiệm khoa học, nếu làm trên chuột là phải qua sự phê chuẩn của một uỷ ban đạo đức khoa học.

Không chỉ với thú vật, họ cũng rất quan tâm đến môi trường, cây cỏ. Đến những nước như Bắc Âu và Úc, chúng ta sẽ thấy chánh phủ và người dân ở những nước này gìn giữ môi trường ra sao. Không phải gìn giữ môi trường bằng khẩu hiệu; họ đưa vào đời sống những đạo luật và chương trình giáo dục ngay từ tuổi thiếu niên để các em biết trân quí môi trường sống.

Điều thứ 3: Tôn trọng phụ nữ

Một khác biệt lớn lớn nhứt giữa Việt Nam và phương Tây là cách xã hội cư xử với phụ nữ. Ở Việt Nam, người ta quen thói ‘trọng nam khinh nữ’ và thói gia trưởng, nên xã hội đối xử với nữ giới có thể nói là tệ. Trước đây, nữ giới trong các xã hội phương Tây từng bị đối xử rất tệ, nhưng họ đã biết lỗi lầm và chỉnh sửa. Do đó, ngày nay ở xã hội phương Tây, nữ giới được đối xử với sự tôn trọng.

Các chánh phủ phương Tây làm đủ mọi cách để bình đẳng hoá giới tính trong mọi hoạt động xã hội. Từ sự hiện diện của nữ giới trong Quốc hội đến các chức vụ trong đại học và tập đoàn kinh tế, họ có những qui định và chánh sách rất thực tế để bình đẳng hoá giới tính. Họ làm thật chớ không hô hào khẩu hiệu. Nên học họ về vấn đề nâng cao sự hiện diện của nữ giới trong mọi hoạt động.

Tôi cũng làm một phần của mình trong chiến lược này. Labo tôi có nữ và nam bằng nhau. Đó là một chủ trương cá nhân. Có lúc, tôi còn bị phê bình là dành ưu tiên cho nữ nhiều quá, nhưng tôi không hề nhân nhượng. Lí do đơn giản là mình thấy má mình, dì mình, em mình và cháu mình trong đó thì làm sao hối tiếc gì. Nên học Tây về cách cư xử với nữ giới.

Điều thứ 4: Tôn trọng quyền cá nhân

Người Việt chúng ta nhìn chung rất quan tâm đến cá nhân. Gặp nhau lần đầu, người ta hay tìm hiểu người nói chuyện là ai, giữ chức vụ gì, quan điểm chánh trị ra sao, v.v. Họ đánh giá người đối thoại dựa trên những thông tin về cá nhân. Rất tiêu biểu cho câu “trông mặt đặt tên”. Nói chung là người phương Đông thích soi mói đời tư cá nhân.

Người Tây thì khác: họ chẳng quan tâm đến mình là ai, đến từ đâu, quan điểm chánh trị là gì hay theo đảng phái nào. Họ chỉ quan tâm đến ý kiến và hàm lượng tri thức, hay nói theo họ là ‘merit’.

Tôi làm việc chung với một hội đồng trong một hiệp hội khoa học cả 10 năm mà họ không biết tôi là ‘boat people’. Sếp tôi phải 10 năm sau mới biết tôi từng làm phụ bếp ở bệnh viện mà tôi đang làm. Không có giấu diếm gì cả; họ không hỏi thì mình cứ giữ im lặng. Họ không hỏi, có lẽ là tôn trọng sự riêng tư.

Người Tây không đánh giá một cá nhân qua quan điểm chánh trị hay niềm tin tôn giáo; họ đánh giá qua việc làm và chất lượng. Chính tôi trong vai trò người đánh giá, chưa bao giờ tôi tự hỏi họ là ai, đến từ đâu hay xuất thân từ ‘danh gia vọng tộc’ nào. Tôi nghĩ cách làm như vậy rất bình đẳng và khách quan. Chúng ta nên học họ về việc tôn trọng quyền riêng tư và cá nhân.

Điều thứ 5: Sự tử tế và lời nói “Cám ơn”

Sự tử tế của người phương Tây có thể thấy qua chữ ‘Cám ơn’. Có thể nói ‘cảm ơn’ là câu nói đầu môi của người phương Tây. Được giúp đỡ thì nói cảm ơn đã đành, họ giúp người khác mà cũng cảm ơn luôn! Cám ơn ở đây không chỉ là lời nói ghi ơn, mà còn là một appreciation — ghi nhận. Mệnh đề ‘cám ơn’ đã thành một nét văn hoá đẹp của người Tây. Chúng ta nên học họ.

Đã có nhiều nghiên cứu tâm lí học cho thấy nói lời cám ơn là một hành vi tích cực. Hành vi này làm cho người thốt ra câu nói cảm thấy hạnh phúc. Nhiều người nói câu cảm ơn là một cách tạo ra nguồn năng lượng tích cực cho cộng đồng. Thành ra, cảm ơn vừa có lợi ích cho cá nhân, vừa tạo ra một cộng đồng tử tế.

Ngày xưa, khi còn theo học, sếp tôi nhắc nhở chúng tôi khi đi dự hội nghị, phải đến quầy của các công ti dược để nói lời cảm ơn vì họ đã tài trợ cho chuyến đi. Trong báo cáo khoa học cũng phải có một slide cảm ơn mọi người đã giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Sau này, tôi cũng nhắc nhở các em nghiên cứu sinh trong lab làm như vậy. Nói ra lời cảm ơn, mình thấy thoải mái làm sao.

Người Việt chúng ta rất ít nói lời cảm ơn. Có khi họ nói ‘cám ơn’ cho có lệ chớ không thực lòng. Việt Nam chúng ta cần học người phương Tây về cảm ơn.

Điều thứ 6: Tôn trọng chánh kiến khác (sống với dị biệt)

Có lần, một anh bạn giáo sư kinh tế, người Úc, rất sùng cánh tả, hỏi tôi về quan điểm chánh trị. Tôi nói rằng chưa bao giờ bầu cho đảng Lao Động và chưa bao giờ thích mấy ứng cử viên của phe Dân Chủ và dứt khoát không thích anh Bảy Đờn và phe Pelosi. Anh ấy nói tôi có xu hướng right wing. Cười hoà.

Đặc điểm quan trọng của xã hội phương Tây là đa sắc tộc, đa nguyên và đa đảng. Ngay từ thời tiểu học, học sinh đã được dạy phải tôn trọng ý kiến khác mình. Học sinh được dạy để biết sanh hoạt đa đảng ra sao. Do đó, trong công việc, họ hoàn toàn không có kì thị đảng phái.

Tôi mới đọc hồi kí của Clive Hamilton, một giáo sư hữu khuynh, mà trong đó tôi học cách ứng xử của giới khoa bảng Úc. Giáo sư Hamilton kể rằng lúc trẻ ông là một tay tả khuynh (left wing), mê xã hội chủ nghĩa. Ông tốt nghiệp tiến sĩ và xin việc tại một khoa kinh tế nổi tiếng hữu khuynh. Ông nghĩ mình sẽ không được phỏng vấn. Nhưng ngạc nhiên thay, ông được phỏng vấn và nhận vào làm việc. Ông cho biết sau này bà khoa trưởng thổ lộ rằng bà muốn có ý kiến ngược lại số đông nên sẵn sàng nhận ông vào làm nghiên cứu. Ông cho biết thời gian ở cái khoa hữu khuynh đó ông học rất nhiều và xem là thời gian đáng nhớ nhứt trong đời.

Điều thứ 7: Dí dỏm

Hồi còn ở Việt Nam tôi say mê chương trình hài của ‘Sạc Lô’ mà sau này tôi mới biết tên thật là Charlie Chaplin. Ông ấy không nói gì nhưng trong thực tế thì nói rất nhiều, rất hay. Khi qua Úc tôi mê chương trình Benny Hill trên tivi. Không phải mê vì mấy cô gái đẹp đóng chung với ổng (Hill), mà là những câu đối thoại vừa ý nhị vừa hài hước ghê nơi. Có những câu nói ra mình chưa biết ý nghĩa là gì, nhưng nghĩ một hồi thì cười ha hả.

Tôi thấy người phương Tây có óc hài hước chẳng kém dân Việt mình. Mark Twain từng nói “The human race has one really effective weapon, and that is laughter” (Con người có một vũ khí rất hiệu quả: đó là tiếng cười). Hài hước là một đức tính rất hay và được xem là một hành vi tích cực. Nó (hài hước) giúp chúng ta đối phó với những khó khăn và phiền toái trong cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà người Tây rất hài hước.

Người tiêu biểu về tính hài hước là mấy ông sếp cũ của tôi. Một ông sếp cũ của tôi là một giáo sư về thần kinh học là một người hài hước đáo để. Ổng là viện trưởng, nhưng lần nào họp viện ổng đều mở đầu bằng một câu nói hay một câu chuyện làm cho khán phòng cười nghiêng ngả. Cái tánh hài hước của tôi chính là bị ông này ‘lan truyền’.

Điều thứ 8: “Give and take”

Rất khó dịch thành ngữ ‘Give and take’, nhưng nó tương đương với câu ‘Có qua có lại mới toại lòng nhau’ trong cách nói của chúng ta. Người phương Tây rất trọng ‘Give and take’ vì đó là một thể hiện của sự công bằng (fairness). Công bằng là một nguyên lí rất quan trọng trong xã hội phương Tây, và hầu như chánh sách hay chủ trương nào cũng được xây dựng trên nguyên lí này.

Người Việt ngày nay hay có thói “có lợi gì cho tôi”. Bất cứ một đề nghị nào, dù tốt cỡ nào, giới lãnh đạo hay hỏi ‘có lợi gì cho tôi’. Rất hẹp hòi. Chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác. Tôi thấy Tây khác ta: họ lúc nào cũng nghĩ ‘mình đem lợi gì cho người và cho mình’ hay nói theo tiếng Anh là công bằng (cho và nhận). Nên học cách suy nghĩ ‘give and take’ của Tây.

Điều thứ 9: Làm chậm mà chắc

Người Việt chúng ta hay tự hào là làm nhanh. Họ hay so sánh kiểu một công trình Tây làm 2 năm, nhưng Việt Nam làm chỉ 6 tháng. Trong thực tế và đó đây thì đúng là có sự việc như vậy. Hay trong y khoa, có những thuật mà Tây không dám làm, nhưng Việt Nam dám làm; chẳng những dám làm, mà còn quảng bá rùm beng.

Nhưng vấn để không phải là làm được hay làm nhanh. Tây họ rất cẩn thận và suy nghĩ lâu dài. Làm cái gì họ cũng tham vấn nhiều người từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Làm một cái giường cho bệnh nhân, họ không chỉ tham khảo ý kiến của chuyên gia mà còn hỏi ý kiến của bệnh nhân. Làm một con lộ cao tốc, họ phải nghiên cứu tác động môi trường cả 2 năm trời để đánh giá tác hại đến cư dân ra sao. Ngay cả triển khai một nghiên cứu thành hiện thực họ cũng phải xem xét lợi và tác hại có thể cho bệnh nhân.

Người phương Tây làm chậm không phải họ dở, mà là họ quan tâm đến chất lượng và lâu dài. Chúng ta nên học họ về tầm nhìn xa và phẩm chất.

Điều thứ 10: Tinh thần cách tân

Người phương Đông chúng ta trọng tĩnh, nhưng người Tây trọng động. Họ lúc nào cũng nghĩ đến cách tân hay làm mới một ý tưởng cũ. Ở viện tôi công tác, năm nào cũng có ‘retreat’. Và, mỗi retreat, sếp tôi hay hỏi ‘vấn đề lớn hiện nay là gì và chúng ta phải làm gì mới để giải quyết vấn đề.’ Năm nào câu hỏi đó cũng được đặt ra. Riết rồi, chúng tôi buộc phải suy nghĩ đến cái mới. Tinh thần cách tân thật là đáng học.

Trong thời đại cạnh tranh khoa học và công nghệ, tinh thần cách tân rất quan trọng vì nó giúp mình đứng đầu. Các nước mới nổi ở Châu Á họ hay mời chúng tôi sang nói chuyện. Có khi một bài nói chuyện chỉ 30-40 phút, nhưng họ biết được hướng mới là gì. Trả có 10 ngàn đôla mà có ý tưởng mới thì quả là quá rẻ.

****

Tôi có hứng chia sẻ vài ý nghĩ trong cái note này nhân một câu nói của cô phát ngôn viên Bộ Ngoại giao về nước Nga. Cô ấy nói rằng [1]: “Tôi gắn bó với nước Nga vì tiếng Nga là ngôn ngữ tôi học từ bé. Nước Nga của những áng thi ca và các tác phẩm nghệ thuật bất diệt. Tôi đã đọc hầu hết các tác giả Nga và Liên Xô, đi thăm các bảo tàng Tretchiacov và Hermitage nhiều lần. Nhưng nước Anh để lại trong tôi nhiều ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đó không chỉ là cái nôi của văn minh châu Âu mà còn là văn hóa đa sắc tộc, hiện đại nhưng cũng rất bản sắc.”

Cô ấy nói nước Anh là ‘cái nôi của văn minh châu Âu’? Wow! Thiệt vậy sao? Kiến văn của một phát ngôn viên ngoại giao là vậy?

Bất cứ nền văn hoá và văn minh nào cũng có nhiều điều để chúng ta học hỏi. Người phương Tây có một nền văn minh rất lâu đời (chẳng kém gì văn minh phương Đông), và họ đã có rất nhiều thành tựu vật chất và phi vật chất. Tôi nghĩ người phương Tây cũng muốn học từ văn hoá phương Đông, chứ không phải sự học chỉ diễn ra 1 chiều.

Sống trong xã hội phương Tây chỉ 40 năm thôi, nhưng tôi thấy mình phải học họ nhiều lắm. Mười năm đầu tôi chưa ‘thấm’ đâu, phải 20 năm sau mới bắt đầu biết chút chút. Mười điều tôi nêu trên đây chỉ là những điều hiển nhiên và mang chút cá nhân tánh. Tôi tin rằng các bạn có thể rút ra nhiều nhiều hơn những gì tôi liệt kê. Tôi nghĩ những giá trị như bao dung, sự tử tế, tôn trọng quyền cá nhân, tôn trọng nữ giới, tôn trọng chánh kiến khác, và tinh thần cách tân là những gì chúng ta có thể soi rọi và tự làm mới mình.

FB NGUYỄN TUẤN

 

Hun Sen- STTD Tưởng Năng Tiến

Hun Sen

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh vừa có nhận định ngắn, về một vị quan chức cao cấp của xứ sở láng giềng (“Hunxen là nhà cai trị hiểu biết và bản lĩnh”) và đã nhận được không ít những lời lẽ tán đồng nồng nhiệt:

  • Đình m Nguyn: Chính xác.Một thời tôi đã hiểu sai về anh này.
  • Phuong Lam: Nếu ko bản lĩnh thì ông ấy ko tồn tại đến hôm nay ạ.
  • Nguyễn Ngoc Anh: Ông ấy là kẻ thức thời.
  • Tran Trong Duc: Campuchia là một nước nhỏ nhưng có một nhà lãnh đạo mang tầm vóc thời đại làm rạng rỡ dân tộc.

Tất cả quí vị thức giả thượng dẫn – tiếc thay – đều rất kiệm lời, không ai chịu nói thêm (đôi câu) về “bản lĩnh” của ông Samdech Hun Sen để người đọc được dịp mở mang tầm mắt. Tôi chưa bao giờ có dịp đặt chân đến London, Moscow, New York, Paris, Varsovie … (và cũng không cảm thấy hào hứng lắm, khi nghĩ đến những nơi xa xôi như thế) duy Kampuchea thì tôi có dịp lui tới rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ nhận ra được cái “tầm vóc thời đại làm rạng rỡ dân tộc” của vị thủ tướng của đất nước này.

Lần gần nhất tôi ghé qua Cambodia là hồi đầu tháng 11 năm 2022, trước khi khai mạc Hội Nghị Cấp Cao Asean – kỳ thứ 40 và 41, tại Phnom Penh – chừng độ một tuần. Bộ mặt thủ đô của xứ sở này, giờ đây, đã hoàn toàn đổi khác.

Phố xá ngăn nắp và sạch sẽ hơn thấy rõ, nhất là con đường Preah Sisowath Quay và khu công viên (Riverside Park) nằm ngay mé sông Tonle Sap. Lũ trẻ con trần truồng, đen đủi, nhếch nhác (vẫn thường lê la chơi đùa trước Hoàng Cung) đều đã … đi chỗ khác chơi. Những kẻ vô gia cư hay nằm vật vã trên ghế đá cũng không còn nữa. Đám hành khất cũng thế, cũng biến mất tiêu. Cứ như thể là họ chưa bao giờ có mặt trên đất nước này, dù chỉ một ngày.

Sự đổi thay không chỉ diễn ra ở Phnom Penh. Dọc Quốc Lộ 1, hằng trăm bức ảnh của Hun Sen (khi ngồi, lúc đứng) đã được gỡ bớt và thay bằng chân dung của hoàng gia: Quốc vương Norodom Sihamoni, phụ vương Norodom Sihanouk, và hoàng thái hậu Norodom Monineath.

Dù chậm – cuối cùng – Hun Sen cũng đã hiểu ra rằng ngoài giới tăng lữ, ông còn cần thêm một liên minh chính thống (một ông vua làm cảnh kề bên) để bộ mặt của chế độ quân phiệt trông bớt phần tệ hại!

Cả ngàn bảng hiệu Cambodian People’s Party (Đảng Nhân Dân Cam Bốt) của Hun Sen cũng thế, cũng không còn xuất hiện trên từng cây số nữa. Xen vào đó là tên hiệu của dăm bẩy cái đảng dấm dớ nào đó: Candlelight Party, Youth Party, Liberty Party … Tuy không ai tin rằng Kampuchea đang thực thi chính sách đa nguyên hay đa đảng nhưng cái mớ hoa giả này cũng giúp cho không khí toàn trị ở Phnom Penh đỡ khó thở hơn – chút xíu!

Quốc lộ 5, dài hơn 400 KM – nối liền Nam Vang với Thái Lan – kể như đã hoàn tất. Không còn những đoạn lởm chởm ổ gà, và mịt mù bụi đỏ, như những năm trước nữa. Chạy suốt một mạch từ thủ đô cho đến tỉnh Pursat, gần cả dặm trăm đường (êm ru bà rù) nhưng tuyệt nhiên không có một cái BOT nào ráo trọi, và cũng chả thấy bóng dáng của một anh cảnh sát giao thông nào sất.

Ngay cả đến hương lộ (ngã rẽ vào làng nổi, Kampong Luong Floating Village, ở cuối Biển Hồ) cũng đã được sửa sang. Dù chỉ “tân trang” chút đỉnh thôi nhưng vẫn đỡ “gập ghềnh” thấy rõ.

Tôi hớn hở khoe những thành tích mà mình vừa chứng kiến với dăm ba tân hữu nhưng không nhận được chút đồng tình nào (ráo) mà còn bị chọc quê:

– Mày còn ở đây bao lâu nữa?
– Vài bữa nữa.
– Sao không ở luôn cho qua ngày hội nghị rồi hãy đi.
– Ở chi lâu dữ vậy, mấy cha?
– Để thấy đất Kampuchea sẽ trở về … nguyên trạng, sau cái màn trình diễn rất ngoạn mục và vô cùng tốn kém này của Hun Sen!

Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông. Những người bạn trẻ trí thức mà tôi quen biết ở Cambodia – xem ra – chả mấy ai có cảm tình gì với vị thủ tướng (trường trị muôn năm) của đất nước họ nên mọi “thiện ý” của ông ta, nếu có, cũng đều bị nhìn với cặp mắt nghi ngờ hay dè bỉu.

Giới bình dân thì khác. Hun Sen, xem chừng, được họ dành cho nhiều thiện cảm hơn vì không chỉ hứa hẹn (suông) mà còn thực hiện được – đôi điều – thiết thực. Ông tuyên bố: Kể từ năm 2016, người lái xe grab, xe tuk-tuk, xe công nông, và ghe thuyền sẽ không phải đóng thuế nữa. Kẻ buôn thúng bán mẹt cũng thế, cũng được miễn thuế luôn. (Kang Sothear, “Hun Sen Announces Broad Cuts of Petty Taxes,” Cambodia Daily: October 23, 2015).

Khi có dịp tiếp xúc với vài vị đồng hương, đang lênh đênh trên Hồ Tonlé Sap, tôi còn được nghe nhiều lời tán thưởng về sự nới lỏng trong luật lệ di trú (vốn rất khắt khe) dành cho thân phận nổi trôi của họ. Có người còn bắt đầu nhen nhúm chút hy vọng là sẽ có lúc được sống (và chết) trên bờ, như đa phần nhân loại.

Chưa hết, gần triệu dân Việt ở Cambodia đều tin chắc chắn rằng cuộc sống tha phương cầu thực của họ sẽ khốn khổ và khốn nạn hơn nhiều, nếu Sam Rainsy (đối thủ chính trị của Hun Sen) có cơ hội cầm quyền.

Trong những ngày qua, Hun Sen còn vừa nhận được hàng loạt tràng pháo tay không ngớt của rất nhiều người (chứ chả riêng chi người Việt) vì đã công khai lên án Nga xâm lăng Ukraine và ngang nhiên bỏ phiếu chống lại Putin. Hun Sen, rõ ràng, không chỉ là một tay bản lãnh mà còn là một kẻ thức thời.

Ông có niềm tin vào tương lai (ít nhất thì cũng là tương lai của gia tộc và phe nhóm) với kỳ vọng là “không chỉ con mà đến cháu mình cũng sẽ thành thủ tướng Campuchia.” Và có lẽ vì thế nên đương sự không vơ vét hết ngân quỹ và tài sản quốc gia như quí vị lãnh đạo (vốn vừa đồng chí, vừa là anh em) bên nước láng giềng.

Ngoài những điểm son vừa kể, hồ sơ của Hun Sen – tất nhiên – không ít những điểm đen:

  • Chính phủ của Hun Sen đã chịu trách nhiệm việc cho thuê 45% tổng diện tích đất ở Campuchia, chủ yếu cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong những năm 2007- 08, làm hơn 150.000 người Campuchia bị đe dọa trục xuất.
  • Hun Sen có liên quan đến tham nhũng tài nguyên dầu mỏ và tài nguyên khoáng sản của Campuchia, trong báo cáo Global Witness 2009.
  • Còn theo ước tính của Global Witness 2016 thì Hun Sen và gia đình đã  thâu tóm khoảng từ 500 triệu đến 1 tỷ Mỹ Kim, và bọn thủ hạ thì cũng hốt làm của riêng một mớ không phải ít. (Hun Sen and his family were estimated to have amassed between US$500 million and US$1 billion by Global Witness in 2016, and a number of allies have also accumulated considerable personal wealth during his tenure.)

Bằng cách nào mà gia tộc Hun Sen có thể hốt được tiền tỷ (U.S. Dollar) một cách dễ dàng, gọn gàng như thế? Câu trả lời có thể tìm được qua hai dữ kiện sau:

  • Hun Sen và đảng chính trị của ông, CPP, đã nắm giữ quyền thống trị gần như toàn bộ trên các phương tiện truyền thông chính thống trong phần lớn thời gian cai trị.
  • Tất cả 125 dân biểu quốc hội đều là người của Đảng Nhân Dân Cam Bốt, 58 trong số 62 thượng nghị sỹ cũng vậy, cũng đều nằm trong túi áo của Hun Sen tuốt luốt.

Khó mà phủ nhận được rằng Hun Sen là một tay bản lĩnh (có thừa) nhưng bản lĩnh của ông – tiếc thay – đã không giúp được cho dân tộc Khmer có đủ áo cơm, dù đã phải cầm cố gần nửa phần (45%) đất đai của Cambodia!

Tưởng Năng Tiến
11/2022

Cái sợ nay ngả về phía độc tài

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Nguyễn Thị Cỏ May

Dân Trung Quốc xuống đường với những tờ giấy trắng. Ảnh Onet

Một phong trào biểu tình chống chế độ và chống Xi, do dân chúng và phần đông giới trẻ, sinh viên các Đại học, phát động hôm 24/11/22, nhiều người cho là lớn nhứt từ 33 năm nay. Dân chúng các thành phố lớn, sinh viên từ nhiều Đại học, xuống đường tố cáo biện pháp ác ôn  « Zéro Covid »  của Xi chống dịch vũ hán là giết người, trong lúc thế giới cũng chống dịch nhưng không ai làm như vậy.

Biện pháp Zéro Covid mà Xi trong Đại hội đảng cộng sản tàu thứ XX vẫn đề cao là độc đáo và hiệu quả tuyệt vời nên Xi tiếp tục duy trì. Những người biểu tình qui thẳng trách nhiệm làm chết người, làm suy thoái đời sống xã hội chính là đảng cộng sản và Xi vừa chiếm thêm một nhiệm kỳ Tổng Bí Thư đảng nữa.

Trước khí thế hùng hậu và căm ghét của người biểu tình, nhà cầm quyền phải chấp nhận nới lỏng biện pháp « Zéro Covid » ở vài nơi và ban hành lại chiến dịch chích ngừa cho người lớn tuổi, sau một loạt bắt bớ, đàn áp.

Tức nước vở bờ

Mọi người ai cũng nói biểu tình. Nhưng Xi không cho nói « biểu tình » mà hảy gọi đó là những « sự cố tập thể » . Tiếng gọi chánh thức những cuộc biểu tình của dân chúng tàu chống chế độ. Cũng như kéo quân, dàn trận đánh chiếm nước độc lập Ukraine mà Poutine gọi đó là cuộc  «hành quân đặc biệt »!  Cùng gốc Sịt (Staline) nên ngôn ngữ của 2 tay độc tài giống nhau tuy Á-Âu, chủng tộc khác nhau, nhưng vì bản chất lại giống nhau!

Ở Tàu, cũng như ở Nga, ở Hà nội hay ở bất kỳ xứ Độc tài nào khác, biểu tình là tuyệt đối bị cấm.

Thế mà ở Tàu, từ năm 2005, theo thống kê được phổ biến năm đó, người ta thấy có 87 000 cuộc biểu tình. Tới năm 2010, con số biểu tình tăng gắp đôi, trung bình 500 vụ mỗi ngày.  Như vậy chế độ Xi hiểu rỏ biểu tình và cũng biết rỏ cách đàn áp biểu tình hơn ai hết.

Tuy có kinh nghiệm nhiều năm về biểu tình nhưng nay Đảng-Nhà nước vẫn thấy hụt hẫng trước phong trào biểu tình hiện nay bắt đầu từ vụ cháy nhà ở Urumqi, Thủ đô của xứ Ouigour, làm chết hằng mươi người ouigours theo tin chánh thức, theo tin của các hội phi chánh phủ (ONG) thì số nạn nhơn phải lên tới nhiểu chục người. Nhiều gia đình bị chết cháy hết cả nhà. Họ đều là người ouigours. Nguyên nhơn rất đơn giản. Lửa cháy, người ở trong nhà, nhơn viên cứu hỏa không vào chữa được vì cửa đều bị khóa cứng theo biện pháp « Zéro Covid », ngõ vào khu nhà ở bị xe cộ bỏ nằm ngổn ngang ngăn cản lưu thông.

Một làn sóng phẫn nộ ập xuống chế độ Xi, đánh tan cái sợ cố hũu, cái tâm lý ngoan ngoãn nghe theo nhà cầm quyền, biến đại bộ phận dân chúng thành những người biểu tình quyết tâm và gan lì .

Nhiều người nhận xét xưa nay, người tàu chánh gốc ít khi tỏ ra thương xót cho người ouigours khi bị áp bức, đánh đập. Họ vẫn có thể dửng dưng trước nạn bị diệt chủng của dân ouigour từ những năm 2017 . Nhưng lần này, tất cả lớp dân tàu chánh gốc trung bình cùng ở những tòa nhà tương tự nhà bị cháy gần đó bỗng cảm thấy như chính mình là nạn nhơn. Họ đồng cảm sâu sắc và cùng phản ứng chống nhà cầm quyền như để bảo vệ chính mình vậy. Từ đó mà cuộc biểu tình nổi dậy cùng khắp nước Tàu.

Giáo sư Yasheng Huang ở MIT giải thích « Xưa nay, biểu tình chẳng mấy khi xảy ra ở Tàu vì thiếu những bộ phân phối hợp như tôn giáo, hội đoàn, mạng kỹ thuật. Thật mỉa mai là cái « Zéro Covid », chính nó đã thay thế cái bộ phận phối hợp đang thiếu vắng đó mà chuyển tải làn sóng biểu tình tràn lan từ tỉnh  thành đi khắp nước Tàu».

Một cơn ác mộng đen cho Xi chớ không phải là «giấc mơ tàu  như xưa nay Xi từng ôm ấp. Biểu tình không phải từng khu vực để có thể dập tắt, sau  đó truy tìm những người xách động thanh toán làm gương. Mà động lực phát động phong trào là sự giận dữ, sự căm phẫn của cả nước, không phân biệt thành phần xã hội, địa phương, chỉ nhằm thẳng vào chế độ, vào Xi. Với một mục tiêu chung là dẹp bỏ ngay cái «Zéro Covid».

Nhiều sinh viên và giới trẻ nghĩ là sau Đại hội đảng cộng sản, Xi sẽ bỏ cái «Zéro Covid », thứ đã làm chết người, tê liệt xã hội, nhưng không. Nó, không ai biết nó sẽ còn tới bao giờ. Tests, cô lập tập thể, khóa cửa nhà, cửa chung cư, … được tăng cường mạnh thêm  Ngay cả những khu sang trọng ở Bắc kinh.

Từ đó sự thất vọng, một sớm một chiều đã biến thành sự điên tiết của toàn xã hội. Thế là người người tự động đồng loạt xuống đường.

Giới trẻ và sinh viên biểu tình không chỉ nhằm đòi hỏi đơn giản tháo gỡ cái « Zéro Covid » mà chủ yếu nhằm đòi hỏi nhà cầm quyền phải thực thi nguyện vọng chánh đáng của họ là tôn trọng «Tự do», «Dân chủ», «Nhà nước pháp trị », những đòi hỏi mà người ta không được nghe từ cuộc biểu tình của sinh viên ở Thiên An môn.

Họ hô khẩu hiệu «Đả đảo đảng cộng sản». Họ dường như đang say men gan lì nên không còn biết sợ bạo quyền nữa. Và ở một nơi khác, giới trẻ và sinh viên, cùng hô lớn một khẩu hiệu độc đáo, chưa bao giờ có ở Tàu từ năm 1949 «Đả đảo Xi» . Ở cửa sổ trên lầu của một Đại học xá, một biểu ngữ vải trắng với hàng chữ vắn tắc « Xi, một tên khốn nạn». Lần đầu tiên một nhơn vật lãnh đạo đảng tối cao được nêu đích danh và bị đả đảo! Ở Thiên An môn, Đặng Tiểu bình cũng không bị chỉ măt gọi tên như vậy nữa.

Đúng là một sự phạm thượng đáng tội chết!

Liệu Xi, một con người vốn kém hiểu biết, cao ngạo và tàn bạo, sẽ phản ứng như thế nào? Nhượng bộ để giữ ghế ? Hay ra tay dẹp loạn như Mao và Sịt?

Dân chúng biểu tình trên khắp nước Tàu từ hôm 24/11/22 còn do một nguyên nhơn khác nữa. Khi đá banh ở Qatar khai mạc, dân tàu mê đá banh tụ tập trước TV của café ở khu phố theo dõi trận đấu.

Bỗng ở đâu đó, có một trường hợp bị lây nhiểm virus Vũ hán xảy ra, lập tức cả khu vực bị phong tỏa.

Nhà cửa, hàng quán đều phải đóng cửa. Thú mê đá banh bị cụt hứng, hàng quán thua lỗ làm cho mọi người nổi điên lên. Nhà xã hội học huê kỳ Jeffrey Vasserstrom ở Đại học Californie gọi hiện tượng này là « trận bão hoàn hảo »

Ngoài sự mất hứng, dân mê coi đá banh còn lấy làm khó chịu khi nhìn thấy những cầu thủ đá banh, khán giả của các nước, ai nấy đều không mang mặt nạ, còn bắt tay nhau, ôm nhau, vui cười hớn hở mỗi khi kết thúc một màn trên sân cỏ. Trong lúc đó, dân tàu lại bị khủng bố để tránh bị lây nhiễm covid .

Người ta hiểu ngay biện pháp của Xi đang áp dụng triệt để ở đây là hoang tưởng, không thật sự hiệu quả .

Một cuộc «Cách mạng tờ giấy trắng»

Những tờ giấy trắng xuất hiện ở khắp nơi, trên tay người biểu tình hoặc trên tay người hưởng ứng. Nhà cầm quyền bắt đầu hiểu ý nghĩa của tờ giấy trắng là kiểm duyệt sạch trơn. Ở Tàu chỉ có một tiếng nói duy nhứt của đảng và Nhà nước. Cái gì khác hơn đều bị kiểm duyệt. Sạch trơn như tờ giấy trắng!

Nhưng giới trẻ vẫn xoay sở được tin tức thiệt về xứ Tàu và thế giới bằng cách liên hệ với hải ngoại qua hệ thống mạng xã hội rồi truyền cho nhau.

Điều gì sẽ xảy ra ở Tàu trong những ngày tới? Theo bà Cai Xia, Giáo sư trường đảng, tỵ nạn ở Huê kỳ, thì rất khó đoán cho chính xác được.

Tánh tình của Xi, con người kém hiểu biết mà lại cao ngạo và tàn bạo, rất có thể đưa Xi tới cứng đầu trong mọi phản ứng. Xi quan niệm quyền lực thì mọi khoan nhượng đều là biểu hiện của sự yếu kém.

Hơn nữa xung quanh hắn ta chỉ có những kẻ tuân phục, không có ai dám có ý khiến khác hơn hắn.

Vụ Thiên An môn năm 1989 ngày nay vẫn còn ám ảnh nhiều người trong đảng. Nó vẫn bị cấm nhắc tới và xuất hiện trong ngôn ngữ hằng ngày. Vụ Thiên An môn lúc đầu cũng động viên một nhóm sinh viên, trong thời gian ngắn, nó kết thành một phong trào rộng lớn, đòi hỏi hảy thay đổi chế độ độc tài, chuyển qua Dân chủ Tự do. Mặc dầu thất bại và thất bại trong xương máu nên vụ Thiên An môn vẫn còn ám ảnh chế độ độc tài và là hồn ma linh thiêng của giới trẻ và sinh viên.

Nhưng từ sau vụ Thiên An môn, nhà cầm quyền độc tài Bắc kinh đã học được bài học mới. Họ tăng cường ngân sách an ninh, trang bị mạnh và tối tân lực lượng an ninh để khi có biểu tình đòi Dân chủ, họ sẽ ra tay đàn áp hữu hiệu và nhanh chóng mà không cần tới quân đội và chiến xa nữa.

Nhiều người nghĩ là rất có thể Xi sẽ ra tay dẹp mau phong trào biểu tình này sau vài tương nhượng nhỏ như đã làm đối với công nhơn lả trả lương cho họ trong những ngày xí nghiệp đóng cửa theo lệnh phong tỏa, hay làm ngơ cho một số công nhơn khác phá rào nơi phong tỏa, ra đi bộ về quê quán.

Thực tế ai cũng thấy Zéro Covid không mang lại hiệu quả mong muốn mà số người được chích ngừa lại quá ít. Nên con số người được miễn nhiễm quá it. Thuốc chích ngừa lại kém hiệu quả. Nay là lúc covid đang lây lan mạnh. Mọi biện pháp cực đoan, chỉ nhằm mục tiêu chánh trị, thiếu bảo đảm y tế, chắc chắn sẽ làm cho dân tàu chết không dưới 1, 5 triêu người ngay đợt đầu tiên, theo những nhà khoa học ước tính.

Một thảm nạn y tế có khả năng làm rung chuyển mọi chế độ.

Về mặt kinh tế, Xi vẫn tự hào là Tàu sẽ vượt qua Mỹ trong nay mai. Nhưng xưa nay, cây cổ thụ thường không làm sao vươn lên tới trời được. Chánh sách « Zéro Covid » mà Xi từng khoe khoang – một thời Hà Nội bắt chước, nhưng một hôm bỗng khôn ra, vội tháo gỡ – đã làm cho kinh tế tàu nghẹt thở . Từ tăng trưởng 8, 1% năm trước, năm nay xuống còn 3, 2% trong lúc mức tăng trưởng trong vùng là 4, 4% .

Trong lúc đó, dân số Tàu già nua mau mà thế hệ nối tiếp không kịp và không đủ thay thế . Đây là một hiểm họa cho tương lai không xa của Tàu.

Trước thục tế và viễn ảnh không xa đó, liệu Xi vẫn kiên quyết bảo vệ đường lối độc tôn có một không hai hay thay đổi để đất nước khá lên và Xi còn vào nhà dưỡng lão?

Nguyễn thị Cỏ May

LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG – Việt phương

Viet Phuong LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG Việt phương Tôi đặt chân đến phi trường Dallas/ Fort Worth vào cuối thu. Cái lạnh khiến tôi tỉnh táo người hơn, khi buổi sáng phải bị thức dậy sớm ở Los Angeles để kịp chuyến bay về Dallas như trong lịch trình. Thành phố Dallas nhìn từ trên cao khi trời đang ren rén vào đông, thật buồn. Những thảm cỏ ngút ngàn đã đổi thành màu da bò trông lành lạnh. Ra đón tôi là người anh cả cùng chị dâu tôi. Anh chị trẻ và đẹp hơn những tấm hình đã gửi về. Trong cái dè dặt ôm anh, tôi thấy cả một bầu trời yêu thương. May quá, tôi không đến nỗi bơ vơ trên xứ người. Tuần lễ đầu tiên, anh tôi tập cho tôi lái xe, đi thi lấy bằng viết, rồi bằng lái. Tôi còn trẻ nên việc “tiếp thu” cũng không đến nỗi chậm chạp. Sau một tuần là tôi đã có được bằng lái xe tạm để đi làm. Anh chị tôi cho tôi mượn chiếc xe Oldsmobile đời 1975 màu hoàng đồng, cũ và thô kệch như một chiếc xe tăng. Anh tôi dẫn tôi xin việc trong một hãng tiện. Tôi được nhận vào làm ngay. Hôm sau, một mình tôi lái xe đi làm. Vì ra lộn exit, bị lạc đến nửa ngày. Rồi lại mò về nhà. Lạc đường muốn khóc. Tôi ngồi trên xe mà như ngồi trên ổ kiến lửa. Tôi chạy vòng quanh. Trời ơi, đường xá gì mà như màng nhện. Xe cộ chạy ào ào như thác lũ. Kinh hãi quá! Tôi lại bị cuốn trong dòng thác ấy, không biết đường nào ra. Về tới nhà. Anh tôi an ủi tôi. Chú chạy được về nhà là giỏi lắm rồi. Ngày hôm sau, đích thân anh dẫn tôi vào nói chuyện với superintendent, xin cho tôi được tiếp tục làm việc. Bắt đầu mùa học, anh tôi dẫn tôi vào trường làm thủ tục ghi danh. Anh chỉ cho tôi môn học nào cần lấy trước. Những bước đầu tiên chập chững ấy, đều có anh tôi nâng đỡ, lo lắng. Anh như người cha. Bởi anh là anh cả, trong khi tôi thua anh đúng 10 tuổi và ở vào hàng thứ năm. Anh nghiêm trang, ít đùa giỡn; hơn nữa khoảng cách tuổi tác khiến tôi không gần gũi anh như một người bạn. Có thể tâm sự với anh những điều tôi suy nghĩ trong đầu. Tuy nhiên, tình cảm anh dành cho các em và gia đình lúc nào cũng tràn đầy, lai láng. Chúng tôi hiểu điều ấy. Tôn trọng, và yêu thương anh cũng từ điều ấy. **** Mùa lễ Thanksgiving đầu tiên, tôi được hãng thưởng cho một con gà tây nặng cỡ 20 lbs. Tôi hớn hở mang con gà tây về nhà. Anh tôi cười: “Con gà tây nặng sấp sỉ bằng chú rồi đó.” Tôi cười, vì mới từ đảo qua, vẫn còn da bọc xương: “Không biết mình làm gì với con gà bự khủng khiếp này?” “Chú đừng lo. Anh sẽ chế biến ra món ngon chú chưa từng được ăn bao giờ.” Thế là tôi giúp anh tôi “xả đá” con gà. Trước tiên, anh bảo tôi bỏ gà vào trong nước lạnh, cứ 30 phút là thay nước một lần cho đến khi gà rả hết đá, da thịt đã mềm. Rồi anh ngâm gà trong nước muối, để cách đêm. Hôm sau, anh mang gà ra khỏi tủ lạnh, anh bóp gà với ít muối tiêu, sau đó anh lấy cọ phết nước bơ chung quanh con gà, anh nói làm cách này da gà sẽ trở thành màu vàng nâu rất đẹp sau khi nướng. Anh lấy chanh cắt thành tám cho vào bụng gà, và sau đó cho thêm gia vị ground spices chà sát vào da gà. Anh gọi đó là massage cho thịt gà được mềm. Anh đổ 2 cups nước cốt gà vào khay, xong đặt gà vào, anh để con gà nằm ngửa. Tênh hênh. Trần truồng. Đút gà vào oven, anh vặn lửa lên 350 độ F, mỗi 45 phút, anh mang gà ra khỏi lò nướng, lấy nước juices từ gà tiết ra dội lại khắp hết con gà cho đều, rồi bỏ vào nướng tiếp. 45 phút sau cùng anh mang gà ra lần cuối, bôi thêm bơ đã được làm tan chảy vào thân gà một lần nữa. Lần này anh nói để da gà giòn hơn, và sẽ đổi thành màu golden brown rất đẹp và hấp dẫn. Anh nướng gà tới 4 tiếng đồng hồ, thật công phu. Anh lấy cây nhiệt độ kế đâm vào ức gà để đo nhiệt độ. Khi thấy nhiệt độ thân gà cỡ 165 độ F, anh bảo gà đã chín rồi. Anh mang gà ra khỏi lò nướng, Cầm gà chúc xuống, cho nước trong con gà chảy ra hết xuống khay, anh dùng nước gà này để làm nước sốt (gravy) ăn với khoai tây nghiền. Sau đó, anh đặt con gà vào một khay khác, lấy aluminum foil bọc lại. Đêm Thanksgiving năm ấy. Trên bàn đã được chị dâu bày biện mỹ thuật: nào là khoai tây nghiền trắng với nước gravy nâu lóng lánh chút bơ và mỡ gà tây, nào là mứt cranberry đỏ tươi trên đĩa men sứ trắng, rồi bánh bí đỏ, bánh mì Pháp, chính giữa là con gà tây màu da vàng rượm nằm khiêu khích tuyến nước miếng của tôi. Tất cả những món ăn trước đó tôi chưa bao giờ được dùng tới. Chị dâu tôi còn cẩn thận làm thêm mấy món Việt Nam cho tôi nhỡ tôi ăn không được thức ăn Mỹ. Tôi nghĩ tới đồng bào ở Việt Nam lúc bấy giờ đang sống trong giai đoạn “quá độ”, vẫn còn ăn cơm độn khoai mỗi ngày. Tôi nói với anh tôi: “Lãng phí quá. Chỉ một con gà và bàn tiệc như thế này ở Việt Nam làm đám giỗ, chắc ăn tới cả làng.” Ba chúng tôi cùng cười vui vẻ. Vâng, chỉ ba người chúng tôi cũng có được một đêm thật ấm cúng gia đình bên con gà tây vàng rượm, nhớ đời. **** Để tiện cho công việc học hành, tôi dọn vào ở chung với các bạn cùng trường. Tôi không còn ở với anh chị tôi nữa. Nhưng cứ đến mỗi Thanksgiving, tôi lại nhớ đến anh tôi, đến con gà tây anh làm cho tôi dạo nào. Ngày tháng cứ vun vút trôi. Anh em chúng tôi không gặp nhau thường xuyên lắm, nhưng trong tâm tôi, anh lúc nào cũng chiếm một vị trí quan trọng. Tôi chưa bao giờ nói với anh tiếng cảm ơn mà nước Mỹ đã dạy cho tôi trên đầu môi. Tại sao hai chữ Thank you tôi nói quá dễ dàng trong mỗi xã giao hàng ngày. Nhưng đối với anh tôi, hai chữ cảm ơn lại khó thoát ra khỏi cổ họng đến dường ấy. Với tôi, hai chữ cảm ơn như một sáo ngữ khi nói với anh tôi. Tôi thương anh tôi, nó nằm ở trong tim tôi, chứ không phải ở đầu môi. Tôi nghĩ thế. Nhưng liệu anh tôi có biết là tôi thương anh tôi đến chừng nào? Những cuốn Tuổi Hoa, Thằng Bờm anh đã mua cho tôi từ dạo bé, tôi không bao giờ quên. Những cuốn sách đã dẫn tôi tập tễnh bước vào thế giới văn chương, trong đó công anh hai tôi không phải là nhỏ. Thế nhưng tôi chưa bao giờ nói với anh hai tiếng cảm ơn. Tôi coi như đó là bổn phận của anh tôi. **** Ngày anh hai báo cho tôi biết anh bị ung thư lá lách, tôi không thể nào tin được. Nhìn anh vẫn còn mạnh khỏe, da dẻ vẫn hồng hào. Tôi hy vọng đó chỉ là giả thuyết của bác sĩ mà thôi. Rồi anh đi mổ. Tôi đến bệnh viện thăm anh, anh nói với tôi giọng rất lạc quan: “May quá, bác sĩ phát hiện sớm, nên cục u đã được cắt bỏ.” Tôi hỏi nguyên nhân bệnh ung thư của anh, anh nói bác sĩ bảo đó là di hại của chất độc da cam. Phải rồi! Năm 1968 gia đình tôi di cư từ Huế vào Nha Trang. Anh tôi phải ở lại Huế để học xong tú tài toàn phần. Thời gian này, anh đã bị nhiễm chất độc da cam. Anh bảo tôi thế. Anh đã cùng sinh viên, học sinh đi đến những làng mạc xa xôi để cứu trợ. Và, tôi tin anh. Tôi tin bác sĩ. Cục u đã được cắt bỏ. Không thấy phát triển thêm. Anh xuất viện, an tâm đi làm lại. Nhưng sự thật không dễ dàng như thế. Vài tháng sau lại nghe tin anh phải chấp nhận làm Chemotherapy. Tóc anh đã bắt đầu rụng, da anh không còn hồng hào như xưa. Nhưng anh vẫn lạc quan. Không sao cả. Tình hình không trở nên tồi tệ đâu chú ạ. Đó là lời anh an ủi tôi, thay vì tôi phải nói với anh. **** Tôi nghe anh ngày mai phải đi bệnh viện để mổ, liền gọi cho anh. Anh nói chú đừng lo. Chỉ đến để cắt cục u nhỏ như trước thôi, đây là tiểu phẫu, không thành vấn đề đâu. Tôi nghe xong thở phào nhẹ nhõm. Anh làm em lo quá. Không sao đâu chú, ngày mai chú không cần đến bệnh viện đâu. Cứ đi làm như thường lệ nhé. Bác sĩ bảo bệnh tình anh đã được ổn định, có thể sống thêm nhiều năm nữa. Anh cười. Tiếng cười anh vẫn rõ đầu dây, không có dấu hiệu mệt mỏi. Tôi yên tâm gác máy. Hôm sau, chị dâu tôi hốt hoảng gọi tôi. Tôi vội vàng phóng xe vào bệnh viện. Anh tôi đang nằm trong phòng cấp cứu. Tôi nói chuyện với bác sĩ. Anh tôi trong lúc giải phẫu, đã bị vỡ mạch máu. Máu chảy ngược lên não làm não bị hư hại trầm trọng. Tôi nói đây không phải là cuộc giải phẫu lớn, chỉ cắt bỏ cục u như đã làm lần trước, thế thôi. Sao lại để sự việc xảy ra như thế này? Bác sĩ bảo “chúng tôi” đã theo đúng “procedure”. Rồi làm ra vẻ bận rộn, ông quay lưng, vội vã bước đi. Tôi đứng bên giường bệnh. Anh tôi nằm mang ống dưỡng khí. Tôi nghĩ anh tôi đang chiến đấu với cơn đau dữ dội. Bác sĩ bảo luật Texas, không được tháo ống dưỡng khí nếu bệnh nhân còn một chút hơi thở. Tôi nhìn anh, đau đớn. Không nói nên lời. Chết lặng. Rồi anh trút hơi thở cuối cùng. Trước khi anh đi, tôi không hiểu sao, một người nằm bất động đã mấy ngày, bỗng nhiên giơ tay cao, nắm lấy bàn tay tôi rất chặt. Anh có rất nhiều điều muốn nói với tôi. Cái nắm tay của anh. Như luồng điện chạy qua tay tôi, dẫn vào tim, làm tim tôi co thắt. Tê liệt. Cái nắm tay truyền ngàn lời muốn nói. Tôi hiểu. Tôi cam đoan tôi hiểu anh muốn nói điều gì. Tôi khóc như mưa. Bàn tay anh xiết chặt. Bàn tay làm nhói đau tim tôi. Rồi tay anh nới lỏng ra. Rơi xuống giường.Tuyệt vọng. Tôi khóc. Tôi vẫn chưa có cơ hội nói hai tiếng cảm ơn với anh. Tối hôm đó, tôi và hai người chị ruột của tôi (một người từ Hòa Lan sang, và một người theo chồng sang Mỹ diện H.O.) được một bác sĩ trực mời vào phòng riêng. Ông bảo nhỏ, đây là sơ suất của bác sĩ trong lúc giải phẫu. Tôi bàn với hai chị tôi, nên làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng hai chị tôi cản. Hãy để cho anh ấy ra đi bình an. Mấy người đồng nghiệp Mỹ trong sở tôi (có người đã từng tham chiến ở Việt Nam) cũng khuyên tôi nên “kiện” bệnh viện. Hơn nữa, chính phủ Hoa Kỳ đã nói họ chịu trách nhiệm về những di hại của chất độc da cam mà họ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chị tôi bảo người chết thì hết. Đừng làm anh tôi phải chết thêm lần nữa, về những cuộc khảo nghiệm không cần thiết. Hãy để cho anh thanh thản ra đi. Ngày đưa tiễn anh đi, tôi đọc điếu văn. Không hiểu sao, trong bài điếu văn ấy cũng không có hai tiếng cảm ơn anh. **** Mùa Lễ Tạ Ơn, đối với tôi có những ý nghĩa thật sâu sắc. Từ món gà tây đút lò anh tôi đã dạy cho tôi. Và bữa tiệc Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ, bên người anh vì cuộc chiến đã không được chung sống cùng nhau 14 năm, từ năm 1968. Khi anh ở lại Huế một mình. Rồi lại qua Mỹ một mình sau biến cố 1975. Lễ Tạ Ơn đối với người Việt tị nạn cũng là lễ Tạ Ơn Chúa Trời đã cho chúng ta được sống sót trên những chiếc thuyền mỏng manh để đến xứ sở này. Như ngày xưa, ở những năm đầu thế kỷ 17 (tháng 11, 1620). Người dân Pilgrims vì bảo vệ tôn giáo đã vượt thoát từ Anh Quốc trên đường đi tìm Tân Thế Giới. Họ đến bãi Cape Cod nay thuộc tiểu bang Massachusetts bằng chiếc thuyền Mayflower. Mùa đông năm ấy, vì không chịu đựng được cái giá lạnh trên xứ lạ, một nửa số người trên chiếc thuyền Mayflower đã chết. Họ được Thổ dân da đỏ dạy cho cách săn bắn, trồng trọt. Và đúng một năm sau, gặt hái được mùa, họ mời Thổ dân da đỏ đến và tổ chức lễ Tạ Ơn đầu tiên năm 1621. Chúng ta được thừa hưởng một ngày lễ thật ý nghĩa của dân tộc Pilgrims. Cảm ơn dân tộc Pilgrims. Cảm ơn Thổ dân da đỏ. Cảm ơn bố mẹ đã sinh ra, nuôi lớn và dạy dỗ yêu thương tôi. Cảm ơn bạn bè, thầy cô. Cảm ơn Việt Nam, đất nước tôi đã được sinh ra. Cảm ơn anh chị em đã cùng tôi lớn lên trong một gia đình đông đúc. Cảm ơn anh tôi đã bảo trợ cho tôi qua Mỹ từ trại tị nạn Hongkong, dắt tôi đến trường khi tôi ngu ngơ như cậu bé của Thanh Tịnh trong sách giáo khoa ngày xưa. Cảm ơn chị dâu tôi đã cho tôi sống trong gia đình chị những tháng ngày mới đến Mỹ định cư. Cảm ơn chị đã san sẻ tình thương của anh cho tôi. Cảm ơn anh hai, chị ba tôi đã cùng tôi vượt qua đau khổ bên này đại dương, khi nghe tin bố tôi mất ở quê nhà. Cảm ơn hai người chị của tôi đã có mặt cùng tôi, chia sẻ đau buồn trong những ngày anh hai tôi hấp hối ở bệnh viện. Cảm ơn vợ con đã ở cạnh kề mỗi ngày, cho tôi mái ấm gia đình và những nụ cười hạnh phúc. Cảm ơn những người bạn cùng sở dù đôi lúc có những đấu tranh ngấm ngầm vì miếng cơm. Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang, đã cho tôi tiền học phí để tiếp tục học hành. Cảm ơn đồng bào Việt Nam đã cùng chung tiếng nói. Cảm ơn những người bản xứ chung quanh đã sống tử tế với tôi. Đây không phải là ngày lễ Tạ ơn của bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào. Nó đã trở thành ngày lễ Tạ Ơn chung cho tất cả mọi người ở Mỹ và Canada (dù khác ngày). Tôi hy vọng đây sẽ là một ngày Lễ Tạ Ơn cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Cùng đến với nhau một ngày. Môt ngày gần nhau như con chuột và bàn phím cùng thế giới cận kề yêu thương, hòa bình trên mỗi monitor. Chúng ta có quá nhiều bài học yêu thương. Hãy học để biết yêu thương người khác. Sống tử tế với người khác. Chỉ có trái tim hòa ái, mới có thể sống tử tế với mình và với người. Tôi là người Phật giáo, mùa lễ Tạ Ơn, tôi lại nhớ đến câu chuyện: Một người nghèo hỏi Đức Phật: “Tại sao con nghèo như thế?” Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.” Người ấy nói: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí.” Đức Phật dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này”:
  1. Nhan thí – Bố thí nụ cười.
  2. Ngôn thí – Bố thí ái ngữ, nói lời hay.
  3. Tâm thí – Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.
  4. Nhãn thí – Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.
  5. Thân thí – Bố thí hành động nhân ái.
  6. Tọa thí – Bố thí nhường chỗ cho người cần.
  7. Phòng thí – Bố thí lòng bao dung.
Tôi, lòng trần, mắt thịt. Học và thực hành được 7 điều trên không phải là chuyện dễ. Nhưng trước mắt. Tôi nhủ lòng. Hãy đối xử tốt với người bên cạnh mình. Hãy nói cảm ơn trước khi mọi việc đã quá muộn màng. Mùa Lễ Tạ Ơn năm nay, tôi viết bài này như một lời cảm ơn mà tôi đã “nợ” của anh tôi. Lời cảm ơn chưa nói như thứ mặc cảm tội lỗi đã theo tôi một chặng đường dài gần 20 năm, từ khi anh mất. Cảm ơn anh. Anh hai của em. Tôi biết anh tôi không cần tôi cảm ơn. Nhưng lần này tôi vẫn nói. Và, xin lỗi anh vì lời cảm ơn đã quá muộn màng. VP

Việt Nam lại hăm dọa chặn Facebook, Google

Báo Nguoi-Viet HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – “Các nền tảng YouTube, Facebook vẫn cho người sử dụng đăng tải tràn lan nội dung vi phạm pháp luật, sau đó cho phép tài khoản bật tính năng kiếm tiền, đồng nghĩa với treo quảng cáo trên các nội dung đó.” Phát ngôn nêu trên của ông Lê Quang Tự Do, cục trưởng Cục Phát Thanh, Truyền Hình và Thông Tin Điện Tử, được báo Zing hôm 30 Tháng Mười Một đăng tải, nhằm đe dọa chặn hoạt động của Facebook và Google tại thị trường Việt Nam. Ông Lê Quang Tự Do, cục trưởng Cục Phát Thanh, Truyền Hình và Thông Tin Điện Tử. (Hình: Zing) Những “nội dung vi phạm pháp luật” hoặc “xấu độc” theo diễn giải của ông Tự Do là ý kiến bất đồng của giới xã hội dân sự, blogger, mà nhà cầm quyền CSVN muốn ngăn chặn triệt để trên mạng xã hội. Ông Tự Do cũng ám chỉ về “chín trường hợp [nền tảng mạng xã hội, doanh nghiệp ngoại quốc kinh doanh dịch vụ quảng cáo] không thông báo đầy đủ về vấn đề máy chủ tại Việt Nam.” Theo ông này, có doanh nghiệp đặt “hơn 2,000 máy chủ” tại Việt Nam nhưng không ghi danh với nhà chức trách. Tuy vậy, ông Tự Do không nói cụ thể máy chủ đó là của mạng xã hội nào. “Chúng tôi sẽ yêu cầu các nhà mạng không cho đặt máy chủ nữa để đúng như thông báo của doanh nghiệp. Không rõ đến khi mất 2,000 máy chủ đó thì họ có vận hành được hay không.” “Các doanh nghiệp đã lỡ khai báo sai về tình trạng máy chủ tại Việt Nam có một tháng để khai báo lại trước khi bị Bộ Thông Tin Truyền Thông và các nhà mạng chặn máy chủ,” ông Tự Do đe dọa. Ông Tự Do cũng nêu đích danh Electrolux, Samsung, Eurowindow, Standard Chartered là các nhãn hàng “có quảng cáo treo trên các nội dung xấu độc.” Ông này cũng thông báo về việc khuyến khích các nhãn hàng, đại lý quảng cáo “ưu tiên treo quảng cáo trên các nền tảng mạng xã hội [của Việt Nam], báo, trang thông tin điện tử, tài khoản, kênh nội dung tuân thủ pháp luật.” Những trang này được ông Tự Do cho vào “danh sách trắng” trong lúc khái niệm “danh sách đen” là để dành chỉ các tài khoản mạng xã hội, trang tin không tuân theo định hướng tuyên truyền của nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền Việt Nam muốn ngăn chặn những ý kiến bất đồng trên mạng xã hội. (Hình: Thanh Niên) Hồi tháng trước, trang ICT News của báo VietNamNet cho hay, Bộ Thông Tin Truyền Thông loan báo việc ép buộc Facebook gỡ bỏ 16 hội, nhóm “có nội dung không lành mạnh,” 11 tài khoản “giả mạo các cá nhân, tổ chức.” Trong khi đó, YouTube bị ép buộc chặn sáu kênh “phản động.” Bộ Thông Tin Truyền Thông cũng khoe rằng “tỷ lệ chặn gỡ,” tức việc các nền tảng mạng xã hội phải gỡ bài, xóa tài khoản theo yêu cầu của nhà cầm quyền Việt Nam “đạt trên 93%.” (N.H.K)

5 dấu hiệu tiên đoán bạn là người hạnh phúc, vui vẻ

Báo Nguoi-Viet November 30, 2022 LOS ANGELES, California (NV) – Người ta hay nói hạnh phúc không đong đếm được, nhưng các nhà khoa học đã tìm ra một số điều liên quan đến não bộ và hành vi của con người để nhận tìm ra một số dấu hiệu có thể tiên đoán bạn là người hạnh phúc và vui vẻ trong cuộc sống. Năm điều dưới đây là những điều rất đơn giản và cơ bản mà bạn có thể thay đổi. Chính những thói quen nhỏ này sẽ giúp bạn trở nên hạnh phúc, yêu đời và vui vẻ hơn, theo trang mạng Refinery 29. Có những thói quen bạn có thể thực hiện để trở thành người hạnh phúc nhất thế giới. (Hình: Matt Winkelmeyer/Getty Images for Coachella)
  1. Dậy sớm mỗi ngày
Theo cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học Anh tại UK Biobank, những người nào có thói quen ngủ sớm và dậy sớm sẽ cảm thấy yêu đời và hạnh phúc hơn. Những người dậy sớm thường sẽ có thời gian để làm nhiều hơn những điều họ muốn, họ cũng không bị căng thẳng, khó chịu so với những ai thức khuya và dậy trễ. Họ cũng sẽ có xu hướng mãn nguyện và hài lòng cuộc sống của mình hơn so với những người thuộc dạng “cú mèo,” vì những người ngủ trễ và dậy trễ sẽ dễ gặp căng thẳng và tinh thần cũng do thiếu ngủ.
  1. Có chị gái hay em gái
Các mối quan hệ trong cuộc sống rất quan trọng vì chúng góp phần không chỉ hình thành tính cách và thói quen của bạn ngay từ khi còn nhỏ, mà còn góp phần làm cuộc sống của chúng ta trở nên tốt hơn hoặc xấu đi. Những gia đình nào có chị gái hoặc em gái thường sẽ có thói quen giao tiếp cởi mở hơn, dẫn đến mối quan hệ cũng trở nên gần gũi và thấu hiểu hơn. Một trong những lý do chính là thường thì con gái và phụ nữ dễ dàng nói các vấn đề của mình hơn là nam giới. Ngoài ra, nếu gia đình bạn có chị em gái, bảo đảm sẽ giúp em trai hoặc anh trai của mình có cách nói chuyện và tâm lý hơn với con gái.
  1. Sống ở Phần Lan
Bạn có biết Liên Hiệp Quốc bình chọn Phần Lan là đất nước hạnh phúc nhất thế giới? Phần Lan có đời sống cao, ít tệ nạn, thời tiết ôn hòa, điều kiện giáo dục, y tế và kinh tế chú trọng vào tinh thần của người dân rất nhiều, khiến những công dân ở đây luôn cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc. Không chỉ có Phần Lan mà thông thường các nước Tây Âu và Bắc Âu khác như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch hay Hòa Lan cũng nằm trong danh sách các quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới. Phần Lan được mệnh danh là đất nước hạnh phúc nhất thế giới. (Hình: Justin Tallips/AFP via Getty Images)
  1. Ăn rất nhiều trái cây và rau quả
Một cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học Úc được thực hiện vào năm 2013 cho thấy, những ai có thói quen ăn trái cây và rau quả mỗi ngày thường sẽ có xu hướng vui vẻ, yêu đời và hạnh phúc hơn. Trái cây và rau quả có nhiều chất xơ và vitamin, không chỉ tốt cho đường tiêu hóa mà còn giúp cơ thể có sức kháng thể cao, không dễ gặp bệnh tật khiến xuống tinh thần và cảm thấy mệt mỏi.
  1. Thích làm vườn
Việc hòa mình vào với thiên nhiên, chăm chút nâng niu từng bụi rau, cây hoa sẽ khiến chúng ta cảm thấy bình yên, não bộ thư giãn và cảm thấy trân trọng cuộc sống. Đó cũng chính là lý do tại sao công việc làm vườn được xem là công việc đem lại hạnh phúc cao nhất cho con người, thậm chí việc này thật ra không có lương cao so với các công việc khác. Giáo Sư Paul Dolan, tác giả cuốn sách “Happiness by Design,” cho biết, 9 trên 10 người làm công việc làm vườn chuyên nghiệp đều cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với cuộc sống. Trong khi đó, những người làm về tài chính, điển hình là những ai làm trong ngân hàng, đều đa số cảm thấy căng thẳng, áp lực và ít vui vẻ hơn. (UPK)