TOKYO / MANILA – Lưu lượng lao động nhập cư xuyên biên giới ở châu Á đang gia tăng khi ảnh hưởng của đại dịch giảm dần.
Năm 2022, số lao động nhập cư mới đạt tổng cộng 4,6 triệu người, gần với con số trước khi dịch COVID-19 bùng phát, sau khi các quốc gia nới lỏng hoặc loại bỏ các hạn chế được áp đặt để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.
Trong khi Bangladesh trở thành nguồn cung cấp lao động nhập cư lớn nhất, kiều hối của lao động nước ngoài nói chung đạt mức cao nhất mọi thời đại, giúp ích cho nền kinh tế của các nước sở tại.
Vào cuối tháng 6, Bộ Lao động Di cư Philippines (DMW) ở Manila đã có mặt đông đúc những người tìm kiếm việc làm ở nước ngoài. “Tôi dễ dàng tìm được một công việc lương cao”, Juviline Llenado, người sẽ đi làm “giúp việc gia đình” ở Ả Rập Saudi, nói. Để hỗ trợ gia đình, cô dự định lên đường đến vương quốc giàu dầu mỏ này vào tháng Bảy.
Các thủy thủ thương mại, những người được đối xử như những người lao động nhập cư ở Philippines, cũng đang tăng hàng ngũ. Có khoảng 500,000 thủy thủ thương mại Philippines vào năm 2019 nhưng con số này đã giảm mạnh trong cuộc khủng hoảng COVID. Tuy nhiên, trong ba tháng đầu năm nay, con số này đứng ở mức khoảng 150.000. Susan Ople, thư ký của DMW, cho biết: “Bạn có thể thấy rằng con đường phục hồi rất rõ ràng”.
Có 4,6 triệu lao động nhập cư mới ở châu Á vào năm 2022, đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ từ 1,8 triệu vào năm 2020 và 2,2 triệu vào năm 2021, theo Viện Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADBI), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và Tổ chức Lao động Quốc tế. Với việc Trung Quốc đã kết thúc chính sách zero-COVID, con số này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm nay và có thể đạt mức trước đại dịch là 5 triệu lao động.
Nhu cầu lao động nước ngoài đã phục hồi mạnh mẽ do sự phục hồi kinh tế toàn cầu được thúc đẩy bởi việc nới lỏng kiểm soát biên giới. Đặc biệt, các nước sản xuất dầu ở Trung Đông, như Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, đang chấp nhận số lượng lớn công nhân từ Bangladesh và các nước Nam Á khác.
Ả Rập Xê Út và các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư khác đã thúc đẩy đầu tư bất động sản và cơ sở hạ tầng do giá dầu thô cao. Mặc dù chi tiêu tích cực nhằm đa dạng hóa các ngành công nghiệp phụ thuộc vào năng lượng của các quốc gia, nhưng nó đã gây ra tình trạng thiếu lao động trong xây dựng và các lĩnh vực khác trong thời gian tới. Để bù đắp cho sự thiếu hụt, tuyến đường từ Nam Á đến Trung Đông đã trở thành hành lang lớn nhất cho lưu lượng lao động nhập cư ở châu Á.
Năm 2022, Saudi Arabia tiếp nhận kỷ lục 1,5 triệu lao động từ các quốc gia và khu vực châu Á, theo ADBI. Điều này bao gồm hơn 600.000 và 500.000 từ Bangladesh và Pakistan, tương ứng. UAE và Oman cũng tiếp nhận nhiều lao động từ hai nước.
Sự hiện diện của công nhân từ Bangladesh cũng đáng chú ý ở Đông Nam Á. Ví dụ, Singapore và Malaysia mỗi nước chấp nhận hơn 50.000 lao động. Ngoài ra, hơn 40.000 người đã đến Malaysia từ Indonesia.
Bangladesh đã vượt Philippines trở thành nguồn cung lao động nhập cư lớn nhất châu Á vào năm 2022 với 1,13 triệu người. Số lượng lao động từ Philippines đã vượt quá 1,6 triệu vào năm 2016 và 2019 nhưng đã giảm vào năm 2020. Mặc dù phục hồi lên 820.000 người vào năm 2022, Philippines vẫn tụt lại phía sau Bangladesh.
Trong số những người lao động nhập cư châu Á đến Mỹ và châu Âu, người Ấn Độ đông hơn những người khác. Thị thực làm việc của Hoa Kỳ – chẳng hạn như H1B được cấp cho nhân viên Công Nghệ Thông Tin và các chuyên gia khác – đã được 200.000 người Ấn Độ nhận được vào năm 2022, tăng 34% so với năm 2019. Ngược lại, chỉ có 8.000 công nhân Trung Quốc đến Mỹ, phản ánh căng thẳng Mỹ-Trung.
Lao động nhập cư, đôi khi được gọi là cộng đồng người di cư, củng cố nền kinh tế của đất nước họ bằng cách gửi tiền cho gia đình họ.
Kiều hối gởi về nhà của khu vực châu Á – Thái Bình Dương đạt mức cao nhất mọi thời đại là 340 tỷ USD vào năm 2022, chiếm khoảng 40% tổng số giao dịch chuyển tiền quốc tế.
Đối với các nước mới nổi và đang phát triển, kiều hối từ lao động di cư hiện là nguồn ngoại tệ có giá trị ngoài đầu tư trực tiếp nước ngoài và hỗ trợ phát triển chính thức. Kiều hối hỗ trợ tiêu dùng cá nhân và chi tiêu vốn.
Ấn Độ nhận được lượng kiều hối lớn nhất, tiếp theo là Trung Quốc và Philippines. Tonga và Samoa ở Nam Thái Bình Dương và Kyrgyzstan và Tajikistan ở Trung Á nhận được kiều hối bằng hơn 30% tổng sản phẩm quốc nội của mỗi quốc gia. Vì cộng đồng người Trung Á thường làm việc ở Nga, họ có thể tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những diễn biến trong cuộc chiến giữa Nga và Ukraine.
Một chỉ số về việc làm của Trung Quốc đã giảm trong tháng Sáu, làm nổi bật sự căng thẳng liên tục trong thị trường lao động.ẢNH: STR/AGENCE FRANCE-PRESSE/GETTY IMAGES
Bằng chứng về sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc tiếp tục xuất hiện, đặt ra câu hỏi về việc liệu chính phủ có làm đủ để xoay chuyển tình thế hay không.
Lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc đã liên tiếp suy giảm đến lần thứ ba trong tháng Sáu và khu vực phi sản xuất cũng suy yếu, với các đơn đặt hàng mới giảm cho cả hai, cơ quan thống kê chính thức của nước này cho biết hôm thứ Sáu. Việc làm giảm trên cả hai lĩnh vực rộng lớn, một dấu hiệu cho thấy tình trạng thiếu việc làm dai dẳng , đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi, đang trở nên tồi tệ hơn.
“Dữ liệu có thể sẽ thúc đẩy các quan chức nới lỏng hơn cho nền kinh tế”, Louise Loo, một nhà kinh tế Trung Quốc tại Oxford Economics có trụ sở tại Singapore cho biết. “Bộ phận thương mại của nền kinh tế đã thực sự xấu đi.”
Trung Quốc đang phải đối mặt với một loạt thách thức mà các nhà kinh tế cảnh báo sẽ đe dọa tiềm năng tăng trưởng dài hạn của nước này nếu không có những cải cách mạnh mẽ. Chúng bao gồm gánh nặng nợ nần gia tăng, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao một cách ngoan cố và sự phục hồi ngắn ngủi trong thị trường bất động sản đang bị bao vây.
Căng thẳng chính trị dai dẳng đã thúc đẩy nhiều nhà sản xuất đa dạng hóa chuỗi cung ứng của họ, một xu hướng có thể sẽ làm xói mòn vai trò của Trung Quốc như là sàn công xưởng của thế giới.
Số liệu hôm thứ Sáu là bằng chứng mới nhất cho thấy sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc vẫn còn lung lay nhiều tháng sau khi Bắc Kinh từ bỏ các hạn chế Covid-19 hà khắc. Nhu cầu hàng hóa toàn cầu đã hạ nhiệt trong bối cảnh lạm phát cao ở những nơi khác trên thế giới, trong khi sự phục hồi trong nước do chi tiêu của người tiêu dùng đang mất hơi.
Chỉ số nhà quản trị mua hàng, PMI của Trung Quốc đã tăng nhẹ lên 49 trong tháng 5 từ mức 48.8, không đủ để vượt qua mốc 50 phân cách giữa tăng trưởng với giảm thiểu, Cục Thống kê Quốc gia cho biết. Kết quả này phần lớn phù hợp với mức dự kiến của các nhà kinh tế được khảo sát bởi The Wall Street Journal.
Một chỉ số phụ về việc làm đã giảm xuống còn 48,2 trong tháng Sáu, sự thu hẹp tiếp tục 4 tháng liền làm nổi bật sự căng thẳng liên tục trong thị trường lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của người lao động trong độ tuổi từ 16 đến 24 đã tăng lên mức kỷ lục 20,8% trong tháng 5, một phần do việc làm trong lĩnh vực sản xuất bị bốc hơi.
Bất chấp những nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách nhằm duy trì vị trí dẫn đầu của Trung Quốc trong thương mại toàn cầu bằng cách cắt giảm thuế cho các nhà xuất khẩu và cho phép đồng tiền của nước này mất giá, nhu cầu từ nước ngoài vẫn tiếp tục giảm. Thành phần đơn đặt hàng xuất khẩu mới PMI trong tháng 6 tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 tháng, là 46.4. Chỉ số đơn đặt hàng (nội địa + xuất khẩu) mới nhìn chung vẫn giảm ở mức 48.6
Sự yếu kém này đặt ra câu hỏi về hiệu quả của các động thái cắt giảm lãi suất khiêm tốn gần đây của Bắc Kinh, nhằm làm cho nó rẻ hơn để vay nhưng không giải quyết được căng thẳng làm giảm nhu cầu mà nhiều gia đình Trung Quốc phải trải qua.
Các nhà kinh tế dự đoán Bắc Kinh sẽ vẫn miễn cưỡng bơm một lượng lớn tín dụng vào nền kinh tế, một phần vì nhu cầu vay vốn đã yếu khi nhiều hộ gia đình và công ty chuyển sang trả nợ thay vì chi tiêu và đầu tư mới.
Cho đến nay, Trung Quốc cũng đã kiềm chế không tung ra một vòng chi tiêu lớn của chính phủ, như đã làm để giải cứu nền kinh tế khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Trung Quốc phần lớn vẫn dự kiến sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng hàng năm khoảng 5% bất chấp sự suy yếu liên tục, làm giảm tính cấp bách của Bắc Kinh trong việc sử dụng chi tiêu lớn.
Nhưng các nhà kinh tế cảnh báo rằng sự kiềm chế có thể phải trả giá.
“Trừ khi hỗ trợ cụ thể được triển khai sớm, sự suy giảm gần đây về rủi ro nhu cầu sẽ tự củng cố”, theo Capital Economics.
Xiao Xiao ở Bắc Kinh và Cao Li ở Hồng Kông đã đóng góp cho bài viết này.
SubCom, một công ty ở New Jersey ra đời từ một dự án gián điệp thời Chiến tranh Lạnh, đã trở thành nhân tố chủ chốt trong cuộc chiến công nghệ Mỹ-Trung. Họ đang đặt cáp internet dưới đáy đại dương để tăng cường sức mạnh kinh tế và quân sự của Washington, bao gồm cả nhiệm vụ bí mật đến một căn cứ hải quân trên đảo xa xôi, Reuters tiết lộ.
Vào ngày 10 tháng 2 năm ngoái, tàu cáp CS Dependable đã xuất hiện ngoài khơi đảo Diego Garcia, một đảo san hô vòng ở Ấn Độ Dương, nơi có một căn cứ hải quân kín đáo của Mỹ.
Trong tháng tiếp theo, thủy thủ đoàn của con tàu đã bí mật đặt một cáp quang dưới nước đến căn cứ quân sự, một hoạt động có tên mã là “Big Wave”, theo bốn người có kiến thức trực tiếp về nhiệm vụ, cũng như phân tích của Reuters về hình ảnh vệ tinh và dữ liệu theo dõi tàu.
Liên kết internet siêu nhanh mới đến Diego Garcia, chưa từng được báo cáo trước đây, sẽ tăng cường sự sẵn sàng quân sự của Mỹ ở Ấn Độ Dương, một khu vực nơi Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng hải quân trong thập kỷ qua.
CS Dependable thuộc sở hữu của SubCom, một nhà sản xuất cáp ở thị trấn nhỏ New Jersey đang đóng một vai trò quá lớn trong cuộc đua giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để kiểm soát các công nghệ kỹ thuật số và quân sự tiên tiến có thể quyết định quốc gia nào nổi lên như siêu cường ưu việt của thế giới.
Tàu đặt cáp CS Dependable cập cảng Đài Trung của Đài Loan ngày 18/2023/<>. Chủ sở hữu khu vực tư nhân của con tàu, SubCom có trụ sở tại New Jersey, là trung tâm trong nỗ lực của Washington nhằm ngăn chặn gián điệp nước ngoài đối với lưu lượng truy cập internet quốc tế di chuyển qua cáp quang dưới biển. REUTERS/Ann Wang
SubCom vận hành sáu tàu đặt cáp: các tàu biển sâu đặt riêng được trang bị các thùng chứa rộng lớn để chứa các bó cáp quang. Hải quân Mỹ chỉ có một con tàu như vậy – USNS Zeus 40 năm tuổi – một con tàu cũ đến mức bị hạn chế trong việc tiến hành sửa chữa, theo Eckhard Bruckschen, giám đốc Công ty tư vấn cáp biển có trụ sở tại Anh.
“SubCom không thể thiếu đối với Mỹ nếu muốn kiểm soát cáp ngầm. Họ không có ai khác”, Bruckschen nói với Reuters.
Chỉ có bốn công ty lớn trên thế giới sản xuất và đặt cáp ngầm: SubCom của Mỹ, Tập đoàn NEC của Nhật Bản, Mạng lưới tàu ngầm Alcatel của Pháp và HMN Tech của Trung Quốc.
Đối với các dự án nhạy cảm của Hoa Kỳ, Washington chỉ làm việc với SubCom, theo năm nguồn tin trong ngành đã làm việc trong các dự án với công ty cáp.
Có trụ sở tại quận nhỏ Eatontown, New Jersey, công ty cáp internet dưới biển SubCom đang đóng một vai trò quá lớn trong cuộc đua giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thống trị các công nghệ tiên tiến. REUTERS/Brendan McDermid
Mối nối bí mật
SubCom đã thông báo vào năm 2020 rằng họ đang xây dựng một tuyến cáp internet dưới biển thương mại từ Úc đến Oman. Dự án trị giá 300 triệu USD bao gồm một liên kết bí mật đến một căn cứ của Hải quân Mỹ trên đảo Diego Garcia xa xôi ở Ấn Độ Dương, được Lầu Năm Góc tài trợ.
Điều mà nhiều người trong số họ không biết là Lầu Năm Góc đã trả khoảng một phần ba toàn bộ cáp với điều kiện nó bao gồm một mối nối nối thân gốc thương mại của nó với nhánh Diego Garcia, hai trong số những người hiểu biết về dự án nói với Reuters.
Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, trong tuyên bố với Reuters, cho biết Cáp Oman Australia của SUBCO cung cấp “một cơ hội duy nhất” để kết nối hòn đảo xa xôi với cáp quang internet dưới biển.
Tuyến cáp dài 10.000 km được Thủ tướng Australia Anthony Albanese chính thức khai trương vào tháng 10-2022. Nó bao gồm một mối nối với quần đảo Cocos, một lãnh thổ của Úc bao gồm một cụm các hòn đảo nhỏ giữa Sri Lanka và Úc. Quân đội Úc đang tìm kiếm sự chấp thuận của quốc hội về ngân sách để nâng cấp một sân bay ở đó và thực hiện các cải tiến khác nhằm tăng cường khả năng giám sát hàng hải trong khu vực.
Nhiều cáp và trung tâm dữ liệu dưới biển nằm trong tay các công ty Mỹ như Google và SubCom là một chiến thắng cho Washington khi họ tìm cách giữ các công ty Trung Quốc tránh xa phần cứng internet sẽ củng cố tiến bộ kinh tế và quân sự toàn cầu trong nhiều thập kỷ tới, Kellee Wicker, giám đốc Chương trình Đổi mới Khoa học và Công nghệ tại Trung tâm Wilson cho biết. một viện nghiên cứu có trụ sở tại Washington.
“Cáp là một đòn bẩy năng lượng khổng lồ”, Wicker nói. “Nếu bạn không thể kiểm soát trực tiếp các mạng này, bạn muốn một công ty mà bạn có thể tin tưởng để kiểm soát chúng.”
Năm ngoái, SubCom đã ký một “thỏa thuận dịch vụ chính” với Google, một trong những nhà đầu tư lớn nhất thế giới vào cáp internet dưới biển, theo hai người am hiểu về thỏa thuận này.
Hợp đồng đó, mà mọi người cho biết trị giá hàng trăm triệu đô la, có thể giúp Google xây dựng mạng dữ liệu riêng lớn nhất thế giới, kết nối các trung tâm dữ liệu đám mây trên toàn thế giới với một mạng lưới cáp biển do SubCom sản xuất.
SubCom không công khai nhiều chi tiết về hoạt động kinh doanh của mình. Công ty có hơn 1.300 nhân viên và doanh thu hàng năm là 344 triệu USD, theo dữ liệu trên Eikon.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen thảo luận về “Mối quan hệ kinh tế Mỹ-Trung” trong một diễn đàn do Đại học Johns Hopkins tổ chức tại Tòa nhà Nitze ở Washington, Mỹ, ngày 20/2023/<>. REUTERS/Sarah Silbiger/Ảnh tư liệu
Chuyến công du đầu tiên của bà Janet Yellen tới Trung Quốc trên cương vị Bộ trưởng Tài chính Mỹ sẽ tập trung vào việc điều chỉnh lại mối quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới khi thông tin liên lạc quân sự vẫn bị đóng băng và các hạn chế mới của Bắc Kinh đối với xuất khẩu một số kim loại làm dấy lên căng thẳng mới.
Các quan chức Mỹ cho biết họ mong đợi các cuộc thảo luận “thẳng thắn” trong chuyến đi ngày 6-9/7 của bà Yellen, sau thông báo đột ngột của Bắc Kinh hôm thứ Hai về việc kiểm soát xuất khẩu một số sản phẩm gallium và germanium được sử dụng rộng rãi trong chất bán dẫn, cũng như luật chống gián điệp mới, cả hai đều được coi là có khả năng gây hại cho các công ty Mỹ.
Không có đột phá lớn nào được mong đợi, nhưng bà Yellen sẽ thúc đẩy mở ra các đường dây liên lạc và phối hợp mới về các vấn đề kinh tế, đồng thời nhấn mạnh hậu quả của việc cung cấp viện trợ sát thương cho Nga, các quan chức Mỹ cho biết.
Bà Yellen dự kiến sẽ tập trung vào các vấn đề kinh tế, nhưng bà sẽ nhắc nhở các đối tác Trung Quốc rằng bất kỳ động thái nào nhằm cung cấp viện trợ sát thương cho Nga – vi phạm các lệnh trừng phạt đối với Nga vì cuộc chiến ở Ukraine – có thể kích hoạt các lệnh trừng phạt đối với các thực thể Trung Quốc, một quan chức chính quyền cấp cao cho biết.
“Chúng tôi thường xuyên nghe thấy sự đảm bảo của Trung Quốc rằng họ sẽ không cung cấp hỗ trợ sát thương. Chúng tôi đang giữ họ ở đó, và chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi”, quan chức này nói.
Mỹ tin rằng Trung Quốc không lo lắng trước cuộc nổi loạn hồi tháng trước của nhóm lính đánh thuê Wagner của Nga và sự yếu kém của quân đội Nga, quan chức này nói, nhưng Bắc Kinh dựa vào một nước Nga ổn định về thực phẩm và nhiên liệu.
Các chuyến thăm của cả ông Blinken và bà Yellen đều được coi là rất quan trọng để cải thiện liên lạc sau khi quân đội Mỹ bắn hạ một khinh khí cầu do thám của Trung Quốc trên bầu trời Mỹ và trước cuộc gặp có thể xảy ra giữa Tổng thống Joe Biden và ông Tập tại cuộc họp Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ở San Francisco vào tháng 11.
“Chuyến đi của Ngoại trưởng Yellen không chỉ là một bước tiến tới việc chuẩn bị cho cuộc gặp tiềm năng giữa ông Biden và ông Tập tại APEC. Các quan chức kinh tế hàng đầu của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới hầu như không nói chuyện với nhau trong hơn ba năm, và điều đó rất nguy hiểm cho nền kinh tế toàn cầu”, Scott Kennedy thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế cho biết.
THUẾ QUAN THƯƠNG MẠI VẪN CÒN
Chủ tịch Hội đồng Ngoại thương Quốc gia Jake Colvin cho biết chuyến đi có thể giúp xác định một “bình thường mới” và thiết lập một mức sàn trong mối quan hệ song phương. Nhưng nó sẽ không chấm dứt 360 tỷ USD thuế quan được áp đặt dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump, hoặc các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đã tăng lên dưới thời Biden.
Bất chấp mối quan hệ nguội lạnh, thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn tăng trưởng trong năm 2022 năm thứ ba liên tiếp, dữ liệu của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy.
“Vẫn còn cơ hội ở Trung Quốc cho các doanh nghiệp, nông dân và công nhân Mỹ”, Colvin nói. “Chúng ta không thể chỉ nhìn vào điều này thông qua lăng kính giảm rủi ro.”
Bà Yellen sẽ nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác với Bắc Kinh về biến đổi khí hậu, chuẩn bị sẵn sàng cho đại dịch và khủng hoảng nợ, ngay cả khi Washington tiếp tục thực hiện các hành động có mục tiêu về nhân quyền hoặc các mối quan tâm về an ninh, một quan chức cấp cao của Bộ Tài chính Mỹ cho biết.
Bà sẽ nói với các đối tác Trung Quốc rằng Washington không tìm cách tách rời hai nền kinh tế, cùng chiếm 40% sản lượng kinh tế toàn cầu, trong khi bảo lưu quyền bảo vệ nhân quyền và lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ thông qua các hành động có mục tiêu, quan chức này nói thêm.
Bà Yellen sẽ gặp Phó Thủ tướng mới của Trung Quốc Hà Lệ Phong, sau khi gặp người tiền nhiệm Lưu Hạc tại Zurich vào tháng Giêng, một quan chức chính quyền cho biết, dự đoán một động lực khác với phó thủ tướng mới, một người trung thành với ông Tập ít thoải mái hơn bằng tiếng Anh và xuất thân từ nền tảng kế hoạch, không phải tài chính và kinh tế. “Tôi nghi ngờ nó sẽ trang trọng hơn”, quan chức này nói.
Hai bộ trưởng nội các khác, Bộ trưởng Thương mại Raimondo và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai, đã gặp Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Wang Wentdao vào tháng Năm. Các quan chức Mỹ cũng hy vọng sẽ mở rộng các kênh liên lạc kinh tế dưới cấp nội các.
Bài tường trình của Andrea Shalal với chi tiết tin bổ sung của Michael Martina ở Washington và Lun Tian Yew ở Bắc Kinh; Chỉnh sửa bởi Dan Burns, Heather Timmons và Andrea Ricci
Du khách đi bộ qua “Skywalk Willingen” ở phía bắc Hesse. Ảnh: picture alliance/dpa | Swen Pförtner
Cây cầu treo “Skywalk Willingen” dài 665 mét đã chính thức mở cửa cho du khách vào ngày 1/7, tại khu nghỉ mát trượt tuyết Willingen, phía bắc Hesse.
Treo lơ lửng trên một thung lũng ở độ cao ấn tượng khoảng 100 mét, “Skywalk Willingen” mang đến tầm nhìn ngoạn mục cho những người đủ can đảm để đi bộ qua nó. Cây cầu rộng 1,3 mét có thể chứa tới 750 người cùng một lúc.
Mặc dù ban đầu nó được quảng cáo là cây cầu treo dành cho người đi bộ dài nhất thế giới, nhưng danh hiệu này đã được tuyên bố bởi “Cầu bầu trời 721” tại Cộng hòa Séc vào năm ngoái, có tổng chiều dài 721 mét.
Tuy nhiên, “Skywalk Willingen” giữ sự khác biệt của riêng mình là “cây cầu treo treo tự do dài nhất thế giới mà không có cáp hỗ trợ”, như tự hào tuyên bố trên trang web chính thức.
Từ cây cầu, du khách có thể nhìn thấy cảnh quan núi thấp của vùng cao Bắc Hessian, núi Ettelsberg và tháp Hochheide, cũng như tầm nhìn từ trên không của khu bảo tồn thiên nhiên Grebensteine trong thung lũng bên dưới.
Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hương. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc.
Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Ma cao.
Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.
Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao tiếp với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Việt Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.
Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong tháng12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.
Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).
Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.
Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.
Chú thích: * Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký “Đường Xa Nắng Mới” của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.
Sự ra đời của chữ quốc ngữ –
Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
CHỮ QUỐC NGỮ
Nhân kỷ niệm 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919) và
80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy
tại cấp tiểu học Việt Nam
___
Alexandre de Rhodes
(1591 – 1660)
Nguyễn Văn Vĩnh
(1882 – 1936)
Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.
Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt (nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).
Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hóa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt – La – Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.
*** Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La-mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia)
***Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ – Hà Nội.
Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.
Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức.
Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc.
Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Pháp.
Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.
Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo – tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí để dạy dân Việt viết văn bằng quốc ngữ.
Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp.
Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được.
Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ.
Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương – Hội – Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp – Việt.
Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học.
Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La – Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ.
Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình. Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh.
Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông. Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì sốt rét.
Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc mộc trên một dòng sông ở Sepole.
Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp “Một tháng với những người tìm vàng”. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông.
Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của Mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt.
—Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam – Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.
Lời cảm ơn:
Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học, khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.
Tác giả xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kỳ – con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình – cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ.
Tác giả xin cảm ơn thày Trí – cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh , đồng thời từng là thày dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.
Quan chức ở ta không phải tranh cử nên cơ bản không có bản năng và kỹ năng phòng tránh tai nạn truyền thông.
Cái vụ quan chức chụp ảnh với tuyển nữ quốc gia là ví dụ.
Nếu phải tranh cử, quan chức tự động coi đám phóng viên bên dưới là diều hâu, và coi các đảng đối lập là sói chờ vồ mồi. Nhất cử nhất động đều dựa trên giả định đó nên khả năng phạm lỗi sơ đẳng thấp hơn nhiều.
Đó là chưa kể, với chính trị gia chuyên nghiệp, việc chụp ảnh đều được nhân viên cấp dưới sắp đặt rất kỹ. Ai đứng ở đâu đều có sắp đặt từ trước, ít có chuyện ngẫu nhiên. Khách mời đều được dặn trước rằng, có một số nguyên tắc phải tuân thủ, trong đó có chuyện không được mặc đồ hoặc mang vật thể có logo của bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào, hay chuyện ai được chụp ảnh với vị quan chức, nếu chụp thì đứng ở đâu, vân vân và mây mây.
Chính trị gia chuyên nghiệp thường được đào tạo kỹ càng về cách ứng xử ở nơi công cộng và ứng xử với báo chí. Đây là chuyện thường với lãnh đạo doanh nghiệp nhưng với quan chức ở ta thì có vẻ chưa được học bao giờ.
Nói đơn giản về tư thế ngồi. Quan chức ở ta thường ngồi giạng háng, khoe hết cả cái cần che. Võ Văn Thưởng vừa rồi dính lỗi cơ bản này khi ngồi ở Bờ Hồ với ộp pa Hàn Quốc, bị phóng viên chụp. Về nguyên tắc, ngồi là phải khép chân để không lộ khu vực nhạy cảm ra, nếu có giạng háng thì phải chắp hai tay phía trước hoặc có tờ giấy che đi khu vực đó.
Chính trị gia ở các nước dân chủ không nhất thiết là người văn minh, lịch sự gì. Nhưng ít nhất vì phải cạnh tranh với các đối thủ chính trị nên họ phải học về phép tắc xã giao và có nhân viên dưới quyền bọc lót kỹ càng, nên tránh được những tai nạn truyền thông hớ hênh.
P/s: Ở một góc độ khác, phán xét vấn đề dựa trên một bức hình là chuyện đại kỵ.
Việt Nam đã ký Thỏa thuận Đối tác Chuyển đổi Năng lượng sạch (JETP) năm 2022 với các nước G7, để nhận 15,5 tỷ USD tài trợ nhằm thực hiện quá trình này. Số tiền này sẽ được chi tiêu vào đâu? Ai là người hưởng lợi?
Việt Nam đang cho thấy sự rốt ráo của mình trong việc thực hiện cam kết phát thải bằng không vào năm 2050, nghĩa là loại bỏ hoàn toàn điện than vào năm này để ưu tiên phát triển năng lượng sạch.
Kế hoạch Điện 8 (PDP8) sau nhiều năm trì hoãn, đã được thủ tướng chính phủ thông qua vào tháng Năm, cho thấy tiến bộ đáng kể khi Việt Nam vạch ra lộ trình giảm đáng kể công suất điện than. Tuy thế, mọi kế hoạch hiện mới chỉ nằm trên giấy tờ.
Trên thực tế, Việt Nam vẫn đang thiếu điện và đang có kế hoạch tăng công suất điện than lên 30GW vào năm 2030 trước khi có thể bắt đầu giảm như dự kiến.
Việt Nam cũng chưa công bố kế hoạch cụ thể nào để phát triển điện gió và điện mặt trời, trong khi có thông tin nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này thời gian qua ở bên bờ phá sản khi lưới điện quốc gia lạc hậu không thể mua nổi toàn bộ lượng điện mà họ sản xuất.
Ai sẽ giám sát toàn bộ quá trình này khi Việt Nam bỏ tù các nhà hoạt động môi trườnghàng đầu lẽ ra đã đóng vai trò quan trọng này?
BBC News Tiếng Việt trao đổi với bà Lucy Hummer, nhà nghiên cứu tại Global Energy Monitor về các vấn đề nói trên.
BBC: Ai sẽ giám sát quá trình chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch của Việt Nam khi chính phủ bỏ tù các nhà hoạt động môi trường chủ chốt?
Bà Lucy Hummer: Không ai có thể thực sự thay thế các nhà bảo vệ môi trường và khí hậu – những người đã bị bịt miệng – nếu không có điều gì đó lớn hơn được thay đổi.
Bất cứ hành động đàn áp nào đối với sự chỉ trích, phản đối, truyền thông độc lập và hơn thế nữa cần phải được chấm dứt để sự chuyển đổi sang năng lượng sạch được thành công.
Việt Nam đã ký thỏa thuận nhận hàng tỷ USD từ quốc tế để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, một phần với điều kiện rằng họ sẽ để xã hội dân sự tham gia vào tiến trình này, nhưng chính phủ Việt Nam có vẻ như đã không thực sự nghiêm túc với điều kiện được đặt ra.
Cộng đồng quốc tế cần đảm bảo rằng Việt Nam tôn trọng các quyền cơ bản của các nhà bảo vệ môi trường và khí hậu. Nói cách khác, khả năng các công dân và tổ chức được tham gia một cách an toàn và cởi mở vào tiến trình chuyển đổi năng lượng của đất nước cần phải được xem là một thước đo của sự tiến bộ trong quá trình chính thức thực hiện JETP.
BBC: Việc thiếu các cơ quan giám sát độc lập có thể ảnh hưởng như thế nào đến tính minh bạch và chất lượng của quá trình chuyển đổi này?
Bà Lucy Hummer: Theo dõi và đánh giá là các yếu tố tối quan trọng của bất cứ chương trình công nào, đặc biệt trong các trường hợp như thế này, khi mà sự bình đẳng và sự tham gia của tổ chức xã hội dân sự đang được quan tâm.
Các thiết kế để đánh giá tính hiệu quả của quá trình chuyển đổi này cần phải đo đạc được, trả lời được, và phải minh bạch.
Cũng giống các thỏa thuận tài chính sử dụng các chỉ số hiệu suất chính, việc triển khai quỹ JETP cần phải:
sử dụng một cơ chế phản hồi ưu tiên đóng góp từ các bên liên quan;
phác thảo đầu vào, đầu ra, và kết quả;
cung cấp một bản phác thảo sử dụng quỹ;
cho biết các yếu tố này có thể thay đổi thế nào theo thời gian
Như các số liệu mới nhất của Global Energy Monitor chỉ ra, còn nhiều câu hỏi quan trọng đang bỏ ngỏ…
NGUỒN HÌNH ẢNH,GEM. Bà Lucy Hummer, nhà nghiên cứu của Global Energy Monitor có trụ sở tại Washington, Mỹ
Xây dựng các nhà máy điện than mới hay các nhà máy sử dụng năng lượng hóa thạch khác sẽ phải trả một giá đắt về kinh tế, xã hội và môi trường, hơn là năng lượng sạch, và sẽ khiến Việt Nam mắc kẹt với công nghệ đắt đỏ, lạc hậu và bẩn.
Các phân tích sơ bộ của GEM về các dự án điện than được đề xuất bên ngoài Trung Quốc cho thấy Việt Nam đang dẫn đầu toàn cầu về hủy bỏ các dự án điện than đã đề xuất vào năm nay, giảm 9,6 GW từ tháng 1-5/2023.
Để tiếp tục đà này, các công dân cần phải có quyền tham gia vào quá trình thảo luận và đảm bảo quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch sẽ được thực hiện như dự kiến.
Ưu tiên các đóng góp, phản hồi từ các bên liên quan có nghĩa là việc triển khai quỹ JETP cần phải được thực hiện với sự tham gia của xã hội dân sự, theo đúng thỏa thuận đối tác và mục tiêu khí hậu.
Việt Nam nên thực hiện đánh giá toàn bộ quá trình chuyển đổi này trước, trong và sau khi triển khai, làm rõ cho các công dân biết một cách chính xác khoản tiền này được tiêu như thế nào và tiêu vào đâu.
Các bên liên quan có thể quan tâm xem JETP được thực hiện thế nào, khung thời gian thực hiện như thế nào vào ai có thể được hưởng lợi trực tiép từ quỹ này.
Truyền thông cần phải cung cấp đầy đủ thông tin và mang tính chiến lược, và nó phải dễ hiểu, thực sự tạo cơ hội cho đối thoại và phản hồi mang tính xây dựng…
BBC: Việt Nam có thể học từ nước nào trong việc thực hiện JETP?
Bà Lucy Hummer: Ở Nam Phi, việc các bên có sự tham gia đáng kể vào quá trình này mang tới kết quả là một thỏa thuận chuyển đổi đối tác năng lượng sạch trong hai năm qua, do một ủy ban cấp cao lãnh đạo với nhiều đại diện.
Dựa trên các mức độ thay đổi mà quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch mang lại, căng thẳng ngay trong nội tại giữa các bên tham gia cũng được phơi bày. Sự cởi mở của các lãnh đạo Nam Phi và các nhà ra quyết định khác trong việc để các lãnh đạo xã hội dân sự tham gia vào quá trình chuyển đổi năng lượng có thể coi là hình mẫu cho Việt Nam.
Cung cấp một khung thời gian cho việc sử dụng quỹ JETP nghĩa là Việt Nam không nên có che dấu bất cứ chi tiêu nào khi triển khai quỹ này.
Minh bạch là một, nếu không nói là yếu tố cơ bản, hàng đầu của một chương trình giám sát hiệu quả.
…
Cho thấy các yếu tố này có thể thay đổi theo thời gian nhấn mạnh rằng JETP sẽ không bất biến. Việc giám sát cần phải được tiếp tục, có nghĩa các thông tin chia sẻ cũng cần phải được tiếp tục. Bước đầu tiên của quá trình này là việc phải trả tự do cho mọi tù nhân chính trị, và bước tiếp theo là phát triển một chiến lược để họ có thể được lên tiếng nói một cách lâu dài, ổn định, thay vì bịt miệng họ.
Chụp lại hình ảnh,(Từ trái qua) Ngụy Thị Khanh, Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách, Bạch Hùng Dương, Hoàng Minh Hồng – những nhà hoạt động môi trường hàng đầu bị chính phủ Việt Nam bỏ tù. Trong số này chỉ có bà Khanh mới được trả tự do
BBC: Việt Nam vẫn chưa công bố kế hoạch cụ thể nào để phát triển năng lượng sạch như điện gió và điện mặt trời. Có thông tin rằng nhiều doanh nghiệp điện gió, điện mặt trời ở Việt Nam có nguy cơ phá sản…
Bà Lucy Hummer: Dựa trên việc đo đạc các chỉ số điện mặt trời và điện gió của Global Energy Monitor, Việt Nam hiện đang có kế hoạch tăng công suất điện mặt trời và điện gió lên 5,5 lần vào năm 2030.
Với 11,8 GW điện mặt trời diện rộng và 81,2 GW điện gió đã được công bố hoặc đang trong quá trình phát triển, Việt Nam cần đảm bảo các doanh nghiệp điện gió và mặt trời được xây dựng để thành công – như cách mà điện than đã đạt được trong nhiều thập kỷ.
Cục Hàng không Việt Nam tạm đình chỉ kíp trực không lưu, phối hợp với các đơn vị liên quan làm rõ vụ hai máy bay có nguy cơ va chạm tại sân bay Nội Bài ở Hà Nội, theo báo chí trong nước.
Cục Hàng không Việt Nam hôm 5/7 cho biết đã yêu cầu Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam tạm thời đưa ra khỏi dây chuyền điều hành bay toàn bộ phiên trực ở tháp không lưu Nội Bài, Hà Nội, do liên quan đến sự cố điều hành, theo VnExpress.
Theo báo điện tử này, hôm 24/6 xảy ra sự việc một chiếc máy bay của Thai AirAsia chạy đà cất cánh trên đường băng 11R trong lúc một chiếc máy bay của Vietjet đang lăn cắt qua đường băng này.
Tin cho hay, theo báo cáo của tổ bay của Thai AirAsia, khi nhấc bánh mũi và rời đất, tàu bay này đang cách máy bay của Vietjet khoảng 1.500 m.
Theo báo Tuổi Trẻ, sự cố trên xảy ra ngày 24/6 nhưng đến ngày 30/6 kíp trực không lưu tại Đài không lưu Nội Bài mới báo cáo sự việc lên Ban An toàn của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam.
Tin cho hay, Cục Hàng không Việt Nam đang phối hợp với các bên để làm rõ mức độ sự cố, biện pháp ngăn ngừa tái diễn.
Thêm nữa, Tổng công ty Quản lý bay tổ chức bình giảng rút kinh nghiệm tới tất cả lực lượng kiểm soát viên không lưu và Trung tâm kiểm soát Tiếp cận – Tại sân Nội Bài.
Quốc Phương, cộng tác viên RFA Tiếng Việt từ London, 05-07-2023
Công an huyện Krông Ana, tỉnh Đak Lak bị tố cáo bắt cóc Tín đồ Tin Lành Tây Nguyên hồi tháng 12/2022 – FB Người Thượng vì Công lý
“Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với khoảng 26,5 triệu tín đồ, chủ yếu là Phật giáo và Công giáo, cũng như các tín ngưỡng đa dạng, phong phú, tôn giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội – chính trị của Việt Nam và Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.” Phát biểu này do Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đưa ra trong cuộc tiếp Đại sứ Jean Christophe Peaucelle, Cố vấn Bộ trưởng châu Âu và Ngoại giao Pháp về các vấn đề tôn giáo; hôm 04/7.
Hai nhà quan sát về tự do tôn giáo và nhân quyền Việt Nam từ Pháp, ông Paramita Thành Đỗ, từ Đại học Phật giáo Linh Sơn Paris, và ông Menras André Marcel, cựu giáo chức, nhà làm phim tài liệu, đã chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do ý kiến bình luận về phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.
Ông Thành Đỗ: Thật ra, những điều bà Lê Thị Thu Hằng, Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam phát biểu khi tiếp ông Jean Christophe Peaucelle, cố vấn Bộ trưởng Âu châu về vấn đề Tôn giáo hôm 03/07/23 tại Hà nội rằng ” Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền tự do Tôn giáo và tín ngưỡng ” theo tôi là không sai, nhưng hình như bà ấy chưa nói trọn vẹn và tôi xin giải thích ngay.
Câu trả lời của bà Thứ trưởng muốn được xem như trọn vẹn có thể phải nói rõ thêm là “Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền tự do Tôn giáo và tín ngưỡng theo định hướng xã hội chủ nghĩa“, nghĩa là tự do trong khuôn khổ được ấn định thông qua sự quản lý của các Ủy ban Tôn giáo của đảng, chính phủ, và đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc, một trong ba chân kiềng của chế độ là Đảng, Nhà nước và khối đoàn thể chính trị – xã hội nối dài – mà đây là Mặt trận Tổ quốc trong lĩnh vực liên quan này.
Ông Menras André Marcel: Tôi cho rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam còn xa mới gọi là tạo điều kiện để cho tự do tôn giáo và tín ngưỡng được thực thi mà không có hạn chế. Trải nghiệm cá nhân của tôi là những cuộc gặp gỡ ở vùng Tây Nguyên ở Việt Nam với những người dân Việt Nam là cư dân sắc tộc bản địa ở đó, đấy là những người có tín ngưỡng liên hệ với môi trường sống về mặt địa lý của họ, đặc biệt là với rừng, và họ đã bị bắt nạt bởi những cuộc tấn công văn hóa, kinh tế, chính trị, những hạn chế, bó buộc của công an, mà cuối cùng đã gây ra sự bùng nổ bạo lực ở những vùng đó, và tôi cũng gặp những người là giáo dân Công giáo Việt Nam, cá nhân tôi không phải là người theo Công giáo, nhưng tôi có những người bạn Công giáo, chẳng hạn như ở giáo phận tỉnh Hà Tĩnh, tôi đã được gặp Giám Mục Phalo Nguyễn Thái Hợp, Ngài đã giải thích với tôi rằng tất nhiên là có sự ‘tự do’ hành lễ, thờ phụng, nhưng tất cả những hoạt động ấy đều bị kiểm soát, theo dõi như những gì là nguy cơ có thể thoát khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền, và nhà nước, Đảng Cộng sản ở Việt Nam do đó không hề có sự khoan dung, mà họ chỉ muốn độc quyền về tư tưởng và niềm tin. Do đó, không hề có việc tạo điều kiện thuận lợi thực sự cho tự do tôn giáo và tín ngưỡng được thực hành.
Người dân đi lễ tại chùa Cầu Đông ở Hà Nội hôm 26/5/2021 (minh họa). AFP
Tôn giáo nào giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội – chính trị VN?
RFA: Cũng vị Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam tại buổi tiếp Đặc sứ, cố vấn của Chính phủ Pháp, được truyền thông Việt Nam trích lời, khẳng định “tôn giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội – chính trị của Việt Nam”, theo quý vị, tôn giáo nào ở Việt Nam có vai trò ‘quan trọng’ đó?
Ông Thành Đỗ: Theo tôi, trung thành và theo sát các phương cách đối phó với tôn giáo của Trung Quốc, Việt Nam cũng vậy, họ muốn quy hoạch, quản trị các hệ Tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo (hay đạo Islam), Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo…, những ai từ chối sự can thiệp thô bạo của đảng cộng sản thì sẽ gặp các khó khănvới các quan chức địa phương và đôi khi còn bị vây hãm, khủng bố tinh thần, vật chất bởi cả những thế lực ‘xã hội đen’ mà nhà nước đứng nhìn không can thiệp như trường hợp ở Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng xảy ra với cố Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh.
Mặt khác, các tổ chức tôn giáo được nhà nước cưng chiều và cho phép thường thấy họ có các hoạt động đi lệch hướng các hoạt động tôn giáo truyền thống với mục đích là hạ thấp giá trị tôn giáo trong xã hội Việt Nam như truyền bá mê tín tệ hại, biến chùa chiền, nhà thờ thành các cơ sở kinh tài, Trung tâm du lịch tâm linh, kinh doanh cơ sở thờ phượng thu lợi cho quan chức địa phương.
Ông Menras André Marcel: Để nêu nhận định về vấn đề này trong vài câu thì thật là khó, nhưng tôi thấy rằng các tôn giáo, như là Phật giáo, Công giáo, Tin lành v.v…, là đối tượng trong cuộc chiến nhằm tranh giành ảnh hưởng chính trị, bởi vì các chính quyền độc tài cho rằng tự do tôn giáo, tín ngưỡng là một hành vi mà có thể thoát ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền, và sự tự do ấy là một thứ quyền lực của các cá nhân và của các tôn giáo, cho nên người ta tìm mọi cách để kiểm soát. Thế nên đặc biệt như trường hợp của Việt Nam, chính quyền rất e ngại, không thích nguy cơ đó, và họ làm đủ mọi cách để kiểm soát, đồng thời đảng và chính quyền cộng sản cũng nỗ lực để có mặt khắp nơi trong các tổ chức tôn giáo, từ Phật giáo cho đến Công giáo v.v…
Nhưng họ dường như cho rằng Công giáo nguy hiểm hơn Phật giáo, nơi mà dường như họ có ít được hơn sự kiểm soát về mặt chính trị. Song mặt khác, tôi biết có những cán bộ, thậm chí những quan chức Cộng sản trung, cao có những niềm tin, tín ngưỡng mà họ tin vào những thế lực siêu nhiên, những thầy ngoại cảm, mà trong khía cạnh nào đó có thể bị một số người coi là ‘mê tín’, tin rằng những lực lượng siêu phàm ấy có thể giúp cho họ và gia đình của họ có thể tìm lại được hài cốt mất tích của những thành viên gia đình là liệt sỹ thuộc bên của chính quyền cộng sản mà đã thiệt mạng trong chiến tranh. Như thế, ngay với nhiều quan chức, cán bộ cộng sản, tín ngưỡng, tôn giáo vẫn là một thế giới linh thiêng, đầy tính chất cá nhân, mà khó ai có thể thoát khỏi, do đó đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng cũng có nghĩa là việc cố gắng cắt bỏ một phần tinh thần mà không thể tách rời của cá nhân trong xã hội, cộng đồng, đấy sẽ là một cuộc chiến bất khả chiến thắng, và Đảng Cộng sản theo tôi sẽ không bao giờ có thể xóa bỏ được trong đầu óc, tâm trí của mọi người tinh thần tự do tôn giáo và tín ngưỡng.
Đã có tự do tôn giáo, tín ngưỡng thực sự hay chưa?
RFA: Theo quý vị ở Việt Nam đã có tự do tôn giáo, tín ngưỡng thực sự chưa? Có việc bắt bớ, tù đầy với những người thực hành tôn giáo, tín ngưỡng, giáo sỹ, nhà tu hành, tín đồ v.v… hay không? Hay đó chỉ là những người ‘vi phạm pháp luật hình sự’ thông thường, mà không có gì liên quan tới (quyền) tự do tôn giáo, tín ngưỡng?
Ông Thành Đỗ: Nếu nhìn theo hướng nhìn của Trung Quốc thì Việt Nam đã có tự do tôn giáo, một thứ tự do có định hướng, với các nhà chùa, nhà thờ được phép tổ chức lễ hội vui vẻ, ngay cả các hoạt động như chiêu hồn, cầu vong, Đạo Hồ Chí Minh ‘nhảy múa’, hoàn toàn ‘tự do’, các chức sắc sư sãi ‘quốc doanh’ được ra nước ngoài nhằm thực hiện nghị quyết 36 của đảng để thâu tóm các cơ sở tôn giáo của cộng đồng người Việt hải ngoại về tay đảng cộng sản.
Nhưng nếu chúng ta nhìn tự do tôn giáo theo nghĩa chính danh, nghĩa được hiểu theo Phương Tây là tự do không có định hướng và không bị nhà nước can thiệp thì Việt Nam là một nước mà tự do tín ngưỡng đang bị chà đạp thô bạo.
Chính quyền của đảng cộng sản loại bỏ, bỏ tù, bức hại cho những ai không theo họ, các chức sắc “cứng đầu” của mọi Tôn giáo đều có người vào tù nhiều năm. Đó chính là điều mà các tổ chức bảo vệ quyền tự do Tôn giáo muốn nói đến mà nhà nước Việt Nam không muốn nghe.
Ông Menras André Marcel: Ngay tại Hà Tĩnh, tôi đã gặp gỡ rất nhiều gia đình nạn nhân của những thảm họa do phát triển công nghiệp với những quy mô quá đáng, gây ra những thảm họa như là thảm họa môi trường biển Formosa, tôi đã gặp gỡ nhiều thành viên gia đình, bạn bè của họ, và nhiều người bị theo dõi, bị hành hung, bị bắt giữ là những giáo dân Công giáo, nhiều người cho tôi biết rằng ngoài nguyên nhân những nạn nhân này và bè bạn của họ đấu tranh, họ chụp hình, họ đưa lên mạng, họ biểu tình v.v…, thì còn có một lý do, mà nhiều người cho rằng đó là họ là những thành viên của những cộng đồng Công giáo, một yếu tố mà có thể chính quyền của đảng cộng sản Việt Nam cảm thấy nguy hiểm vì hàm chứa những nguy cơ mà có thể thoát khỏi sự kiểm soát của chính quyền.
RFA: Quý vị đánh giá thế nào về sự theo dõi của Pháp nói riêng, và EU, phương Tây nói chung, về vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, tác động đó nếu có thế nào, và có gì cần lưu ý, bổ sung, tăng cường hay không như một khuyến nghị thêm?
Ông Thành Đỗ: Phương Tây nói chung, Pháp nói riêng cũng biết rõ là chính phủ cộng sản Việt Nam, xưa nay, trước các câu hỏi về ba lãnh vực như: tự do tín ngưỡng, nhân quyền và tự do báo chí thì họ (chính quyền) đều lấp liếm, họ tránh né các câu hỏi trực tiếp và câu trả lời muôn đời vẫn là mỗi nước có đặc thù văn hóa, hoàn cảnh xã hội nên không thể dùng tiêu chuẩn Phương Tây để đánh giá các thành tựu của chính quyền cộng sản Việt Nam về các giá trị phổ quát này. Thế nhưng họ vẫn kiên trì, vẫn tạo áp lực và chỉ mong sao nhà cầm quyền Việt Nam dè dặt hơn, nương tay hơn như thể ‘vuốt mặt thì phải nể mũi’, chứ họ không mong gì Việt Nam có thay đổi hướng tiếp cận mang tính dân chủ khi Trung Quốc chưa thể khá hơn về phương diện này. Học trò Việt Nam không được phép qua mặt ông thầy Trung Quốc, theo góc nhìn của tôi.
Ảnh minh họa: một số hình ảnh về sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam năm 2022. RFA edited
‘Con ngựa thành Troy’ về tư tưởng và nội sợ của chính quyền
Ông Menras André Marcel: Lịch sử, đặc biệt là lịch sử của Việt Nam, dạy chúng ta rằng tôn giáo thường đi trước và là cái cớ cho sự xuất hiện của súng ống. Các cường quốc nước ngoài đã sử dụng nó để mở rộng sự thống trị của họ. Và tôi hiểu chế độ cộng sản hiện nay sợ rằng tôn giáo sẽ can thiệp vào chế độ độc tài của nó như “con ngựa thành Troy” của một tư tưởng khác. Theo tôi, cần phải làm sao lưu ý với chính quyền Việt Nam rằng vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng không thể là một cái cớ để nhà nước, chính quyền can thiệp vào những vấn đề nội tâm của người dân, trái lại phải tạo điều kiện cho những người dân, những cá nhân được thực hành tôn giáo, tín ngưỡng của họ trong sự tự do, và vấn đề tự do này phải không được tách rời khỏi các quyền của con người, quyền dân sự, và tôi mong muốn vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng đó, khi chúng ta (phương Tây) đề cập, phải là thành tố hữu cơ, không tách rời của nhân quyền hơn là tự do tôn giáo tách biệt.
RFA: Có ý kiến nói rằng Phật giáo dường như đang trở thành một tôn giáo được ưa thích của chính quyền và đảng cộng sản tại Việt Nam, hay ít ra là với một bộ phận quan chức của chính quyền các cấp, có người còn đề cập từ ‘Quốc giáo’ của nhà nước VN, quý vị nghĩ gì về điều này, nếu điều đó là có cơ sở?
Ông Thành Đỗ: Những hiện tượng đầu tư vào các cơ sở tôn giáo thường được các quan chức chính quyền xem như sân sau của họ, nên ta thấy sự thất sủng của ông này bà kia kéo theo khó khăn của các sư thầy ‘quốc doanh’ của bên Phật giáo tại Việt nam. Ví dụ như sự ra đi hay thôi chức của một vài quan chức cấp cao trong ban lãnh đạo đảng, nhà nước được cho là kéo theo các khó khăn về ‘thuế vụ’ và sự ‘rắc rối của sư thầy Thích Thái Trúc Minh ở chùa Ba Vàng, người được coi là ‘sân sau’ của một vài đương, cựu quan chức đảng, nhà nước, chính quyền cấp cao.
Đã có sự quản lý các cơ sở thờ phượng như một cơ sở kinh doanh mà sự kết nối với quan chức gốc to như một lá chắn cho sự tồn vong của cơ sở tôn giáo. Người dân cũng biết nhưng vì nhu cầu tâm linh, họ chọn giải pháp mũ ni che tai, không dám ăn nói để tránh phiền toái với các quan chức ở địa phương.
Ông Menras André Marcel: Còn tôi đã bị sốc bởi những nhà tu hành Phật giáo ở Việt Nam thuộc các giáo hội, giáo đoàn được nhà nước thừa nhận, những người rất giàu sang, phú quý, có cuộc sống ‘tu hành’ hoàn toàn khác biệt so với tinh thần và đời sống của Đức Phật trước kia. Tôi cũng bị sốc vô cùng bởi những chùa chiền to lớn của nhiều ‘nhà tu hành’ thuộc giáo hội được nhà nước thừa nhận đó, những công trình tôn giáo chùa chiền đó của họ tốn hàng triệu, hàng chục triệu đô-la hay hơn thế để xây dựng, so với đời sống nghèo nàn, thống khổ của bao nhiêu người dân ở trong cộng đồng, xã hội, và ở ngay các vùng miền đó, thì một trời, một vực, và đã có biết bao nhiêu là trung tâm ‘Phật giáo’ như thế đã phát triển như những đại công ty kinh doanh tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả lữ hành, du lịch quy mô siêu lớn để kiếm những khoản kinh phí, cúng dường… vô cùng quy mô để mà họ chi phí nội bộ với nhau… Do đó tôi không có bất cứ một sự kính trọng nào đối với những ‘tập đoàn’ tôn giáo mà được chính quyền thừa nhận đó như là những thế lực đầy ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị trong xã hội và trong đất nước ở Việt Nam.
Trên đây là ý kiến của hai nhà quan sát tự do tôn giáo và nhân quyền Việt Nam từ Pháp, chia sẻ với RFA Tiếng Việt trên quan điểm riêng. Ông Thành Đỗ là nhà nghiên cứu và giảng dạy độc lập, Trưởng ban nghiên cứu Phật học của đại học Phật giáo Linh Sơn tại Paris trong hơn 15 năm. Còn ông Menras André Marcel, người Pháp có song tịch Pháp – Việt, và còn được biết đến với tên trong tiếng Việt là Hồ Cương Quyết, là một nhà quan sát dân chủ, nhân quyền, xã hội dân sự và tôn giáo Việt Nam, ông là cựu giáo chức thuộc Bộ Giáo dục Pháp và là một nhà làm phim tài liệu độc lập.
Sau năm năm bị giam giữ và bị ép buộc điều trị tâm thần, ông Lê Anh Hùng mãn án vào ngày 5/7/2023.
Bị bắt từ tháng 7 năm 2018 dưới cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”, blogger 50 tuổi này đã phải trải qua quá trình giam giữ khắc nghiệt, ngay cả khi so sánh với những người tù chính trị khác.
Trong tổng cộng 5 năm bị giam cầm, thì có đến hơn ba năm ông Lê Anh Hùng bị giam hãm và bị ép buộc điều trị tâm thần ở một cơ sở của nhà nước. Khoảng thời gian còn lại thì ông phải trải qua hai nhà tù có tiếng hà khắc gồm trại giam Hỏa Lò và trại Ba Sao ở Hà Nam. Đây là những nơi chuyên giam giữ tù chính trị ở phía bắc.
Ông này cũng phải trải qua quá trình giam giữ không xét xử dài đến bốn năm, tức bị tước đoạt tự do khi chưa bị tòa kết tội, một kỉ lục trong giới tù chính trị.
Nhưng điều đặc biệt nhất đối với trường hợp của nhà hoạt động dân chủ này, đó là mặc dù ông bị cơ sở điều trị tâm thần xác định “mất khả năng nhận thức trong khi phạm tội”, điều đáng lý ra phải buộc nhà nước trả tự do cho ông, nhưng trái lại, ông Lê Anh Hùng đã bị tòa án tuyên 5 năm tù giam hồi ngày 30 tháng 8 năm 2022.
Ở Việt Nam, việc quan chức nhà nước phạm tội nhưng sau đó không bị bắt vì có giấy giám định tâm thần đã trở thành hiện tượng được biết đến rộng rãi. Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Lê Anh Hùng, thì tiêu chuẩn đó lại không được áp dụng.
Phiên tòa xét xử ông này cũng đặc biệt không kém, được diễn ra dưới hình thức xử kín. Không một ai ngoài ông Lê Anh Hùng được phép xuất hiện tại tòa, thậm chí gia đình cũng không được thông báo. Một điều mà các tù chính trị khác hiếm khi phải trải qua trong những năm gần đây.
Trả lời phỏng vấn của Đài Á châu Tự do trong ngày đầu sau khi mãn án, ông Lê Anh Hùng cho biết cảm nghĩ của mình:
“Thì được tự do sau 5 năm ở trong nhà tù Cộng sản tôi tất nhiên cũng cảm thấy vui thôi, nhưng mà trở về với xã hội thấy bây giờ tình hình bầu không khí sinh hoạt dân chủ ngột ngạt hơn, biết bao nhiêu người đã bị bắt thì tôi cũng lấy làm buồn. Trong cái niềm vui riêng của mình nhưng cũng có nỗi buồn chung cho bầu không khí sinh hoạt chính trị của đất nước.”
Nói về khoảng thời gian bị ép buộc điều trị tâm thần, ông Lê Anh Hùng cho biết đã bị cưỡng chế tiêm và uống thuốc mà không biết nguồn gốc cũng như tác dụng, khiến cho sức khỏe của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
“Tôi vào đấy thì tôi phản đối việc uống thuốc nhưng họ trói tôi lại rồi tiêm thuốc độc tâm thần vào người tôi, tôi không thể chống cự lại họ được. Sau thì họ ép buộc tôi phải uống thuốc tâm thần, nếu mà tôi không uống thì họ lại trói rồi tiêm thuốc cho tôi. Thì tôi buộc phải uống. Uống thuốc vào thì ai cũng có thể hình dung ra, thuốc tâm thần thì vô cùng có hại cho sức khỏe thần kinh, trí não của con người.”
Ông cho biết thêm là đã liên tục phải chịu đựng sự hành hạ về mặt sức khỏe sau mỗi lần uống thuốc như buồn nôn, chóng mặt, ảo giác, mất ngủ, suy kiệt thể lực, và “lờ đờ như người bị tâm thần”. Trong hơn ba năm bị ép buộc điều trị tại bệnh viện tâm thần, ông Hùng cho biết ngày nào ông cũng phải uống thuốc.
Dù phải trải qua 5 năm tù đày cho những bài viết và phát ngôn của mình về tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam. Nhưng ông Lê Anh Hùng cho biết mình chấp nhận đó như một điều bình thường. Tuy nhiên, ông cũng tỏ ra thất vọng khi tình hình ở trong nước ngày càng trở nên xấu hơn.
Hôm 24/4/2019 blogger Lê Anh Hùng đã được ra khỏi bệnh viện tâm thần Trung ương I, để về lại trại tạm giam số 2 thành phố Hà Nội.
“Việc chúng tôi lên tiếng đấu tranh cho một Việt Nam tốt đẹp hơn thì có rất nhiều người đã làm. Tôi chỉ là một trong số rất nhiều người đó thôi. Khi mà chúng tôi dấn thân vào con đường này thì chúng tôi sẵn sàng chấp nhận chuyện tù đày. Tôi chỉ buồn rằng sau thời gian mà tôi chịu tù đày như vậy, khi trở về thì tình hình nhân quyền, dân chủ ở trong nước có vẻ như càng ngột ngạt hơn.”
Trước khi bị bắt, ông Lê Anh Hùng từng làm đơn tố cáo ông Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng vào thời điểm đó, tội buôn lậu và làm gián điệp cho Trung Quốc, và đương kim Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng tội “phản quốc”. Ông Lê Anh Hùng cũng chỉ trích kịch liệt Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ là ông Phạm Quang Nghị.