Bản đồ mới của Trung Quốc đã gây phẫn nộ trong khu vực với ‘mối quan ngại tập thể’ ngay trươc thềm hội nghị Đông Á và G20

theo báo Bựu Điện Hoa Nam

Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường (trái) được Tổng thống Indonesia Joko Widodo chào đón tại hội nghị thượng đỉnh ở Jakarta hôm thứ Tư. Bắc Kinh đang phải đối mặt với phản ứng dữ dội về bản đồ chính thức mới nhất của mình. Ảnh: AP

Bắc Kinh đang phải đối mặt với phản ứng dữ dội về “bản đồ tiêu chuẩn” mới của họ đưa ra yêu sách đối với phần lớn Biển Đông đang tranh chấp , cũng như lãnh thổ mà Ấn Độ và Nhật Bản tuyên bố chủ quyền, mà nước này công bố ngay trước hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng.

Trong lúc các nước láng giềng nổi giận, Trung Quốc đang tham dự cả hai cuộc họp – Hội nghị thượng đỉnh Đông Á đang diễn ra ở Jakarta và cuộc đàm phán Nhóm 20 sẽ được tổ chức tại New Delhi vào tuần tới – mặc dù Thủ tướng Lý Cường sẽ tham gia các cuộc họp thay vì Chủ tịch Tập Cận Bình.

Nhật Bản là quốc gia châu Á mới nhất phản đối bản đồ do Trung Quốc công bố tuần trước, trong đó coi quần đảo Điếu Ngư là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông cũng được Nhật Bản tuyên bố chủ quyền và được gọi là Senkaku.

Chánh văn phòng Nội các Hirokazu Matsuno nói với các phóng viên hôm thứ Ba rằng Tokyo đã phản đối mạnh mẽ Bắc Kinh về bản đồ này. Ông cho biết quần đảo này “không thể chối cãi là một phần vốn có của lãnh thổ Nhật Bản, cả về mặt lịch sử lẫn luật pháp quốc tế”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ning hôm thứ Tư cho biết quần đảo này là “lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” và được đánh dấu trên bản đồ của nước này là “vấn đề tất nhiên”.

Ấn Độ là quốc gia đầu tiên đưa ra “phản đối mạnh mẽ” khi Trung Quốc công bố bản đồ mới về việc đưa bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ và cao nguyên Aksai Chin đang tranh chấp vào lãnh thổ Trung Quốc.
Theo sau là Malaysia , Philippines, Việt Nam và Brunei – tất cả đều có yêu sách đối với Biển Đông – cũng như Indonesia, quốc gia lo ngại về khu vực gần quần đảo Natuna có chồng lấn với yêu sách của Trung Quốc.

Nepal cũng chỉ trích bản đồ của Trung Quốc, cho rằng nó đánh dấu 3 khu vực mà nước này coi là một phần của Nepal là lãnh thổ của Ấn Độ.

Sun nói rằng trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraine, “các nước nhạy cảm hơn với việc Trung Quốc thể hiện ý định tương tự nhằm giành lãnh thổ bằng vũ lực hoặc bằng cưỡng bức”.

Sun nói: “Bản đồ được phát hành năm ngoái có thể có nội dung tương tự, nhưng không ai mong đợi bất kỳ sự theo dõi đáng tin cậy nào do các hạn chế đi lại do Trung Quốc tự áp đặt”. “Nhưng bây giờ Trung Quốc đã nối lại các hoạt động đối ngoại bình thường, ý nghĩa của bản đồ này còn quan trọng hơn nhiều vì giờ đây mọi người tin rằng Trung Quốc có thể hành động để thực thi nó.

“Trung Quốc có thể nghĩ rằng đây là điều họ đã làm thường xuyên và không hề bị phản đối. Nhưng năm nay mọi chuyện không còn như vậy nữa”

Chen từ viện nghiên cứu Hải Nam cho biết các cuộc biểu tình, phản đối từ các nước láng giềng có thể là một phần trong nỗ lực củng cố yêu sách của chính họ.

Ông lưu ý rằng căng thẳng trên Biển Đông đã gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt kể từ năm 2016, khi tòa án quốc tế ở The Hague ra phán quyết rằng không có cơ sở pháp lý cho các yêu sách của Bắc Kinh đối với tuyến đường thủy giàu tài nguyên – một phán quyết mà Bắc Kinh bác bỏ.

“Nếu họ không phản đối, điều đó có thể được coi là họ chấp nhận yêu sách của Trung Quốc”, Chen nói


TRỞ THÀNH TỶ PHÚ-Truyện vui

Một nhà triệu phú người Mỹ nghĩ hè ở một làng chài bên vịnh Mêhicô. Chiều chiều khi những thuyền cá kéo nhau cập bến, ông lại rảo bộ ngắm cảnh tấp nập ồn ào, hít ngửi làn gió tanh tanh mằn mặn.

Một chiều nọ, đứng trên bờ ông thấy một cô bé lấy tay che bớt ánh nắng và nhìn ra biển.

Nhà triệu phú bước tới bắt chuyện hỏi :

Cháu chờ ai vậy?

— Cô bé đáp: cháu chờ cha cháu đi khơi về để lấy cá đi bán .

Thường cha cháu đánh được nhiều cá không ?.

— Dạ, không nhiều đâu, mấy con cá ngừ….nhưng cha cháu chỉ đi có một loáng rồi về .

Thế sao cha cháu không câu nhiều cá hơn nữa ?.

— Dạ, ngần ấy đủ cho nhà cháu sống rồi ạ !.

Thế thời gian còn lại cha cháu làm gì ?

— Cha cháu chơi với cháu, dạy chúng cháu vá lưới, sửa đồ trong nhà. Cha giúp Mẹ cháu trồng cây, chặt củi, vét giếng. Thỉnh thoảng cha chơi Ghita hát hò với mấy chú hàng xóm. Cháu thấy cha cháu bận cả ngày ấy !

Nghe xong, nhà triệu phú nhún vai nói:

Cháu biết ta là ai không ? Ta là triệu phú, ta có bằng thạc sĩ kinh tế của trường Harvard. Ta sẽ chỉ cho cha cháu phải năng đi biển hơn, đi đủ bảy ngày mỗi tuần, từ sáng tinh mơ tới nửa đêm, câu thật nhiều cá bán lấy tiền. Rồi nhờ tiền đó, ông mua một chiếc thuyền to hơn, có thuyền to, ông có thể ra xa bờ nơi có nhiều cá hơn. Chẳng bao lâu cha cháu sẽ có đủ tiền sắm thêm vài chiếc thuyền, thuê người ra khơi. Khi có nhiều cá hơn nữa, cha cháu đừng bán cá cho lái mà phải mở xưởng đóng cá hộp riêng, tổ chức hệ thống bán lẻ riêng. Lúc đó, cha con cháu sẽ rời bỏ ngôi làng chài heo hút và chuyển lên Mexico City, rồi sang Mỹ, ban đầu thì ở Los Angeles, sau dời tới New York, cha cháu sẽ làm chủ cả một vương quốc đánh bắt, chế biến và tiêu thụ cá biển, cha cháu sẽ sống trong các biệt thự trị giá vài chục triệu đô la, mặc đồ thời trang khiến các minh tinh Holywood phát thèm…

— Dạ, thế mất chừng bao lâu mới được vậy ạ.?

Chừng 15 , 20 năm gì đó .

— Dạ, rồi sau đó thì sao ạ !

Rồi cha cháu phát hành cổ phiếu, đăng ký tham gia thị trường chứng khoán. Ồ lúc đó cha cháu sẽ rất giàu, là triệu phú như ta hiện nay …. biết đâu cha cháu trở thành tỷ phú cũng không chừng …

— Dạ, tỷ phú ? Rồi sao nữa ạ ?…

Sau cùng, cha cháu về hưu. Ông sẽ chơi với các con, dạy con vá lưới, phơi cá, sửa đồ trong nhà. Cha cháu sẽ giúp mẹ trồng cây, chặt củi, vét giếng …. thỉnh thoảng ông chơi Ghita hát hò với mấy chú hàng xóm. Rồi Cha cháu cũng bận rộn cả ngày ấy ..!

— Khi nghe xong , cô bé bình thản nói :

Thế thì cha cháu chẳng cần làm tỷ phú thưa ông. Cha cháu đã có tất cả cái sau cùng mà ông vừa nói rồi ạ ..!!

The beautiful and peaceful fishing villages in Nha Trang captivate ...

Khi bạn không thoát khỏi ham muốn, thì bạn sẽ bất chấp làm mọi thứ để bán rẻ sức khỏe của mình cho đồng tiền. Đời người nói dài cũng không quá dài, nói ngắn cũng không phải là quá ngắn. Cuộc sống này vô thường ngắn ngủi lắm bạn à! Câu chuyện trên như muốn khuyên ta:

Làm việc gì cũng được, miễn sao tâm hồn được thanh thản — làm điều gì cũng được, miễn sao thân thể được bình an — gia đình luôn vui vẻ hạnh phúc….

Sức khỏe và Gia Đình là điều vô giá không có đồng tiền nào có thể mua được…!!

Sưu tầm

From: haiphuoc47&NguyenNThu


 

Quan hệ Việt-Mỹ: Một Việt Nam dân chủ không có lợi cho Mỹ? – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, nhà nghiên cứu là khách mời (visiting fellow) thuộc Viện ISEAS Singapore nhận xét với BBC rằng, quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam từ thời Tổng thống Donald Trump tới thời Tổng thống Joe Biden, ưu tiên hàng đầu không phải là hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, mà là địa chính trị, với việc liệu Việt Nam có vai trò như thế nào trong các chiến lược nêu trên.

Thêm nữa, mục đích của ông Biden đến Việt Nam là để nâng cấp quan hệ đôi bên trong nỗ lực kiềm tỏa sự trỗi dậy của Trung Quốc, nên việc gặp gỡ những nhà hoạt động nhân quyền sẽ đưa ra tín hiệu không tích cực đối với Việt Nam. Vì thế, ông Biden có thể sẽ tránh điều đó, theo TS Giang.

Cây viết David Hutt nhận xét với BBC rằng, Washington không coi một Việt Nam dân chủ là điều có lợi cho Mỹ:

“Một chính quyền hậu cộng sản ở Việt Nam sẽ mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa cao hơn nhiều so với ĐCSVN, điều này sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ xảy ra xung đột thực tế trên Biển Đông.”

BBC.COM

Quan hệ Việt-Mỹ: Một Việt Nam dân chủ không có lợi cho Mỹ? – BBC News Tiếng Việt

Một số nhà quan sát nhận định hồ sơ nhân quyền của Việt Nam tuy là một trong những điều làm Hoa Kỳ lo ngại nhưng sẽ không được đề cao trong chuyến thăm của ông Biden tới Hà Nội.


 

Cao Tuấn: Về một người Việt Nam đi tìm các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Diễn Đàn Thế Kỷ

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990). Wikipedia

Người Việt Nam nói ở đây là ông Nguyễn Ngọc Huy, tác giả quyển sách “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” xuất hiện ở Hải Ngoại vào khoảng 1985, 1986 nhưng tác phẩm này không được biết đến nhiều như các tác phẩm “chính thống” khác của tác giả Nguyễn Ngọc Huy. Tuy vậy, theo thiển ý, đó là một tác phẩm đứng đắn, độc đáo, đáng đọc và đáng suy nghĩ. Nếu ông Huy chứng minh nhà văn Kim Dung, người Trung Hoa, có những hậu ý chính trị khi viết các bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng thì có thể chính ông Huy, một nhà chính trị Việt Nam cũng có những thông điệp chính trị riêng khi bỏ thì giờ viết sách về Kim Dung. Nhưng trước hết ông Nguyễn Ngọc Huy là người thế nào?

VĂN LÀ NGƯỜI

Ông Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) được biết đến đầu tiên là một người làm thơ. Ông làm thơ rất sớm, hầu hết các bài thơ đều được viết vào tuổi sấp sỉ 20. Thơ của ông, với bút hiệu Đằng Phương, nhất quán có một nội dung đặc biệt:

Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ

Lấy văn thơ làm Lẽ Sống trên đời

Đem ngọc châu trau chuốt mãi lên lời

Để trang điểm nàng Ly Tao diễm lệ

Tôi chỉ là một người dân đất Việt

Cảm nỗi buồn của kẻ mất quê hương

Nỗi nhục nhằn nỗi khổ cực đau thương

Của nòi giống kẹt trong cùm lệ thuộc

Tôi đánh bạo lấy vần thơ bỡ ngỡ

Để diễn trình quan niệm đấu tranh chung

Để phô bầy những nguyện ước chờ mong

Những triển vọng về tương lai giống Việt

Tôi mượn thơ để gây lòng phấn khởi

Cho chính mình trong những lúc gian lao

Trong những khi thất bại, những khi nào

Chân yếu đuối muốn rời đường chiến đấu

(Thay Lời Tựa tập thơ HỒN VIỆT xuất bản lần đầu vào năm 1950)

Thơ Đằng Phương nên được xếp vào loại “Anh Hùng Ca” – nói về dân tộc, lịch sử, lòng yêu nước, yêu quê hương, ngợi ca những người tranh đấu vì nước quên thân:

Hỡi những ai kia đã luỵ mình

Đã vì non nước chịu hy sinh

Đã vì chủng tộc khai đường sống:

Đây nén hương lòng kẻ hậu sinh!

(Nén Hương Lòng)

Diễn tả cảnh hy sinh bi tráng của họ như trường hợp Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng tuẫn tiết trên đoạn đầu đài:

Sau cái nhìn chào non nước bi ai

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng:

Việt Nam Muôn Năm! Một đầu rơi rụng

Việt Nam Muôn Năm! Người kế tiến lên

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc.

(Ngày tang Yên Báy)

Ý nghĩ của nhà thơ trong sáng, giản dị:

…..

Trên đường lối đấu tranh cho lẽ sống, 

Bóng anh hùng nòi giống nếu không quên

Thì giang sơn vạn cổ vẫn lâu bền

Và Lịch Sử vẫn luôn bừng nhuệ khí

(Anh Hùng Đất Việt)

Nếu bài hát “Tình Ca” của Phạm Duy “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!…Mẹ hiền ru những câu xa vời… Ạ ạ  ơi…tiếng ru muôn đời…tiếng nước tôi….Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!…” đã khiến người Việt Nam suốt mấy thế hệ không nguôi thương nhớ quê hương thì bài thơ “Anh Hùng Vô Danh” của Đằng Phương cũng có ảnh hưởng không kém kể từ thập niên 1950 cho đến ngày nay. Lời tâm can vang vọng rất tự nhiên:

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động

Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng

Đã xông vào khói lửa quyết liều thân

Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc

Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc

Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan, 

Người thất cơ đành thịt nát, xương tan

Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm

Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa

Họ buông gươm trở lại chốn quê nhà

Để sống lại cuộc đời trong bóng tối

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi

Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình

Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông

Và anh hồn chung với tấm tinh trung

Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.

Sau tuổi hoa niên ông Nguyễn Ngọc Huy không còn làm thơ nữa hoặc làm rất ít, nhưng cuộc đời còn lại cho đến khi chết ông sống đúng như thơ, từ suy nghĩ đến hành động, luôn hướng về mục đích phụng sự Tổ Quốc.

Có lẽ không cần nhắc quá nhiều đến sự kiện ông Huy là người trí thức đậu cử nhân luật khoa và tiến sĩ chính trị học ở Paris trong trong thời gian sống lưu vong ở Pháp và trở về miền Nam Việt Nam làm giáo sư dạy về Luật Hiến Pháp, Học Thuyết Chính Trị, Bang Giao Quốc Tế tại các trường đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ trong khoảng thời gian 1964-1975. Trong những năm tháng chiến tranh nhiễu nhương ấy, ông Huy nổi tiếng là một nhà giáo dậy giỏi, một lý thuyết gia uyên bác và một lãnh tụ chính trị quốc gia tận tuỵ nhưng cẩn thận, ôn hoà. Trong suốt cuộc đời ông Huy cũng viết nhiều sách báo giá trị bằng cả 4 ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh, Hán

Tuy được xem là một lãnh tụ chính trị quan trọng của người quốc gia Việt Nam nhưng ông Nguyễn Ngọc Huy chưa bao giờ ở vị trí quyền lực để thực thi lý tưởng xây dựng một quốc gia dân chủ pháp trị lương hảo, tạo nội lực đủ sức chống lại chủ nghĩa Cộng Sản độc tài toàn trị.

Lần duy nhất ông đến gần guồng máy quyền lực là khi người đồng chí “như hình với bóng” của ông là ông Nguyễn Văn Bông, giáo sư đại học thạc sĩ công pháp, chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến mà ông làm Tổng Thư Ký, chuẩn bị ra làm Thủ Tướng vào năm 1971 theo lời mời bất đắc dĩ của ông Tổng Thống “quân phiệt” Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên đảng Cộng Sản Việt Nam, trông thấy trước được mối nguy hiểm, đã mau chóng ra lệnh cho đặc công ở Sài Gòn ám sát ông Nguyễn Văn Bông như họ đã từng ám sát những địch thủ tài năng, đức độ và quan trọng khác của người Việt Quốc Gia là các ông Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ…trong cuộc phân tranh Quốc-Cộng kéo dài 30 năm (1945-1975).

Người ta có thể không đồng ý về những quan điểm chính trị của ông Nguyễn Ngọc Huy nhưng không ai có thể phủ nhận được trường hợp của ông Huy: “văn tức là người”. Bởi vì không ai có thể giải thích khác hơn được về một người “lúc hết hơi mới biết đến mạng trời và nhắm mắt mới đành thôi hoạt động” và khi chết chỉ sở hữu vài bộ quần áo cũ và một một ít sách.

Và cũng không có ai có dịp tiếp xúc với ông Huy mà không thấy ông là người chừng mực, tự chủ, quyết tâm. Bình dị trong lời nói nhưng phong phú trong ý tưởng. Không bao giờ làm bộ tịch, không bao giờ “đao to, búa lớn”. Một người “dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch”. Một người “thong dong tựu nghĩa”.

Có nhiều người viết về Kim Dung nhưng viết hẳn một quyển sách công phu về riêng một khía cạnh – “ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung” –  thì ông Huy là người duy nhất.

Một câu hỏi đến tự nhiên: Tại sao một người lỗi lạc lại bận rộn như ông Huy lại “mất công” với với loại truyện giải trí bình dân như thế?

Câu trả lời chỉ tìm thấy sau khi đã đọc xong quyển “Những Ẩn Số Chánh Trị…” dầy 290 trang. Và câu trả lời có thể sẽ là như sau:

Mặc dầu truyện võ hiệp nói chung bị xem là loại văn chương bình dân nhưng riêng với Kim Dung ông Huy nhìn thấy hình ảnh của một đại văn hào có một sở học uyên bác và óc tưởng tượng dồi dào – Những bộ truyện trường thiên của Kim Dung đều có thể so sánh được với các bộ sách bất hủ của dân tộc Trung Hoa đã làm say mê cả người bình dân lẫn người trí thức, người Việt Nam lẫn người Trung Hoa, với những ý nghĩa triết lý hoặc các bài học chính trị, đạo đức tiềm ẩn như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, Tây Du Ký… Nếu suy nghĩ khi đọc truyện Kim Đung người ta có thể học được nhiều điều hữu ích.

Ông Huy nghiên cứu, quen thuộc với lịch sử, tư tưởng và  văn hoá Trung Hoa. Luận Án Tiến Sĩ  của ông ở đại học Paris viết bằng tiếng Pháp đã được chính ông dịch sang tiếng Việt có đề tài “Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời” (Le thème de l’élite dans la pensée politique de la Chine antique), 1963. Tác phẩm của Kim Dung, vì thế, đã hấp dẫn ông Huy một cách tự nhiên.

Ngoài sự kính nể của người trí thức đối với người trí thức, nhà tư tưởng đối với nhà tư tưởng,  ông Huy viết về truyện Kim Dung vì ông cùng chia sẻ với nhà văn một số giá trị căn bản chung, vì thấy ở Kim Dung một tâm hồn đồng điệu bất kể khoảng cách về không gian, thời gian hay chủng tộc. (Lẽ dĩ nhiên nói như thế không có nghĩa ông Huy đồng ý hoàn toàn với những điều ông tìm thấy về tư tưởng của Kim Dung).

Tác phẩm của Kim Dung phong phú, đồ sộ và có thể nghiên cứu, nhận định dưới nhiều khía cạnh. Ông Huy chỉ giới hạn, như đã nói, vào một khía cạnh mà ông quan tâm hơn cả đó là “các ẩn số chính trị” trong tác phẩm. Ông đi tìm những ẩn số này bằng khả năng phân tích và tổng hợp của một nhà khoa học chính trị, một người quen viết nghị luận cũng như bằng tâm tư của một chính trị gia Việt Nam đang “trong gian truân cố chuyển lại cơ trời”, luôn luôn suy nghĩ về những vấn đề của đất nước mình.

NHỮNG “BÍ MẬT” CỦA KIM DUNG ĐàĐƯỢC “BẬT MÍ” THẾ NÀO?

Để tránh những hệ luỵ rắc rối không cần thiết các tiểu thuyết gia gần như luôn luôn xác định “tác giả không có ý ám chỉ một nhân vật hay một sự việc có thật nào trong đời sống cho nên mọi trùng hợp nếu có chỉ là ngẫu nhiên”. Kim Dung cũng không đi ra ngoài thông lệ ấy khi tuyên bố “Nội dung tiểu thuyết không tránh khỏi sự biểu lộ tư tưởng của tác giả nhưng không phải tác giả cố ý đem nhân vật, sự tích cùng bối cảnh đến một lãnh vực tư tưởng hay một chính sách (có thật) nào đó…Tiểu thuyết võ hiệp không liên quan gì đến tư tưởng chánh trị, ý thức tôn giáo, khoa học trúng hay trật, đạo đức phải hay trái…”

Lập trường “phi chính trị” nhưng “nói để mà nói” của Kim Dung đã không ngăn cản ông Huy đi tim dụng ý chính trị của tác giả rải rác trong các tác phẩm và ông đã tìm ra, đã nhìn thấy một số dữ kiện có ý nghĩa chính trị. Các dữ kiện này vừa đủ số lượng, vừa ăn khớp vào nhau để có thể đưa ra nhũng thông điệp về lập trường của Kim Dung.

Trong phần “Lời Mở Đầu” của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy nêu một vài chi tiết quan trọng:

Lúc đảng Cộng Sản Trung Hoa tranh đoạt được quyền lãnh đạo Trung Quốc, Kim Dung vẫn còn ở lại lục địa, sau đó mới dời ra sống ở Hongkong và làm biên tập viên cho hai tờ báo thiên tả là Đại Công Báo và Trường Thành Hoạ Báo cho đến năm 1957. Sự kiện này cộng với các ẩn số chính trị tìm thấy trong một số các bộ truyện của Kim Dung khiến ông Huy suy đoán Kim Dung vốn là người trí thức khuynh Tả, có thiện cảm với các đoàn thể theo Xã Hội Chủ Nghĩa và các quốc gia theo chế độ Cộng Sản và không có thiện cảm với các đoàn thể thuộc phái Hữu và các quốc gia Tây Phương.

Qua thời gian, cái nhìn của Kim Dung dần dần thay đổi khi nhận chân người Cộng Sản áp dụng một chính sách chuyên chế toàn diện, tàn ác và phi nhân nên Kim Dung quay ra kết án họ.

Kim Dung cũng điều chỉnh lại cái nhìn đối với các đoàn thể có lập trường chống chọi nhau, cả Tả lẫn Hữu. Theo Kim Dung, không bên nào hoàn toàn phải, toàn người tốt. Không bên nào hoàn toàn quấy, toàn người xấu. Bên nào cũng có người xấu, người tốt  và thường vừa có phẩn phải vừa có phần quấy. Điểu đáng nói là chuyện mức độ –  tốt nhiều hơn hay xấu nhiều hơn, phải nhiều hơn hay quấy nhiều hơn. Chính, Tà không đơn giản là chuyện Trắng, Đen.

Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, từ khi xuất hiện từ đầu thập niên 1960s, trong khi làm mưa làm gió ở Hongkong, Singapore, Nam Việt Nam, các nước Đông Nam Á trong giới Hoa Kiều hải ngoại thì tuyệt đối bị cấm cửa ở Đài Loan và cả Hoa Lục ít nhất trong thời kỳ Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông còn sống.

Cũng cần lưu ý đối chiếu thời kỳ Kim Dung viết truyện Võ Hiệp ở Hong Kong bên cạnh lò lửa “Cách Mạng Văn Hoá” ở Hoa Lục….với bối cảnh chiến tranh lạnh giữa hai phe Cộng Sản và Tư Bản.

Trong phần kết luận của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy cũng dè dặt nói thêm “không thể loại bỏ giả thuyết là sự trùng hợp giữa các nhân vật và sự kiện trong tác phẩm của Kim Dung với một số nhân vật và sự kiện có thật phát xuất từ nơi tiềm thức của tác giả chứ không phải là một sự cố ý. Nhưng ngay trong trường hợp này, Kim Dung cũng không phải hoàn toàn vô tâm, vì Kim Dung có nhiều ưu tư, nhiều chủ kiến ăn sâu trong tiềm thức thì các tác phẩm viết ra mới biểu lộ các ưu tư và chủ kiến đó cho chúng ta thấy”

Đi vào chi tiết liên hệ đến các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung ông Huy nhận thấy 2 loại dữ kiện:

– Một số nhân vật đã được dùng để tượng trưng cho một vài quốc gia đặc biệt trên thế giới hoặc để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cận đại.

–  Một số sự việc đã diễn tả quan điểm của Kim Dung về vấn đề tranh đấu chính trị và một phần trong quan điểm này dựa vào triết lý Đạo Giáo và Phật Giáo.

Ông Huy trình bầy những khám phá của ông một cách thứ tự, lớp lang, dựa trên lý luận với rất nhiều chi tiết khá tỉ mỉ. Sau đây chỉ là một số thí dụ về các ẩn số chính trị – xin nhắc lại chỉ là một số thí dụ tiêu biểu có giá trị thuyết phục cao trong rất nhiều ẩn số mà ông Huy đã tìm thấy – qua các truyện võ hiệp Kim Dung:

  1. Các nhân vật tượng trưng cho một số quốc gia đặc biệt trên thế giới.

Cuộc luận võ trên đỉnh Hoa Sơn được đề cập đến trong các bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp có mục đích xác định vai tuồng bá chủ võ lâm. Cuộc luận võ đầu tiên và quan trọng nhất có 5 nhân vật tham dự. Họ có ngoại hiệu là Trung Thần Thông, Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Nam Đế. Sau cuộc tỷ thí rất gay go, mọi người đều công nhận rằng Trung Thần Thông là người có võ công cao diệu hơn hết và được quyền giữ bộ Cửu Âm Chân Kinh. Những người còn lại thì tài nghệ suýt soát nhau.

Ngoài ra, còn một nhân vật thứ sáu cũng được xem đồng tài nghệ nhưng không tham dự cuộc luận võ này. Đó là bang chủ của Thiết Chưởng Bang tên là Cừu Thiên Nhạn ngoại hiệu là Thuỷ Thượng Phiêu. Cừu Thiên Nhận có người anh song sinh tên là Cừu Thiên Lý, võ công tầm thường, chỉ hay dùng xảo thuật để loè bịp.

Trong một giai đoạn của cuộc luận võ hay luận kiếm Hoa Sơn, năm nhân vật đầu tiên đã tỉ thí với nhau theo lối “ngũ quốc giao binh”, dịch sát nghĩa là “năm nước tranh chiến với nhau” hàm ý Kim Dung muốn dùng các nhân vật võ lâm để ám chỉ một số quốc gia. Vậy thì, nhân vật nào, quốc gia nào đây?

– Nhân vật tượng trưng cho nước Tầu: Trung Thần Thông.

Trung Thần Thông là ngoại hiệu của Vương Trùng Dương. Trung là ở ngay chính giữa. Tự ngàn xưa, người Tầu đã tự hào là họ sống ngay chính giữa địa cầu (!). Họ đã chính thức gọi dân tộc họ là dân tộc Trung Hoa và nước họ là Trung Quốc.

Về mặt tinh thần, người Trung Hoa theo đạo Trung Dung, đạo của người quân tử lúc nào cũng đứng trong vị thế quân bình. Trong mọi việc làm đều có thái độ thích ứng, vừa phải. Không thái quá, không bất cập. Người cố gắng theo đạo Trung Dung thì sẽ trở thành sáng suốt, hiểu biết và có thể biến cải để ứng phó vượt qua mọi trở lực, nói một cách khác sẽ trở thành Thần Thông.

Phái Đạo Giáo mà Trung Thần Thông đứng đầu là phái Toàn Chân, có nghĩa là sự thật đầy đủ, trọn vẹn. Toàn Chân là môn phái có thật trong lịch sử. Ngoài chủ trương riêng của Đạo Giáo, nó lại còn bao gồm đạo Trung Hiếu của Nho Giáo và các giới luật của Phật Giáo và điều này đã mô tả đúng tính cách tổng hợp của nền văn hoá Trung Hoa cổ truyền.

Tỷ thí tài nghệ để trở thành bá chủ võ lâm, tuy nhiên Trung Thần Thông lại có bản chất ngược lại với tư tưởng bá chủ – lấy được Cửu Âm Chân Kinh nhưng nhất quyết không dùng vì bí kíp võ học tuyệt tác này đòi hỏi phương pháp luyện công quá âm độc, dị thường. Tư cách của Trung Thần Thông, tức Vương Trùng Dương cho thấy cao hơn hẳn Đông Tà, Tây Độc và các nhân vật võ lâm khác, càng chứng tỏ xứng đáng vai trò lãnh đạo, phù hợp với họ Vương, có nghĩa là Vua, người đứng đầu thiên hạ. Đạo lý nhà vua phải theo để cai trị một cách chính đáng, nhân nghĩa gọi là Vương đạo. Chủ trương chính trị Vương đạo là chủ trương chính thức được đề cao trong sử sách Trung Hoa từ ngàn xưa.

Kim Dung là người Trung Hoa nên qua nhân vật Trung Thần Thông Vương Trùng Dương hàm ý nước Trung Hoa có đủ khả năng và tư cách làm số 1 trên thế giới cũng là điều không đáng ngạc nhiên.

– Nhân vật tượng trưng cho nước Nhật: Đông Tà.

Đông Tà là ngoại hiệu của Hoàng Dược Sư. Hoàng là mầu vàng ám chỉ Nhật Bản cũng là dân da vàng.

Nhật Bản nằm về phía đông của Trung Hoa phù hợp với ngoại hiệu Đông Tà của Hoàng Dược Sư. Đông Tà lại mặc áo mầu xanh, theo vũ trụ quan của người Trung Hoa thì mầu xanh thuộc về hành mộc và liên hệ với phương đông, nhấn mạnh thêm nước Nhật ở phía đông.

Căn cứ của Đông Tà là đảo Đào Hoa mà Nhật Bản là đảo quốc và nổi tiếng thế giới là xứ hoa Anh Đào.

Đông Tà có tánh sợ lửa. Điều này ám chỉ các đảo Nhật có nhiều núi lửa và thường bị động đất.

Bà vợ của Đông Tà có tên là Mai Hương. Mà hoa Mai lại được người Trung Hoa xem là quốc hoa. Điều này có thể ám chỉ dân tộc Nhật có liên hệ và chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa.

Thân thế của Đông Tà còn tỏ rõ hơn nữa ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa rất sâu xa đối với nước Nhật – Đông Tà theo học võ với Châu Đồng. Ông này cũng là thầy của Nhạc Phi, một danh tướng anh hùng Trung Hoa. Trước đó Đông Tà là một thư sinh học theo Nho Giáo nên là người văn võ kiêm toàn. Đông Tà thông thạo các thú tiêu khiển của người Trung Hoa là cầm, kỳ, thi, hoạ; nắm vững mọi loại kỹ thuật Trung Hoa như y dược, bói toán, chiêm tinh, tướng số, nông điền thuỷ lợi, binh lược…; biết thưởng thức các món ăn ngon, các thứ trà quý của Trung Hoa…Tuy nhiên, Đông Tà lại thâm hiểu Đạo Giáo và hướng về sự thanh tĩnh vô vi. Đông Tà cũng có một số đức tính tốt là cương trực, nói lời giữ lời theo kiểu “quân tử nhất ngôn”, kính trọng các bậc trung thần, nghĩa sĩ, nhiều khi ra tay giúp người yếu thế, trừng trị bọn tham quan ô lại, bọn trộm cướp hiếp đáp dân lành.

Các dệ tử của Đông Tà đều mang tên Phong như Khúc Linh Phong, Phùng Mặc Phong, Lục Thừa Phong, Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong…Phong nghĩa là gió, giống như chữ Phong trong danh từ nổi tiếng của Nhật là Thần Phong (Kamikaze) nguyên là danh từ dùng để chỉ trận bão lớn năm 1281 đã đánh đắm các chiến thuyền của hạm đội Mông Cổ, cứu nước Nhật khỏi bị Mông Cổ thống trị. Trong thế chiến thứ hai, Thần Phong là tên của đội phi công cảm tử tình nguyện lao phi cơ chứa đầy chất nổ xuống các chiến hạm Mỹ và nổ tung với các chiến hạm này – một cố gắng hi sinh tuyệt vọng nhưng rẩt anh hùng mang đặc tính Nhật Bản.

Đông Tà tuy vậy không được Kim Dung coi là người theo chính đạo mà là một nhân vật nhuốm đầy tà quái hàm ý người Nhật chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, nhưng chỉ theo một phần, rồi tìm cách biến chế và không cư xử đúng theo quan điểm đạo đức của người (quân tử mẫu mực) Trung Hoa.

Đông Tà, tức nước Nhật, trong mắt Kim Dung đã TÀ như thế nào?

Dựa vào Kỳ Môn Bát Trận của Khổng Minh để lập ra Phản Kỳ Môn Bát Trận để bảo vệ đảo Đào Hoa. Cũng dựa vào nguyên tắc sinh khắc, âm dương, ngũ hành, nhị thập bát tú và 64 quẻ kép của Bát Quái. Tuy nhiên trong trận đồ của Đông Tà, vị trí của các quẻ lại ngược lại vị trí các quẻ trong trận đồ Khổng Minh.

Thổi ngọc tiêu kích thích dục tình.

Thiếu tự chế – quá bi thương vì cái chết của vợ, gần như điên cuồng khi tưởng mất con.

Ăn cướp, tống tiền nhà giầu để có phương tiện lập căn cứ địa kiên cố, sang trọng. Dùng thủ đoạn xảo trá để đoạt Cửu Âm Chân Kinh.

Khi tức giận hai đệ tử phản bội đào thoát thì trừng phạt các đệ tử vô tội và hết sức trung thành khác bằng cách cắt đứt gân chân của họ rồi đuổi đi. Đâm mù mắt, chọc thủng tai các đầy tớ, gia nhân, vốn là các thành phần tội phạm, để kiềm chế họ và giữ bí mật về mình.

Sự tàn ác, ích kỷ của Đông Tà ám chỉ nước Nhật sau khi canh tân trở nên cường thịnh thì đi xâm lăng Trung Quốc và các nước khác cốt để làm lợi cho riêng mình, trắng trợn tự xưng là Đế Quốc Nhật Bản, khác với lý tưởng Vương đạo của người Trung Hoa – theo Kim Dung – “trị quốc” để dọn đường cho “bình thiên hạ” tức là tiến tới “thế giới đại đồng”. Biến cố “The rape of Nanking” năm 1937 gây kinh hoàng, chấn động thế giới khi quân Nhật chiếm thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc, đã hãm hiếp và giết hại 300,000 người dân Tầu, thây chất như núi, máu loang đỏ các sông ngòi, là một tội ác khó có thể nào quên.

   – Nhân vật tượng trưng cho các nước Đế Quốc Âu Châu: Tây Độc.

Tây Độc là một nhân vật kinh khủng, có lẽ còn đáng ghét hơn cả Đông Tà, theo sự diễn tả của Kim Dung ám chỉ các nước đế quốc thực dân Âu Châu đã sâu xé, dày xéo, bóc lột Trung Hoa và các dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ hàng trăm năm.

Tây Độc là ngoại hiệu của Âu Dương Phong. Âu là Âu Châu. Âu Châu ở phía Tây của Trung Quốc. Người Âu Châu còn gọi là người Tây Dương, hay người Tây Phương. Tây Độc Âu Dương Phong cũng xưng là Bạch Đà Sơn Chủ, tức chúa núi Bạch Đà. Bạch là mầu trắng khiến liên tưởng đến người da trắng, giòng giống… Bạch Quỷ (!).

Trái với nếp sống thanh tĩnh theo Đạo Giáo của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, nếp sống của Tây Độc Âu Dương Phong là sự hưởng thụ vật chất tầm thường, ô trọc. Căn cứ Bạch Đà Sơn chứa đầy gái đẹp, ngọc ngà, châu báu, của ngon vật lạ… vốn là chiến lợi phẩm có từ cướp của, giết người, bắt cóc…do hai chú cháu Âu Dương Phong và Âu Dương Công Tử thực hiện. Mô tả này nhắc thời kỳ các nước Âu Châu ùa nhau đi chiếm thuộc địa, bắt buộc các dân tộc khác làm nô lệ, thực thi chính sách đế quốc bóc lột tàn nhẫn, trở nên giầu có và truỵ lạc

Sự mất trí, điên cuồng lúc về sau của Tây Độc biểu tượng cho sự vong thân của người Tây Phương dẫn đến khủng hoảng xã hội, cách mạng, nội chiến và đánh giết lẫn nhau gây ra đại chiến thế giới 1 và 2.

– Nhân vật tiêu biểu cho Liên Xô:  Bắc Cái.

Bắc Cái là ngoại hiệu của Hồng Thất Công.

Bắc Cái là bang chủ Cái Bang, là chúa ăn mày, tức là trùm vô sản.

Liên Xô ở phía Bắc và Tây của Trung Quốc. Bắc nhiều hơn Tây, vả lại Tây đã dùng cho trường hợp Tây Độc để ám chỉ Âu Châu.

Chữ Hồng, họ của Bắc Cái (Hồng Thất Công) theo Hán Văn là rộng lớn mênh mông nhưng lại đồng âm với chữ Hồng là đỏ, mầu tiêu biểu cho đảng Cộng Sản, tức Cái Bang. Thêm nữa, chữ Hồng gồm 2 phần, bên tả là bộ thuỷ, bên hữu là chữ cộng, y như chữ Cộng trong từ ngữ Cộng Sản.

Kỹ thuật tranh đấu của Bắc Cái là Đả Cẩu Bổng Pháp – dùng gậy để đánh chó của nhà giầu, đánh cả cường hào, ác bá, tham quan ô lại – tiêu biểu cho chủ trương Giai Cấp Đấu Tranh, Hàng Long Thập Bát Chưởng tiêu biểu Biện Chứng Pháp Duy Vật. Kiên Bích Trận của Cái Bang biểu tượng kỹ thuật tổ chức và tranh đấu tập thể của Đảng Cộng Sản Quốc Tế do Liên Xô lãnh đạo.

Cái Bang của Hồng Thất Công có 2 phe ăn mày hiềm khích và chống chọi nhau. Một phe áo lành và sạch nhưng ít người, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tứ với thủ lãnh Trotsky. Một phe áo rách và dơ nhưng đông người hơn, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tam do Stalin cầm đầu. Bắc Cái Hồng Thất Công có thể vừa tượng trưng cho Liên Xô như là một quốc gia, vừa tượng trưng cho Lenin như là một nhân vật. Chỉ khi Lenin lúc còn sống mới dung hợp được cả phe Stalin và phe Trotsky.

    – Nhân Vật tiêu biểu cho các nước thuộc thế giới đệ tam – tức là các nước đang mở mang như Thái Lan:  Nam Đế.

Nam Đế là ngoại hiệu của Đoàn Chính Minh, vua nước Đại Lý, thuộc sắc dân Thái, sau thoái vị đi tu với pháp danh là Nhất Đăng, Nhất Đăng Đại Sư. Người thế độ cho ông không phải là một cao tăng Trung Hoa mà là một nhà sư Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, theo Phật Giáo Tiểu Thừa khác với Phật Giáo Đại Thừa thịnh hành ở Trung Hoa.

Hiện nay có cuộc mâu thuẫn giữa các nước đã phát triển ở phương Bắc và các nước đang mở mang ở phương Nam, được gọi là tranh chấp Bắc Nam. Nam Đế là biểu tượng của thế lực phương Nam.

      – Nhân vật biểu tượng cho Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý: Anh em Cừu Thiên Nhạn và Cừu Thiên Lý.

Được mời nhưng không tham dự cuộc Hoa Sơn Luận Võ, Bang Chủ Thiết Chưởng Bang Cừu Thiên Nhạn được xem là có tài nghệ ngang với Võ Lâm Ngũ Bá. Cừu Thiên Lý là anh song sinh của Cừu Thiên Nhạn, trông rất giống, có tánh mưu mẹo, gạt gẫm nhưng tài nghệ kém người em rất xa hàm ý Phát Xít Ý của Mussolini ra đời trước, hay khoa trương,  nhưng không có thực lực như Đức Quốc Xã của Hitler.

Theo sự mô tả của Kim Dung, Thiết Chưởng Bang (Bang hội Bàn Tay Sắt) lúc đầu là hội của những người yêu nước chống sự xâm lấn của nước ngoài, về sau lầm lạc đi vào con đường cướp bóc, hung bạo, xem mạng người như cỏ rác phù hợp với lịch sử chung của 2 chế độ độc tài hữu phái Quốc Xã và Phát Xít.

Ngoại hiệu Thuỷ Thượng Phiêu phản ảnh công phu độc đáo đi trên mặt nước của Cừu Thiên Nhạn ám chỉ chủ nghĩa siêu nhân và siêu tộc của Đức Quốc Xã.

Tín hiệu bàn tay sắt của bang chủ Cừu Thiên Nhạn là gợi ý đến từ bội tinh Thập Tự Sắt, huy chương quân công cao quý nhất của dân tộc Đức cũng như huy hiệu chữ Vạn thời Hitler.

    – Nhân Vật biểu hiệu cho nước Mỹ: Dương Qua.

Dương Qua nhận Tây Độc làm nghĩa phụ và được truyền dậy những công phu siêu đẳng hàm ý nước Mỹ có gốc gác Âu Châu, văn hoá Mỹ cùng tính chất văn hoá Âu Châu, gọi chung là Tây Phương. Dương Qua còn được gọi là Tây Cuồng.

Dương Qua chính là Thần Điêu Đại Hiệp mà chim điêu (eagle) là biểu hiệu của nước Mỹ. Quốc huy của nước Mỹ có hình chim điêu.

Trong lần Hoa Sơn Luận Võ cuối cùng, trong số 5 cao thủ có mặt thì Dương Qua là người trẻ nhất được xem như kế vị Tây Độc nhưng không ác hại như nghĩa phụ, lại học thêm được tinh hoa võ thuật của các cao thủ khác, cũng như tự sáng chế nên có bản lãnh cao hơn mọi người. Điều này phù hợp với sự kiện nước Mỹ là quốc gia Tây Phương, trẻ trung, cường thịnh vượt hẳn các nước đế quốc Âu Châu già nua, tàn tạ như đế quốc Bồ Đào Nha, đế quốc Tây Ban Nha, đế quốc Anh, đế quốc Pháp, đế quốc Hoà Lan, đế quốc Bỉ… để trở nên đệ nhất siêu cường.

  1. Các nhân vật được dùng để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cận đại.

Trước hết là trường hợp các lãnh tụ Trung Cộng.

Trong thời kỳ sáng tác ba bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp, Kim Dung còn thiên tả nhưng đến khi viết hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung đã nhận chân được sự thật về Cộng Sản Quốc Tế nói chung và Cộng Sản Trung Hoa nói riêng.

Trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ đề tài chính là cuộc tranh chấp đẫm máu giữa Triêu Dương Thần Giáo và các phe gọi chung là bạch đạo. Ông Huy đã tìm thấy nhiều dữ kiện chứng tỏ rằng Triêu Dương Thần Giáo trong Tiếu Ngạo Giang Hồ được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Trung Hoa và hai vị giáo chủ Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại biểu tượng hai nhà lãnh đạo quan trọng của Trung Cộng là Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Ông Huy lý luận như sau:

Triêu Dương là buổi sớm mai lúc mặt trời ở phía Đông mà bản quốc thiều của Trung Cộng là bản Đông Phương Hồng.

Khẩu hiệu chính của Trung Cộng trong thời kỳ chiến tranh lạnh là “gió đông thắng gió tây” cho nên Giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo có tên là Đông Phương Bất Bại là hiện thân của Lưu Thiếu Kỳ, người làm chủ tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) trong 9 năm và nắm thực quyền một thời gian dài trước khi bị lật đổ, bị tra tấn và bị giết.

Giáo chủ Nhậm Ngã Hành biểu tượng cho Mao Trạch Đông, Chủ Tịch đảng Cộng Sản Trung Hoa. Việc Đông Phương Bất Bại bí mật giam Nhậm Ngã Hành trong lòng đất dưới đáy Tây Hồ ở Hàng Châu ám chỉ thời kỳ Lưu Thiếu Kỳ liên kết với Đặng Tiểu Bình tập trung quyền lực Đảng trong tay, dồn Mao Trạch Đông vào thế “ngồi chơi xơi nước”, “hữu danh vô thực” sau thất bại “bước tiến nhẩy vọt” khiến Mao uất hận dùng “đại cách mạng văn hoá” long trời lở đất để quật ngược lại. Cuộc xung đột giữa Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại cũng kỳ bí và ghê gớm như cuộc xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ.

Thần Long Giáo trong Lộc Đỉnh Ký cũng được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Tầu. Giáo Chủ Hồng An Thông là hình ảnh xấu xí của Mao Trạch Đông, bà vợ ác nghiệt nhưng trẻ đẹp Tô Thuyên tức Hồng Phu Nhân biểu hiệu cho Giang Thanh, bọn Ngũ Long Thiếu Niên tượng trưng cho Vệ Binh Đỏ. Những cảnh tượng xấu xa, tàn bạo, tệ hại liên quan đến Thần Long Giáo mà Kim Dung mô tả rất gần với thực trạng chính trị Hoa Lục thời Đại Cách Mạng Văn Hoá.

Kế tiếp là trường hợp của các chính khách quốc gia Trung Hoa trong mắt Kim Dung theo như sự suy đoán của ông Huy.

Cũng trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, nếu Triêu Dương Thần Giáo (bị gọi là Ma Giáo) tượng trưng cho phe Cộng Sản thì phái Bạch Đạo tương trưng cho phe Quốc Gia. Phe Bạch Đạo chính thức theo lập trường bảo vệ đạo lý và tình trạng đương hữu nhưng trong thực tế phân hoá trầm trọng. Có những người đàng hoàng, tử tế nhưng không thiếu kẻ gian ác. Nhân vật tiêu biểu cho loại người sau là Nhạc Bất Quần, chưởng môn của phái Hoa Sơn, sau lên làm “minh chủ” của 5 phái “hợp nhất” gọi là Ngũ Nhạc kiếm Phái gồm Hoa Sơn, Hành Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn và Hằng Sơn.

Nhân vật Nhạc Bất Quần được Kim Dung dùng để ám chỉ Tưởng Giới Thạch, sau khi “quốc phụ” sáng lập là Tôn Dật Tiên chết, thì trở thành lãnh tụ số 1 của Trung Hoa Dân Quốc và Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Kim Dung dùng lối chơi chữ ở đây. Không để ý thì không thấy. Nhạc, theo chữ Hán, là hòn núi lớn gồm chữ “khâu” là gò và “sơn” là núi. Cả 3 chữ “nhạc”, “khâu” và “sơn” đều chỉ những khối lớn do đá cấu tạo nên. Mà đá tức là “thạch” – Tưởng Giới Thạch!

Dưới ngòi bút có phần cố ý …“bôi bác” của Kim Dung, Nhạc Bất Quần có bề ngoài khả kính của một lãnh tụ võ lâm mang ngoại hiệu Quân Tử Kiếm nhưng thực chất là Nguỵ Quân Tử hay Quân Tử giả hiệu.

Tưởng Giới Thạch còn có tên là Tưởng Trung Chánh hàm ý thành tín ngay thẳng, không những chính thức theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên – Dân Tộc độc lập, Dân Quyền tự do, Dân Sinh hạnh phúc – mà còn luôn luôn đề cao Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ nhưng, theo Kim Dung, thật sự là người theo chủ nghĩa quyền uy, một nhà độc tài hữu phái đứng đầu một chính quyền ung thối vì tham nhũng.

Giống như Nhạc Bất Quần lớn tiếng tố cáo, miệt thị Ma Giáo, Tưởng Giới Thạch kết án Cộng Sản tà nguỵ, bất nhân nhưng bên trong Tưởng hành động còn tà nguỵ, bất nhân hơn hay cũng chẳng kém. (Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, Kim Dung còn nghiêng về Nhậm Ngã Hành tức Mao Trạch Đông, hàm ý Mao vẫn đỡ tệ hại hơn Tưởng. Chi trong Lộc Đỉnh Ký, qua nhân vật Giáo chủ Hồng An Thông Kim Dung mới xem Mao, Tưởng đều đáng ghét như nhau).

THÔNG ĐIỆP CHÍNH TRỊ CỦA KIM DUNG.

Trở lại những ẩn số chính trị mà ông Huy tìm thấy, những ẩn số quan trọng nhất có lẽ là những thông điệp mà Kim Dung đã kín đáo gửi đến cho đồng bào Trung Hoa của ông. Những thông điệp này cũng có thể trở thành những điều đáng suy ngẫm cho những người hoạt động chính trị hay tranh đấu chính trị nói chung ở bất cứ nước nào – Trung Hoa, Việt Nam, Miến Điện, Mỹ, Nhật, Âu, Phi….Chẳng hạn như:

  1. Chính nghĩa dựa trên đạo lý thường chỉ là nhận thức chủ quan, dễ dàng đưa đến sự thiên vị. Đoàn thể nào cũng xem đạo lý của mình là đúng, là chính còn đạo lý của đoàn thể khác là sai, là tà. Đấy là chưa kể “nói một đằng, làm một nẻo”.
  2. Trong mọi đoàn thể đều có người tốt, người xấu chứ không phải người của chính phái nhất định là tốt, người của tà phái nhất định là xấu. Ma Giáo có thể có người tử tế như Hướng Vấn Thiên, Khúc Dương Trưởng Lão, danh môn chính phái như Thiếu Lâm, Võ Đang có thể có đệ tử đồi bại như Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư. Hệ quả này là người ta phải có tinh thần cởi mở và khoan dung đối với nhau. Nên cởi mở và khoan dung như Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ.
  3.  Mô tả quá trình các nhân vật đạt đến vị trí tối cao như lãnh tụ, như minh chủ nguyên tắc của Đạo Đức Kinh được thực thi là “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” (biết đủ thì không bị nhục, biết dừng lại đúng lúc thì không bị nguy) và nguyên tắc “bất tranh” (không tranh dành cho bằng được). Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần tàn phế, tử vong, thân bại danh liệt vì quá tham lam, ham hố. Mưu thâm thì hoạ cũng thâm !
  4. Trong đoạn cuối của Tiếu Ngạo Giang Hồ, giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo ngỏ lời gả con gái là Nhậm Doanh Doanh cho Lệnh Hồ Xung và mời Lệnh Hồ Xung làm Phó Giáo Chủ. Mặc dù yêu Nhậm Doanh Doanh tha thiết, Lệnh Hồ Xung khước từ và bỏ đi. Điều này có nghĩa:  Riêng tại các nước có sự phân tranh Quốc-Cộng như trường hợp Trung Hoa (cũng như Cao Ly, Cuba, Việt Nam) sẽ không có, không thể có, hoà giải, hoà hợp dân tộc thực sự nếu các đảng Cộng Sản đang nắm quyền lực tiếp tục chủ trương độc tài, độc đảng, độc tôn phi lý. Các đảng Cộng Sản này phải đi bước trước là thực hiện sự cải cách thực sự.

***

Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cho đến tận ngày nay có đến hằng trăm triệu độc giả ở Trung Hoa, Đài Loan, Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Âu Châu …say mê nghiền ngẫm truyện Võ Hiệp Kim Dung, có hàng trăm tác giả viết sách, báo bình luận về tư tưởng, cuộc đời của Kim Dung, thậm chí xuất hiện cả trường phái “Kim Học”.

Tuy nhiên, không thấy ai nghiêm túc đặt vấn đề “đi tìm các ẩn số chánh trị” trong các tác phẩm của Kim Dung. Hoặc giả có đặt vấn đề thì chỉ “giải quyết” bằng cách đưa ra các khái niệm mơ hồ về chuyện Tả, Hữu, Quốc, Cộng… chứ  không có ai tìm ra được các những “bí mật” ẩn tàng một cách rõ ràng, mạch lạc và có hệ thống như ông Nguyễn Ngọc Huy.

Kim Dung đã “qua mặt” được tất cả mọi người nhưng không “qua mặt” được một người – một người Việt Nam!

Phải chăng “dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”?

Cao Tuấn

BÀI PHÁT BIỂU CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI CỦA MẸ TERESA

Bài phát biểu nổi tiếng của Mẹ Teresa kêu gọi tình yêu thương, chia sẻ giữa con người với con người, dẫu cho sự sẻ chia đó có gây tổn hại đến lợi ích của cá nhân.

Đứng giữa nước Mỹ, phía dưới là 3.000 khán giả, trong đó có gia đình Tổng thống Mỹ Bill Clinton, các đại biểu quốc hội Mỹ và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới, Mẹ Teresa kêu gọi mỗi con người đều nên “cho đi”, đặc biệt là với những người yếu thế, bắt đầu từ ngay trong chính gia đình mình.

Dưới đây là trích đăng bài phát biểu của Mẹ Teresa vào ngày 3/2/1994 tại Lễ Điểm tâm cầu nguyện toàn quốc (National Prayer Breakfast) diễn ra ở Washington DC.

Những người nghèo về vật chất vẫn có thể là những người rất tuyệt vời.  Một buổi tối, chúng tôi đi ra ngoài và đón 4 người trên đường phố về nhà.  Một trong số họ đang trong tình trạng khủng khiếp nhất.  Tôi đã nói với các nữ tu: “Các chị em hãy chăm sóc 3 người kia, tôi sẽ chăm sóc người này.”  Tôi đã chăm sóc cô ấy bằng tất cả tình yêu của tôi . Tôi đặt cô ấy lên giường, và tôi thấy một nụ cười rất đẹp xuất hiện trên khuôn mặt của cô ấy.

Cô ấy nắm lấy tay tôi và nói một từ duy nhất: “Cảm ơn” rồi cô ấy chết.

Tôi không thể không xem lại lương tâm của mình trước cô ấy.  Tôi tự hỏi: “Mình sẽ nói gì nếu ở vị trí của cô ấy?”  Và câu trả lời của tôi rất đơn giản.  Tôi sẽ cố gắng thu hút sự chú ý đến chính bản thân tôi.  Tôi sẽ nói: “Tôi đang đói, tôi đang hấp hối, tôi lạnh, tôi đau đớn,” hoặc một cái gì đó tương tự.  Nhưng cô ấy đã cho tôi nhiều hơn thế – cô ấy đã cho tôi thấy sự biết ơn của cô ấy.  Và cô đã chết với một nụ cười trên khuôn mặt.

Sau đó, chúng tôi đón về một người đàn ông sống trong ống cống.  Anh ta bị sâu bọ ăn mòn da thịt đến một nửa.  Khi được chúng tôi đưa về nhà, anh ấy chỉ nói: “Tôi đã sống như một con vật trên đường phố, nhưng tôi sắp chết như một thiên thần, được yêu thương và chăm sóc.

Sau khi chúng tôi bắt sâu ra khỏi cơ thể của anh ta, tất cả những gì anh ta nói, với một nụ cười lớn, là: “Sơ ơi, tôi sẽ về nhà với Đức Chúa Trời” và anh ta chết.  Thật tuyệt vời khi nhìn thấy sự vĩ đại của người đàn ông đó – một người có thể nói như vậy mà không đổ lỗi cho bất cứ ai, cũng không so sánh với bất cứ điều gì.  Như một thiên thần – những người giàu có về mặt tinh thần có thể vĩ đại ngay cả khi họ nghèo về vật chất.

Có quá nhiều hận thù, quá nhiều đau khổ và bằng lời cầu nguyện của mình, với đức hy sinh của mình, chúng ta hãy bắt đầu từ gia đình mình.

Tôi muốn các bạn hãy đi tìm những kẻ “nghèo khó” ngay tại nơi đây, ngay trong ngôi nhà của bạn.  Hãy trở thành “tin lành” với người thân của mình trước.  Và hãy tìm những người hàng xóm xung quanh.  Bạn có biết họ là ai không?

Tôi đã chứng kiến một câu chuyện tuyệt vời về tình yêu của những người hàng xóm với một gia đình Ấn Độ giáo.  Một người đàn ông đến nhà chúng tôi và nói: “Mẹ Teresa, có một gia đình đã không có gì ăn trong một thời gian dài.  Hãy làm điều gì đó.”  Nghe thấy vậy, tôi đã mang một ít gạo đến đó ngay lập tức.  Tôi thấy những đứa trẻ – đôi mắt chúng sáng lên vì đói.  Tôi không biết các bạn đã bao giờ thấy người đói hay chưa.  Nhưng tôi thấy điều đó thường xuyên.  Người mẹ trong gia đình đã cầm lấy túi gạo và đi ra ngoài.  Khi cô ấy quay trở lại, tôi hỏi cô ấy: “Cô đã đi đâu vậy?  Cô đã làm gì?”  Cô ấy cho tôi một câu trả lời rất đơn giản: “Họ cũng đang đói.”  Họ là ai?  Họ là một gia đình Hồi giáo mà cô ấy quen.  Tôi không mang thêm gạo đến vào tối hôm đó vì tôi muốn họ, những người Ấn giáo và Hồi giáo, cùng nhau tận hưởng niềm vui của sự sẻ chia.

Giống như ví dụ về gia đình này, Chúa sẽ không bao giờ quên chúng ta và luôn có điều gì đó mà bạn và tôi có thể làm được.  Chúng ta có thể giữ niềm vui về tình yêu của Chúa trong trái tim mình, và chia sẻ niềm vui đó với những người mà chúng ta gặp gỡ.

Chúng ta hãy đảm bảo một điều rằng – không có đứa trẻ nào không được cần đến, không được yêu thương, không được chăm sóc, hay bị giết chết và vứt bỏ.  Hãy cho đi với một nụ cười ngay cả khi phải chịu tổn hại.

Bởi vì tôi đã nói quá nhiều về việc cho đi với một nụ cười, tôi muốn kể một câu chuyện.  Có lần, một giáo sư từ Mỹ hỏi tôi: “Bà đã kết hôn chưa?”  Tôi đã trả lời: “Rồi, và tôi luôn nhận thấy đôi khi rất khó để cười với người đồng hành của mình, đó là Chúa Giê-su bởi vì đôi khi Ngài có yêu cầu rất cao.”  Điều đó thực sự có chút gì đó đúng.

Một trong những yêu cầu cao nhất đối với tôi là đi khắp nơi và đứng trước công chúng.  Tôi đã nói với Chúa rằng nếu tôi không được lên thiên đường vì bất cứ lý do nào, tôi sẽ lên thiên đường nhờ tất cả những lần di chuyển và những lần xuất hiện trước công chúng, bởi vì điều đó đã thanh tẩy tôi, khiến tôi phải hy sinh và khiến tôi sẵn sàng lên thiên đường.

Nếu chúng ta nhớ rằng Chúa yêu thương chúng ta, và rằng chúng ta có thể yêu thương người khác như Ngài đã yêu chúng ta, thì nước Mỹ sẽ trở thành chỉ dấu cho hòa bình của thế giới.

Từ nơi đây, chỉ dấu của việc chăm sóc cho những người yếu thế nhất trong những người yếu thế – những đứa trẻ không được sinh ra – sẽ lan toả ra khắp thế giới.  Nếu các bạn là một ngọn lửa rực cháy cho công lý và hòa bình trên thế giới, thì các bạn sẽ làm đúng với những gì những người sáng lập đất nước này đã đấu tranh vì nó.  Chúa ban phước lành cho các bạn!

Mẹ Teresa, tới từ Calcutta

Ngày 3/2/1994

Nguyễn Thảo 

(Theo William J.Clinton Presidential Library)


 

Tấm hình này được chụp ở đâu?

Chau Trieu

Tấm hình này được chụp ở đâu? Xin thưa, ở Mông Cổ. Tấm hình này được chụp vào thời gian nào? Xin thưa, được chụp vào ngày 03 tháng 9 vừa qua? Nội dung của tấm hình này là gì? Xin thưa: Đức Giáo hoàng Francis đã dự cuộc gặp gỡ “đại kết và liên tôn” với các đại diện của Thần đạo, Phật giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Ấn giáo và các hệ phái Kitô giáo tại Ulaan Baatar, Mông Cổ. Tấm hình này cho thấy, dù khác nhau, nhưng các tôn giáo ở Mông Cổ dân chủ vẫn kề vai sát cánh bên nhau, tin tưởng nhau và đồng hành trong sự dị biệt.  Đức Giáo Hoàng đã ca ngợi Mông Cổ là  đất nước điển hình của tự do tôn giáo. Đất nước Mông Cổ rộng mênh mông chỉ có chừng 1500 tín đồ Công Giáo nhưng Công Giáo ở Mông Cổ vẫn được tuyệt đối tôn trọng như những tôn giáo khác. Vì lẽ đó nên Đức Giáo Hoàng mới đến đây.

Đúng 778 năm trước, nhà truyền giáo dòng Franciscan là John Plano Carpini đã đem thư của Giáo hoàng Innocent IV tới triều đình của các đại hãn Mông Cổ, nhằm thuyết phục các đại hãn vào đạo Thiên Chúa. Các đại hãn của đế chế hùng mạnh nhất thế giới thời ấy đã tống cổ cha Carpini khỏi đế chế năm 1247 và bắt đem về Tòa Thánh lá thư yêu cầu Giáo hoàng La Mã thần phục quyền năng của vua chúa Mông Cổ.

Cũng trong buổi gặp gỡ và giao lưu liên tôn giáo ở Mông Cổ tự do, Giáo hoàng nói: “Ở đây, châu Á có nhiều điều để cống hiến và Mông Cổ, nằm ở trung tâm lục địa này, sở hữu một di sản khôn ngoan to lớn mà các tôn giáo khác nhau của nó đã giúp tạo dựng và tôi muốn thúc giục mọi người khám phá và đánh giá cao….”

Chu Vĩnh Hải

Phạm Đoan Trang trong mắt luật sư

Phạm Đoan Trang trong mắt luật sư

September 5, 2023

Phạm Đoan Trang đi tù vì chỉ trích nhà cầm quyền

Phạm Đoan Trang chủ động nói với tôi về điều cô ấy đang quan tâm: “Đi hay ở?”. Lời Trang: “Em đi là “chúng nó” chiến thắng. Em không cho phép “chúng nó” chiến thắng như thế. Em đã chuẩn bị tinh thần và em chịu đựng được hoàn cảnh của mình anh nhé”.

Nhiều bạn hỏi về Phạm Đoan Trang, tôi chỉ có câu trả lời vắn tắt:

Nếu bạn đang hỏi về cô gái bé nhỏ mà kiên cường, dấn thân tranh đấu cho bạn được sống đúng với phẩm chất làm người, thì quả thật, tôi có biết về cô gái ấy.

Trước ngày bị bắt không lâu, Trang hẹn gặp tôi tại một quán café trên con đường nhỏ trong khu Cư xá Bắc Hải. Tôi đến trước, chờ không lâu thì Trang tập tễnh bước vào cùng người bạn. Mỉm cười với đôi mắt như đang ngơ ngác trước cuộc đời đen bạc, em ấy đặt trước mặt tôi cuốn “Cẩm nang nuôi tù”, tôi chưa kịp cầm thì Trang lật đến trang ghi tên tác giả và biên tập, chỉ vào tên tôi in trong ấy, Trang hỏi “Anh có ngại không?”. Tôi xem rồi đáp “Ủa, thì anh có biên tập thật mà!”. Chúng tôi cười xòa.

Lần gặp ấy, có lẽ linh cảm thời gian tự do của mình đang cạn dần, Trang nói đến việc nhờ tôi giúp bào chữa khi phải sa vào vòng lao lý. Chúng tôi bàn với nhau nhiều điều trước khi chia tay.

Thật lòng, tôi đã không thích những cuộc gặp như thế, khi tôi và “đối tác” phải bàn bạc về chuyện xui rủi của họ, về một giai đoạn đen tối nhìn thấy trước trong cuộc đời.

Việc đến phải đến, thượng tuần tháng 10/2020, Trang bị an ninh bắt giữ rồi di lý ngay ra Hà Nội. Việc di lý này hoàn toàn nằm ngoài tính toán của chúng tôi, khiến tôi phải liên lạc ngay với các luật sư hành nghề tại Hà Nội để nhờ cùng phối hợp hỗ trợ pháp lý cho Trang.
Cùng lúc này, tôi cũng gởi ngay văn bản kiến nghị đến Cơ quan An ninh Điều tra TP.Hà Nội để yêu cầu xem xét lại thẩm quyền. Vì lẽ, hầu hết các hoạt động của Trang đều thực hiện tại nơi Trang cư trú thường xuyên là địa bàn TP.HCM. Do đó, nếu cho rằng Trang có hành vi vi phạm pháp luật, thì thẩm quyền điều tra phải thuộc về TP.HCM, chứ không thể thuộc TP.Hà Nội.

Văn bản kiến nghị của tôi rơi vào sự thinh lặng. Sau này, khi tiếp cận hồ sơ, tôi vẫn thấy văn bản kiến nghị ấy lưu trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, qua hồ sơ cho thấy các nhận định ban đầu của tôi về thẩm quyền điều tra cũng hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, với cơ quan an ninh điều tra, cánh tay phải và là con cưng của chế độ, việc buộc họ làm đúng theo quy định tố tụng cũng tựa như hái sao trên trời.

Đương nhiên, Trang bị khởi tố về một tội danh chính trị, cho nên, sự hỗ trợ pháp lý của các luật sư ở giai đoạn điều tra là con số 0 tròn trĩnh, chỉ có thể ở mức độ đăng ký bào chữa rồi chờ. Suốt thời gian điều tra vụ án dài 14 tháng đăng đẵng, các luật sư bặt tin tức của Trang cho đến tận sau ngày có cáo trạng.

Khi ấy, tôi thu xếp ra ngay Hà Nội để hoàn thành các thủ tục bào chữa và thăm gặp Trang tại trại tạm giam số 1, Hỏa Lò Hà Nội.

Vẫn đang là mùa dịch COVID-19, trại tạm giam bố trí nơi luật sư tiếp xúc với thân chủ của mình qua vách kính thủy tinh và nói chuyện với nhau qua điện thoại. Chờ rất lâu quản giáo mới đưa vào khu vực cách ly một cô gái gầy gò, nhỏ bé, mái tóc cắt sát thật ngắn. Tuy vậy, tôi vẫn nhận ra Trang ngay nhờ cặp mắt sáng, tròn xoe, lúc nào cũng như đang ngơ ngác.

Không khó đoán thâm ý của trại giam khi buộc tôi chờ rất lâu mới đưa Trang vào làm việc, vì sau đó, thời gian làm việc sẽ không còn nhiều nữa. Thế nên, chúng tôi tranh thủ trao đổi vắn tắt ngay về vụ án, vì lẽ, với người hiểu biết như Trang, cô ấy thừa hiểu hồ sơ vụ án chỉ là cái cớ hoàn hảo để chính quyền giam giữ Trang, cho dù, cái gọi là hồ sơ vụ án đầy rẫy những chứng cứ khiên cưỡng, phi lý, phi pháp. Cô ấy hỏi thăm về sức khỏe của mẹ mình. Tôi cũng vội thông tin về tình hình bên ngoài, về các giải thưởng nhân quyền, giải thưởng báo chí quốc tế cô ấy được đề cử hay nhận giải. Tôi hỏi thăm về sức khỏe cô ấy, về điều kiện giam giữ, chuyển lời thăm hỏi, lời nhắn của gia đình, bạn tranh đấu của Trang…

Khi tôi đưa tin về các giải thưởng quốc tế, điện thoại đột ngột bị cắt đứt. Một cán bộ quản giáo chạy ập vào phản đối về nội dung trao đổi này và toan lấy các bài báo tôi đang áp vào vách kính thủy tinh cho Trang xem. Tôi giằng lại và đành lớn tiếng dọa: “Đây là các “tài liệu” của luật sư, việc lấy các tài liệu này là xâm phạm quyền hành nghề luật sư, vi phạm pháp luật… Tôi sẽ báo cáo việc này với Giám thị hoặc Bộ Tư pháp (?!)”. Thoạt nghe, quản giáo hơi lượng sượng, rụt lại rồi nói vớt vát “Đề nghị luật sư không nói chuyện bên ngoài”.

Thật ra, ở các quốc gia có nền luật pháp tiên tiến, thì mọi cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ đều mang tính cách riêng tư và được bảo mật. Nhưng điều đó hoàn toàn xa lạ với cán bộ chấp pháp của nền tư pháp chưa tiến hóa này, mà ở đó, cơ quan điều tra vốn rất tọc mạch, tò mò về các cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ.

Đồng thời, trước nay, chúng tôi vẫn đoán rằng các điện thoại trao đổi giữa luật sư và thân chủ của mình đều bị nghe lén. Lần này, thì họ ra mặt xác nhận luôn về sự việc nghe lén.

Đến đây, Trang chủ động nói với tôi về điều cô ấy đang quan tâm: “Đi hay ở?”. Lời Trang: “Em đi là “chúng nó” chiến thắng. Em không cho phép “chúng nó” chiến thắng như thế. Em đã chuẩn bị tinh thần và em chịu đựng được hoàn cảnh của mình anh nhé”.

Đó là một trong các cuộc gặp giữa tôi và Trang trước phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa sơ thẩm tuyên cô ấy hình phạt 9 năm tù giam. Tức gần 3.300 ngày tù chỉ vì em ấy dám nói sự thật về hiện tình bi đát của đất nước. Nhưng điều đấy không làm chế độ hài lòng.

Tám tháng sau, tòa án cấp phúc thẩm thông báo xét xử. Lần này, tôi mang trọng trách từ chính tôi và nhiều bạn tranh đấu của cô ấy gởi gắm, rằng: Phải thuyết phục Trang chấp nhận việc “Ra đi” cho bằng được, ngay khi có cơ hội.

Vẫn chốn cũ, khu vực cách ly của Trại tạm giam số 1, Hỏa Lò Hà Nội. Sau tấm vách thủy tinh, Trang trông gầy gò hơn và vẻ mặt tái xanh mướt như tàu lá, hậu quả của biết bao lần rong kinh kéo dài không được chữa trị. Dù vậy, sau ánh mắt sáng, to tròn vẫn như ngơ ngác ấy, Trang vẫn lắc đầu nguầy nguậy, khăng khăng “Em chịu đựng được mà…”.

Tôi phân tích thiệt hơn, tôi viện dẫn mọi lẽ… nhưng vô ích! Túng thế, tôi lật ra lá bài cuối: “Mẹ của em…”. Nghe đến mẹ, bậc sinh thành, Trang cúi mặt giấu đôi mắt rướm lệ đỏ hoe… Im lặng một lát, Trang thốt khẽ “Dạ, để em tính lại”.

Mẹ của em, một trong số ít người được vào dự khán phiên tòa xét xử con gái mình. Trong ít phút giải lao, khi thấy con gái ngồi từ hàng ghế bị cáo đưa mắt xuống dưới tìm mình, bà cụ khẽ mỉm cười, lặng lẽ đưa ngón tay cái “number one” lên hướng về phía con gái! Ngón tay ấy gởi gấm nhiều thông điệp : Khích lệ, đồng tình, khen ngợi và “Mẹ rất ổn, con gái yêu quý của mẹ”… Rõ ràng, cô con gái ngoan cường đã là sản phẩm được hun đúc từ những bậc làm mẹ anh thư như vậy.

Và tôi cũng đã phải xấu hổ khi phải khai thác tình “mẫu tử”, khi biết đấy là điểm yếu nhất của Trang để thuyết phục em.

Lúc này, khi những tin đồn về việc đi hay ở của em ấy lan tràn trên mạng xã hội, trong ấy, không thiếu cả những lời bình phẩm bất lương, kể cả, từ những người dán nhãn tranh đấu. Tôi vẫn tự hỏi : Quyết định cuối cùng của em là gì giữa đi hay ở khi có cơ hội chọn lựa? Em có hai bà mẹ, một là đất mẹ để dấn thân mình bảo vệ phẩm giá làm người, rồi phải trả giá bằng bản án gần 3.300 ngày tù đầy. Thế nhưng, em cũng có cả một người mẹ sinh thành, dưỡng dục nên em đã ở tuổi gần đất xa trời để thương nhớ, đang khắc khoải trông tin em từng phút, từng giây.

Xã hội đen bạc này đã quá đủ để đòi hỏi điều gì khác ở Trang, vì lẽ, họ không có tư cách xứng đáng để đòi hỏi. Nhưng tôi thì khác, tôi vẫn muốn đòi hỏi em ấy một lần sống như “nhi nữ thường tình”, quanh quẩn trong nếp nhà để tự tay chăm sóc những phút tồn sinh cuối cùng của người mẹ già, bậc anh thư. Tròn chữ hiếu, em vẫn là em, với lý tưởng đeo mang phận nước trên đôi vai gầy guộc.

Nhưng lúc này, việc non nước ngoài kia là việc chung của trăm triệu đồng bào phải cùng nhau gánh vác, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, chứ chẳng phải việc của riêng ai hay của riêng em, Trang ạ, cô gái có đôi mắt như ngơ ngác.

Mong đón em.

Đặng Đình Mạnh

Vài dòng cho Phạm Đoan Trang

Vài dòng cho Phạm Đoan Trang

12:51 | Posted by BVN4

Chiêu Anh Nguyễn

Hôm kia tôi đang ở Lâm Đồng. Buổi tối, đầu tiên là những người thân thiết nhắn tin hỏi “Trang đi Mỹ hả em?”.

Tôi trả lời, không rõ lắm.

Thực lòng sau những đồn đoán và sự kiện gần đây, tôi cũng đã hình dung ra được chuyện tiếp sau của những ngày Biden chuẩn bị qua thăm Việt Nam.

Đến hôm nay thì đã có nhiều tin nhắn hỏi tiếp có phải T. chấp nhận ra đi không?

Tôi vẫn không đủ thời gian để ngủ, đừng nói gì đến Chat, nên thôi tôi sẽ viết luôn một status cho chuyện nghĩ gì nếu T. chấp nhận ra đi.

Mình biết T. từ ngày T. bắt đầu nghỉ khỏi toà soạn báo PL và dấn thân vào con đường đấu tranh chống lại bất công xã hội.

Cô ấy bằng tuổi mình. Ngày sinh của cô cũng rất gần ngày sinh của mình.

Có thể nhiều bạn không quan tâm, nhưng mình thì có, những kẻ có trùng ngày tháng năm sinh, tâm tính có vẻ gì đó sẽ khá gần nhau.

Cô ấy lao ra đấu tranh với toàn vẹn sự sôi sục, lòng can đảm của kẻ luôn muốn mọi thứ phải được công bằng, và cô ấy thẳng tính.

Mà các bạn biết rồi đó, thẳng tính quá, nhiều người ghét.

Cô ấy có một giọng nói nhẹ nhàng, tâm tính cũng dịu dàng. Tay chân cô ấy mềm mại, cô ấy thích chơi đàn và hát hay.

Vậy đó, mà những người được gọi là “Chính quyền” kia đã hạ đòn thù không nương tay lên cô.

Để ép cô phải im miệng, họ cho tung hình cá nhân yêu đương của cô lên mạng.

Vẫn chưa thể làm cô run sợ, họ đánh cô đến gãy chân, bể xương gối. Việc đó khiến cô phải làm phẫu thuật nhiều lần mới có thể chống nạng tập tễnh đi.

Cô ấy đến thăm tôi một buổi sáng, khoác theo chiếc đàn guitar.

Tôi ngồi cạnh, ôm vai cô nên đã nhận ra cô mềm mại và dịu dàng đến mức nào.

Cô nói, em sợ họ đánh em gãy tay không chơi đàn được nữa chị ơi. Chứ em cũng chẳng sợ gì cả.

Tôi vốn hay cười, nên hôm đó tôi nhìn cô cười thật tươi, nắm bàn tay nhỏ nhắn lên, tôi nói “Thượng đế che chở Trang, Trang yên tâm, không thể có chuyện đó đâu mà”.

Sau rất nhiều chuyện lùm xùm quanh việc cô ấy bị bắt tù đày, việc xung quanh cô và bè bạn.

Tôi biết, “họ” đã rất thành công việc chia rẽ tình cảm và lòng tin của những người đấu tranh.

Tôi luôn im lặng trước những scandal về bạn bè đấu tranh, vì tôi hiểu.

Hôm nay cô ấy trở thành một món hàng. Vâng, tôi không nói sai đâu, “món hàng” trao đổi.

Tối qua tôi thức đến 2g sáng vì nghĩ tới bàn tay nhỏ nhắn của Trang.

Bàn tay đó sau nhiều năm tháng tù đày tàn khốc đã có thể cầm lại cây đàn guitar. Chắc sẽ hơi ngượng xíu nhưng sẽ quen nhanh thôi Trang ha.

Tôi viết những dòng này và tôi cũng lại rơi lệ.

Tôi thương những phụ nữ đấu tranh bằng tất cả sự can đảm và hy sinh của họ. Dù họ lỡ có một chút gì bất toàn, nhưng đó không phải là việc mà chúng ta có quyền lấy ra để cân đo nhân cách.

Chúng ta không là thượng đế. Thậm chí chúng ta còn đang hớn hở ngồi uống cafe lướt web để kết tội người khác, trong khi họ đã mất gần như cả tuổi xuân để đấu tranh và trốn chạy cộng sản trong chính quê hương mình.

Trang ơi, Chiêu mừng lắm. Rất mừng nếu Trang thực sự chấp nhận ra đi khỏi đây. Khỏi cái xứ sở đã làm Trang mất mát, đau khổ và tuyệt vọng đến rã rời này. Vậy mà Trang vẫn vì nó mà kiên định đấu tranh đến nỗi thành người tàn tật

Bay đi cánh thiên di yêu dấu, can đảm của nước Việt. Bay đến nơi nhiều tự do và nàng có thể thoả lòng ngồi ôm đàn hát trong yên bình, không lo bị truy sát. Bay đi.

Chiêu và mọi người nơi đây sẽ chờ ngày Trang và các anh em đấu tranh phải ra đi sẽ được quay về, được đoàn tụ cùng nhau nơi chính quê hương mình.

C.A.N.

Nguồn: FB Margaret Chieu 

RÙNG MÌNH

Nghệ Lâm Hồng

Khi biết… Nếu trót lọt phi vụ AVG, bào đệ của tỷ phú Phạm Nhật Vượng là Phạm Nhật Vũ ẵm gọn 7000 tỷ đồng (hơn 300 triệu USD) tiền thuế của dân. Vũ chỉ chi lại cho bộ trưởng Nguyễn Bắc Son 3 triệu USD, Nguyễn Nam Trà và Ceo MobiFone không đầy 3 triệu USD. Riêng bộ trưởng Trương Minh Tuấn chỉ nhận được 200.000 USD của Phạm Nhật Vũ để bán đứng 7000 tỷ quốc khố, nếu chỉ vậy thì… tham không ra tham mà ngu thì giành hết phần ngu của thiên hạ ? Tuy nhiên, Trương Minh Tuấn bò đến chức thượng thư thì làm sao mà ngu được, chỉ là… Phần nổi của tảng băng chìm ? Qua vụ này gợi lên vài suy nghĩ.

Chỉ sau một cái nhấp chuột, bào đệ của Phạm Nhật Vượng ẵm gọn 7000 tỷ tiền thuế của dân, chỉ tốn một số tiền đút lót rất nhỏ, không đầy 6 triệu USD, tức khoảng hơn 120 tỷ VNĐ. Làm giàu kiểu này thì cướp bank hay buôn heroin phải gọi bằng cụ.

@Nguyễn Khan

– Phải chăng bào huynh Phạm Nhật Vũ là Phạm Nhật Vượng và các nhà tư bản kếch xù, đã tay không bắt giặc bằng những phù phép na ná?

– Phải chăng lương của các quan rất thấp nhưng ai cũng giàu có, nhà lầu xe sang, con du học nước ngoài v.v… Là do những thu nhập đen giông giống vụ AVG ?

– Phải chăng các quan lớn nhỏ nào mà mạnh miệng rao giảng đạo đức, soạn cả sách giáo huấn, là để “cả vú lấp miệng em”, để che đậy tội lỗi của mình? Thậm chí thắt chặt tự do ngôn luận, tự do báo chí mà hiến pháp sửa đổi 2013 đã hiến định, đặc biệt còn hạn chế mạng xã hội… là để việc nhận hối lộ của mình không bị nhân dân bóc mẽ?

– Phải chăng cần xem lại luật Bảo vệ bí mật nhà nước, tránh không để tái diễn như vụ AVG, lợi dụng bí mật nhà nước để không cho bất cứ ai biết được tí gì về vụ cấu kết giữa quan chức và bọn tư bản thân hữu để trộm cắp hàng ngàn tỷ ngân sách?

– Phải chăng luật pháp đã buông lỏng những vụ tày đình như vụ bộ trưởng Bộ Công thương ngang nhiên dùng xe công, còn hơn thế, dùng đoàn công xa có công an dẫn đường vào tận cầu thang máy bay để đón rước vợ bộ trưởng như rước một chính khách… đã làm cho các quan chức bộ ngành tha hồ tự tung tự tác, dẫn đến những vụ trộm cắp quốc khố có thể lên đến hàng ngàn tỷ như vụ AVG, làm “ngân sách nhà nước như dòng sông đã cạn” ?

– Hoàn toàn không tin hai ông bộ trưởng không biết vụ AVG đem lại lợi nhuận cho Phạm Nhật Vũ 7000 tỷ, nên chắc chắn hai ông ấy không ngu đến mức chỉ nhận không đầy 1% lợi nhuận ? (Nguyễn Bắc Son nhận 3 triệu USD, Trương Minh Tuấn nhận 200.000 USD, tổng cộng không đầy 1% của hơn 300 triệu USD mà Phạm Nhật Vũ bỏ túi)

– Cần đặt lại vai trò quản trị của chính phủ khi để các bộ trưởng trong nội các thụt két hàng ngàn tỷ quốc khố trước mũi mình, và liệu có chắc là nội các của chính phủ chỉ có một mình bộ TT&TT trộm cắp ?

Thật sự rùng mình khi biết người ta bỏ túi gọn gàng hơn 7000 tỷ tiền thuế của dân, nếu đem so sánh với mức lương công nhân 5 triệu đồng /tháng, thì không rùng mình mới là lạ. Có câu rằng “Nhân dân yên tâm, mọi chuyện đã có nhà nước lo”…như thế này đây, người dân phải sưu cao thuế nặng đến bao giờ mới đủ bù đắp cho các quan trộm cắp hàng ngàn tỷ đồng quốc khố ?

Hình ảnh – Trang bị xe, vũ khí, đồng phục mới cho dân phòng, LL b.vệ tích cực nhất cho bọn quan tham nhũng

Nguyễn Thị Hoàng và Vòng Tay Học Trò

Hoài Nguyễn

Nguyễn Thị Hoàng là một nhà văn, nhà thơ nữ Việt Nam. Bà sinh ngày 11/12/1939 tại Huế. Năm 1957, bà chuyển vào sinh sống ở Nha Trang rồi đến năm 1960 bà vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật nhưng bỏ ngang, không học hết mà lên Đà Lạt dạy học.

Đến năm 1966, bà chuyển sang chuyên tâm viết tiểu thuyết. Cùng với văn xuôi, Nguyễn Thị Hoàng còn tham gia sáng tác thơ và từ đó bà trở thành một người nổi tiếng trong giới văn nghệ chuyên viết về những mâu thuẫn nội tại của giới trẻ Sài Gòn trong suốt thập niên 1960. Nguyễn Thị Hoàng được đánh giá là một trong những nhà văn nữ tài năng thật sự và tên tuổi đã được khẳng định ở miền Nam trước 1975, có sức sáng tác sung mãn nhất, bà viết rất đều tay, văn phong riêng biệt, thắm đẫm cảm xúc. Văn thật như chính cuộc sống của nhà văn… Bà có những tiểu thuyết với giọng văn trau chuốt bóng bẩy và là một trong vài tác giả có sách bán chạy nhất thời đó

Sau 30/4/1975, bà hầu như biến mất khỏi giới nghệ thuật và sống một cuộc sống yên lặng đến tận 1990, khi bà cho ra đời Nhật ký của im lặng. Vào năm 2007, bà lại xuất hiện qua một tùy bút nhan đề “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan” được đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo (số xuân Mậu Tý, 12/2007).

Tác phẩm đầu tay của bà có nhan đề Vòng Tay Học Trò được viết dưới bút danh Hoàng Đông Phương. Đây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần.

Chưa một nhà văn Việt nào được các thế hệ thanh niên say mê và tác phẩm đầu tay đem đến tiếng tăm lẫn sóng gió nhiều như Nguyễn Thị Hoàng. Vòng Tay Học Trò, thập niên 60, đã biểu trưng tâm tình nổi loạn của cả một thế hệ trẻ trong một thời đại bắt đầu làm quen với văn chương ‘‘hiện sinh’’, trong tình yêu và trước xã hội, với khao khát một cách sống độc lập.

Vòng Tay Học Trò là một tiểu thuyết gồm 11 chương, dựa vào những tình tiết có thật giữa cô giáo Tôn Nữ Quỳnh Trâm (Nguyễn Thị Hoàng) và cậu học trò Nguyễn Duy Minh (Mai Tiến Thành). Dĩ nhiên trong tác phẩm này có những đoạn văn được “cường điệu hóa”, những cảnh được “thi vị hóa” và những đối thoại được “tiểu thuyết hóa”. Những chương đầu tiên của Vòng Tay Học Trò được in trên Bách Khoa năm 1964 và sau đó được chính thức xuất bản năm 1966.

Nguyên mẫu của cậu học trò trong “Vòng Tay Học Trò” có nhà ở Ban Mê Thuột và được gia đình gửi sang Đà Lạt để học lớp đệ tam của bậc Trung học Đệ Nhị cấp tại Trường Trung học Trần Hưng Đạo trong khi cô giáo Trâm ( Nguyễn Thị Hoàng ) dạy Đệ Nhất cấp từ năm 1966.

Vòng Tay Học Trò trở thành một trong những best seller khi vừa xuất bản và được dư luận người đọc đương thời chú ý. Nhiều ý kiến phê phán tác phẩm này có nội dung “vô luân” do viết về quan hệ tình cảm giữa một cô giáo trẻ và cậu học trò đệ nhị cấp cùng trường nhưng trên thực tế cô giáo Trâm chỉ dạy đệ nhất cấp còn anh học trò Minh đang học năm cuối lớp Đệ Nhị A (trong Vòng Tay Học Trò, Thành học Đệ Nhất A).

Dưới ngòi bút của Nguyễn Thị Hoàng, cô giáo Trâm được mô tả là đã từng có một cuộc sống rất “hiện sinh” tại Sài Gòn hoa lệ. “Một tuần như có cả bảy ngày chủ nhật. Một năm vui chơi chỉ như một mùa hè. Nàng thấp thoáng khắp nơi, từ những đám phong lưu phá sản bằng ăn chơi đủ điệu cho đến những bọn nhỏ tuổi bất chấp cuộc đời, hối hả sống, vội vàng yêu, hăng hái nhập cuộc mê cuồng theo kẻ lớn”.

Đối với Trâm cũng như Nguyễn Thị Hoàng, tình yêu mà họ cần không phải là thứ tình “hai chiều”, họ chỉ “yêu” tình yêu của họ mà không cần biết đến phía bên kia. Họ là típ phụ nữ thích làm collection về tình yêu. Thế cho nên, những người tình dù có yêu họ thắm thiết nhưng đến một lúc nào đó họ cũng lạnh lùng chia tay để tìm một đối tượng khác cho “bộ sưu tập tình yêu”.

Người phụ nữ thường chưng diện để kẻ khác chiêm ngưỡng, nhất là để thu hút sự chú ý của đàn ông. Ở một loại phụ nữ thứ hai, họ lại quan niệm làm đẹp chỉ để phục vụ cho chính bản thân mình. Cô giáo Trâm thuộc loại thứ hai, cộng thêm với quan niệm yêu chỉ để là giàu cho bộ sưu tập tình cảm của mình. Những người như cô thuộc loại “vị kỷ”. Hóa ra cô giáo Trâm, hay Nguyễn Thị Hoàng, là một típ phụ nữ rất khó để đàn ông chinh phục, trừ khi chính cô ta… bị khuất phục.

Nguyễn Thị Hoàng cho biết :“Truyện mình viết thường là truyện tình bế tắc và đi xuống. Trong đó những vai nữ bao giờ cũng khát khao đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật nữ lang thang bất định, và xa rời với phận sự gia đình. Chất liệu lấy từ những năm bất ổn lênh đênh trong cuộc đời đã qua của mình, đôi khi được ráp nối với những câu chuyện thời sự, cộng với một phần tưởng tượng, phóng tác, vẽ vời… rồi ráp thành chuyện. Không biết bên đàn ông thì sao, chứ cánh đàn bà thường mắc phải cái này là có những nét của nhân vật hoặc chính, hoặc phụ, thế nào cũng hắt bóng cá tính thói quen, đường nét và vóc dáng của tác giả. Riêng về Vòng Tay Học Trò, nếu bảo đó là thực thì cũng không hẳn là thực mà bảo là không thực thì… cũng chẳng phải là thế. Dư luận trộn lẫn tiểu thuyết của mình với đời sống thật. Cũng vì thế mà có những tiếng ác ý lao xao về đời sống của mình. Cho nên chỉ có cách là… phải thản nhiên.

Nhân vật nguyên mẫu Mai Tiến Thành trong Vòng Tay Học Trò sau này đi lính, sau năm 1975 bị cầm tù và sau đó vượt biên. Mai Tiến Thành đã qua đời tại Hoa Kỳ năm 2008…

Hoài Nguyễn.

Tổng thống Biden thăm Việt Nam: ‘Còn duyên may lại còn người…’

Báo Tiếng Dân

DĐ VOA

Đinh Hoàng Thắng

3-9-2023

Sau tám năm gặp lại nhau, nên chăng ông Trọng tặng cụ Biden câu Kiều này “Được rày tái thế tương phùng/ Khát khao đã thỏa tấm lòng bấy lâu…” Bởi lẽ, chuyến thăm của TT Biden không chỉ nâng cấp bang giao mà còn mở ra không gian đa chiều về địa-chính trị tại khu vực Ấn Thái Dương.

Vênh nhau về văn hóa truyền thông

Lần đầu tiên có một Tổng thống Mỹ thăm Hà Nội theo lời mời của Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN). Phải chăng, vì thế mà đã có đến vài lần Tổng thống Mỹ đề cập với cử tri trong nước về chuyến đi lịch sử của ông? Biden công khai trước bàn dân thiên hạ về một nghị trình quan trọng: Việt Nam muốn nâng tầm quan hệ với Mỹ “lên thành một đối tác chủ chốt, cùng với Nga và Trung Quốc.” Chuyện động trời là nội dung điện đàm giữa ông với tổng bí thư (TBT) cũng được tiết lộ. Về phía Việt Nam, ngoài dòng tin ngắn ngủi trích thông cáo Nhà Trắng, cho đến nay truyền thông chưa có tin, bài chính thức về chuyến thăm của Biden. Như một ngoài lẽ thường, tờ “Tuổi trẻ” hôm 31/8 rón rén “giới thiệu nhận định của ông Nguyễn Quốc Cường, nguyên đại sứ Việt Nam ở Mỹ, về ý nghĩa của chuyến thăm chưa có tiền lệ”. Nhưng ông Cường cũng không khẳng định điều gì. Ông chỉ bày tỏ “hy vọng trong chuyến thăm của Biden, lãnh đạo hai nước sẽ có những biện pháp mới để tăng cường và làm sâu sắc hơn mối quan hệ Việt – Mỹ trong nhiều năm tới” (1).

Trong khi đó, truyền thông Việt Nam rầm rộ đưa tin về chuyến thăm làm việc của TBT Nguyễn Phú Trọng tại cửa khẩu Lạng Sơn giáp Trung Quốc. Theo TTXVN, ông Trọng quan tâm đến cửa khẩu này, vì đây là cửa ngõ “phên giậu” của tổ quốc, vùng đất có nhiều địa danh ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc (chống phong kiến phương Bắc). Lạng Sơn là “phên giậu quốc gia” về quốc phòng, an ninh, đồng thời cũng là “phên giậu về kinh tế”, bảo vệ vững chắc thị trường nội địa cũng chính là bảo vệ chủ quyền và an ninh kinh tế. Bài tường thuật trích phát biểu của TBT: “Lạng Sơn cần xác định, phát triển kinh tế cửa khẩu không chỉ để phát triển kinh tế của tỉnh mà quan trọng hơn là góp phần phát triển kinh tế của cả nước…” Dịp này, TBT đã trồng cây lưu niệm tại cửa khẩu quốc tế, có đại sứ Trung Quốc Hùng Ba từ Hà Nội lên cùng tham gia. Ông Trọng nói với ông Hùng Ba: “Việt Nam luôn coi trọng và ưu tiên hàng đầu việc xây dựng, phát triển quan hệ tốt đẹp với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc” (2).

Động thái nói trên của TBT Nguyễn Phú Trọng được giới phân tích cho là vừa nội trị, vừa ngoại giao. Nhưng có lẽ ngoại giao là chính? Chưa rõ, từ nay đến khi chuyên cơ ông Biden đáp xuống Nội Bài, có đoàn cấp cao nào của Trung Quốc sang Hà Nội hay không? Nhớ lại tháng 8/2021, trước khi Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp Phó Tổng thống Harris, đại sứ Hùng Ba đã “chặn” xe ông Chính và Thủ tướng buộc phải tiếp Hùng Ba, thề thốt việc Hà Nội không để nước nào chia rẽ tình hữu nghị “vĩ đại và cảm động Trung – Việt” (3). Rút kinh nghiệm “chuyện lạ mà quen” ấy, với động thái bố trí để đại sứ Hùng Ba lên tận xứ Lạng “trồng cây lưu niệm” cùng TBT Trọng, lần này chắc Bắc kinh không còn lý do để chỉ thị đại sứ xin hội kiến TBT. Nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt trong chuyến thăm TT Biden, đại sứ Cường cho rằng, ông Biden không phải là Tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Việt Nam, nhưng ông là Tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm chính thức theo lời mời của TBT ĐCSVN.

Nhưng điều gì đã san bằng khác biệt?

Tổng thống thứ 46 của Hoa kỳ Joe Biden đã hóa giải những khác biệt trong văn hóa chính trị giữa hai quốc gia bằng nhiều cách. Một trong biện pháp hàng đầu là kiên trì đề xuất các sáng kiến hợp tác kinh tế với Hà Nội. Thỏa thuận với Hà Nội tới đây do chính quyền Biden đề xuất trong thời gian qua xuất phát từ chiến lược của Hoa Kỳ nhằm xây dựng quan hệ đối tác kinh tế và an ninh trong không gian Ấn Thái Dương tự do và rộng mở. FOIP đóng vai trò như bức tường thành chống lại sự ép buộc kinh tế và quân sự của Trung Quốc đối với các nước trong khu vực. Lần này, một phần do Trung Quốc quá đà với “ngoại giao chiến lang” nên Hà Nội cuối cùng đã chấp nhận đề xuất của Mỹ. Hoạt động kinh tế ngày càng tăng cường giữa hai nước hỗ trợ quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng sản xuất và đáp ứng mong muốn của Việt Nam phát triển các công nghệ tiên tiến. Các công ty bán dẫn của Mỹ đã bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ mong đợi này của Hà Nội. Hoa Kỳ hiện là điểm đến hàng đầu cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, quốc gia đã có sự chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua (4).

Phương pháp tiếp theo là nâng cấp mạng lưới quốc phòng và an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Các quan chức cho biết Hà Nội và Washington dự kiến sẽ tăng cường các chuyến thăm của các tàu sân bay Mỹ, có thể sẽ kèm theo các cuộc tập trận hỗn hợp cùng với các thương vụ vũ khí. Trong số những khách hàng mua vũ khí từ Nga, Việt Nam đã công khai bày tỏ mong muốn đa dạng hóa kho vũ khí quân sự của mình. Năm ngoái, Việt Nam đã tổ chức hội chợ quốc phòng quốc tế đầu tiên và các nhà thầu quốc phòng Hoa Kỳ Raytheon và Lockheed Martin đã tài trợ cho hai gian hàng lớn nhất. Tuy không phải là đồng minh hiệp ước, nhưng từ nay, Việt Nam có thể sẽ nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ lên tầm đầu bảng, tức là Washington sẽ được hưởng quy chế “Đối tác chiến lược toàn diện” (CSP). Quy chế này trong những điều kiện thông thường, phải mất nhiều năm quốc gia có quan hệ với Hà Nội mới được nâng lên một tầm vóc mới, với hàng loạt các nhân tố chiến lược. Theo giới quan sát, trong quá trình thúc đẩy các quan hệ này với Mỹ, Hà Nội đã phải cùng lúc tiến hành nhiều bảo đảm với Bắc kinh, những thỏa thuận này không phải là bước đệm cho một liên minh quốc phòng chính thức (5).

Bảo đảm dư địa hành động cho Hà Nội cũng quan trọng không kém. Vấn đề không phải là Việt Nam bị động đến với Mỹ. Vấn đề là “cây tre Việt Nam” cần giữ được thăng bằng giữa hai cường quốc Trung Quốc và Hoa Kỳ để có thể duy trì quyền tự chủ của riêng mình. Có chung đường biên giới với Trung Quốc, từ lâu Hà Nội đã phản đối các yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở Biển Đông. Cảnh sát biển Trung Quốc liên tục quấy rối các hoạt động khoan dầu khí của Việt Nam và thường xuyên tấn công các tàu cá của ngư dân Việt. Chỗ riêng tư, Việt Nam đã bày tỏ với Hoa Kỳ về sự quan tâm đến việc tăng cường hợp tác về công nghệ và giám sát hàng hải. Với mối quan hệ sẽ được nâng cấp lên tầm chiến lược, tất cả những điều này sẽ được đặt lên bàn đàm phán với một trường hấp dẫn đặc biệt. Theo giới phân tích, Hà Nội vẫn thận trọng không muốn làm mất lòng Bắc Kinh, nước đang không ngừng hiện đại hóa quân đội. Nhưng mặt khác, Hà Nội hiểu được sự nguy hiểm của dàn vũ khí Nga trong kho hiện nay đã trở nên kém hiệu quả sau các chiến dịch của Putin ở Ukraine (6).

*

“Còn duyên nay (may?) lại còn người/ Còn vầng trăng cũ (bạc?) còn lời nguyền xưa”. Mượn tứ thơ này từ “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu đứt ruột) hơn 200 năm tuổi để kết thúc khúc nguyện cầu cho bang giao đầy duyên nợ Việt – Mỹ. Những ngày tới đây, sau phút trùng phùng là chương trình nghị sự bận rộn. Sự hợp tác song phương trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền và tôn giao vẫn còn đó… Nhắc lại lời tâm giao của Phó Tổng thống Biden trong buổi tiễn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trước khi rời Washington cách đây tám năm. “Trời còn để có hôm nay” cho Việt Nam, cho khu vực và cho cả thế giới vừa thoát khỏi một đại dịch kinh hoàng mà tại đó hơn 43 ngàn vong linh người Việt đã giã từ cuộc đời tuy chưa phong lưu nhưng vẫn đáng sống. Gánh nặng của mối bang giang đang vẫy gọi những thế hệ có trách nhiệm ở mỗi nước hãy làm nhiều hơn nữa, hãy hành động khẩn trương hơn nữa, cho tương lai của người dân Hoa Kỳ và tương lai người dân Việt Nam. Lịch sử không bao giờ quên và sẽ vinh danh các thế hệ đi trước đã miệt mài vất vả, làm những phiến đá lót đường cho mối bang giao mới, từ hôm nay và ngay bây giờ!

_________

Chú thích:

(1) https://tuoitre.vn/tong-thong-my-joe-biden-den-viet-nam-chuyen-tham-chua-co-tien-le-20230831075622361.htm

(2) https://banqlktck.langson.gov.vn/vi/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tham-cua-khau-quoc-te-huu-nghi

(3) https://www.rfa.org/vietnamese/news/comment/blog/old-story-on-the-occasion-of-harris-trip-08252021105746.html

(4) https://www.voatiengviet.com/a/su-chu-dong-cua-tong-thong-biden-se-thanh-tuu-/7222284.html

(5) https://www.rfi.fr/vi/vi%E1%BB%87t-nam/20230406-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-ph%C3%B2ng-vi%E1%BB%87t-m%E1%BB%B9-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-h%C3%A0n-qu%E1%BB%91c

(6) https://www.washingtonpost.com/national-security/2023/09/01/vietnam-biden-partnership-china/

Cúng cô hồn và “cô hồn sống” Rằm tháng Bảy

Báo Tiếng Dân

Lâm Bình Duy Nhiên

2-9-2023

Cúng cô hồn được cho là một nghi thức lâu đời, gắn liền với văn hoá thờ cúng của người Việt.

Lâu đời nhưng cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Người Việt vốn dĩ chịu nhiều ảnh hưởng bởi văn hoá Trung Hoa nên cũng không lạ khi chia sẻ nhiều nghi lễ, nghi thức thờ cúng như họ.

Trên phương diện tâm linh, cúng cô hồn còn có ý nghĩa an ủi một phần cho những linh hồn khốn khổ của những người chết oan, sống lang thang không nơi nương tựa, không người thờ phụng. Đó là thời khắc những oan hồn cũng được thờ cúng, hưởng hương hoa bởi người tại trần gian. Bên cạnh đó, người ta cũng mong xua đi vận hạn, gạt bỏ những xui xẻo, điềm gở để mang về bình an cho bản thân và gia đình người cúng.

Cúng cô hồn thường diễn ra nhiều lần trong năm vào các ngày mùng 2 và 16 âm lịch mỗi tháng và ngày rằm tháng 7 hằng năm. Tháng bảy âm lịch là tháng cúng cô hồn, là thế.

Theo ký ức, thời đói khổ của những năm đầu 1980, tại Sài Gòn, cúng cô hồn nhiều nhưng đơn sơ và giản dị. Nhiều gia đình chú trọng phần nghi lễ. Đồ cúng không nhiều. Giấy áo, giấy tiền vàng mã, ít tiền, hoa tươi, xôi chè, thế là đủ. Gia chủ còn đọc bài văn khấn cúng lễ cô hồn một cách chỉnh chu và nghiêm túc.

Tất cả khác xa với mâm cúng cô hồn ngày nay. Thịnh soạn, linh đình, tiền thật, thậm chí cả tiền đô. Bánh trái, hoa quả đắt tiền. Heo, gà quay cả nguyên con. Nước uống, rượu bia cũng được đem cúng. Gia chủ xem đó là một dịp, không chỉ để chia sẻ với những oan hồn vất vưởng đâu đó, mà họ còn muốn “chia sẻ” với cả những “cô hồn sống” đang chực chờ, la hò, gào hét, chỉ đợi gia chủ cúng xong, là lao vào giựt đồ cúng.

Thậm chí, chưa cúng xong đã bị giành giật, thậm chí cướp luôn trên tay gia chủ!

Họ, những gia chủ giàu có, lắm tiền, xem mâm cúng cô hồn như dịp để phô trương sự giàu có hơn người của họ, của xã hội!

Cúng cô hồn gắn liền với giựt cô hồn. Thời buổi khó khăn, trước Đổi Mới, cả xã hội ăn bo bo trộn cơm thì cúng cũng chẳng có gì để giựt. Mà “cô hồn sống” thời đó có lẽ cũng còn chút lòng tự trọng, không lao vào đấm đá, chửi bới nhau để tranh đồ cúng như ngày nay. Chủ yếu là bọn con nít, ngây thơ, nô đùa, lượm vài cái bánh hay viên kẹo cho vui.

Cái tệ của một nghi thức gọi là nhân văn là cái cảnh “cô hồn sống”, không chỉ trẻ con, thanh niên mà cả người lớn, cũng kéo nhau đi săn cúng cô hồn mùa Rằm tháng Bảy. La hét, đập cửa rầm rầm, đòi gia chủ mở cửa để giựt cô hồn. Nhìn vô số những hình ảnh của những ánh mắt cứ như thể đang thèm khát, chết đói đến nơi của những kẻ đi giựt cô hồn, mới giật mình cảm thấy chua cay và đớn đau cho một xã hội đang dần dần lụn bại bởi những hủ tục bệnh hoạn. Có thể người ta không đói những ngày khác, nhưng cứ dịp cúng thì họ trở thành cô hồn, giành giật đồ cúng, như một trò chơi vô thức.

Có những băng nhóm chuyên đi săn lùng giựt cô hồn. Họ sắm sửa “đồ nghề”, vật dụng một cách chuyên nghiệp để cướp đồ cúng càng nhiều càng tốt, cho thoả lòng tham lam của họ.

Nghe những tiếng gào thét rợn người, những tiếng cười khoái chí hay chửi thề thô tục, thậm chí tranh giành hỗn loạn, đánh nhau, chỉ vì mâm cúng cô hồn, mới thấy nghi lễ văn hoá không còn nữa. Thay vào đó là một tệ nạn đang làm mất đi lòng tự trọng, nhân cách của con người trong một xã hội.

Chính quyền địa phương đã làm gì để ngăn cản, khuyến cáo người dân không tham gia vào những tệ nạn trên? Chắc chắn cũng chỉ cho có lệ. Họ cũng nhắm mắt, bỏ qua, thậm chí quan sát một cách có toàn tính. Mặc kệ, một đám đông cô hồn sống giành giật mâm cúng vẫn còn hơn một đám đông xuống đường đấu tranh đòi hỏi công bằng cho xã hội.

Thay đổi nhận thức của một đám đông, của một xã hội không giản đơn. Nhất là trong bối cảnh tù túng và mất tự do. Con người bị định hướng bởi những mưu cầu không gây phiền nhiễu và lo lắng cho bộ máy quyền lực chính trị. Đó mới là mấu chốt cho sự tồn tại của chế độ.

Đôi khi, họ cố tình để cho những tệ nạn ấy tồn tại như tạo một hình ảnh xấu, một hiệu ứng tồi đối với một bộ phận dân chúng hay vùng miền mà họ ngấm ngầm chê bai, ngược đãi.

Nhưng sớm muộn, một xã hội nhân bản và văn minh, dứt khoát không thể để tồn tại những hủ tục như nạn giựt cô hồn, vốn vẫn diễn ra hàng năm khắp nơi vào Rằm tháng Bảy.

Cái gì không hay, không đẹp nên mạnh tay cho nó vào dĩ vãng. Thuần phong mỹ tục của một xã hội mới không thể duy trì sự tồn tại của những “cô hồn sống” Rằm tháng bảy!