NGÀY TANG YÊN BÁI – Đằng Phương

NGÀY TANG YÊN BÁI

(Kính tặng hương hồn những liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái)

*Đằng Phương

-Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm.

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt.

Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt!

Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than.

Từ lưng trời, sương trắng rủ màn tang.

Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ

Trên Yên Báy âu sầu và lặng lẽ,

Giữa mấy hàng gươm súng toả hào quang,

Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang

Thong thả tiến đến trước đài Danh Dự:

Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ,

Vài cụ già đầu bạc lệ tràn rơi

Ngất người sau tiếng rú: Ối con ơi!

Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn

Trên khoé mắt đã từng khinh đau đớn

Của những trang anh kiệt sắp lìa đời,

Nhưng chỉ trong giây phút vẻ tươi cười

Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước.

Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,

Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường,

Éo le thay! muốn phụng sự quê hương

Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến.

Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến.

Sau cái nhìn chào non nước bi ai,

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng.

“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng,

“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc,

Sau Đức Chính, đây là phiên Thái Học,

Anh nghiêng mình trước xác những anh em,

Rồi mĩm cười, Anh ngảnh mặt nhìn xem

Những kẻ đến quan chiêm đoàn liệt sĩ

Để từ biệt những bạn đồng tâm chí.

Tiếng tung hô bổng nổi, vang trời cao,

Nhưng liền theo Anh đã bị xô vào

Chiếc gươm máy giăng tay chào, lặng lẽ.

Đao xuống, đầu rơi, máu đào tung toé.

Người anh hùng nước Việt thôi còn đâu!

Lũ thực dân giám sát đứng nhìn nhau

Như trút sạch hết những đìều lo ngại

Và xoa tay chúng thở dài khoan khoái,

Trong rừng người ứa lệ, Nguyễn Thị Giang

Nén nỗi đau như cắt xé can tràng

Đứng ngơ ngác lặng người bên Hữu Cảnh.

Trong nắng sớm, gió căm hờn quát mạnh

Như thề cùng những tử sĩ anh linh

Vang dội cùng trên đất Việt điêu linh

Những tiếng thét uy hùng vì giống Việt.

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Như tan trong gió mạnh khóc vang rầm

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Cố lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Thân anh hùng đã nát dưới ngàn cây

Nhưng tiếng hô còn phảng phất đâu đây,

Mười lăm năm sau ngày sầu Yên Báy,

Toàn thể giống Tiên Rồng cùng đứng dậy,

Cố đuổi loài tham bạo khỏi non sông,

Hơn hai năm đất Việt máu pha hồng

Mà chiến sĩ vẫn một lòng cương quyết

Thề tranh đấu đến khi nào nước Việt

Được hoàn toàn độc lập mới ngừng tay.

Thế là dòng máu vọt dưới trời mây

Một buổi sáng mười lăm năm về trước

Đã vẽ được cảnh anh hùng nguyện ước.

Đưa non sông ra khỏi chốn u trầm

Cả toàn dân nước Việt đến muôn năm

Vẫn ghi tạc trong tâm ngày hôm ấy,

Ngày hôm ấy, ôi! ngày tang Yên Báy!

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Xé nát màn sương lạnh phủ âm thầm,

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Đã lay tỉnh cả toàn dân nước Việt!


Lịch Sử đã được viết như thế!

Báo Tiếng Dân

Nguyệt Quỳnh

9-9-2023

“Chúng tôi biết ước mơ của họ:

đủ để biết họ đã mơ và đã chết …”

Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng giành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.

Irish Republic Proclaimed (1949) - YouTube

Người Việt Nam chúng ta cũng có một bài thơ sống động mà có vẻ như ngôn ngữ của thi ca không thể nào diễn tả hết nét đẹp. Đó là những tứ thơ diễm lệ, đẫm đầy tình yêu và sự hào hùng của những người trẻ – những thủ lĩnh Việt Nam Quốc Dân Đảng – trong chuyến xe ra pháp trường Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Tôi nhớ mài mại câu nói của một diễn giả nổi tiếng người Anh. Ông bảo rằng, tất cả chúng ta đều là những nghệ sĩ của cuộc sống và của chính cuộc đời mình. Mỗi chúng ta có cơ hội để được mời và mời nhau cùng tạo nên cuộc sống này.

Lịch sử chúng ta là tranh đấu sử. Mỗi chặng đời chúng ta đã cùng mời nhau đi chung một chuyến tàu “thác gềnh” của đất nước mình. Tôi tiếc thương da diết tinh thần và cung cách sống ấy: Sống có trách nhiệm với chính mình, với nhau, và với xã hội. Đau xót thay! Chưa đầy một trăm năm trong cái lò luyện của Xã Hội Chủ Nghĩa, nếp văn hoá quý giá này dường như đã mai một.

Tôi sẽ lăp lại 13 cái tên của các chí sĩ Yên Bái, những người đã cùng nhau tạo nên một áng văn chương tuyệt tác trong ngày 17 tháng 6, nay còn gọi là “Ngày Tang Yên Bái”. Nhưng, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ Văn Lạo, Phó Đức Chính hay Mac Donagh, Connolly, Mac Bride, Pearse trong “Lễ Phục Sinh 1916” không còn đơn thuần là cái tên nữa. Khi ta nhắc đến họ, ta nhắc đến ngọn lửa.

Lịch sử Ireland đã được thắp sáng bằng ngọn lửa ấy, ngọn lửa của thủ lĩnh Patrick Pearse trong đêm lễ phục sinh 1916: “Bạn không thể chinh phục Ireland; bạn không thể dập tắt niềm đam mê tự do của người Ireland. Nếu hành động của chúng ta không đủ để giành được tự do, thì con cái chúng ta sẽ giành được nó bằng một hành động tốt hơn”.

Cả Pearse, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đều biết cái giá phải trả cho tự do. Cái chết chỉ là một điều phải đối mặt khi chọn lựa hành trình gian nan ấy, và họ kiên định với chọn lựa của mình ngay đến phút cuối cùng của cuộc đời. Tại pháp trường Yên Bái, thái độ của các chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã khẳng định với người Pháp rằng cuộc chiến của họ vẫn đang tiếp diễn.

Nguyễn Thái Học (1902 – 1930) - Khởi Nghĩa Yên Bái (1930) - Hình Ảnh ...

Hãy nói về đảng trưởng Nguyễn Thái Học trước ngày ông bị giải ra pháp trường. Tôi chắc những đồng chí của ông sẽ không bao giờ quên được lời dặn dò đêm ấy. Trong nhà ngục, ông đã nói to lời từ biệt với các chiến hữu của mình:

“Chúng tôi đi trả nợ nước đây, các anh em còn sống cứ người nào việc ấy, cờ độc lập phải nhuộm bằng máu, hoa tự do phải tưới bằng máu, Tổ Quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều hơn nữa! Rồi thế nào cách mạng cũng thành công”.

Trở lại với chuyến xe ngày 17 tháng 6 năm 1930. Sáng hôm ấy, có một chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt, khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái. Chuyến xe chở theo 13 chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Họ là những người có tên sau: Bùi Tử Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hồ Văn Lạo, Đào Văn Nhít, Nguyễn Văn Du, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Đỗ Văn Tứ, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Học. Ba tháng trước đó, thực dân Pháp cũng đã hành hình bốn đồng chí của họ ở pháp trường Yên Bái.

Các tử tù cứ hai người bị còng làm một, ngồi trò chuyện với nhau ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Họ là những trang tuấn kiệt nước Việt. Qua cuộc trò chuyện, chúng ta thấy họ luôn giữ vững tinh thần cho nhau. Điều họ không ngờ là cũng chính thái độ đó đã giữ vững tinh thần cho hàng bao thế hệ thanh niên Việt Nam sau này.

Phó Đức Chính nói đùa với anh em: Chúng ta đến ga Yên Bái, chắc chắn sẽ được các đồng chí Lương, Tiệp, Thuyết, Hoằng, ra đón rước nồng hậu.

Bốn đồng chí vừa được Phó Đức Chính nhắc tên là những chí sĩ đã bị xử tử vào ngày 8-3-1930, cũng tại Yên Bái.

Cùng đi trong chuyến xe còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Cả hai đã được gởi theo để làm lễ rửa tội cho các tội nhân trước giờ bị hành quyết.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học ngồi trò chuyện với linh mục Dronet. Để khẳng định về quyết tâm của mình và các đồng chí trước vị linh mục người Pháp, ông khẳng khái ngâm mấy câu thơ bằng tiếng Tây. Những câu thơ này được dịch ra như sau:

Chết cho tổ quốc

Đó là số phận đẹp đẽ nhất

Cũng là số phận cao cả ước ao nhất.

Người Pháp cho máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết hôm đó tên là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17-6-1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ.

Khi bước lên máy chém, từng người một, cả 13 người đã lần lượt hô to: “Việt Nam Muôn Năm”.

Đến lượt Phó Đức Chính, anh yêu cầu đao phủ cho mình nằm ngửa để nhìn xem lưỡi của máy chém xuống như thế nào.

Xác 13 người anh hùng được chôn chung dưới chân đồi cao. Bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số. Thực dân đã cho lính canh gác mộ phần của họ một thời gian sau đó. Đảm lược của các đảng viên VNQDĐ còn được nhìn thấy qua một nữ đồng chí, cô Giang, người đã có mặt ở đó từ sáng sớm. Cô đến từ xa, đứng lẫn trong đám đông dân chúng. Cô đến để âm thầm đưa tiễn các đồng chí cùng vị hôn phu của mình.

Những người trẻ Việt Nam ngày ấy đã viết lịch sử như thế, như thể một bài thơ. Pháp trường, đao phủ, máy chém, … tất cả bỗng trở thành mờ nhạt. Chỉ riêng họ, chỉ hình bóng họ là sống mãi. Họ chính là những vần thơ, là lời khẳng định mạnh mẽ nhất trước quân thù về một dân tộc mà thực dân đang muốn thống trị!

Vâng, chúng tôi biết ước mơ của họ – đủ để biết họ đã mơ, đã sống và đã chết như thế! Chúng tôi còn biết rằng mình là một phần của cái tuyệt vời, của cái đẹp ấy; đủ để những thế hệ Việt Nam soi rọi lại chính mình, xem chúng ta có luôn sống xứng đáng? Sống với nhân cách của một con người đang đứng trên vai của những người khổng lồ.

_________

Chú thích:

* Viết theo tài liệu của tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”.

* Bài đăng tại trang Chuyện Kể cho K&T


 

Việt Nam nếu có nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ cũng không để ‘thoát Trung’?

BBC

8 tháng 9 2023

Trước việc Mỹ và Việt Nam có khả năng nâng cấp quan hệ ngoại giao khi Tổng thống Joe Biden thăm Hà Nội, Trung Quốc lại tiếp tục kêu gọi Việt Nam “củng cố niềm tin chính trị”.

Hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Quốc đưa tin, Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Kiến Siêu đã gặp TBT Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ngay trước chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden đến Hà Nội.

Hai quốc gia cộng sản cho biết đã nhất trí củng cố niềm tin chính trị lẫn nhau và tăng cường hợp tác nhằm giải quyết các thách thức. Theo Reuters, ông Biden sẽ đến Việt Nam vào Chủ nhật 10/9 để nâng cấp quan hệ song phương, động tác được một số nhà bình luận coi là đưa Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của nước láng giềng châu Á hùng mạnh, Trung Quốc.

TQ vừa kêu gọi VN ‘giữ vững lý tưởng cộng sản’

Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao nếu Việt – Mỹ nâng cấp đối tác chiến lược?

Hà Nội thận trọng xoa dịu Bắc Kinh trước khi đón ông Biden?

Tuy thế, nhận xét với BBC ngày 6/9, ông Vũ Xuân Khang, Nghiên cứu sinh Tiến sĩ ngành An ninh quốc tế tại Đại học Boston (Boston College) cho rằng Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ không phải là một nỗ lực thoát Trung vì Việt Nam vẫn cố gắng giữ quan hệ hòa hảo với Trung Quốc.

Ông Khang nói Việt Nam vẫn ưu tiên các cuộc gặp cấp cao với Trung Quốc trước khi có các cuộc gặp tương tự với Mỹ, ví như chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 11/2022, hay chuyến công du của Thủ Tướng Phạm Minh Chính đến Bắc Kinh vào tháng 6 khi tàu sân bay Ronald Reagan đang ghé Đà Nẵng.

“Thoát Trung chỉ đúng khi Việt Nam không còn giữ thế trung lập và ngả về một phe chống Trung Quốc như Hà Nội đã làm vào năm 1978 khi Việt Nam chính thức liên minh với Liên Xô,” ông Khang nói.

Sự dịch chuyển đường lối ngoại giao của Hà Nội

Trong bài phân tích về Việt Nam trong quan hệ Trung-Mỹ, tiến sĩ Bích Trần của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) viết rằng, sau sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam nằm trong số năm quốc gia vẫn duy trì độ cộng sản còn lại trên thế giới. Đối với Việt Nam hay Trung Quốc, sự tồn vong của chế độ đi liền với lợi ích an ninh quốc gia và thời điểm này, Hà Nội coi Bắc Kinh là đồng minh, cùng bảo vệ “chủ nghĩa xã hội”.

Ngược lại, Việt Nam từng coi Mỹ là kẻ thù không đội trời chung, dẫn đầu các lực lượng đế quốc nhằm lật đổ các chế độ cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam ngày càng gặp khó khăn trong việc dung hòa quan điểm này với môi trường chiến lược đang thay đổi vào cuối những năm 1990, theo TS Bích.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng và năm 1996, Việt Nam lần đầu tiên tuyên bố “đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa” để phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia vào đời sống cộng đồng quốc tế.

Đến năm 2003, ĐCSVN đã đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hình hình mới”, áp dụng một khái niệm mới được gọi là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” và chiến lược này đã được quán triệt trong mười năm kế tiếp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ phải xác định rõ “đối tượng” và “đối tác” để đưa ra hành động tối ưu hơn đối với từng quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Mỹ.

Bước ngoặt quan hệ Mỹ – Việt sẽ dẫn tới điều gì?

Biden ‘sắp ký thỏa thuận đối tác chiến lược với Việt Nam trong nỗ lực chống lại Trung Quốc’

Quan hệ Việt-Mỹ có cơ hội vượt cấp lên ngang tầm Trung Quốc?

Theo Giáo sư Carl Thayer, các cuộc tranh luận nội bộ của Việt Nam hiện chủ yếu tập trung vào cách duy trì quyền tự do hành động của mình trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, thông qua những điều chỉnh chiến thuật trong chính sách một cách tài tình, thay vì liên kết với một bên chống lại bên kia.

Giáo sư người Úc này nhấn mạnh, điều đang thay đổi trong tư duy chiến lược của Việt Nam là làm thế nào để điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình trước sự phân cực ngày càng gay gắt của hệ thống quốc tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm lại.

Nga hiện đang suy yếu, bị cô lập và phụ thuộc vào Trung Quốc vì xâm lược Ukraine. Ấn Độ chuyển hướng siết chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ để đối phó Trung Quốc. Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản cùng tập trận phòng thủ tên lửa chung ở vùng biển quốc tế phía Đông bán đảo Triều Tiên.

Giống như các quốc gia Đông Nam Á khác, Hà Nội không muốn chọn bên mà là tiếp tục duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Trung Quốc và Mỹ để hưởng lợi từ cả hai. Việt Nam đã đứng trên nhiều ‘chân kiềng’ quan hệ khác, không chỉ với Mỹ, Trung Quốc, Nga mà còn với Liên minh Châu Âu (EU). Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU vào tháng 6 năm 2019.

Sách Trắng Quốc phòng Việt nam 2019 tuyên bố nước này theo đuổi chính sách Bốn Không: không tham gia liên minh quân sự; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia. không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh “Bốn Không” nêu trên, Việt Nam còn có chính sách “Một tùy”: tức tùy thuộc tình hình, Việt Nam có thể xem đẩy mạnh hợp tác mạnh mẽ hơn.

Nếu trước đây, Việt Nam được coi là cẩn trọng trong việc nâng cấp quan hệ với Mỹ thì cuộc điện đàm của Tổng thống Joe Biden với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát đi tín hiệu tích cực song phương “thúc đẩy, phát triển, làm sâu sắc hơn quan hệ”.

Chuyến thăm vào Chủ nhật 10/9 này của người đứng đầu Nhà Trắng đến Hà Nội cho thấy hai nước cựu thù sẽ nâng cấp quan hệ, thậm chí có khả năng từ mức đối tác toàn diện hiện có lên mức cao nhất, ngang hàng Trung Quốc – là đối tác chiến lược toàn diện.

Tuy nhiên, việc Hà Nội “nhảy cóc” quan hệ với Mỹ, nếu xảy ra, được đánh giá là bước đi khá bất ngờ về mặt ngoại giao của Việt Nam kể từ sau Đổi Mới 1986. Theo tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, Việt Nam vốn thận trọng và hạn chế những chuyển biến quá đột ngột có khả năng gây ảnh hưởng đến mối quan hệ của Việt Nam với các nước xung quanh, đặc biệt là Trung Quốc.

Ông Vũ Xuân Khang nói với BBC rằng, nếu Việt Nam có thể thuyết phục lãnh đạo Bắc Kinh rằng họ không có ý định chống Trung Quốc bằng cách nâng cấp quan hệ với Mỹ, Trung Quốc sẽ không trừng phạt Việt Nam.

“Ngược lại, nếu Việt Nam thất bại trong việc duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không ngần ngại có các đòn trả đũa. Vào tháng 4 2022, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Vương Nghị đã nói thẳng với Việt Nam rằng, nên tránh một thảm kịch Ukraine lại xảy ra. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc là vũ khí răn đe Việt Nam hiệu quả nhất,” ông Khang nhận định.

Trung Quốc muốn Việt Nam ở trong quỹ đạo của mình

Hồi tháng 8, nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc, ông Vương Nghị, đã trực tiếp kêu gọi Việt Nam chia sẻ hệ tư tưởng với Bắc Kinh khi ông thúc giục Hà Nội chuẩn bị cho một hội nghị thượng đỉnh và chống lại ‘sự can thiệp’ của các thế lực bên ngoài, theo SCMP.

Là láng giềng với cùng hệ tư tưởng, ông Vương Nghị nói với Phó Thủ tướng Việt Nam Trần Lưu Quang rằng “hai bên nên chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của mối quan hệ ở tầm cao mới”.

Trung Quốc đưa tin rằng ông Quang tái khẳng định ‘tầm quan trọng không thể so sánh được và tính chất đặc biệt’ của Trung Quốc với Việt Nam, và mối quan hệ giữa hai bên ‘luôn luôn là ưu tiên hàng đầu’ của Hà Nội.

Việt Nam nâng cấp quan hệ với Trung Quốc lên đối tác chiến lược toàn diện từ năm 2008. Tới năm 2013, Mỹ mới thành đối tác toàn diện (mức thấp nhất) với Hà Nội.

Một số nguồn tin dự đoán rằng, Việt Nam sẽ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng vào tháng 9 này, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Điều này cho thấy Việt Nam vẫn luôn coi trọng và duy trì mối quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Mỹ, khéo léo vận dụng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Theo nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Xuân Khang, Việt Nam là nước nối giữa Trung Quốc và Đông Nam Á ở cả trên bộ lẫn trên biển, do đó Trung Quốc mong muốn Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc hoặc ít nhất là Việt Nam giữ thái độ trung lập để bảo đảm giao thương với phía Nam.

“Quan trọng hơn, một Việt Nam trung lập sẽ tránh cho Trung Quốc bị bao vây bởi một cường quốc khác như trong giai đoạn 1970 hay 1980 bởi Liên Xô. Trung Quốc càng không muốn chiến tranh xảy ra trên lãnh thổ của họ, nên việc phòng thủ từ xa thông qua việc giữ các nước lân cận trung lập là điều kiện tiên quyết,” ông Khang đúc kết.

Một biện pháp để Trung Quốc giữ Việt Nam nằm trong quỹ đạo của mình, theo ông Khang, là sử dụng vũ lực về mặt chính trị để ép Việt Nam không được tiến quá gần với Mỹ nếu không Trung Quốc sẽ có các biện pháp trừng phạt.

Cách tiếp cận này được gọi là “bất chiến tự nhiên thành”, giúp Trung Quốc vừa đạt được mục tiêu là Việt Nam tiếp tục giữ vị thế trung lập nhưng Trung Quốc không phải sử dụng quân đội. Bởi lẽ, Việt Nam hiểu rõ hậu quả của các đòn trừng phạt của Trung Quốc trong giai đoạn 1980 để không chọc giận Bắc Kinh.

Trong giai đoạn sau chiến tranh Việt Nam cho đến hết Chiến tranh Lạnh, Việt Nam được cho là ngả hẳn về Liên Xô trong tranh chấp Xô – Trung, để đổi lấy sự bảo trợ cả về kinh tế và quân sự của Liên Xô, chống lại sự thù địch của Trung Quốc.

Theo nghiên cứu sinh Vũ Xuân Khang, đây là nỗ lực “thoát Trung” của ĐCSVN và sau đó, Việt Nam bị Trung Quốc trả đũa vào năm 1979 cùng một thập kỷ chịu sự trừng phạt kinh tế, chính trị, quân sự của Trung Quốc trong giai đoạn 1980.

Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông và động thái của Thủ tướng Chính

Quan hệ Mỹ-Việt nâng cấp và vị thế của TBT Nguyễn Phú Trọng

Ông Khang nói thêm, Việt Nam thoát Trung thất bại không phải là vì Việt Nam không cố gắng thoát Trung mà bởi vì đơn giản là Trung Quốc quá mạnh so với Việt Nam. Theo ông, không có một cường quốc nào khác có thể giúp Việt Nam thoát Trung trong lâu dài, khi Trung Quốc với tiềm lực quân sự và kinh tế của một đại cường có đủ khả năng đánh bật cường quốc đó khỏi Việt Nam.

“Hội nghị Thành Đô là một cơ hội mà Trung Quốc cho Việt Nam sửa sai sau khi Hà Nội đã ngả về phe Liên Xô chống Trung Quốc. Kể từ sau hội nghị Thành Đô năm 1990, Việt Nam đã chính thức lựa chọn đường lối đối ngoại trung lập để tránh làm Bắc Kinh phật ý.”

Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Đến năm 2000, hai nước đã giải quyết những tranh cấp về biên giới trên đất liền và trên biển ở vùng Vịnh Bắc Bộ.

Kể từ năm 2004, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Hiện Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới.

Vì thế, theo ông Vũ Xuân Khang, Trung Quốc mong muốn Việt Nam có thể duy trì ổn định chính trị nhằm bảo đảm an ninh biên giới phía Nam của họ, trong khi Việt Nam ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, miễn là Bắc Kinh không có các hành động thái quá làm tổn hại an ninh quốc gia và đẩy Việt Nam vào thế phải chống trả.


 

TIỀN KHÔNG LÀM NÊN VĂN HÓA

Kim Dao Lam

Fb Trần Kim Cường

Mình được cha mẹ & thầy cô xưa dạy rằng: Đạo đức là cái nền làm nên Văn hóa, không phải tiền. Đạo đức là điều kiện cần để đi tới có Văn hóa.

Vì thế, cần xem lại (nền) Giáo dục thế nào mà để Đạo đức suy đồi, dẫn đến Văn hóa “kém”, thậm chí “vô văn hóa”.

Cá nhân mình cho rằng, nền “giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa” sẽ tạo ra những “con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa” đậm đà “đạo đức Cách (cái) Mạng”. Rồi từ cái nền Kách cái Mệnh đó sẽ sản sinh ra một thứ tạm gọi là “Văn hóa Cộng sản”, “văn hóa Mác-xít, Lênin-nít”, thậm chí “văn hóa Mao-ít” thừa tính “chuyên chính bạo lực” mà không phải “văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc” đùm bọc chan hòa vốn có từ xưa của ông bà mình.

Nếu thấy Văn hóa hiện nay “xuống cấp”, “hủ bại”, “tệ hại”, v.v, hãy xét lại cái gốc là cách thức/phương pháp/nội dung của Giáo Dục xem nó sai chỗ nào, “phản động” ra sao, gây hậu quả nghiêm trọng đến nền tảng Đạo đức thế nào…để mà sửa, thậm chí triệt để hơn, loại bỏ và thay mới hoàn toàn.

Có thế mới may ra cứu vãn được đà trôi tuột không phanh của cả Đạo đức & Văn hóa.

Cái chính không phải là Tiền! Cái chính là Giáo Dục. Mà để Giáo Dục thành công cần môi trường giáo dục phải thật sự Tự Do, Khai phóng. Mà muốn có Tự do học thuật, hành xử nhân bản, thượng tôn phẩm giá và lương tri thì lại phải cần có một Thể chế Chính trị khoan dung chấp nhận khác biệt tư tưởng, một thể chế thúc đẩy mạnh mẽ các giá trị nói trên phát triển.

Đó (thể chế chính trị) chính là cái Việt Nam hôm nay không có và rất cần, không phải 350.000 tỷ đồng (Hồ)!

(Tèo Ngu Khìn)

CUỐN TẬP NGÀY XƯA CÓ HÌNH BÌA MÀ TÔI RẤT THÍCH…!

Truc Dinh

(Đinh Trực)

Có những kỷ niệm ngày xưa khi đi học, tuy thật đơn giản nhưng thấm đậm biết bao kỷ niệm mà ngày nay và cả mãi sau này sẽ không bao giờ tìm lại được…! Chỉ quay ngược bánh xe thời gian trở về tuổi thơ thật đẹp, thật hồn nhiên mà luyến tiếc…!

Cuốn tập hình bìa Xích lô máy này đã xưa lắm rồi…! Tôi không còn nhớ rõ khoảng thời gian mà tôi sử dụng nó, chắc cũng vào khoảng những năm 1960-1970. Đây là cuốn tập chỉ có những đứa học sinh con nhà “khá giả” mới được xài, bởi loại giấy trắng láng, giúp chữ viết nổi bật hơn màu tím rất đẹp, trang giấy trắng không bị lem mực, bìa giấy dày, được đóng kim chắc chắn nên rất khó bị rách…! Lật vào trong, hít hà mùi thơm kỳ lạ bốc lên, đó là một cái thú kì lạ ngây ngất…!

Ngày đó, những tiệm tạp hóa, những chỗ bán dụng cụ chi học trò lớn nhỏ gần trường, cô chú chủ tiệm thường xếp những cuốn tập trên tủ kiếng cao, rất kiểu bìa khác nhau: nào là: Olympic, con Nai, cầu thủ đá banh, vua Quang Trung,… Nhưng tôi thích khoái nhất là bìa Xích lô máy…!

Hình ảnh chiếc Xích lô máy còn thân quen với nhiều thế hệ học trò trước 1975, không chỉ ở ngoài đời, mà còn trên vở học sinh, với hình bìa vở đã đi vào huyền thoại này…!

Sung sướng nhất là ngày cuối năm phát thưởng trước khi về nghỉ hè… Phần thưởng cho những học sinh Giỏi của lớp là bộ sách của lớp trên khi vào năm học sau cùng với một chục cuốn “Xích lô máy”.

Thằng nhỏ tôi khệ nệ bợ hai tay phần thưởng về nhà, mắt ngó quanh quất để xem mọi người, có ai khen mình không…?

Cuốn tập xưa đã dắt tôi về một vùng miền ký ức, cho tôi nhớ lại bao kỷ niệm tưởng chừng đã ngủ yên trong tiềm thức, rồi bỗng nhiên sống lại trong lòng một thuở được làm kiếp học trò đầy yêu thương…!

Hành trang mang theo suốt cuộc đời, chắc có lẽ không có gì đẹp hơn ngày xưa ôm cặp tung tăng đến trường…!

 

Phật giáo miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng – Trần Phương Tạp chí Luật Khoa

Trần Phương.

Các nhà sư khối Ấn Quang biểu tình yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ngày 3/4/1975. Ảnh: Bettmann/CORBIS.
Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số về hướng Sóc Trăng bây giờ, trụ trì Thích Huệ Hiền cùng với 11 tăng ni ở Thiền viện Dược Sư đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Phải đến gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam khác mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong các nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.


 

Các tổng thống Mỹ gần đây đã nói gì với Việt Nam

Báo Tiếng Dân

Washington Post

Tác giả: Olivier Knox

Cù Tuấn, biên dịch

6-9-2023

Từ khi Tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam hồi cuối năm 2000, mọi Tổng thống Mỹ đều đã đến thăm quốc gia cựu thù thời chiến mà nay đã trở thành đối tác thương mại. Tổng thống Biden sẽ đưa tên mình vào danh sách này vào Chủ nhật tới, với những lo ngại về Trung Quốc xuất hiện sau một chuyến thăm chớp nhoáng.

Lịch trình của Nhà Trắng không nói rõ liệu ông có mặt tại Hà Nội trong 24 giờ hay không. Tuy nhiên, điểm dừng chân của ông ở đó sẽ được theo dõi chặt chẽ trên toàn khu vực – và Bắc Kinh sẽ đặc biệt quan tâm – phần lớn là do những căng thẳng Trung – Mỹ gần đây.

Sẽ rất thú vị để xem thông điệp mà Biden mang đến. Clinton và những người kế nhiệm ông đã đưa ra một số chủ đề chung ở đó, nhưng những khác biệt của các chủ đề này cho thấy, sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ – Việt trong một phần tư thế kỷ qua.

Đây là những gì họ đã nói.

Clinton: Chiến tranh đã kết thúc

Chuyến thăm của Clinton tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là khúc hát thiên nga về ngoại giao trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông được chào đón trên thảm đỏ, trở thành một ngôi sao nhạc rock và trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên có bài phát biểu được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia tại Việt Nam.

Nhưng thông điệp mạnh mẽ nhất mà ông gửi tới Việt Nam thực ra đã đến từ 5 năm trước đó, vào tháng 7 năm 1995, khi ông tuyên bố Mỹ và quốc gia cựu thù thời chiến của họ sẽ nối lại quan hệ ngoại giao. Điều này diễn ra sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và sự phản đối của Mỹ đối với viện trợ đa phương.

Tại Đại học Quốc gia Việt Nam, Clinton thúc giục Việt Nam chấp nhận sự cởi mở về chính trị – tự do ngôn luận, tự do tôn giáo – nhưng nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của ông rằng, cả hai nước cần phải vượt qua di sản chiến tranh.

Ông nói: “Một quá khứ đau thương và khổ đau có thể được chuộc lại bằng một tương lai hòa bình và thịnh vượng”.

Bush: Đó là vấn đề kinh tế, đồ ngốc ạ

Tháng 6 năm 2005, Tổng thống George W. Bush tiếp đón một nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên tại Nhà Trắng kể từ sau chiến tranh. Tháng 11 năm 2006, ông [Bush] tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung chủ yếu vào việc ca ngợi nền kinh tế Việt Nam mà ông nói là “giống như một con hổ non”.

Dựa trên thông điệp của Clinton về quyền tự do dân sự, Bush đã tham dự một buổi lễ tại nhà thờ ở Hà Nội và nói rằng “mọi người trên khắp thế giới” nên được hưởng quyền tự do tôn giáo. Ông cũng đến thăm Viện Pasteur ở Thành phố Hồ Chí Minh để nêu bật sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng nền kinh tế của nước chủ nhà vẫn ở vị trí trung tâm của các thảo luận, và ông đã gặp gỡ các lãnh đạo doanh nghiệp và tham quan thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông Bush nói tại một bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước: “Trong nhiều thập niên, các bạn đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày nay, nhân dân Việt Nam có được hòa bình và nhìn thấy được lợi ích của cải cách. Người Việt đã có quyền sở hữu doanh nghiệp riêng và ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á”.

Obama: Súng đạn và bơ sữa (và cải cách)

Tổng thống Barack Obama đã dành phần lớn thời gian trong chuyến công du tới Việt Nam vào tháng 5 năm 2016 để thuyết giảng về cải cách chính trị – ông hát bài thánh ca gần giống với bài thánh ca của Clinton và Bush.

Phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội, ông nói: “Việc bảo vệ các quyền cơ bản – quyền tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo – không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định, mà thực sự nó củng cố sự ổn định và là nền tảng của sự tiến bộ”.

Nhưng Obama đã gửi một thông điệp mạnh mẽ hơn nhiều vào ngày đầu tiên của chuyến thăm, khi ông tuyên bố, Mỹ sẽ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau chiến tranh – một bước đi được nhiều người coi là một phần trong nỗ lực củng cố năng lực khu vực, trước một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Ông Obama nói: “Sự thay đổi này sẽ bảo đảm rằng, Việt Nam có quyền tiếp cận các thiết bị cần thiết để tự vệ và xóa bỏ dấu tích còn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Nó cũng nhấn mạnh sự cam kết của Mỹ trong việc bình thường hóa hoàn toàn mối quan hệ với Việt Nam, bao gồm cả quan hệ quốc phòng mạnh mẽ với Việt Nam và khu vực này trong dài hạn”.

Trump: Sứ mệnh với Kim Jong-un là có thể thực hiện được

Tổng thống Donald Trump đã có hai chuyến thăm Việt Nam: Một vào tháng 11/2017, một vào tháng 2/2019.

Đầu tiên, thông điệp của Trump phần lớn là ca ngợi sự chuyển đổi kinh tế của Việt Nam. Ông gọi những thay đổi kể từ sau chiến tranh “thực sự là một trong những điều kỳ diệu vĩ đại của thế giới”. Ông cũng thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước.

Thông điệp lần thứ hai được xác định bằng cuộc gặp thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, một nỗ lực cuối cùng không có kết quả nhằm thuyết phục lãnh đạo Triều Tiên từ bỏ các chương trình hạt nhân và tên lửa của mình. Nhưng ở đây, Trump cũng đề cập đến nền kinh tế Việt Nam, đề cập đến thương mại song phương và khuyến khích nước chủ nhà mua thiết bị quân sự của Mỹ.

Biden: Chưa xảy ra, chỉ hóng thôi

Thông qua đồng nghiệp Matt Viser, tôi biết được sự thật kỳ lạ này: Đây là lần đầu tiên Biden đến Việt Nam. Điều đó hơi gây tò mò vì ông đã phục vụ nhiều năm với tư cách là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và đã đi đến nhiều quốc gia.

Ông dường như đang đi đúng hướng để tận hưởng dư âm thành công của Clinton, Bush và Obama, đặc biệt là về việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược (dù ông có đề cập rõ ràng đến Trung Quốc) và có thể nhẹ nhàng mắng mỏ nước chủ nhà về các quyền dân chủ – và có lẽ sẽ nêu bật sự ngưỡng mộ về kinh tế Việt Nam và thúc đẩy thương mại song phương theo kiểu Trump.

Matt lưu ý rằng, Biden đã tổ chức ăn trưa với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015, nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai người sẽ gặp lại nhau vào Chủ nhật này.

Vào thời điểm bữa ăn trưa đó, ông Biden nói: “Thật đáng chú ý là trong suốt hai thập niên qua, tôi vẫn tin rằng… mối quan hệ của chúng ta chỉ mới bắt đầu”.

THẦN TƯỢNG “ĐIÊN”!

Mình thần tượng thằng cha điên quái kiệt này: Elon Musk. Dân nhập cư, đến Mỹ, được đất nước và nền giáo dục tạo điều kiện học hành.

Thế rồi “hắn” đứng ra thành lập, lãnh đạo, phát triển hàng loạt những thương hiệu hay tập đoàn “Quái vật”. Từ PayPal, qua Tesla, tới SpaceX, SolarCity, Hyperloop… tập đoàn nào cũng là những nhà khổng lồ, khai phá, tạo nên những cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ, kinh tế, y khoa…

Mới vừa đây, lại thấy cái tin gây sửng sốt cho giới khoa học, người ta cấy chip vô não 3 con heo, mở ra một hướng đột phá phát triển trí tuệ nhân tạo, tương tác với não người trong tương lai, để chữa rất nhiều bệnh liên quan đến não. Lại là một cái tên khác, Neuralink, cũng của Musk!

Even if Elon Musk's Neuralink brain chip never gives us telepathy, it ...

Phải nói, chỉ cần có được một phần nhỏ những gì Musk làm được, đã đủ là vĩ nhân, là thiên tài…

Elon Musk làm việc với cường độ trên 80 giờ/tuần (gấp đôi giờ hành chính hiện nay) là chuyện thường. “Hắn” có thể ngủ trong xưởng máy với công nhân, hay vùi mình với đám kỹ sư đầy máu điên trong phòng thí nghiệm.

Why are all of Elon Musk's children male only? - AR15.COM

Đã nhiều năm, Musk làm việc với cường độ đó và không có ngày nghỉ, cũng như những đợt du lịch xả hơi.

X Æ A-Xii (Elon Musk Son) Biography, Age, Mother, Birthday, Height, Net ...

Và tất nhiên, Musk giàu. Nhưng lại như “đồng bọn” là hàng loạt tỉ phú Mỹ khác, hắn hứa và đã dành hầu hết tài sản để làm từ thiện.

Hình như (và đã rõ ràng), chỉ có môi trường Mỹ Quốc mới có thể tạo nên những quái kiệt như vậy. Họ như từ hành tinh nào đến, đóng góp cho nhân loại, vắt kiệt mình, rồi ra đi.

SpaceX Starships at Mars Base Alpha by Konstantin Ermolaev | human Mars

SpaceX với viễn tượng mô hình thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai.

Và càng ngơ ngẩn, chẳng hiểu tại sao, người ta kêu là “bọn tư bản bóc lột” và kiên quyết duy trì học thuyết đó!

FB Nguyễn Danh Lam

Bạn nhìn thấy gì? Cảm thấy gì?

Báo Tiếng Dân

Đoàn Bảo Châu

1-9-2023

Thẩm mỹ viện JT Angel Clip phát quà từ thiện ngày 31-8-2023 tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tấn rưỡi gạo đã “bốc hơi” trong vòng 5 phút, ba người ngất xỉu phải đi cấp cứu, cổng viện bị đạp đổ, hai bàn gỗ vỡ tan, chiếc xe Range Rover bị móp nóc, vỡ kính, xước xát. 500 phong bì 300K đồng phải dừng, không được phát như kế hoạch.

Người dân quá khổ sau 48 năm được “giải phóng”. Thiên đường XHCN nhất định không phải của dân. Thiên đường là của quan tham, lợi dụng kẽ hở, sự lỏng lẻo của luật pháp để kiếm lợi chứ không phải của đám đông.

Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới, vậy mà người dân phải bỏ qua tất cả những sự ngại ngần, ý niệm về nhân phẩm để xông vào lấy gạo vì nỗi lo người khác lấy mất. Có người đến từ 3 giờ sáng để chờ.

Tôi không trách người dân. Họ quá khổ mới phải làm vậy. Tôi hy vọng clip này được các vị quan ở Việt Nam nhìn thấy và suy ngẫm. Tôi tin là các vị sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ như tôi đang có, bởi các vị luôn nói chính quyền này là chính quyền “do dân, vì dân”.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2023/09/Clip-phat-gao.mp4?_=1

Tôi tự hỏi, nếu trong một hội nghị quốc tế, một người bạn ngoại quốc cho các vị xem clip này thì các vị sẽ cảm thấy gì và sẽ giải thích sao?

Điều này cho thấy rằng tại sao nạn cướp giật ở thành phố Hồ Chí Minh lại tệ đến vậy.

Nhưng tôi tự hỏi, có bao nhiêu quan chức sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ khi mà trong thời gian qua, trong những đại án Việt Á và “chuyến bay giải cứu” chúng ta được chứng kiến sự táng tận lương tâm, sự tham lam vô độ, miệng nói “vì dân” mà tay liên tục vơ vét, của những bộ mặt danh giá nhất trong hệ thống?

Nhìn clip này ta sẽ thấy một sự “bung, toang” thật sự và không hề “ngạo nghễ” chút nào. Tôi tự hỏi, còn bao nhiêu đồng chí chưa bị lộ, bên ngoài thì “trong veo” ngây thơ trong sáng như trẻ mẫu giáo nhưng thật ra trong lòng run sợ?

Đây cũng chỉ là một tiếng thở dài bất lực của một thằng dân yếu thế là tôi, đừng quy kết gì to tát mà nực cười.

Độc đảng – lưỡng đảng

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Văn Nghệ

4-9-2023

Vừa qua, tôi có xem trên Facebook báo Tiếng Dân bài viết “Ước mơ tếu ngày Quốc khánh” của tác giả Mạc Văn Trang. Tác giả kể chuyện xem trận chung kết Cup bóng chuyền nữ quốc tế năm 2023 qua màn ảnh VTV giữa hai đội VN1 và VN2. Trận đấu diễn ra quyết liệt: “Nhân dân được xem hai đội thể hiện tài năng, ý chí, đạo đức thi đấu nên vô cùng hào hứng, sướng con mắt, đã cái bụng, đáng bỏ thì giờ, tiền bạc ra để thưởng thức tài nghệ của các cầu thủ, con em yêu quý của mình”.

Sau khi xem xong trận đấu chung kết giữa hai đội VN1 và VN2, tác giả bài viết: “Bỗng nhiên cảm hứng thăng hoa, nghĩ: Giá như Việt Nam cũng có hai đảng: Đảng Cộng sản 1 và Đảng Cộng sản 2, cùng lấy Chủ nghĩa Mác, Lê nin – Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng… cũng chẳng sao, miễn là có hai đội thi đấu với nhau như hai đội bóng chuyền nữ VN1 và VN2 đấu công khai, sòng phẳng, có trọng tài độc lập, khách quan, lại có công nghệ VAR để kiểm tra lại những pha bên kia khiếu nại. Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng như thế thì Dân chen nhau mua vé để xem và bầu chọn những người xứng đáng vào mỗi vị trí, tuyệt biết chừng nào”.

Ước mơ của Mạc Văn Trang khó mà thực hiện, bởi vì những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Kiên định đi theo con đường Bác đi! Mao Trạch Đông nói: “Đảng ngoại vô đảng, đế vương tư tưởng” (Ngoài đảng không có đảng nào khác, đó là ý nghĩ của các bậc đế vương). Do đó trên các thông tin lề phải khi đề cập đến đa đảng đều chốt lại một câu: “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng”.

Hiện nay, đa số người dân Việt Nam khi được hỏi trước đám đông (xin nhấn mạnh là “trước đám đông”): Ông (bà) thích độc đảng hay là đa đảng? Không cần phải suy nghĩ và sẽ có câu trả lời: Độc đảng tốt hơn!

Vào thập niên chót của thế kỷ trước, khi còn là sinh viên, tôi vào phòng ký túc xá nữ để thăm một người bạn. Tôi hỏi các bạn nữ trong phòng: Các bạn thích độc đảng hay đa đảng? Các bạn sinh viên sinh sống bên kia vĩ tuyến 17 trả lời phát một: Độc đảng!

Sau khi nghe xong, tôi mới đưa ra một ví dụ: Nếu cho bạn chọn lựa một trong hai, một bộ quần áo đẹp nhất trần gian và hai bộ quần áo xấu hơn một ít, vậy bạn chọn món nào? Sau một hồi đắn đo suy nghĩ và phân tích, các bạn nữ mới nói: bộ quần áo đẹp nhất trần gian, mặc vào rồi đến lúc phải dơ và cần phải giặt giũ và chẳng lẽ trong lúc giặt giũ phơi phóng mình phải khỏa thân sao? Hai bộ quần áo tuy có xấu hơn nhưng cũng có cái để thay ra thay vô!

Tất cả các cán bộ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều có trình độ lý luận chính trị vững vàng, đều trải qua nhiều năm “Học tập và làm theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng xem đi ngó lại thì những bộ mặt tham nhũng trong thời gian qua toàn là đảng viên. Số lượng đảng viên tham nhũng ngày càng “đông như quân Nguyên” và họ đã “ăn không từ một thứ gì” (Lời phát biểu của bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan).

Với mong muốn làm trong sạch bộ máy của đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở “Chiến dịch đốt lò” chống tham nhũng. Những việc thanh trừng chống tham nhũng hiện nay chẳng qua là giữa phe này phái nọ “ghen ăn tức ở” với nhau mà thôi (Trong nội bộ đảng vẫn có phe phái. Mao Trạch Đông đã nói: “Đảng nội vô phái, thiên kỳ bách quái” [Trong nội bộ đảng mà không có phe phái là chuyện kỳ quặc, lạ đời]).

Năm Bính Thân (1296) thời vua Trần Anh Tông: “Nhân Huệ vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ?”. Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở  lâu bị vua khiển trách” [*].

Từ xa xưa đã có chuyện nương tay hoặc bao che cho nhau của giới cầm quyền. Giới cầm quyền có ai lại đi bẻ hết móng vuốt chim ưng mình đâu!

Thời Nguyễn Tấn Dũng còn giữ chức Thủ tướng, có phát biểu: “Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” Hoặc nhiều vị lãnh đạo vin vào cái câu: Diệt hết tham nhũng lấy ai làm cán bộ? [**] Do đó móng vuốt chim ưng ngày càng dài ra và sắc bén.

Y phục có thuộc loại xịn nhất thế giới, mặc một thời gian sẽ bị dơ bẩn và khi ấy sẽ phải thay bộ y phục ấy chẳng lẽ bận bộ ấy hoài, như thế ai chịu nỗi. Sau khi thay thì phải cần có bộ y phục khác để mặc vào.

Câu nói “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng” luôn xuất hiện trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước Việt Nam nhưng vẫn chưa được thực hiện bằng cuộc trưng cầu dân ý nào cả!

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa

________

Chú thích:

[*] Đại Việt sử ký toàn thư tập II, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2000, t. 110

[**] https://tuoitre.vn/thu-tuong-nguyen-tan-dung-hon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai-348716.htm


 

Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 11:37 | Posted by BVN4

Nguyễn Ngọc Chu

Xem bản đồ của Google, rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh có màu xanh đậm nhất trên toàn bộ giải đất phía Nam Tây Nguyên và Bình Thuận, kéo dài từ Gia Nghĩa, qua Bảo Lộc đến Phan Thiết. Mở rộng lên toàn bộ đất nước thì Mỹ Thạnh là một trong số rất ít các vùng có màu xanh đậm nhất. Nhìn bản đồ rừng Việt Nam từ năm 1945 qua các thời kỳ mà trong lòng như có muối xát. Chúng ta không chỉ làm ngắn tuổi thọ chính mình, mà đang cắt từng phần tuổi thọ của các đời con cháu.

I. Vài nét về dự án hồ chứa nước Ka Pét 

Nghĩ rằng, trước khi quyết định triệt phá 680,41 ha rừng tự nhiên, lãnh đạo tỉnh Bình Thuận, lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhiệm kỳ 2010-2015 đã phải “nhắc lên, đặt xuống” nhiều lần. Và dự đoán rằng, trước khi bấm nút thông quyết định biến 680,41 ha rừng nguyên sinh thành lòng hồ Ka Pét, 500 vị ĐBQH khoá XIII cũng đã “rất trăn trở”.

Theo FB của Tuyên giáo Bình Thuận thì “DỰ ÁN HỒ CHỨA NƯỚC KA PÉT CÓ VAI TRÒ LỚN TRONG ỔN ĐỊNH KINH TẾ- XÃ HỘI, AN NINH ĐỊA PHƯƠNG”. Tóm tắt các điểm chính như dưới đây.

“Hồ thủy lợi Ka Pét được xây dựng ở Huyện Hàm Thuận Nam, có sức chứa 51,2 triệu m3 nước (nếu hoàn thành sẽ xếp thứ 4/50 hồ thủy lợi ở Bình Thuận). Tổng mức kinh phí đầu tư là 874 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án:

(1) Cấp nước tưới cho khoảng 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam;

(2) Cấp nước thô cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II: 2,63 triệu m3/năm; tạo nguồn nước thô để cấp cho sinh hoạt của khoảng 120.000 người dân khu vực huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết;

(3) Phòng, chống lũ và cải tạo môi trường, điều tiết nước cho vùng hạ du khu vực huyện Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận; tăng dòng chảy trong mùa khô, góp phần cải thiện môi trường sinh thái vùng hạ du nhất là đoạn qua thành phố Phan Thiết, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ của Tỉnh.

Tổng diện tích sử dụng đất của dự án xây dựng hồ thủy lợi Ka Pét là 693,31 ha, trong đó diện tích có rừng là hơn 680 ha (680,41 ha).

Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng là 162,55 ha; rừng phòng hộ là 0,91 ha; rừng sản xuất là 471,09 ha, rừng nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng là 45,85 ha và diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12,9 ha.

Để thay thế cho 680,41 ha diện tích rừng tự nhiên bị ngập tại hồ thủy lợi Ka Pét, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức khảo sát trồng mới với diện tích 1.844 ha (gấp 3 lần diện tích rừng dùng để xây dựng Hồ chứa nước Ka Pét)”.

II .Bẫy “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng 

Chính cơ chế “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng là một trong những nhân tố “an ủi”, làm cho các vị ĐBQH Khoá XIII (2014) bấm nút thông qua dự án hồ Ka Pét. Xoá đi 680,41 ha rừng nguyên sinh, nhưng lại được “lời” đến 1844 ha rừng trồng mới. Cái tỷ lệ được gấp 3 lần diện tích rừng trồng mới, không chỉ “an ui”, mà thực ra đã đánh lừa nhiều người. Vì cây trồng mới đấy không phải là rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên có được là từ nhiều chục ngàn năm. Tuổi của rừng tự nhiên không phải tính bằng tuổi vài trăm năm của cây lâu năm nhất còn tìm thấy trong rừng. Vì cũng như con người, cây rừng được thay thế từ đời này qua đời khác.

Giá trị của rừng nguyên sinh, khác với cây mới trồng – không phải là chủ đề để bàn luận ở đây. Nhưng cũng phải thêm một lần cảnh báo, để các vị ĐBQH thận trọng cho các quyết định về phá rừng nguyên sinh trong tương lai. Cây trồng mới, dù diện tích tăng gấp 10 lần, dù vài trăm năm sau nữa, cũng không phải là rừng nguyên sinh. Cho nên 18,44 km2 cây trồng mới trong kế hoạch – không thể nào so sánh được với 6,8 km2 rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh nhiều ngàn năm tuổi.

Chính cãi bẫy “đổi 1 lấy 3” đã trở thành “lá bùa” che mờ mọi mục đích phía sau của việc phá bỏ rừng nguyên sinh trong các dự án. Cứ tiếp tục cái bẫy “đổi 1 lấy 3” thì hàng ngàn ha rừng nguyên sinh sẽ tiếp tục bị huỷ diệt.

III. Đề xuất

Theo thông tin của người dân địa phương, ở ven biển TP Phan Thiết, đào sâu xuống 10 m mà vẫn bị nước mặn; còn ở phần cao phía Tây của Hàm Thuận Nam, khoan xuống 40 m may ra mới hy vọng có nước.

Bài toán “Cấp nước sinh hoạt cho 120000 người dân Hàm Thuận Nam và TP Phan Thiết, cấp nước tưới cho 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam và 2,63 triệu m3/năm cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II, không thể không giải quyết. Còn các mục tiêu khác của hồ Ka Pét có thể bỏ qua.

Nhưng không thể vì các mục tiêu này mà phá đi 680,41 ha rừng tự nhiên hàng ngàn năm mới có được. Phải tìm một lối thoát khác để vừa giữ lại được rừng tự nhiên cho muôn đời con cháu, vừa cấp được nước cho 120000 đồng bào Nam Bình Thuận cũng như nước tưới cho 7.762 ha đất nông nghiệp và khu công nghiệp Hàm Kiệm II.

Bởi vậy, xin đề xuất lối thoát theo các hướng sau.

1/ Bài toán đáp ứng nhu cầu nước

Xây dựng các chuỗi hồ nhân tạo nhỏ hơn ở các vị trí khác, không động đến rừng nguyên sinh, để giải bài toán về nước cho Hàm Thuận Nam. Để làm điều này cần thành lập một nhóm các nhà khoa học, giao nhiệm vụ đi khảo sát nghiên cứu thực địa và đề xuất giải pháp. Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

2/ Bài toán dân sinh

Nông nghiệp, đặc biệt là lúa, không đưa đến nguồn lợi lớn. Bởi vậy,

a/ Tạo công ăn việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch và dịch vụ (có thu nhập cao hơn nông nghiệp) cho một bộ phận hoặc toàn bộ dân đang sống nhờ 7762 ha đất nông nghiệp. Giảm tỷ lệ dân nông nghiệp ở Hàm Thuận Nam xuống.

b/ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Giảm hoặc bỏ hẳn canh tác các cây trồng đòi hỏi nhiều nước mà không đưa lại lợi ích cao. Phải đặt mục tiêu kinh doanh hiệu quả nhất trên diện tích đất sở hữu, chứ không bắt buộc phải là trồng lúa, hay trồng cây nông nghiệp.

Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bí thư Tỉnh uỷ tình Bình Thuận.

  1. Bài toán thoả hiệp tối thiểu

Vạn bất đắc dĩ, trong trường hợp không tìm ra lối thoát theo phương án 1 và 2 phía trên, thì xem tính khả dĩ của bài toán thoả hiệp tối thiểu. Tức là chỉ sử dụng một phần diện tích khu rừng (1/3 hoặc ít hơn), kết hợp với đào sâu lòng đất phần không có rừng, tạo nên 1 hồ chứa nước (khoảng 15 – 25 triệu m3 nước) đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu. Với phương tiện hiện nay, đào hồ chứa nước nhân tạo 10 – 15 triệu m3 nước không phải là vấn đề khó. Hãy nghĩ đến đê ngăn nước biển của Hà Lan; hay dòng sông nhân tạo dài nhất thế giới 1600 km chảy qua sa mạc ở Libya chuyên chở 2,5 triệu m3 nước mỗi ngày; hay dự án Kaleshwaram trên sông Godavari, tưới cho 180000 ha, 19 hồ nước, 19 nhà máy bơm gồm 43 máy bơm, mỗi máy bơm công suất 40 MW, bơm qua 203 km đường ống và 1531 km kênh mương. Lúc đó sẽ nghĩ ra giải pháp cấp nước mà không cần phải phá rừng nguyên sinh.

Để có kết luận về hướng này cũng cần có nghiên cứu và đề xuất giải pháp của các nhà khoa học. Quyết định phương án này cũng là trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

  1. Phương án khác

Dựa trên khảo sát thực tế, các nhà khoa học có thể đưa ra các phương án khác. Điều quan trọng nhất là quy tụ được trí tuệ của các nhà khoa học tốt nhất, và cả trí tuệ trong nhân dân, tham gia giải quyết vấn đề, chứ không chỉ riêng các nhà quản lý ở Bộ NN&PTNT, ở tỉnh Bình Thuận, ở QH “đóng cửa bấm nút”.

Tin tưởng một cách sắt đá rằng, nếu Bộ trưởng Bộ NN&PTNT biết huy động trí tuệ của các nhà khoa học và trí tuệ trong quần chúng, thì chắc chắn có giải pháp tốt cho vấn đề cấp nước ở Hàm Thuận Nam mà không phải phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh.

IV. Trách nhiệm của lãnh đạo hiện thời

Các quyết định của Quốc hội, Bộ NN&PTNT, Tỉnh uỷ Bình Thuận vào năm 2014, không có nghĩa là tự động phải tuân theo lúc này. Hoàn cảnh khác, tiềm lực khác, phương tiện khác. Lãnh đạo hiện thời mới là người quyết định có triệt phá 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh để xây dựng hồ chứa nước Ka Pét hay không.

Bởi thế, trách nhiệm số 1 trong quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào thời điểm hiện tại phụ thuộc vào quyết định của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan. Từ đề xuất của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT mới đến trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội quyết định.

Cùng với Bộ trưởng Bộ NN&PTNT là trách nhiệm của Bí thư Bình Thuận đương thời. Quyết định của Bí thư Bình Thuận tiền nhiệm không phải lúc nào cũng đúng, cũng vô tư. Đã có rất nhiều lãnh đạo tiền nhiệm bị kỷ luật. Quan trọng nữa là thời thế khác. Vì quyền lợi của người dân Bình Thuận, Bí thư Bình Thuận hiện nay phải có trách nhiệm đưa ra quyết định về đồng ý hay phản đối việc phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh cùng các đề xuất.

Và không thể không nhắc đến trách nhiệm của các vị ĐBQH Khoá XV hiện nay. Nếu 680.41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh bị phá bỏ vào nhiệm kỳ QH Khoá XV, thì đó là trách nhiệm của QH khoá XV, chứ không thể né tránh là do QH khoá XIII đã thông qua mà thờ ơ. Bởi vì QH Khoá XV có toàn quyền thay đổi quyết định của QH khoá XIII về rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ Ka Pét.

Có người nói rằng, người dân Nam Bình Thuận thì đang cần nước, còn dân mạng xã hội thì đòi bảo vệ rừng. Đời người thường không quá 100 năm. Nếu không có nước thì không thể sống hết đời người, còn đâu mà bảo vệ rừng cho ngàn năm sau.

Để thấy được cả dân Nam Bình Thuận, cả mạng xã hội nói hộ cho người dân toàn quốc, cần một câu trả lời rõ ràng từ lãnh đạo các cấp có thẩm quyền hiện nay, cụ thể là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Bí thư Bình Thuận Dương Văn An, và 500 vị ĐBQH khoá XV. Khi vấn đề được xem xét lại kỹ lưỡng trên cơ sở các phương án đề xuất của các nhà khoa học, thì quyết định giữ hay bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh sẽ giải toả mọi băn khoăn của người dân.

Trước hết và đầu tiên, trước mọi quyết định hay trả lời, là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cần thành lập một tập thể các nhà khoa học có năng lực, với nhiệm vụ đi khảo sát và đề xuất các phương án giải quyết. Trong đoàn các nhà khoa học, cần bao gồm cả người ngoài Bộ NN&PTNT, cả những người không còn trong biên chế, cả những người dám nói khác ý lãnh đạo, và không bao gồm những người đã đồng ý với quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào năm 2014.

Chúng ta đang dần bán hết tài nguyên thừa kế của cha ông từ ngàn xưa mà không hề nghĩ đến để lại một phần cho đời sau. Chang ta đang tàn phá rừng nguyên sinh, dành bão lũ, sụt lở, nóng bức, thiếu ô xy cho con cháu. Tài nguyên thừa kế của tổ tiên ngàn đời không chỉ dành cho một thế hệ, mọi quyết định đều nặng ngàn cân, chứ không phải thích thì tuỳ tiện giơ tay bấm nút. Phát triển là để trường tồn, không phải phát triển để bức tử hậu thế.

 


 

Những gã khổng lồ năng lượng mặt trời của Trung Quốc đang bay quá gần mặt trời?

Theo báo Nikkei Á Châu

Các nhà sản xuất tấm pin mặt trời của Trung Quốc, vốn chiếm tới 95% năng lực sản xuất toàn cầu, đang tăng gấp đôi khoản đầu tư vào phân khúc đang bùng nổ này, đồng thời công bố kế hoạch mở rộng thêm chuỗi cung ứng.

Nhưng với công suất đã vượt quá nhu cầu và đang trên đà tăng vọt vào năm 2030, vượt xa yêu cầu dự báo của thị trường, các nhà phân tích cũng như nhà đầu tư đang bắt đầu đặt câu hỏi liệu những kế hoạch này có hợp lý hay không?

Theo kế hoạch, công suất của 5 nhà sản xuất hàng đầu Trung Quốc – Jinko Solar Holding, Longi Green Energy Technology, JA Solar Technology, Trina Solar và Canadian Solar – sẽ tăng 54% vào cuối năm nay, từ năm 2022 để đạt 465 gigawatt. Tính toán của Caixin dựa trên báo cáo tài chính của các công ty.

Thật vậy, mục tiêu sản xuất kết hợp từ 310 GW đến 325 GW trong năm nay của họ đã có thể đáp ứng hầu hết tổng nhu cầu của thế giới.

Khi bao gồm các nhà sản xuất nhỏ hơn và các công ty khác trong lĩnh vực tổng công suất của ngành quang điện (PV) của Trung Quốc sẽ đạt gần 1.000 GW vào cuối năm 2023, nhiều hơn gấp đôi mức tiêu thụ của thế giới, theo ước tính của một số chuyên gia. các tổ chức nghiên cứu và các chuyên gia trong ngành.

Theo SolarPower Europe, một nhóm vận động năng lượng mặt trời đại diện cho hơn 300 tổ chức trong toàn ngành, nhu cầu toàn cầu được dự báo sẽ đạt tới 402 GW trong năm nay và gần 800 GW vào năm 2027.

Mục tiêu cacbon

Sự mở rộng của các công ty quang điện khổng lồ của Trung Quốc được thúc đẩy bởi cam kết của chính phủ vào năm 2020 nhằm đạt mức phát thải carbon dioxide cao nhất vào năm 2030 và trở thành trung hòa carbon vào năm 2060. Điều này khiến ngành quang điện trở thành một ngành gần như được đảm bảo về tăng trưởng mặc dù tốc độ mở rộng kinh tế nhìn chung đang chậm lại và dẫn đến lượng vốn lớn đổ vào lĩnh vực này.

Trước năm 2020, trong suốt thập kỷ qua, năng lực sản xuất PV toàn cầu đã ngày càng chuyển từ Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ sang Trung Quốc, quốc gia đã đầu tư hơn 50 tỷ USD vào công suất mới, gấp 10 lần so với Châu Âu kể từ năm 2011 và chiếm 80% 95% thị trường tấm pin mặt trời, theo báo cáo năm 2022 của IEA.

IEA cho biết Trung Quốc có khả năng duy trì thị phần đó trong 5 năm tới, bất chấp nỗ lực đa dạng hóa chuỗi cung ứng về mặt địa lý.

Ngành công nghiệp PV có một chuỗi sản xuất dài. Khu vực thượng nguồn tinh chế polysilicon từ silicon công nghiệp được nấu chảy từ quặng silicon.

 

Một nhà máy sản xuất polysilicon ở Zhangye, tỉnh Cam Túc, vào ngày 2/10/2023.

Polysilicon là nguyên liệu thô chính được sử dụng để chế tạo pin mặt trời. Qua các công ty trung gian, Polysilicon được  biến các thanh và thỏi polysilicon thành các tấm bán dẫn, Các công ty tiếp theo  chế chúng thành các tế bào quang điện.

Một công nhân đang kiểm tra các tế bào polysilicon được sản xuất tại một nhà máy ở Phúc Châu, tỉnh Giang Tây, vào ngày 31/7/2023.

Ở giai đoạn cuối, các tế bào được lắp ráp thành các mô-đun, còn được gọi là tấm pin mặt trời.

China's solar industry is at a crossroads | China Dialogue

Hầu hết các công ty lớn nhất,  dẫn đầu ngành đều đặt mục tiêu mở rộng thông qua cái gọi là “cách tiếp cận tích hợp”, nghĩa là họ cố gắng sản xuất mọi thứ trong chuỗi ngành, từ nguyên liệu thô đến sản phẩm cuối cùng hoặc ít nhất là các phân khúc sản xuất wafer, tế bào quang điện và mô-đun trung và hạ nguồn. Một số công ty đã mở rộng hoạt động của mình sang cả thượng nguồn, sản xuất polysilicon.

Theo Hiệp hội Công nghiệp Quang điện Trung Quốc, 8 trong số 10 mô-đun PV trên thế giới được sản xuất tại Trung Quốc, trong khi hơn một nửa số mô-đun PV của Trung Quốc được xuất khẩu.

 

Thuế quan của Mỹ đối với các mô-đun điện mặt trời do Trung Quốc sản xuất đã thúc đẩy việc sản xuất mô-đun di dời sang Đông Nam Á, nơi nhiều cơ sở sản xuất nhập khẩu tế bào từ Trung Quốc, theo công ty tư vấn năng lượng Wood Mackenzie. Theo Hiệp hội Công nghiệp Quang điện Trung Quốc, xuất khẩu PV của Trung Quốc cũng đang tăng nhanh sang Trung Đông, Brazil, Chile, Peru và Nam Phi. Tuy nhiên hiện nay những thị trường này đã bão hòa.

Lĩnh vực này đã trải qua một cuộc chiến giá cả tương tự khoảng 11 năm trước, trong đó các công ty quang điện Trung Quốc có thể mở rộng công suất nhờ các khoản trợ cấp hào phóng của chính phủ, nhưng sau đó gặp phải các rào cản thương mại khiến thị trường bị thu hẹp.

Trên thực tế, hơn một nửa các nhà sản xuất năng lượng mặt trời của Trung Quốc có thể bị buộc phải rời bỏ trong vòng 2 đến 3 năm tới vì dư thừa công suất, Li Zhenguo, chủ tịch của Longi Green Energy, nói với Bloomberg trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5/2023.

Đi về phía Tây

Các nhà sản xuất quang điện Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh mở rộng công suất ở châu Âu và Mỹ, nơi họ đang tận dụng Đạo luật giảm lạm phát năm ngoái, bao gồm các ưu đãi trị giá 374 tỷ USD cho công nghệ sạch do Mỹ sản xuất.

Jinko đã đầu tư 52 triệu USD để xây dựng một nhà máy ở Jacksonville, Florida, nơi chính phủ của họ vào tháng 4 đã phê duyệt khoản tài trợ 2,3 triệu USD trong 10 năm cho một dự án mở rộng nhằm tăng công suất mô-đun lên 1 GW.

Vào tháng 1, JA Solar đã công bố kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất tấm pin mặt trời trị giá 60 triệu USD ở Phoenix, trong khi Longi Green Energy sẽ hợp tác với nhà phát triển năng lượng mặt trời Invenergy của Mỹ để xây dựng một nhà máy lắp ráp tấm pin mặt trời 5 GW trị giá 600 triệu USD ở Ohio, chính quyền địa phương công bố vào tháng 3.

Dữ liệu từ InfoLink cho thấy các mô-đun PV ở Trung Quốc đã được bán ở mức 1,21 đến 1,25 nhân dân tệ mỗi watt trong tuần cuối cùng của tháng 8, so với 1,18 đến 1,3 nhân dân tệ ở châu Âu và 2,18 đến 3,27 nhân dân tệ ở Mỹ.

Nhưng chi phí xây dựng, nhân công và thiết bị ở Mỹ đắt hơn nhiều. Đối với một nhà máy mô-đun 1 GW, chi phí xây dựng ở Trung Quốc chỉ dưới 100 triệu nhân dân tệ. Nhưng chi phí cho nhà máy của JA Solar ở Mỹ là 570 triệu nhân dân tệ và hơn 800 triệu nhân dân tệ cho cơ sở của Longi.

REC Silicon (Na Uy)  sản xuất polysilicon ở Hoa Kỳ tại Hồ Moses ở Washington.

Mặc dù chi phí cao hơn nhưng các công ty Trung Quốc vẫn cho rằng rủi ro là thấp. Một giám đốc điều hành của một công ty Trung Quốc tin rằng họ có thể thu hồi chi phí trong năm thứ hai nhờ trợ cấp của Đạo luật Giảm lạm phát. Nhưng ngay cả khi không có trợ cấp, một nhà máy ở Mỹ vẫn có thể hòa vốn sau 3-4 năm, giám đốc điều hành công ty cho biết.

 

Bài viết của Yuan Xiaoshan và Qiu Yi thuôc tập đoàn Caixin Trung Cộng