GẶP LẠI NGƯỜI YÊU CŨ-Truyện ngắn

Nghe má nói ba bị tai biến, tôi tức tốc vượt hơn trăm cây số về nhà. May mà tai biến nhẹ, lại được cấp cứu kịp thời nên không để lại di chứng. Bệnh viện đông, không khí ngột ngạt làm ba khó chịu. Ba gắt má sao nước nguội quá, cháo gì lạt nhách, gối kê đầu sao quá mềm…

Ba quạu thì quạu, má vẫn nhỏ nhẹ “rồi rồi, để tôi sửa cho vừa ý ông”. Quạu với má vậy thôi, má về nhà mới được nửa buổi, ba đã sốt ruột hỏi tôi: “Sao má con đi lâu vậy?”. Ba với má đó giờ vẫn vậy, xa thì ngóng, gần thì như mặt trăng với mặt trời.

Từ nhỏ, tôi đã chứng kiến ba má thường xuyên cãi cọ. Má da nâu nên ưa mặc quần áo màu nhạt, ba nói đàn bà phải mặc màu tối mới sang. Má uốn tóc ngắn, ba nói đàn bà phải để tóc dài, kẹp hay bới gì cũng quý phái…
Má biết tỏng bụng ba nên mát mẻ: “Người ta” của ông da trắng, dáng cao mới diện kiểu đó, tui bắt chước sao được”. “Người ta” của ba là dì Hiền. Hồi trẻ, ba và dì yêu nhau. Nhà dì chê ba nghèo nên không gả.

Nhà bán gạo, nhiều người mua thiếu rồi quỵt. Má nói người ta nghèo mới làm vậy, kệ đi, coi như làm phước. Ba thở dài, than: “Má mày hiền quá, dễ bị người ta gạt”. Má ấm ức: “Phải tía lia, mồm năm miệng mười như “người ta” mới vừa bụng ông chớ gì”…

Lớn lên tôi mới hiểu, ba đuổi bắt thứ gì đó rất mông lung, với hoài không tới. Từ vóc dáng tới tính tình của dì Hiền đã đóng khung trong ba thành chuẩn mực của cái đẹp. Vậy nên trong mắt ba, má chưa bao giờ toàn vẹn. Ba chưa một lần nhắc tên dì Hiền, cũng chưa từng gặp lại sau mấy chục năm xa cách, nhưng tôi vẫn cảm nhận được bóng dáng dì lúc nào cũng đâu đó trong những lần cãi cọ giữa ba với má, trong ánh mắt mênh mang của ba mỗi chiều về…

Người ta hay nói “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Chính vì dang dở nên ba mới nhớ, mới thương, mới tự gây sóng gió. Có lần tôi hỏi ba: “Dì Hiền đẹp lắm hả ba?”. Ba không trả lời, chỉ cười tủm tỉm, ánh mắt xa xăm như thể đang lạc về quá khứ.

Tôi nói: “Má không đẹp nhưng có duyên, tính lại hiền, chiều ba hết mực. Ba còn đòi gì nữa?”. Im lặng hồi lâu, ba mới khẽ khàng: “Chuyện người lớn, con không hiểu đâu”. Tôi hiểu chớ. Tôi hiểu ba thương má nhưng không thể quên dì Hiền. Có điều, trái tim không thể chứa cùng lúc 2 người phụ nữ, nên ba mới thấy chông chênh…

Ba nằm viện được 5 ngày, tôi xin chuyển viện cho ba lên Sài Gòn để khám lại. Bệnh viện lớn càng quá tải hơn ở quê. Tôi trải chiếu để ba nằm cho đỡ mệt. Góc bên kia, giọng một phụ nữ lớn tuổi cứ liên tục kêu rên: “Bệnh viện gì mà đông phát khiếp”, “Bắt số 225 vầy biết chừng nào tới tui hả trời”, “Ông quạt mạnh tay cái coi, khỏe cùi cụi mà làm như sắp chết vậy”…

Ba khều tôi: “Chắc bà ấy bệnh nhiều nên khó chịu. Số của ba 200 hả con, đổi cho bà ấy để bả khám sớm chút”. Tôi nghe lời ba, mang số qua đổi. Dì ấy thở ì ạch, mặt cau có. Nghe tôi nói đổi số, dì buông gọn lỏn: “Sao tự dưng đổi, có tiền bạc gì không?”.

Anh con trai bước qua chào ba tôi để cảm ơn. Ba tôi hỏi anh quê ở đâu. Nghe nói người cùng tỉnh, ba nhổm dậy dòm qua. 2 người cùng sững sờ. Ba lắp bắp: “Là… là… cô Hiền phải không?” Tôi giật thót, quay lại nhìn “kẻ thứ ba” vô hình của má bấy lâu.

Dì ấy mập ù, tóc tai xơ xác, bộ ngực thả rông xập xệ… dường như chẳng liên quan gì tới dì Hiền da trắng, tóc dài, dáng cao mà ba hay nhắc bấy lâu. Có lẽ cảm giác của ba cũng bàng hoàng giống tôi nên thăm hỏi gượng gạo. Lúc về, tôi trêu ba: “Gặp “người ta”, mãn nguyện rồi hả ba?”. Ba thở dài: “Thà đừng gặp…”.

Từ bữa đó, ba cư xử với má dịu dàng nhỏ nhẹ. Ảo ảnh ba bắt được rồi, cũng chỉ là ảo ảnh thôi, má mới là thực tại của ba. May, cuối cùng ba cũng ngộ ra điều này…

Đỗ Minh Thùy

From: Tu-Phung

NHỮNG ĐIỀU LẠ LÙNG TRONG VỤ ÁN BÁC SĨ NGUYỄN MINH QUÂN

Chau Trieu 

Mọi người còn nhớ: Tháng 11/2021, vụ bác sĩ Nguyễn Minh Quân, GĐ BV Thủ Đức bị bắt, đã làm ồn áo dư luận, làm tốn rất nhiều giấy mực của báo chí một thời gian.

Ngày nay, việc một tay bác sĩ GĐBV bị bắt, nhiều nhung nhúc như dòi trong đống phân lâu ngày, có gì đáng quan tâm. Nhưng riêng ở vụ án này có rất nhiều điều lạ lùng, về số lượng bị can, về thành phần tham gia chạy án, về số tiền chạy án cực khủng, là tổng cộng hơn 3,7 triệu USD.v.v..

https://nld.com.vn/…/cuu-giam-doc-bv-thu-duc-lap-4-cong…

Thứ nhất:

Các đối tượng tham gia chạy án:Một ê kíp tham gia chạy án gồm: Hai cán bộ CA trong Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu; là luật sư Bùi Thị Hồng Giang; là tổng GĐ công ty truyền thông Du lịch Việt Trần Văn Long. Cuối cùng là thượng tọa Thích Đồng Huệ.

Thứ hai:

Thủ đoạn lập sân sau của Nguyễn Minh Quân: Tất cả những ngón nghề này Quân đều được “học tập và làm theo tấm gương” mụ phù thủy Nguyễn Thị Kim Tiến. Mụ Tiến kim tiêm chẳng những lập sân sau, mà trắng trợn và liều lĩnh hơn là bảo kê cho tập đoàn Vn Pharma buôn thuốc ung thư giả, làm chết hàng trăm bệnh nhân nghèo.

Trước tội trạng động trời như thế, nhưng cuối cùng mụ Tiến chẳng bị rụng một cọng lông nào. Sau gần 2 nhiệm kỳ ngồi chót vót trên ghế quyền lực để vơ vét, khi bị dư lận phản ứng dữ dội, thì mụ Tiến được ưu ái nhảy sang làm trưởng ban bảo vệ sức khỏe TƯ, chiếc ghế đầy quyền lực, lại tha hồ vơ vét.

Thứ ba:

Thầy chùa cũng tham gia chạy án. Trong vụ án này, có một nhân vật mà khi nghe tên làm dư luận hết sức ngỡ ngàng. Đó là thượng tọa Thích Đồng Huệ, tên thật là Nguyễn Ngọc Triệu.

Nhà sư này với đống chức vị khủng khiếp, mà khi bạch hóa ra không khỏi làm người ta choáng ngợp: Là Ủy viên Hội đồng Trị sự TƯ GHPGVN, Phó ban Phật giáo Quốc tế TƯ, Phó ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Hà Giang, Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam tại Angola, Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam tại Mozambique, trụ trì chùa Nôm (tỉnh Hưng Yên) và chùa Quan Âm (tỉnh Hà Giang), đại biểu HĐND tỉnh Hà Giang nhiệm kỳ 2021 – 2026.v.v.

Điều buồn cười là vị tu sĩ Phật giáo quốc doanh này đã kịp thời trút bỏ áo cà sa 2 ngày trước khi bị bắt, với lý do bị bệnh hiểm nghèo.

Thế mới biết sư sãi quốc doanh ngày nay kiêm nhiệm nhiều nghề tay trái. Như chùa Phúc Khánh của nhà sư Thích Thanh Quyết, hoạt động dâng sao giải hạn, đón hàng nghìn người đến giải hạn sao La Hầu, ngồi bót kín các lối đi. Như chùa Ba Vàng (Quảng Ninh),với ngón nghề bịp bợm “vong báo oán”, “giải nghiệp”,mỗi năm thu hàng trăm tỉ đồng.

Như chùa giác ngộ của Thích Nhật Từ, ngoài việc rao giảng nghệ thuật phòng the, cách làm tình sao cho đạt cực khoái.v.v. Trần Ngọc Thảo còn kiêm nghề thầy kiện, vu khống, kiên quyết đẩy cụ Lê Tùng Vân, đáng tuổi ông nội của Từ vào tù bằng mọi giá.

Nay thêm Thích Đồng Huệ không biết có lo việc Phật sự cho tín đồ hay không, nhưng kiêm nhiệm nghề chạy án là thu bộn tiền.

“Theo lời khai của Tuấn, sau khi nhận 1 triệu USD từ Nguyễn Minh Quân, Tuấn đã 6 lần mang đến Chùa Nôm đưa 970 nghìn USD Thượng toạ Thích Đồng Huệ”.

Thứ tư là:

“Trong vụ này, ông Quân được đánh giá là chủ động khai báo trước khi bị phát giác nên được miễn trách nhiệm hình sự”. Làm gì có chuyện tên kẻ cắp khi chưa bị phát hiện, mà tự giác đi thú nhận tội lỗi mình ăn cắp bao giờ? Hay là cái này đã được quy đổi thành tiền?

Thứ năm:

Mất bò mới lo làm chuồng: “Cơ quan CSĐT Bộ Công an kiến nghị nâng cao “kiểm soát quyền lực” của người đứng đầu bệnh viện sau loạt vụ án liên quan đến đấu thầu mua sắm thiết bị y tế”.(VTC NEWS ngày 17/6/2023).

Hóa ra mấy chực năm nay, vì BCA chưa khuyến cáo, chưa kiến nghị nâng cao “kiểm soát quyền lực” , nên bọn quan tham tha hồ lộng hành?

Câu hỏi đặt ra là: Nếu vụ án này trót lọt thì hơn 3,7 triệu USD do Nguyễn Minh Quân chạy án(Vn Express ngày 8/9/2022), sẽ chui vào túi ai. Và còn bao nhiêu vụ chạy án khủng khiếp đã “trót lọt chui qua lỗ Kim” mà không bị phanh phui?

tn 17/6 – Thao Ngoc

MỚI MẺ TRIỆT ĐỂ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đừng chống cự lại với kẻ hung ác!”.

Giáo sư William Davis nhận định, “Danh tiếng của bạn là những gì người ta nghĩ về bạn; tính cách của bạn là những gì Chúa biết về bạn. Danh tiếng là những gì người ta nói về bạn trên bia mộ bạn; tính cách là những gì các thiên thần nói về bạn trước ngai vàng Thiên Chúa!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất thú vị khi chúng ta khám phá “những gì các thiên thần nói về bạn và tôi trước ngai vàng Thiên Chúa” qua sợi chỉ đỏ xuyên suốt các bài Tin Mừng tuần này! Sợi chỉ đỏ ấy được gọi là sự ‘mới mẻ triệt để’ của các mối phúc, vốn làm nên nội dung Bài Giảng Trên Núi!

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến sự ôn hoà với kẻ thù. Nguyên tắc ‘mắt đền mắt, răng đền răng’ vào thời điểm đó có nghĩa là, để hạn chế ước muốn trả thù, ‘1 mắt, đền 1 mắt’, chứ không phải ‘100 mắt, đền 1 mắt’. Đã một thời, có những quốc gia áp dụng nguyên tắc ‘10 đền 1’; đây là cách hành xử của thời chiến. Trong bối cảnh đó, ‘1 đền 1’ được hiểu như một ‘chính sách khai sáng’; dừng lại ở mức chỉ trả thù tương xứng là ‘văn minh’. Chúa Giêsu đi xa hơn nguyên tắc ‘tương đối sáng suốt’ này! Trong Vương Quốc Ngài, không có chỗ cho sự trả thù, và đó là ‘mới mẻ triệt để’ của Hiến Chương Nước Trời. Ngài dạy, “Đừng chống cự lại với kẻ hung ác!”, nghĩa là cái ác không được gặp cái ác, ngay cả ‘cái ác tương xứng’; thay cho ác, phải là sự thiện và lòng nhân.

Trong thư Côrintô hôm nay, Phaolô nói đến sự ôn hoà của con cái Thiên Chúa, đó là “Đại lượng, dịu dàng, bằng sức mạnh Thánh Thần; bằng lòng yêu thương không giả dối; bằng lời chân thật; và bằng quyền năng của Thiên Chúa”. Ở thư Rôma, giáo huấn của Phaolô cô đọng hơn, “Đừng để cho sự ác thắng được mình, hãy lấy thiện mà thắng ác!”. Bản năng thiêng liêng của Kitô hữu là luôn làm điều thiện. Để rồi, không ít lần, chúng ta chứng kiến điều ác khuất phục điều thiện. Khi điều đó xảy ra, chúng ta tin chắc, Chúa Thánh Thần đang hoạt động ở đó; và ơn cứu độ của Thiên Chúa ít nhiều đã được biết đến ở đó như lời Thánh Vịnh đáp ca tuyên xưng, “Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người!”.

Anh Chị em,

“Đừng chống cự lại với kẻ hung ác!”. Kẻ hung ác thời nào cũng có, dù không phải luôn luôn; nhưng người môn đệ của Chúa Giêsu thì phải luôn hiền lành và nhu mì như Thầy mình! Chúng ta không có ‘kẻ thù’; nhưng có thể luôn có ‘kẻ ghét’. Ghét do chủ quan, chỉ vì họ ‘ghen ghét’; nhưng cũng có thể rất khách quan, chúng ta ‘dễ ghét’. Có lẽ bạn và tôi chưa sống Tin Mừng. Vì nếu chúng ta thực sự sống cái ‘mới mẻ triệt để’ của Tin Mừng, chắc chắn, chúng ta đang làm tốt nhất những gì Chúa Giêsu cần để xây dựng Vương Quốc Ngài; và bấy giờ, không ai còn ghét chúng ta vì chúng ta ‘dễ ghét’. Nhưng nếu họ vẫn ghét chúng ta chỉ vì chúng ta thuộc về Chúa Kitô, bạn và tôi cứ yên tâm! Vì cuối cùng, tình yêu và sự thiện sẽ thắng, bạn có tin điều đó không? Chúa Thánh Thần sẽ làm đúng thời đúng buổi và chúng ta sẽ ngạc nhiên khi những gì được gieo trồng xem ra vô vọng, một ngày kia, sẽ bất ngờ đơm hoa kết trái!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chạy theo danh tiếng và sự mới mẻ của thế gian; xin biến đổi con nên ‘mới mẻ’ nhờ sự uốn nắn của Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế  

From: KimBang Nguyen

NGÔI MỘ CÔ ĐƠN – truyện ngắn

Loc Teresa

Cách đây khá lâu vào năm 1988, trong tập san “Kiến Thức Ngày Nay” người ta có đăng một bài viết về “Ngôi mộ cô đơn”, câu chuyện kể về một linh mục giải tội, cốt truyện như sau:

Một tên cướp vào một đêm nọ đột nhập vào phòng cha xứ, hắn không lấy gì hết ngoại trừ chiếc áo dòng và đôi giầy của vị linh mục để mặc vào. Sau khi đóng giả là vị linh mục hắn đến nhà một người phụ nữ giàu có và lớn tuổi. Sau khi nhấn chuông hắn chờ đợi, từ trong nhà bà cụ nhìn qua lỗ cửa thấy bóng dáng một linh mục, bà an tâm mở cửa. Bà vừa mở cửa, tên cướp mau chóng tóm lấy bà và tra khảo tiền bạc của bà, sau khi lấy được của, hắn giết chết bà.

Hắn trở lại phòng của vị linh mục, lay ngài dậy và xin xưng thú tất cả những gì đã làm, trả lại áo dòng, đôi giầy và bỏ đi. Mấy ngày sau, người ta theo dấu vết khám phá ra vị linh mục chính là kẻ sát nhân. Người ta bắt ngài và kết án chung thân, ngài không thể nói điều gì thanh minh cho mình và vui lòng đón nhận bản án.

Án chung thân của ngài, được thực hiện tại một vùng đảo xa, chung quanh hòn đảo ấy đầy những đàn cá mập hung dữ. Ngày đầu tiên trên đảo, các tù nhân trên đảo, biết ngài là một linh mục chịu án sát nhân. Họ khinh thường sỉ vả người linh mục cách thậm tệ, người linh mục vẫn im lặng chịu vậy. Vài năm lao động cực khổ trôi qua, vì là người hiểu biết nhiều người ta giao cho ngài trách nhiệm coi phòng thuốc phát cho tù nhân. Ngài thực hành không giống như những người coi phòng thuốc trước đây, mỗi khi xin thuốc đều phải đút lót nhiều ít thì may ra mới lãnh được ít thuốc. Ngài chăm sóc bệnh nhân cách tận tình không vụ lợi, dần dần người ta không còn nhớ đến lỗi lầm của ngài khi mang bản án, có đôi khi người ta cũng thắc mắc, một linh mục nhân hậu như thế không thể là một tên sát nhân được.

Nhiều người trên đảo nhận ra ngài là một người cha đúng nghĩa, họ bắt đầu tuôn đến ngài không chỉ được chữa lành phần xác mà cả phần hồn. Nhiều năm sau, những ngày cuối đời của ngài, có một chiếc tàu từ đất liền chở ra những người tù chung thân mới, trên chiếc tàu ấy, có tên sát nhân năm xưa, hắn bị bắt quả tang giết người. Hắn đến đảo và sống trên đảo ấy, hắn nghe nói rất nhiều về câu chuyện của người linh mục phạm tội sát nhân, nhưng lại là người rất nhân hậu, hắn nhớ lại cái án chung thân khổ sai trước đây hắn đã tránh được khi đổ tội cho vị linh mục.

Hắn nghe nhiều điều qua tốt lành về ngài, lúc đầu hắn còn làm ngơ đi, nhưng không thể làm ngơ được mãi, bởi vì chính hắn cũng có một ngày, cần đến sự chăm sóc của vị lương y già. Ngài đã hết lòng chăm sóc hắn như người con. Xúc động vì việc ngài làm cho hắn, hắn đã tự thú tất cả những điều hắn đã gây ra trước đây và minh oan cho vị linh mục. Mọi người nhận ra sự thật, nhưng cũng là những ngày cuối đời của vị linh mục.

Trước khi ngài mất, ngài để lại chúc thư cho những người có quyền, xin tha án cho kẻ đã hại ngài, để hắn có một cơ hội phục hồi nhân cách và sống những điều tốt đẹp mà hắn chưa từng sống. Ngài đã qua đời trong sự an bình giữa những vòng tay người thân yêu trên đảo. Theo thông lệ, những xác của tù nhân sau khi chết sẽ được thuỷ táng, nhưng đối với vị linh mục, người ta đề nghị xin được chôn cất ngài trên đảo. Một sự kiện duy nhất trện đảo, mà người viết lại câu chuyện này chính là người tù khổ sai sau khi được ân xá nhờ di chúc của vị linh mục, ông đã đặt tên cho cuốn sách là “Ngôi mộ cô đơn”.

Để có người linh mục như câu truyện, chắc cũng nhờ đến rất nhiều đến những hy sinh, lời cầu nguyện của người tín hữu. Càng qua nhiều năm sống đời linh mục lại càng nhận ra mình đón nhận rất nhiều ân tình của mọi người, tạ ơn không bao giờ hết. Xin ông bà anh chị em cũng cầu nguyện cho người linh mục của anh chị em và tha thứ cho những lầm lỗi, những phiền lòng khi gây những khó khăn mà anh chị em gánh chịu.

Linh mục cũng là một hối nhân, cũng là người cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuộc sống phủ bụi đi nhiều hình ảnh, dấu chỉ của Thiên Chúa nơi người linh mục, cần có những cuộc tĩnh tâm, những lần lau sạch để làm mới lại trong Đức Kitô. Xin ông bà anh chị em cầu nguyện cho người linh mục của anh chị em.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

nguồn: https://joshkimt.blogspot.com

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Trần Duy Sơn is with Son Tran.

Một thời gian ta dài tưởng đó là chân lý chễm chệ vị thế giảng đường sinh vật học với những bộ óc giáo sư kiệt xuất hậu thuẫn cho con vượn rụng lông hóa kiếp người.

Theo thời gian hóa ra phi lý tỏ tường .

Chỉ là Thuyết thôi mà, Darwin nào có tội

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Người Việt trong nước cuối cùng đã lên tiếng rất nhiều về xe VinFast

Sự thật không thể che dấu nhất là về phương diện kỹ thuật, sự gian dối khi bị công chúng khám phá thì sẽ bị ghét bỏ và tẩy chay.

Đó là lý do chính làm cho xe VinFast bị ghét và chê trách quá thê thảm ở trong nước.

Tâm sự của một khổ chủ mới mua xe có 12 ngày, rất tội nghiệp:

  • Nói chuyện muốn khóc luôn.
  • Xe dán băng keo từ nhà sản xuất nguyên thủy.
  • Vì lý do gì mà các nạn nhân đã cả tin VinFast để rồi phải khổ như vậy? Chủ xe trả lời luôn.

Các người sắp mua xe nên xem clip này, vì được biết các kinh nghiệm rất đau lòng của các nạn nhân xe Vin Phét.

Khi Pin bị nóng chớ chạy xe trên xa lộ, rất nguy hiểm vì tốc độ bị  chậm còn chỉ có 21Km/h.

Ba tháng trước đây, có một người Singapore đang làm việc ở Việt Nam, ông Tom Peng mua xe VF8 để chạy thử, xe đã bị lỗi chết máy dọc đường và phải nằm ụ ở trạm sửa của VinFast hàng tuần lễ.

Đến nay, khi ông hào hứng mua xe VF9 cao cấp hơn vì họ (VinFast) đã rút tỉa kinh nghiệm kỹ thuật phần mềm nhiều hơn,  theo cách nói khuyến dụ của hãng Vin, chạy được mới có vài tuần thì xe mới cũng lại bị chết máy trong lúc đậu (cũng may không bị chết máy trên xa lộ như người khác)…

Mời Bạn nghe ông phàn nàn:

 

Chuyện gì sẽ tới trong tương lai gần: Một nghĩa địa cho xe VinFast.

Mời bạn đọc bài về nghĩa địa cho xe dỏm ở Trung Quốc và Việt Nam

 

Một Người Cộng Sản tương đối tỉnh táo nói gì về thành quả Cộng Sản sau 25 năm với 5 lần Đại Hội Đảng

Ông Nguyễn Bá Thanh nói Hàn Quốc chỉ cần 25 năm là họ dư sức chuyển mình từ đất nước nông nghiệp sang công nghiệp,  còn Đảng Cộng Sản 25 năm thì … Không làm được bao nhiêu, càng yếu kém và phức tạp hơn.

Còn gì là đất nước Việt Nam ta!

Cám ơn một người Cộng Sản can đảm và tự chuyển biến.

Điều vô cùng thiệt thòi cho nước Việt Nam là ông Nguyễn Bá Thanh đã bị Cộng Sản ta, Cộng Sản Tầu thuốc chết!

Bản án chết đương nhiên phải đến từ Cộng Sản Trung Ương cho người yêu nước Nguyễn Bá Thanh, nhưng mà tội cho tương lai dân tộc của tôi.

Hy vọng sẽ còn các Nguyễn Bá Thanh, Võ văn Kiệt tự chuyển biến  trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, mong mau có Gorbachev ở đảng Cộng Sản Việt Nam cho dân tộc Việt Nam được hết lầm than.

10 bí quyết sống hạnh phúc của Đức Thánh Cha Phanxic

Đức Thánh Cha từng đưa ra 10 chỉ dẫn để mang lại niềm vui cho cuộc sống của mình như sau:

  1. “Sống và hãy sống”. Tất cả mọi người nên làm theo nguyên lý này. Ở Rôma có một câu nói thời danh tương tự: “tiến lên và giúp người khác tiến lên.”
  2. “Hãy trao ban bản thân cho người khác.” Mọi người cần mở ra và quảng đại với người khác. Nếu bạn co cụm vào chính mình, bạn có nguy cơ trở thành ích kỷ. Nước không thông sẽ trở nên hôi thối.
  3. “Giữ điềm tĩnh trong cuộc sống.” Đức Thánh Cha, sử dụng hình ảnh nước trong một cuốn tiểu thuyết của Ricardo Guiraldes, Argentina, trong đó nhân vật chính Gaucho Don Segundo Sombra nhìn lại cuộc sống của mình như sau: “Tuổi trẻ tôi sống sôi động như một dòng thác lũ; khi trưởng thành nó trôi đi như một dòng sông, và khi tuổi già nó lặng lẽ như mặt hồ.” ĐTC nói rằng, ngài thích hình ảnh của mặt hồ vì “nước trôi cách tử tế và khiêm nhường, một sự điềm tĩnh trong cuộc sống.”
  4. “Một cảm thức về nghệ thuật.” Tìm niềm vui nơi nghệ thuật, văn học và vui chơi với con cái. Ngài nói “Xã hội tiêu thụ làm cho chúng ta lo lắng quá nhiều và căng thẳng, khiến mọi người mất đi một “nền văn hóa lành mạnh của giải trí.” Thời gian dường như “nuốt chửng” con người để rồi họ không còn có thể chia sẻ cho nhau được nữa.

Dù các bậc cha mẹ làm việc nhiều giờ, nhưng phải dành thời gian để chơi với con cái; ngài nói: lịch làm việc dầy kín, nhưng bạn phải dành thời gian cho con cái. Các gia đình cũng phải tắt TV để trò chuyện khi ngồi ăn chung với nhau. Dù truyền hình rất hữu ích cho việc cung cấp thông tin nhưng “không thể thay thế việc giao tiếp” với nhau.

  1. “Nghỉ ngơi ngày Chủ nhật.” Công nhân còn được nghỉ ngày Chủ nhật vì vậy “Chủ nhật là dành cho gia đình”.
  2. “Tìm những sáng kiến để tạo công ăn việc làm tốt cho người trẻ.” Chúng ta cần giúp cho người trẻ có công việc. Nếu người trẻ không có cơ hội làm việc sẽ dễ đi vào nghiện ngập, dễ bị tổn thương đưa đến việc tự sát. Tạo công việc cho họ không chưa đủ. Cho họ nhận ra phẩm giá từ đôi bàn tay lao động của chính mình.
  3. “Tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên.” Suy thoái môi trường là một trong những thách đố lớn nhất của chúng ta. Tôi nghĩ đến một câu hỏi mà chúng ta phải chất vấn luôn mãi là: Con người sẽ tự hủy diệt mình bằng việc sử dụng bừa bãi và độc tài trên thiên nhiên?
  4. “Ngăn chặn tiêu cực.” Nói xấu về người khác là hạ thấp lòng tự trọng của mình. Mang nghĩa là: Tôi cảm thấy yếu kém thay vì tự thân vươn lên tôi hạ người khác xuống bằng cách nói những điều tiêu cực về người khác.
  5. “Không chiêu dụ người khác theo tôn giáo; tôn trọng niềm tin của người khác.” Chúng ta có thể truyền cảm hứng cho những người khác bằng việc làm chứng để cùng lớn lên qua sự liên hệ giao tiếp. Nhưng điều tồi tệ là chiêu dụ người khác theo tôn giáo mình. Đừng bàn chuyện để thuyết phục người khác. Mỗi người có một bản sắc và cá tính riêng của mình. Giáo Hội phát triển nhờ sự ảnh hưởng chứ không phải là chiêu dụ người khác theo đạo.
  6. “Kiến tạo hòa bình.” Chúng ta đang sống vào thời điểm của nhiều cuộc chiến, lời kêu gọi hòa bình phải được la lên. Hòa bình đôi khi cho cảm giác là tĩnh lặng, nhưng không phải là thụ động hòa bình luôn luôn là chủ động và năng động.

Lm. Trương Hoàng Vũ DCCT

Niềm Vui Tin Mừng

Nhân bi kịch ở Đăk Lăk, nhắc lại đôi điều “ôn cố tri tân”

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn

18-6-2023

Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngồi) và anh trai là Giám mục Ngô Đình Thục (áo đen) trong một buổi lễ đón năm mới ở Tây Nguyên năm 1957. Ảnh: John Dominis/LIFE

Tôi muốn gọi những biến động vừa xảy ra ở Daklak (xưa viết là Darlac) là một bi kịch, bi kịch trong mối quan hệ giữa những tộc người đã chung sống với nhau hàng ngàn năm qua, từ khi “nước sông không phạm nước giếng” đến những năm dài chan hòa cuộc sống, và gần đây là những trận đụng độ kinh hoàng.

Lịch sử ghi chép rằng, cho đến thời các chúa Nguyễn, nơi sinh sống của các tộc người trên Tây Nguyên ngày nay vẫn được gọi là “nước”. Năm 1751, đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, (trích) “Thủy Xá, Hỏa Xá vào cống. Hai nước ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía Tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía Đông núi, vua Hỏa Xá ở phía Tây núi. Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp giới với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến. Tới đây, sai sứ sang cống. Chúa hậu tứ rồi cho về”. (Hết trích) – (Đại Nam thực lục – Tập một – NXB Giáo Dục 2002, trang 157).

Xem như thế, thấy rằng thời các chúa Nguyễn, chúa chủ động thể hiện tình lân bang bằng cách cho mang quà tặng hảo trước cho những sắc tộc sống ở Tây Nguyên ngày nay. Đó là cách thu phục chính danh nhất của kẻ bề trên, khiến người dưới chiếu cảm kích mà tuân phục. Năm 1794, dù cho cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang hồi gay cấn, song khi vua Thủy Xá ở Tây Nguyên lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh vẫn không quên ban phẩm vật cho, và vị vua này đã “sai man thuộc đến thông hiếu ở thượng đạo Phú Yên, xin làm phiên thuộc và xin ban ơn cho” (Đại Nam thực lục – sđd, trang 311).

Năm 1803, khi vua Gia Long đã thống nhất đất nước, vua hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá lại sai sứ đến quy phục tại Phú Yên, vua lại sai ban phẩm vật cho (ĐNTL, sđd, trang 556). Mối quan hệ hữu hảo đó kéo dài cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm dưới ách đô hộ của người Pháp.

Về phần người Pháp, có lẽ do còn phải đối phó với nhiều biến động dưới đồng bằng nên gần như trong suốt thế kỷ XIX, họ không quan tâm lắm đến vùng gọi là Tây Nguyên ngày nay. Song các giáo sĩ phương Tây thì không thế. Ngay vào năm 1848, nghĩa là hơn 10 năm trước khi Pháp áp đặt chế độ thuộc địa cho Việt Nam, một số giáo sĩ Pháp như Combes, Fontaine đã lặn lội lên vùng này, cất chòi sống chung đụng với người Bahnar để thực hiện sứ mạng truyền đạo do Giáo hội La Mã giao phó.

Sự chung đụng gợi ra nhiều nghi kỵ cho người bản địa, song sau một trận dịch đậu mùa, các giáo sĩ tiêm chủng cho họ và cứu mạng nhiều người, mối quan hệ giữa hai bên dần tốt đẹp lên. Việc giảng đạo đạt kết quả, các giáo sĩ dạy cho người bản địa cách cày bừa, trồng lúa và trở thành cố vấn cho họ về nhiều mặt của đời sống. Năm 1854, có 4 giáo sĩ Pháp bị triều đình Huế truy sát, họ lang thang trong rừng nhiều ngày, sau được người Bahnar cứu thoát (Lê Nguyễn – Cuộc phiêu lưu của Marie Đệ nhất, quốc vương xứ Sedang – NXB Tổng hợp TPHCM 2019, từ trang 49).

Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số vẫn diễn ra tốt đẹp. An Khê, khu vực địa đầu của tỉnh Bình Định, trở thành một trung tâm thương mại nhỏ, nơi người Việt dưới đồng bằng mang hàng hóa, thực phẩm lên để đổi lấy thổ sản vùng cao. Ca dao thời ấy có câu:

Ai về nhắn với nậu nguồn,

Măng le gùi xuống, cá chuồn chở lên.

Người miền xuôi (người Kinh) mang lên muối, các loại hải sản (cá, tôm, cua..), kim loại (thiếc, đồng…) đổi lấy thổ sản miền ngược (Tây Nguyên ngày nay) như gạo, thuốc lá, sáp ong, mật ong, sừng tê giác… Chuyện mua bán, đổi chác giữa hai tộc người hầu như không thấy gì bất ổn xảy ra.

Về phần thực dân Pháp, có thể nói trong suốt thế kỷ XIX, họ không bận tâm đến vùng Tây Nguyên. Trừ một trường hợp vào năm 1888, khi Toàn quyền Đông Dương Constans nhận được tin một đoàn khảo sát người Đức đang tiếp xúc với chính quyền Xiêm (Thái Lan) và Ai Lao (Lào) về nhiều điều chưa được biết rõ. Ông ta lo ngại là những người Âu này sẽ dòm ngó vùng Tây Nguyên và khống chế hay chiếm hữu nó, vì thế, đã nhờ một tay viết báo thích phiêu lưu mạo hiểm tên David de Mayréna lên Tây Nguyên, kết hợp các bộ tộc chính như Bahnar, Djarai, Sedang… đặt dưới sự quản lý hay ít ra cũng dưới sự chi phối của chính quyền Pháp.

Nhờ tài ứng biến, sự lanh lợi và may mắn, De Mayréna hoàn thành mỹ mãn sứ mạng được giao phó, song sang đến viên Toàn quyền kế nhiệm Constans là Richaud, có lẽ vì thấy sự lo ngại của Constans đã không xảy ra, phần khác, do De Mayréna làm nhiều việc không bình thường trên cái gọi là “vương quốc Sedang” mà đang từ kẻ có công lớn, De Mayréna trở thành kẻ tội đồ.

Mãi đến những năm đầu thập niên 1890, sau khi nhà bác học Yersin tìm ra cao nguyên Langbian (Lâm Viên), căn cứ vào tình trạng khí hậu và thổ nhưỡng tốt của vùng đất này, chính quyền Pháp quyết định biến nơi đây thành nơi nghỉ dưỡng của bọn thực dân da trắng.

Năm 1904, một biến động lớn xảy ra. Người bản địa dưới quyền hai quốc vương Thủy Xá và Hỏa Xá phản ứng lại chính sách trực trị của người Pháp đang manh nha trên lãnh thổ họ. Họ mời viên công sứ Odend’han đến ăn yến rồi mai phục hạ sát ông này cùng 7 người giúp việc (Đại Nam thực lục chính biên – Đệ lục kỷ phụ biên – NXB Văn hóa-Văn nghệ 2011, trang 419, cùng một bài viết của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy). Từ đó, thực dân Pháp xóa sổ hai vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá.

Nhiều người trong chúng ta biết rằng, vào thời Pháp thuộc, người Kinh gọi người sống ở vùng Tây Nguyên ngày nay là “Mọi”. Lớp người sinh trưởng tại miền Nam vào thập niên 1940 trở về trước thường nghe cụm từ “mọi cà răng căng tai” dùng để chỉ người miền Thượng, vì nhiều tộc người cà cho hàm răng của họ ngắn lại, đeo những chiếc vòng nặng trĩu trên tai, khiến dái tai họ to ra và trĩu xuống.

Từ cách gọi của người Kinh, người Pháp cũng gọi họ là Moi hay Mois.

Từ “mọi” gợi ra một cái gì đó thấp kém, lạc hậu và dã man nữa. Thời Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm chỉ gọi họ là “mọi”, mà gọi là “người Thượng”, thậm chí là “đồng bào Thượng”. Từ “đồng bào” có lẽ được sử dụng với một nghĩa bao quát hơn, chỉ những tộc người sống thành một cộng đồng rộng lớn bên dưới đại lục Trung Hoa. Từ đó, khẩu hiệu “Kinh-Thượng một nhà” rất phổ biến trên các biểu ngữ, các phương tiện truyền thông.

Song song với hai từ Kinh-Thượng, về mặt lãnh thổ lúc bấy giờ, miền Trung được chia thành hai vùng rõ rệt là vùng “cao nguyên Trung Phần”, tức khu vực của người Thượng và “duyên hải Trung Phần” của người Kinh, từ Qui Nhơn-Bình Định trở về hướng biển.

Cuối những năm 1950, có lẽ do bận rộn với việc định cư và cung ứng các điều kiện sinh sống của gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam mà chính quyền Ngô Đình Diệm có những sơ hở về mặt quản lý các đồng bào sắc tộc. Năm 1958, một tổ chức có chủ trương chống chính quyền ra đời có tên BaJaRaKa, với sự kết hợp của bốn sắc tộc khác nhau là Bahnar, Jarai (hay Djarai), Radhés, Kaho đã gửi thư đến các sứ quán Pháp, Mỹ và đại diện Liên Hiệp Quốc, tố cáo những hành vi phân biệt sắc tộc của chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa và yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.

Đầu những năm 1960, quan hệ giữa VNCH và chính quyền Cambodge (Campuchia) gặp nhiều rắc rối, đi đến chỗ bế tắc, hai bên rút Đại sứ về và chỉ quan hệ với nhau ở cấp thấp hơn (Đại lý Đại sứ). Năm 1964, với sự hỗ trợ tinh thần của quốc vương Campuchia Sihanouk, các tổ chức bất đồng với chính quyền VNCH liên kết lại thành một tổ chức thống nhất, lấy tên Pháp là Front unifié pour la Libération des Races Opprimées (Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức), viết tắt là FULRO.

Sau thời điểm này, chính sách của chính quyền VNCH đối với người thiểu số vùng cao đã có những cải tiến rõ rệt, về lượng cũng như về chất. Thông thường ở vùng đồng bằng, cơ cấu chính quyền cấp tỉnh có hai Phó Tỉnh trưởng là Phó Tỉnh trưởng Hành chánh và Phó Tỉnh trưởng Nội An (chức vụ sau bị bãi bỏ từ năm 1966). Tại các tỉnh cao nguyên Trung Phần, chính phủ VNCH đặt thêm chức Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ, phụ trách các vấn đề liên quan đến đời sống của đồng bào Thượng. Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum đầu tiên là ông Paul Nưr, một thành viên trong các tổ chức chống đối trước đây. Dưới cấp tỉnh, ở cấp Quận, cũng có những ban sắc tộc do các công chức hay quân nhân người gốc Thượng đảm trách.

Không chỉ về mặt quản lý hành chánh, về mặt luật pháp, chính quyền VNCH cũng quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng người thiểu số có lý tới phong tục, tập quán của họ. Ngay từ năm 1929, thực dân Pháp đã cho thành lập các “Tòa án tập quán” ở các cấp Tỉnh, Quận, Xã nhằm để cho người Thượng xét xử người Thượng, xét xử căn cứ vào tín ngưỡng của các bộ tộc.

Sang thời VNCH, năm 1965, chính phủ cho thiết lập các “Tòa án phong tục” trên cao nguyên Trung phần, hoạt động như các Tòa án tập quán thời Pháp, chỉ có khác là Tòa án tập quán là một tổ chức hành chánh, còn tòa án phong tục là một tổ chức tư pháp hẳn hoi (Nguyễn Trắc Dĩ – Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) – Sài Gòn 1972, trang 155-160)

Những cải tiến về các chính sách nêu trên giúp nhiều người Thượng có học vấn tham gia thiết thực vào việc điều hành công vụ của chính quyền VNCH. Tiêu biểu là ông Touneh Hàn Thọ, cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh, vào những năm 1969-1970, từng được cử vào học trường Cao đẳng Quốc phòng, chung với nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội, thông thường ở cấp Đại tá. Năm 1970, ông Touneh Hàn Thọ ra trường Cao đẳng Quốc phòng với luận văn nhan đề “Quan niệm về sở hữu đất đai và thực trạng sinh kế của các sắc dân Thượng”.

Vào nửa đầu thập niên 1970, ông Hàn Thọ được cử giữ chức vụ Tổng Thư ký Bộ Phát triển sắc tộc, một cơ quan quan trọng được thành lập ngay vào năm đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng hòa (1967). Đến lúc đó, sự tham gia của đồng bào Thượng vào chính quyền đương nhiệm là một việc làm có thực chất, không mang màu sắc tuyên truyền hay mị dân. Có những người được bầu vào Quốc Hội, vào bộ máy chính quyền, tiêu biểu là Bộ Phát triển sắc tộc. Người đầu tiên lãnh đạo bộ này chính là ông Paul Nưr, nguyên Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum.

Năm 1975, khi trở thành tù cải tạo, người viết bài này từng sống chung nhà, chung đội với nhiều đồng bào Thượng từng là dân biểu, viên chức cao cấp của Bộ Phát triển sắc tộc. Họ rất hiền hòa, sống chan hòa với các bạn tù người Kinh, đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhớ người bạn tù hiền lành Touneh Yơh, một con người luôn vui vẻ, cười đùa với mọi người và cư xử với bạn tù một cách chân tình nhất.

Ngay sau tháng 4.1975, chính quyền mới của những người thắng cuộc đã đưa nhiều đồng bào miền Bắc đến Lâm Đồng (tên cũ là tỉnh Tuyên Đức) để lập nghiệp. Chính sách di dân là hệ quả tất yếu của sự phát triển dân số, khiến vùng này có mật độ dân cư quá cao, dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi về xã hội, vùng khác mật số dân số thấp, đất đai, rừng núi chưa được khai thác đúng mức.

Tuy nhiên, chính sách di dân hay giãn dân nếu không được thực hiện xuyên suốt, có quan tâm đến quyền lợi, đời sống văn hóa, xã hội của người bản địa, sẽ dễ trở thành chính sách tàm thực (tằm ăn dâu) và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Điều lo lắng này không phải là không có cơ sở, cùng là đồng bào, đồng chủng với nhau, chung một tổ tiên, nòi giống, mà sau gần 50 năm, giữa người thắng cuộc và kẻ thua cuộc vẫn còn những khoảng cách nhất định, về mặt tâm thức cũng như quan điểm chính trị, thì nói gì đến mối quan hệ giữa chính quyền với đồng bào thiểu số Tây nguyên từng vùng lên tranh đấu dưới thời VNCH.

Chính sách di dân theo kiểu “tằm ăn dâu” khiến người các sắc tộc thiểu số dễ có cảm giác đất đai của tổ tiên họ ngày bị thu hẹp dần, nhiều quyền lợi căn cơ có nguy cơ bị tước đoạt, đời sống không được cải thiện theo đúng xu thế một đất nước đã thống nhất gần 50 năm trời…

Trong trường hợp đó, nếu chính quyền địa phương cai trị thiếu sự chân tình hay có nhiều sơ hở trong các biện pháp quản lý xã hội thì cái ngòi nổ trong quả bom bất mãn dễ dàng bị kích nổ. Khi người thiểu số sống trong một tâm trạng như thế thì dù có “thế lực thù địch” đứng đàng sau hay không, những hậu quả bất lợi cũng dễ dàng xảy đến.

Trong những ngày qua, đọc tin về việc đồng bào Nghệ An, Thanh Hóa… vây bắt được nhiều người dính líu tới bi kịch vừa xảy ra, không ít người trên mạng xã hội bày tỏ sự… bất ngờ. Bất ngờ vì sự tham gia, chủ động của những cư dân từ phương xa đến lập nghiệp trên vùng đất Tây nguyên.

Từ sự bất ngờ đó, họ dễ dàng suy diễn đến nhiều tình huống khác. Việc xây dựng đường dây điện Bắc-Nam, đường Hồ Chí Minh, với những lợi ích nhãn tiền hẳn nhiên là dễ dàng thuyết phục người thiểu số Tây Nguyên, mất bao nhiêu đất họ cũng dễ dàng hứng chịu. Song còn sự hiện diện quá nhiều người từ các địa phương khác đến, liệu tác động thế nào đến người bản địa? Điều đó, có ai thực hiện những cuộc điều tra tỉ mỉ và khả tín, để có thể giúp đưa ra những quyết sách có tình, có lý, hợp với tính nhân bản vẫn là cốt cách của dân tộc này?

Trở lại chuyện cách nay hơn 50 năm, sau những rối loạn ở Tây Nguyên vào nửa sau thập niên 1950 và nửa đầu thập niên 1960, chính quyền VNCH đã có những cải tiến rõ rệt trong chính sách đối với đồng bào thiểu số, tiêu biểu là các tòa án phong tục, các định chế quốc gia có sự tham gia của người Thượng, một cách tích cực và có thực chất, thì liệu chính quyền hiện nay có cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của họ hay không?

Trong lịch sử hiện đại, một anh hùng Núp chỉ có công lớn với người thắng cuộc, trong công cuộc “chống Mỹ cứu nước”. Song anh hùng cũng năm bảy kiểu anh hùng, sau 1975, đồng bào Tây Nguyên cần có thêm nhiều anh hùng khác, góp phần thiết thực, mang lại cơm no áo ấm cho họ, kéo họ lên khỏi đáy vực của u mê, tăm tối, bảo tồn cho họ di sản đất đai, văn hóa do tổ tiên họ để lại. Có như thế, họ mới sẽ dễ dàng hợp tác với chính quyền, không một “thế lực thù địch” nào dám bén mảng đến gần họ.


 

Diễn tiến mới nhất vụ Người Ê Đê tấn công hai đồn Công An ở Ea Tiêu và Ea Ktur

Lời thú tội của kẻ bị coi là cầm đầu nhưng không giống như một người cầm đầu.

YouTube player

Vậy Người Cầm Đầu thực sự là ai?

Mời Các Bạn xem Video sau của Luật Sư Nguyễn Văn Đài:

Đâu là nguyên nhân chánh của mọi đau khổ của Đồng Bào Các Dân Tộc ở  Việt Nam

Phân tích thực hư của Phil Dong:

  • Mâu thuẫn Kinh Thượng đã xảy ra từ nhiều đời qua.
  • Sự áp bức của Cán Bộ và người di cư miền Bắc vào đã dồn đồng bào Ê Đê vào con đường cùng.
  • Hy vọng sau vụ việc này Cộng Sản tỉnh ngộ hơn một chút và nghiên cứu các nguyên do sâu xa dẫn đến sự cuồng trí của đồng bào thiểu số bị áp bức và dồn họ đến con đường cùng.