EM BÉ TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG NĂM XƯA.

Em bé Trần thị Ngọc Bich trên đại lộ Kinh Hoàng năm xưa

Thanh Phong – Thời Báo

Đại lộ kinh hoàng ở Quảng Trị Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 - Highway of Horror in ...

 

Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới .

 

EM BÉ TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG NĂM XƯA.

Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.

Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ.

Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo. Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.

 

Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH, luôn đặt Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết.

 

 

 

     

Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị) thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt.

Trân khắc Báo khi còn là một người lính trẻ miền Nam Việt Nam.

Ảnh của BAO TRAN / ANH DO

Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn: “Trần Khắc Báo. Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!”.
Ông cố nài nỉ: “Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.”
Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa: “Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?”

Vietnam War 1972 - MỸ CHÁNH - Photo by Richard Blystone | Flickr

Người ôm vòng chiếc nón lá nói: “Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.”

Nói xong anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho thiếu úy Báo.
Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi: “Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần ‘Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm’ nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: ‘Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.’”

Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao?

Người tài xế tên Tài trả lời: “Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.”
Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC. Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói: “Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.”

Ông này nhìn ông Báo cười và nói: “Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!”. Ông Báo thanh minh: “Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.”

Thiếu tá Nhiều bảo: “Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.” Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông: “Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.”

Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích.

Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 ông được thả về. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuquerque, tiểu bang New Mexico…

EM BÉ MỒ CÔI GẶP MAY MẮN

Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899.

Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.
Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào cuối năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng.

James Mitchell cùng sơ Angela Nguyễn và em bé Trần Thị Ngọc Bích (Precious Pearl). Mitchell đã nhận nuôi đứa trẻ sơ sinh và đưa cô bé đến Hoa Kỳ vào năm 1972. Ảnh Kimberly Mitchell.

James Mitchell cùng sơ Angela Nguyễn và em bé Trần Thị Ngọc Bích (Precious Pearl). Mitchell đã nhận nuôi đứa trẻ sơ sinh và đưa cô bé đến Hoa Kỳ vào năm 1972. Ảnh Kimberly Mitchell.

Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?

                                Ông Báu diễn tả lại hoàn cảnh lúc cứu em bé sơ sinh cho Kimberly Mitchell nghe.

Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.
Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố: “Con muốn biết con là người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”

Bố nuôi James giải thích cho cô: “Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”

Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân. Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học. Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài.

Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương với tư cách một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân. Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC. Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết:

“Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”

Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website về câu chuyện của mình.

GẶP LẠI CỐ NHÂN

Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:

“Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”

Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.

Ở nhà ở Albuquerque, Bảo Trần xem album ảnh Kimberly Mitchell làm cho anh và gia đình (Anh Đỗ / Los Angeles Times)

Ở nhà ở Albuquerque, Bảo Trần xem album ảnh Kimberly Mitchell làm cho anh và gia đình (Anh Đỗ / Los Angeles Times). Ảnh của:THỜI BÁO LA

Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.

Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8.2012. Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào Thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.

GIÂY PHÚT XÚC ĐỘNG

Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt. Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell: “Cô đến đây tìm ai?”. Cô trả lời: “Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”

Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu: “Đây là ông Trần Khắc Báo.”

Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.

Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo: “Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”

Ông Trần Khắc Báo nói: “Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.” Và Kimberly Mitchell đã gọi “Tía”. Ông nói với chúng tôi: “Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”

Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.

Graduating from USNA

Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có hai cái may. Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi. Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.”

Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.

THANH PHONG

Nguồn: THỜI BÁO (The Vietnamese Newspape)

From: Phi Phuong Nguyen

Lời Bàn của Kẻ đi tìm:

Chính nghĩa VNCH và tinh thần cao cả của Quân Lực VNCH được minh họa rõ ràng qua câu chuyện của Trần Thị Ngọc Bích – Kimberly Mitchell

 

 

 

 

 

 

1

Tấm lòng bảo vệ dân chiến đấu vì dân của một chiến sĩ trong QLVNCH đã cớ kết quả tốt đẹp trong câu chuyện này. Em bé sơ sinh trên đại lộ “Kinh Hoàng” được cứu sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng của cuộc rút lui di tản chiến thuật từ Quảng Trị về Mỹ Chánh, Đông Hà. Dù quá khó khăn nguy hiểm nhưng tấm lòng nhân của thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến Trần khắc Báo còn lơn hơn sự an nguy của chính mình.

 

2

Một người lính Hoa Kỳ khi mãn hạn về nước đã cưu mang em bé mồ côi xuất xứ từ đại lộ Kinh Hoàng.

Tấm lòng quảng đại vô vị lợi của người dân Hoa Kỳ sát cánh bên người dân Miền Nam, vốn lúc đó, đang chịu sự xâm lấn của chủ nghĩa ngoại lại Cộng Sản Marx – Lenin qua bàn tay nhuốm máu của lính Bắc Việt. 

 

 

 

3

Mong cho một ngày chính nghĩa VNCH được rạng ngời trên quê hương còn đang trong quá trình hòa giải, khi mà vào lúc này đang có một bộ phận cán bộ trong đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là cán bộ ở Miền Nam như ông Võ văn Kiệt, họ bắt đầu coi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng, huynh đệ tương tàn chứ không phải là cuộc chiến đấu thần thánh chống thực dân mới như họ từng lầm lẫn.

 

Thi hành án hay giết người?

Ba’o Tieng Dan

26-9-2023

May be an image of 3 people, mango and text

Mấy nghìn ngày bị đày đoạ, nếu không oan thì một người tử tù phải kêu oan để làm gì? Nếu không oan mà kêu oan thì cũng chính là làm khổ gia đình vốn đã quá khổ của mình. 7 phiên toà mở ra, bao lần bị bác vì chứng cứ, lời khai không lo-gic vậy mà vẫn đang tâm thi hành án.

Với tôi, đây là một vụ giết người chứ không phải thi hành án. Lần nào ra toà, Lê Văn Mạnh cũng phản cung, tố cáo việc bị đánh đập, ép cung, chứng cứ duy nhất là cái quần đùi bị rách, Mạnh xấu hổ bỏ đi sau khi lặn tìm bé gái nghi bị đuối nước và bức thư ép phải viết khi bị đánh đập trong tù.

Lá đơn dưới đây do tử tù Lê Văn Mạnh viết vào khoảng tháng 9/2014.

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN XIN THI HÀNH ÁN

Kính gửi: Ông Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Họ tên tôi: Lê Văn Mạnh.

Sinh ngày: 25-12-1982.

Sinh trú quán: Thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 9/12.

Ngày 20/4/2005 tôi đã bị Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa bắt tạm giam với hai tội danh hiếp dâm và giết người.

Án phạt: Tử hình.

Hiện nay tôi đang bị giam giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.

Sau đây tôi xin trình bày nội dung đơn xin thi hành án.

Kính thưa ông Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tôi bị bắt oan về hai tội hiếp dâm và giết người. Qua 3 lần xét xử sơ thẩm, 3 lần phúc thẩm, 1 lần giám đốc thẩm tuyên hủy án, 1 lần không chấp nhận đơn xin giám đốc thẩm của tôi. Hiện tôi đã có gửi rất nhiều lá đơn kêu oan lên các cơ quan có thẩm quyền của pháp luật và cũng đã có gửi nhiều đơn kêu oan lên ông Chủ tịch nước. Và cũng đã có gửi đơn xin xử tái thẩm nhưng đã mấy năm không thấy tin tức gì.

Kính thưa ông Chủ tịch nước, bản thân tôi không gây nên tội lỗi mà phải chịu nỗi oan này gần 10 năm qua.

Vâng! Thưa ông Chủ tịch nước, đó là cả một quá trình dài, rất dài và toàn thể gia đình tôi đã phải gánh chịu sự thống khổ do nỗi oan sai này gây ra.

3433 ngày đêm tôi bị đày đọa thân xác, tâm hồn trong căn buồng biệt giam cùm kẹp suốt ngày đêm. Thân xác tôi ngày đêm đau nhức không sao chịu nổi. Sức chịu đựng của con người là có hạn và đến ngày hôm nay thì sự thống khổ này, sự đau đớn này đã vượt ra ngoài sự chịu đựng mà con người tôi có thể chịu đựng được. Sắt thép ép mãi cũng cong, phải gãy, huống gì tôi là con người bằng da bằng thịt. Và đến ngày hôm nay vì nỗi oan này của tôi mà đến ngày hôm nay gia đình tôi tan nát không còn gì cả.

Gia đình tôi vốn đã nghèo khó lại còn phải cưu mang tôi ở trong tù này. Nay càng trở nên vô cùng khó khăn, làm tôi càng thêm đau đớn biết bao khi bố mẹ sinh thành, các em, các con tôi ngày ngày phải sống trong đói rách tất cả chỉ vì nỗi oan của tôi gây ra.

Kính thưa ông Chủ tịch nước, là con người ai chả muốn được sống. Con chó, con mèo là giống súc sinh còn muốn sống, huống gì tôi mang thân phận một kiếp người. Nhưng hôm nay đây tôi phải viết lá đơn này kính gửi lên ông Chủ tịch nước để xin được chết thì ông hiểu được rằng sự thống khổ mà nỗi oan sai này gây ra cho tôi khủng khiếp như thế nào.

Qua những lần gia đình thăm tôi có cho tôi biết tình hình những vụ án oan đã được minh oan hoặc chưa được minh oan như vụ Nguyễn Thanh Chấn và một vụ án của anh Long – ở tỉnh Bắc Giang cũng mang án tử hình và vụ vườn mít của Lê Bá Mai ở tỉnh Bình Phước và vụ án oan của chính bản thân tôi thì tôi thấy rằng các vụ án oan này đều xảy ra vào khoảng năm 2004-2005 và cũng có những điểm rất giống nhau đó là đều bị bắt oan, bị đánh đập, tra tấn dã man để ép cung và bắt phải nhận tội oan, bắt phải viết đơn tự khai, tự thú, bắt phải viết thư về cho gia đình để lấy làm bằng chứng.

Vụ án đã được xử đi xử lại nhiều lần mà không giải quyết dứt điểm được vụ án vì cơ quan pháp luật cố tình làm mọi cách để buộc tội oan cho chúng tôi và có thể nói vụ án của Nguyễn Thanh Chấn thì ông Chấn đã vô cùng may mắn khi được minh oan. Qua các vụ án oan này trên cả 3 miền Bắc – Trung – Nam của đất nước thì tôi thấy cách điều tra để tìm mọi cách buộc tội chúng tôi cho ký bằng được không cần biết đến đúng sai đã trở thành hệ thống dây chuyền trên cả nước rồi chứ không phải riêng tỉnh, thành nào.

Những vụ án được minh oan thì toàn là hung thủ thật sự của vụ án bị cắn rứt lương tâm mà đi đầu thú hoặc là bắt được thủ phạm thật sự của vụ án rồi thì mới bắt buộc phải cho mình oan thì hệ lụy của một vụ án oan là quá lớn. Nó không chỉ một cán bộ viên chức phải gánh chịu mà là nhiều con người trong 3 cơ quan công an – viện kiểm sát – tòa án nhân dân phải chịu trách nhiệm với nỗi oan sai đó.

Mà những vụ oan án có mức án tử hình như của tôi nếu được minh oan thì sẽ gây chấn động lớn với dư luận vậy thì ngành tư pháp Việt Nam sẽ như thế nào? Cho nên dù các cán bộ các cơ quan có thẩm quyền cho dù có biết chúng tôi bị chết oan thật sự thì cũng không ai đứng ra chủ trì để minh oan cho chúng tôi cả.

Cho nên chúng tôi chỉ sống và hy vọng vào lương tâm của con người. Hy vọng rằng lương tâm của những kẻ nào gây án thật sự thức tỉnh và ra đầu thú trước pháp luật để chúng tôi được minh oan. Nhưng tỷ lệ đó của sự thức tỉnh lương tâm đó là quá thấp, tỷ lệ chỉ có 1/tỷ thôi, tôi nghĩ vậy. Và tôi cũng đã hy vọng vào điều đó và đã rất cố gắng để chờ đợi trong 3433 ngày vừa qua và đã phải gánh chịu sự thống khổ vô cùng khủng khiếp này.

Khi vụ án oan được minh oan thì Quốc hội họp lên xuống, xã hội phẫn nộ càng lên án thì các vụ án oan như của tôi càng bị giấu nhẹm đi, càng bị dập đi không thương tiếc. Giờ đây khi tôi đã chết sớm đi một ngày, gia đình tôi sẽ vơi bớt đi gánh nặng một ngày.

Le Van Manh’s case - Dân Làm Báo

Gia đình kêu cứu cho anh Lê văn Mạnh

Sống trên đời chết không phải là điều đáng sợ nhất mà phải sống trong sự chờ chết mới là điều khủng khiếp nhất. Vậy mà tôi đã phải chịu cái sự khủng khiếp đó suốt 3433 ngày trời rồi.

Vậy nên tôi tha thiết cầu xin ông Chủ tịch nước cho tôi được chết một ngày gần nhất. Đã nhiều đêm tôi phải sống trong sự chán nản vô cùng và tự mình muốn tìm đến cái chết như các anh Cường, Biền. Họ cũng là tử hình như tôi nhưng đã không chịu được sự thống khổ trong môi trường biệt giam này mà treo cổ tự tử.

Nhưng mỗi lần tôi muốn tự tử chính bản thân mình thì tiếng trẻ thơ của 2 đứa con tôi lại vang lên trong đầu rằng “Bố ơi, đừng bỏ các con” làm cho người cha như tôi như đứt từng khúc ruột, như xát muối vào vết thương lòng tôi và tôi đã luôn tự nhủ là mình phải cố gắng.

'Hoãn thi hành' án tử hình Lê Văn Mạnh - BBC News Tiếng Việt

Triển vọng hợp tác quốc phòng VN-Hoa Kỳ – theo giáo sư Nguyễn mạnh Hùng

Theo RFA tiêng Việt       2023.09.18

sharethis sharing button

Bài học Đài Loan và Philippines cho Việt Nam trong quan hệ với MỹLãnh đạo hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ họp báo chung sau khi tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương hôm 10/9/2023 tại Hà Nội

 AFP

Tiếp theo phần trước, GS. Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ với khán thính giả RFA những suy nghĩ riêng về cách ứng xử của Việt Nam khi xử lý tam giác lợi ích “chiến lược, kinh tế, giá trị” với Mỹ. Ông dẫn hai ví dụ về Đài Loan và Philippines để cho thấy những cải cách quyết đoán và quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo hai nước có thể có những tác động như thế nào đến mối quan hệ thực sự giữa hai nước trong thực tế.  

RFA. Như Giáo sư nói Việt Nam hiện nay vẫn lo sợ Mỹ bỏ rơi. Trước đây Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Mỹ đánh Afghanistan rồi bỏ đi. Trước đây đánh Iraq rồi giữa chừng cũng bỏ về, để cho Iraq ngày nay tự xử với các nhóm loạn quân ở bên trong. Nhưng nhìn lại, ta thấy Mỹ có nhiều đồng minh mà họ không bỏ rơi, ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc. Mỹ hỗ trợ cho phát triển và chung thủy đến giờ. Có phải là những đồng minh hội tụ cùng lúc cả ba quyền lợi là chiến lược, kinh tế và giá trị thì sẽ không bị bỏ rơi hay không? Có phải một đồng minh nếu chỉ có lợi ích về mặt chiến lược thì sẽ bị bỏ rơi khi lợi ích chiến lược không còn? Một đồng minh của Mỹ thường bị bỏ rơi trong điều kiện nào và không bị bỏ rơi trong điều kiện nào?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Thực ra thì ba loại quyền lợi trên không phải ngang bằng nhau. Thứ nhất là chiến lược, thứ hai là kinh tế và thứ ba mới là giá trị. Điều bạn nói một phần nào đó là đúng, ít nhất đúng với trường hợp châu Âu. Ngược lại đối với Hàn Quốc thời Park Chung Hi rất độc tài nhưng Mỹ không bỏ rơi. Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch rất độc tài nhưng Mỹ không bỏ rơi.

Nhưng thời thế thay đổi thì chính sách Mỹ cũng thay đổi.

Khi Việt Nam hỏi tôi về vấn đề “bỏ rơi”, tôi có lấy ví dụ vấn đề Đài Loan: năm 1979 thì Đài Loan đã gần như bị Mỹ bỏ rơi. Lúc đó Carter đã điều đình với Trung Quốc, tiếp nối chính sách của Nixon. Đó là lúc Đặng Tiểu Bình sang Mỹ rồi về đánh Việt Nam. Mỹ chấp nhận Trung Quốc là một đối tác, một người để đối thoại. Trung Quốc là độc tài. Lúc đó Mỹ đã định bỏ Đài Loan. Trước hết, họ hạ thấp tầm của Đài Loan với chính sách chỉ có “một Trung Quốc”. Tất nhiên, trong thông cáo chung Hoa Kỳ – Trung Quốc khi đó cũng có thêm một câu để cứu Đài Loan: ủng hộ “một Trung Quốc” nhưng cũng ủng hộ sự thống nhất “trong hòa bình”. Câu này là cơ sở cho Đạo luật “Taiwan Relations Act” năm 1979, theo đó Mỹ phải giúp Đài Loan tự phòng thủ. Tức là họ chỉ tập trung vào vấn đề phòng thủ, không chấp nhận hai bên thống nhất bằng vũ lực. Lúc đó Mỹ đã rút quân tuần tra eo biển Đài Loan, sẵn sàng bỏ về bất kì lúc nào.

Pilipinas, aarestuhin pa rin ang mga mangingisdang Taiwanese na papasok ...

Ngay lập tức, ông Tưởng Kinh Quốc cải tổ, trở thành dân chủ. Khi cải tổ trở thành dân chủ thì trùng hợp với Mỹ về quyền lợi giá trị. Bạn nói đúng ở điểm đó là các quyền lợi về chiến lược đã khác nhau, nhưng quyền lợi giá trị trở nên giống nhau. Bất chấp chính sách của bên hành pháp, bên lập pháp Mỹ đã ủng hộ Đài Loan. Nếu như trước 1979 thì Đài Loan có thị trường còn Trung Quốc đại lục không có, thì sau 1979 đại lục cũng có thị trường như Đài Loan nhưng quy mô thị trường lớn hơn. Như vậy quyền lợi kinh tế thì Đài Loan sẽ không bằng được Trung Quốc, nhưng lúc này Đài Loan lại đem đến một quyền lợi khác là giá trị. Khi Trung Quốc phóng tên lửa qua eo biển Đài Loan vì giận dữ khi Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) tổ chức cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên năm 1996 thì ông Bill Clinton đã điều động hai hạm đội hàng không mẫu hạm đến khu vực. Đó là cuộc điều động lực lượng lớn nhất của Mỹ từ sau chiến tranh Việt Nam. Lúc đó, Trung Quốc đã rút lui.

Điều đó có nghĩa là không phải lúc nào Mỹ cũng bỏ rơi đồng minh. Yếu tố giá trị đã trở nên quan trọng ở thời điểm đó, ở điểm đó, trong chế độ đó.

RFA. Vậy điều đó có hàm ý cho quan hệ Việt Mỹ ngày nay không?

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Nếu có hàm ý chung chung cho quan hệ hai nước thì tôi nghĩ Mỹ muốn Việt Nam dân chủ và phát triển nhân quyền, nhưng Mỹ không tìm cách thay đổi chính quyền. Mỹ không có lợi ích trong việc thay đổi chính thể ở Việt Nam. Bởi vì nếu thay đổi chính thể và chính phủ nên hỗn loạn như khi lật đổ ông Diệm năm 1963 thì chính trị hỗn loạn. Việt Nam bị nát ra thì sẽ tạo ra khoảng trống quyền lực. Mà khoảng trống quyền lực khi đó có thể bị lấp đầy bằng một lực lượng thù nghịch với Mỹ. Về phương diện chiến lược thì Mỹ không có lợi ích gì nếu Chính phủ Việt Nam bị lật đổ. Đối với Mỹ, nếu Việt Nam dân chủ hơn, phát triển về nhân quyền hơn thì càng tốt, vì như thế sẽ được sự ủng hộ của cả bên Quốc Hội, của nhân dân. Còn nếu Việt Nam không phát triển theo hướng đó thì Mỹ cũng không có lợi ích gì nếu Chính phủ Việt Nam bị lật đổ.

Tất nhiên, trong chính trị, không có công thức bất biến. Ngay cả khi Việt Nam chia sẻ thêm với Mỹ một lợi ích khác nữa là lợi ích về giá trị thì không có gì bảo đảm chắc chắn là Mỹ vẫn không bỏ rơi. Ví như thời ông Trump thì Mỹ cũng gây sự với cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Không có gì đúng tuyệt đối. Cái gì cũng chỉ có tính tương đối.

Tôi nghĩ về phương diện quốc phòng, mối quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo quốc phòng hai nước rất quan trọng. Ví dụ như quan hệ quốc phòng Mỹ – Philippines đã có khoảng 70 năm quan hệ quốc phòng, nên khi ông tổng thống Duterte phá thì phá không được. Mối quan hệ lại trở lại. Quan hệ quốc phòng Mỹ – Việt Nam đòi hỏi hai bên có những vị tướng, những vị chỉ huy quốc phòng có thể nói chuyện trực tiếp với nhau, có thể gọi điện thoại nói chuyện thân mật với nhau. Nếu đạt được giai đoạn đó thì hai bên sẽ gắn bó rất nhiều.

RFA. Theo Giáo sư, để tạo ra mối quan hệ đó thì cần những điều kiện gì? 

GS. Nguyễn Mạnh Hùng: Bây giờ mình thấy là Mỹ đã đào tạo cho mình rồi. Như phi công thì Mỹ đã đào tạo cho mình rồi. Nếu hai bên mua bán vũ khí thì dĩ nhiên phải đào tạo cách sử dụng. Nhưng tôi nghĩ sẽ phải đến lúc hai nước có “co-production” (“sản xuất chung”) để chuyển giao công nghệ. Nếu Mỹ thành thật muốn giúp Việt Nam thì phải có sản xuất chung và chuyển giao công nghệ. Muốn như thế thì hai bên đều cần có các cấp sỹ quan cơ sở cộng tác với nhau. Những sỹ quan học ở West Point khi tốt nghiệp thì trở thành bạn của nhau, khoảng mười năm sau thì thành sỹ quan cấp cao hết cả. Và họ cộng tác với nhau.

Đó là tính chuyện lâu dài, còn trước mắt cần xây dựng mối quan hệ cá nhân giữa các lãnh đạo quân sự hai nước, như ông Bộ trưởng quốc phòng, ông Tổng tham mưu trưởng. Họ cần quan hệ một cách ngang hàng, làm cho người ta kính trọng mình, tức là kính trọng thật chứ không phải ngoại giao.

Thượng úy người Việt trở thành phi công Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp khóa huấn luyện ở Mỹ

Thượng úy Đặng Đức Toại ngày 31/5/2019 trở thành phi công quân sự Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp khóa đào tạo trong Chương trình Lãnh đạo Hàng không (ALP) của không quân Mỹ.

Nếu Việt Nam muốn tăng cường quốc phòng với Mỹ thì lãnh đạo Bộ quốc phòng Việt Nam rất quan trọng. Thái độ và khả năng của Bộ Quốc phòng Việt Nam rất quan trọng trong việc quyết định mối quan hệ an ninh có tiến lên hay không, trong việc thi hành các cam kết.

4929-viet-nam-hoa-ky
Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin duyệt đội danh dự Quân đội Nhân dân Việt Nam tại lễ đón. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Nếu Bộ quốc phòng có những liên hệ cá nhân với phía Mỹ thì niềm tin chiến lược sẽ tăng lên cao. Về định chế thì hai bên đã có nhu cầu đó, nhưng về phương diện cá nhân thì các vị lãnh đạo quốc phòng có đáp ứng được nhu cầu đó hay không là vấn đề quan trọng. Hai bên đẩy được quan hệ quốc phòng tới đâu thì tùy thuộc vào phía Việt Nam thôi.


Mỹ Việt tăng cường hợp tác trong lãnh vực bảo vệ bờ biển sau nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện

F-16. Image Credit: Creative Commons.

Tổng hợp Báo Chí và Đài VOA

Một nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ cho biết lực lượng bảo vệ bờ biển của Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ mở rộng mối quan hệ hợp tác trên biển sau chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Joe Biden hồi giữa tháng này.

Phản ứng của Trung Cộng

Hoàn Cầu thời báo phụ trương của báo Nhân Dân Trung Cộng đã có nhận xét như sau:

Wei Dongxu, một chuyên gia quân sự ở Bắc Kinh, nói với Hoàn Cầu thòi báo – Global Times hôm Chủ nhật.

Ông Ngụy (Wei) cho biết, bằng cách cung cấp máy bay chiến đấu F-16, có thể đã qua sử dụng, cho Việt Nam và tăng cường quan hệ quốc phòng, Mỹ nhằm mục đích

  • giành được một chỗ đứng khác trong khu vực thông qua việc bổ sung các ràng buộc chính trị như yêu cầu sử dụng các căn cứ không quân và hải quân của Việt Nam.
  • Ông Ngụy cho rằng, tận dụng chỗ đứng mới này, quân đội Mỹ có thể gây thêm rắc rối ở Biển Đông để xây dựng vòng vây quân sự và kiềm chế Trung Quốc.

Tuy nhiên, các nhà phân tích tin rằng Việt Nam có thể cân nhắc ưu và nhược điểm một cách độc lập và tránh rơi vào cái bẫy khiến nước này trở thành con tốt của Mỹ.

Ông Wei cho biết, nếu Việt Nam mua máy bay chiến đấu của Mỹ, Việt Nam có thể bị Mỹ kiểm soát và các chính sách quốc phòng cũng như hoạt động quân sự của Việt Nam có thể trở nên phụ thuộc vào các quyết định của Mỹ. “Việt Nam khó có thể chấp nhận được điều này,” ông nói.

Thánh Vinh-sơn Phaolô

Hôm nay 27/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Vinh-sơn Phaolô, (St. Vincent de Paul), nguyện xin thánh nhân chuyển cầu cho Bạn và gia đình nhé.

 

Cha Vương

Thứ 4:27/09/23

The Catholic Reader: Saint Vincent de Paul Quotes

Thánh nhân sinh năm 1581 tại Gát-côn, nước Pháp. Người làm linh mục rồi đi Pa-ri phục vụ một giáo xứ. Người sáng lập tu hội Thừa Sai để giúp đào tạo các giáo sĩ và nâng đỡ những người nghèo. Được thánh nữ Lu-y Ma-ri-lắc cộng tác, người đã lập tu hội Nữ Tử Bác Ái. Người là gương mẫu hoàn hảo về việc sống đức bác ái như Chúa Ki-tô dạy, luôn sẵn sàng cứu giúp những người cùng khốn. Người nhận ra khuôn mặt của Chúa Ki-tô nơi bất cứ ai đang gặp đau khổ. Người qua đời tại Pa-ri năm 1660.

Saint Vincent Archabbey Vocation Blog: Saint Vincent de Paul, Our Patron

Khi gần chết, ngài đã thốt lên: “Lạy Chúa, con đã làm những việc theo lệnh Chúa, nay xin Chúa ban cho con những gì Chúa đã hứa.” Ngài đã an nghỉ trong Chúa vào ngày 27 tháng 9 năm 1660, lúc 80 tuổi.

Đức Giáo Hoàng Lêô 13 tôn thánh Vincent làm bổn mạng các hội Từ thiện Công Giáo. Ngày nay trên thế giới , hội Bác ái Vinh sơn đã lan tràn rất nhiều nơi.

Sau đây là những câu nói để đời của Thánh Nhân, Bạn hãy bỏ ra mấy phút để đọc và lắng nghe coi thánh nhân đang muốn nhắn nhủ Bạn điều gì mà đến gần với Chúa hơn.

Câu nào đánh động bạn nhất? Đối với mình thì câu (3) và (4)


 

(1) Anh em hãy nhớ rằng cuộc sống Kitô hữu là một cuộc sống hoạt động; chứ không phải chỉ là lời nói và mộng mơ.

(2) Vũ khí mạnh nhất để chống lại ma quỷ là đức khiêm nhường. Bởi vì, như ma quỷ không có bất cứ một ý niệm nào về sự “khiêm nhường” thì ma quỷ cũng không biết làm thế nào để rũ bỏ sự “khiêm nhường”.

(3) Chúng ta nên đơn giản trong tình cảm, ý tưởng, hành vi và ngôn từ, chúng ta nên làm những gì chúng ta thấy không có sự giả tạo hoặc lừa lọc trong đó.

(4) Tôi ước muốn từng giây phút quá khứ, hiện tại và tương lai đều được tôi cũng như mọi người sử dụng một cách tốt nhất.

(4) Trên thiên đàng chúng ta sẽ nghỉ ngơi.

(5) Một người càng tấn tới trong việc yêu mến Thiên Chúa thì nhất định càng yêu thích đau khổ, chịu bị khinh thường, đó chính là dấu hiệu của lửa tình ái, những thứ khác đều là mây khói.

 

Đỗ Dzũng sưu tầm

Điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời này.

Khi đến một độ tuổi nhất định, bạn đã trải nghiệm thế giới, bạn đã nhìn thấy quá nhiều cảnh chia tay, khiến xung quanh bạn ngày càng có ít người hơn.

Ai rồi cũng có một ngày già đi, năm tháng trôi qua, con cái đã có gia đình riêng, bạn nằm trên giường bệnh mới có thể nhìn rõ ai là người thân thiết nhất với mình.

Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật tự nhiên, khi nửa cuộc đời trôi qua, cuộc sống trở nên buồn tẻ và mọi thứ đã tan thành cát bụi, bạn mới nhận ra được điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời này.

Đến khi lớn lên tôi mới nhận ra, trên đời này người thân thiết nhất chỉ có hai người, thứ đắt giá nhất trên đời này cũng chỉ là một thứ mà thôi.

Sinh-Lão-Bệnh-Tử và cách tính số bậc cầu thang

Đối xử tốt với bạn đời là khoản đầu tư tốt nhất trong cuộc đời

Có một cuộc bình chọn trên mạng: Khi về già, bạn sẽ tiếc nuối điều gì nhất trong đời? Trong thống kê cuối cùng, hạng mục được bình chọn nhiều nhất chiếm 57%: Hối hận vì đã không trân trọng người bạn đời của mình.

ĐÚNG VẬY. Thái độ đối với người bạn đời của bạn trong nửa đầu cuộc đời thực chất là khoảng thời gian hạnh phúc của bạn trong nửa sau cuộc đời.

Trong hôn nhân, bạn gieo nhân nào thì sẽ gặt được quả nấy. Người ta thường nói ý nghĩa của hôn nhân được thể hiện ở những nơi tăm tối của cuộc đời. Người được gọi là vợ là người động viên, an ủi bạn khi bạn khó khăn, cùng bạn sánh bước vượt qua giông bão.

Quan niệm về hôn nhân của người xưa (Phần 2: Duyên) « Tin Đa Chiều

Người được gọi là vợ là người chăm sóc, bảo vệ bạn, xoa dịu nỗi đau của bạn khi bạn đau ốm. Người được gọi là vợ là người bao dung, hiểu bạn và khiến bạn cảm thấy thoải mái trong hầu hết thời gian trong cuộc đời. Cách bạn đối xử với bạn đời của mình quyết định phần lớn nhiệt độ của một gia đình.

Trong nửa sau của cuộc đời, nếu ngôi nhà của bạn đủ ấm áp, cuộc sống của bạn sẽ có chất lượng cao hơn và bạn sẽ hạnh phúc hơn trong những năm cuối đời.

Dựa vào chính mình là con át chủ bài chân thật nhất trong cuộc sống. Khi một người đi đến cuối cuộc đời, đích đến cuối cùng thực ra chính là bản thân ta. Nếu bạn chỉ nghĩ đến việc dựa dẫm vào người khác trong mọi việc, thì những kỳ vọng của bạn cuối cùng sẽ chẳng là gì cả. Nếu bạn luôn tìm kiếm người khác để hỗ trợ mình trong suốt cuộc đời, một ngày nào đó bạn sẽ không còn ai để nương tựa.

Càng lớn tuổi, bạn càng nên tiết kiệm năng lượng cho bản thân, trở thành người ủng hộ chính mình và trở thành con át chủ bài của chính mình.

Con người là vậy, số lượng đồ vật bạn có thể gánh trên vai sẽ quyết định số lượng phước lành bạn sẽ được hưởng trong cuộc đời này.

Loại sức mạnh bạn có là loại cuộc sống mà bạn sẽ sống.

Về già, người ta vẫn có thể tiếp tục đọc sách, luyện thư pháp, nghe nhạc, thậm chí có sự nghiệp riêng, không cần phải sợ tuổi tác hay lo lắng về thời gian.

Thay vì trông cậy vào con cái và nhờ cậy vào người thân, tốt hơn hết bạn nên tự mình làm người đưa đò và sống một cuộc sống tự do, thoải mái.

Giữ sức khỏe là sự giàu có lớn nhất trong cuộc sống

Và yếu tố then chốt này chỉ có bốn từ: sức khỏe tốt.

Có bao nhiêu người không chăm sóc cơ thể mình khi còn trẻ, hình thành thói quen sinh hoạt không tốt, không coi trọng sức khỏe. Khi sức khỏe yếu đi và phải nhập viện, mới chợt nhận ra mình thực sự đã mất tất cả.

Hình ảnh vợ chồng già hạnh phúc - SESOMR

Người xưa thường nói: Cơ thể là vốn của vạn vật, sức khỏe là nguồn gốc của hạnh phúc. Một khi mạng sống của một người bị rút quá mức, mọi thứ bạn có được sau nửa cuộc đời sẽ biến mất. Chỉ có giữ được sức khỏe thì mới giữ được khối tài sản lớn nhất của mình, chăm sóc tốt cho cơ thể là điều quan trọng nhất trong nửa sau cuộc đời.

Một trạng thái cuộc sống tốt đẹp trông như thế nào?

Nửa sau của cuộc đời, nếu bạn bớt giận dữ, bạn sẽ hạnh phúc hơn; nếu bạn tập thể dục nhiều hơn, bạn sẽ ít ốm đau hơn.

Hãy kiểm tra thể chất thường xuyên, đừng thức khuya và đừng lãng phí cơ thể.

Từ bây giờ hãy ăn ngon, ngủ ngon mỗi tối, làm việc đó và trân trọng, yêu thương bản thân mình thật tốt.

Khi một người về già, có người vợ/chồng bên cạnh, con át chủ bài trong tay, sức khỏe, niềm vui, tình yêu, cuộc đời này là đủ rồi.

From: Tu-Phung


 

Ai là kẻ sát nhân Lê Văn Mạnh?

Ba’o TIENG DAN

Đặng Đình Mạnh

26-9-2023

Sau 8 năm yên ắng, đột nhiên, vụ án oan Lê Văn Mạnh trở lại gây xôn xao dư luận vào ngày 18/09/2023 bằng văn bản Thông báo về việc thi hành án tử hình số 26/TB-HĐTHATH, do bà Nguyễn Thị N., Chánh Án Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa ký, gởi cho gia đình Lê Văn Mạnh.

Chỉ 4 ngày sau, mặc cho công luận, luật sư, cơ quan ngoại giao nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế lên tiếng, Hội đồng thi hành án tử hình tỉnh Thanh Hóa mang tử tù oan Lê Văn Mạnh ra hành hình bằng biện pháp tiêm thuốc độc vào lúc 8h45’ sáng ngày 22/09/2023 vừa qua.

Theo đó, một số bạn đã nêu ý kiến chỉ trích bà Nguyễn Thị N., Chánh Án Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, người ký văn bản Thông báo về việc thi hành án tử hình số 26/TB-HĐTHATH, vì cho rằng bà phải chịu trách nhiệm về việc tử hình tử tù oan.

Tôi e rằng các bạn đó đã chỉ trích nhầm người chịu trách nhiệm. Vì lẽ, với tầm vóc một vụ án oan đến mức độ đã phải xét xử 7 lần qua 7 phiên tòa. Trong đó, có kháng nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao nhận định gần như phủ nhận vụ án, như: “chưa có cơ sở vững chắc để kết luận Lê Văn Mạnh phạm tội Giết người, Hiếp dâm trẻ em”, thì vụ án đã hoàn toàn nằm ngoài thẩm quyền quyết định của các cơ quan tư pháp tỉnh Thanh Hóa, mà lúc này, thẩm quyền quyết định thuộc về các cơ quan trung ương.

Chứng minh điều này khá đơn giản. Nếu đọc kỹ văn bản Thông báo về việc thi hành án tử hình số 26/TB-HĐTHATH công chúng sẽ dễ nhận ra vấn đề này. Tại phần nêu các căn cứ của văn bản, thì hầu hết là các văn bản có từ thời điểm trước năm 2015 và đến năm 2015, là thời điểm tạm ngưng thi hành án tử hình. Tuy nhiên, tại gạch đầu dòng thứ 3 có nêu căn cứ vào Công văn số 189/TANDTC-V1, ngày 11/08/2023 của Tòa án Nhân dân Tối cao. Chính Công văn số 189, ngày 11/08/2023 của Tòa án Nhân dân Tối cao mới là văn bản chỉ đạo giết người dưới danh nghĩa tử hình.

Ảnh trên mạng

Tôi nói ra nơi chỉ đạo, các bạn tiếp tục đoán ra người chỉ đạo nhé? Và đó mới đích thị là kẻ “sát nhân”. Lúc này, hắn đang mỉm cười đắc thắng vì ý nguyện của công chúng đối với hắn, hóa ra chả là “cái đinh” gì sất.

Tôi đã từng nghe “Tử hình sạch đám kêu oan, thì sẽ không còn án oan nữa!!!” cứ nghĩ là câu đùa quá trớn. Hóa ra, nó là chủ trương. Cho nên, sau khi giết Lê Văn Mạnh như một phép thử, mà công chúng vẫn bàng quan, thì sẽ đến lượt Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải…

Như thế, với vụ Lê Văn Mạnh, tỉnh Thanh Hóa chỉ còn thẩm quyền là người thừa hành lệnh để “bấm nút” tiêm thuốc độc vào người tử tù theo quyết định từ “trển” mà thôi.

Như thường lệ, không ai trách đao phủ thủ mà lại miễn trách cho kẻ ra lệnh bao giờ?

 


MONG GẶP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

MONG GẶP

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Misunderstood – Renewal Blog

“Có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy!”.

G. K. Chesterton nói, “Địa ngục là lời khen tặng tuyệt vời của Thiên Chúa đối với ‘thực tế tự do’ của con người!”. Với câu nói đó, Leighton Ford nhận xét, “Chết tiệt, đó là một lời khen?”. Vâng, bởi lẽ Chúa đang nói, “Bạn thật quan trọng. Tôi coi trọng bạn, Tôi mong gặp bạn. Hãy chọn từ chối Tôi, hãy chọn địa ngục nếu bạn muốn. Tôi sẽ để bạn đi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Tôi coi trọng bạn, Tôi mong gặp bạn!”. Lời Chúa hôm nay cho thấy không chỉ Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người; nhưng con người mọi thời, cách đây hơn hai ngàn năm cũng như ngày nay, bạn và tôi, ai cũng đều ‘mong gặp’ Ngài, mong gặp Giêsu!

Toàn bộ Tin Mừng cho thấy, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đi tìm con người! Và ngược lại, rất nhiều người muốn tìm gặp Ngài với nhiều lý do riêng! Một số cần được chữa lành như anh mù Bartimê, người đã la hét và đuổi theo Ngài cho đến khi được Ngài xót thương; một số vì tò mò như Giakêu trèo lên cây để có thể thấy Ngài; số khác được nghe lời Ngài như đám đông chen lấn bên hồ Gênêzareth; một số vì yêu thương, muốn chăm sóc Ngài như Đức Maria hoặc Maria Mađalêna. Vậy tại sao bạn và tôi ‘mong gặp’ Ngài?

The Biblical World: How important were Jesus' brothers in the early ...

Chinh phục Chúa Giêsu, một điều không dễ! “Vì dân chúng quá đông”. Dẫu tìm Ngài với những ý định trong sáng nhất, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng dễ đạt được mục tiêu. Chắc chắn sẽ có những trở ngại và bạn phải chuẩn bị cho chúng! Satan luôn cố tách bạn xa Ngài qua tội lỗi, thậm chí gieo vào lòng chúng ta nỗi sợ đi xưng tội khiến ân sủng chữa lành của Ngài tắc nghẽn. Thế giới cũng tìm cách giữ bạn xa Chúa, nó chào mời hàng vạn thú vui khiến bạn rời xa việc cầu nguyện, suy tư và hoán cải. Và tất nhiên, bản thân bạn và tôi rất ít có khuynh hướng đạo đức, phục vụ người khác và sống đức hạnh. Sự lười biếng và nuông chiều thân xác có thể vượt thắng cả những người giỏi nhất. Vì thế, điều cần làm là hãy cho Chúa Giêsu biết bạn và tôi ‘mong gặp’ Ngài!

Brian Deacon - The Face of Jesus

Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại có vẻ như từ chối những ai ‘mong gặp’ Ngài? Không đâu! Điều đáng kể đối với Ngài là những “Ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”; và điều này không miễn trừ cho cả mẹ Ngài và những người thân yêu của Ngài. Chúa Giêsu không hạ thấp họ, nhưng nâng họ, nâng chúng ta lên một mức độ thân mật hơn cả thân mật của quan hệ huyết thống. Đây là vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa!

Anh Chị em,

“Vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa!”. Vẻ đẹp đó còn phản ánh một điều đáng kinh ngạc hơn! Rằng, Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người! Ngài khao khát quan hệ mật thiết với mỗi người từ trái tim, khối óc và tinh thần; bởi lẽ, Ngài là tác giả và cội nguồn của tình yêu – một tình yêu không bao giờ thất bại, không bao giờ lãng quên, không bao giờ thoả hiệp, không bao giờ dối trá, không bao giờ khiến ai thất vọng. Tình yêu Ngài không lay chuyển, vô điều kiện, không ngừng nghỉ, không thể cản ngăn và không có kết thúc. Không gì có thể khiến Ngài rời bỏ chúng ta, hoặc rút lại tình yêu và sự chăm sóc. Ngài yêu chúng ta, ‘mong gặp’ chúng ta, dù chúng ta thế nào. Bản chất của Ngài là yêu. Đó là lý do tại sao Ngài tạo dựng chúng ta – để được kết hợp và chia sẻ tình yêu của Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thật quan trọng đối với Chúa. Cho con biết chọn Chúa, ‘mong gặp’ Chúa từng giây phút. Đừng để con chọn ‘tự do’ địa ngục và thế gian mời mọc mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

BÍ ẨN ĐẠI VĂN HÀO VOLTAIRE NHÌN THẤY QUỶ DỮ PHÚT HẤP HỐI

Bức phù điêu bằng sáp này được trưng bày tại bảo tàng Victoria & Albert ở Luân Đôn mô tả những giờ phút cuối cùng trước khi lâm chung của đại văn hào nước Pháp Voltaire với gương mặt hoảng loạn, đau đớn, vật vã.

Tài liệu ghi lại các nhân chứng chứng kiến lại trong giây phút hấp hối, Voltaire đã hoảng loạn và gào thét những điều khó hiểu, như thể ông trông thấy quỷ.

François-Marie Arouet hay Voltaire (1694 – 1778) là một nhà văn, nhà triết học người Pháp nổi tiếng trong phong trào” triết học ánh sáng” và những quan điểm ngụy biện về quyền “tự do” của con người. Ông là nhà văn chống Chúa và đánh phá Kitô giáo, đấu tranh cho những mục tiêu chính trị núp bóng danh nghĩa là quyền bình đẳng của xã hội…

 

Nhắc đến nước Pháp thế kỷ 18 và nhắc đến cuộc Cách mạng Pháp đẫm máu bạo lực, độc tài đã đưa mấy ngàn người vô tội lên máy chém, bỏ tù hàng vạn người Công giáo gồm nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ không thể không nhắc tới Voltaire có đóng góp rất lớn cho cuộc cách mạng này.

Sinh thời, Voltaire được biết đến là người bài xích Kitô giáo một cách ngông cuồng. Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc, cha là một quan chức thuế và mẹ thuộc dòng dõi cao quý nhưng ông lại chống Chúa và đánh phá Công giáo.
Tư tưởng bài xích Kitô giáo bằng ngôn từ sắc sảo khiến Voltaire trở thành biểu tượng cho phong trào chống Chúa lúc bấy giờ.

Ngày 30/5/1778, Voltaire qua đời ở tuổi 84. Có nhiều tài liệu nghiên cứu về cái chết của một nhà văn, triết gia lỗi lạc này; đặc biệt là khoảnh khắc hấp hối khó hiểu của ông.

V&A · Sculpture

 

Một số tài liệu ghi lại Voltaire qua đời do đột quỵ. Nhưng trong giây phút đau đớn, ông đã phát ra những tiếng hét đáng sợ mà không ai hiểu được.
Theo lời kể lại của bà giúp việc trong nhà ông thì Voltaire đã nhìn thấy những hình ảnh ghê rợn, rồi ông tru tréo: “Một bàn tay đang kéo tôi xa rời Chúa Trời…quỷ bắt lấy tôi rồi…,tôi trông thấy hỏa ngục… Hãy cút đi, chính mày đã đưa ta đến tình trạng này, hãy buông tha cho ta”.

Có lúc, ông lại van xin trong ai oán: “Xin Chúa Trời hãy thương xót”, rồi quay ra than vãn với người trong nhà rằng “Ta phải ra đi trong sự bỏ rơi của Chúa”.
Theo một tài liệu khác, nhân chứng tận mắt thấy những giờ phút cuối đời của Voltaire tả rằng: “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ dội như Voltaire”.

【Mơ Thấy Người Chết】Điềm Lành Hay Dữ & Đánh Con Gì

Wikipedia không ghi rõ chi tiết về cái chết của Voltaire nhưng có đề cập tới một số giả thiết khó hiểu về giây phút lâm chung đau đớn của đại văn hào. Wiki cũng đề cập thêm rằng sau khi qua đời, Voltaire bị các thánh đường tại Paris từ chối chôn cất bởi ông đã không ít lần báng bổ Chúa bằng giọng văn châm biếm, miệt thị.

Bạn bè thân và gia đình đã phải mang thi thể ông tới Scellières, thuộc thành phố Champagne, cách Paris khoảng một trăm dặm. Tại đây, một linh mục bằng lòng cho chôn cất Voltaire với đầy đủ nghi lễ Công giáo.

A New Vision for Dreams of the Dying - The New York Times

 

Đó chỉ là trường hợp đặc biệt và còn nhiều nhân vật khác chống lại Thiên Chúa. Một cá nhân dù là người nổi tiếng hay là không nổi tiếng, nếu báng bổ Thiên Chúa, chính là không biết tôn trọng lương tri, đạo đức con người, người đó sẽ phải chịu nhận hậu quả đáng tiếc, sau này dẫu có hối hận cũng muộn màng. Từ cổ chí kim tới nay những kẻ chống lại Thiên Chúa chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp cả, cho nên đừng có dại mà chống lại Ngài.

From: Do Tan Hung& KimBang Nguyen


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Đại Quang

Ba’o DAN CHIM VIET

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

19/09/2023

Năm 2006, khi chỉ mới có tin bác Triết sắp trở thành chủ tịch nước (thôi) mà dư luận – trong cũng như ngoài nước – đã râm ran tán thưởng quá xá. Ký giả Karl D John (Asia Times) hăm hở đưa tin :

“Nguyen Minh Triet, 63, another southerner, was confirmed as president by the National Assembly on Tuesday… And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization (WTO) this year.” Theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay.”

Bác Quang, tiếc thay, không có được sự chào đón nồng nhiệt tương tự. Chả những thế, ông còn bị nhiều điều tiếng gièm pha hay dè bỉu :

– Bùi Thanh Hiếu: “Không ồn ào gây chú ý, bộ trưởng công an Trần Đại Quang leo lên chức Chủ Tịch Nước một cách êm thắm không gặp phải bất kỳ sự trở ngại nào. Con đường của Trần Đại Quang tiến thân trong ngành công an cũng khá suôn sẻ… Con đường của Quang đi chỉ gặp sóng gió duy nhất một lần đó là bị các đối thủ vạch ra chuyện Quang khai gian đến 6 tuổi.”

– Lê Minh Nguyên “Đầu tiên phải nói là ông ta sửa lại khai sinh để từ năm đúng là 1950 thành năm giả là 1956, một sự gian dối dễ chứng minh qua các văn bản hộ tịch và bằng cấp bị so le, nó nói lên tính toán tham vọng quyền lực của ông ta.”

– Trần Hồng Tâm: “Ông Trần Đại Quang, sinh năm 1956, vẫn còn dưới 65 tuổi. Nhưng có người đã chứng minh rằng ông sinh năm 1950. Ông đã sửa số 0 thành số 6 trên giấy khai sinh. Sau khi bị tố giác, ông đã sử dụng ảnh hưởng của mình tại nguyên quán làm ra một giấy khai sinh mới ‘hợp lệ’ hơn. Riêng tiêu chuẩn đầu tiên về tuổi tác ông đã để lại không ít tai tiếng.”

Cả ba nhân vật̉ dẫn thượng – rõ ràng – đều là những người không đủ lượng bao dung. Họ đều để ý đến cái chi tiết rất nhỏ nhặt (“sửa số 0 thành số 6”) trên tờ giấy khai sinh của bác Quang, rồi cứ thế mà vu vạ đó là việc làm thiếu lương thiện và vô cùng tai tiếng.

Tai tiếng (mẹ) gì! Chớ có ai biết vị chủ tịch đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà – Hồ Chí Minh – tên tuổi (chính xác) ra sao đâu mà toàn dân vẫn đời đời nhớ ơn bác Hồ vỹ đại đấy thôi. Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt là thiên hạ chỉ vì ganh ghét với cái chức vụ cao quí (Chủ Tịch Nước) của bác Quang nên mới cố vạch lá tìm sâu hay bới bèo ra bọ.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng lại còn đi quá xa khi cho rằng “một chủ tịch nước như ông Trần Đại Quang khác gì một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam?”

Ơ hay, sao lại thế nhỉ? Về ngoại hình, bác Quang đâu có kém cạnh gì bác Triết. Còn về diện mạo thì trông đỡ tối tăm hơn bác Sang thấy rõ, đúng không? Sao hai bác kia nhậm chức suôn sẻ, và hạ cánh an toàn mà bác Quang lại bị coi như là “một vết lọ nghẹ quẹt lên mặt dân tộc Việt Nam” – hả Giời?

Ông Nguyễn Gia Kiểng còn nhất định cho rằng: “Trong nhà tù nhiều khi tù nhân phải trả tiền để ‘được’ còng bằng những chiếc còng không nhiễm trùng HIV. Dưới sự lãnh đạo của Trần Đại Quang công an cũng làm tiền trắng trợn hẳn hơn trước….”

“Trước” là hồi nào vậy cà? Khi HIV chưa xuất hiện thì làm sao có cái vụ (tai tiếng) trả tiền để “được” đưa chân vào những cái còng không nhiễm trùng được chớ? Ở giai đoạn này, Việt Nam còn dùng sổ gạo và tem phiếu và người dân chỉ cần vài điếu thuốc lá lẻ cũng đủ bôi trơn bộ máy (“Samit là nói ít hiểu nhiều, Ba Số Năm vừa nằm vừa ký”) nên mấy ông Bộ Trưởng Công An tiền nhiệm đỡ mang tiếng hơn ông Quang là chuyện tất nhiên.

Cũng như ông Nguyễn Gia Kiểng, nhiều người cứ nhất định cho rằng Bộ Công An dưới thời Trần Đại Quang tệ hại hơn thời trước rất nhiều :

– Các vụ ép cung, tra tấn, đánh người cho tới chết, xẩy ra thường xuyên trong đồn công an.

– Chuyện chạy án, chạy tiền để được phóng thích vào những đợt ân xá là hiện tượng phổ biến.

– Công an giả dạng côn đồ để đánh người, và vứt cứt đái hay mắm tôm vào nhà dân xẩy ra ở khắp mọi nơi.

May mắn là trong giới truyền thông vẫn còn những người sáng suốt nên những vấn nạn vừa nêu đã được nhìn nhận một cách khách quan hơn :

“Nhiều người tưởng rằng khoảng 5-6 năm gần đây mới rộ lên hiện tượng công an đánh chết dân, nhưng thật ra thì điều đó đã xảy ra hàng chục năm rồi, kể từ khi đảng Cộng sản cầm quyền. Thậm chí ngày trước công an đánh chết còn nhiều dân hơn ngày nay ấy chứ. Chẳng qua là đến bây giờ, một phần trong số những câu chuyện thương tâm ấy mới được đưa lên mặt báo và nhất là lên Facebook mà thôi. Con số 226 người chết trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ (ba năm 2011-2014) là con số trong một báo cáo của Bộ Công an và được báo chí trích đăng; ngày trước, làm gì có chuyện Bộ Công an có những báo cáo như thế và báo chí công bố như thế.”

Tôi vô cùng tâm đắc với nhận định vô tư và chính xác (thượng dẫn) của nhà báo Đoan Trang. Chả có gì bảo đảm được rằng dưới thời Bùi Thiện Ngộ, Lê Minh Hương, Lê Hồng Anh … những vụ “tự tử” trong đồn công an hay nạn ép cung, mớm cung, chạy án … lại ít hơn bây giờ. Chả qua là mọi việc đều được giấu kín như bưng nên mọi người không biết đấy thôi.

Trong số tất cả lời tố ghi trên chỉ có điều duy nhất xác thực là vấn nạn công an thường giả dạng côn đồ để vứt cứt đái, hay đổ nước hôi thối, vào nhà dân chúng. Hiện tượng này quả là hoàn toàn mới lạ, và mang đậm dấu ấn của cái thời mà ông Trần Đại Quang giữ chức vụ Bộ Trưởng Công An.

Đây tuy là những hành vi bẩn thỉu và đê tiện nhưng (nói nào ngay) hoàn toàn không độc ác. Chả làm ai chết cả. Trần Đại Quang – ít nhất – cũng chưa bao giờ bị kết án là sát nhân (hãm hiếp người tình của lãnh tụ, lấy búa đập vào đầu nạn nhân, rồi vứt xác ra đường cho xe cán) như Trần Quốc Hoàn – Bộ Trưởng Công An đầu tiên của nước VNDCCH.

Ông Trần Đại Quang cũng không hề bị tai tiếng như hai ông Phạm Hùng và Mai Chí Thọ trong những vụ thu vàng bán bãi vượt biên, đẩy vô số người dân ra khỏi nước, khiến hàng triệu thuyền nhân đã chết chìm giữa biển khơi (*). Thời ông Quang phụ trách ngành công an tuy cũng có không ít thuyền nhân (những thuyền nhân mới, nouveaux boat people) hay còn gọi là “người rơm” nhưng số lượng những kẻ mất mạng giữa đường hay mất mát tài sản để chung chi cho những chuyến vượt biên đều không đáng kể – nếu so sánh với những đợt di tản của đám “thuyền nhân cũ” (ancient boat people) hồi cuối thế kỷ trước.

Những “điểm son” kể trên, tiếc thay, đã không được công luận biết đến. Thiên hạ, nếu không chê bai hay dè bỉu thì cũng chỉ nói đến việc đăng quang của vị tân chủ tịch nước, cũng chả khác chi với chuyện tái đắc cử chức vụ TBT, với giọng điệu chán chường hay… huề vốn.

Xin đơn cử một thí dụ, đọc được trên trang FB của BBC :

“Ừ thì cơ mà ai lên làm thì đời sống Công Nhân vẫn vậy, như 20 năm qua cũng ko thay đổi được là bao nhiêu đáng kể. Vẫn ở cái nhà trọ chật hẹp, vẫn ko biết khi nào mới mua nổi nhà để an cư lạc nghiệp, vẫn bữa cơm ăn cho có để làm, vẫn nỗi lo con cái những hôm tăng ca cả hai vợ chồng thì ko biết ai đón gửi ai…

Còn Nông Dân vẫn vậy vẫn tự bơi với ruộng đồng, vẫn điệp khúc được mùa mất giá, vẫn mất mùa thì do thiên tai được mùa thì do tài tình lãnh đạo của Đảng, vẫn điệp khúc hàng ngoại giết chết hàng nội, vẫn điệp khúc Trung Quốc ko thu mua thì đành đổ bỏ.

Rồi giá xăng vẫn cao ngất ngưởng so với thế giới, học phí viện phí vẫn tăng, các loại thuế phí khác vẫn tăng ko hề giảm. Vẫn nỗi lo gánh nặng tiền học cho con, vẫn nỗi lo gánh nặng lỡ xui đi viện…

Đến bệnh viện, đến chốn công quyền vẫn phải xin xỏ, chầu chực, vẫn phải bôi trơn. Vẫn tham ô, tham nhũng, cái mặt Quan vẫn vác ngược khênh kiệu hạch sách nhân dân.Vẫn thực phẩm độc hại, vẫn mọi thứ còn nguyên.

Các ông ấy chẳng ai buồn hứa với Dân khi tôi làm Cán Bộ tôi sẽ làm gì để giải quyết bớt vấn đề của nhân dân bức xúc bấy lâu nay. Các ông vẫn cứ đọc cái mớ lý thuyết suông, vẫn nói suông. Những bài chính trị mà chúng tôi cũng thuộc…”

Rõ ràng toàn là những đòi hỏi quá đáng và … quá quắt. Ngay đến bác Hồ mà còn không bảo vệ được cả vợ lẫn con, bác Tôn cũng chỉ có mỗi một việc làm là… sửa xe đạp cho nó qua ngày đoạn tháng thì bác Quang biết làm sao hơn và làm gì khác được?

Tưởng Năng Tiến – 04/10/2016

(*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985  of State Bulletinarticle on Vietnam.
  • Orange County Register(29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly(5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribunecites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanaccites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encartaestimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy(1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)