ĐẤT NƯỚC CHƯA BAO GIỜ CÓ CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY…

Chau Trieu

Thoạt nhìn cứ tưởng họ đem cặp vợ chồng rao bán con ra xét xử là để bảo vệ đứa trẻ bị rao bán, rốt cuộc lại làm khốn khổ cả 4 đứa trẻ khi mà cả cha lẫn mẹ bị tuyên phạt tổng cộng hơn 20 năm tù, bỏ lại 4 đứa con thơ không ai nuôi dưỡng. Đúng là…phạt dân là bổn phận của các quan, còn hậu quả khốn khó thế nào thì dân ráng mà chịu.

Ngẫm nghĩ…cái “tiền đồ” của chị Dậu thời phong kiến vẫn “sáng lạng” hơn chị Dậu thời xã nghĩa vì ít ra thời phong kiến chị Dậu đã không bị bỏ tù vì tội túng quẫn đem bán con. Mà cái trớ trêu là thời kiến thì do có “thực dân đô hộ”, còn thời nay tràn ngập khẩu hiệu “độc lập tự do” mà vẫn xuất hiện đầy rẫy những Lão Hạc, chị Dậu, Vợ Nhặt…

Thương cho thảm cảnh của những người cùng khổ. Vì đâu nên nỗi…hỡi những chị Dậu thời 4.0…

Amy Truc Tran


 

Điều gì đe dọa đôi Hôn phối?-Cha Vương

Chúc bạn một ngày thật ấm áp trong vòng tay yêu thương của Chúa nhé. Hãy thận trọng mặc đủ ấm khi ra ngoài nhé đừng để tay chân lạnh cóng thì nguy đó.

Cha Vương

Thứ 3: 16/01/2024

GIÁO LÝ:  Điều gì đe dọa đôi Hôn phối? Điều thực sự đe dọa đôi Hôn phối đó là tội. Điều phục hồi cho đôi hôn phối là tha thứ. Điều làm cho họ được mạnh mẽ là cầu nguyện và trông cậy vào Thiên Chúa hiện diện. (YouCat, số 264)

SUY NIỆM: Sự xung đột giữa nam và nữ trong cuộc sống lứa đôi có khi dẫn tới ghen ghét nhau, đó không phải là dấu hiệu do hai giới không thể hòa hợp nhau; cũng không phải do có khuynh hướng di truyền làm cho bất trung, hoặc là có cản trở đặc biệt về tâm lý đối với việc kết hợp để sinh sống. Thực ra, nhiều đôi vợ chồng bị đe dọa bởi thiếu đối thoại với nhau, thiếu quan tâm đến nhau. Thêm vào đó, còn có vấn đề kinh tế và xã hội nữa. Nhưng vai trò chính vẫn là tội: ghen tuông, thống trị, gây gổ, mê dâm, không trung thành, và các nhân tố phá hoại khác. Vì thế mỗi cặp vợ chồng rất cần đến tha thứ và hòa giải với nhau, nhờ bí tích Hòa giải. (YouCat, số 264 t.t.)

LẮNG NGHE: Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. (Lc 6:36-37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tội lỗi thuộc về bản tính yếu đuối ích kỷ của con người còn tha thứ thì thuộc về tình yêu và lòng vị tha của Thiên Chúa, xin cho các đôi vợ chồng biết nhận thức ra mối đe doạ trong đời sống hôn nhân của họ mà chạy đến Chúa để xin ơn tha thứ.

THỰC HÀNH: Mối đe doạ lớn nhất trong đời sống ơn gọi của bạn vào thời điểm này là gì? Hãy chạy đến Chúa với hết lòng trông cậy và xin ơn bền đỗ đến cùng nhé.

From: Do Dzung

YÊU TRONG TÌNH CHÚA | LM NGUYỄN SANG – HƯƠNG LAN 

VẾT THƯƠNG LÒNG – Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ai chưa từng trải qua cơn đau, người ấy thật sự chìm sâu trong cõi đời này.  Người nào chưa hề có một vết trầy xướt trên cơ thể thì chưa hoàn toàn đi vào cõi hiện sinh nhân thế.  Vết thương ngoài da đã đau đớn, vết thương lòng còn nhức nhối biết chừng nào.  Vết thương bên ngoài có thể được nhìn thấy, có thể dễ dàng tìm thuốc chữa trị, chứ vết thương lòng thì ai biết phải xoay sở ra sao.  Chẳng ai biết nó nông sâu thế nào, chẳng ai đo lường được mức tác hại của nó, cũng chẳng ai có thể biết một phương dược chính xác chữa lành, lại càng chẳng biết đến bao giờ thì sẽ không còn vết thương ấy nữa.

Tôi mang trong mình một vết thương, một kiểu đau nhức chẳng diễn tả được thành lời, một nỗi buồn không tên, một nỗi uất ức chôn kín.  Đó là khi tôi đã từng yêu da diết, đã từng trao gửi tất cả nỗi niềm và trọn vẹn con tim cho một người với một niềm hy vọng vô cùng lớn lao.  Để rồi, cái mà tôi nhận được là một sự hụt hẫng vô ngần vô hạn.  Tôi trách người nhưng trách luôn cả mình.  Trách người sao quá vô tâm và tàn nhẫn; trách mình sao quá vội vã, quá cả tin.  Tôi đau một nỗi đau hơn dao cứa, cơn nhức nhối cứ làm cả con người muốn nổ tung.  Tôi muốn chôn vùi nó, dùng sự quên lãng để lấp nó, nhưng đâu đó, những sục sôi trong tâm cảm vẫn cứ trở về.  Máu vẫn cứ rỉ ra từng giọt.  Tôi khóc cho vơi nhẹ tâm can.  Tôi tìm về cô đơn để trốn tránh thực tại.  Tôi cố tưởng tượng là mọi chuyện đã qua đi.  Nhưng tôi không đủ quyền năng để quay ngược thời gian, để biến mọi chuyện như chưa từng xảy đến.

Vết thương ấy làm tôi đau đã đành, nó còn làm cho tôi mất đi niềm tin vào tất cả.  Tôi chẳng còn dám mở con tim mình ra với ai.  Tôi sợ rằng vết thương kia sẽ bị xé toạc một lần nữa, và lần này, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì chắc tôi sẽ chết mất thôi.  Người ta nói thời gian sẽ chữa lành tất cả.  Tôi cũng tin vậy, nhưng chẳng biết là sẽ đến bao giờ.  Tôi bỗng nhận ra là thế gian này chẳng có gì đáng mong đợi, chẳng có ai là đáng để cậy nhờ.  Tôi sống một cuộc đời bất chấp.  Ai muốn yêu thì cứ yêu; còn tôi, cứ khép mình là an toàn nhất, để khỏi bị phản bội, khỏi phải thất vọng, khỏi phải dùng nước mắt để xoa dịu vết thương.

Tôi cũng dùng lý trí để tự trấn an mình.  Rằng vết thương ấy làm tôi lớn lên, giúp tôi nhận biết rõ ràng hơn sự phũ phàng của cuộc sống.  Rằng lỗi một phần cũng do bản thân ta, chứ trách ai bây giờ.  Rằng tôi đã sai, tôi hối tiếc lắm.  Rằng tôi phải thật mạnh mẽ để cho người khác biết rằng chẳng có gì có thể quật ngã được tôi…  Nhưng khi đối diện với lòng, tôi chẳng thể che giấu được một con người yếu đuối, mềm mỏng.  Tôi không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.  Cái giả vờ mà tôi đang cố gắng thể hiện càng chứng tỏ cho tôi thấy mình đang đau biết chừng nào.  Tôi vẫn phải tự nhủ với bản thân “vết thương ơi, cứ tạm thời chợp mắt đi nhé!”

Vết thương lòng là một kiểu vết thương rất kỳ lạ.  Nó làm người ta đau nhức vô cùng, nhưng người ta, trong một phút tủi thân, lại cứ thích nghĩ về nó.  Và cứ mỗi lần nghĩ về, vết thương lại bị khoét thêm một chút nữa.  Ta muốn giải bày ra tất cả những nỗi niềm, nhưng chẳng biết nói cùng ai.  Liệu rằng trên thế gian này, có ai đó trân trọng tình cảm của ta, sẽ lắng nghe, sẽ cảm thông và không bỡn cợt niềm tin của ta như người trước không?  Có ai đó sẵn sàng giang rộng vòng tay đón tiếp ta, ôm lấy ta, ôm lấy cả vết thương trong lòng ta, cùng ta khóc, cùng ta cười, cùng đau chung với ta không?  Nhiều câu hỏi đặt ra như thế, âu cũng chỉ là muốn nói lên khát vọng yêu và được yêu của một hữu thể nhỏ bé giữa dòng đời vạn biến vô thường này.

Một ngày nào đó, tôi lôi vết thương trong lòng ra, nhìn vào nó cách trực diện.  Tôi không trốn tránh nó, không giả vờ quên nó, không cất giấu nó âm ỉ trong lòng.  Tôi không nhìn về nó như một kiểu khơi lại những ký ức nuối tiếc.  Tôi không khoét sâu nó bằng những cảm xúc ủy mị với hai chữ “giá như.”  Tôi không tiếp tục nuôi dưỡng nó bằng một kiểu suy nghĩ trách móc.  Tôi biết rằng thời gian đã trôi qua và dù thế nào chăng nữa, mọi cái cũng chẳng thể quay trở về như trước.  Có biết bao nhiêu khả thể trong cuộc sống này mà tôi không dự đoán được, nhưng cái hiện thể mà tôi biết chính là vết thương mà tôi đang mang đây.  Nó là một phần của tôi, là cái làm nên cuộc đời tôi, là nơi tôi gặp được chính mình, thấy rõ mình, biết mình đang ở đâu, tìm gì, đi đường đúng hay sai.

Lâu lâu gợi nhớ về vết thương ấy, tôi thấy mình chơi vơi đắm chìm giữa dòng chảy thời gian, thấy nhân tình thế thái đổi dời như cơn lốc và tôi chỉ là một phần nhỏ giữa những quay cuồng này.  Tôi ôm vết thương lòng như một hành trang, một chút kỷ niệm, một cái gì nhỏ bé để gợi nhớ cho thời cuồng điên thiếu tự chủ.  Dầu vết thương có lành, nó cũng để lại sẹo.  Cái sẹo ấy trở thành dấu chứng cuộc đời, là cái giúp tôi nhớ rằng mình không phải thần thánh.  Nhìn về cái sẹo ấy, tôi mỉm cười về một thời đã qua, dù đớn đau nhưng cũng ngọt lịm vô cùng.  Tôi đã không sai khi chọn yêu.  Ít là tôi cũng đã được cảm nếm một chút niềm hạnh phúc không trọn vẹn.  Vết thương lòng không còn làm tôi đau nữa, vì tôi đã sẵn sàng chấp nhận cái giá của tình yêu tôi chọn lựa.  Tôi yêu và tôi không hối tiếc, vết thương lòng chẳng qua chỉ là bằng chứng của tình yêu thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

From: Langthangchieutim


 

 Văn Hóa Đốt Sách – Học giả Nguyễn Hiến Lê

 Học giả Nguyễn Hiến Lê sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984.

Trước 75 trong Nam không học sinh nào không đọc sách Nguyễn Hiến Lê. Ưu điểm của cụ Lê là cụ giản lược những đề tài rộng lớn, phác thảo những đại cương trong khuôn khổ một cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, nhờ vào lối văn giản dị không cầu kỳ như bản thân đời sống của cụ. Sách Nguyễn Hiến Lê hầu hết viết cho ban Tú tài nhưng không phải vì vậy đã không có những công trình lớn: Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Kinh Dịch, Bách Gia Tranh Minh… là những tập sách dày công nghiên cứu, đã đem đến vô vàn kiến thức cho thanh niên miền Nam buổi ấy. Chính vì sau hai thập niên Việt hóa học đường, không còn một học sinh nào, từ Nam ra Bắc đọc thông một quyển sách chữ Hán cũng như chữ Pháp. Thế hệ Nguyễn Hiến Lê là chiếc cầu nối tuổi trẻ Việt Nam với kho tàng thế giới. Trên 120 đầu sách, Nguyễn Hiến Lê cống hiến sở học của mình.

Sau 75 cụ Lê còn là nhân chứng của công cuộc giải phóng thô bạo trên nửa phần đất nước. Vào ngày giỗ muộn màng thứ 39, hãy cùng đọc lại ghi chép của Nguyễn Hiến Lê về nạn đốt sách của phía chiến thắng. Là những trang chữ bị kiểm duyệt.

[Trần Vũ]

*******

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp 5,6 bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn. Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Observateur (của khối thân Cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có propriétés cho biết cách dùng, trị bệnh gì… mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất 2 tháng, có khi 4 tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến … mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại 3,4 giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy 3 trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê- Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL

From: TU-PHUNG


 

AI SẼ CỨU CON NGƯỜI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabbat!”.

Đầu thế kỷ 20, Trung Quốc uỷ cho một tác giả viết tiểu sử Hudson Taylor, nhà truyền giáo vĩ đại của lục địa này, với mục đích bôi nhọ ông và xuyên tạc sự thật. Nhưng càng nghiên cứu, tác giả ngày càng ấn tượng bởi tính cách thánh thiện và đầy niềm tin của Taylor. Cuối cùng, trước nguy cơ mất mạng, ông gác bút, vượt biên, từ bỏ chủ nghĩa vô thần và tin nhận Chúa Kitô. Ông nói, “Nhân loại cần một Đấng Cứu Rỗi biết bao!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nhân loại cần một Đấng Cứu Rỗi biết bao!”. Câu nói này không chỉ xuất phát từ cảm nhận của người viết tiểu sử Taylor, nhưng còn từ trải nghiệm thất bại của chính quyền Trung Quốc, khi tác giả không chỉ ‘không làm bồi bút’, mà còn tin nhận Chúa Kitô! Tin Mừng hôm nay làm sáng tỏ điều đó.

Các môn đệ đang đói đưa tay hái lúa mà ăn. Rủi thay, hôm ấy là ngày Sabbat. Các biệt phái bắt lỗi. Khi luật trở thành mục đích, đứng trên con người, cả những người đói, thì ‘ai sẽ cứu con người?’. Là những nhà lãnh đạo, các biệt phái đã chôn sâu luật Thiên Chúa bên dưới lớp luật nhân tạo của họ, đến nỗi cả những người đói cũng không được phép hái những bông hạt để ăn trong ngày Sabbat. Vậy thì làm thế nào nhân loại có thể được dẫn dắt một cách an toàn trên con đường đích thực dẫn đến sự cứu rỗi, mà không vướng vào gai gốc của những nghi lễ sai lầm và những giới luật tuỳ tiện một cách vô vọng! ‘Ai sẽ cứu con người?’. Con Thiên Chúa, Đấng hạ mình làm người, đem đến sự thật viên mãn; một sự thật giải thoát con người bằng tình yêu.

Trước những biệt phái đường bệ, Chúa Giêsu không nhượng bộ nhưng nhân ái thu phục họ bằng việc trích dẫn đoạn Thánh Kinh mà họ biết rất rõ; từ đó, Ngài tiết lộ sự thật theo cách mà họ có thể chấp nhận. Rằng, họ đã lạc xa tôn giáo chân chính; trong đó, tình yêu đối với Thiên Chúa và con người chiếm ưu thế. Không dừng ở đó, Ngài còn táo bạo thốt lên, “Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabbat!”. Ngài muốn nói rằng, thẩm quyền của Ngài ngang bằng thẩm quyền Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài chờ đợi nơi họ không gì khác hơn là một hành vi đức tin, tin nhận ngôi vị Thiên Chúa của Ngài.

‘Ai sẽ cứu con người?’. Chính Thiên Chúa đã chuẩn bị ‘Đấng Sẽ Cứu’ đó từ ngàn xưa. Ngài reo lên qua Thánh Vịnh đáp ca hôm nay, “Ta đã tìm ra nghĩa bộc Đavít!”. Đúng thế, bài đọc Samuel tường thuật việc chuẩn bị đó. Loại bỏ Saun, Thiên Chúa đã chọn Đavít. Từ dòng dõi này, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ ra đời.

Anh Chị em,

‘Ai sẽ cứu con người?’. Chính Chúa Kitô! Đức Phanxicô nói, “Bất cứ điều gì dẫn bạn đến với Chúa Kitô đều có giá trị cứu rỗi, và chỉ những gì đến từ Chúa Kitô mới có giá trị. Ngài là trung tâm! Hãy luôn tự hỏi, điều này có đưa bạn đến với Chúa Kitô không? Hãy tiếp tục! Thái độ này có đến từ Chúa Kitô không? Hãy tiếp tục! Nhưng nếu nó không dẫn bạn đến với Chúa Kitô và nếu nó không đến từ Ngài thì điều đó khá hiểm nghèo. Nếu bạn không thể tôn thờ Chúa Kitô, thì thiếu một điều gì đó. Vì Ngài là Cứu Chúa!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, hãy thanh tẩy con khỏi mọi giả hình của ‘chủ nghĩa pháp lý’ và ‘chủ nghĩa lễ nghi!’. Cho con một trái tim luôn thổn thức vì con người như trái tim của Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

NGỌC TRINH VÀ NGỌC ANH…

 8 SÀI GÒN

Ngọc Trinh, cũng được gọi là mỹ nhân của nước nhà trong cái thời buổi nhiễu nhương hương sắc tình tiền, với thành tích chẳng có gì đặc biệt ngoài việc khoe tiền khoe hàng khoe cặp đại gia, cùng nhiều hành động và phát ngôn ngông cuồng.

Ngọc Anh (Chu), cũng được gọi là quan chức lớn (từng ngoi lên đến ghế Chủ tịch Hà Nội, rồi Bộ trưởng), với thành tích cũng chẳng có gì đặc biệt, nếu không muốn nói là dưới cả mức trung bình kém cùng nhiều phát ngôn, hành động chẳng giống ai.

Giới tính, địa vị và nhiều thứ khác nhau nhưng chung quy họ đều “nổi tiếng” trong cái xã hội này và chung một đích đến những ngày này.

Và họ cùng trở nên khác biệt trong xã hội, với một điều rất dễ hiểu: như trò cười của thiên hạ, cuối cùng thì thành “nghệ sĩ” và diễn với cuộc đời bằng những trò cười ấy, bất chấp luật pháp và nhân phẩm.

Khác là, trò cười của Ngọc Trinh có phần ngông nghênh nhưng không thể không nói là có sự ngây ngô. Còn trò cười của Chu Ngọc Anh là giả điên, giả ngây để vác tiền mà chạy.

Khi bị bắt, Ngọc Trinh tỏ vẻ ăn năn hối lỗi, vẫn có chút hồn nhiên nên dù có giận cô, nhiều người cũng tỏ ra xót thương thật sự.

Còn Ngọc Anh (Chu), khi bị bắt, tiếp tục giả ngây giả ngô, bảo không biết tiền là tiền hối lộ, cứ nghĩ là quà, và giờ…không biết nó ở đâu. Cuối cùng, mức án cho sự ngây ngô, cũng nhè nhẹ.

Giờ thì không biết cô Ngọc Trinh là showbiz hay ông Chu Ngọc Anh là showbiz. Ngọc Trinh không còn diễn nữa, còn ông Chu Ngọc Anh thì diễn đến siêu phàm, với vai diễn quá kinh điển, chắc chắn muôn đời sau vẫn nhớ.

Ngọc Trinh hút tiền của đại gia, suy cho cùng cũng là đánh đổi hương sắc; nhưng những kẻ như ông Chu Ngọc Anh, hút máu của nhân dân mà vẫn cười hề hề, vài trăm nghìn đô cứ nghĩ là “quà”, rồi “không biết để đâu”, nhẹ nhàng rỏn rẻn đến vậy, thì không có gì đánh đổi cả, mà đó là ăn cướp, là trấn lột, nhơn nhơn vô l.iêm sỉ.

Tôi chẳng muốn so sánh Ngọc Trinh và ông Chu Ngọc Anh làm gì vì suy cho cùng, chỗ bẩn nhất của Trinh có khi còn sạch hơn vạn lần chỗ sạch nhất của những kẻ như ông Chu Ngọc Anh. Nhưng nhắc ra để thấy, xã hội này đang trở thành một vở tuồng từ những kẻ như thế này, ở các cấp độ nào.

Và dù khác nhau đến thế nào, thì Ngọc Trinh và Ngọc Anh cũng chỉ là “kịch sĩ” của cái vở diễn này, mà thôi…

HOÀNG NGUYÊN VŨ


 

NHỮNG SUY NGẪM CUỐI ĐỜI

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

– Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

– Có những kiếp nhân sinh, khi đánh mất thân người đã không còn cơ hội trở mình, rơi vào trong khổ đau, đọa xứ .

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng. Cuộc đời người ta nguyên là một phép trừ, gặp nhau một lần cũng chính là trừ bớt đi một lần…”

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy chẳng quay được về.

From: dominhtam9238 & NguyenNThu


 

Tổng Biên Tập Báo Thanh Niên chuyên tố tham nhưng nay cũng vào lò, đấu đá nội bộ hay trả thù nhau?

Báo Thanh Niên từng có những bài điều tra tham những khá liều như vụ “Quây Vịnh Hạ Long làm nhà kinh doanh”

Đấu tranh chống tham nhũng được bao lâu thì phải vào “Lò”. Số phận của Phó ban Dân Nguyện QH, Lưu Bình Nhưỡng và Ông Biên Tập Công Khế đã biết trước.

Công Khế có thể đáng bị bắt giống như dân biểu phó ban Dân Nguyện Lưu Bình Nhướng, ông đã từng nói như sau:

  • Nguyên nhân của việc báo chí không dám động chạm vào những lĩnh vực nhạy cảm, đặc biệt là chống tham nhũng: do cơ chế, do các tổng biên tập sợ bị khiển trách, mất chức và cả do lãnh đạo mở quá rộng vùng gọi là nhạy cảm và vùng cấm.[1]
  • Trong cuộc phỏng vấn với Mặc Lâm, đài RFA vào ngày 19 tháng 11 năm 2014 về tự do báo chí ở VN:
    “ “con đường, chính sách minh bạch thông tin và tự do báo chí trước sau gì nó cũng đến và dứt khoát mình phải làm thôi. Không có cách nào khác, không có lựa chọn nào khác.”
  • Nói với BBC vào ngày 20 tháng 11, 2014: Việc cởi trói cho báo chí được tự do bày tỏ quan điểm của mình “chỉ có lợi” cho chính quyền chứ “không làm mất chế độ”.[3]

Tổng hợp Báo Lề Phải

Một đời ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng nay đã phải vào tù,

Tối 16-1, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP HCM cho biết đang điều tra vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”.

Đồng thời, Công an TP HCM đã ra lệnh bắt để tạm giam ông Nguyễn Công Khế – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần tập đoàn Truyền thông Thanh Niên, nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên và Nguyễn Quang Thông – nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên.

Vì sao Công an TP HCM bắt 2 ông Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông? - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Công Khế (áo trắng)

Vì sao Công an TP HCM bắt 2 ông Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông? - Ảnh 2.

Công an đọc lệnh bắt ông Nguyễn Quang Thông

Năm 2008, Báo Thanh Niên có chủ trương mua Khu đất của Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn (địa chỉ số 151-155 Bến Vân Đồn, phường 6, quận 4) để xây dựng trụ sở tòa soạn.

Ông Nguyễn Công Khế lúc này là Tổng Biên tập Báo Thanh Niên đã ký Hợp đồng hợp tác với Công ty Cổ phần Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên (Báo Thanh Niên chiếm 51% vốn điều lệ) và một doanh nghiệp thành lập Công ty Cổ phần Bất động sản Thanh Niên.

Mục đích nhằm triển khai thực hiện Dự án cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại và căn hộ cao cấp tại khu đất nói trên.

Báo Thanh Niên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng Khu đất 151 – 155 Bến Vân Đồn. Quá trình thực hiện, Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông đã ký các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần tại Công ty Cổ phần Bất động sản Thanh Niên không qua đấu giá theo quy định.

Sau đó đã ký Biên bản thoả thuận chấm dứt hiệu lực Hợp đồng hợp tác đã ký vào ngày 10-1-2008; dẫn đến toàn bộ khu đất 151 – 155 Bến Vân Đồn đã chuyển nhượng cho tư nhân, gây thất thoát tài sản Nhà nước.

Hiện vụ án đang được Cơ quan An ninh điều tra Công an TP HCM tập trung khẩn trương mở rộng điều tra để làm rõ sai phạm, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khác có liên quan, thu hồi tài sản cho Nhà nước.

 

Nguyễn Công Khế sinh năm 1954 tại Quảng Nam, là nhà báo, đồng sáng lập báo Thanh Niên và Tổng Biên tập Báo Thanh Niên từ năm 1988 đến năm 2008. 

Năm 1986 ông cùng Huỳnh Tấn Mẫm được Đảng phân công, họ sáng lập báo Thanh Niên – diễn đàn của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ông giữ vai trò phó Tổng biên tập. Từ 1988 đến nay ông làm Tổng biên tập báo này, được coi là tổng biên tập thâm niên nhất trong làng báo Việt Nam.

Ông đã đưa Thanh niên từ một báo nhỏ xuất bản một kỳ/tuần trở thành một trong những báo lớn nhất và có nhiều độc giả nhất tại Việt Nam hiện nay.

 

Trước 1975 ông hoạt động trong phong trào sinh viên, học sinh tại Đà Nẵng và Sài Gòn chống chính quyền miền Nam (cũ). Sau 1975 ông công tác tại Thành đoàn TP Hồ Chí Minh, sau đó chuyển sang công tác tại báo Phụ nữ Việt Nam.

Ngoài công tác báo chí, ông hiện là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và tham gia nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ông là Trưởng ban Giám khảo nhiều cuộc thi như: Siêu mẫu Việt Nam, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008. Đồng thời, ông từng là thành viên Ban Giám khảo các cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2007, Hoa hậu Hoàn vũ 2008 và Hoa hậu Trái Đất 2011.

Công Khế đã biết trước hậu quả của đấu đá tham nhũng và mua nhà cho con ở California.

Người “chiến sĩ cách mạng” năm xưa từng biểu tình chống chế độ VNCH và phục vụ đảng CSVN cả cuộc đời, giờ sắm cả loạt nhà bên Mỹ cho con cái ở. 
• 3565 Seven Hills Rd, Castro Valley, CA 94546-2045
• 3657 Seven Hills Rd, Castro Valley, CA 94546-2047
• 4648 Mia Cir, San Jose, CA 95136-2325
• 3427 Salisbury St, Oakland, CA 94601-3133
• 4 Captain Dr Apt E203, Emeryville, CA 94608-1715
– (Bùi Thanh Hiếu FB)
Tiền ở đâu ra mà nhiều vậy? Khế kinh doanh đất của dân?

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dương Trung Quốc

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Lúc bé, tôi vẫn thường xem phim cọp. Lý do, giản dị, chỉ vì tôi rất ít khi có tiền mua vé. Lúc có, tôi lại muốn dùng tiền để mua những thứ khác (bắp nuớng, đậu phụng rang, cà rem, bánh kẹo…) để nhai lai rai trong lúc coi phim cơ.

Nhưng làm thế nào để vào cửa cọp mới được chớ? Ít nhất cũng có hai cách. Thứ nhất là đứng xớ rớ truớc cửa rạp, thấy một ông hay một bà trông có vẻ bảnh bao và dễ tính là mình xà ngay đến:

  • Thưa chú, thưa dì, thưa cô, thưa bác… con muốn coi cái phim này hết sức nhưng không có tiền, làm ơn dắt con vô luôn nha?

Nếu họ gật đầu là kể như… khỏe. Theo lệ, mỗi nguời lớn đi xem phim có quyền dắt theo một trẻ em – miễn phí.

Lối thứ hai rắc rối hơn một chút, kém đàng hoàng hơn một tí, và cần một ít vốn đầu tư. Mấy đứa phải hùn hạp đủ tiền cho một thằng hay một con nào đó mua vé đàng hoàng. Sau đó, nó sẽ len lén mở cửa hông cho cả lũ vào luôn!

Có lần vì giông bão rạp chiếu bóng cũng chỉ có mấy ngoe mua vé vào xem. Lũ nhi đồng chúng tôi quên chi tiết đó, vẫn tiếp tục rủ nhau coi cọp. Không những thế, nhiều đứa còn “mời” cả anh chị và bố mẹ “đi” luôn. Dân trong xóm tôi đều nghèo, đều rất ham… vui; do đó, gặp ngày mưa buồn bã và rảnh rỗi (rạp hát lại gần nhà) nên mọi nguời đều vui vẻ… nhận lời!

Chủ rạp kinh ngạc khi thấy vé không bán được bao nhiêu mà bên trong rộn rã tiếng cười đùa vỗ tay của trẻ con, rôm rả tiếng bàn tán nói cười của nguời lớn. Không cần phải thông minh lắm nguời ta cũng tìm được lý do, không lâu, sau đó.

Thế là bất ngờ, sau một lời xin lỗi ngắn ngủi qua hệ thống phát thanh, đèn bật sáng trưng, nhân viên ào vào soát vé. Lần lượt từng mạng một, không phân biệt già trẻ lớn bé, không sót một ai, cả xóm bị “mời” ra khỏi rạp bằng những lời lẽ hoàn toàn … không nhã nhặn.

Ðã có lúc vui miệng, tôi kể cho mấy đứa con nghe về cái kỷ niệm ấu thơ (không mấy êm đềm) này. Chúng đều tỏ vẻ ái ngại và vô cùng thất vọng về thái độ rất thiếu đàng hoàng, lương thiện của một người làm cha không lấy gì làm khả kính:

  • It’s not fun.Như vậy đâu có vui bố.
  • And it’s not fair, either!Cũng không công bằng mấy bố à.
  • Ờ thì bố cũng thấy là không vui gì cho lắm và có hơi kỳ kỳ một chút.
  • Kỳ một chút sao được. It’s cheating,như vậy là ăn gian!

Tôi miễn cưỡng đồng ý với tụi nó mà bụng dạ (nói thiệt) có hơi buồn. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã gian lận gì nhiều trong chuyện xem phim cọp cả. Cũng như tất cả những nguời dân lớn nhỏ khác của cả xóm mình, tôi chỉ có tội nghèo mà ham… vui (và hơi láu cá chút đỉnh) thế thôi.

Láu cá (rõ ràng) không phải là một đức tính, dù nhìn theo quan niệm đạo đức của bất cứ ai. Bởi vậy, càng già tôi càng đàng hoàng thấy… rõ! Những nguời tử tế, biết phục thiện, và tử tế như tôi – tiếc thay – hơi ít.

Tạp chí Khởi Hành số 34, phát hành tháng 8 năm 99, từ California, có bài viết “Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”, của Trần Anh Tuấn, về những nguời… rất không đàng hoàng như thế. Những kẻ mà đến lúc chết vẫn còn (vô cùng) láu cá!

Một phần của bài viết, ông Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam – Những Gương Mặt Trí Thức, tập I, do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập, Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ông Trần Anh Tuấn ghi nhận như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.”

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Cứ theo như lời của ông Trần Anh Tuấn thì “nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách”. Là kẻ hậu sinh, tôi không hề dám có nghĩ tranh luận hay bút chiến với một nguời cầm bút vào hàng truởng thượng – và nặng ký – như ông Trần Anh Tuấn. Tuy nhiên vì đã lỡ biện minh cho chuyện vào cửa cọp của chính mình, tôi tự thấy có bổn phận phải lên tiếng để bênh vực cho một số những nguời vừa được vinh danh là “trí thức Việt Nam tiêu biểu” – trong nửa thế kỷ qua.

Theo tôi thì qúi ông Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo, Hoàng Xuân Hãn… đều dư sức dắt theo ba trự lóc nhóc cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… đi vào lịch sử mà khỏi cần mua vé. Như đã thưa, tuy không bằng luật nhưng theo lệ (ít nhất cũng là lệ ở những thành phố miền Nam) mỗi nguời đi xem phim có quyền dắt theo một nhi đồng – miễn phí. Hồi nhỏ tụi tôi vẫn đi xem phim ké theo kiểu đó mà. Ðiều này đâu có gì là gian lận mà ông Tuấn phải phàn nàn và nặng lời dữ vậy?

Giữa chuyện ham vui (của lũ bé con chúng tôi, ngày truớc) và chuyện ham danh (của những ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam, bây giờ) có một điểm này chung: túng làm liều. Ðiểm chung đó, với ít nhiều chủ quan, tôi tin tưởng là thông cảm và chia sẻ được.

Nếu không, nghĩa là nếu ông Trần Anh Tuấn không đồng ý, tôi xin đề nghị chúng ta nên nhìn vấn đề theo cách khác – dựa vào hình ảnh, kinh nghiệm phổ cập hơn với phần lớn mọi người, và cũng vẫn với phong thái nhẹ nhàng tương tự. Hãy tưởng tượng đến cảnh quá giang.

Chiếc bè chở những “gương mặt trí thức Việt Nam tiêu biểu” của nửa thế kỷ qua đi vào lịch sử mà chỉ có vài ba ông cỡ như Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo và Hoàng Xuân Hãn… thì ngó bộ hơi neo đơn và cũng (có phần) phí phạm. Nó còn rộng chỗ nên quí ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… xin được quá giang – vậy thôi.

Nguời ta mượn lời để diễn ý. Ðặng ý thì bỏ lời. Thiên hạ mượn bè để qua sông. Miễn sao họ qua lọt thì thôi. Câu nệ quá tôi sợ… mất lòng và, chắc chắn, cũng sẽ mất vui!

Tôi chỉ tận tình chia sẻ nỗi bất bất bình của ông Trần Anh Tuấn về việc những vị sử quan đương đại – Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân, và Tạ Ngọc Liễn – theo chỉ thị, đã mở cửa hông cho thêm cả đống ông nữa (tổng cộng lên đến 33 mạng) ào ạt nhào luôn vào lịch sử.

Cũng như đi coi phim cọp, đi quá giang – dù là bằng thúng, bằng mủng, bằng bè, bằng ghe tam bản, bằng thuyền ba lá, bằng ca nô, bằng tầu (hay bằng thủy phi cơ… chăng nữa) cũng đều nên tránh chuyện đàn đúm, kéo bè, kết đảng đông đảo quá. Xô đẩy, giành giật, chen lấn là cảnh (luôn luôn) rất khó coi và dễ gây hiểu lầm là một vụ thủy tặc hay không tặc. Ðó là chưa kể chuyện quá tải, rất không an toàn.

Chìm xuồng, cả lũ, như chơi.

Gần cả thế kỷ qua dân Việt dở sống dở chết. Giữa lúc muôn họ lầm than, nhân tâm ly tán, nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sớm; danh nhân, trí thức, kẻ sĩ… ở đâu mà hăm hở chen lấn đi vào lịch sử đông dữ vậy – hả Trời? Chợ chưa họp mà kẻ cắp đã đến đủ mặt như thế thì (ngó) cũng kỳ.

Mới đây ông Nguyễn Chính còn khám phá ra vụ này, ngó bộ, còn kỳ dữ nữa về chuyện khai thác bauxite ở Việt Nam: “Quốc hội chưa họp, nghĩa là chưa ai có ý kiến gì, ông dân biểu Dương Trung Quốc đã phát ngôn trên báo Tuổi Trẻ rằng “Nhưng Bộ Chính trị đã quyết rồi thì bây giờ ta chỉ bàn làm sao cho tốt, cho an toàn thôi” khiến nhiều cử tri rất ngỡ ngàng.”

Tôi thì không ngỡ ngàng gì cho lắm vì đã được họp tập trước về việc “Đảng chỉ tay, Quốc hội vỗ tay, dân trắng tay” tự lâu rồi. Chỉ hơi ngờ ngợ vì cái tên của ông Dương Trung Quốc nghe (có vẻ) quen quen. Té ra, ông chính là một trong ba nhân vật đã sưu tầm và biên tập cuốn Lịch sử và văn hoá Việt Nam – Những gương mặt trí thức (tập I) do Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998.

Tưởng sao chớ “đi ra, đi vô cũng cái thằng cha khi nẫy” chớ ai! Mười năm trước ông Dương Trung Quốc tô vẽ cho nhiều kẻ bất hảo trở thành “Những gương mặt trí thức” của lịch sử và văn hoá Việt Nam. Bây giờ thì ông mở đường để con những người này mang đất nước ra băm xẻ, cho bằng thích.

Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì… đen là phải!


 

SỰ KHÁC BIỆT CỦA NGƯỜI ĐỌC SÁCH VÀ KHÔNG ĐỌC SÁCH

Gieo Mầm Ơn Gọi

Người thường xuyên đọc sách toát lên vẻ đẹp “tri thức”

Nói chuyện với những người đọc nhiều sách bạn sẽ thấy kiến thức của họ rất rộng, lập luận rất chặt chẽ. Khí chất, cách nói năng, quan điểm, hành động hay cách xử lý của những người đọc sách có sự khác biệt hơn nhiều so với những người chẳng bao giờ đọc một cuốn sách nào.

Tầm nhìn của người đọc sách sẽ được tích lũy tăng dần theo số sách mà họ đã đọc.

  1. Người thường xuyên đọc sách có sự ham học hỏi

Bên cạnh mục đích đọc để nâng cao chuyên môn thì phần lớn những người thường xuyên đọc sách đều rất thích đọc, thích tìm hiểu và khám phá một thế giới khác trong sách.

  1. Người thường xuyên đọc sách rất khách quan

Bản chất con người luôn là chủ quan, ích kỷ, coi trọng lợi ích bản thân. Nhưng người đọc sách nhiều sẽ thấu tình đạt lý hơn, có góc nhìn khách hơn và dễ đồng cảm hơn. Ngược lại, người không đọc sách nhiều có xu hướng bảo thủ, cố chấp trước quan điểm của người khác.

  1. Người thường xuyên đọc sách sẽ nhìn thấu được sự việc

Đọc nhiều giúp ta hiểu được những nguyên lý xuất hiện phía sau một hiện tượng nào đó. Bởi có một số chuyện nhìn có vẻ bình thường nhưng ẩn sau đó là những nguyên lý kinh tế học, tâm lý học… Nếu bạn đọc nhiều sách tâm lý học, bạn sẽ nhận ra những “cái bẫy” tâm lý và các phương thức thao túng đang được áp dụng trong cuộc sống.

Đọc một cuốn sách tốt chẳng khác nào trò chuyện với một người thông minh. Vì vậy, hãy biết cách chọn lọc thể loại sách phù hợp với nhu cầu và nhận thức của bạn.

Không đọc sách thì cũng chẳng phải là chuyện gì xấu xa cả và việc đọc nhiều cũng không đảm bảo khiến bạn thành công. Nhưng chắc chắn rằng đọc sách giúp bạn mở mang tri thức, rèn luyện khả năng đọc nhanh, tư duy ngôn từ và cải thiện trí nhớ rất hiệu quả.

Đọc sách một thời gian ngắn sẽ không có nhiều sự khác biệt. Nhưng đọc sách một năm, 2 năm, 3 năm và thêm nhiều năm nữa, khác biệt ắt rõ ràng.

S.T.


 

Một thiếu nữ ở Nghệ An lừa bán em gái ruột sang Trung Quốc ‘làm vợ’

January 15, 2024

Ba’o Nguoi-Viet

NGHỆ AN, Việt Nam (NV) – Hôm 15 Tháng Giêng, Tòa Án Tỉnh Nghệ An đã tuyên án hai bị cáo Cụt Thị Ngọc và Ven Thị Hoài, mỗi người 12 năm tù về tội “mua bán người dưới 16 tuổi.”

Hội Đồng Xét Xử nhận định hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp “đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội với nhiều người,” do đó cần đưa ra hình phạt tương xứng để “răn đe, phòng ngừa chung.”

Hai bị cáo Ven Thị Hoài (trái) và Cụt Thị Ngọc tại tòa. (Hình: KH/Thanh Niên)

Báo Dân Trí dẫn cáo trạng cho biết bị cáo Hoài, 21 tuổi, trú huyện Kỳ Sơn, và bị cáo Ngọc, 27 tuổi, ở huyện Quế Phong, cùng tỉnh Nghệ An, quen nhau khi làm công nhân tại Thái Bình.

Tháng Mười, 2022, Ngọc nhắn tin cho Hoài nói có người thân đang ở Trung Quốc, nếu tìm được phụ nữ đưa qua biên giới bán làm vợ cho người bản địa thì sẽ được trả tiền công hậu hĩnh.

Ngay sau đó, Hoài phản hồi có em gái 14 tuổi, sẽ về thuyết phục gia đình.

Để không bị thoát “con mồi,” Ngọc nói với Hoài nếu đưa được em gái sang Trung Quốc sẽ được trả 30 triệu đồng ($1,225) tiền công và gia đình được nhận khoản tiền 120 triệu đồng ($4,902).

Nói là làm, Ngọc sau đó chuyển trước cho Hoài 4.5 triệu đồng ($183) để trả nợ và làm chi phí đưa đón nạn nhân. Đồng thời Ngọc hứa sẽ trả thêm cho bạn đủ số tiền đã thỏa thuận nếu phi vụ trót lọt.

Đến Tháng Sáu, 2023, Hoài về thuyết phục mẹ cho em gái là VTK, 14 tuổi, “đi làm công ty” ở Bắc Giang và được mẹ đồng ý.

Hai ngày sau, người thân em Moong Thị N,14 tuổi, ở cùng xã đến nhà Hoài chơi, biết Hoài sắp đưa em đi làm “việc nhẹ lương cao” nên cũng về đặt vấn đề xin theo.

Sau đó Hoài gọi điện cho Ngọc thông báo đã kiếm được hai người, yêu cầu trả 60 triệu tiền công ($2,450) và 240 triệu đồng ($9,804) để đưa cho các gia đình.

Đầu Tháng Bảy, 2023, Hoài cùng hai bé gái đón xe đò từ huyện Kỳ Sơn xuống thành phố Vinh để đi ra Hà Nội. Tuy nhiên, khi đến xã Chiêu Lưu thì bị công an phát hiện bắt giữ.

Hai ngày sau, biết Hoài bị bắt, Cụt Thị Ngọc tới công an đầu thú.

Phản ảnh trên báo VNExpress, nhiều người tỏ ra phẫn nộ.

Độc giả “Truongson thuydung” bất bình viết: “Con chị đốn mạt, vì vài chục triệu mà bán em ruột sang xứ người, phải người gia đình tôi thì xin để gia đình xử lý trước, sau đó pháp luật trừng trị sau.”

Trong khi đó, độc giả “Cù Kim Ngọc” ngán ngẫm: “Trời ơi, tôi đang đọc cái gì thế này? Chị em thương nhau không hết…. lại nỡ, không hiểu nổi?!” (Tr.N)


 

Sau ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy…-Trương Nhân Tuấn

 Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

15-1-2024

“Sinh, lão, bịnh, tử” là chuyện gắn liền với mỗi cá nhân con người, tức là chuyện “bình thường”. Ai rồi cũng phải trải qua một trong bốn giai đoạn đó trong cuộc đời mình. Ông Trọng cũng vậy. Ông không phải là thần thánh.

Tuy nhiên, ông Trọng là lãnh đạo tối cao của Việt Nam hiện nay. Bất cứ chuyện gì xảy ra đối với ông Trọng, trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên quan đến Việt Nam. Sự vắng mặt của ông những ngày qua làm dấy lên những đồn đoán, ngay cả ở báo chí nước ngoài. Người ta đặt vấn đề về “hậu sự” của ông Trọng.

Cá nhân tôi từ hơn hai thập niên qua luôn giữ quan điểm rằng, yếu tố cần thiết để Việt Nam có thể phát triển lành mạnh và bền vững là vấn đề “pháp trị hóa nhà nước”. Các quốc gia Nam Hàn, Đài Loan, Singapore… từ ba thập niên 1970, 1980 và 1990 của thế kỷ trước đều là các quốc gia “độc tài”. Khác với Việt Nam, các quốc gia trên đều là các “Quốc gia pháp trị – Etat de Droit” và kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa.

Nhớ lại những năm cuối nhiệm kỳ 1 của ông Trọng, ước muốn của ông được báo chí ghi lại: “Xây dựng một bộ máy nghiêm minh đồng thời hoàn thiện thể chế, chính sách, luật pháp tới mức không còn những ‘khoảng trống’, ‘kẽ hở’ cho tham nhũng, để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không còn muốn tham nhũng“.

Đến nay đã giữa nhiệm kỳ 3. Khách quan nhận xét thì rõ ràng những ước muốn của ông Trọng vẫn còn xa xôi lắm.

Cốt lõi của vấn đề là ở thể thức phân bổ quyền lực. Quyền lực tập trung vào đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện, về mọi mặt, nhà nước và xã hội.

Thử nhìn vào nơi nào trong xã hội này mà không thúi nát? Ngay cả ở các nơi chốn tôn nghiêm. Câu thơ (của Bùi Minh Quốc): “Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa“, chưa bao giờ đúng như lúc này.

Ông Trọng đã thất bại toàn tập trong vấn đề “nhốt quyền lực vào cái lồng lập pháp”. Những biện pháp như “bỏ phiếu tín nhiệm” chỉ là trò cười đối với cán bộ tham nhũng, hủ bại. Những con sâu chúa trong hệ thống quyền lực này vẫn an toàn vô sự, bất chấp cái “lò” của ông Trọng nóng hơn bao giờ hết.

Người ta chỉ có thể diệt trừ tham nhũng ở một số người nhưng không bao giờ diệt tham nhũng ở cả một tập đoàn. Qua các vụ Việt Á, “các chuyến bay giải cứu”, người ta đã thấy đảng CSVN thúi nát từ trên tới dưới, từ trong ra ngoài.

Đảng viên CSVN đối xử với dân chúng như những con thú. Chỉ hiện hữu trong xã hội loài thú, khi một con thú bị thương, con thú này trở thành con mồi cho những con thú khác.

Đảng CSVN xây dựng cái gì mà một người Việt gặp hoạn nạn là cơ hội tốt cho đảng viên cộng sản lạm dụng. Có khác gì xã hội của loài thú đâu?

Theo tôi thấy, với cái đà này “sau” ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy. Không “pháp trị hóa nhà nước” thì không có bất cứ cái gì ngăn cản được sự hủ bại của quyền lực.

Tôi nghĩ rằng thời gian còn lại của ông Trọng không nhiều. Tôi rất bi quan về tiền đồ của đất nước. Mô hình phát triển của Trung Quốc mà ông Trọng lấy về áp dụng cho Việt Nam chỉ là một cái áo quá khổ so với Việt Nam.