Con tàu chỉ có một người – Tác giả : Phan Xuân Sinh – Truyen ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Tác giả : Phan Xuân Sinh

Con tàu chỉ có một người – Câu chuyện xúc động ý nghĩa sâu sắc

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ.

Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận…

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó!

Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.

Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà.

Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

” Anh yêu quý,

Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ, từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.

Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.

Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.

Vợ anh

Lê Thị Hồng”…

Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội.

Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.

“Hồng em,

Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.

Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.

Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.

Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.

Chồng em

Nguyễn Hữu”

Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ.

Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”

Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. ”

“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”

Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”

Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”

Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”

Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.

Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết..

Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.

Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.

Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.

Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…

Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều.

Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

Tác giả : Phan Xuân Sinh


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hát Xẩm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

17/09/2024

Rằm tháng Tám (Tết Trung Thu) tôi hú cả đống bạn bè tụ tập lại chơi, và uống sương sương vài chai cho vui nhà vui cửa – nhân lúc “nhà tôi” …đi vắng. Sau khi cạn mấy ly đầy, rồi đầy vài ly cạn, và lại cạn thêm mấy ly đầy nữa thì tất cả chúng tôi đều “ngỡ như trẻ thơ – dù tóc đều đã bạc từ lâu!

Cả đám đồng ca bài Thằng Cuội. Bản nhạc mà có lẽ đứa bé nào sinh trưởng ở miền Nam (vào thập niên 1950 – 1960) cũng biết. Đây là bài đồng dao được nhạc sĩ Lê Thương viết bằng những lời lẽ rất tân kỳ, dù nền tân nhạc Việt Nam (vào thời điểm này) còn ở giai đoạn phôi thai:

Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ …

Lặng nghe trăng gió hỏi nhau
Chị kia quê quán ở đâu
Gió không có nhà
Gió bay muôn phương
Biền biệt chẳng ngừng
Trên trời nước ta…”

Các con dế mèn suốt trong đêm khuya
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ
…

Hát bội, hát chèo, hát cô đầu, hát cải lương, hát hồ quảng… để kiếm sống ra sao thì tôi không biết. Chớ còn hát xẩm thì dù có được (cho) tiền, vẫn nghèo xơ xác.

Thuở ấu thơ, thỉnh thoảng, tôi vẫn nhìn thấy những người hát xẩm. Họ thường ngồi ở cầu thang chợ Đà Lạt, vào lúc chợ đông, gẩy những tiếng đàn buồn bã (và hát những bài ca u uất) giữa sự hờ hững của đám đông – “ông đi qua bà đi lại”!

Đó là chuyện hát xẩm miền Nam, trong trí nhớ non nớt của tôi, khi đất nước đã hoàn toàn chia cắt. Ở miền Bắc, sinh hoạt của giới người này (có lúc) lại hoàn toàn khác hẳn :

“Khi hoà bình mới lập lại 1954, ông (nhà văn Thanh Tịnh) được giao phụ trách một đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về hướng Bùi Chu – Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát dân gian để động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ di cư của kẻ địch mà hãy ở lại với quê hương.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Phương Nam: 2002).

Quê hương, tuy thế, xem ra cũng chả “ưu ái” gì lắm với những người ở lại. Ngay cả Thanh Tịnh (một nhà văn tăm tiếng, biên tập viên của tạp chí Văn Nghệ, sĩ quan cao cấp của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Anh Hùng) mà ngó bộ cũng không được hạnh phúc hay vui sướng gì lắm, ngay giữa lòng cách mạng :

“Ở vào cái tuổi chưa đầy sáu muơi mà Thanh Tịnh những năm đó trông đã già lắm, già hơn tuổi rất nhiều… muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào phải nhìn những lúc ông đi bộ. Trên đường Phan Đình Phùng, duới những hàng sấu, cũng già cả mệt mỏi, ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn.” (Vương T.N. s.đ.d 181).

Với hàng triệu người di cư thì hậu vận cũng không sáng sủa gì hơn. Họ bị bắt lại, trọn đám, sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng! Từ đây, Nam/Bắc hoà lời ca. Một bản trường ca rất khó hát nên hằng triệu kẻ đã liều mạng đâm xầm ra biển, hay ù té bỏ chạy thục mạng qua biên giới xứ người.

Họ thuộc thành phần “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, chây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” – theo như nguyên văn lời giải thích của giới truyền thông trong nước với dư luận thế giới, và với lũ cột đèn (còn) ở lại.

Không hiểu đám người này đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất khách – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen. Từ đó, Bộ Chính Trị bèn đổi mới tư duy, và báo chí nhà nước cũng bắt đầu… đổi giọng.

Chỉ qua một đêm, tiếng Việt (bỗng) có thêm nhiều cụm từ rất mới và (nghe) rất thân thương: khúc ruột xa ngàn dặm, sứ giả Lạc Hồng, thành phần không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc …  Bộ Ngoại Giao VN cũng có thêm một vị Thứ Trưởng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài.

Nếu bỏ những chức danh vừa kể, cho nó đỡ rườm rà, và nói trắng phớ ra thì đây chỉ là một đoàn hát xẩm tân thời. Nhiệm vụ mới không phải là động viên người dân ở lại như thời Thanh Tịnh (vì chúng đã thoát được rồi) mà là kêu gọi họ đừng nỡ ngoảnh mặt đi luôn, tội lắm!.

Nói cho chính xác thì trước khi cái “đoàn hát xẩm” này được chính thức thành lập, Đảng và Nhà Nước cũng đã từng có những “động thái” để hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, cụ thể là chuyến công du Hoa Kỳ (vào năm 2004) của bà Tôn Nữ Thị Ninh – Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội.

Chỉ tiếc có điều là cái giọng hát xẩm của bà Ninh lại không được dễ nghe cho lắm :– Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.

–  Mình là thế thượng phong của nguời chiến thắng, mình cần chủ động, người ta không thể chủ động được do mặc cảm, cũng không thể yêu cầu ngươi ta đi trước, họ đứng ở vị trí không thuận lợi trong tiến trình lịch sử.

Đã ngồi ngửa nón ăn xin giữa chợ đời mà còn ca ông ổng (“mình là thế thượng phong”) như thế thì có mà ăn cứt. Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Thị Thu Hằng – Chủ Nhiệm Ủy Ban Người V.N Ở Nước Ngoài – cũng thế (cũng không biết thế nào là nghề hát xẩm) nên giọng ca rất khó nghe: “Một bộ phận bà con vẫn chưa thực sự mở lòng, xóa bỏ định kiến tiếp, chưa có nhận thức đúng, đủ, kịp thời về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

G.S Nguyễn Văn Tuấn nhận xét:

“Tôi thấy phát ngôn này hơi bậy nè. Bà con ở ngoài này, nếu họ quan tâm đến quê hương, thì họ có nhiều thông tin hơn những gì báo chí do Nhà nước kiểm soát cung cấp. Chị có để ý là cứ mỗi lần có thay đổi nhân sự ở trong nước thì bà con ngoài này đã biết trước khi báo chí đưa tin cả tháng trời. Họ thậm chí còn biết những chuyện ‘thâm cung bí sử’ do chính những bà con trong nước chuyển ra.

Chẳng hạn như làm sao bà con trong nước đọc được các tác phẩm của Vũ Thư Hiên, Tô Hải, Trần Đĩnh, Lê Phú Khải, v.v. nhưng bà con ngoài này thì đọc lâu rồi. Chị có vẻ xem thường bà con ở hải ngoại.”

Chị Hằng, nói nào ngay, cũng không đến nỗi xem thường “bà con ở hải ngoại” bằng người tiền nhiệm, T.T Nguyễn Thanh Sơn. Ông cựu Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài ăn nói còn khó nghe hơn thế nữa cơ:

  • Họ ra đi, đem theo hận thù và hận thù đó, rất đáng tiếc, được nuôi dưỡng bởi sự không hiểu về chúng ta, bởi những tuyên truyền sai lệch về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội. Sự sợ hãi đó gây nên nhiều thiệt thòi cho bà con. 
  • Trong rất nhiều người đã về Việt Nam, chúng tôi đã gặp, và chúng tôi biết chứ, rất nhiều người tham gia những cuộc biểu tình trước đây… Chúng tôi có hỏi một vài người tại sao lại tham gia như thế làm gì thì họ bảo là thực tế nói thật là cũng đi để kiếm thêm vài ba chục đô la vì họ phát tiền, họ cho tiền thì tại sao không đi.

Với cái đám “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn” và sẵn sàng đi biểu tình chỉ “để kiếm thêm vài ba chục đô la” mà Đảng và Nhà Nước mong họ “tích cực đóng góp xây dựng đất nước” thì quả là ước mong rất đỗi viển vông. Cũng viển vông y như dự tính huy động tiền và vàng của người dân trong nước vậy.

Túng quá nên hoá quẫn chăng?


 

Câu Lạc Bộ Siêu Giàu của Trung Cộng và Cảm Nghĩ của Dân Thường

Tổng Hợp Báo Chí Quốc Tế  

Theo báo cáo mới nhất từ ​​Henley & Partners, công ty tư vấn đầu tư di cư và New World Wealth, câu lạc bộ siêu giàu thế giới đã mở rộng đáng kể trong 10 năm qua, trong đó Trung Quốc dẫn đầu.

Báo cáo nhận định: “Sự trỗi dậy của Trung Quốc là đáng chú ý nhất, với số lượng triệu phú đô la tăng 108% trong 10 năm qua – thậm chí còn vượt xa thành tích ấn tượng của Hoa Kỳ, nơi số lượng người siêu giàu tăng 81% trong cùng kỳ”.

Steffen cho biết sự tăng trưởng của Trung Quốc phần lớn là nhờ sự xuất hiện của các triệu phú công nghệ và các ông trùm công nghiệp. Hiện có 2.350 triệu phú đang sống ở Trung Quốc.

 

Nhưng nền kinh tế của đất nước đã đình trệ trong những năm gần đây, bị kéo xuống bởi một lĩnh vực bất động sản đang gặp khó khăn, tình trạng thất nghiệp dai dẳng và tiêu dùng trong nước yếu. Hầu hết sự bùng nổ của những triệu phú centimillionaire của Trung Quốc xảy ra trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2020

BBC cho biết:

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể đang bắt đầu chậm lại, nhưng điều đó không ngăn cản những công dân giàu có nhất của nước này rút tiền và chi tiêu số tiền lương khó kiếm được của họ. Nhiều người Trung Quốc đang trở nên giàu có hơn và các quỹ tự do của họ đang được chi tiêu trên khắp thế giới, theo một số báo cáo nghiên cứu gần đây.

Từ Vancouver đến New York, London, Paris và Hồng Kông, các nhân viên bán hàng tại trung tâm mua sắm đang chứng kiến ​​ngày càng nhiều người mua sắm Trung Quốc săn lùng túi xách hàng hiệu hơn bao giờ hết, trong khi các đại lý bất động sản đang nhận được cuộc gọi từ các ông trùm đang tìm kiếm không gian sống có phong thủy tốt.

Ngày càng có nhiều người gia nhập hàng ngũ siêu giàu. Theo báo cáo gần đây của Wealth-X, một công ty có trụ sở tại Singapore chuyên thu thập dữ liệu về những cá nhân có giá trị tài sản ròng cực cao, số lượng người Trung Quốc có hơn 3,03 tỷ nhân dân tệ Trung Quốc (500 triệu đô la) tài sản sẽ tăng 6% trong năm nay lên 535 người.

Trẻ và giàu có

Do tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, sự bùng nổ của cải của Trung Quốc đã diễn ra trong thập kỷ qua. Kết quả là, hầu hết những công dân giàu nhất của đất nước này đều trẻ tuổi và lần đầu tiên trải nghiệm sự giàu có. Điều này hoàn toàn trái ngược với các quốc gia như Anh và Hoa Kỳ, nơi nhiều tiền hơn đã tích lũy được bằng cách được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Độ tuổi trung bình của nhóm có giá trị tài sản ròng cao là từ 40 đến 50 tuổi, so với độ tuổi từ 50 đến 60 tuổi ở các quốc gia khác, Jennifer Zeng, đối tác tại Bain & Co. có trụ sở tại Bắc Kinh cho biết.

Hiện nay, có khoảng 65.500 cá nhân Mỹ có giá trị tài sản ròng cực cao – những người có tài sản hơn 30 triệu đô la – so với 10.675 người ở Trung Quốc.

Phản Ứng của Dân Thường

Trong một thời gian dài, mọi người đều có ấn tượng rằng họ có thể đạt được “thịnh vượng chung” – điều mà cựu lãnh đạo Đặng Tiểu Bình từng nói sẽ là mục tiêu ngay cả khi điều đó có nghĩa là một số người và khu vực nhất định sẽ trở nên giàu có trước.

“Nhưng sau hơn 40 năm kể từ khi đất nước mở cửa, những người giàu ngày càng giàu hơn, bỏ xa những người khác và cảm thấy thất vọng và bất lực”, Tiến sĩ Xu cho biết.

 
 

Đôi khi sự tức giận trở nên trầm trọng hơn 

Ví dụ, tháng trước, người ta đã vô cùng phẫn nộ khi biết rằng nữ diễn viên Trịnh Sảng được trả khoảng 2 triệu nhân dân tệ mỗi ngày cho một vai diễn truyền hình, tổng cộng là 160 triệu nhân dân tệ cho toàn bộ dự án.

“Khái niệm 160 triệu nhân dân tệ là gì? Những nhân viên bình thường kiếm được 6.000 nhân dân tệ một tháng phải làm việc liên tục trong 2.222 năm, có lẽ là từ thời nhà Tần”, một người viết trên Weibo.

 
Getty Images Nữ diễn viên Trung Quốc Trịnh SảngHình ảnh Getty
Nữ diễn viên Trịnh Sảng bị chỉ trích vì mức lương cao

Kết Quả của Làn Sóng Giàu Trung Cộng

Bà Zeng cho biết, trước hết, giá nhà ở các khu vực đô thị sôi động như Vancouver, London và New York đang tăng vọt khi người mua Trung Quốc đổ xô vào. Trong một cuộc khảo sát gần đây mà bà thực hiện với 3.000 người Trung Quốc có giá trị tài sản ròng cao, 30% cho biết bất động sản là một trong ba khoản đầu tư hàng đầu mà họ sẽ thực hiện ở nước ngoài.

Sự giàu có hơn cũng là một lợi ích cho các công ty bán hàng xa xỉ, cho dù đó là các thương hiệu lớn như Gucci, Burberry và Louis Vuitton hay các hoạt động nhỏ hơn như Coach.

“Trung Quốc đã trở thành một thị trường cực kỳ quan trọng đối với các công ty hàng xa xỉ,” Tang cho biết. “Điều cực kỳ quan trọng đối với một số thương hiệu cao cấp này là phải có mặt ở đó.”

Một lý do khiến nhiều người Trung Quốc giàu có mua nhà ở bên ngoài Trung Quốc là đa dạng hóa tài sản. Rambus cho biết đây cũng là cách để chuyển tiền ra khỏi đất nước.

Nhiều người giàu có lo ngại rằng chính phủ sẽ, tại một thời điểm nào đó, truy đuổi sự giàu có của họ. 

Ở châu Âu, những người Trung Quốc có giá trị tài sản ròng cao đang tìm kiếm các vườn nho và lâu đài, hãng xưởng.

 

Thánh Rôbertô Bellarminô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Mến chào một ngày mới thật vui tươi và hạnh phúc trong Tình Yêu của Thiên Chúa.

Cha Vương

Thứ 3: 17/9/24

Hôm nay 17/9 Giáo Hội mừng kính Thánh Rôbertô Bellarminô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh ( St. Robert Bellarmine), mời bạn tìm hiểu Thánh Rôbertô Bellarminô là ai nhé. Rôbertô sinh ngày 4 tháng 10 năm 1541 tại Montepuciano nước Ý Ðại Lợi trong một gia đình đạo đức và thánh thiện. Mẹ Ngài là Cynthia Cervin,Chị ruột của Ðức Giáo Hoàng Marcellô II.Ngay từ lúc còn nhỏ,thánh nhân đã tỏ ra là một cậu bé đạo đức, hiền lành, khiêm nhượng và đơn sơ. Vốn thông minh sẵn có, thánh nhân đã rất thành đạt trong việc học vấn. Lên 18 tuổi, Ngài xin gia nhập Dòng Tên ở La Mã.

Ngài dược nhận vào Dòng Tên và được gửi đi du học ở Louvain vào năm 1569. Rôbertô đã được phong chức linh mục ngay sau khi mãn học ở Louvain. Với trí thông minh,với học vấn uyên thâm, Ngài đã được chọn làm giáo sư ngay tại đại học Louvain trong 6 năm liên tiếp. Trong thời gian làm giáo sư đại học, Ngài đã tổ chức nhiều cuộc tranh luận về đủ mọi đề tài và bao giờ Ngài cũng giải đáp các vấn đề ấy một cách rành rẽ và thỏa đáng.Ngài được cử làm giám tỉnh Dòng Tên ở Naples. Năm 1596, Ngài được Ðức Giáo Hoàng Clêmentê IV phong làm Hồng Y, nhưng với lòng khiêm nhượng, Ngài không mang sắc phục Hồng Y.  Năm 1602, Ngài được phong chức giám mục.

Bất cứ giữ chức vụ nào, ở trong cương vị nào, thánh nhân cũng hoàn thành xuất sắc công việc được Bề Trên trao phó. Ngài giảng giải rõ ràng Tin Mừng của Chúa, bố thí và củng cố đức tin, tinh thần đạo đức cho mọi giới trong Giáo Hội. Thánh nhân được đề cử giữ nhiều chức vụ trong bộ truyền giáo và nghi lễ. Ngài phải đương đầu với nhiều cuộc tranh luận về quyền bính của Ðức Giáo Hoàng và về giáo điều Ðức Maria trọn đời đồng trinh. Thánh nhân đã viết rất nhiều sách có giá trị nói về tu đức.

Thánh nhân là hoa quả quí giá ,Chúa ban cho đất nước Ý Ðại Lợi. Ðóa hoa tươi đẹp,Chúa hái về vào ngày 17/9/1621 sau một cơn sốt nặng khi Ngài đang tĩnh tâm hằng năm tại Dòng Thánh Anrê. Ðức Thánh Cha Benoit XV đã phong Ngài làm tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1930.

SỨ ÐIỆP THÁNH RÔBERTÔ ÐỂ LẠI CHO MỌI NGƯỜI: Với cuộc đời thánh thiện của thánh giám mục Robertô, nhân loại như nhận ra rằng: thánh nhân đã sống hết mình với bổn phận, trong mọi chức vụ, trong mọi cương vị, thánh nhân đã đem hết tài sức để phục vụ mọi người. Ngài muốn nói với nhân loại: chỉ có tình yêu mới làm được mọi sự. Thánh nhân đã làm mọi sự vì tình yêu,vì sáng danh Chúa. Ngài đã để lại nhiều sách tu đức rất có giá trị. Với những tư tưởng rút ra từ phúc âm, với lòng trung thành với giáo lý chân chính của Chúa Kitô,thánh nhân đã nhắc nhở nhân loại: “hãy gắn bó với Chúa, hãy học hỏi nơi Chúa và chỉ nơi Chúa, nhân loại mới tìm được sự an bình và hạnh phúc”.

(Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

Lạy thánh giám mục Rôbertô, xin giúp chúng con luôn biết phục vụ mọi người trong yêu thương.

From: Do Dzung

***********************

Chỉ Một Tình Yêu – Giang Ân |Thanh Hoài 

Tự hào thay văn hóa nước CHXHCN Việt Nam: Đụng xe là đánh người bằng mỏ lết

Kẻ đánh người có vẻ như sĩ quan, hắn mặc quần rằn của Cảnh Sát Biển hay quân chủng Đặc Công gì đó?

Ai bảo dân đên dám cọ vào xe của nhà Ta

Có cho kẹo bảo về Việt Nam lái xe vói các tay côn đồ này cũng chịu thua thôi.

Có cho triệu đô bảo về Việt Nam hưởng nước cống đen xì lúc mưa lụt và sạt lở cũng đành “bỏ của chạy lấy người” thôi.

Xem mưa lụt hôm nay, nước cống đen ngòm, ở ngay tại Sài gòn và Bình Dương.

CHÚA KHÔNG PHÁN XÉT AI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một câu hỏi lâu đời về lòng nhân lành của Chúa, nó lâu đời cũng như tôn giáo chúng ta: Làm sao một Thiên Chúa toàn thiện lại có thể đày người nào đó xuống hỏa ngục muôn đời?  Làm sao Thiên Chúa đầy yêu thương và độ lượng mà lại có hình phạt đời đời?

Đó là một câu hỏi sai.  Thiên Chúa không đày bất cứ ai xuống hỏa ngục và Thiên Chúa cũng không tạo ra hình phạt đời đời.  Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống và lựa chọn thuộc về chúng ta để đón nhận hay từ chối nó.

Đức Giê-su nói cho chúng ta biết Thiên Chúa không phán xét bất cứ ai.  Chỉ có chúng ta mới phán xét nhau.  Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và  cũng không đày ai xuống hỏa ngục.  Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa hỏa ngục không tồn tại và nó không phải là một khả thể cho chúng ta.  Điều cốt yếu là cách Đức Giê-su giải thích chuyện này ở đây:

Thiên Chúa ban sự sống của Ngài cho thế gian và chúng ta có thể chọn lựa sự sống này hoặc từ chối nó.  Chúng ta tự phán xét mình trong hành động chọn lựa đó.  Nếu chọn sự sống, thì cuối cùng chúng ta sẽ chọn thiên đàng.  Nếu từ chối sự sống, thì chúng ta chết mà vẫn ở bên ngoài sự sống và cuối cùng đó là hỏa ngục.  Nhưng sự lựa chọn thuộc về chúng ta, Thiên Chúa không đày chúng ta đi đâu cả.  Hơn thế, hỏa ngục không phải là một hình phạt tích cực Thiên Chúa tạo ra để bắt chúng ta phải chịu.  Hỏa ngục là sự vắng mặt của một điều gì đó, ấy là, sống trong lòng sự sống dành sẵn cho chúng ta.

Nói lên tất cả điều này không phải là để nói không có hỏa ngục, hoặc hỏa ngục không phải là một khả thể có thật cho mọi người.  Hỏa ngục là có thật, nhưng nó không phải là một hình phạt tích cực Chúa tạo ra để thực thi công lý, trừng trị cái ác hay trừng phạt người cứng lòng không biết ăn năn khi phạm lỗi.  Hỏa ngục là sự vắng mặt của sự sống, tình yêu, sự tha thứ, cộng đoàn, và Chúa không đày bất cứ ai vào đó cả.  Chúng ta có thể kết thúc ở đó, bên ngoài tình yêu và cộng đoàn, nhưng đó là sự lựa chọn của chúng ta nếu chúng ta, một cách đáng trách, đã từ chối nó khi tất cả đều dành sẵn cho chúng ta ngay trong cuộc đời này.  Hỏa ngục, như John Shea từng nói, không bao giờ là một sự bất ngờ phục chờ ai đó đang hạnh phúc, nó là biểu hiện rõ ràng nhất của một cuộc đời từ chối tình yêu, sự tha thứ, và cộng đoàn.

Triết gia Jean Paul Sartre từng phát biểu câu nói nổi tiếng, hỏa ngục chính là người khác.  Nói ngược lại cũng đúng.  Hỏa ngục là những gì chúng ta trải qua khi đặt bản thân mình lên trên đời sống cộng đoàn với người khác.  Đời sống con người có nghĩa là chia sẻ đời sống, chia sẻ sự hiện hữu, góp phần của mình vào trong đời sống cộng đoàn, đời sống bao gồm Ba Ngôi Một Thể.

Kinh Thánh nói, Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở lại trong tình yêu, thì người ấy ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng ở lại trong họ.  Trong bối cảnh này, không nên hiểu tình yêu như kiểu tình yêu lãng mạn.  Bản văn không nói ai rơi vào lưới tình thì đều ở lại trong Thiên Chúa (dù điều này cũng có thể đúng).  Thật sự, bản văn này có thể được nói như sau: Thiên Chúa là hiện thân của sự chia sẻ, và ai chia sẻ đời sống mình với người khác, người ấy sống trong sự sống của Thiên Chúa.

Nhưng ngược lại cũng đúng.  Khi chúng ta không chia sẻ đời sống mình với người khác, chúng ta kết thúc đời sống mình ở bên ngoài sự sống.  Đó, thật sự, chính là hỏa ngục.

 

Hỏa ngục là gì?  Các hình ảnh trong Kinh Thánh nói về hỏa ngục không cố định và liên tục thay đổi.  Chung chung có khuynh hướng hình dung hỏa ngục là lửa, lò lửa cháy không bao giờ tắt, nhưng đó chỉ là một hình ảnh, và nó không nhất thiết là hình ảnh nổi trội trong Kinh Thánh.  Trong các điều được nói đến, Kinh Thánh nói về hỏa ngục như là nơi gánh chịu cơn phẫn nộ của Thiên Chúa, như ở ngoài tiệc cưới và lễ hội, nơi tang tóc, khóc lóc và nghiến răng, nơi giống như thung lũng Gehenna (chứa rác bên ngoài thành Giêrusalem), nơi bị giòi bọ rúc rỉa, như là lửa, như hụt buổi dạ tiệc, như ở bên ngoài nước trời, như sống với quả tim đau đớn bị bóp méo, như đang hụt sự sống.  Cuối cùng, tất cả những hình ảnh này đều nhắm đến một điểm chung: Hỏa ngục là nỗi đau và cay đắng, thứ lửa, chúng ta phải chịu khi, một cách đáng trách, chúng ta đã đặt bản thân mình ra ngoài đời sống cộng đoàn.  Và luôn luôn là tự mình gây ra.  Thiên Chúa không bao giờ áp đặt nó trên chúng ta cả.  Thiên Chúa không ban sự chết chóc và đày ai xuống hỏa ngục.

Premium Photo | The hell inferno metaphor souls entering to hell in ...

Khi Đức Giê-su nói về Thiên Chúa, Người không bao giờ nói Thiên Chúa ban cả sự sống và sự chết, Người chỉ nói Thiên Chúa ban sự sống mà thôi.  Sự chết có nhiều nguyên nhân, từ việc nói dối, hợp lý hóa, cay chua gắt gỏng, cứng lòng, và hỏa ngục.  Khi nói Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và đày bất cứ ai vào đó thì không có ý phủ nhận sự tồn tại của cái ác, tội lỗi và nguy cơ của hình phạt đời đời, điều này chỉ nhằm xác định các căn nguyên và làm rõ đó là ai, ai hay phán xét, ai hay kết án.  Thiên Chúa thì không; Ngài không tạo ra hỏa ngục cũng không đày ai vào đó cả.  Chúng ta thì làm cả hai.

Như Đức Giê-su nói trong Phúc Âm thánh Gio-an: “Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ.  Ai tin vào Người Con thì người đó không bị luận phạt; ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.  Và đây là án phạt, sự sáng đã đến với thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng… Ta không phán xét ai cả.”

Người không cần phán xét.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

TRẢ LẠI SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Đừng khóc nữa!”.

Hai giọt nước mắt nhỏ xuống, trôi ra dòng sông Cuộc Đời. Giọt này nói với giọt kia, “Bạn là ai?” – “Tôi là giọt nước mắt của một cô gái đang yêu một người và đã mất anh ấy! Còn bạn, bạn là ai?” – “Ôi, tôi là giọt nước mắt của cô gái đã lấy được anh ấy!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cũng nói đến những giọt nước mắt, nhưng không phải của những người đang yêu, mà là của một bà mẹ; qua đó, tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa tỏ lộ! Thiên Chúa Là Tình Yêu, Đấng luôn ‘trả lại sự sống’ và luôn làm cho sống!

“Điều khiến Chúa Giêsu cảm động trong mọi tình huống không gì khác ngoài lòng thương xót. Với lòng thương xót, Ngài ‘đọc được’ trái tim của những con người Ngài gặp gỡ và đáp lại nhu cầu sâu sắc nhất của họ!” – Phanxicô. Đọc lại trình thuật Chúa Giêsu ‘trả lại sự sống’ cho đứa con của bà mẹ Nain, chúng ta có thể nhấn mạnh đến “thần tính” của Ngài và nói rằng, chỉ Thiên Chúa mới có thể mang lại sự sống cho con người. Phải! Nhưng hôm nay, chúng ta cần lưu ý đến “nhân tính” của Ngài nữa, vì ở đây, Ngài không là một thực thể xa lạ hay là một ai đó rất khác biệt, hoặc thậm chí là một người quá quan trọng đến nỗi không thể khơi dậy trong chúng ta một niềm tin, một niềm hy vọng, một sự tự tin như một người bạn tốt, gần gũi, đầy lòng thương xót.

Đức Phanxicô nói, “Lòng thương xót, cả trong Chúa Giêsu và trong chính chúng ta, là một hành trình bắt đầu từ trái tim để vươn tới đôi tay. Điều này có nghĩa là gì? Chúa Giêsu nhìn bạn, chữa lành bạn bằng lòng thương xót của Ngài; Ngài nói với bạn, “Hãy trỗi dậy!” và trái tim bạn trở nên mới mẻ. Thực hiện hành trình này có nghĩa là, với một trái tim mới – một trái tim được chữa lành – tôi có thể thực hiện các công việc thương xót như Ngài qua đôi tay, cụ thể bằng các việc làm, tìm cách giúp đỡ, chữa lành, ‘trả lại sự sống’ cho những ai đang cần!”.

Là những người theo Chúa, chúng ta noi gương Chúa Giêsu, cầu xin Ngài ban ơn để trở nên ‘giống Ngài vì người khác’. Tuyệt vời biết bao nếu người khác có thể nhìn thấy chúng ta là hình ảnh của Chúa Giêsu trên trái đất này! Điều đó đã xảy ra, những ai nhìn thấy Phanxicô Assisi, họ nhìn thấy hình ảnh Chúa Giêsu. Các thánh là những người mang Chúa Giêsu trong lời nói và hành động, các ngài đã bắt chước cách cư xử đầy xót thương của Ngài. Xã hội chúng ta cần những vị thánh, bạn và tôi có thể trở thành những vị thánh ‘trả lại sự sống’ cho người khác trong môi trường của mình.

Anh Chị em,

“Đừng khóc nữa!”. Đó là lời một thanh niên có tên Giêsu nói với một bà mẹ từ thành Nain đi ra. Thứ Sáu tuần thánh, Giêsu ấy cũng ra khỏi thành, Mẹ anh cũng khóc. Ô hay! Anh không an ủi bà, cũng không tự cứu mình nhưng anh đã chết thật; để nhờ cái chết của anh, Giêsu ấy đã kéo toàn thể nhân loại vào một thành khác – Giêrusalem – thành thánh trên trời. Với người thanh niên Nain đã chết, Ngài nói lớn tiếng, “Hãy trỗi dậy!”; với bạn và tôi hôm nay, Ngài cũng nói những lời đó, “Hãy trỗi dậy!”. Lòng thương xót của Ngài sẽ ‘trả lại sự sống’ cho chúng ta; và điều quan trọng là chúng ta chỗi dậy, đi tới, sống và làm những công việc xót thương như Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trỗi dậy là đứng lên, ‘ra khỏi tình trạng cũ!’. Đừng để con chết lại sau khi được Chúa làm cho sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

**********************************

Thứ Ba Tuần XXIV, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

11 Khi ấy, Đức Giê-su đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. 12 Đức Giê-su đến gần cửa thành, đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. 13 Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa!” 14 Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” 15 Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ. 16 Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”. 17 Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận. 


 

Tôi Đi Bầu -Tiểu Tử

Kimtrong Lam –  U 70 LVC.

.Tiểu Tử

Gần đến bầu cử quốc hội bên Việt Nam và nghe thiên hạ bàn qua tán lại về chuyện ‘ đảng cử dân bầu ‘….làm tôi nhớ lại hồi tôi đi bầu quốc hội VC sau tháng Tư năm 1975. Đó là lần đầu tiên dân miền Nam đi bầu theo kiểu ‘ cách mạng ‘.

Đầu tiên là ‘ nhân dân làm chủ ‘ phải học tập bầu cử. ( Ở chế độ mới này, không lúc nào thấy ngưng nghỉ học tập. Hết học tập chuyện này là tiếp ngay học tập chuyện khác. Vừa xong học tập ở tổ dân phố là đã thấy phải kéo nhau ra học tập ở phường, chưa kể những người đi làm còn phải học tập ở cơ quan…v v ! ) Ông tổ trưởng tổ dân phố xóm tôi – hồi trước làm kế toán cho một hãng bào chế thuốc Tây – cho người mời các tổ viên đến nhà ông họp vào một buổi tối để học tập bầu cử. Sau khi mọi người đã an vị, nghĩa là ngồi chồm hổm hay ngồi bẹp dưới đất, ông tổ trưởng – ngồi sau một cái bàn thấp trên đó có để mấy xấp giấy vuông vuông và một lô bút bi – tằng hắng rồi nói một cách trịnh trọng : « Tôi mời bà con đến đây để chúng ta cùng học tập bầu cử. Khác với thời ngụy, ứng cử loạn xà ngầu, vàng thau lẫn lộn, chẳng biết ai là ai hết, bây giờ, trong chế độ ta, đảng có bổn phận chọn người đứng đắng, có đạo đức cách mạng… để đề nghị nhân dân bầu. Như vậy, nhân dân khỏi sợ chọn lầm người như ta vẫn thường thấy trong thời ngụy trước đây. »

Tổ viên im lặng nghe. Phần đông hùt thuốc hay xỉa răng. Thỉnh thoảng có tiếng đập muỗi và vài tiếng … ngáp. Thấy có vẻ… được, ông tổ trưởng phấn khởi nói tiếp : ’’ Đơn vị của mình được 10 dân biểu, nhưng vì là một cuộc bầu cử nên trên lá phiếu có in 12 tên đánh số từ 1 đến 12 để mình gạch bỏ 2 tên .’’

Nói đến đây, ông lấy xấp giấy vuông vuông trên bàn đi phát cho mỗi người một tấm, vừa làm vừa nói : ’’ Đây là lá phiếu. Nó như thế này đấy.’’ Rồi ông cầm một phiếu đưa lên cao : ’’ Bà con thấy không , có 12 người. Khi đi bầu, mình phải gạch bỏ 2 tên như vầy nè .’’ Vừa nói ông vừa lấy bút bi gạch hai tên mang số 11 và 12, rồi tiếp : ’’ Bà con rõ chưa ? Bây giờ, mình bầu thử cho quen.’’ Ông lấy bút bi trao cho tổ viên : “ Bà con làm như mình đi bỏ phiếu thiệt vậy. Gạch như tôi chỉ rồi xếp giấy lại làm tư. Mà… đừng ai nhìn ai hết nghe. Mình bỏ phiếu kín mà ! Gạch xong mỗi người tự mang phiếu đến cho tôi xem coi có đúng không, nghĩa là có hợp lệ không.’’ Ổng trở vào ngồi sau cái bàn thấp, đốt thuốc hút. Một lúc, ổng hỏi : “ Xong chưa nà ?’’ Các tổ viên đồng thanh : “ Dạ rồi ” Ông tổ trưởng có vẻ hài lòng, nói : “ Từng người một tuần tự mang phiếu đến tôi xem nào.“ Ổng mở từng phiếu coi rồi gật đầu nói : ’’ Đúng !’’

Từ đầu, tôi đã thấy…. hề quá nên thay vì gạch số 11 và 12, tôi gạch đại hai số nằm phía bên trên. Khi ông xem phiếu của tôi, ổng giật mình ngạc nhiên nhìn tôi, dò xét. Rồi ổng ra dấu gọi tôi đến gần kề miệng vào tai tôi, nói nhỏ : “ Không phải hai thằng cha này, ông nội ơi !“ Tôi cười khẩy : “ Vậy hả bác ?“

Đến ngày đi bầu, ông tổ trưởng… gom chúng tôi trước nhà ổng lúc 10 giờ 30 sáng bởi vì tổ chúng tôi – theo lịch trình ấn định – sẽ vào phòng phiếu lúc 11 giờ. Sau khi đếm đủ nhân số 23 người, ổng dẫn chúng tôi đến trước phòng phiếu, bắt đứng thành hàng một, rồi ổng bước vào bên trong. Một lúc sau, ổng đi ra với một người nữa lạ hoắc vì không phải là dân trong xóm. Ổng vừa trao cho người đó một tấm giấy ( chắc là giấy kê khai dân số ) vừa chỉ vào… cái đuôi của tổ : “ Đây ! Đồng chí đếm đi ! 23 người đầy đủ !“ Ông đồng chí đếm xong nói : “ Đồng bào xếp hàng vào cái đuôi này.“ Ổng chỉ vào hàng….dép guốc từng đôi nối nhau dài dài nằm phơi dưới nắng. Tôi nhìn quanh : thì ra đồng bào, trong khi chờ đến phiên mình vào bỏ phiếu, đã vào núp nắng dưới hiên nhà dân, để giày dép làm đuôi thay thế ! Tổ chúng tôi bèn cởi giày dép guốc làm y như vậy, cười cười nói nói vì thấy… vừa lạ vừa vui !

Người đi bầu lần lượt mang lại giày dép để vào phòng phiếu cho nên lâu lâu phải…đôn từng đôi giày dép guốc lên, giống như cái đuôi người nhích tới mỗi khi phía trước có chỗ trống. Tôi thấy có một thằng nhỏ trong căn phố nằm cạnh phòng phiếu chạy ra làm việc này. Có lẽ người lớn trong nhà tự động biểu nó làm, vì họ thông cảm người cùng xóm đang bị cảnh trời trưa nắng gắt !

Khi gần đến tổ chúng tôi bầu, bỗng nghe có người la lên : “ Chết cha ! Tụi nào lấy mẹ nó đôi dép da của tôi rồi !“ Vậy là những người đang núp nắng chạy ào ra cái đuôi giày dép nhìn đồ của mình, rồi, chẳng ai bảo ai, mỗi người tự động lấy đi một chiếc của mình nhét vào lưng quần hay cầm trên tay, điềm nhiên trở về chỗ núp nắng cũ, để lại hàng dép guốc bây giờ mỗi thứ chỉ còn có một chiếc ! Thằng nhỏ vẫn lâu lâu đẩy từng chiếc lên, như chẳng có chuyện gì xảy ra hết !

Lần bầu cử đó, theo báo cáo của Nhà Nước, đã đạt 99,99%. Có điều là người dân đi bầu chẳng thấy mặt ứng cử viên nào hết ! Chú Bảy thợ hồ xóm tôi….phát biểu : “ Mẹ ! Đã nói nhắm mắt bầu mà đòi thấy con khỉ gì , hả ?“

Đó là lần đầu cũng là lần cuối tôi đi bầu quốc hội V C, bởi vì sau đó, tôi đã….nhắm mắt vượt biên !

Tiểu Tử.


 

Vì sao dân không muốn gửi tiền cứu trợ qua tay Đảng?

Ba’o Nguoi-Viet

September 16, 2024

Trần Anh Quân/SGN

Khi có thiên tai xảy ra, chính quyền là nơi duy nhất có đầy đủ mọi nguồn lực để thực hiện cứu trợ. Nhà cầm quyền biết rõ nhất nơi nào cần cái gì, vì họ có đủ người và phương tiện để làm điều đó. Họ được người dân đóng thuế, trả lương để làm công việc này, đó là nhiệm vụ bắt buộc họ phải làm để phục vụ đất nước, chứ không phải là chuyện ban phát ơn nghĩa.

Cho nên về mặt nguyên tắc, khi người dân muốn cứu trợ đồng bào bị bão lũ thiên tai thì chỉ việc chuyển tiền vào tài khoản của nhà nước là được. Từ đó cơ quan chức năng sẽ mua những mặt hàng cần thiết để phân phối cho các nạn nhân, hoặc xây dựng lại các cơ sở điện, đường, trường, trạm, nhà ở cho người dân. Ngoài ra thì các lực lượng công an, quân đội, cán bộ, tình nguyện viên tại chỗ cũng đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cứu nạn. Vì họ nắm rõ địa bàn, địa hình nhất và có đủ các phương tiện cứu hộ, đảm bảo an toàn.

Thế nhưng những năm gần đây cứ mỗi khi có bão lũ, thì người dân lại tự vận động nhau mang đồ cứu trợ chở thẳng ra vùng bị thiên tai để trao trực tiếp cho các nạn nhân. Có những xe tải chở gạo, chở mỳ gói, chở bánh trái vượt hàng ngàn cây số, chạy thẳng từ nam ra Bắc để tặng cho người dân. Mặc dù gạo, mỳ tôm, bánh trái ở các vùng lân cận khu vực chịu thiên tai không hề thiếu.

Việc mua hàng tự phát này đã dẫn tới một bất cập là “chỗ cần thì không có, mà chỗ có thì không cần.” Trên facebook Võ Hồng Ly, ngày 12 Tháng Chín có bài viết mô tả về tình hình cứu trợ đồng bào vùng lũ phía Bắc của đoàn thiện nguyện của chị Lê Hoài Hương. Theo đó, các đoàn từ thiện cùng nhau mua áo phao, bánh mỳ, mỳ gói.

(Facebook Võ Hồng Ly)

Đọc một dòng tin nhắn trên facebook của những người đi cứu trợ dặn nhau, mới thấy họ phải tự làm, tự nhìn thấy, tự nhắc nhau, chứ không có một tiếng nói hữu ích nào được nghe từ chính quyền trong vùng bão lũ. “Áo phao giờ đã qua giai đoạn nguy hiểm nên không cần thiết. Bánh mỳ sau 1 ngày thì mềm ỉu, bị dính nước trong quá trình vận chuyển nên bị hư hỏng. Bánh mỳ ăn liền có hạn 7 ngày nhưng đến lúc đến tay người nhận thì hết hạn sử dụng. Mỳ tôm không có bếp và nước nóng để nấu, ăn khô sống thì không thể ăn nổi quá 3 gói. Trứng dễ vỡ trong quá trình vận chuyển. Gạo không có nước, không có bếp để nấu lại vận chuyển khó khăn và khi bị ướt thì mốc.”

Sở dĩ dân phải tự giúp nhau và để xảy ra câu chuyện trên là do người dân đã không còn tin tưởng vào hệ thống chính trị đầy tham nhũng của CSVN. Chẳng ai biết hàng trăm tỷ đồng quyên góp cho việc cứu trợ bão lụt có thật sự được dùng đúng mục đích không hay lại đi vào nhà của các quan chức cộng sản.

Đã có nhiều bằng chứng cho thấy cộng sản Việt Nam sử dụng tiền cứu trợ sai mục đích, hoặc thậm chí mang tiền cứu trợ đi gửi ngân hàng lấy lãi. Tức là lấy tiền dân cứu nhau lúc nguy cấp đi cho dân vay lại (thông qua ngân hàng). Ví dụ số tiền người dân đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 là hơn 10 ngàn tỷ đồng (10,827.06 tỷ VN đồng, bao gồm lãi tiền gửi ngân hàng 194.4 tỷ VN đồng). Nhưng chỉ chi ra 7,672.2 tỷ VN đồng. Số dư quỹ tới ngày 24 Tháng Tám 2023 vẫn còn 3,154.86 tỷ VN đồng được dùng để gửi ngân hàng lấy lãi và mua lại Trái phiếu Chính phủ – một hoạt động hoàn toàn không liên quan gì đến việc lập quỹ.

Mặc dù cộng sản Việt Nam có khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.” Nhưng nếu lên tiếng yêu cầu minh bạch các vấn đề thu chi của những cơ quan, tổ chức chính quyền thì người dân sẽ bị bắt giam với các tội danh tuyên truyền chống đối nhà nước. Như vậy thì làm sao người dân có thể tin tưởng chuyển tiền cho CSVN nữa.

Còn nhớ năm 2016, khi lũ lụt diễn ra ở miền Trung, thay vì chuyển tiền cho Mặt Trận Tổ Quốc, người dân lại chuyển cho MC Phan Anh, một người dẫn chương trình có uy tín. Hoặc mùa lũ năm 2020, người dân cũng chuyển hàng trăm tỷ VN đồng cho các ca sỹ, nghệ sỹ như Thuỷ Tiên, Hoài Linh… Khiến cho CSVN phải thực hiện cả một chiến dịch phong sát để hạ uy tín các cá nhân này. Sau đó các văn nghệ sỹ bị bắt buộc phải chuyển tiền cho Mặt Trận Tổ Quốc (cơ quan nhà nước có vai trò quyên góp cứu trợ nạn nhân thiên tai) để tránh các án phạt của nhà cầm quyền.

Thật ra CSVN cũng thừa biết rằng người dân đã không còn tin tưởng vào nhà nước sau khi “thất thu” trong việc vận động tiền ủng hộ của người dân. Cho nên mới đây, Mặt Trận Tổ Quốc đã phải công bố hơn 12,000 trang sao kê tiền quyên góp của người dân ủng hộ nạn nhân lũ lụt. Cố tỏ ra minh bạch là vậy, nhưng điều đáng nói là họ chỉ công bố khoản thu đầu vào mà không công khai các khoản chi đầu ra, làm cái gì, mua cái gì,… Điều này lại càng là tăng thêm nghi vấn về vấn đề sử dụng tiền quyên góp của người dân.

Để người dân tin tưởng vào chính quyền thì không có cách nào khác là phải bạch hoá các hoạt động của nhà nước, và đặc biệt là giao việc cho các tổ chức xã hội dân sự thực hiện công khai, minh bạch. Đảng CSVN giờ không chỉ cần  công khai về việc sử dụng ngân sách quốc gia mà còn là công khai về lá phiếu của người dân. Đó là cách mà các quốc gia dân chủ làm. Còn trong chế độ độc tài tại Việt Nam hiện nay thì công khai minh bạch lại là tử huyệt của Đảng CSVN. Ở một nhà nước mà cán bộ nào cũng là sâu mọt thì công khai minh bạch chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này.”


 

Hoa quả của Chúa Thánh Thần là gì?-Cha Vương

Ngày Thứ 2 tràn đầy sức mạnh của Chúa Thánh Thần nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 16/9/2024

GIÁO LÝ: Hoa quả của Chúa Thánh Thần là gì? 12 Hoa quả của Chúa Thánh Thần là bác ái, vui vẻ, bình an, nhẫn nhục, tử tế, tốt lành, quảng đại, nhã nhặn, trung tín, tiết độ, tự chế, thanh sạch (Gl 5,22-23). (YouCat, số 311)

SUY NIỆM: Việc liệt kê các hoa quả của Chúa Thánh Thần chứng tỏ rằng những ai để cho Chúa bắt lấy, dẫn đi, huấn luyện thì sẽ đi tới đâu. Các hoa quả của Chúa Thánh Thần chứng minh rằng Thiên Chúa có vai trò quan trọng trong đời sống Kitô hữu.

❦  Hãy rút ra sức mạnh từ niềm vui được ở với Chúa Giêsu. Hãy vui sướng và bình an. Hãy đón nhận bất cứ cái gì Chúa ban, và cho đi bất cứ cái gì Chúa lấy, với một nụ cười lớn.—Mẹ Têrêsa Calcutta (YouCat, số  311 t.t.)

LẮNG NGHE: Vì vậy, thưa anh em, anh em đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi, thì hãy cố gắng hết mình, để làm cho các ơn đó nên vững mạnh. Có thế, anh em sẽ không bao giờ vấp ngã, và nhờ đó, con đường rộng mở để đón nhận anh em vào Nước vĩnh cửu của Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và là Đấng cứu độ chúng ta. (2 Pr 1:10-11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đong đầy tim con các hoa quả của Chúa Thánh Thần để con  vững bước trên đường nhân đức.

THỰC HÀNH: Dựa trên 12 Hoa quả của Chúa Thánh Thần được nêu ra ở trên, bạn đang cần Hoa quả nào nhất? Hãy cố gắng hết mình rèn luyện để trở nên tốt lành hơn nhé.

From: Do Dzung

********************

Thánh Thần tình yêu -tinmung.net

Ông Tô Lâm đã công bố cách lãnh đạo của mình trong Đảng: Đừng nhìn lại đằng sau!

Tổng Hợp Báo Chí Lề Phải với nhận định của các nhà phân tích.

Ông Tô Lâm, hiện là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có thời gian tu nghiệp tại Mỹ. Ông từng tham gia các khóa học và chương trình đào tạo tại Trường Chiến tranh Quốc gia (National War College) thuộc Đại học Quốc phòng Quốc gia (National Defense University) của Mỹ. Đây là một trong những cơ sở đào tạo hàng đầu về chiến lược và an ninh quốc gia.

Đại tướng, GS.TS Tô Lâm - ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng Bộ Công an - tiếp giáo sư Thomas J. Vallely - cố vấn cấp cao của Trường Harvard Kennedy, thuộc Đại học Harvard - Ảnh: TTXVN

 

Đại tướng, GS.TS Tô Lâm – ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng Bộ Công an – tiếp giáo sư Thomas J. Vallely – cố vấn cấp cao của Trường Harvard Kennedy, thuộc Đại học Harvard, 23-2-2024 – Ảnh: TTXVN

Ông Tô Lâm từng được đại sư lúc đó Ted Osius, năm 2011 nhận xét, “Ông Lâm cũng là nhân vật cứng rắn, nhưng thông minh và quan tâm tới việc tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ trong một số lĩnh vực”.

Ông Tô Lâm đã có bài nhận định và đăng công báo về cách thức lãnh đạo dưới thời cai trị của Tổng Bí Thư mới. Ông viết về cách lãnh đạo mới được tóm lược như sau:

Thứ nhất

Đảng cầm quyền bằng pháp luật, lãnh đạo định ra Hiến pháp và pháp luật, đồng thời hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, đảng viên của Đảng chấp hành, “thượng tôn” pháp luật. Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước; quyền lực của đảng cầm quyền là quyền lực về chính trị, đề ra chủ trương, đường lối, còn quyền lực nhà nước là quyền lực quản lý xã hội trên cơ sở pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

Đảng lãnh đạo toàn diện đất nước và chịu trách nhiệm về mọi thành công, thiếu sót trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Hai

Tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng tham mưu”. …

Đổi mới mạnh mẽ tác phong, lề lối làm việc theo hướng khoa học, chuyên nghiệp, với phương châm “đúng vai, thuộc bài”.

Thứ Ba

… Nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức đảng phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếp thu, dễ thực hiện; phải xác định đúng và trúng yêu cầu, nhiệm vụ, con đường, cách thức phát triển của đất nước, của dân tộc, của từng địa phương, từng bộ, ngành; phải có tầm nhìn, tính khoa học, tính thực tiễn, thiết thực và tính khả thi;…

Thứ Tư

V.I. Lênin đã dạy: “Khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết nhiệm vụ thuộc loại khác thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua”. Thực tiễn đổi mới luôn vận động, phát triển, đòi hỏi đổi mới không ngừng phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trên cơ sở kiên định các nguyên tắc của Đảng; thấm nhuần lời dạy của Tổng Bí thư Lê Duẩn “Phải lãnh đạo chặt chẽ và có nguyên tắc, không bao giờ lung lay trước những khó khăn, thử thách của cách mạng”.

Tô Lâm vốn là đệ tử ưu ái của Nguyễn Tấn Dũng cùng với một đệ tử khác trong bộ Công An thời xưa, đó là Phạm Minh Chính, có lẽ họ cùng một quan niệm:

– Không đánh đổi một tình hữu nghị viễn vông lấy quyền lợi tối thượng của Đất Nước.

Là người có hiểu biết lại được huấn luyện trong hai hệ thống Tư Bản Kỹ trị và XHCN Đảng trị, liệu Tô Lâm sẽ chọn lựa điều gì cho mình, cho Đảng hay là cho Đất Nước trên hết.

Đà Nẵng có Nguyễn Bá Thanh ác và giỏi,  không may chết yểu vì “bệnh lạ” do từ một “nước lạ” chăng?

Hy vọng Tô Lâm ở bình diện lớn lao hơn nhiều sẽ làm được những thay đổi cho dân tộc Việt Nam và không yểu tử quá sớm.

Dân tộc Việt Nam cần một lãnh đạo thoát ra khỏi cái cuồng điên Cộng Sản bạo lực cực đoan và cái lý luận giáo điều cũ kỹ đến hơn 100 năm đó. Làm sao giáo điều đó có thể áp dụng vào thời đại kỹ thuật số, đúng như Tô Lâm đã khéo ám chỉ.

 

Kẻ Đi Tìm 09-2024