Kẻ kính sợ ĐỨC CHÚA sẽ thi hành, và người tuân giữ Lề Luật sẽ đạt được khôn ngoan. (Hc 15:1)-Cha Vương

Một ngày Chúa Nhật hạnh phúc hoà quyện với sự bao dung nhé.

Cha Vương

CN: 12/2/2023

TIN MỪNG: Kẻ kính sợ ĐỨC CHÚA sẽ thi hành, và người tuân giữ Lề Luật sẽ đạt được khôn ngoan. (Hc 15:1)

SUY NIỆM:Khi đối mặt với một vấn đề hoặc khó khăn lớn trong cuộc sống bạn có khuynh hướng đi tìm kiếm sự trợ giúp của người có chuyên môn trong lĩnh vực đó. Ví dụ, một người đang đối mặt với các vấn đề tài chính có thể tìm đến một cố vấn tài chính để được giúp đỡ trong việc phát triển một kế hoạch khả thi nhằm giải quyết các vấn đề của họ. Người tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp tình huống khó khăn thể hiện cả sự khôn ngoan và lòng khiêm tốn, vì không ai tự cho mình là có tất cả các câu trả lời cho cuộc sống.

Tin Mừng trong sách Huấn Ca mời gọi bạn hãy thi hành và tuân giữ lề luật của Chúa để đạt được sự khôn ngoan. Khôn ngoan của Chúa, qua sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, sẽ giúp bạn đi đúng con đường của sự sáng, sự thật và sự sống. Giới Luật của Chúa được ví như sợi dây an toàn trong xe ô tô. Dây an toàn là bộ phận tuy nhỏ nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và nó có thể cứu được mạng sống của người ngồi trên xe.

Mình để ý trong chuyến đi thăm gia đình ở Việt Nam vừa qua có việc xử dụng chốt cài dây an toàn giả, hoặc cài dây an toàn ở sau lưng. Khi mình hỏi thì bác tài nói việc làm này khá phổ biến hiện nay của nhiều người lái xe nhằm đối phó với tiếng “bíp” liên tục phát ra từ trên xe nhắc cài dây an toàn. Nguy hiểm quá đi hả! Trong đời sống tâm linh cũng thế, nếu bạn cứ bác bỏ hoặc lờ đi tiếng “bíp” của lương tâm, của sự khôn ngoan hay một khía cạnh nhỏ của giới răn Chúa, thì bạn thật liều lĩnh và tự đưa mình vào một cõi bất hạnh và nguy hại đó.

Vậy hôm nay bạn hãy tự xét lại thái độ sống đạo của mình nhé. Bạn tuân giữ giới răn của một cách nghiêm túc hay hời hợt? Bạn có dùng “chốt cài dây an toàn giả” để lờ đi tiếng “bíp” của lương tâm không? Khẩu hiệu: “Thắt dây an toàn cứu mạng người” có hiệu nghiệm như thế nào thì việc tuân giữ các giới răn của Chúa cũng sẽ cứu sống linh hồn của bạn như vậy.  Nhớ thắt dây an toàn nhé!

LẮNG NGHE: Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp CHÚA TRỜI. (Tv 119:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết mến Chúa bằng việc thực hành giới răn yêu thương của Chúa. Xin cho con biết noi gương Me Ma-ri-a: Luôn lắng nghe lời Chúa và mau mắn thưa “xin vâng”. Và xin cho con luôn nghĩ đến những người bệnh tật, nghèo khổ và bất hạnh, để chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa vậy.

THỰC HÀNH: Trong 10 điều răn Đức Chúa Trời bạn vi phạm giới răn nào nhiều nhất? Tự xét mình rồi chạy đến toà cáo giải để xin ơn tha thứ. Đừng quên cài dây an toàn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Xin Lỗi Chúa – Phương Anh & Phương Ý

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC VÀ THÁNH NỮ BERNADETTE

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lộ Đức là trung tâm hành hương quốc tế.  Cách đây mấy năm, tôi có đi hành hương Đức Mẹ Lộ Đức.  Từ Rôma qua hướng Tây Ban Nha, vượt đỉnh Pyrênê đến miền Nam nước Pháp.  Lộ Đức nằm ở một vị trí khá hẻo lánh, thuộc một tỉnh nhỏ.  Nơi đây, từng giờ từng phút, khách thập phương tấp nập đổ về để dâng lễ, cầu nguyện và xin ơn với Đức Mẹ.

Khi bước vào Vương Cung Thánh Đường Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi thấy bên phải, có phiến đá cẩm thạch ghi lời tuyên bố long trọng của Đức Giám Mục Laurence về những lần hiện ra của Đức Mẹ: “Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn.  Chúng tôi xin dâng cách khiêm nhường sự phán đoán của chúng tôi cho Sự Phán Đoán của Đức Giáo Hoàng, Vị được giao trọng trách guồng lái Giáo Hội hoàn vũ.”

Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần tại Hang đá Lộ Đức, từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 07 năm 1858.

Ngày 28 tháng 07 năm 1858, Đức Giám Mục địa phận Lộ Đức đã thiết lập Ủy Ban Điều Tra về những lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại hang đá Massabielle.  Công việc điều tra kéo dài trong 4 năm.

Trang web: lourdes-france.com, cho biết công việc nghiên cứu điều tra tỉ mỉ và sự phân định sáng suốt, trong lời kinh nguyện.  Sau 4 năm, ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Giám Mục, nhân danh Giáo Hội, nhìn nhận những lần hiện ra là đích thực.  Giáo Hội nhìn nhận chính thức những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, dựa trên chứng từ xác quyết của cô Bernadette Soubirous.

Đức Thánh Cha Lêô XIII chấp thuận mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Thánh Cha Piô X cho phép toàn thể Giáo hội mừng lễ này vào ngày 11.2 hàng năm.

Chúng tôi dâng lễ tại Hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra.  Cạnh bàn thờ dâng lễ là mạch nước chảy không ngừng từ trong Hang Đá.  Ngày nay, mạch suối này được dẫn xuôi theo Nhà thờ tới chân tháp để khách hành hương tới lấy nước và uống nước suối này.  Tôi uống liền mấy ly và đem về 5 lít nước để tặng cho bà con giáo dân.

Hành hương về Lộ Đức, tôi được hiểu biết thêm nhiều về lịch sử và sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi qua thánh nữ Bernadette.

Bernadette là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc, không biết viết, con một gia đình nghèo ở Lộ Đức.  Gia đình cô tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam.  Nơi tồi tàn này, cả gia đình gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette làm nơi nương thân.  Đức Mẹ muốn chọn một cô bé nơi nghèo hèn để làm sứ giả của Mẹ.

Theo lời kể của Bernadette. Hôm đó là ngày thứ năm, 11.02.1858, được nghỉ học, Bernadette xin phép mẹ đi nhặt củi.  Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô.  Nhưng suốt buổi sáng đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu.  Bernadette mới tiến đến một hang động gần đó mà dân làng quen gọi là Massabielle.  Cô đang loay hoay nhặt củi, từ trong hang đá, một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện và đứng trên một tảng đá, ánh sáng bao trùm cả hang Massabielle.  Theo lời mô tả của cô, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi.  Bernadette tưởng mình như đang mơ.  Cô bước thêm bước nữa.  Người thiếu nữ diễm lệ chỉ mỉm cười.  Trong cơn xúc động, Bernadette lấy tràng chuỗi từ trong túi áo ra và bắt đầu đọc kinh Kính Mừng.  Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm hiệu cho cô tiến lại gần hơn.  Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn.

Cô về nhà kể lại biến cố ấy, nhưng chẳng ai tin cô.  Chính cha mẹ cô cũng không muốn cho cô trở lại hang đá nữa.  Nhưng như có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó khiến cô vẫn trở lại hang đá ấy.

Sau lần này, cô còn được trông thấy “người thiếu nữ diễm lệ” hiện ra 17 lần nữa.

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18.02.1958, người thiếu nữ ấy mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không?  Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”

Trong 15 ngày tiếp đó, người thiếu nữ đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều.  Cô kể:“Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy sám hối, hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây, hãy đến uống và rửa ở suối này, phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải.  Trong vòng 15 ngày ấy, Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai.  Tôi vẫn trung thành giữ kín.  Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà 3 lần liên tiếp: Bà là ai?  Nhưng Bà chỉ mỉm cười.  Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư.  Lúc ấy, Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực: ‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU.’”  Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘Je suis l’Immaculée Conception’, và dịch sang tiếng Việt Nam là: ‘Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.’

Các bậc khôn ngoan chống đối, dân chúng xúc động, cảnh sát thẩm vấn Bernadette nhiều lần.  Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa.  May mắn là cô không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn.  Các nữ tu dạy học cũng tỏ ra bất bình, còn Bernadette vẫn luôn giữ được thái độ khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25/02/1858, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadette đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi quì xuống.  Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất.  Một dòng nước vọt lên.  Dòng nước đó đến nay cứ chảy mãi, cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadette tới.  Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa.  Cuối cùng ông kết luận:

  • Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ ?

Nhưng Bernadette bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

  • Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở tỏ ra nghi ngại, ngài cấm các linh mục không được tới hang.  Khi Bernadette tới gặp ngài và thuật lại ““người thiếu nữ diễm lệ” nói: “Ta muốn mọi người tổ chức rước kiệu tại đây.”  Cha sở liền quở trách và gằn từng tiếng:

  • Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt.  Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à?  Trước hết Bà phải cho biết Bà tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.
  •  Dòng nước vẫn chảy thành suối.  Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.

Đã có những phép lạ nhãn tiền:

  • Một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng.
  • Một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục.
  • Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ.   Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một một cái quách. Người cha thở dài: – Nó chết rồi.  Người mẹ chỗi dậy.  Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh.  Dân chúng cho rằng bà khổ quá hóa điên.  Sau khi tắm cho bé khoảng 15 phút, bà ẵm con về nhà.  Sáng hôm sau, bé hết bệnh.  Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Báo chí công kích dữ dội và cho rằng đó chỉ là ảo tưởng.  Bernadette vẫn giản dị vui tươi tự nhiên.  Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25/03, cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng trở nên rạng rỡ.  Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt:

  • Bà nói: Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ được truyền từ miệng người này sang người khác.  Đám đông cất cao lời cầu khẩn:

  • Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Ngày 8.12.1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus.  Hơn ba năm sau, trong lần hiện ra ngày 25.3. 1858, Đức Mẹ tự xưng là: “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Vào năm 1866, Bernadette được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers.  Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại.  Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị.  Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15.4.1879, khi mới 35 tuổi.  Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933.  Lễ kính thánh nữ vào ngày 16/04 hàng năm.

Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương và chữa lành, nhất là đức tin.  Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên.  Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của mẹ Người.

Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân.  Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức.  Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Song of Bernadette:” “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích.  Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.

Sứ điệp Đức Mẹ trao cho Bernadette có thể tóm lược trong ba lời mời gọi sau đây:

  1. Mời gọi cầu nguyện: Khi hiện ra lần thứ nhất, Mẹ đã dạy Bernadette làm dấu Thánh Giá và lần hạt cách sốt sắng.  Mỗi lần hiện ra Mẹ đều làm như vậy.  Mẹ còn dạy riêng cho Bernadette một kinh nguyện, rồi cuối cùng mới trao cho cô sứ điệp cầu nguyện: Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.
  2. Mời gọi sám hối: Đức Trinh Nữ lập lại với Bernadette ba lần: ‘Hãy sám hối, sám hối, sám hối.’  Ngày 25-2-1858, Mẹ nói với Bernadette: ‘Con hãy đến uống và rửa ở suối này.’  Mẹ chỉ cho cô tìm ra một dòng suối.  Suối nước này ban đầu rất đục, sau đó bùn lắng xuống rồi trở thành suối nước trong lành.   Đó là dấu hiệu cho sự sám hối. Nó tượng trưng cho sự lắng đọng trong tâm hồn tất cả những gì là vẩn đục hầu nên thanh sạch hơn.
  1. Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện: “Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây. Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu.”  Nhà nguyện là nơi dân Chúa tụ họp để nghe lời Chúa và cử hành nhiệm tích Thánh Thể.  Để đáp lại nguyện vọng của Đức Maria mà ba đại giáo đường và 2 Nhà thờ khá lớn lần lượt được xây dựng ở đây. “Người ta sẽ xây nhà nguyện cho con, và xây rất lớn,” cha sở Lộ Đức Peyramale đã nói với Bernadette như thế khi cô đến trình bày về lời yêu cầu của Đức Mẹ, hẳn cha đã không ngờ rằng mình nói rất đúng.  Những Thánh đường này hằng ngày quy tụ từng đoàn người hành hương đến viếng thăm, chầu Thánh Thể và rước kiệu.  Chính tại nơi đây, Thánh lễ cũng như các buổi rước kiệu Thánh Thể luôn được cử hành rất long trọng.  Lộ Đức xứng với danh hiệu “Thành phố của nhiệm tích Thánh Thể.”

Hai buổi chiều, tôi dành thời giờ ngồi bên dòng sông Pau, đối diện với Hang Đá, ngắm nhìn Vương Cung Thánh Đường uy nghi xây vách đá, nơi Đức Mẹ hiện ra, nhìn dòng người không ngớt cầu nguyện dưới chân Mẹ.  Tôi hiểu tại sao Giáo hội, trong dọc dài thời gian hơn hai ngàn năm qua vẫn luôn vững bền và phát triển cho dù trải biết bao thăng trầm dâu bể của lịch sử nhân loại.  Nhờ Mẹ Maria luôn chở che Giáo hội như Mẹ đã bao bọc nâng đỡ các Tông Đồ sau Lễ Ngũ Tuần.  Mẹ là dòng sông tưới mát cho nhân loại đang trên hành trình tìm về nguồn hạnh phúc bên Chúa.

Lộ Đức là địa chỉ của tình thương, là điểm hẹn của bình an nội tâm.  Tạ ơn Đức Mẹ và xin Mẹ thương ban ơn cho các bệnh nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

MỞ RA KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Bảy, Tuần V Thường Niên, Năm Lẻ

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô. Mc 8, 1-10

Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: “Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến”. Các môn đệ thưa: “Giữa nơi hang địa này, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no!” Và Người hỏi các ông: “Các con có bao nhiêu bánh?” Các ông thưa: “Có bảy chiếc”. Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát. Các ông chia cho dân chúng. Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ. Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát. Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng. Số người ăn độ chừng bốn ngàn. Rồi Người giải tán họ, kế đó Người cùng các môn đệ xuống thuyền mà đến miền Đalmanutha. Đó là lời Chúa

💜MỞ RA KHÔNG GIAN

“Giữa nơi hoang địa này, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn?”; “Các con có bao nhiêu bánh?”.

Bettrand Russell từng là Kitô hữu; nhưng về sau, ông đã công khai trở thành một nhà vô thần. Con gái ông, Katharine Tait nói, “Đã một thời, tận trong đáy sâu thẳm tâm hồn của cha tôi, có một khoảng trống từng được Chúa lấp đầy; ông đã từng ‘mở ra không gian’ cho Ngài. Nhưng, một khi đã tống Ngài ra, ông không bao giờ tìm được bất cứ một thứ gì khác để đặt vào đó!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Russell từng có một khoảng không gian cho Chúa. Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay cũng đề cập khoảng không gian đó qua hai câu hỏi thú vị; một của các môn đệ, một của Chúa Giêsu. Câu hỏi thứ nhất, một câu hỏi khép kín không gian, “Giữa nơi hoang địa này, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn?”; câu hỏi thứ hai, một câu hỏi ‘mở ra không gian’, “Các con có bao nhiêu bánh?”.

Mặc dù câu hỏi thứ nhất rất nhân bản; nhưng xét cho cùng, nó tiết lộ một sự nghèo nàn thiêng liêng vì các môn đệ xem ra không đặt niềm tin vào Thầy. Đó là một câu hỏi bi quan, hơi hướng mùi tuyệt vọng. Với loại câu hỏi này, một nếp nghĩ, một tầm nhìn thiển cận sẽ hình thành khi chúng ta tự co rút để cam chịu một hoàn cảnh, một số phận; cách đặt vấn đề khá ủ dột này sản sinh một loạt câu hỏi, biện minh cho sự bất khả trước bao vấn đề. Nhiệm vụ là bất khả thi, tại sao tôi cố gắng? Lực bất tòng tâm, tại sao tôi mất thời giờ? Lối nghĩ này ngăn cản chúng ta mạo hiểm làm những điều tuyệt vời cho Chúa; và ngược lại, khiến chúng ta không mong đợi điều tuyệt vời đến từ Ngài! Không ‘mở ra không gian’ cho Chúa, chúng ta ‘vui hưởng’ thú đau thương trước những tình huống dường như vô vọng; như thể, Thiên Chúa không toàn năng!

“Các con có bao nhiêu bánh?”; ngược lại, là một câu hỏi hoàn toàn khác. Đây là loại câu hỏi tích cực, tiềm tàng một niềm hy vọng và lạc quan; vì lẽ, nó luôn ‘mở ra không gian’ cho Thiên Chúa. Qua đó, Chúa Cha có thể thực hiện một phép lạ để chứng thực quyền năng của Ngài. Chỉ cần một chút những gì sẵn có, cả khi chúng dường như ‘không đủ đến vô vọng’, “bảy chiếc bánh và mấy con cá nhỏ” trao cho Chúa Giêsu; với cái ít ỏi đó, Ngài sẽ nhân lên để nuôi sống cả ngàn người.

Phaolô từng nói, “Thiên Chúa dùng quyền năng của Ngài để làm nhiều điều lớn lao hơn tất cả những gì chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới”; dĩ nhiên, với điều kiện, mỗi người biết hào phóng cho đi những gì mình có, dù chúng có vẻ nhỏ nhoi.

Thật thú vị, bài đọc Sáng Thế hôm nay tiết lộ, Thiên Chúa cũng ‘mở ra không gian’ cho Ngài; đúng hơn, Ngài mở ra sự xót thương ngay trong cơn giận khi đuổi nguyên tổ khỏi địa đàng, “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó”; đó là “tiền Tin Mừng!”. Rồi đây, con cháu nguyên tổ sẽ nhận ra điều này, “Thân lạy Chúa, Chúa là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia” như tâm tình Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ.

Anh Chị em,

“Các con có bao nhiêu bánh?”, Chúa Giêsu tiếp tục hỏi chúng ta như thế! Mỗi ngày, đến với Thánh Thể, chúng ta ‘mở ra không gian’ linh hồn cho Ngài ngự vào, một không gian chật hẹp, và đôi khi, rất tăm tối; thế nhưng, Ngài vẫn đoái thương hạ cố. Cũng ở đó, cùng một câu hỏi, Ngài tiếp tục hỏi và chờ đợi phần ‘bánh và cá’ còm cõi của bạn và tôi; để từ đó, Ngài có thể tiếp tục nhân lên, nhân lên… hầu nuôi sống bao nhiêu anh chị em khác.

Ước mong sao, đền thờ tâm hồn chúng ta ngày càng sạch trong, xứng đáng cho Chúa Giêsu chiếm ngự; và ước mong sao, chúng ta biết dâng phần ít ỏi của mình vào tay Ngài, để Ngài có thể mở ra những không gian mới cho Vương Quốc của Cha qua chính chúng ta, những nhà tạm di động của Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con đoạn tuyệt với những ràng buộc rối loạn với các tạo vật, để bám rễ vững chắc vào Đấng Tạo Thành! Nhờ đó, con tiếp tục ‘mở ra không gian’ cho Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

SỐNG THEO SỰ THẬT – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sống trên đời, lý tưởng và mẫu mực mà chúng ta chọn lựa không phải là một vĩ nhân nơi trần thế.  Lý tưởng sống của người tín hữu là chính Chúa Giêsu, Đấng đã tuyên bố: Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Nhờ việc chuyên chăm thực hiện giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta có thể sống theo sự thật và nên hoàn hảo trong cuộc đời trần thế, là bảo đảm hạnh phúc Nước Trời.

Tự bản chất, con người dễ dàng dối trá với người khác và dối trá với cả chính mình.  Vì dối trá, người ta sẵn sàng xúc phạm đến tha nhân, thậm chí xúc phạm cả Thiên Chúa.  Đức Giêsu dạy chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”  Bài Tin Mừng hôm nay là tổng hợp nhiều nội dung giáo huấn, nhằm giúp con người sống ngay thẳng trước mặt Chúa và đối với anh chị em đồng loại.  Trong giáo huấn này, Chúa khuyên chúng ta, lòng bác ái trung thực đối với tha nhân còn quan trọng hơn của lễ dâng cho Chúa.  Chính vì vậy, khi dâng lễ, nếu trong lòng còn những uẩn khúc và mâu thuẫn đối với người khác, thì điều ưu tiên là hãy làm hòa với nhau, vì Chúa chỉ nhận của lễ dâng của người có tâm hồn bình an thanh thản.  Thông thường, người ta dễ dàng nói những lời hoa mỹ đối với Chúa, nhưng lại dùng những lời thô tục hoặc cứng cỏi với tha nhân.  Sống theo sự thật là tạo mối tương quan chân thành với Chúa cũng như với anh chị em mình.

Nhờ sống theo sự thật mà chúng ta dễ dàng thực thi Luật Chúa.  Chúa Giêsu giảng dạy như một nhà cải cách luật pháp.  Người không dừng lại ở chữ nghĩa hay những công thức lý thuyết khô cứng, nhưng chú trọng đến tinh thần, đến tâm hồn của người giữ luật.  Quả thật, người muốn nên hoàn thiện không chỉ giữ con mắt giác quan bề ngoài, nhưng còn giữ tâm hồn và ý tưởng của mình ngay thẳng trung thực.  Vì sống ngay thẳng, nên người ta không cần thề thốt.  Chúa Giêsu lên án những thói quen nơi người Do Thái bình dân thời bấy giờ.  Họ thường lấy Danh Thiên Chúa hoặc Đền thờ Giêrusalem để thề, để chứng minh cho sự trung thực của mình.  Chúa nói: đừng thề chi cả, nhưng có thì nói có, không thì nói không; thêm thắt đặt điều là do ác quỷ mà ra.  Quả vậy, trong con người chúng ta vẫn có “ác quỷ” tức là mầm mống của sự dối trá.  Bổn phận của người tin Chúa là phải làm sao để mầm mống của sự thật lớn lên và sinh hoa kết trái, đẩy lui ảnh hưởng của sự dối trá đang hủy hoại tâm hồn và làm cho con người lạc hướng.

Tác giả sách Huấn Ca dạy chúng ta hãy khôn ngoan trong cách sống và trong nhận định của mình.  Nhờ khôn ngoan mà chúng ta chọn lựa những gì ích lợi thiêng liêng và bền vững, đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho những người xung quanh.  Ông đã dùng một hình ảnh đơn sơ dễ hiểu: Đức Chúa đặt trước mặt con người lửa và nước, nếu muốn gì thì giơ tay mà lấy; Đức Chúa đặt trước mặt họ cửa sinh và cửa tử…  Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội (Bài đọc I).  Như thế, Thiên Chúa ban cho con người có tự do để chọn lựa sự sống hay sự chết cho mình, để rồi họ phải lãnh trách nhiệm về những chọn lựa cũng như những hệ lụy của chọn lựa ấy.  Vì con người hay lạm dụng tự do, nên Chúa đã thiết lập lề luật làm nền tảng để lượng giá những hành động của họ.  Lề luật của Thiên Chúa là mẫu mực cho mọi lề luật của loài người, nên luật đó có giá trị ưu tiên.  Mọi dân luật đều phải dựa trên luật của Thiên Chúa đã khắc ghi vào lương tâm con người.

Nếu sự khôn ngoan là một chọn lựa và tìm kiếm để nên hoàn thiện, thì theo nhãn quan Kitô giáo, Chúa Giêsu chính là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa Cha.  Đức Khôn Ngoan đã nhập thể, mang lấy thân phận con người để chung chia phận người với chúng ta.  Thánh Phaolô quả quyết: rao giảng Đức Kitô là rao giảng sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Đón nhận sự Khôn Ngoan chính là đón nhận Thiên Chúa.  Chính vì vậy, lý tưởng của người Kitô hữu là chính Chúa Giêsu, là Sự Khôn Ngoan vĩnh cửu và là Đấng Cứu độ trần gian.  Thánh nhân cũng mời gọi chúng ta hãy hành xử theo sự khôn ngoan đích thực, chứ không phải lẽ khôn ngoan theo quan niệm thế gian.  Trong tiến trình tìm kiếm sự Khôn Ngoan, có Thần Khí giúp đỡ chúng ta, để chúng ta không nản chí và không thất vọng.

Hành trình đức tin là hành trình tiến theo Sự Thật và tìm kiếm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.  Xin Chúa cho chúng ta được ơn kiên trung, để mặc dầu giữa những biến động của trần gian, chúng ta vẫn luôn gắn bó với Chúa Giêsu, Đấng là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Một khi trung thành với Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ dễ dàng sống trung thực đối với anh chị em mình.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng…

Chỉ còn vài ngày nữa là đến Mùa Chay Thánh đó bạn ơi, chúc bạn một ngày tràn đầy ân sủng của Chúa nhé để vượt qua mọi thử thách của ngày hôm nay.

Cha Vương

Thứ 5: 09/02/2023

TIN MỪNG: Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng, cũng là Đấng đã kêu gọi anh em vào vinh quang đời đời của Người trong Đức Ki-tô. Phần anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường. (1 Pr 5:10)

SUY NIỆM: Đừng Nản Lòng Khi Lỡ Lầm: Hãy vững tin—Con ơi! Nhẫn nhục và khiêm tốn trước gian lao, đẹp lòng Cha hơn những an ủi và sốt sắng lúc được may mắn. Sao con buồn vì một lời trách nhẹ? Dầu nó có nặng nề mấy, con cũng không được tủi lòng kia mà! Nhưng con hãy để nó qua đi. Thử thách thế có gì là mới lạ. Với con chắc không phải là lần đầu mà. Nếu con sống lâu hơn, chắc cũng chưa phải là lần cuối cùng. Không gặp đau khổ, thấy con can đảm khá lắm. Con còn biết khuyên người khác, còn biết nói để khích lệ họ. Thế mà vừa chớm đau khổ, con đã mất cả sáng suốt, cả nghị lực. Con hãy coi đó mà chân nhận cái yếu hèn của con: thường con đã cảm thấy cả trong những trường hợp không đâu! Cho dù những đau khổ ấy và ngàn vạn cái tương tự có xảy đến cũng cốt là mưu phần rỗi cho con thôi. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q3:57)

LẮNG NGHE: Anh sẽ được vững dạ an lòng vì có niềm hy vọng: dù đã phải thẹn thùng xấu hổ, anh sẽ được nghỉ ngơi yên hàn. (G 11:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, ma quỷ tìm cách cám dỗ bằng cách tạo nên những hoàn cảnh: gây gỗ, bất hòa, tự bào chữa khi buộc tội người khác… nhưng Chúa muốn con tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa để được cứu rỗi, xin Chúa giúp con tìm hoan lạc trong những đau khổ và chịu đựng trong ân sủng và bình an.

 THỰC HÀNH: Quyết tâm từ bỏ một thói quen xấu. Để chuẩn bị cho Mùa Chay sắp tới.

 From: Đỗ Dzũng

Chúa Là Hy Vọng | St: Lm. Thái Nguyên | Tb: Hạnh Nguyên & Khánh Duy

Đừng lấy của người khác mà giúp người nghèo vì đó là ăn cắp

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

Đừng lấy của người khác mà giúp người nghèo vì đó là ăn cắp

Một hôm, khi Thánh Phanxico Assisi đang cùng đi với một người bạn đồng hành qua miền Apulia, đến gần thành Bari thì thấy giữa đường có một cái túi lớn, loại túi người ta quen gọi là fonda ( bao vải dài dùng để đựng tiền, đeo quanh bụng ) có vẻ như chứa đầy những đồng tiền kim loại.

Anh bạn đồng hành chỉ cho người nghèo của Chúa Kitô thấy và thúc giục ngài nhặt lấy túi tiền để phân phát cho kẻ khó. Người của Chúa từ chối, tuyên bố rằng cái túi tiền mà họ vừa thấy là một trò lừa đảo của ma quỉ và anh bạn đồng hành của mình đang đề nghị một việc tội lỗi chứ không phải là một việc công đức, vì đây là lấy của người khác mà đem cho.

Họ bỏ nơi ấy và vội vã đi cho hết chặng đường đã bắt đầu. Nhưng người bạn đường vẫn còn thắc mắc; anh ta bị một thứ trắc ẩn hão huyền đánh lừa và trách cứ người của Chúa như thể ngài không quan tâm giúp đỡ sự túng thiếu của người nghèo.

Con người hiền lành ấy đồng ý quay trở lại, không phải để làm theo ý người anh em, nhưng để vạch trần cạm bẫy của ma quỉ. Ngài trở lại chỗ có túi đựng tiền với người bạn đồng hành, có một thanh niên vừa qua đường tới đó cùng theo. Ngài cầu nguyện, rồi truyền cho người bạn cầm túi tiền lên.

Anh này bỗng hãi sợ, chân tay tê cứng, trong lòng mơ hồ cảm thấy có một âm mưu đen tối của ma quỉ. Tuy nhiên, do lệnh truyền của thánh đức vâng lời, anh ta gạt qua nỗi e ngại, đưa tay định cầm lấy cái túi, thì này, một con rắn lớn chui ra khỏi túi, rồi thình lình biến mất cùng với cái túi. Nhờ đó người anh em thấy rõ đây đúng là trò lường gạt của ma quỉ.

Sau khi sự xảo quyệt và dối trá của kẻ thù bị lộ rõ, đấng thánh nói với người bạn đồng hành: “Này anh, tiền bạc đối với các tôi tớ Chúa cũng chẳng khác gì quỉ dữ hay rắn độc.”

Do đâu con người có linh hồn?-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé, ước mong bạn đừng quá bận với công việc phần xác mà quên đi nỗi khắc khoải  của con tim đang khao khát Chúa.

Cha Vương

Thứ 4: 8/2/2022

GIÁO LÝ: Do đâu con người có linh hồn? Linh hồn người ta do Thiên Chúa trực tiếp dựng nên, chứ không phải là “sản phẩm” bởi cha mẹ. (YouCat, số 63)

SUY NIỆM: Hồn của con người không thể là sản phẩm do tiến trình biến hóa của vật chất, cũng không phải là kết quả của cha mẹ sinh ra. Mỗi con người sinh ra là một ngôi vị độc nhất và linh thiêng, Hội Thánh giải nghĩa mầu nhiệm này như sau: Thiên Chúa ban cho ta một linh hồn không thể chết được, dù khi ta chết ta phải lìa khỏi xác để chờ khi sống lại xác được nhập lại với ta. Nói “Tôi có linh hồn” có nghĩa là: “Thiên Chúa không tạo dựng tôi như một sự vật, nhưng như một ngôi vị và mời gọi tôi có quan hệ không ngừng với Người”. (YouCat, số 63 t.t)

❦   Nhờ có nguồn gốc từ trái đất, con người được liên kết với mọi sinh vật, nhưng chỉ nhờ có linh hồn do Thiên Chúa “thổi vào” họ mới là người. Điều đó ban cho họ một phẩm giá độc nhất, nhưng đồng thời cũng trao một trách nhiệm độc nhất. (Hồng y Christoph Schönborn, 1945, Tổng giám mục Áo)

LẮNG NGHE: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục. (Mt 10:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, xin cho con luôn biết khát khao đi tìm gặp Chúa để nhờ đó tâm hồn được vui vẻ và thảnh thơi.

THỰC HÀNH: Hôm nay mời bạn hãy từ bỏ một nhu cầu vật chất để tâm hồn chỉ biết khát khao ơn Chúa.

From: Đỗ Dzũng

Con Luôn Khát Khao – Hiệp Lễ 

MỘT SỰ THẬT KHÓ NGHE – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Ba Tuần V – Mùa Thường Niên

“Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta”.

Năm 1886, Benz lái chiếc xe đầu tiên qua các đường phố Munich; ông gọi nó là Mercedes theo tên con gái. Cỗ máy khiến chủ các xe ngựa tức giận. Họ vận động các quan chức giới hạn tốc độ cho “cỗ xe không ngựa” này là 5km/giờ, nội thành; và 11km /giờ, ngoại thành. Với Benz, đó là ‘một sự thật khó nghe!’. Ngày kia, ông mời thị trưởng thử xe. Benz sắp xếp một xe sữa đứng đợi; khi Benz và thị trưởng tới, con ngựa già vượt xe họ. Thị trưởng tức giận, yêu cầu Benz vượt; Benz xin lỗi, “Dẫu luật vô lý, nhưng tôi không được phép chạy nhanh”. Ít lâu sau, luật thay đổi!

Kính thưa Anh Chị em,

Như Karl Benz, các biệt phái trong Tin Mừng hôm nay cũng phải nghe ‘một sự thật khó nghe!’ từ Chúa Giêsu, dẫu Ngài biết rõ, điều này hẳn sẽ tạo thêm căng thẳng giữa họ với Ngài. Ngài muốn nói, họ là những kẻ giả hình, những kẻ mà qua Isaia, Ngài trích dẫn, “Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta!”.

“Lòng chúng ở xa Ta!”, đó là lời thở than của một Thiên Chúa muôn trùng cao cả, Đấng dựng nên muôn loài; trong đó, con người là đỉnh cao của tạo thành. Bài đọc Sáng Thế hôm nay viết, “Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài”. Vì thế, lẽ ra Thiên Chúa phải được con người tôn thờ và yêu mến “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực”; và lẽ ra, ai ai cũng phải thưa lên rằng, “Lạy Chúa, lạy Chúa chúng con, lạ lùng thay danh Chúa khắp nơi hoàn cầu!” như lời Thánh Vịnh đáp ca; thì đàng này, Ngài chỉ được kính tôn ngoài môi miệng! Đó là một sự thật Chúa Giêsu phải nói, dẫu là ‘một sự thật khó nghe’.

Xót xa thay! Sự thật này không được nói cho ai khác, nhưng trước hết, cho các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Ngài. Vậy nếu ‘sự thật’ này được đón nhận và những người biệt phái biết hoán cải thì điều gì sẽ xảy ra? Chúa Giêsu sẽ nói sao về họ một khi họ được biến đổi? Có lẽ Ngài sẽ nói thế này, ‘Sự tôn thờ của các ngươi đối với Thiên Chú
a thật là thánh thiện vì các ngươi đã thực sự đón nhận ý muốn thiêng liêng của Ngài; lời ngợi khen các ngươi trao về Chúa phát xuất từ một đôi môi chân thành, một tấm lòng thuần khiết, kính tin và yêu mến’.

Vậy Lời Chúa hôm nay nói gì với bạn và tôi? Trước hết, Lời Chúa nói, lề luật được coi là ý muốn của Thiên Chúa, nó phải trở thành cơ sở và nền tảng cho đời sống; yêu mến là linh hồn của lề luật. Thứ đến, việc đón nhận lề luật và ý muốn cụ thể của Thiên Chúa sẽ làm cho sạch trong, giải phóng chúng ta khỏi mọi ràng buộc vụ hình thức vốn thường được thêm thắt hay giải thích cốt theo chiều hướng có lợi cho một số người, kể cả những có lợi thiêng liêng như tỏ ra mình là công chính. Được như thế, Thiên Chúa sẽ được phụng thờ bằng cả trái tim chân thành của những ai yêu mến Ngài, họ sẽ trào tuôn lời ngợi khen Ngài qua lời nói và hành động.

Anh Chị em,

“Lòng chúng ở xa Ta!”. ‘Sự thật khó nghe’ này hôm nay cũng được nói với bạn và tôi! Lòng chúng ta có thể thiếu sự thờ phượng thật. Phụng vụ của Giáo Hội và việc cầu nguyện của bạn và tôi phải chuyển từ các hành động bên ngoài sang việc thờ phượng bên trong. Chuyển động mà không có lòng yêu mến là vô nghĩa. Hãy để Thiên Chúa hành động trên chúng ta, trong chúng ta khi chúng ta cử hành các Bí Tích. Điều Chúa muốn là sự thờ phượng thuần khiết và chân thành. Chúa Giêsu muốn chúng ta yêu mến Ngài bằng một lòng sùng kính nội tâm sâu xa; Ngài muốn chúng ta cầu nguyện, lắng nghe và phục vụ thánh ý Cha với tất cả sức mạnh của linh hồn. Và điều này chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta biết thờ phượng và cầu nguyện như Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con và toàn thể Giáo Hội luôn biết nội tâm hoá các hành vi thờ phượng bên ngoài bằng một sự hoán cải bên trong. Có như thế, con mới có thể yêu mến Chúa thực!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen

NGÀY MAI VÀ NGÀY MAI-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong Tự thú của Thánh Augustinô, ngài mô tả việc trở lại đạo của ngài liên quan đến hai khoảnh khắc ân sủng riêng biệt, khoảnh khắc đầu tiên thuyết phục ngài về mặt trí tuệ, Kitô giáo là đúng, và khoảnh khắc thứ hai giúp ngài sống theo những gì ngài tin.  Phải mất gần chín năm trôi qua giữa hai lần trở lại này và trong chín năm này, ngài đã có lời cầu nguyện nổi tiếng: Lạy Chúa, xin Chúa làm cho con thành người tín hữu Kitô tốt và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.

Thật lạ lùng, Thánh Ephraim người Syria (306-373), một người cùng thời với ngài cũng viết lời cầu nguyện tương tự: Hỡi người yêu dấu của tôi, mỗi ngày tôi làm sai rồi tôi lại ăn năn.  Trong một giờ tôi xây và giờ sau đó tôi phá những gì tôi đã xây.  Buổi tối, tôi nói, ngày mai tôi sẽ ăn năn, nhưng khi sáng mai đến, tôi vui vẻ lãng phí một ngày.  Rồi đến tối, một lần nữa tôi nói, tôi sẽ thức suốt đêm và tôi sẽ xin Chúa thương xót tội lỗi của tôi.  Nhưng khi đêm đến, tôi lại ngủ say.

Điều mà Thánh Augustinô và Thánh Ephraim mô tả là rõ ràng (không phải không có chút hài hước), một trong những khó khăn chúng ta thực sự gặp trong cuộc đấu tranh để lớn lên trong đức tin và trong sự trưởng thành của con người, là thói quen để cuộc đời qua đi khi nói: “Đúng, tôi cần phải làm tốt hơn.  Tôi cần phải chịu đựng và cố gắng khắc phục những thói quen xấu của mình, nhưng chưa phải bây giờ!”

Và thật an ủi khi chúng ta biết đã có những thánh đấu tranh vất vả trong nhiều năm với sự tầm thường, lười biếng, với thói hư tật xấu trong nhiều năm, họ cũng nhún vai chịu thua như chúng ta: “Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu một khởi đầu mới!”  Trong vài năm, một trong những câu nói của Thánh Augustinô là, “ngày mai và ngày mai!”

“Đúng, phải thay đổi, nhưng chưa!”  Điều này nói lên con người của chúng ta như thế nào?  Tôi muốn là người tốt, là người tín hữu Kitô tốt.  Tôi muốn sống theo đức tin nhiều hơn, bớt lười biếng, bớt ích kỷ, độ lượng với người khác hơn, chiêm niệm hơn, bớt giận dữ, bớt cay đắng, hoang tưởng và phán xét người khác.  Tôi muốn dừng việc ngồi lê đôi mách và vu khống.  Tôi muốn đóng góp nhiều hơn vào công lý.  Tôi muốn có một đời sống cầu nguyện tốt hơn.  Tôi muốn dành thời gian cho mọi việc, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, thưởng thức hương hoa, lái xe chậm hơn, kiên nhẫn hơn và ít vội vã hơn.  Tôi có một số tật xấu cần phải thay đổi, tâm hồn tôi vẫn còn cay đắng, tôi đã lỗi lầm quá nhiều thứ, tôi thật sự cần phải thay đổi, nhưng chưa phải lúc này.

Trước tiên, tôi phải giải quyết một mối quan hệ cụ thể, tôi lớn lên, thay đổi công việc, kết hôn, nghỉ ngơi, có được sức khỏe, học xong, có thì giờ đi nghỉ hè vì rất cần thiết, để một số vết thương lành lại, để con cái tự lập, nghỉ hưu, dọn đến một giáo xứ mới, và thoát khỏi tình trạng này – sau đó tôi sẽ nghiêm túc xem lại việc thay đổi những chuyện xấu này.  Lạy Chúa, xin làm cho con trở nên người trưởng thành hơn và là một tín hữu Kitô, nhưng chưa phải lúc này!

Cuối cùng, đó không phải là lời cầu nguyện tốt.  Thánh Augustinô nói với chúng ta, trong nhiều năm, khi đọc lời cầu nguyện này, ngài đã hợp lý hóa sự tầm thường của mình.  Tuy nhiên, một trận đại hồng thủy bắt đầu dấy lên trong tâm hồn ngài.  Chúa đã vô cùng kiên nhẫn với chúng ta, nhưng sự kiên nhẫn của chúng ta với chính mình cuối cùng cũng cạn kiệt và đến một lúc nào đó, chúng ta không thể tiếp tục như trước nữa.

Trong quyển 8 của bộ sách Tự thú, Thánh Augustinô kể, một ngày nọ, khi đang ngồi trong vườn, ngài bị choáng vì sự thiếu trưởng thành và tầm thường của mình và “một cơn bão to lớn ập đến trong tôi, tôi bật khóc sướt mướt…  Tôi gieo mình xuống gốc cây vả và để cho nước mắt tuôn trào… tôi khóc trong nỗi đau khổ: ‘Cho đến lúc nào tôi vẫn còn nói ngày mai, ngày mai đây.  Tại sao không phải bây giờ?’” Khi ngài đứng lên, cuộc đời ngài đã thay đổi; ngài không còn chấm dứt lời cầu nguyện với câu “nhưng chưa” dù là manh nha trong đầu.

Chúng ta tất cả đều có một số thói quen nào đó trong cuộc sống mà chúng ta biết là xấu, nhưng vì nhiều lý do (lười biếng, nghiện ngập, thiếu sức mạnh tinh thần, mệt mỏi, tức giận, hoang tưởng, ghen tuông, bị áp lực của gia đình, của bạn bè) chúng ta không chịu ngưng.  Chúng ta cảm nhận sự tầm thường của mình, nhưng tự an ủi, cho rằng mọi người (trừ các thánh) thường tự bào chữa, nói ra hoặc không nói ra trong lời cầu nguyện của họ: “Đúng, thưa Chúa, nhưng chưa phải lúc này!”

Thật vậy, trong lời cầu nguyện này có một an ủi xác đáng, nó nhận ra một điều gì đó quan trọng bên trong sự hiểu biết và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.  Tôi ngờ rằng Chúa đối phó với những lỗi lầm của chúng ta tốt hơn là chúng ta đối phó với lỗi lầm của mình và những người khác đối phó với chúng ta.  Tuy nhiên, giống như Thánh Augustinô, ngay cả khi chúng ta nói, “ngày mai và ngày mai”, một cơn bão vẫn tiếp tục dấy lên trong lòng chúng ta, sớm hay muộn, sự tầm thường của chính chúng ta sẽ làm cho chúng ta phát điên lên để nói: “Tại sao không phải bây giờ?”

Khi tác giả Thánh vịnh viết: “Hãy hát lên một bài ca mới”, chúng ta tự hỏi, bài ca cũ là gì?  Đó là lời cầu nguyện kết thúc, Đúng, lạy Chúa, nhưng chưa phải bây giờ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

CUỘC TẠO DỰNG MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Hai Tuần V – Mùa Thường Niên

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”.

Franz Joseph Haydn, “Cha đẻ của nền âm nhạc giao hưởng”; “The Creation”, “Tạo Dựng” là một trong những kiệt tác của tác giả. Ngày kia, ông được mời đến Vienna Opera, nơi trình tấu tuyệt phẩm này. Suy yếu vì tuổi tác, Haydn ngồi trên xe lăn. Tác phẩm được hợp tấu, khán giả bị cuốn hút bởi những cảm xúc vô tận. Đến đoạn cao trào “Hãy có ánh sáng!”, ban hợp xướng bùng nổ đến mức mọi người đứng dậy, tiếng vỗ tay như sấm, đến nỗi phần trình tấu phải gián đoạn. Haydn gắng gượng đứng lên, làm hiệu xin mọi người im lặng; và với bàn tay run run, ngón trỏ chỉ lên trời, ông nói, “Không, không! Không phải tôi, nhưng là Ngài, tất cả đã có!”. Sau khi dành sự tôn vinh và chúc khen cho Đấng Tạo Thành, ông ngã ra ghế, kiệt sức và ngất lịm!

Kính thưa Anh Chị em,

“Không! Không phải tôi, nhưng là Ngài”. Cùng với F. J. Haydn, phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiết lộ, không chỉ một mà có đến hai cuộc tạo dựng: một từ nguyên thuỷ; một từ Chúa Giêsu. Thế nhưng, nói, “Tất cả những ai chạm tới Ngài, đều được khỏi”. Không chỉ chữa phần xác, Chúa Giêsu chữa cả phần hồn. Việc chữa lành này được gọi là cứu độ, hay một ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Bài đọc Sáng Thế nói đến những ngày Thiên Chúa tạo dựng! “Hãy có ánh sáng!”; “Hãy có vòm trời!”; “Hãy có những vật sáng trên vòm trời!”. Qua những buổi chiều và những buổi sáng, Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ niềm hân hoan, “Công trình Chúa làm Chúa được hân hoan”. Như người mẹ chuẩn bị mọi thứ cho đứa con, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì có thể trước khi tạo dựng con người. Và như thế, mỗi ngày, khi hít thở, vui hưởng ánh sáng, sử dụng những gì Chúa ban… con người sờ đụng Thiên Chúa, sờ đụng huyền nhiệm!

Vậy mà, Thiên Chúa không chỉ tạo dựng, nhưng trong Chúa Giêsu, Ngài còn cứu độ. Marcô mô tả, “Dân chúng rảo chạy khắp miền; nghe tin Người ở đâu thì khiêng những kẻ đau yếu nằm trên chõng đến đó”. ‘Rảo chạy’ có nghĩa là ‘bước những bước ngắn vội vã’, ‘chạy tới chạy lui’; nhưng họ chạy, chỉ để mang đến những con người muốn được lành phần xác; điều này khá dễ dàng, vì họ chỉ cần chạm đến gấu áo Ngài. Vậy mà Chúa Giêsu lại ước ao chữa lành một điều gì đó quan trọng hơn, bên trong hơn; Ngài muốn chữa lành linh hồn. Để một khi linh hồn được chữa lành, thì việc lành lặn nội tâm này mang một tên gọi khác, “cứu độ”, ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Anh Chị em,

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”. Như F. J. Haydn nói, “Với Ngài, tất cả đã có!”. Nhưng với Chúa Giêsu, “Tội anh được tha!”; “Chị hãy về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!”; “Hãy theo tôi!”; “Hãy xuống mau!”, thì với Ngài, đây là những ‘cuộc tạo dựng mới!’. Mỗi khi chữa lành bên trong một ai, mọi người vui mừng nhìn Chúa Giêsu; thế nhưng, như Haydn, Ngài cũng sẽ chỉ ngón trỏ lên trời và nói, ‘Không! Không phải Tôi! Nhưng là Cha, tất cả đã có!”. Không chỉ ngửa ra ghế, Ngài đã gục xuống trong mồ ba ngày và nay chôn mình trong các nhà chầu, trở nên của ăn nuôi sống bạn và tôi. Ngài mong chữa lành chúng ta, hẫu mỗi người thêm chất Chúa, bớt chất người; và “qua những buổi chiều và những buổi sáng”, Ngài tiếp tục làm những gì có thể để mỗi ngày có thêm những ‘cuộc tạo dựng mới’ đáng ao ước nhất! Như con nhộng xấu xí được lột xác, bạn và tôi, nhờ Ngài, ngày kia sẽ bay lên như những con bướm đẹp xinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành nội tâm con, hầu con trở nên ‘một tạo vật mới’, một tạo vật đã chuyển mình, biến đổi, lột xác bằng ‘cuộc tạo dựng mới’; và bấy giờ, con cũng có thể bay lên!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

CHÚT SUY TƯ VỀ THINH LẶNG – ĐS Vân Phong. CM

ĐS Vân Phong. CM

“Thiên Chúa, Người thầm lặng; tất cả những gì có giá trị trong thế giới đều chứa đầy thinh lặng.” – E.Mounier.

Trong thế giới ngày nay, tiếng ồn ào đã thâm nhập cuộc sống con người như một cơn sóng thần, âm thanh tràn ngập mọi ngóc ngách.  Phải công nhận rằng thời gian im lặng càng ngày càng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống đời thường của đa số những con người ngày nay.  Họ hầu như bị chìm sâu trong làn sóng dư luận, bị chao đảo theo các ngọn gió tin tức truyền thông, rồi những tiếng ầm ầm của máy móc hay những âm thanh của máy vi tính, chuông điện thoại, tiếng ồn ào trong các quán ăn, nhà hàng… đã chiếm hết tâm trí của họ đến nỗi họ không còn biết mình từ đâu đến và sẽ đi đâu.  Sự hụt hẫng, trống rỗng, mà nhiều người ngày nay cảm nhận, chứng tỏ rằng họ đã bỏ sót một chiều kích của chính mình.[1]  

Họ đã quên mất con đường về căn nhà lương tâm và về mảnh vườn nội tâm của lòng mình, nơi có thể nói cho họ biết tất cả…  Thiếu thinh lặng, con người đang sống ngoài lề của chính mình và thậm chí còn thu hẹp mọi tương quan với người khác.

Sự thinh lặng cần thiết biết bao!  Không biết có ai đã bao giờ tự hỏi rằng: Tại sao bản nhạc lại phải có dấu lặng?  Hay đã bao giờ có ai đọc một bài văn mà không hề có dấu chấm, dấu phẩy?

Nếu một bản nhạc không có dấu lặng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghe được tiếng vọng của thanh âm, và những ngân nga của một giai điệu du dương.  Cũng vậy, nếu một bài văn không có dấu chấm dấu phẩy, chắc chắn là người đọc sẽ đứt hơi, hoặc sẽ chẳng thể hiểu được trọn vẹn bài văn ấy.  Thinh lặng cũng giống như một nốt lặng của bản nhạc, giúp ta nghe rõ hơn nốt trước và nốt sau đó, và cũng giống như dấu chấm dấu phẩy trong một bài văn, giúp người đọc hiểu trọn vẹn hơn ý nghĩa của bài viết.

Trên phương diện nhân bản, thì chỉ có sự thinh lặng mới giúp ta thực sự lắng nghe để thấu hiểu và đón nhận người khác một cách chân thực như chính họ, và giúp ta bước vào những mối tương quan bền vững hơn.  “Người ta sẽ tin bạn không phải vì bạn nói nhiều, nhưng vì bạn biết thinh lặng để lắng nghe”(Paul Xardel).  

Còn trên phương diện tâm linh, thinh lặng càng cần thiết hơn, bởi vì tiếng ồn bên ngoài có thể gây biến động bên trong thay vì cho thấy những chiều sâu của tâm hồn[2].  

Có sự thinh lặng trong tâm hồn ta mới có thể tiến tới đời sống tâm linh cao vượt mà con người hằng khát khao mong mỏi.  Sự thinh lặng ấy tạo điều kiện quân bình cho đời sống và sự tăng trưởng của cá nhân mỗi người.

Trong cái thế giới ồn ào ngày nay, thiết nghĩ, cần phải sống thinh lặng nhiều hơn, bởi vì sự thinh lặng rất cần thiết để mỗi người nhìn lại chính mình.  Trong sự thinh lặng ta dễ dàng làm chủ bản thân, làm chủ giác quan, và khi thinh lặng ta buộc phải đối diện với chính mình.  Từ đó, ta có cơ hội tìm về nội tâm, tìm về với chính con người thật của mình để nhìn lại, tìm hiểu và suy xét bản thân…

Nhưng cũng cần phân biệt: thinh lặng khác với im lặng.  Ta có thể im lặng bởi ta không thèm nói.  Hoặc ta có thể im lặng vì đang tức giận đến tột độ, hoặc đau khổ đến nỗi không thể thốt nên lời.  Nhưng thực ra, ngay lúc đang im lặng đó lại là những lúc ta đang “nói” nhiều nhất.  Thinh lặng là một trạng thái hoàn toàn khác, thinh lặng là khi mặt hồ của tâm hồn không hề gợn sóng, và thinh lặng là khi ta đang lắng nghe, đang đắm mình trong một không gian bình an, tĩnh tại, phẳng lặng và dịu êm.

Nói như vậy, cũng thật là khó để giữ thinh lặng trong chúng ta, vì cuộc sống đầy những ồn ào và lộn xộn.  Vì thế, muốn có được thinh lặng ta cần phải rất cố gắng.  Trước hết, ta cần học biết lắng nghe, lắng nghe tiếng lòng và lắng nghe tiếng Chúa.  Đồng thời, chúng ta hãy chiêm ngắm một gương mẫu tuyệt vời của sự thinh lặng, đó chính là Chúa Giêsu.  Người là Ngôi Lời Thiên Chúa trong xác phàm, đã im lặng ba mươi năm trong số ba mươi ba năm cuộc đời trần thế.  Người cũng đã thinh lặng bốn mươi ngày trong sa mạc trước khi bắt đầu cuộc đời công khai.  Và trong suốt cuộc đời, Người luôn sống trong thinh lặng.

Tất nhiên, Chúa Giêsu không tìm kiếm sự thinh lặng để mà thinh lặng[3] nhưng để thiết lập một mối tương quan mật thiết với Chúa Cha, và để mở lòng đón nhận chương trình yêu thương của Ngài.  Giờ đây, Chúa Giêsu cũng vẫn luôn hiện diện cách trọn vẹn trong thinh lặng và chờ đợi chúng ta trong thinh lặng.  Chính trong thinh lặng chúng ta sẽ được gặp Người và Người sẽ nói với tâm hồn chúng ta.  Tuy nhiên, để có thể lắng nghe Chúa nói, chúng ta cần có tâm hồn trong sạch, thành tâm ăn năn sám hối và trở lại với Người.

Thầy Giêsu ơi, con đang đi tìm thinh lặng nhưng chẳng thấy thinh lặng ở đâu hết.  Có lẽ bởi vì tâm hồn của con vẫn còn ồn ào quá!  Như con người ngày nay vẫn cứ chạy theo những ồn ào xao động đến điên cuồng ở ngoài kia mà cố tình bỏ quên mất cõi lòng mình.  Và con, phải chăng con vẫn còn là một kẻ như con người ngày nay ở ngoài kia…?

ĐS Vân Phong. CM

[1] Michel Hubaut, Những nẻo đường thinh lặng, NXB Tôn giáo, 2007, tr 8

[2] Lm. Thái Nguyên, Thinh lặng sống tâm tình mùa chay, 2006

[3] Mẹ Teresa, Trên Cả Tình yêu, NXB Văn Hoá Sài Gòn 2009,  tr 19

From: Langthangchieutim