Happy July 4th đến bạn và gia đình nhé.
Happy July 4th đến bạn và gia đình nhé. Tạ ơn Chúa, cảm ơn U.S.A.!
Cha Vương
Thứ 3: 04/07/2023
TIN MỪNG: Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh. (2 Cr 12:10)
SUY NIỆM: Trên đời nay không ai muốn tự cho mình là yếu cả, thế mà Thánh Phao-lô dám tuyên bố rằng: tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối… Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh! Điều bí ẩn gì mà Thánh Phao-lô muốn nói với bạn hôm nay? Ý ngài muốn giúp bạn khám phá ra về lợi ích thiêng liêng trong sự yếu đuối của mình. Để chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của mình một cách dễ dàng, bạn cần phải có đức khiêm nhường, qua đó bạn mới đến với Chúa trong sự yếu đuối mỏng giòn của mình được. Khiêm nhường là mở lòng để đón nhận ý Chúa, mở lòng để sống theo ý Chúa. Như bạn cũng đã biết nước Hoa Kỳ được liệt kê là một cường quốc. Thế mà trong bản tuyên ngôn độc lập có viết một câu đã trở thành niềm kiêu hãnh và sự công nhận quyền bình đẳng, quyền tự do cho mỗi công dân Hoa Kỳ trong đó có bạn nữa: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Đấng Tạo Hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc.” Vì cả guồng máy chính trị được đặt trên nền tảng bất cả xâm phạm này mà nước Hoa Kỳ được trở nên hùng mạnh. Họ hùng mạnh không phải vì họ có những loại vũ khí tối tân nhất thế giới nhưng mà là do họ biết đặt Đấng Tạo Hoá (Thiên Chúa) lên hàng đầu. Đúng là họ đã hiểu được lời thánh Gioan nói: “vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (x Ga 15:5b) Vậy hôm nay trong bầu không khí mừng Lễ Độc Lập, mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cách riêng cho đất nước Hoa Kỳ, xin Chúa luôn bảo vệ mảnh đất tự do mà Chúa đã ban để mọi người công dân được “có Quyền Sống, Quyền Được Tự Do và Mưu Cầu Hạnh Phúc”.
LẮNG NGHE: ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. (St 12:1,2)
CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Đấng hiền lành khiêm nhường, thật diễm phúc cho con được gọi là con của Chúa, xin đoái nhìn đến phận yếu hèn của con, xin đừng để con đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho con, và xin cho con luôn bước theo Chúa để được hạnh phúc muôn đời.
THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng để dâng đất nước Hoa Kỳ cho Mẹ Maria.
From: Đỗ Dzũng
https://www.youtube.com/watch?v=MfJ78D-zUZY
Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương Dòng MTG Vinh
VỊ HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG GIA NHẬP ĐẠO CÔNG GIÁO
Dịp kỷ niệm ngày an táng vị hoàng đế cuối cùng của Triều Nguyễn, tức Vua Bảo Đại, tại Paris ngày 6 tháng 8 năm 1997, tạp chí Aleteia có bài viết về việc vị hoàng đế này cuối cùng đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo do ảnh hưởng liên tiếp của hai người vợ Công Giáo:
- TÌNH YÊU TỪ LẦN GẶP ĐẦU TIÊN Ở ĐÀ LẠT
Năm 1933, khi đang đi nghỉ tại một khu nghỉ dưỡng sang trọng ở miền Trung Việt Nam, Bảo Đại gặp Jeanne-Marie-Thérèse. Hai người trẻ tuổi ngay lập tức rất hợp nhau: Họ đã nhận được cùng một nền giáo dục phương Tây. Cô gái trẻ xuất thân từ một gia đình trí thức địa chủ giàu có, một trong những gia đình Công Giáo lâu đời nhất nước, vừa học xong ở Pháp, nơi cô đã được gửi đi, giống như Bảo Đại, năm 12 tuổi. Bắt đầu học tại trường nội trú Canons of Notre-Dame và sau đó tại tu viện Les Oiseaux ở Neuilly.
Chân thành yêu nhau, một vài tháng sau, vị vua trẻ tuyên bố đính hôn với một phụ nữ Việt Nam theo Công Giáo. Vui mừng thay, cha mẹ của cô gái trẻ – những người Công Giáo nhiệt thành đã cho xây dựng các nhà thờ và các công trình trong nước – được chứng kiến cuộc hôn nhân của con mình với hoàng đế.
Tin tức gây chấn động, triều đình không lấy làm vui mừng. Đối với triều đình, đó là một thảm họa thực sự ở một đất nước chủ yếu theo đạo Phật, nơi các Kitô hữu vốn là một số dân rất nhỏ, từng bị bách hại từ lâu, thậm chí bởi cả ông cố nội của Bảo Đại.

- KẾT HÔN VỚI 1 PHỤ NỮ CÔNG GIÁO
Tai tiếng đã nổ ra trong bối cảnh tin đồn được đưa ra trước đó bởi tờ báo cộng hòa cho rằng hoàng đế đã được rửa tội.
Frederic de Natal cho hay tin ấy hoàn toàn sai sự thật “Không có bằng chứng; nhưng tin đồn đã lan rộng. Tại sao? Bởi vì Bảo Đại thực sự quan tâm đến đạo Công Giáo.”
Vì sự náo động của dư luận do tin đồn gây ra, chính phủ Pháp cuối cùng đã nhận thức được vấn đề này và kiểm duyệt tất cả các bài báo đăng tin sai về lễ rửa tội của ông.
Về phía Tòa Thánh, Đức Piô XI ban đầu từ chối ban miễn chuẩn theo giáo luật cần thiết cho cuộc hôn nhân khác đạo, mặc dù hoàng đế đã yêu cầu. Đức Giáo Hoàng yêu cầu những đứa con tương lai phải được rửa tội, giáo dục trong đạo Công Giáo. Frédéric de Natal giải thích :“Thực tế không thể như thế được; triều đình sẽ phản đối. Nhưng Bảo Đại đã ký một giao thức bí mật, theo đó, ông sẽ bí mật nuôi dạy các con của mình theo đức tin Công Giáo”.
Chính trong bối cảnh đó, lễ cưới – kéo dài bốn ngày, với một phần các nghi lễ hoàn toàn nghiêm cấm đối với công chúng – đã diễn ra tại hoàng cung ở Huế, từ ngày 20 tháng 3 đến ngày 24 tháng 3 năm 1934. Được phú cho một cá tính mạnh mẽ, cô dâu yêu cầu được phong là Hoàng hậu “Nam phương” (“Trời Nam”).
- CÁC LỚP GIÁO LÝ KÍN ĐÁO
Hoàng hậu đã nuôi dạy các con của mình theo đạo Công Giáo song song với việc giáo dục chúng trong đạo Phật. Bà đã bí mật cho chúng được rửa tội. Và khi bà cho chúng học giáo lý, chồng bà ở gần và ông cũng lắng nghe bà.
Nhà nghiên cứu lịch sử hoàng gia cho biết, “Nam Phương đã thấm nhuần giáo dục tôn giáo cho ông, đặc biệt bằng cách đọc Kinh thánh cho con trai nghe trước mặt ông. Bầu không khí khác xa với các lễ nghi hoàng gia mà người ta có thể tưởng tượng ra! Bảo Đại giữ mọi thứ bên trong ông, giống như một kho báu bí mật mà cuối cùng sẽ nở rộ vào ngày ông xin lãnh phép rửa”.
Là một phụ nữ trọng bổn phận, Nam Phương đã tận tụy cùng với các nữ tu của Tu hội Đức Bà ở Đà Lạt, mở tu viện Les Oiseaux nơi bà cho các con gái của mình theo học. Nam Phương cũng có một dự án lớn mà bà muốn giao phó cho chồng: đó là đưa Việt Nam trở thành vương quốc Công Giáo đầu tiên ở Châu Á. Trong khi không bao giờ xuất hiện trước công chúng với các nhà chức trách Công Giáo, ông đã bí mật đọc Kinh Thánh.
- CẢNH LƯU ĐÀY CỦA VỊ HOÀNG ĐẾ SA CƠ
Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng, trao trả nền độc lập cho Việt Nam dưới tay Bảo Đại. Nhưng Bảo Đại đã thoái vị ngay sau khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền, tuyên bố lập ra chính phủ VNDCDH. Sau đó, Bảo Đại bị HCM hạ xuống chức vụ “cố vấn tối cao” để làm bù nhìn. Bảo Đại trốn HCM sang Hồng Kông sống lưu vong. Ông được người Pháp đưa trở về VN vào năm 1949, lên làm quốc trưởng chính phủ Quốc gia VN chứ không còn là hoàng đế, và cuối cùng bị phế truất vào tháng 10 năm 1955 bởi Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại Việt Nam cuối cùng đã vĩnh viễn rời bỏ chính trường.
Vị cựu hoàng đế này đã lưu vong cùng vợ và năm người con của họ ở Pháp, ở tuổi 42, để sống một cuộc hưu trí rất dài và rất kín đáo ở Cannes, và sau đó ở Paris.
Kinh tế không mấy dư giả. Chỉ còn một vài cận thần, tì nữ trung thành cùng lưu vong với ông. Bà Nam Phương, đau khổ vì sự không chung thủy của chồng, đã rời bỏ ông bất chấp lời xác tin hôn nhân của bà và đến cư trú tại căn hộ ở Corrèze, nơi bà qua đời ở tuổi 52. Về phần Bảo Đại, ông đã tìm lại ở Pháp lối sống của thời trẻ, tiếp tục săn bắn, chơi gôn và xe thể thao. Ông tiếp tục các cuộc phiêu lưu đa tình của mình… cho đến khi ông gặp Monique Baudot, một phụ nữ 23 tuổi quê ở vùng Lorraine, vào năm 1969.
5. CÔNG CHÚA MONIQUE VÀ NHÀ THỜ SAINT LOUIS DES INVALIDES
Chính tại đại sứ quán Zaire, ánh mắt họ đã gặp nhau. Monique Baudot phụ trách văn phòng báo chí của đại sứ quán. Bà kết hôn với hoàng đế năm 1972. Được gọi là Công nương Monique, bà là một phụ nữ rất sùng đạo với tính cách kín đáo, thường xuyên đi lễ tại nhà thờ Saint-Louis des Invalides ở Paris. Cuối cùng, bà đã thuyết phục được chồng mình gia nhập cộng đồng Công giáo. Năm 1988, ông được rửa tội lấy tên thánh là Jean-Robert.

Mặc dù buổi lễ diễn ra rất riêng tư, nhưng một số người thân cận với cả gia đình lẫn Đức Hồng Y Lustiger, Tổng Giám mục Paris vào thời điểm đó, xác nhận Bảo Đại đã chuẩn bị lâu dài để lãnh nhận phép rửa, một điều có thể được coi như một con đường rất đặc thù hướng tới đức tin Công giáo được đánh dấu bởi chứng từ sống động của hai người vợ: Nam Phương trước, sau đó là công nương Monique.
Nhà nghiên cứu lịch sử hoàng gia kết luận “Sau khi được rửa tội, Bảo Đại đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo một cách sốt sắng. Ông đã trở thành một Kitô hữu tận tụy. Sau khi trở thành một hoàng đế lưu vong và là một người đàn ông cô đơn, ông đã tìm thấy ơn cứu chuộc nơi Chúa Kitô.”

Vũ Văn An Vietcatholic
CHẠM ĐẾN ÂN SỦNG -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Thấy mẹ vợ Phêrô đang sốt liệt giường. Chúa Giêsu chạm đến tay bà và cơn sốt biến đi.”
“Tham dự tang lễ của Brezhnev, George Bush vô cùng xúc động trước sự ‘không đồng tình’ âm thầm của bà quả phụ. Bà cúi xuống, chậm rãi, trang trọng, làm một dấu thánh giá trên ngực chồng. Ở đó, trong tòa nhà uy quyền, ‘biểu tượng’ của những người vô thần, vợ của người đàn ông quyền lực nhất hy vọng rằng, chồng mình đã sai. Bà cầu xin lòng thương xót Chúa cho ông được ‘chạm đến ân sủng’ Ngài, khi thánh giá Ngài chạm đến trái tim ông.”
Kính thưa Anh Chị em,
Trên đây là ghi nhận của Gary Thomas trong cuốn “Christianity Today”, “Kitô Giáo Ngày Nay.” Lời Chúa hôm nay cũng nói đến việc ‘được Thiên Chúa chạm đến’ hay ‘được chạm đến Ngài.’ Trong cái nhìn đức tin, chúng ta gọi đây là việc ‘chạm đến ân sủng.’
Nhạc mẫu của Phêrô sốt liệt giường. Không ai xin Chúa Giêsu chữa cho bà, kể cả bà; đúng hơn, Ngài “thấy” bà đang liệt, nên đến gần bà, “chạm đến tay bà,” và bà được lành. Ngay sau khi được chạm đến, “Bà chỗi dậy tiếp đãi các ngài!” “Chỗi dậy” tượng trưng cho tất cả những gì phải làm ngay khi được ân sủng cảm hoá. Ân sủng có tác dụng làm cho chỗi dậy; nói cách khác, mỗi khi được ‘chạm đến ân sủng,’ chúng ta chỗi dậy! Chỗi dậy khi thoát khỏi tội lỗi bởi đã chạm đến ơn tha thứ của Bí Tích Hòa Giải; chỗi dậy khi Chúa bước vào cuộc đời, ban cho chúng ta sự định hướng sáng suốt và niềm hy vọng sau một biến cố nào đó. Mỗi lần chỗi dậy là mỗi lần được củng cố trong đức tin, được xua tan gánh nặng tội lỗi và sự mê muội; đồng thời, vươn lên trong sức mạnh mới để tạo nên một sự khác biệt.
Bà đã “tiếp đãi các ngài.” Đây phải là hậu kết tất yếu của việc chỗi dậy nơi một người đã ‘chạm đến ân sủng.’ Ân sủng không được ban để ai đó quay lại với tội lỗi, nhưng để đứng lên phục vụ Chúa và tha nhân. Theo một nghĩa nào đó, ân sủng đặt chúng ta trở lại sứ vụ của mình; đó có thể là một gánh nặng nhưng là một ‘gánh nặng thánh;’ một gánh nặng sẽ hoá nên nhẹ nhàng, gánh ân sủng, gánh ân phúc, “Vì ách Tôi êm ái, gánh Tôi nhẹ nhàng.”
Thú vị thay! Abraham và Sara trong bài đọc Sáng Thế cũng đã ‘chạm đến ân sủng.’ Dưới cụm sồi, ‘ba người khách lạ’ cũng tự tìm đến nhà Abraham; ông ‘chỗi dậy’ phục vụ các ngài. Như nhạc mẫu Phêrô yếu liệt, Sara cũng bất lực, héo hắt vì không thể sinh con; hình ảnh này nói lên một điều gì đó tàn úa, chết chóc. Vậy mà phụ nữ son sẻ này, rồi đây, sẽ được xót thương. Và như thế, việc ‘chạm đến ân sủng’ của hai người đã làm tươi mới tất cả. Kìa, dưới mái lều của họ, sẽ có tiếng cười trẻ thơ. Thâm thuý thay lời ngợi khen Magnificat của Maria, Đấng Đầy Ân Sủng, qua lời đáp ca, “Chúa đã nhớ lại lòng thương xót của Người!”
Anh Chị em,
“Chúa Giêsu chạm đến tay bà.” Mỗi ngày, trên các bàn thờ, qua các Bí Tích, Chúa Giêsu chạm đến thân xác chúng ta. Không chỉ ‘chạm đến ân sủng,’ chúng ta chạm đến Đấng là nguồn ân sủng; đúng hơn, Giêsu Ân Sủng chạm đến chúng ta. Và không chỉ chạm đến thân xác, Ngài còn đi vào linh hồn, trở nên của ăn, của uống nuôi sống chúng ta. Noi gương Abraham và nhạc mẫu Phêrô, bạn và tôi chỗi dậy, đi tới, với những bước chân hân hoan cho việc phụng sự Thiên Chúa và tha nhân trong mọi đấng bậc tùy theo ơn gọi của mình.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con bất lực, héo úa và tội lỗi. Xin chạm đến con, hầu con hồi sinh, trở nên tươi mới và cũng có thể đứng lên, đi tới, đem ân sủng Chúa chạm đến anh chị em con!” Amen!
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: Langthangchieutim
KÍNH TRỌNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Chúa Giêsu ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt theo Ngài. Một người cùi đến bái lạy Ngài!”.

Winston Churchill, người được tiếng là chính trực và tôn trọng những người đối lập. Năm cuối cùng tại vị, ông dự một buổi lễ. Sau ông vài hàng ghế, có hai người đang thì thầm, “Đó là Churchill!”. Họ nói, “Ông ấy đang già đi”; “Ông ấy nên từ chức”. Buổi lễ kết thúc, Churchill quay về phía hai người; đầy trân trọng, ông nói, “Thưa quý ông, họ cũng nói, ông ấy bị điếc!”.

Kính thưa Anh Chị em,
Hơn cả sự trân trọng thủ tướng Anh dành cho những người đối lập, Lời Chúa hôm nay tiết lộ một sự trân trọng thú vị tương tự, “Một người cùi đến bái lạy Chúa Giêsu”. Thật bất ngờ, chi tiết này giúp chúng ta khám phá sự ‘tôn kính’ của con người đối với Thiên Chúa; và bất ngờ hơn, sự ‘kính trọng’ của Thiên Chúa đối với con người!
Điều đầu tiên chúng ta lưu ý là Chúa Giêsu “chạm vào” người cùi. Đây là điều cấm kỵ, vì như vậy, Ngài bị coi là nhiễm uế. Nhưng Chúa Giêsu đã phá vỡ chuẩn mực đó để bày tỏ công khai sự ‘kính trọng’ hầu nói cho anh cùi và mọi người ‘phẩm giá bẩm sinh’ của anh. Thật thâm thuý khi chúng ta tự hỏi, “Vậy thì hành động nào được coi là ‘kính trọng’ hơn?”; “Việc anh ‘bái lạy’ Chúa Giêsu hay việc Ngài ‘chạm vào’ anh?”. Và dẫu không cần so sánh hai hành vi này, nhưng sẽ rất hữu ích khi bạn và tôi suy gẫm về một sự thật sâu sắc rằng, Chúa Giêsu, Thiên Chúa Nhập Thể, đã bày tỏ sự ‘kính trọng’ đối với con người; ở đây, một người ô uế bị cộng đồng loại trừ. Không nghi ngờ gì nữa, Ngài không chỉ ‘kính trọng’ khi chạm vào anh, nhưng còn công khai bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho anh.

Thật trùng hợp! Sự ‘kính trọng’ này còn được bộc lộ ở bài đọc thứ nhất. Thiên Chúa đã giữ lời hứa với Abraham, “Sara, vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai”. Nhưng “Abraham cúi mặt cười, và nghĩ trong lòng rằng: ‘Già đã trăm tuổi mà còn có con được sao? Sara đã chín mươi tuổi sẽ sinh con ư?’”. Ôi, trước một Đấng “Không ai nhìn thấy mà không chết”; vậy mà Abraham dám cười! Phải chăng, vì Thiên Chúa đó quá yêu thương, quá ‘kính trọng’ vị tổ phụ? Và Ngài đã giữ lời với miêu duệ của kẻ kính tôn Ngài cho đến muôn đời như xác tín của Thánh Vịnh đáp ca, “Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài!”.
Anh Chị em,
“Một người cùi đến bái lạy Ngài”. Mỗi ngày, chúng ta bái lạy Chúa, bái lạy Thánh Thể; tất nhiên, sự tôn kính chúng ta dành cho Thiên Chúa là phải lẽ. Tuy nhiên, còn phải nhận ra rằng, Thiên Chúa luôn ‘kính trọng’ mỗi người chúng ta, dẫu bạn và tôi bất xứng hơn cả anh cùi! Mỗi ngày, Ngài đang chạm đến chúng ta qua các Bí Tích; đặc biệt, Bí Tích Thánh Thể. Vậy mà, không chỉ cúi mặt cười như Abraham, chúng ta còn ‘bôi mặt’ Ngài khi chúng ta phạm tội; khi chúng ta miệt thị, nhục mạ Ngài trong anh chị em mình. Chúng ta quên rằng, tha nhân là chính Ngài. Người cùi hôm nay chỉ là ‘biểu tượng’ của nhiều loại người mà thế giới coi là ô uế và bị loại trừ, Chúa Giêsu muốn bạn và tôi ‘kính trọng’ họ đúng mức và triệt để. Khi làm vậy, chúng ta không biện minh cho khiếm khuyết hoặc tội lỗi của họ; nhưng vượt qua vẻ bên ngoài, chúng ta chân nhận ‘phẩm giá bẩm sinh’ của họ, vì họ cũng là con cái Chúa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con biết ‘kính trọng’ Chúa trong anh chị em con, dù họ thế nào, chỉ vì một lý do duy nhất, Chúa quá trân trọng và yêu thương con!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
CHO ĐI, TỨC LÀ LÃNH NHẬN – TGM Giuse Vũ Văn Thiên
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
Một số độc giả, nhất là những độc giả ngoài Kitô giáo, có thể cảm thấy “sốc” khi đọc Bài Tin Mừng hôm nay: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thày, thì không xứng đáng với Thày….” Có lẽ nào Đức Giêsu lại dạy những điều ngược đời, trái với luân thường đạo lý. Để hiểu nội dung và sứ điệp của Lời Chúa, chúng ta phải xác định vị trí của đoạn Tin Mừng này trong ngữ cảnh những bài giảng của Đức Giêsu về truyền giáo. Người đưa ra những điều kiện, những yêu sách mà những ai muốn làm môn đệ của Người phải chấp thuận. Đối với những ai muốn đi theo Đức Giêsu, họ phải vượt qua mọi thứ rào cản. Những rào cản này có thể là quan niệm về một cuộc sống an phận, có thể đó là của cải tiền bạc, nhưng cũng có thể đó là những mối liên hệ rất thân thiết. Đức Giêsu đã dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả sự hy sinh đối với những ai muốn làm môn đệ của Người. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể khám phá ra quy luật “Cho đi, tức là lãnh nhận” được thể hiện qua những cặp từ mang ý nghĩa rất sâu sắc như sau:
– Ai tìm thì sẽ mất; ai chịu mất thì sẽ tìm lại được: ngược hẳn với quan niệm thông thường. Ở đây Đức Giêsu muốn nói đến sự dấn thân của người môn đệ. Khi sẵn sàng cho đi thì sẽ tìm được chính bản thân mình. Sự ích kỷ (tức là chỉ tìm chính bản thân mình, đặt mình làm chuẩn mực cho người khác) thì sẽ làm cho con người lâm vào tình trạng vong thân, đánh mất chính mình.
– Ai đón tiếp thì chính mình sẽ được đón tiếp: khái niệm “đón tiếp” ở đây được hiểu rộng hơn quan niệm thông thường. Đón tiếp là cộng tác, là sẻ chia, là thông cảm, là đón nhận. Đón tiếp một người nào còn là sự quảng đại đối với người đó. Đức Giêsu đã đồng hóa với những người bé mọn đến nỗi ai đón tiếp họ là đón tiếp chính Người. Người còn hiện diện nơi những môn đệ, nơi những người được sai đi, để rồi mỗi khi chúng ta đón tiếp người môn đệ là đón tiếp Chúa. Hơn thế nữa, họ được vinh hạnh đón tiếp chính Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Con mình đến trần gian.
– Ai giúp người khác thì bản thân mình sẽ được giúp đỡ: sự giúp đỡ được nêu trong Tin Mừng chỉ đơn giản là một bát nước lã, là điều ai cũng có thể làm được. Ấy vậy mà món quà tưởng chừng như vô giá trị ấy lại có ý nghĩa trước mặt Chúa và xứng đáng nhận phần thưởng. “Của cho không quan trọng bằng cách cho,” một bát nước lã đã trở thành quà tặng có giá trị, vì nó được trao tặng với cả tâm hồn, với tình mến yêu và lòng chân thành. Người đàn bà tại thành Sunam đã quảng đại đón tiếp Ngôn sứ Êlisê (Bài đọc I). Chính nhờ sự đón tiếp đó mà Bà và gia đình đã được thưởng công. Bà đã sinh con vào lúc tuổi già xế bóng. Việc sinh con đã đem lại cho bà niềm vui, vì đó là điều bà mong ước. Bà đã đón tiếp Ngôn sứ với cả tấm lòng và sự quảng đại.
Khi cho đi, mình được nhận lãnh, khi tha thứ, mình được thứ tha, khi mến yêu, mình được yêu mến. Đó là triết lý sống của Thánh Phanxicô Khó Khăn đã được thể hiện qua Kinh Hòa Bình quen thuộc. Triết lý ấy, rất đơn sơ mà sâu sắc, rất dễ dàng thực hiện mà đem lại hiệu quả thiết thực. Triết lý sống này đã thấm đượm tinh thần của Tin Mừng. Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta điều đó: Người đã cho đi, đã yêu mến, đã thứ tha để làm gương cho chúng ta.
Chúng ta được mời gọi để sống như Đức Giêsu đã sống, yêu như Đức Giêsu đã yêu. Chân lý này được gói gọn trong lời Chúa đã nói: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy.” “Vác thập giá”, đó chính là con đường chúng ta đang đi. Đó chính là những biến cố đang xảy đến trong cuộc sống hằng ngày. Đó cũng là niềm vui nỗi buồn hòa quyện trong cuộc sống để làm nên những lời tôn vinh Thiên Chúa, khi chúng ta đón nhận những biến cố ấy với tâm tình của Đức Giêsu, cũng như Đức Giêsu đã cùng thập giá để tôn vinh Chúa Cha. Thánh Phaolô đã gọi những hy sinh của người tín hữu là “chết đi cùng với Đức Kitô” (Bài đọc II). Đây là cốt lõi Đức tin của người công giáo: những ai cùng chết với Chúa Kitô sẽ được sống lại với Người. Mỗi ngày, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của Bí tích Thanh Tẩy, tức là chấp nhận để cho những nết xấu chết dần trong ta và để ơn sủng của Chúa lớn mãi trong tâm hồn.
Chúng ta đang tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tháng Sáu này. Thánh Tâm Chúa đã mở ra để trở nên nguồn ân sủng cho nhân loại, cách riêng cho các tín hữu. Xin Thánh Tâm Chúa trở nên trường học về lòng hy sinh và tình yêu mến cho mỗi chúng ta.
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
Thánh Cyril ở Alexandria (376?-444)
Bí tích Thánh Thể là gì?
Anh em đừng sợ!”-Cha Vương
RỒI SẼ NÊN THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực, bàn tay Chúa đã ở với nó!”.
Suy niệm “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Philip Clarke Brewer viết, “Chúa sử dụng những gì bạn có, để lấp đầy một nhu cầu bạn không bao giờ có thể lấp đầy; sử dụng nơi bạn ở, để đưa bạn đến một nơi bạn
không bao giờ có thể đến; sử dụng những gì bạn làm, để hoàn tất những gì bạn không bao giờ có thể làm; và Ngài sử dụng bạn, dù bạn là ai, để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể trở thành, và không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”.
Kính thưa Anh Chị em,
“Không biết ‘rồi sẽ nên thế nào!’”; đó cũng là những gì họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan! Tin Mừng ngày lễ sinh nhật Vị Tiền Hô của Chúa tường thuật cảnh nhộn nhịp dưới mái nhà của ông bà khi xóm diềng đến chúc mừng họ.
Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”; ngày sinh của một thơ nhi phản ánh vẻ đẹp và sự huyền nhiệm vô hạn của Thiên Chúa, Đấng nói rằng, ‘Đã có những phóng chiếu của Ta trên hình nó!’. Cha mẹ của em bé có thể coi đó như một nhầm lẫn, sai sót; nhưng Thiên Chúa thì không! Một đôi vợ chồng hiếm muộn mong mỏi nó; Thiên Chúa khát khao nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như thế, phương chi với Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Chuộc. Thánh Tôma Aquinô viết, “Gioan đã được thánh hoá từ trong dạ mẹ”; còn Luca, “Em đã đầy Thánh Thần ngay trong lòng mẹ!”.
Với bài đọc thứ nhất, Isaia chia sẻ một trải nghiệm tương tự, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ”. Được tạo thành cách lạ lùng; Isaia được sai đi còn lạ lùng hơn, “Này, Ta làm cho con nên ánh sáng các dân!”. Kỳ diệu thay, những lời này ứng nghiệm trên Chúa Giêsu Kitô, Ánh Sáng Muôn Dân. Phaolô cũng xác nhận điều này qua bài đọc hai, “Thiên Chúa ban cho Israel Đức Giêsu làm Đấng Cứu Độ, Đấng Gioan tiên báo”. Trước huyền nhiệm của việc tạo thành và sai đi này, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’, Thánh Vịnh đáp ca cũng trào tràn tâm tình tạ ơn, “Con ca ngợi Chúa, vì con được tạo thành cách lạ lùng!”.
Anh Chị em,
“Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào?”. Bàn tay Chúa ở với Gioan, Ngài can thiệp để Gioan sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt cho một sứ mệnh đặc biệt. Nhờ ơn Chúa, Gioan chu toàn sứ mệnh cách nghiêm túc và hoàn tất sứ vụ cách vẻ vang! Cũng thế, sự xuất hiện của bạn và tôi , ‘lúc này và ở đây’ không phải là ngẫu nhiên, nhưng phát xuất từ ý định ngàn đời của Thiên Chúa! Ân sủng và tình thương Ngài ‘không rời chúng ta nửa bước’. Ngài kỳ vọng mỗi người sẽ trở thành ‘một ai đó’ mà ngay chúng ta cũng ‘không biết rồi sẽ nên thế nào!’. Thú vị thay, ‘một ai đó’, chúng ta không biết, nhưng Thiên Chúa biết! Vậy, hãy cộng tác với ơn Chúa, chu toàn bổn phận theo đấng bậc mình cách nghiêm túc và hoàn tất nó cách vẻ vang. Và như vậy, chúng ta làm vui lòng Đấng đã kêu gọi mình từ lòng mẹ như Ngài đã gọi Gioan!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con kinh ngạc trước những việc Chúa làm trên con, trên anh chị em con. Cho con vững tin, dẫu không biết ‘rồi sẽ nên thế nào’ trong kế hoạch ngàn đời của Ngài!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
THÁNH GIOAN TẨY GIẢ – Lm Nguyễn Hồng Giáo
Lm Nguyễn Hồng Giáo
Trong Giáo hội, ngày lễ kính một vị thánh là ngày từ trần của vị ấy, quen gọi là “ngày sinh nhật trên trời” của người, ngày người sinh ra trên trời. Duy chỉ có thánh Gioan Tẩy Giả là được kính mừng cả trong ngày Người sinh ra lẫn trong ngày Người tạ thế. Tưởng không có gì lạ. Tất cả cuộc đời của thánh nhân từ lúc sinh ra, và ngay cả trước lúc sinh ra, chỉ là một lời chứng duy nhất cho Chúa Giêsu.
Con người của một sứ mạng
Có những người cho rằng người ta sinh ra ở đời là “bị vất vào đó,” một cách tình cờ, vu vơ, vô nghĩa. Thông thường hơn, người ta nói mỗi người có một định mệnh. Trước định mệnh ấy con người đành bó tay chịu đựng, không cách nào thoát ra được. Người Công giáo thì tin rằng mỗi người sinh ra là do ý muốn đầy yêu thương của Thiên Chúa, rằng không phải một sức mạnh mù quáng hay khắc nghiệt nào đó đã ném họ vào đời, nhưng chính Tình Yêu của Chúa “gọi” họ vào cuộc sống, và khi cho một con người sinh ra, Thiên Chúa có một ý định, một dự tính về người ấy, không phải như một kế hoạch áp đặt nhưng như một sứ mạng để hoàn thành trong tự do và trách nhiệm, hầu cho con người được hạnh phúc và cuộc đời họ được thành tựu đích thực. Ta gọi sứ mạng đó là một “ơn gọi.” Về mặt này, trường hợp của ông Gioan Tẩy Giả là tiêu biểu và rõ ràng.
Qua tường thuật của Kinh Thánh, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa về Gioan đã được biểu lộ hiển nhiên ngay từ giây phút ông được thụ thai, rồi trong việc ông sinh ra, việc đặt tên cho ông, việc mẹ ông và mẹ Chúa Cứu Thế gặp nhau v.v… Trong các biến cố đó, ta thấy có sự can thiệp lạ lùng của Chúa vào trong cuộc đời của Gioan để định hướng cho nó. Điều đáng nói hơn là về phần ông, một khi đã khôn lớn và nhận ra sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó, Gioan Tẩy Giả không còn biết gì khác hơn là sống trọn vẹn cho sứ mạng đó một cách lô-gic, kiên quyết, trọn vẹn, cho tới cùng. Ông rút lui sớm vào hoang địa, sống khắc khổ xa lánh mọi mời mọc, níu kéo của trần gian là để được sống trọn vẹn hướng về Đấng Cứu thế mà ông phải làm kẻ “dọn đường.” Ông rao giảng bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc, mạnh mẽ để lôi kéo người ta sám hối đổi đời vì thời gian không còn nhiều, Nước Thiên Chúa sắp tới. Sau khi thiên hạ đã rời ông để quay sang Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, ông âm thầm rút lui vào bóng tối vì đã hoàn thành nhiệm vụ “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi,” ông tuyên bố như thế (Ga 3,30). Rồi cả cái chết của ông cũng là một phần không thể tách lìa sứ mạng của một kẻ “dọn đường” và “làm chứng cho ánh sáng và sự thật.”
Gioan và Hêrôdê
Tôi thấy thánh Gioan Tẩy Giả Và vua Hêrôđê, kẻ đã ra lệnh chém đầu Người, là hai khuôn mặt hoàn toàn tương phản. Gioan là người mạnh mẽ, chí khí, còn Hêrôđê là người yếu đuối, do dự. Một đàng thì sống khắc khổ, giản dị, còn đàng kia lại thích xa hoa, hưởng thụ. Hêrôđê đã bắt giam ông Gioan vì ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua đã lấy vợ của anh mình. Thật ra vua cũng tỏ ra kính phục nhà tiên tri, biết ông là người công chính và thánh thiện, nhiều khi ông đã bênh vực Gioan. Nhưng ông là người thiếu ý chí, bị bao vây bởi đam mê, dục vọng. Và tuy là người cai trị khôn khéo nhưng ông lại bị các khuynh hướng xấu xa làm chủ mình. Thế nên ông đã bắt Gioan tống ngục, chắc hẳn là dưới sức ép của bà Hêrôđiađê, người chị dâu mà ông ta đoạt làm vợ. Rồi trong một bữa tiệc, ông đã hài lòng về điệu múa của cô con gái của bà đến độ đã hứa ban cho cô ta bất cứ điều gì cô xin. Một lời hứa bốc đồng. Đó không phải là tiếng nói của lý trí, của lương tâm mà là của cảm tính, của bản năng. Và thế là ông đã mắc mưu bà Hêrôđiađê rồi. Bà bảo con gái hãy xin cái đầu của Gioan. Đã lỡ hứa trước mặt các thực khách, nhà vua đành phải giữ lời, mặc dù trong thâm tâm ông không muốn giết con người công chính này.
Vua Hêrôđê tiêu biểu cho những con người để cho phần thú tính nơi mình lấn lướt; mặc dù đôi khi lý trí và lương tâm vẫn còn lóe lên nơi họ, kêu gọi họ hãy vươn cao lên, nhưng không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng bùn lầy bởi họ đã quen sống trong những sự thấp hèn. Đối diện với Hêrôđê, ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một con người có lý tưởng, sống nhất quán vì lý tưởng đời mình; một con người của bổn phận; con người biết chiến đấu cương quyết chống lại những lôi cuốn của bản năng thấp hèn; con người của những đỉnh cao.
Thánh Gioan Tẩy Giả và chúng ta
Như Gioan, mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng, một ý định của Thiên Chúa về chúng ta. Nhưng làm sao biết được? Kinh Thánh và giáo lý của Hội Thánh cho ta biết rằng con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa,” “có khả năng hiểu biết là yêu mến Tạo Hóa” và “chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.” Đó chính là mục đích của việc tạo dựng con người. Con người phát xuất từ Thiên Chúa, sẽ được trở về với Thiên Chúa. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (năm 1992) trích dẫn lời thánh nữ Catarina thành Sienna như sau: “Vì sao Ngài đã dựng nên con người với phẩm giá cao trọng như vậy? Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó. Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì yêu thương, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cữu, (sđd, số 6).
Đó là ý định chung của Thiên Chúa là ơn gọi chung của chúng ta. Mỗi người sẽ phải thể hiện ơn gọi đó cho nên mình tùy theo diễn tiến cụ thể đời mình, theo những điều kiện và hoàn cảnh sống thực tế, khi ra sức tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong lề luật của Người và lời dạy của Giáo hội, trong việc bổn phận của bậc sống mình, trong lương tâm ngay thẳng, trong luật lệ chính đáng của xã hội, trong các biến cố…
Không phải tự nhiên và dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện ý định của Chúa đối với chúng ta. Trong mỗi người đều có hai khuynh hướng: một nâng ta lên cao, một kéo ta đi xuống. Chúng ta thường xuyên kinh nghiệm rằng hai khuynh hướng thiện ác đó đấu tranh kịch liệt với nhau ngay trong ta. Muốn chiến thắng, phải tỉnh thức và cầu nguyện, phải tập nghe theo tiếng nói của lý trí, của lẽ phải và lương tâm, trong việc lớn cũng như việc nhỏ; đồng thời cũng phải tập sống khổ chế, nghĩa là sống có kỷ luật, biết hy sinh và từ bỏ. Làm sao có thể có một đời sống tinh thần phong phú nếu lúc nào cũng tìm kiếm và chiều theo những sự dễ dãi, thoái mái, nếu lúc nào cũng chạy theo vui thú vật chất và xác thịt?
Ít năm sau chiến tranh, tôi có dịp đi thăm một anh em tu sĩ chúng tôi ở Xuyên Mộc. Ngài phụ trách một giáo xứ khoảng 4.000 giáo dân và ba địa điểm cách giáo xứ từ 7 đến 20 cây số với số giáo dân khoảng 6.000 người nữa. Tôi đã đi thăm hai địa điểm lớn ở xa. Đó là hai làng kinh tế mới. Tôi thấy giáo dân thật sốt sắng, đầy can đảm trong công việc làm ăn cũng như trong việc đạo. Đặc biệt tôi gặp một gia đình Dòng Ba Phanxicô gốc ở Phú Nhuận. Khi tôi đến, ông đang dạy giáo lý hôn nhân cho một chị độ 25 tuổi. Ông bà cho biết: họ có mấy người con trai, trong đó có đứa nghiện xì ke đã làm cho họ rất khổ tâm. Để tránh cho mấy đứa khác khỏi bị lôi kéo vào con đường hư hỏng đó, hai ông bà đã quyết định đưa cả gia đình tới đây sinh sống từ 1980. Bây giờ họ sống nghèo nhưng vui và bình an. Tinh thần đơn sơ, nghèo khó, vui tươi và phó thác của Dòng Ba đã giúp họ can đảm sống cuộc đời thiếu thốn vì lợi ích của con cái. Họ nói tuy họ không giàu có nhưng con cái họ không hư hỏng.
Theo “ơn gọi” và hoàn cảnh riêng của mình, hai người công giáo này đáng cho ta khâm phục không kém Gioan Tẩy Giả, và chắc chắn là gần gũi và dễ noi gương hơn noi gương vị Tiền Hô.
Lm Nguyễn Hồng Giáo
From: Langthangchieutim




