MANHATTAN, New York (NV) – Người Mỹ bước vào cuối tuần trước Lễ Lao Động (7 Tháng Chín,) với giá xăng cao nhất từng được ghi nhận cho dịp lễ này, khi chiến tranh Mỹ-Iran tiếp tục đẩy giá dầu và nhiên liệu lên cao, khiến một gallon xăng trung bình trên toàn quốc hiện có giá hơn $4/gallon ngay vào một trong những cuối tuần đi lại đông nhất trong năm, theo Reuters ngày 5 Tháng Chín.
Công ty GasBuddy, công ty chuyên theo dõi và phân tích giá nhiên liệu tại Mỹ, dự đoán giá xăng trung bình toàn quốc có thể ở khoảng $4.03/gallon vào Lễ Lao Động, Thứ Hai, 7 Tháng Chín, vượt xa kỷ lục trước đó khoảng $3.83 được ghi nhận năm 2012. Hôm Thứ Năm, giá trung bình đã ở khoảng $4.13, cao hơn gần $1 so với cùng thời điểm năm ngoái.
Giá xăng tại California hồi Tháng Năm. (Hình minh hoạ: Justin Sullivan/Getty Images)
Hãng bảo hiểm AAA cũng ghi nhận giá trung bình toàn quốc khoảng $4.14 hôm 3 Tháng Chín, so với $3.19 một năm trước. Đây là lần đầu tiên giá xăng trung bình của Mỹ có nguy cơ vẫn trên $4 vào Lễ Lao Động.
Giá xăng tăng theo giá dầu thô, vốn trở lại trên $90/thùng trong tuần này sau khi giao tranh giữa Mỹ và Iran gia tăng, làm sống lại lo ngại nguồn dầu toàn cầu có thể bị gián đoạn, đặc biệt quanh eo biển Hormuz. Khoảng một phần năm lượng dầu thế giới từng đi qua tuyến đường biển này.
Áp lực không chỉ đến từ dầu thô. Reuters cho biết xuất cảng các sản phẩm dầu tinh chế của Mỹ tăng hơn 10% so với năm ngoái khi nhiều quốc gia tìm tới nguồn nhiên liệu Mỹ sau khi chiến tranh Iran bắt đầu. Điều đó làm giảm lượng nhiên liệu còn lại cho thị trường trong nước.
Trong khi đó, khả năng tăng sản lượng nhanh chóng rất hạn chế. Các nhà máy lọc dầu Mỹ hiện hoạt động ở khoảng 98% công suất, mức cao nhất kể từ 2018. Chính phủ đã nới một số quy định vận chuyển và cho phép chấm dứt sớm yêu cầu về loại xăng mùa Hè, nhưng giới phân tích cho rằng Washington hiện không còn nhiều biện pháp dễ dàng để tăng nguồn cung.
Dự trữ xăng Mỹ tuần qua giảm 1.2 triệu thùng, hiện còn 205.7 triệu thùng, thấp hơn khoảng 6% so với mức trung bình năm năm, theo Cơ Quan Thông Tin Năng Lượng Mỹ.
Các gia đình tại miền Tây nước Mỹ đang hứng chịu tác động đặc biệt mạnh trên giá cả nhiên liệu. Reuters cho biết California, Hawaii và Washington có giá xăng trung bình cao nhất nước. AAA ghi nhận California khoảng $5.78/gallon hôm 3 Tháng Chín.
Giá nhiên liệu cũng đang trở thành vấn đề chính trị đối với Tổng Thống Donald Trump trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Ông Trump từng cam kết giảm chi phí năng lượng, nhưng hôm 14 Tháng Tám lại nói người Mỹ nên chấp nhận trả “cao hơn một chút” cho xăng nếu điều đó giúp ngăn Iran có vũ khí hạt nhân.
Với cuộc chiến Iran chưa có dấu hiệu chấm dứt và hệ thống lọc dầu Mỹ gần hết công suất, giá xăng trên $4 có thể không chỉ là vấn đề của riêng cuối tuần Lễ Lao Động. (MPL) [dt]
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ông sẽ chủ trì quốc yến vào tối 24/9 để chiêu đãi Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
“Chúng tôi sẽ có quốc yến, và chúng tôi sẽ – chúng tôi làm những thứ tuyệt vời với Trung Quốc, chúng tôi đã và đang làm việc rất tuyệt với Trung Quốc,” ông Trump nói với các phóng viên tại Phòng Bầu dục vào hôm 4/9 (giờ Mỹ), đồng thời nói giảm nói tránh chuyện căng thẳng với Trung Quốc liên quan đến vấn đề Iran.
“Ông ấy là một quý ông tuyệt vời, chúng tôi rất hợp nhau, chúng tôi có mối quan hệ thương mại rất tốt, họ là một đối thủ cạnh tranh, nhưng chúng tôi có một mối quan hệ rất tốt với Chủ tịch Tập,” hãng tin Bloomberg trích lời ông Trump.
Những lời tốt đẹp của chủ nhân Nhà Trắng dành cho vị khách đến từ Trung Nam Hải chưa dừng lại ở đó.
Ông Trump tiếp tục ca ngợi phu nhân của ông Tập, bà Bành Lệ Viện: “Ông ấy sẽ đến cùng người vợ xinh đẹp. Bà ấy là một người phụ nữ đẹp và là một người phụ nữ tuyệt vời, được cả thế giới kính trọng, họ sẽ đến cùng nhau.”
Đoàn doanh nhân hùng hậu
Trong chuyến thăm lần này, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến mang theo một phái đoàn doanh nghiệp quy mô lớn tháp tùng, theo hai nguồn tin của Reuters.
Đây là động thái đáng chú ý bởi ông Tập hiếm khi đưa các lãnh đạo doanh nghiệp đi cùng trong các chuyến công du nước ngoài, trong bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và giới doanh nghiệp tư nhân trong nước đã trở nên căng thẳng sau các đợt siết quản lý từ năm 2020.
Phái đoàn doanh nghiệp tháp tùng ông Tập trong chuyến đi sắp tới chưa được công bố và Reuters chưa xác định được những CEO nào sẽ tham gia.
Một nguồn tin am hiểu các cuộc thảo luận cho biết động thái này một phần nhằm phát đi tín hiệu rằng Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy đầu tư và quan hệ thương mại với Mỹ, đồng thời có thể mang lại cho chính quyền Tổng thống Donald Trump một số thành quả kinh tế trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Chủ tịch Tập Cận Bình đón tiếp Tổng thống Donald Trump tại Bắc Kinh hồi tháng 5/2026
Đây là một sự thay đổi đáng chú ý trong cách ông Tập tiếp cận giới doanh nghiệp. Nhiều doanh nhân Trung Quốc từng được xem là có vị thế đã mất thiện cảm với chính quyền sau các chiến dịch quản lý mạnh tay nhằm vào các lĩnh vực công nghệ, giáo dục và bất động sản. Trong những năm gần đây, doanh giới Trung Quốc cũng phải đối mặt với sự giám sát ngày càng chặt chẽ tại Mỹ về đầu tư và hoạt động kinh doanh.
Mỹ đã áp thuế 100% đối với xe điện Trung Quốc, hạn chế một số mặt hàng công nghệ và thiết bị, đồng thời gây sức ép buộc thoái vốn khỏi hoạt động của TikTok tại Mỹ. Nhiều công ty công nghệ lớn của Trung Quốc cũng bị đưa vào các danh sách hạn chế vì lý do an ninh quốc gia.
Lần gần nhất ông Tập đưa một phái đoàn doanh nghiệp lớn sang Mỹ là năm 2015. Khi đó có Jack Ma của Alibaba, Pony Ma của Tencent cùng lãnh đạo các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước.
Chuyến đi đã dẫn tới thỏa thuận trị giá 38 tỷ USD mua 300 máy bay Boeing, đồng thời ông Tập đã gặp nhiều lãnh đạo công nghệ Mỹ như Tim Cook, Mark Zuckerberg và Jeff Bezos.
Ở chiều ngược lại, Tổng thống Trump thường thích đưa các CEO Mỹ tới Trung Quốc, trong đó có chuyến đi hồi tháng Năm với 18 lãnh đạo doanh nghiệp, với các tên tuổi như Jensen Huang và Elon Musk.
Phái đoàn ngàn tỷ đô tháp tùng ông Trump đến Trung Quốc hồi tháng 5/2026, bao gồm Tim Cook (Apple), Kelly Ortberg (Boeing), Jane Fraser (Citigroup), Henry Lawrence Culp (GE Aerospace), Michael Miebach (Mastercard), Jensen Huang (Nvidia), Cristiano Amon (Qualcomm), Elon Musk (SpaceX và Tesla), Ryan McInerney (Visa)…
‘Xin đừng can dự’
Dù ông Trump thường dành những lời tốt đẹp khi nói về ông Tập, nhưng quan hệ của hai nước vẫn còn rất nhiều bất đồng, xung đột.
Một trong những bất đồng lớn liên quan đến Iran.
Song song với hành động quân sự, ông Trump đang tìm cách gia tăng sức ép kinh tế nhằm buộc Iran đạt một thỏa thuận chấm dứt cuộc xung đột đã kéo dài hơn sáu tháng.
Ông Trump đã không ngừng kêu gọi Trung Quốc cắt đứt thương mại với quốc gia Tây Á, nhưng ông Tập không chiều theo ý muốn của nhà lãnh đạo Mỹ.
Trung Quốc hiện vẫn là khách hàng mua dầu Iran lớn nhất và họ không vì sức ép của Mỹ mà chấm dứt hoạt động giao thương này.
Vào hôm 4/9, khi phát biểu với các phóng viên tại Phòng Bầu dục, Tổng thống Trump đã cố gắng làm nhẹ vấn đề.
Ông nói: “Tôi đã nói với Chủ tịch Tập rằng ‘xin đừng can dự vào’ – tôi có mối quan hệ rất tốt với ông ấy – và họ thực sự không can dự.”
Theo Reuters, kỳ vọng đối với hội nghị thượng đỉnh Trump-Tập lần này tương đối khiêm tốn.
Nhìn chung, việc ông Tập đưa một phái đoàn CEO lớn sang Mỹ có ý nghĩa cả về kinh tế lẫn biểu tượng: Bắc Kinh muốn cho thấy họ sẵn sàng duy trì quan hệ thương mại và đầu tư với Mỹ, trong khi Washington có thể sử dụng các cam kết kinh tế như một phần thành quả của hội nghị.
Tuy nhiên, các nguồn tin của Reuters cho rằng khả năng đạt được một đột phá lớn tại hội nghị vẫn hạn chế.
“Sửa lỗi huynh đệ không phải là phản ứng trước một sự xúc phạm, nhưng được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho người anh em!” – Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Tin Mừng hôm nay thật lạ: lỗi nằm ở anh, nhưng mệnh lệnh lại rơi xuống tôi – “Anh hãy đi!”. Bởi tình yêu không cho phép tôi đứng ngoài – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Chúa Giêsu không bắt tôi mang lỗi người khác; Ngài chỉ không cho phép lỗi ấy tiếp tục phá vỡ tình anh em. Luật của tình yêu là thế: ai còn yêu, người ấy bước trước. “Hãy yêu đi, rồi làm điều bạn muốn!” – Augustinô. Tôi không thể đợi người ấy đổi thay rồi mới bắt đầu yêu thương. Tội không lây từ anh sang tôi, nhưng bổn phận yêu thương thì có.
Vì thế, Chúa Giêsu không bảo tôi nói về anh, nhưng nói với anh; không trước đám đông, nhưng trong một cuộc gặp riêng. Gặp riêng khó hơn nói công khai, vì ở đó tôi không còn ai đứng về phía mình, cũng không thể dùng sự xấu hổ để buộc người kia nhận lỗi. Chỉ còn hai người cùng đứng trước sự thật. Tôi đến để chỉ ra lỗi của anh, nhưng cũng phải sẵn sàng nhận ra phần tối trong chính mình; có thể nói đúng mà cách nói lại sai; muốn anh đổi thay mà lòng tôi đôi khi vẫn muốn anh trả giá. Sửa lỗi huynh đệ chỉ bắt đầu khi tôi không dùng sự thật chống lại người anh em.
Phaolô gọi đó là “món nợ tương thân tương ái” – bài đọc hai. Đây là món nợ không phát sinh từ lỗi của anh, nhưng từ tình yêu tôi đã nhận nơi Chúa. Vì đã được yêu, tôi không thể dửng dưng trước một người lạc bước; nhưng vì từng được tha thứ, tôi cũng không thể đến như một người vô tội. Tôi có thể không nợ anh một lời xin lỗi, nhưng vẫn nợ anh cách đối xử xứng với một người Chúa vẫn yêu – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Với Êzêkiel, món nợ ấy trở nên nghiêm trọng hơn: người canh gác không gây ra hiểm nguy, nhưng thấy mà im tiếng, Chúa sẽ “đòi ngươi đền nợ máu nó” – bài đọc một. Có những im lặng tưởng là hiền lành, thật ra chỉ để an thân; chúng ta thường tránh người có lỗi, rồi nói với người khác về họ. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cảnh tỉnh: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” – người được sửa phải biết nghe; người đi sửa càng phải nghe Chúa trước khi lên tiếng. Bởi khi lòng đã cứng, ngay cả lời đúng cũng hoá đá.
Anh Chị em,
“Tình yêu thuộc về một trật tự cao hơn vô cùng!” – Blaise Pascal. Đức Kitô không có lỗi, nhưng nhận lấy phần đi trước. Ngài đến không vì nhân loại đã quay về, nhưng vì Thiên Chúa không bỏ mặc con người lạc mất. Trên thập giá, Ngài không làm nhẹ tội lỗi, nhưng mang lấy sức nặng của nó và cho thấy tình yêu còn nặng hơn. Ở đó, sự thật không được dùng chống lại tội nhân, nhưng mở cho họ một lối về; lòng thương xót không xoá bỏ công lý, nhưng hoàn tất nó bằng việc tự mình trả giá. Đó là lúc món nợ không do Ngài gây nên lại được Ngài trả đến cùng – ‘lỗi anh – nợ tôi’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con đủ yêu để bước trước, đủ thật để lên tiếng và đủ khiêm nhường để nhớ mình cũng là một con nợ!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
****
Chúa Nhật Tuần XXIII – Mùa Thường Niên, Năm A
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
18 “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.
19 “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
Khu vực Nuwakot, Nepal tan hoang sau trận lũ quét ngày 26/8. (Ảnh: Tân Hoa Xã)
Theo thông báo của chính quyền, tổng cộng 301 người đã bị thương, trong khi 21.314 nhân viên an ninh đã được huy động cho các hoạt động tìm kiếm, cứu hộ và cứu trợ.
Trận lũ quét thảm khốc xảy ra do một vụ sạt lở băng đá bắt nguồn từ sông băng trên vùng núi cao ở Nepal, đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và khiến hạ tầng giao thông bị tàn phá nghiêm trọng.
Đây là Nguyễn đức Anh. Thanh niên này bị bạn gái sinh năm 2009 chia tay.
Tối hôm qua, ngày 2/09 nó xách dao chạy qua nhà bạn gái nhưng ba bạn gái chốt cửa, nó vô không được, nó dọa giết cả nhà bạn gái. Xong Nó trèo rào qua cái nhà hàng xóm của gia đình bạn gái.
Anh chủ nhà, 40 tuổi, vừa thấy, nó thì nó lao tới đâm ảnh, hạ anh chủ nhà xong nó chốt cổng. Lao vô phòng ngủ của chủ nhà, giết thêm vợ anh(36 tuổi) và hai đứa con của anh. Một đứa 10 tuổi, một đứa một tuổi.
Khi bị bắt nó khai không mâu thuẫn, không quen biết gì gia đình nạn nhân.
Chia buồn cùng gia đình nạn nhân. Tôi thực sự không biết nói gì vào lúc này. Thiên đường đáng sống của gia đình anh đã dừng lại đúng ngày “đại lễ” của những kẻ ngạo nghễ tự hào.
Từ Cách mạng tháng Tám đến nay đã đúng 81 năm. Suốt thời gian ấy, đảng Cộng sản đã có vô số lần lừa dối dân chúng. Vậy mà, cho đến nay, vẫn có những người tiếp tục tin tưởng họ. Cải cách ruộng đất, Nhân Văn – Giai Phẩm, trận Mậu thân ở Huế, các trại cải tạo sau năm 1975 vẫn không đủ làm người ta sáng mắt. Lạ.
Những cái ngu khệnh khạng
Có những cái ngu làm cho người ta khinh bỉ. Có những cái ngu làm cho người ta phẫn nộ. Và có những cái ngu khiến người ta nghẹn ngào. Khinh bỉ và phẫn nộ, nghe có vẻ nặng nề, nhưng thật ra, cả hai đều gắn liền với niềm tin: những cái ngu ấy chỉ tạm thời, như một sự sơ sẩy của lý trí; một lúc nào đó, nó sẽ bị vượt qua; và với niềm tin như thế, người ta còn hy vọng đủ để bỏ thì giờ phân tích, lý giải và thuyết phục. Còn cảm giác nghẹn ngào khi đối diện với sự ngu xuẩn lại là một sự tuyệt vọng hoàn toàn.
Chế độ
Bất cứ một chế độ nào đòi hỏi dân chúng phải từ bỏ lý trí và óc phê phán để chỉ biết tuân phục một cách mê muội đều là những chế độ khốn nạn: Nó đang hủy hoại văn minh vốn được xây dựng trên lý trí và hơn nữa, hủy hoại con người vốn, nói như Blaise Pascal, được đặc trưng hoá bằng tư tưởng, tức cũng thuộc về lý trí.
Ngu dân
Các chế độ toàn trị, từ Đức Quốc Xã đến cộng sản, đều tìm cách che mờ lý trí của con người. Đúng hơn, họ chỉ cho phép phát triển một loại lý trí: lý trí công cụ (instrumental reason) và triệt tiêu loại lý trí phê phán (critical reason). Loại lý trí phê phán không ngừng đặt vấn đề, lật ngược vấn đề, cổ vũ sự hoài nghi, do đó, khuyến khích sự nổi loạn, có khuynh hướng chống lại mọi hình thức giáo điều và mọi sự độc tài. Loại lý trí công cụ, ngược lại, ngoan ngoãn chấp hành mọi mệnh lệnh, không một chút thắc mắc: vấn đề duy nhất nó quan tâm là làm sao thực hiện mệnh lệnh một cách gọn gàng, nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Chỉ phát triển loại lý trí công cụ, thật ra, cũng là một cách ngu dân.
Trí khôn, sự ngu xuẩn và kiểm duyệt
Trí khôn của con người, ngay cả ở những người được gọi là thiên tài, cũng có những giới hạn nhất định. Nhưng sự ngu xuẩn thì vô tận: Nó không có biên giới nào cả. Mọi chế độ kiểm duyệt đều nhắm đến việc hạn chế trí khôn (vốn đã giới hạn) nhưng lại thả lỏng cho sự ngu xuẩn (vốn vô giới hạn) được tha hồ nảy nở.
“Không phải người có quá ít, nhưng người ham muốn nhiều hơn mới là người nghèo!” – Seneca.
Kính thưa Anh Chị em,
Có cái đói chỉ cần vài bông lúa là dịu xuống; cũng có cái no càng được nuôi càng cồn cào. Lời Chúa hôm nay chỉ ra nghịch lý ấy: ‘cái no đói mãi’.
Các môn đệ đói, họ bứt lúa; những người Pharisêu có lẽ no, họ bứt lỗi. Họ nhanh mắt thấy những con người phạm luật, nhưng chậm thấy những con người cần ăn. Chúa Giêsu nhắc Đavít lúc đói đã vào nhà Thiên Chúa, lấy bánh tiến mà ăn. Ngài không coi nhẹ ngày thánh; chỉ không để nó trở thành ngày con người phải đói trước mặt Chúa. Luật được ban để gìn giữ sự sống; khi chỉ dùng luật để kết tội, người ta đã đánh mất linh hồn của luật. “Công lý không có lòng thương xót chỉ là sự tàn nhẫn!” – Tôma Aquinô.
Chúa Giêsu kết luận: “Con Người làm chủ ngày Sabbat!”. Những người Pharisêu tưởng mình bảo vệ ngày của Chúa, hoá ra lại chất vấn chính Chúa của ngày ấy. Họ nâng ngày thánh lên cao, nhưng không nhận ra Đấng Thánh làm cho nó nên thánh. Vấn đề không còn là bứt vài bông lúa, nhưng là trật tự bị đảo ngược: lề luật thay chỗ Đấng ban luật. Ngài không hạ thấp ngày Sabbat; Ngài trả Sabbat về đúng chỗ. Bởi một ngày giữ đủ mọi điều mà vắng bóng lòng thương xót của Thiên Chúa chưa thật sự là ngày của Ngài.
Phaolô nhận ra sự vắng bóng ấy nơi cộng đoàn Côrintô: “Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi!”; nhưng cũng hỏi, “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” – bài đọc một. Khi quên mọi sự là quà tặng, người ta dễ no kiến thức mà đói khiêm nhường, no lý lẽ mà đói cảm thông, no phần mình mà không thấy người khác đang thiếu. “Kiêu ngạo không phải là sự cao cả, nhưng là chứng phù thũng; vật sưng phồng xem ra lớn, nhưng không khoẻ mạnh!” – Augustinô.
Và ‘cái no đói mãi’ cứ âm thầm lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều đã nhận không dẫn đến tạ ơn, nhưng trở thành chiếc bục để đứng cao hơn người khác. Và này, Thánh Vịnh đáp ca mở ra lối thoát: “Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Người!”. Cầu khẩn là nhận mình cần Chúa. Đứng trước Ngài như một kẻ nghèo, chúng ta không thể tiếp tục đứng trên anh em.
Anh Chị em,
Đức Kitô đã đi vào tận cùng cái đói của nhân loại. Trên thập giá, lời “Ta khát!” không chỉ vọng lên từ một thân xác cạn kiệt, nhưng còn hé lộ cơn khát sâu hơn của Thiên Chúa: Ngài khát chính con người.
Chiều thứ Sáu, Ngài không còn một hơi thở; ngày thứ Bảy, Ngài nằm yên trong mộ. Sự nghỉ ngơi ấy không phải là khoảng trống của thất bại, nhưng là sự hoàn tất của một Người Con đã trao lại mọi sự cho Cha. Sáng Phục Sinh cho thấy: tình yêu trao đi tất cả mà không hề vơi cạn. Nơi Người Con ấy, sự no đầy của Thiên Chúa không giữ lại, nhưng tự hiến; không đòi thêm, nhưng trao đến cùng. Chỉ sự no đầy ấy mới chữa được những ‘cái no đói mãi’ của con người.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con tưởng mình đủ, cho con biết mình thiếu; con tưởng mình giàu, cho con biết mình nghèo; xin đừng bao giờ để con đứng trên người anh em như một thẩm phán!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Thứ Bảy Tuần XXII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2 Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát?”
3 Đức Giê-su trả lời: “Ông Đa-vít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. Câu chuyện ấy, các ông chưa đọc sao?” 5 Rồi Người nói: “Con Người làm chủ ngày sa-bát.”
Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Mẹ Tê-rê-sa Calcutta (1910-1997) Xin Mẹ Tê-rê-sa cầu bầu cùng Chúa cho bạn và gia đình hôm nay nhé. ” Giáo hoàng Benedicto XVI nói. Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a đặt hết niềm tin tưởng vào Chúa. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé. bạn muốn tìm hiểu về ý nghĩa của ngày Labor Day của nước Hoa Kỳ thì hãy bấm vào link sau đây: https://www.voatiengviet.com/a/le-lao-dong-hoa-ky/5571162.html
Cha Vương
Thứ 7: 05/09/2026. (t2-22)
Mẹ Têrêsa sinh ngày 26/8/1910 tại Skopje, Macedonia, Yugoslavia (Nam Tư); Mẹ có tên thật là Agnes Gonxha Bojaxhiu; con út trong một gia đình có ba người con; cha làm nghề xây dựng và qua đời khi Mẹ mới được 8 tuổi. Ngày 27/8/1910 lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Mẹ Têrêsa thường tâm sự, ngày Rửa Tội chính là ngày sinh nhật chính thức trong cuộc đời của Mẹ.
Ðủ 18 tuổi, Mẹ Têrêsa gia nhập Dòng Nữ Vương Ðức Bà Loreto ở Ái Nhỉ Lan (Ireland). Tu học tại nhà mẹ của Dòng Loreto ở Dublin. Mẹ Têrêsa chọn cho mình tên gọi là Sơ Têrêsa để luôn tưởng niệm Thánh Nữ Têrêsa Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Têrêsa bắt đầu một cuộc hành trình dài đến Ấn Ðộ, rồi tiếp tục đến Darjeeling, khu vực gần Dãy Núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan Mountains), nơi Sơ Têrêsa tiếp tục tu học cho đến ngày khấn. Không lâu sau đó, vào ngày 6/1/1929 Sơ Têrêsa đến Calcutta, thủ đô Bengal, Ấn Ðộ, để dạy học tại một trường Nữ Trung Học. Trong thời gian tại Calcutta, điều đánh động Sơ Têrêsa nhiều nhất đó là tận mắt trông thấy các bệnh nhân ốm liệt, nghèo đói và hấp hối đầy trên các đường phố.
Năm 1946, sau khi đã chứng kiến những nạn nhân khốn khổ đầy thương tích và chết chóc, các trẻ em bơ vơ trên đường phố, kết quả của những biến cố nổi loạn giữa Hồi Giáo và Ấn Giáo, ngày 10/9/1946, trên một chuyến xe lửa đi về Darjeeling để điều trị bệnh lao mới phát, Sơ Têrêsa nhận ra được tiếng mời gọi của Chúa thúc dục Sơ phục vụ cho những người nghèo đói khốn khổ. Mẹ Têresa kể lại: “Tôi bắt đầu nhận ra tiếng gọi của Chúa kêu mời tôi săn sóc cho những người bệnh tật và nghèo đói, những kẻ rách rưới và lang thang – thúc dục tôi ban phát tình yêu của Chúa cho các người khốn khổ và bơ vơ. Sự kiện nầy đã mở cửa cho bước đầu phục vụ Bác Ái của đời tôi.”
Mẹ Têrêsa không chần chờ, đắn đo, và bắt đầu xin phép rời Hội Dòng Loreto để thiết lập một nhà Dòng mới. Ðược Ðức Giáo Hoàng Piô XII cho phép. Và năm 1948, Mẹ Têrêsa, với chiếc áo dòng củ kỷ và một vài đồng lẻ trong túi đã đến sống giữa những người Ấn Ðộ như một người Ấn Ðộ. Ðương nhiên Mẹ Têrêsa cũng chọn màu áo xanh xám có những viền xanh (biểu hiệu cho Thánh Ý của Thiên Chúa) giống như áo Hội Dòng của Mẹ.
Năm 1952 Mẹ Têrêsa cùng với Hội Dòng Nữ Tu Bác Ái của Mẹ đã bắt tay vào việc. Hội Dòng của Mẹ đã được bản quyền Calcutta cho phép xử dụng ngôi đền Kali đã bị bỏ hoang của Ấn Giáo. Mẹ Têrêsa đã biến nó trở thành Hội Quán Kalighat cho những người nghèo đói đau khổ. Mẹ đã cùng với các cộng tác viên tìm kiếm những người bệnh tật, hấp hối thất thểu ngoài đường phố, đem về săn sóc cho đến ngày họ qua đời. Ðối với những người bệnh tật, Mẹ đã tìm kiếm thuốc thang săn sóc cho họ, đối với những người khổ đau, Mẹ là một nguồn ủi an đem bình an và tình yêu của Chúa đến với họ…
Năm 1962, Mẹ được giải thưởng đầu tiên về công việc Nhân Ðạo của Mẹ. Năm 1979, được giải thưởng Nobel Hòa Bình. Năm 1985, được trao Huy Chương Tự Do, huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Mẹ đã dùng tất cả những số tiền giải thưởng này để thiết lập thêm nhiều trung tâm khác.
Ngày 5/9/1997, Mẹ Têrêsa đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 87 tuổi. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng Mẹ lên hàng chân phước ngày 19 tháng 10 năm 2003, chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Mẹ Teresa đã được phong thánh vào ngày 4 tháng 9 năm 2016 do Đức Giáo Hoàng Phanxicô chủ sự.
Sau đây là những câu nói đầy thách thức của Mẹ để lại cho nhân loại trong thời đại hôm nay:
(1) Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình bạn.
(2) Dễ để yêu thương người ở xa, nhưng không dễ yêu thương người xung quanh chúng ta. Dễ cho người đói chén cơm để đỡ cơn đói hơn là làm giảm bớt nỗi cô đơn và đau khỗ của người thân trong gia đình. Hãy mang tình yêu thương về nhà vì đây chính là nơi tình yêu thương nên phát xuất.
(3) Niềm vui chính là sức mạnh.
(4) Cuộc sống nếu như không sống vì người khác thì đó không còn là cuộc sống nữa.
(5) Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.
(6) Mỗi khi bạn cười với ai đó, đó là một hành động của yêu thương, một món quà, một điều đẹp đẽ.
(7) Hãy tận tâm với những điều nhỏ nhặt, bởi điểm mạnh của bạn nằm ở đó.
Mời bạn chọn 1 câu làm châm ngôn sống cho mình hôm nay nhé.
Toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Mẹ Têrêsa là một chứng từ sống động về niềm vui của tình yêu thương, cũng như giá trị của những việc nhỏ bé được thực hiện cách trung thành và với tất cả tình yêu. Ngày nay, dấu ấn và sự hiện diện của Mẹ vẫn tiếp tục được thể hiện qua đời sống và hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái, những người đang âm thầm phục vụ người nghèo và những người đau khổ tại nhiều nơi trên khắp thế giới.
Ngày 4 tháng 9 năm 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong Mẹ Têrêsa lên hàng hiển thánh. Mẹ đã để lại cho thế giới gia sản của tình yêu Kitô giáo. Ngày nay, gia sản và hoạt động của mẹ vẫn được tiếp tục trên khắp thế giới.
Mẹ Têrêsa… đã cúi xuống trên những người hấp hối bị bỏ mặc cho chết ở bên vệ đường vì mẹ nhận ra phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ…. Sứ vụ của mẹ ở những khu ngoại ô của thành phố và trong những cảnh đời bị gạt ra ngoài vẫn tồn tại đến ngày hôm nay là chứng tá hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo…. Tôi nghĩ rằng, có lẽ, chúng ta hơi có khó khăn khi gọi mẹ là thánh Têrêsa: sự thánh thiện của mẹ quá gần với chúng ta, quá dịu dàng và tích cực đến nỗi chúng ta ngay lập tức gọi mẹ là Mẹ Terêsa.” Đó là những lời Đức Thánh Cha Phanxicô nhớ về Mẹ Têrêsa trong Thánh lễ tuyên phong mẹ lên hàng hiển thánh vào ngày Ngày 4 tháng 9 năm 2016.
Đến với người ở bên lề xã hội
Một nữ tu bé nhỏ với nụ cười tỏa sáng trong bộ áo sari trắng viền xanh, thường đến các khu phố tồi tàn xuống cấp của thành phố Calcutta để ở gần những người nghèo. Mẹ luôn đến với tràng hạt Mân côi trong tay, để tìm kiếm và phục vụ Chúa nơi những người không được xã hội quý mến, yêu thương và chăm sóc.
Chiếm trọn tình yêu của thế giới
Thế giới nhớ hình ảnh của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nhỏ nhắn, mỏng manh trong bộ áo sari trắng viền xanh, nhưng sự vĩ đại của mẹ đã chiếm được trái tim của con người trên toàn thế giới, ngay cả những người không có tín ngưỡng.
Giải Nobel hòa bình
Tình yêu và sự ngưỡng mộ mẹ Têrêsa đã vượt qua các biên giới của tôn giáo, đến nỗi xã hội dân sự đã trao tặng mẹ giải Nobel hòa bình năm 1979 vì sự phục vụ người nghèo và với người nghèo. Trong diễn văn cám ơn nhân dịp này, mẹ đã gửi đến thế giới sứ điệp về việc phá thai với câu nói nổi tiếng: “Nếu một người mẹ có thể giết chết con của mình thì ai có thể ngăn cản con người giết nhau?” Mẹ đã dấn thân vì sự sống và chống phá thai. Trong lễ tuyên phong mẹ lên bậc chân phước, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại lời của mẹ: “Nếu các con nghe có phụ nữ nào đó không muốn giữ lại đứa con của mình và muốn phá thai, các con hãy tìm cách thuyết phục cô ta trao cho mẹ đứa trẻ sơ sinh. Mẹ sẽ yêu thương nó khi nhìn thấy nơi nó dấu chỉ tình yêu của Chúa.”
Thánh Têrêsa Calcutta
Không đầy hai năm sau khi mẹ qua đời, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở án phong thánh cho mẹ. Ngày 19 tháng 10 năm 2003, mẹ được tuyên phong chân phước. Trong bài giảng Thánh lễ, thánh Gioan Phaolô II nói: “Tôi biết ơn cách riêng người phụ nữ can đảm này, người tôi luôn cảm thấy ở gần bên tôi… Mẹ đã đi bất cứ nơi đâu để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất giữa những người nghèo. Ngay cả xung đột và chiến tranh cũng không thể ngăn cản mẹ… Mẹ đã chọn không chỉ là người bé nhỏ nhất nhưng là nữ tỳ của những người bé nhỏ nhất… Sự vĩ đại của mẹ ở nơi khả năng trao tặng mà không tính toán chi phí, trao tặng hết sức mình. Cuộc sống của mẹ là một cách sống hết mình và là lời loan báo Tin mừng mạnh mẽ.”
Gia sản tình yêu Kitô giáo
Toàn cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa làm chứng về niềm vui yêu thương và giá trị của của những điều bé nhỏ nhưng được thực hiện cách trung thành và với tình yêu. Ngày nay, những dấu chỉ về sự hiện diện của mẹ tỏ hiện qua hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái đang thực hiện trên khắp thế giới.
Người gián điệp và nhà báo trầm lặng – Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời hư thực.
Phạm Xuân Ẩn, phóng viên chiến tranh tài hoa của tạp chí Time bí mật làm gián điệp cho Hà Nội vừa qua đời ngày 20 tháng 9, 2006. Những lời cáo phó rất tử tế. Người ta nhớ đến Ẩn như một nhà báo ưu tú, ban ngày viết cho Time, ban đêm gởi mật mã và microfilm cho Việt Cộng đang quanh quẩn ở các khu rừng ngoại thành Sài Gòn.
Nhưng lời cáo phó còn thiếu, không đề cập đến việc Ẩn – người mà Hà Nội đã công kênh thành “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân” – chán ghét cái chế độ chính trị mà ông đã giúp cướp được chính quyền.
Tôi gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu vào năm 1972, khi vừa bước chân đến Việt Nam, năm mới 24 tuổi làm phóng viên chiến trường cho Tạp chí Time. Lúc ấy, Ẩn là một huyền thoại, một tay phong lưu vui tính được mệnh danh là “Tướng Givral” theo tên tiệm bán bánh và cà phê nổi tiếng trên đường Tự Do nơi ông thường lui tới.
Mọi người đều tin tưởng Ẩn bất kể không khí ngờ vực phủ kín Sài Gòn thời đó. Khi cuộc chiến đột ngột chấm dứt cuối tháng tư 1975, gia đình Ẩn và các nhân viên khác của tạp chí Time muốn chạy thoát đều được di tản trong khi Ẩn ở lại tiếp tục làm việc cho Time tại Sài Gòn.
Screenshot
Ẩn điện về New York: “Tất cả phóng viên người Mỹ đã được di tản vì tình trạng khẩn trương, Văn phòng tạp chí Time hiện do Phạm Xuân Ẩn điều động”. Time tán dương quyết định ở lại của Phạm Xuân Ẩn và đăng hình ông, với vẻ căng thẳng, đứng hút thuốc giữa con phố vắng ở Sài Gòn.
Tôi gặp gia đình của Ẩn ở trại tị nạn Pendleton tại California và giúp đưa họ về Arlington, Virginia để định cư ở đó. Cuối cùng, sau một năm im lặng, vợ của Ẩn nhận được điện tín bảo bà phải trở lại Việt Nam. Dù lòng đầy lo âu và nghi ngại, vợ Phạm Xuân Ẩn đã quay về theo lệnh. Đưa gia đình về lại Việt Nam xác định lòng trung thành với chính quyền cộng sản nhưng Ẩn vẫn phải đi học tập cải tạo 10 tháng ở Hà Nội (Theo Lâm Lễ Trinh, tháng 8/1978 Ẩn phải đi học tập mười tháng tại Viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, một loại trại tẩy não về chủ nghĩa Mác-Mao dành cho cán bộ trung và cao cấp).
Năm 1979, tôi trở lại Việt Nam. Đây là chuyến đầu trong suốt 24 lần tôi đến đây trong 5 năm năm liền. Việc đi lại giữa Sài Gòn của một ký giả ngoại quốc không phải là chuyện dễ trong khoảng thời gian đó, nhưng cuối cùng tôi đã thực hiện được vào năm 1981.
Thành phố, Sài Gòn mà tôi biết, lúc ấy rất ảm đạm, lạnh lùng. Khách sạn đầy những “người Mỹ không đô la” (dân Việt Nam gọi người Đông Đức, người Bulgary, người Nga như thế). Công an theo sát bước của tôi đến mọi nơi mọi chỗ. Hàng ngàn người (miền Nam) Việt Nam không được việc làm vì có liên hệ với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đang vượt biển bỏ lại quê hương. Những người ở lại phải bán dần gia sản để sinh tồn.
Mục đích của tôi là đi tìm Ẩn, nhưng đây không phải chuyện dễ làm. Tất cả bản đồ Sài Gòn cũ đã bị tịch thu, đốt bỏ. Những con đường lớn đã đổi tên.
Nhà vẫn có số đấy, nhưng chúng không theo một thứ tự nào khiến không thể tìm nhà được dù có địa chỉ trong tay. Cuối cùng, trong tuyệt vọng, tôi hối lộ quan chức Hà Nội bằng thuốc bổ và tã cho trẻ con mua ở Bangkok và tôi được số điện thoại của Ẩn. Tôi gọi Ẩn. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở chợ chim, Ẩn nói: “Tôi sẽ dẫn theo con chó của tôi”.
Ẩn cũng dặn tôi không được nói hay làm gì khi thấy nhau vì công an đang theo dõi. Dường như, đến ngay cả anh hùng, người chỉ huy cả lực lượng tình báo ngoại giao, cũng không thoát khỏi lưới theo dõi. Chợ chim thực ra là lề đường (Huỳnh Thúc Kháng) hai bên chồng chất hàng trăm lồng chim, người mua để thả đi lấy phúc hay nuôi làm chim cảnh. Ẩn đến, dắt theo con béc-giê, chỉ gật đầu khi đi qua mặt nhau. Ẩn và tôi lên hai cái xích lô khác nhau của hai người lính cũ miền nam nghèo khổ. Tôi theo anh ấy về nhà.
Khi đã ở trong nhà, Ẩn bày tỏ nỗi buồn nản, thất vọng ê chề trước hoàn cảnh đất nước của anh. Ẩn thở dài:
– Tại sao tham gia cả cuộc chiến chỉ để thay người Mỹ bằng người Nga?
Ẩn cũng cho tôi biết, đã hai lần anh đưa gia đình vượt biển, đi trốn và thất bại. Lần đầu, tàu hư máy. Lần thứ hai, người lái tàu không đến, dù tàu tốt, đủ sức vượt biển. Trốn đi bây giờ lại càng khó hơn nhiều, anh nói, vì con trai Ẩn sắp được gởi đi học ở Moscow. Ẩn yêu cầu tôi sang Singapore tìm gặp một người Hoa bí ẩn, nếu được trả đúng giá, sẽ tổ chức cuộc vượt biển. Ẩn nói anh tuyệt vọng rồi.
Tôi viết một thư dài cho Time và gởi phó bản cho tất cả phóng viên của Time đã một thời phục vụ tại Việt Nam. Dự án khá nguy hiểm vì tiếng tăm của Ẩn, tôi viết. Một tướng nổi tiếng và gia đình đi trốn, làm xấu mặt đảng CSVN, nếu thất bại chắc chắn họ sẽ xử tử. Tôi cảnh báo Time đừng làm những gì có thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình.
Time quyết định không tham dự vào dự án đưa người đi trốn
đầy nguy hiểm. Người tị nạn, vượt biển đã đang là mồi ngon cho hải tặc ở vịnh Thái Lan. Tàu đánh cá Thái Lan đâm vào, đánh chìm thuyền người tị nạn, chỉ vớt những thiếu nữ làm đồ tiêu khiển, làm hàng đổi chác giữa các đoàn thuỷ thủ đến khi nạn nhân chết hay phải tự sát. Đây là một quyết định rất khó khăn chúng tôi phải chấp nhận, nhưng tôi hay bất cứ ai khác ở Time đều không có kinh nghiệm đối đầu với quân hải tặc và khả năng rủi ro cho thuyền vượt biển rất lớn trong tình cảnh lúc bấy giờ.
Ẩn ở lại Việt Nam, chờ một ngày sáng sủa hơn. Cuối cùng, ngày ấy đến năm 1986 với chương trình Đổi mới của Hà Nội. Tôi quay lại Việt Nam thăm Ẩn và vợ anh, Nguyễn Thị Thu Nhạn, giữa thập niên 1990 và thấy cả hai có vẻ lạc quan hơn. Đúng như Ẩn lo ngại, con trai anh, Phạm Xuân Hoàng bị gởi đi Moscow, nhưng sau đó lại được phép đi sang North Carolina và cuối cùng tốt nghiệp luật ở Đại học Duke University. Dù được tập đoàn luật sư nước ngoài thuê làm việc với lương 4.000 USD/tháng, nhưng Phạm Xuân Hoàng làm việc cho Sở Quan hệ Ngoại giao ở thành phố Hồ Chí Minh với số lương 200 USD/tháng. Không như bố, Hoàng không phải là đảng viên đảng cộng sản.
Ngày Ẩn mất, được an táng tại nghĩa trang Sài Gòn theo lời yêu cầu sau cùng của Ẩn:
Tháng Chín gõ cửa bằng một cơn mưa thu mềm như lụa, lăn nhẹ qua mái hiên rồi đọng lại trên những vạt lá còn xanh. Cơn mưa đầu mùa không còn cái ồ ạt, xối xả của những ngày hạ chói chang, cũng chưa mang theo cái rét buốt của mùa đông. Nó đến dịu dàng, chầm chậm, rào rạt như một lời thì thầm, cuốn đi phần nào những bộn bề và khói bụi còn vương trên vai người.
Screenshot
Những ngày đầu Thu đã khẽ chạm ngõ Texas. Thế nhưng, sống ở Texas, đôi khi thật khó nhận ra một mùa Thu đang về. Khí hậu nơi đây vốn thất thường; cái nóng của mùa Hạ có thể vẫn còn đó, trong khi một buổi sớm nào đó, gió đã bất chợt trở nên dịu hơn, bầu trời cao hơn và lòng người cũng chợt chùng xuống.
Tản bộ qua một góc phố quen, nhấp một ngụm cà phê ấm, tự nhiên ta thấy lòng mình chùng xuống một nhịp. Tháng Chín chạm vào đất trời bằng chút se lạnh dịu êm, khiến con người dễ lắng lại, dễ bao dung hơn với những điều đã qua và rộng mở hơn với những gì đang đến.
Tiếng mưa rơi rào rạt trên mái hiên, tưởng như một bản hòa tấu trầm lắng của đất trời. Nó ru dịu những lo toan, xoa mềm những góc lòng đã từng tổn thương, để ta nhận ra rằng có những bình yên không cần phải tìm kiếm ở đâu xa.
Giữa dòng đời vốn quá vội vàng, đôi khi chỉ cần ngồi yên bên khung cửa, nghe mưa rơi và nhấp một ngụm cà phê nóng, ta đã có thể tìm lại một chút an nhiên cho chính mình. Chẳng cần đọa đày mình trong những cuộc đua phù hoa, bởi bình yên đôi khi chỉ là một quãng lặng rất nhỏ — nơi lòng mình vẫn còn đủ ấm để đi qua những giông bão đã từng.
Thứ 6 tan sở sớm……Một mình lái xe và tản bộ qua Rice University, rồi men theo những con đường quen thuộc về phía Hermann Park và khu Museum District. Đó là một phần Houston mà tôi đã quá quen thuộc sau hơn ba mươi năm sống nơi này.
Những hàng cây vẫn đứng đó. Mặt hồ vẫn phẳng lặng dưới ánh nắng nhạt. Một vài chiếc lá khẽ rời cành, rơi xuống mặt nước rồi trôi đi rất chậm. Có chút gió mát len qua những tán cây, mang theo mùi cỏ và hơi ẩm của đất. Houston buổi trưa nay bỗng trở nên hiền lành đến lạ.
Tôi ngồi xuống bên một góc hồ, chợt nghĩ:
“Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người.”
Có lẽ bởi vậy mà mùa Thu luôn khiến người ta dễ lắng lòng hơn. Một cơn gió nhẹ, một chiếc lá rơi, một buổi chiều vàng hay tiếng mưa ngoài hiên cũng đủ đánh thức một điều gì đó tưởng đã ngủ quên rất lâu.
Và rồi, cơn mưa trưa hôm nay đến bất chợt sau những ngày dự báo cơn bão đánh vội vào biên giới giữa tiểu bang Louisiana và Texas mang theo những trận mưa và lụt lội phía Đông Bắc Houston.
Tôi đứng bên khung cửa office nhìn ngắm, và nghe mưa rơi xuống mái hiên và những tán cây ngoài sân. Thành phố đang vội vã bỗng chậm lại. Những con đường ướt, cây cối rung lên trong gió, còn tiếng mưa cứ đều đều rơi như một bản nhạc cũ.
Không hiểu vì sao, tiếng mưa hôm ấy lại khiến tôi nhớ.
Có lẽ trong ký ức của mỗi người, những cơn mưa luôn giữ một vị trí rất riêng.
Tôi nhớ những ngày còn trẻ, Nước mưa chảy trên mái tóc. Những hạt mưa li ti đọng trên hàng mi. Một ánh mắt, một nụ cười, một bàn tay khẽ đưa lên che mưa…
Những điều tưởng như thật nhỏ bé ấy, qua năm tháng, lại trở thành những hình ảnh dịu dàng nhất của một thời tuổi trẻ.
Có những cơn mưa đã đi qua từ rất lâu. Người xưa có thể đã ở một nơi rất xa. Con đường cũ có thể đã thay đổi. Nhưng chỉ cần một ngày nghe tiếng mưa rơi, tất cả bỗng trở về — rất nhẹ, rất gần, như thể thời gian chưa từng đi qua.
Có lẽ ký ức là như thế. Nó không cần một lời gọi. Chỉ một giai điệu cũ, một mùi hương quen, một cơn mưa đầu mùa… cũng đủ mở lại một cánh cửa mà ta tưởng mình đã khép từ lâu.
Chiều xuống ở Hermann Park.
Sau cơn mưa, ánh mặt trời cuối ngày xuyên qua những tán cây, rót xuống mặt hồ một màu vàng nhạt. Cỏ cây còn đẫm nước. Không khí mang theo mùi đất ẩm và hương xanh của lá. Tôi đứng lặng nhìn những chiếc lá cuối mùa khẽ rơi, chợt nghe rõ hơn bước đi của thời gian.
Hơn ba mươi lăm năm đã trôi qua.
Những hàng cây này vẫn còn đó, nhưng thành phố đã khác. Người đi qua những con đường này cũng đã khác. Và tôi — dĩ nhiên — cũng không còn là tôi của những ngày đầu đặt chân đến Houston.
Ngày trước, tôi đi qua những nơi này để đến một nơi nào đó.
Bây giờ, đôi khi tôi đi chỉ để… đi.
Để nhìn một mặt hồ.
Để nghe tiếng gió.
Để ngồi yên một lúc giữa một thành phố luôn chuyển động.
Có lẽ càng đi qua nhiều năm tháng, người ta càng hiểu rằng hạnh phúc không phải lúc nào cũng nằm ở những điều lớn lao. Đôi khi, nó chỉ là một buổi trưa cuối tuần bình yên, một tách cà phê nóng, một cơn mưa bất chợt… và trong khoảnh khắc ấy, ta nhận ra lòng mình vẫn còn biết rung động.
Tôi cũng nhớ những mùa Trung Thu của một thời rất xa. Những chiếc đèn ông sao, tiếng trống múa lân, những chiếc bánh Trung Thu và con đường làng ngập ánh trăng. Khi còn nhỏ, ta chỉ nghĩ đó là những ngày bình thường. Mãi đến khi lớn lên, đi xa quê hương, ta mới hiểu: đó chính là những năm tháng đẹp nhất của đời mình.
Có những điều chỉ khi mất đi khoảng cách, ta mới nhìn thấy hết giá trị của nó.
Có lẽ vì vậy mà tôi yêu những bài thơ về mùa Thu, yêu những giai điệu viết về một thời đã xa. Không phải chỉ vì Thu đẹp, mà bởi trong cái đẹp ấy luôn có một chút buồn — thứ nỗi buồn rất nhẹ của một người đã đi qua nhiều năm tháng và biết rằng có những điều không thể trở lại.
Houston hôm nay vẫn là Houston của những con đường quen thuộc, những hàng cây, những mặt hồ và những cơn mưa bất chợt.
Chỉ có người đứng nhìn đã khác.
Tôi đứng giữa một buổi chiều tháng Chín, nghe tiếng lá rơi và tiếng mưa còn sót lại đâu đó trong ký ức. Bỗng nhận ra điều làm mình xúc động không hẳn là mùa Thu đang về, mà là những năm tháng đã từng đi qua đời mình — những con người, những con đường, những cuộc gặp gỡ và những yêu thương tưởng đã ngủ yên.
Thời gian không lấy đi tất cả.
Nó chỉ đưa mọi thứ vào một nơi sâu hơn trong lòng người.
Để rồi một ngày, giữa Houston xa xôi, chỉ cần một cơn mưa tháng Chín rơi xuống mái hiên, một giai điệu cũ vang lên, hay một chiếc lá vàng lặng lẽ rơi bên mặt hồ…
Ta lại gặp một phần của chính mình.
Có những mùa đi qua đất trời.
Có những mùa đi qua đời người.
Và có những mùa, dù đã rất xa, vẫn mãi ở lại trong tim.
Thứ Sáu rồi bạn ơi! Cuộc đời đã ngắn ngủi rồi đừng làm cho nó ngắn thêm qua việc lãng phí thời gian nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé
Cha Vương
Thứ 6: 4/9/2026. (t4-24)
GIÁO LÝ: Đức tin là gì? Là nhân đức giúp ta đi lên tới Thiên Chúa, trông cậy ở Thiên Chúa, nhận biết sự thật của Người, và hiến thân mình cho Người. (YouCat, số 307)
SUY NIỆM: Đức tin là con đường Thiên Chúa làm để dẫn ta đến sự thật, là chính Thiên Chúa. Vì Chúa Giêsu là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14,6), đức tin không thể chỉ là một thái độ đơn thuần, một “tin tưởng” vào sự gì đó. Một đàng đức tin bao gồm những dữ kiện chính xác: Hội thánh tuyên xưng trong kinh Tin Kính, và có trách nhiệm gìn giữ. Ai đón nhận ơn đức tin, nghĩa là muốn tin, thì tự mình tuyên bố theo đức tin đã được trung thành gìn giữ qua mọi thời và mọi nền văn hóa. Đàng khác, tin cũng là dấn thân vào một quan hệ cậy trông với Chúa, hết lòng hết trí khôn, hết sức lực hữu hình của mình. Vì điều quan trọng là “đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Không phải qua những lời nói hay mà ta biết người nào tin Chúa thật, nhưng là xem các hành động tình yêu của họ.
Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.—Ga 14,12
❦ Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. 1 Ga 2,4 (YouCat, số 307 t.t.)
LẮNG NGHE: Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. (Mt 10:32.33)
CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con!”, xin tuôn độ Thánh Thần tình yêu xuống đầy tâm hồn con, để con có sức nhổ tận gốc tất cả những nghi nan và sống bằng lòng trung thành với Chúa cho đến cùng.