CHỌN CHỒNG

Chau Nguyen Thi

CHỌN CHỒNG

  • . Chọn một người đàn ông đẹp trai hào hoa thì phải chấp nhận anh ấy phong lưu.
  • . Chọn một người đàn ông biết kiếm nhiều tiền để được hưởng thụ thì phải chấp nhận anh ấy ít có thời gian chăm sóc cho gia đình.
  • . Chọn một người đàn ông ở nhà chăm sóc gia đình thì phải chấp nhận anh ấy ít biết kiếm nhiều tiền.
  • . Chọn một người đàn ông ngoan hiền, biết vâng lời thì phải chấp nhận anh ấy là trẻ con.
  • . Chọn một người đàn ông mạnh mẽ, kiên cường thì phải chấp nhận anh ấy ngang ngược.
  • . Chọn một người đàn ông phong trần thì phải chấp nhận anh ấy lãng tử, phiêu lưu.
  • . Chọn một người đàn ông giỏi giang và bản lĩnh thì phải chấp nhận anh ấy “gia trưởng”.
  • . Chọn một người đàn ông “nữ tính” thì phải chấp nhận anh ấy có tính “đàn bà”.

Làm gì có đàn ông nào vừa ngoan, vừa hiền, biết vâng lời, ở nhà quanh quẩn với gia đình, không biết ăn nhậu, không có bạn bè mà kiếm được nhiều tiền về cho gia đình vợ con ở nhà hưởng thụ sung sướng ? …

…. Miễn là đừng gặp phải ĐÀN ÔNG VÔ DỤNG là được !

Cái gì cũng có giá của nó !

Hãy vì hai chữ HẠNH PHÚC mà CHẤP NHẬN sự TƯƠNG ĐỐI.

Hạnh phúc ở tại tâm của ta mà có… đừng suy diễn và tự làm khổ nhau.

Chỉ cần một người ĐÀN ÔNG TỬ TẾ và CÓ TRÁCH NHIỆM là đủ.

(Từ fb của Nguyễn Học)

Tình Mẹ Con – Tác giả Lê Ngọc Huyền.

Lời phi lộ :

Bài này hơi dài , ai từng Vượt Biên đọc để nhớ về

Ai còn trẻ , đọc để biết

Bài viết với nhiều kịch tính , đầy Nghiệt Ngả , Đa Đoan

Kết cuộc là Tình Mẹ Con nói lên Tấm Lòng.

Happy Ending .

Đọc bài này tui nhớ tới anh bà con của tui là KQ Nguyễn Văn Nhơn du học Mỹ , bay phi cơ vận tải C-130 vượt biên cùng với vợ con, mất tích trên biển.

Nhớ KQ Nguyễn Văn Lý , kế nhà tui , bạn thân với gia đình tui , du học Mỹ , bay phi cơ phản lực A-37 vượt biên , mất tích trên biển

Nhớ KQ Lê Xuân Trường , du học Mỹ , HLV trực thăng bán phản lực UH-1 vượt biên cùng với vợ con , mất tích trên biển

Nhớ KQ Nguyễn Văn Phát , du học Mỹ , HLV trực thăng bán phản lực vượt biên cùng với vợ , mất tích trên biển .

Thân mến

TQĐ

– Vào bài :

Thằng bé mới một tuổi rưỡi, nhảy tưng tưng trên đùi mẹ, nó đưa mấy ngón tay bụ bẫm lên sờ mặt mũi mẹ, vừa bập bẹ nana… nana, nó đang mọc răng nên dãi nhớt chảy đầy miệng, nhỏ xuống dưới người mẹ, bà lấy khăn chùi miệng cho nó, xiết nó vào lòng, hôn lên đôi má bầu của nó:

-Thằng chó cưng của bà! Không bao giờ ngồi yên được cả… Thôi ra chơi với mẹ mày đi!

Bà bế đưa cho tôi:

– Con trông nó nhé, mẹ sửa soạn đi công chuyện đây…

Tôi đang ngồi học bài, ngẩng đầu lên nhìn mẹ:

-Con đã nói với mẹ bao nhiêu lần rồi… Mẹ muốn “giữ” nó thì mẹ trông nó đi! Con mắc học thi, không có thì giờ với nó đâu!… Mẹ muốn con rớt khóa này hay sao?

-Mẹ sẽ cho nó bú một bình sữa, ru nó ngủ, con không cần làm gì cả, chỉ khi nào nó thức dậy nửa chừng, khóc thì con hãy bế nó, chơi với nó một chút, chờ mẹ về… mẹ trông cháu cho…

-Thật phiền quá… Con đã nói là bỏ nó đi từ hồi bên đảo rồi mà!

Mẹ nhìn tôi với cặp mắt trách móc nhưng dịu lại ngay, vẫn không nói gì. Bà cố gắng chịu đựng những lời nói cay đắng như xát muối vào tim của tôi vì bà muốn đền bù cho tôi đã phải cực khổ mang cái bào thai của những tên đầu trâu mặt ngựa mất nhân tính trên đảo khi tàu chúng tôi được tàu Thái Lan vớt và đưa vào một đảo của đất nước này.

Tôi biết những lời nói của tôi thật hỗn hào, làm nhói lòng mẹ, nhưng tôi không thể kiềm chế mình được, không thể tự chủ được mỗi lần mẹ bảo tôi trông nó! Nó dễ thương thật nhưng… nhìn thấy thằng bé, tôi không thể nào quên được quá khứ nhục nhã ấy:

Lúc ấy tôi mới chỉ 15 tuổi, cái tuổi mới lớn dậy thì của đứa con gái Việt Nam, chưa hiểu hết về vấn đề tình dục, nhìn tôi bé nhỏ ai cũng tưởng tôi chỉ 10 tuổi thôi. Thế mà tôi đã bị những tên man rợ trên đảo hãm hiếp trong một buổi chiều khi tôi đi giặt đồ ở suối, cuối con đường của những lều dân tỵ nạn. Tôi đi với mấy chị nữa, khi giặt xong chúng tôi cùng về, nhưng vừa đứng lên thì một chiếc dép của tôi bị đứt quai, tôi đành phải ngồi lại để cột; chỉ trễ có năm phút thôi, tôi thấy từ xa có hai tên cầm dao đi đến, mặt mày đỏ như gấc, mùi rượu nồng nặc.

Tôi hết hồn vơ cái chậu quần áo bỏ chạy, vì đôi dép mới cột chưa chắc lắm, làm tôi trợt chân, té sóng soài trên bờ đá, lăn xuống ngay trước mặt hai tên ấy. Chúng vừa thấy tôi, như con hổ lâu năm bị nhốt trong chuồng, đói và thiếu thốn, nay được xổ chuồng, chúng nắm lấy tôi ngay, cười khoái trá, con dao kè cổ, tôi không dám kêu la sợ bị giết chết… Hai tên đó coi như tôi không là con người, chúng cứ tha hồ vui sướng trên thân thể nhỏ bé mỏng manh của tôi, tôi ráng chống cự hết sức bình sinh, nhưng làm sao có thể chống lại hai tên khỏe mạnh ấy! Đến khi tôi không thể chịu đựng nổi nữa, đã ngất đi bên bờ suối, và khi người trong làng đem tôi về lều cho mẹ thì trong lòng tay tôi còn mãi nắm sợi dây đeo cổ bằng những sợi dây chỉ thết lại của một trong hai tên dã man khốn kiếp ấy.

Khi biết mình mang thai, tôi đã khóc vật vã, muốn phá cái thai, muốn dứt bỏ nó. Tôi luôn tay đập vào bụng mình, tôi gào thét, ném đồ, đã bao lần cắt tay tự vẫn… nhưng mẹ đã cầu xin tôi, nắm chặt hai cánh tay tôi, nài nỉ van lơn tôi hãy giữ nó lại làm phước, đừng giết một mạng người, nó còn chưa ra đời nữa mà!

Khi nó được chào đời, được một tháng tuổi, tôi đã lén mẹ trong một buổi trưa khi mẹ vắng nhà, đi một khoảng khá xa làng tôi ở, đặt nó dưới một gốc cây, rồi vội vã quay trở về làng. Vừa đi vừa chạy thật nhanh vì sợ nó khóc, người ta sẽ tìm ra tôi… Tôi vừa chạy vừa khóc, hai tay bịt tai sợ nghe tiếng khóc của nó, nước mắt đầm đìa, trong lòng tôi hình ảnh bé nhỏ đỏ hỏn của nó hiện ra, đôi mắt nhắm thật yên bình, đôi môi mấp máy mút mút như đang bú sữa vậy. Tôi có ác quá không? Quá tàn nhẫn khi bỏ nó một mình dưới gốc cây? Lỡ nó bị ai lấy đi và đem bán cho người xấu thì sao? Bao nhiêu câu hỏi lo lắng đầy lấp tâm trí tôi. Không nỡ tâm, tôi lại lính quýnh quay lại nơi tôi đã bỏ nó. Thằng bé vẫn nằm yên đó, nhắm mắt ngủ thật an lành!

Tôi nhặt nó lên, nhìn kỹ vào mặt nó. Nó không mang một chút nét nào của tôi, như một kẻ xa lạ, nhưng nó vẫn chỉ là một đứa bé vô tội! Hình như tôi có nợ với nó! Tôi lại bế nó về lều, không hé môi kể chuyện này cho mẹ nghe. Tôi không phải thù ghét nó, nhưng cứ nhìn thấy nó là kỷ niệm nhơ nhuốc kia lại hiện ra. Tôi không biết tôi giận ai, giận cái gì! Chỉ biết tôi ghét cái thân thể đã bị vùi dập này, tôi thù cuộc đời cay nghiệt này, tôi không thể nào ôm nó vào lòng nựng nịu như tôi đã từng bế và yêu con búp bê bằng bông của tôi khi chưa có nó!

Nhưng kỳ diệu thay, từ ngày có nó, gia đình ba người của tôi gặp nhiều điều rất may mắn: Một Hội Thánh Tin Lành ở Canada muốn tạo phước lành, họ muốn nhận nuôi bảo trợ vài gia đình đi tàu vượt biên có con nhỏ nhất ở đảo Thái Lan. Họ sẽ chịu trách nhiệm nuôi ăn ở, sinh hoạt trong vòng bảy năm. Tên của ba người chúng tôi có trên danh sách ấy và được đi ngay trong vòng một tháng sau khi làm thủ tục giấy tờ.

Họ đưa chúng tôi đến Calgary, Canada, xứ của những cây lá phong thật đẹp vào mùa Thu, chúng tôi được mục sư cho rất nhiều quần áo cũ của nhà thờ, dẫn chúng tôi đến ở một cái ấp khá rộng rãi chỉ có một phòng ngủ thôi, nhưng chúng tôi kê thêm giường ngoài phòng khách cho tôi ngủ để đừng bị thằng bé khóc làm phiền, sáng hôm sau tôi phải dậy sớm đi đưa báo từ 6 giờ sáng và tối thì đi học để sau này ra trường sẽ tự lập và nuôi gia đình.

Khi làm giấy tờ bên đảo để đi Canada, lúc bấy giờ mẹ mới đặt tên cho thằng bé là Kora (để kỷ niệm tên đảo Koh Kra). Vì sợ thằng bé làm phiền đến danh phận của tôi, nên ai hỏi, mẹ cũng đứng ra nhận đại nó là con trai của mẹ cho qua chuyện! Mẹ còn rất trẻ, mới gần 40, nên ai cũng tin nó là con của mẹ, em tôi! Mẹ dạy nó gọi tôi là dì, gọi mẹ bằng bà, nhưng trên giấy tờ thì nó thực sự là con tôi. Mẹ nói bây giờ nó còn nhỏ thì cứ cho là vậy, sau này lớn lên đi học, thì tính tiếp!

Ở xứ tự do, không khí trong lành này, thằng Kora lớn như thổi, thông minh, láu cá, nó ăn nhiều và rất ngoan, ít khóc và hiểu chuyện. Nó dần chuyển hóa tình cảm của tôi đối với nó. Mỗi lần nghe tiếng chìa khóa lách cách mở cửa, đang chơi đồ chơi, nó ném hết xuống, vội vàng chạy ra mở cửa cho tôi, chưa biết nói nhiều, nó ê a lấy tay đập đập vào chiếc ghế gần đấy ý bảo tôi hãy ngồi xuống, rồi nó chạy đi tìm đôi dép cho tôi thay, xong chạy vào bếp lấy ly nước cho tôi uống đỡ khát. Nó mới gần ba tuổi thôi nhưng biết để ý người lớn làm gì rồi bắt chước làm lại cho người khác, rất dễ yêu. Ai thấy nó đều không thể nào không khen được!

Sự dễ yêu của Kora làm các bạn trong nhà trẻ yêu mến, làm nhiều lúc tôi cũng quên đi nó chính là con của kẻ đã hại tôi. Sự ghét bỏ, lạnh nhạt với nó ngày càng vơi đi, nhưng tôi vẫn cảm thấy không thể nào ôm lấy nó hôn như những cử chỉ âu yếm của người mẹ đối với con được, cái tình mẫu tử thiêng liêng vẫn chưa nảy nở trong trái tim tôi.

Ngày tháng trôi qua, tôi bận rộn từ sáng sớm đưa báo đến tối về thật trễ vì lấy course đêm học, nhiều lúc không có thì giờ nhìn mặt thằng bé. Sáng thì thằng bé chưa dậy, còn về đến nhà thì nó đã đi ngủ. Cuối tuần tôi lại bận rộn đi chợ búa nhanh nhanh với mẹ rồi phóng lên thư viện học bài cho những lần thi cử…

Thằng bé quấn lấy bà ngoại như người duy nhất có thể bảo vệ nó. Nó sợ làm phiền tôi, sợ bị tôi la, sợ bị tôi hất hủi. Tôi nhớ có một lần tôi đang mải mê học bài trong phòng, bỗng nghe tiếng vỡ toang của ly nước sau lưng, quay lại thấy nó, mặt xanh mét đứng yên, tôi la lên:

-Tại sao lại vào đây? Ai cho phép vào! Đi ra!

Thằng bé òa khóc nức nở, nói trong tiếng nấc:

-Con muốn… con muốn đem… nước… vào cho dì…

-Có ai nhờ đem nước đâu! Có thấy là vỡ ly rồi đó không! Thiệt là…

Nó khóc to hơn nữa vì sợ hãi và muốn cầu cứu. Mẹ tôi chạy vào thấy cảnh thằng bé bị la đến nỗi thất thần, đã tè ra nhà, ly nước bể toang dưới chân, mảnh chai văng tung tóe trên sàn, còn tôi thì đứng la um sùm.

Mẹ bế nó vào lòng vỗ về:

-Con yêu của bà, nín đi, không sao rồi, ai bảo con đem nước vào phòng dì vậy?

-Con thấy dì… học bài… mệt nên… đem nước cho dì… con xin lỗi… bể ly…

-Con ngoan lắm, để bà nói dì mà, con nín đi và đừng làm phiền dì nhe, dì bận học nên la con thôi…

-Tại sao dì… ghét con hả bà?

-Không đâu! Dì không ghét con đâu, con thật là một cậu bé ngoan lắm, chỉ tại dì bận học, bây giờ phải quét vụn thủy tinh vỡ rơi đầy nhà nữa thấy chưa! Con làm cho dì phải bận thêm nữa…

-Con… xin lỗi… Bà ơi… Bà đừng ghét con như dì nhe bà!

Thằng bé mếu máo gào to hơn và ôm chặt cổ bà để tìm sự thương yêu nơi bà.

Lúc ấy trái tim tôi se lại, một tình yêu thương nào đó len lén vào tim, nhưng tôi vẫn không thể đưa tay ra ôm, vỗ về nó như mẹ tôi đang làm được, tôi cảm thấy chút gì căm hận, xa lạ thế nào ấy! Lại quay mặt đi, trốn nhìn cảnh đáng thương của thằng bé.

Năm tôi 21 tuổi, sắp ra trường đại học về hành chánh, thằng bé Kora lên sáu tuổi vào lớp một, tôi vừa bước vào nhà vì đi học và đi làm về muộn, tôi thấy nó vẫn chưa ngủ, ngồi vẽ trong phòng dường như đợi tôi. Khi thay quần áo xong, tôi bưng bát cơm vào vừa ăn vừa thăm nó:

-Sao giờ này con chưa ngủ mà còn vẽ gì thế? Ngày mai con phải dậy sớm đi học nữa mà!

Nó phụng phịu nhìn tôi:

-Dì ơi! Con… không muốn đi học nữa!

-Tại sao? Ai ăn hiếp con hả?

-Không ai dám ăn hiếp con đâu… chỉ là…

-Là sao?…

-Con muốn nhờ dì…

-Làm gì?

-Nhờ dì làm… Mẹ con…

– … ??

-Ngày mai họp lớp, các bạn con đều có cha mẹ nó đi họp! Chỉ mình con chẳng có ai… Vậy mẹ con ở đâu hả dì?

-Ngày mai… dì đi học và làm cả ngày, để dì sẽ nói bà đi họp lớp cho con nhé!

-Không được đâu, cô giáo nói phải là cha mẹ cơ!… Tại sao con không có cha cũng chẳng có mẹ chứ?… Dì có biết cha mẹ con ở đâu không?

Khi nghe nó nhắc đến cha, niềm căm phẫn tự dưng dâng trào:

-Cha con đã chết mất xác rồi! Dì không có tin của ông ta, còn mẹ con…

Thằng bé mở to mắt đầy hy vọng, tôi quanh co:

-Mẹ con… đi làm thật xa, nên dì và bà mới nuôi con đây!

-Vậy có bao giờ mẹ về không dì?

-Khi nào rảnh, hết việc mẹ mới về chứ!

-Sao… con chả bao giờ thấy mẹ hết công việc vậy? Mẹ… làm gì mà bận vậy?

Tôi gắt ngang:

-Dì sẽ nói bà đi họp cho con!

-Không! con muốn… nhờ dì…

-Đã nói là dì bận mà!… Dì không muốn đi!

Thằng bé cúi mặt nhìn xuống đất, hai tay xoắn vào nhau, không dám cãi lời tôi, nó phụng phịu ngồi yên vẽ những con rồng phun nước với những chiếc móng nhọn hoắt như trái tim nó đang bị cào cấu, hờn dỗi. Phải chăng nó đã quen với những lời nói thẳng thừng chẳng chút tình cảm nào của tôi từ bé đến bây giờ, nên không dám nài nỉ hay trả treo như những đứa con được yêu thương khác.

Tôi bước ra khỏi phòng, vừa cảm thấy bị phiền toái, vừa cảm thấy lương tâm cắn rứt! Trong thâm tâm nó, tôi chỉ là một người dì không hơn không kém, nên nó đâu thể mè nheo với tôi được. Nghĩ cũng tội nghiệp, từ nhỏ đến lớn đã thiếu tình thương của cha, cả người mẹ ở ngay trước mặt nó, mà nó cũng chẳng hay biết! Đã sáu năm nó vẫn sống trong sự hất hủi của chính người mẹ ruột, sáu năm nó cố gắng làm hết sức để mua chuộc tình cảm của mẹ nó mà vẫn mãi bị từ chối! Nó có tội tình gì không? Hay nó cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc đời nghiệt ngã thôi? Càng nghĩ tôi càng thấy một chút xót xa dâng lên se thắt trái tim.

Ngày họp phụ huynh đã đến, tôi tới trễ, cả lớp các học sinh ai cũng có cha mẹ dẫn đi, duy chỉ có Kora là đi với bà ngoại. Tất cả các em cùng phụ huynh ngồi bên ngoài, chờ cô giáo điểm danh mới bước vào phòng trong để nghe cô giáo nói về hạnh kiểm và học lực của mỗi em cho phụ huynh biết.

Thằng bé thấy tôi bước vào, khuôn mặt bật vui tươi rạng rỡ đứng dậy, tôi nhẹ nhàng vào ngồi bên cạnh nó, ánh mắt nó sáng ngời nhìn tôi trong vui sướng và đầy biết ơn. Mẹ tôi quay qua hỏi:

-Sao hôm nay con được nghỉ buổi chiều à?

-Vâng! Con đã xin nghỉ để… đi họp cho Kora!

Mẹ ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi, vì đã sáu năm nay tôi chẳng bao giờ đi họp cho nó, có nhắc đến tôi cũng tỉnh bơ bỏ qua coi đó không phải là chuyện của tôi! Mẹ nói:

-Con có chắc chắn sẽ… họp với nó chứ? Con…

Mẹ chưa hết câu thì tiếng cô giáo đã gọi:

-Kora Nguyen…

Thằng bé đứng bật dậy, mắt nó nhìn tôi cầu khẩn. Cả mẹ và tôi cùng đứng lên một lúc, chúng tôi nhìn nhau. Tiếng cô giáo lại vang lên:

-Who is Kora’s mother? (Ai là mẹ của cháu Kora?)

Cả hai chúng tôi đều trả lời:

-Me! (Tôi)

Cô giáo ngạc nhiên nhìn mẹ và tôi, sau đó mẹ tôi mới chỉ vào tôi nói:

-I’m sorry, it’s her! (Xin lỗi, chính bà này mới là mẹ của Kora)

-Go inside please (Xin mời vào bên phòng trong)

Kora sung sướng nhét bàn tay bé xíu của nó vào lòng bàn tay tôi, níu tôi vào bên trong phòng. Nó tự tin ra mặt và nói ngay với cô giáo:

-Thưa cô, đây là mẹ con!

Cô giáo nhìn tôi một lúc rồi hỏi:

-Bà là mẹ của Kora?

-Vâng!

-Mấy lần tôi hỏi Kora về mẹ của nó… Nó thường trốn tránh trả lời câu hỏi này của tôi, bà không gần gũi cháu vì bận làm à?

-…

Rồi cô giáo khen thằng bé học giỏi, thông minh, biết chia sẻ kiến thức và giúp đỡ bạn bè… Thằng bé lúc nào cũng đứng nhất lớp nhưng nó lại rất ít kể về tình gia đình. Cô giáo nói với tôi rằng ở tuổi của nó phải được cười đùa cùng lũ bạn, đàng này cô thấy nó thỉnh thoảng rút lui vào một góc, vẽ những bức tranh kỳ quái nói lên tâm hồn của nó bị dầy vò vì một điều gì khó tả lắm! Cô giáo khuyên tôi nên bên cạnh nó, tâm sự và đi chơi nhiều hơn với nó.

Họp xong, tôi dắt tay Kora ra khỏi lớp. Nó rút nhẹ bàn tay bé nhỏ ra khỏi tay tôi.

Tôi giữ chặt lại không để nó rút ra, ngồi xuống nhìn thẳng vào mắt nó:

-Sao… con lại không muốn để tay con trong tay dì?

-Vì… mình đã đóng kịch xong rồi mà! Con cám ơn dì đã giả làm… mẹ con thật hay lắm!

-Con có muốn dì mãi mãi là mẹ thật của con không?

-Làm sao có thể được? Con sẽ làm phiền dì, dì cũng… không thích con mà!?

Nước mắt nhạt nhòa trên mặt, ôm nó vào lòng, lần đầu tiên tôi ôm chặt lấy thân thể bé nhỏ của nó; lẽ ra tôi đã bỏ, đã vứt, đã muốn giết nó khi nó mới chỉ là phôi thai, tôi cảm thấy cả trái tim thổn thức, cả tâm hồn lay động. Tôi thật hối hận, tôi đã lầm lỗi bao lâu nay! Phải chi tôi ôm nó một lần trong quá khứ thì chắc nó sẽ chuyển hóa được tình cảm của tôi rồi, trái tim nhỏ của nó đập nhẹ nhàng bên cạnh lồng ngực tôi, tôi thì thầm:

-Kora yêu quý của mẹ!

-…!!

-Kora hãy tha thứ cho mẹ… Mẹ rất yêu con, mẹ chính là mẹ ruột của con, chứ không phải là dì như từ trước đến giờ con gọi dì đâu! Con có muốn gọi mẹ là mẹ không?

-Thật không? Có thật dì là… mẹ con không? Con không nằm mơ chứ? Con mong có được một người mẹ lắm. Mẹ ơi, mẹ ơi…

Nó choàng hai tay bụ bẫm quanh cổ tôi, không hề hỏi han tại sao dì bỗng nhiên biến thành mẹ nó như thế. Nó mừng vui đến nỗi vừa khóc ré lên, lại vừa cười sung sướng trong tiếng nấc:

-Từ đây… con có mẹ rồi. Mẹ hứa ở bên con mỗi ngày nhe mẹ! Con sẽ nói với các bạn rằng con là đứa con ngoan ngoãn nhất nên ông Trời đã cho con một người mẹ hiền và đẹp nhất trong đám bạn… Mẹ ơi…

Cả hai trái tim chúng tôi cùng một nhịp đập. Tôi ôm nó thật chặt như sợ sẽ không bao giờ còn dịp để giữ chặt nó bên tôi nữa.

Montreal, Canada 07 tháng 3 , 2022

Lê Ngọc Huyền.

 

 

Tác giả bài này là cô Lê Ngọc Huyền chủ bút tờ báo NGỌN ĐUỐC ở Montreal , Canada viết

Đính kèm là hình của cô Lê Ngọc Huyền :

 

HOA TRÁI CỦA MỘT TÌNH YÊU MÃNH LIỆT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HOA TRÁI CỦA MỘT TÌNH YÊU MÃNH LIỆT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Tư Tuần XXVIII – Mùa Thường Niên

“Khốn cho các ngươi, hỡi những người biệt phái!”.

Nathaniel Hawthorne nói, “Không một người nào, trong một khoảng thời gian đáng kể nào, lại có thể mang một khuôn mặt cho mình, cùng lúc, một khuôn mặt khác cho công chúng, mà cuối cùng không cảm thấy hoang mang về cái nào là thật. Bởi lẽ, những gì là nhân văn, những gì là trung thực và bác ái chỉ có thể là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ tự bên trong!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ý tưởng của Nathaniel Hawthorne sẽ được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay, khi chúng ta biết rằng, lời lẽ cứng rắn của Chúa Giêsu dành cho những người biệt phái, “Khốn cho các ngươi!”, “Khốn cho các ngươi!”, chính là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ và khao khát sự cứu rỗi cho những người mà Ngài đã nặng lời, chứ không phải là một sự cay đắng dữ dội dành cho họ.

Có bao giờ bạn thấy mình bắt nhịp với Chúa Giêsu trong những đoạn Tin Mừng tương tự? “Chúa cứ nguyền rủa đi! Họ xứng với điều này!”. Thử tưởng tượng bạn và tôi đang có mặt ở đó, chúng ta khoanh tay, nghiêm nghị, lắc đầu ngao ngán trước hạng đạo đức giả; sau đó, suy nghĩ của chúng ta chuyển sang một người quen biết vốn cũng nên nhận được “sự chì chiết tốt lành này!”; có thể là một Linh mục, một Giám mục, đối tượng của sự trách móc tinh thần này.

Tuy nhiên, sẽ sâu sắc và thú vị hơn, nếu chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của những con người mà bấy lâu chúng ta hết sức ngưỡng mộ. Thì ra tôi cũng có một trái tim chai sạn và khô cằn không hơn gì những người biệt phái! Và dẫu có thể cùng Chúa Giêsu kết án họ, nhưng tôi đã không yêu họ như Ngài yêu. Chúng ta quên rằng, Chúa Kitô cũng đã hiến mạng cho những người Pharisêu, vốn là những con người mà Ngài đang tìm kiếm, kêu gọi họ hoán cải; thậm chí, nếu họ là những người duy nhất cần cứu, thì Ngài cũng đến để cứu! Mở lời phê phán thật dễ, nhưng một lời mời biến đổi lại chỉ có thể đến từ một trái tim biết yêu vốn ấp ủ chồi lộc để trổ sinh những ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt!’. Đó là “hoa trái của Thánh Thần” mà thánh Phaolô đề cập trong thư Galata hôm nay, “Yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lành, khoan dung, dịu hiền, trung trực, đức hạnh, tiết độ, trinh khiết”.

Suy nghĩ đến đây, chúng ta liên tưởng đến một cụm từ khá ‘thời sự’, “Hiệp Hội Những Người Công Giáo Quạu Cọ”. Ai mà không phát hiện ra ít nhất một điều sai trái trong giáo xứ hoặc giáo phận mình? Một số là nhìn thấy, cầu nguyện và tìm hướng giải quyết khó khăn; số khác là ‘chằm hăm’ đến chúng! Nhóm hai này là “Hiệp Hội” chúng ta đang nói. Với chuỗi Mân Côi, họ suy gẫm “các mầu nhiệm Nguyền Rủa”; Chúa Giêsu nguyền rủa cây vả; Ngài cầm roi tẩy uế đền thờ; kết án các kinh sư… Tôi có thể là một thành viên ẩn danh; hay ít nữa, một người ủng hộ hiệp hội này. Đừng quên, Chúa Giêsu đã dùng những lời lẽ cứng rắn, nhưng chúng chỉ là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ và khao khát cứu rỗi các linh hồn. Nếu có điều gì cay đắng trong lòng, tôi cần xin Chúa ban ơn tha thứ và biết tha thứ như Ngài.

Anh Chị em,

“Khốn cho các ngươi!”. Chúa Giêsu, một nhà sư phạm, một nhà giáo dục bậc thầy; Ngài biết cách đưa các linh hồn theo tiến trình ‘từng chút’, từng chút theo tốc độ và mức độ họ lãnh hội. Là Kitô hữu, chúng ta được kêu gọi để soi sáng lương tâm những người chung quanh bằng ánh sáng Chúa Kitô. Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Lạy Chúa, ai theo Ngài sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống”, sự sống cho mình, sự sống cho người! Tuy nhiên, nếu việc soi sáng của chúng ta chỉ đơn thuần là những lời lẽ hoa mỹ để kết án họ ‘càng nghiêm khắc càng tốt’ thì chúng ta cần xem xét, liệu Lời Chúa hôm nay có áp dụng cho chúng ta không, “Chất lên người ta những gánh nặng không thể vác, mà chính các ngươi dù một ngón tay cũng không động tới”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim nhu mì, khiêm nhượng như trái tim Chúa; để những lời con nói, những việc con làm, chỉ là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

KHÔNG NẢN CHÍ – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

KHÔNG NẢN CHÍ

  Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Ngày 14-10-2010 là ngày vui đối với người dân Chilê.  Ba mươi ba người thợ mỏ bị sụp hầm sâu gần 700 m, được giải cứu.  Mười bẩy ngày đầu họ sống trong bóng tối, cạn kiệt lương thực.  Họ còn phải sống gần hai tháng nữa mới được cứu lên khỏi mặt đất.  “Tôi ở giữa Thiên Chúa và quỷ sứ.  Tôi bị giằng co giữa hai bên.  Tôi nắm chặt lấy bàn tay Chúa, và Chúa đã cứu tôi.”  Đó là câu nói của anh Mario Sepulveda, người thợ mỏ thứ hai được đưa lên khỏi “địa ngục.”  Khi còn ở dưới hầm, Jimmy Sanchez, anh thợ trẻ nhất nhóm đã viết lên: “Ở đây chúng tôi có 34 người, vì Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng tôi.”  

Dù người ta nhắc đến khoa học như chìa khóa cho thành công, nhưng chính việc cầu nguyện đã cho họ sức mạnh để đứng vững. 

“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”  Đó là điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta qua dụ ngôn bà góa quấy rầy.  Bà là người không còn chỗ dựa vững chãi của người chồng.  Bà lại còn là nạn nhân đáng thương của một sự bất công chèn ép.  Nhất quyết không để mình bị bóc lột, bà đã nhiều lần đến gặp quan tòa để xin ông minh xét cho (c. 3).  Tiếc thay ông này lại là một vị quan tòa bất chính (c. 6), nên vụ kiện bị ngâm trong một thời gian khá lâu.  Nhưng bà không hề nản chí, và cuối cùng bà đã thắng.  Ông quan tòa đã phải đem ra xử vụ kiện, chỉ vì bị bà quấy rầy liên tục.

Đức Giêsu đã táo bạo khi kể dụ ngôn trên.  Ngài dám so sánh Thiên Chúa với ông quan tòa bất chính.  Dĩ nhiên, Thiên Chúa thì tốt lành và chăm lo cho con người, ngược hẳn với ông quan tòa chẳng coi ai ra gì (c. 2).  Nhưng cả hai lại có một nét chung.  Nhiều khi chúng ta có kinh nghiệm về một Thiên Chúa như hững hờ, như không muốn đáp lại tiếng kêu của những người chịu bất công áp bức.  Có biết bao tiếng kêu như thế vang vọng từ khắp địa cầu.  Có biết bao người chịu bách hại mà không thể lên tiếng.  “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (c. 3).  Đó vẫn là lời kêu nài muôn thuở của những người thấp cổ bé miệng.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa không lên tiếng bênh vực, không hành động gì để giải cứu, giải oan. 

Đức Giêsu mong chúng ta đừng thất vọng trước sự bất công trên thế giới, đừng nản lòng khi lời cầu nguyện của chúng ta có vẻ rơi vào quên lãng.  Hãy tiếp tục cầu nguyện, vì Thiên Chúa tốt hơn ông quan tòa nhiều.  Nếu quan tòa cuối cùng còn xử kiện cho bà góa chỉ vì tránh bị quấy rầy, thì huống hồ là Thiên Chúa, Đấng sẽ làm rõ trắng đen vì lòng cảm thương.  Lẽ nào Người bắt những kẻ Người tuyển chọn, những kẻ ngày đêm kêu cứu với Người phải chờ đợi mãi? (c. 7).  Lòng tin của chúng ta vẫn bị thách đố ngày nào còn bất công trên thế giới.  Chỉ mong ta vẫn giữ được lòng tin như người thợ mỏ ở trong hầm tối.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 ***

Lạy Cha, con phó mặc con cho Cha, xin dùng con tùy sở thích Cha.  Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.  Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.  Miễn là ý Cha thực hiện nơi con và nơi mọi loài Cha tạo dựng, thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.  Con trao linh hồn con về tay Cha.  Con dâng linh hồn con cho Cha, lạy Chúa Trời của con, với tất cả tình yêu của lòng con, Vì con yêu mến Cha, vì lòng yêu mến thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha, thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha, không so đo, với một lòng tin cậy vô biên, vì Cha là Cha của con.

 Chân phước Charles de Foucauld

Trời là gì?-Cha Vương

Một ngày an lành trong niềm hy vọng vào Chúa Cứu Thế nhân hậu nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 13/10/2022

GIÁO LÝ: Trời là gì? Trời là thời gian vô tận của tình yêu không bao giờ còn xa cách nữa giữa Thiên Chúa và lình hồn đã yêu mến và tìm kiếm Người suốt đời. Được hiệp nhất với tất cả các thiên thần và tất cả các thánh, linh hồn được vui hưởng hạnh phúc luôn luôn ở gần Chúa và với Chúa. Trời là Thiên đường. (YouCat, số 158)

SUY NIỆM: Đôi bạn trẻ nhìn nhau với đôi mắt tình tứ, một em bé đang bú mẹ tìm đến cái nhìn của mẹ nó, như muốn giữ gìn mỗi nụ cười đó mãi mãi…. đó là những thí dụ có thể cho ta một ý niệm nhỏ về trời hay thiên đường. Được nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt là như thời gian độc nhất của tình yêu kéo dài đến vô tận. (YouCat, số 158 t.t.)

❦ Một người có thể mất hết của cải đời này trái với ý muốn của mình, nhưng không bao giờ họ mất của cải đời đời nếu không hoàn toàn do ý muốn của mình. (Thánh Augustinô)

LẮNG NGHE: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. (1 Cr 13:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, là con người thì có lẽ ai cũng có những lần lo âu xao xuyến, nhất là khi con đang sống trong một thế giới bất ổn, xin Chúa cũng cố niềm tin cho con để con luôn xác tín vào lời Chúa dạy: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3)

THỰC HÀNH: Để hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa, bạn cần phải sạch tội. Tội nào đang làm bạn xa lìa Chúa? Hãy cố gắng tránh xa dịp tội hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng

KINH CẦU XIN HÒA BÌNH

Mời đọc để tìm thấy BÌNH AN

KINH CẦU XIN HÒA BÌNH

Lạy Chúa là Thiên Chúa Hòa Bình, Chúa đã dựng nên loài người theo lượng từ bi Chúa, để chúng con được thông phần vào vinh quang Chúa.

Chúng con chúc tụng và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã sai Con Yêu Dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, đến thế gian; Người đã từ cõi chết sống lại, là Đấng Cứu Độ, là nguồn gốc hòa bình và là mối dây nhân ái.

Chúng con chúc tụng và cảm tạ Chúa, vì Chúa Thánh Thần, là Thần Trí Hòa Bình của Chúa, đã làm nảy sinh trong thời đại chúng con những khát vọng, những nỗ lực và những công việc, để tình thương thay thế hận thù, cảm thông thay thế đố kỵ, hợp nhất thay thế chia rẽ.

Lạy Chúa là Cha đầy tình thương xót, xin thương đến tất cả những ai đang hy sinh, đau khổ và phải chết, để làm cho thế giới được sống trong tình bác ái anh em.

Chúng con biết rằng chúng con không thể xây dựng hòa bình, nếu chính chúng con không có tâm hồn bình an. Kinh Thánh dạy: ơn phúc của Chúa Thánh Thần là yêu thương, vui mừng, bình an. Xin cho chúng con có trái tim yêu thương khi phục vụ mọi người, có cuộc sống vui tươi khi biết mình là con cái Chúa, và có tâm hồn bình an khi không vướng mắc tội lỗi.

Lạy Chúa, Con Chúa đã hứa ban bình an cho chúng con. Xin Chúa cho mọi dân tộc, thuộc mọi màu da, mọi tiếng nói, được sống trong Nước công chính, yêu thương và bình an của Chúa. Xin cho Tổ quốc và Giáo hội Việt Nam được bình an thịnh vượng, cho thế giới được hòa bình bền vững lâu dài. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Danh Chúa thật cao cả trên khắp địa cầu. Amen.

 Bố tôi có tất cả 3 đời vợ

Kimtrong Lam

 Bố tôi có tất cả 3 đời vợ.

Mẹ tôi là người đầu tiên ông kết hôn và chỉ vài tháng sau khi nên vợ thành chồng, mẹ tôi là người đệ đơn ly hôn. Lúc đó bà đang mang thai đứa con duy nhất là tôi.

Hơn 40 năm sống trên đời, tôi chưa từng nghe thấy mẹ than vãn, oán hận hay trách móc gì chồng cũ. Có lẽ bởi vậy nên tôi, đứa con chỉ gặp bố với số lần đếm trên đầu ngón tay cũng không cảm thấy quá uất ức khi bố mình chẳng có chút xíu trách nhiệm nào với con cái.

Mẹ tôi ở vậy nuôi tôi thành người. Mặc dù là phụ nữ nhưng tôi luôn tự nhủ mình phải có trọng trách chăm sóc bà cả đời. Thật may mắn, khi lập gia đình chồng tôi rất hiều và thông cảm cho vợ. Thậm chí, anh còn coi mẹ tôi như mẹ đẻ vì mẹ anh mất sớm.

Tuy không ở với bố và cũng không gặp ông nhiều nhưng vì ở cùng một thành phố, đôi khi tôi vẫn nghe được rất nhiều thông tin về ông. Có lẽ vì hoàn cảnh tác động, giữa tôi và bố dường như chẳng có nổi một sợi dây liên kết nào…

Sau khi ly hôn với mẹ tôi, ông cũng rất nhanh chóng tìm kiếm được hạnh phúc mới. Bố tôi và người vợ thứ hai có đến 3 mặt con. Những tưởng cuộc hôn nhân này đã viên mãn nhưng bất ngờ thay bố tôi và người vợ thứ 2 cũng ly hôn sau gần chục năm chung sống.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào năm ông ở tuổi ngũ tuần liền quyết định cưới thêm một lần nữa. Điều đáng nói, người vợ thứ 3 của ông bằng tuổi tôi. Thật là oan gia ngõ hẹp khi “mẹ kế” này và tôi lại làm cùng một công ty.

Tôi và đồng nghiệp kia chưa kịp nếm trải những khó xử khi thường xuyên phải đối mặt với nhau ở nơi làm việc thì bố tôi và người vợ thứ ba này đã nhanh chóng đường ai nấy đi. Khi biết tôi là con cả của ông, “mẹ kế” ban đầu còn ái ngại nhưng cổ nhân có câu “kẻ thù của kẻ thù là bạn mình” nên dần dà cô ấy bắt đầu coi tôi là đối tượng để tâm sự.

Có lẽ vì cô ấy nghĩ chắc hẳn mẹ con tôi cũng hận thù bố tôi như cái cách mà 3 mẹ con cô ấy đã phải chịu đựng nên luôn tìm tôi để kể tội ông ấy. Cũng bởi vì những màn nói xấu chồng cũ không hồi kết này của “mẹ kế” mà tôi biết được lý do vì sao mẹ tôi lại quyết tâm ly hôn khi bụng mang dạ chửa.

Bố tôi là một người đàn ông trăng hoa.

Mẹ tôi vì biết chuyện bố có qua lại với người phụ nữ khác, cũng chính là người vợ thứ hai của ông sau này nên đã quyết tâm đơn phương ly hôn. Thì ra đây là lý do mà ông rất nhanh chóng tìm đến cuộc hôn nhân mới khi tôi chỉ mới vừa tròn 1 tháng tuổi.

Chuyện này tương tự lặp lại với người mẹ kế thứ hai. Và kết thúc cũng không khác với lần đầu tiên là mấy.

Không thể phủ nhận rằng cô đồng nghiệp của tôi lấy người đáng tuổi bố mình với mong ước thoát khỏi cuộc đời lam lũ. Nhưng kể cả có là như vậy thì cô cũng chưa từng làm chuyện có lỗi với chồng và 2 đứa con.

Cứ tưởng rằng bố tôi lấy vợ trẻ thì phải tối ngày lo giữ vợ thế nhưng mọi chuyện lại ngược lại hoàn toàn. Khi sinh bé thứ hai, “mẹ kế” này của tôi bàng hoàng phát hiện bố tôi đã có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, thậm chí kẻ đó cũng đã sinh cho ông 1 đứa con.

Tôi không còn nghe được những thông tin về “chiến tích” của bố mình nữa vào năm ông bước qua tuổi 60. Gần đây, tôi thấy người ta bảo bố tôi sức khoẻ yếu đi nhiều rồi, thi thoảng phải nhập viện vì nhiều căn bệnh tuổi già. Mỗi lần đều tự đi một mình, tự về một mình, chẳng có ai chăm sóc.

Vậy là ở cái tuổi tóc hoa râm, người đàn ông có 3 đời vợ, 7 đứa con cả trong và ngoài giá thú lại chỉ có thể lẻ loi một mình. Tôi không biết trong những ngày cô độc như thế, ông ấy đã nghĩ gì, liệu có hay không 1 lần hối hận vì tuổi trẻ phóng khoáng của mình?

Chiều nay, tôi tăng ca nên đi làm về khá muộn. Mở cửa liền thấy mẹ đang tết tóc cho đứa cháu lớn, thằng út thì mè nheo đòi bà chiên gà cho nó ăn. Những bộn bề cuộc sống bỗng trở nên thật nhẹ nhàng vào khoảnh khắc này.

Tôi chưa từng oán hận bố mình nhưng để có thể ở bên cạnh chăm sóc ông thì tôi không thể sẵn sàng…

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Thanh Bùi  ·   · 

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Năm 1980, Mike Wells, một phóng viên ảnh tài liệu đã chụp lại bức ảnh gây xúc động mạnh mẽ về hình ảnh bàn tay của một cậu bé.

Bức ảnh “vô tình” đạt giải thưởng trong cuộc thi Ảnh báo chí thế giới năm 1980 đã khiến cho toàn thế giới bị ám ảnh và gây ra một sự ph*ẫn n*ộ rất lớn trong dư luận.

Tác phẩm này đã khiến tên tuổi của Mike Wells vươn ra ngoài thế giới nhưng cũng khiến ông dành cả phần đời còn lại của mình trong sự xấu hổ và dằn vặt. Bức ảnh ghi lại một bàn tay nhỏ bé, gầy gò, thậm chí nếu nhìn qua thì có vẻ như bàn tay đó không phải là bàn tay của một con người.

Nhiều người cho rằng nó giống như bàn tay của một người ngoài hành tinh. Và khi nhìn cho thật kĩ, sẽ thật đau xót khi thấy đó là bàn tay của một đứa trẻ bị suy dinh dưỡng nặng.

Trái ngược với đó là một bàn tay của người da trắng, khỏe mạnh, vạm vỡ. Bức ảnh cho thấy sự tương phản rõ nét và cũng phản ánh chân thực những gì đang diễn ra.

Nguồn: ĐI TÌM LẼ SỐNG

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Joaquin Nguyễn Hòa, gửi từ San Jose, California

Tôi biết tin anh Long qua đời qua trang Facebook của anh Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose. Giáo sư Trần Hữu Dũng ở Ohio xác nhận với tôi rằng anh Long qua đời vì bệnh ung thư gan lúc 5:30 sáng ngày 12/10/2022, thọ 78 tuổi.

Anh Ngô Vĩnh Long là giáo sư sử học, trường đại học Maine, anh tốt nghiệp đại học lừng danh Harvard, anh là bình luận gia nhiều vấn đề quan hệ quốc tế và Việt Nam, anh là thủ lĩnh phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam, anh từng chiếm đóng tòa lãnh sự Việt Nam Cộng hòa tại San Francisco,…

Tất cả những điều ấy, mọi người đều biết, và cũng có nhiều người chỉ trích, mắng chửi,…

Tôi không muốn lặp lại những điều ấy, chỉ xin kể lại đây những kỷ niệm cá nhân với anh Long.

Tôi biết anh Long khi còn làm phóng viên cho trang RFA Việt ngữ, khi cần những bình luận về tình hình Việt Nam, cũng như quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Điều tôi ấn tượng nhất khi phỏng vấn anh Long, hoặc khi chuyện vãn bên lề, là anh có hai nét bề ngoài có vẻ rất mâu thuẫn với nhau, một giọng nói khá yếu, đến mức có khi như thều thào, và một giọng cười rất sảng khoái và mạnh mẽ.

Chỉ sau vài lần trò chuyện, có lẽ anh Long cũng có cảm tình với tôi, anh mời tôi đến chơi với anh ở Bangor, Maine.

Anh đón tôi vào một ngày cuối đông. Từ trong sân bay, tôi thấy anh xăm xăm bước qua đống tuyết còn bề bộn, đi vào sảnh, dáng đi hồn nhiên như một đứa trẻ. Anh chở tôi đến ngay một tiệm bán … tôm hùm. Và buổi trưa hôm đó câu chuyện dài dằng dặt của chúng tôi, đúng hơn là câu chuyện của anh, bắt đầu, kéo dài đến gần một tuần, bên ly rượu Sauternes, một loại vang cất từ nho mốc trên cành, mà anh cho tôi biết là rất “bắt” với tôm hùm và… lẫu mắm.

Tên của anh được đặt theo tên cái thị xã mà anh sinh ra, thị xã Vĩnh Long, nơi cha anh theo kháng chiến chống Pháp trong mặt trận Việt Minh. Ông cụ không phải là một đảng viên cộng sản, mà còn xa hơn nữa, sau năm 1954, cụ trở thành một tín hữu Tin Lành. Chính ông cụ là người bày cho anh cách học thuộc lòng các cuốn tiểu thuyết bằng Anh ngữ để học tiếng Anh. Và bằng cách đó anh đã đủ tiếng Anh để đại học Harvard lừng danh của Mỹ chấp nhận.

Ngoài chuyện có bố là người theo đạo Tin Lành, cũng không có nhiều người biết rằng trong gia đình anh Long còn có một nữ sĩ quan công binh, Danielle Ngô, vị chỉ huy một lữ đoàn công binh là nữ giới đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ. Bà Danielle Ngô gọi anh Long là cậu ruột. Gia đình bà bỏ chạy khỏi Sài Gòn đúng ngày 30/4/1975, và được anh Long bảo trợ đến Mỹ. Đó là những năm rất vất vả với người tị nạn Danielle Ngô mới được vài tuổi, mà cũng là những năm rất vất vả với người phản chiến Ngô Vĩnh Long, hết bị dính tới vụ án Trương Đình Hùng (con trai bác sĩ Trương Đình Dzu từng là ứng viên tổng thống Việt Nam Cộng hòa), rồi lại bị ám sát hụt trong khuôn viên đại học Harvard.

Sau đó, Hà Nội lại cấm cửa không cho Ngô Vĩnh Long về nước, mà cũng không rõ lý do gì (những chuyện như thế thường không có lý do!). Anh Long kể với tôi rằng anh thoát bàn tay công an Việt Nam trong gang tấc nhờ một người bạn che chở trong một lần về Việt Nam.

Chuyện nước là thế, chuyện nhà cũng không suông sẻ gì với cuộc hôn nhân đầu tiên gãy đổ. Nhưng có lẽ trời cũng bù lại cho tính cách hồn nhiên của anh bằng những đứa con rất giỏi giang, hai người con lớn rất thành đạt, còn cậu út, cũng tài hoa như cha, một tay guitar cự phách, và tốt nghiệp đại học chỉ sau hơn hai năm.

Dĩ nhiên đối với kẻ hậu sinh như tôi, thì những câu chuyện về các nhân vật phản chiến luôn là một sự hấp dẫn. Câu chuyện anh Long kể về nhân vật Nguyễn Thái Bình (bị an ninh Mỹ bắn chết vì cáo buộc cướp máy bay), làm tôi ngạc nhiên với lời bình luận của anh, “Bình tốt lắm, nhưng giao du với các nhóm quá tả”. Dần về sau, giữa những biến động xã hội, chính trị Mỹ, tôi thậm chí thấy rằng Ngô Vĩnh Long chưa chắc đã tả bằng nhiều thanh thiếu niên người Mỹ gốc Việt hiện nay.

Câu chuyện thứ hai làm tôi rõ hơn tính cách Ngô Vĩnh Long đến từ giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng ở Virginia. Lần đó giáo sư Hùng cho tôi xem những thư từ qua lại giữa chính quyền Mỹ với một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt, để chuẩn bị lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Tôi thấy có một bức thư ủng hộ kế hoạch H.O. (Humanitarian Operation) của người Mỹ nhằm đưa những người tù “cải tạo” sang Mỹ, trong số những chữ ký tôi thấy có Ngô Vĩnh Long. Kể chuyện này với anh Long, anh cười rất hồn nhiên như mọi khi, “các ông H.O. cứ réo tên tôi mà mắng chửi suốt ngày”.

Cách đây hơn một tháng, anh Long có sang San Francisco dự một cuộc hội thảo. Tôi có gọi cho anh để càm ràm là bạn bè gì tệ quá, sang mà không gặp. Anh cười hì hì giữa một cơn đau lạ đang hành hạ, anh kể với tôi là cô con gái lớn hoạt động xã hội ở Oakland, vẫn còn giận anh gì đó nên hai cha con không gặp nhau được. Hai anh em lại hẹn nhau lần sau với chai Sauternes, mà phải là lẫu mắm, chứ không phải tôm hùm.

Và sáng nay anh ra đi.

Anh Long không chính thức theo một tôn giáo nào, nhưng có lần chúng tôi đồng ý với nhau về tính hiện sinh của triết học Phật giáo. Anh có nhắc với tôi một số kỷ niệm với các nhà sư Việt Nam, như thiền sư Thích Nhất Hạnh. Anh không nổi tiếng như thiền sư, nhưng cũng có một số phận giữa hai làn nước từa tựa như thiền sư.

Có lần tôi hỏi ông T., một nhân vật nổi tiếng chống cộng tại Mỹ, nghĩ thế nào về Ngô Vĩnh Long? Ông T. nói: “Anh Long là một người yêu nước”.

HÌNH: – Giáo sư Ngô Vĩnh Long

  AO LÀNG, BIỂN CẢ VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG – Tác giả: Đào Hiếu.

Tiểu Luận Đào Hiếu

  AO LÀNG, BIỂN CẢ VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG

Tác giả: Đào Hiếu.

***

Ai cũng biết: giải Nobel văn chương là giải thưởng lớn nhất và danh giá nhất mà nhà văn nào trên thế giới cũng đều mơ ước. Từ nhà văn của các nước nhỏ, lạc hậu, nghèo nàn Á, Phi – thường được ví von một cách miệt thị là “ao làng” – cho đến những nhà văn của các nước văn minh hiện đại, giàu có như Mỹ và châu Âu đều thèm nhỏ dãi!

Ngày nọ, có anh chàng nhà văn Giao Chỉ qua sống bên Mỹ (chẳng biết cậu ta làm nghề ngỗng gì), nhưng có lẽ vì thấy mình đang sống trong một xã hội rộng lớn, và văn minh quá nên tưởng tượng mình đang bơi trên biển, cạnh mấy con cá nhà táng, bạch tuộc khổng lồ… và nghĩ thương cho các đồng nghiệp mình đang ngụp lặn trong cái “ao làng” Việt Nam bên cạnh mấy con cá rô, mấy con nhái bén… mà thốt lên những lời cao ngạo.

Thực ra tác phẩm văn chương vừa là con cá nhà táng, con bạch tuộc, nhưng cũng có thể là con cá rô, con nhái bén vì chúng đều là những kiệt tác của tạo hóa nên không thể đem cân ký lô để xác định giá trị được.

Trong thiên “Tề Vật Luận” của Nam Hoa Kinh, Trang tử có đưa ra hình ảnh của “Con Chim Bằng” và “Con Chim Sẻ”. Ông viết đại khái: “Chim bằng có sải cánh dài muôn trượng, bay một lúc đến sáu tháng mới nghỉ, còn chim sẻ chỉ nhảy lách tách trong sân nhà, nhưng chim Bằng muốn làm chim sẻ cũng không được mà chim sẻ muốn làm chim Bằng cũng chào thua”.

“Văn chương” là như vậy đó.

Khi bàn đến văn chương đừng bao giờ nói đến “văn chương nhà giàu” hay “văn chương nhà nghèo” “văn chương da trắng” hay “văn chương da màu”, càng không nên phân biệt văn chương của thời đại kỹ thuật số với văn chương của thời Homère hay Xuân Thu, Chiến Quốc.

Đâu cần phải có laptop mới viết được văn chương. Đâu cần phải khoác áo “Hậu hiện đại”, “Hiện thực huyền ảo” hay “Tân hình thức”… mới có giá trị. Trang Tử, La Quán Trung, Vương Thực Phủ, Lý Bạch, Tô Đông Pha, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nam Cao, Lỗ Tấn… chỉ có mỗi cây bút lông.

Tôi đọc Nam Hoa Kinh, Thi Kinh Tập Truyện, Đường Thi Tam Bách Thủ, Tạp Thuyết Tứ… từ hồi con là cậu sinh viên 20 tuổi, tôi thấy cách đây hàng ngàn, hàng trăm năm mà những tác phẩm ấy vẫn rất mới. Mới trong ngôn ngữ lẫn bút pháp. Ngày nay, đã có mấy nhà văn hiện đại (kể cả những người từng đoạt giải Nobel) sử dụng được ngôn ngữ và bút pháp độc đáo như trong Thánh Kinh của đạo Ki-Tô hay Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Chưa kể nhiều nhà phê bình văn học vẫn coi kinh Coran của Đạo Hồi là một kiệt tác văn học.

Tôi muốn nói thêm rằng: Văn chương không phải là một cái “mốt” (mode). Văn chương là một SINH VẬT. Nó sống giữa loài người và sống trong cảm nhận của mỗi người.

Văn chương cũng không phải là thời trang cho nên đừng bao giờ khoác cho nó bộ trang phục của Christian Dior, Armani, Pière Cardin hay Hậu Hiện Đại, hay Hiện thực XHCN, hay Siêu Thực, hay Tân Hình Thức…

Văn chương là… văn chương.

Nó tự do tuyệt đối.

Nó muốn thể hiện kiểu nào tùy thích, miễn là độc đáo, mới lạ, bất ngờ và làm ta xúc động, làm ta rung chuyển tận gốc rễ, đến nỗi có thể khiến ta thay đổi nhận thức, thay đổi cảm xúc và thậm chí thay đổi cả nhân cách.

Các trường phái nghệ thuật chỉ để làm dáng.

Văn chương phải ĐƯỢC lột sạch quần áo.

Phải trần truồng.

Sẽ rất thô kệch. Hoặc sẽ rất quyết rũ.

NHƯ VẬY, BẢN CHẤT CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ:

-Tự do tuyết đối -Một người điên -Một nhà hiền triết -Một kẻ lên đồng -Một người thầy của mọi thế hệ.

MÔI TRƯỜNG CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ TẤT CẢ

-Từ ao làng tới đại dương, bầu trời, núi rừng và mặt đất -Từ ổ chuột đến phố phường -Từ lũy tre làng đến chân trời góc biển -Từ cái loa Phường cho tới điện thoại thông minh, vệ tinh viễn thông….

NHÂN VẬT CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ:

-Từ kẻ mù chữ cho tới bác học, triết gia -Từ Đạo Chích tới Khổng Tử -Từ con voi tới con chuột -Từ Thị Nở cho tới Marilyn Monroe -Từ Chí Phèo, Ả Q cho tới Zarathustra, Renaud Sarti…

*

Kinh nghiệm viết văn cho biết, nhà văn sống trong môi trường càng nghèo đói, càng bị áp bức thì vốn sống càng nhiều, văn chương càng phong phú, đề tài càng đa dạng.

Bạn không tin? Hãy thử đọc Chuyện Kể Năm 2.000 của Bùi Ngọc Tấn, Ba Người Khác của Tô Hoài, Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy, Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam… bạn sẽ thấy những tác phẩm ấy là BIỂN CẢ của những bi kịch man rợ, khốc liệt mà trong đó con người bị chà đạp và dìm chết không thương tiếc. Đó là chưa kể Sơn Nam cũng là một đại dương mênh mông về con người Nam Bộ, về phong tục tập quán, sông núi, rừng rậm và những mảnh đời… Đó là chưa kể những tác phẩm ngoài luồng đang trôi dạt trong giang hồ của nhiều cao thủ.

Những đại dương ấy, những biển cả ấy, nghịch lý thay, lại nằm gọn trong cái AO LÀNG Việt Nam nhỏ bé.

Tất nhiên là tôi cũng đã đọc nhiều tác phẩm Nobel văn chương trên thế giới. Có truyện hay, có chuyện cũng tầm tầm, thậm chí là dở, nhưng được khoác cho chiếc áo triết lý hay ý nghĩa nhân bản nào đó.

Có lẽ tôi sẽ trở lại với tác phẩm Rừng Na-uy của Murakami trong một bài khác để nói rằng đó là một sản phẩm rất “trung bình” hoàn toàn không xứng đáng với một nước Nhật đang vươn lên mạnh mẽ từ nỗi đau của hai trái bom nguyên tử.

Còn Solzhenitsyn, (Nobel 1970)? Đọc “Bất ngờ tại nhà ga Krechtovka” thì lòng vòng, buồn ngủ gần chết.

Hermann Hesse (Nobel 1946) với “Câu Chuyện Dòng Sông” một đề tài có thể là “mới” đối với dân châu Âu nhưng lại rất cũ với môi trường Phật giáo. Để viết cuốn đó, nhà văn không cần vốn sống và trí tưởng tượng. Đó chỉ là những cóp nhặt hành trình của thái tử Siddhartha được tiểu thuyết hóa. Ờ Việt Nam có người viết tiểu thuyết về đề tài Phật Giáo sâu sắc, đa dạng và sáng tạo hơn rất nhiều.

Còn “văn chương” của Naguib Mahfouz của Ai Cập (Nobel 1988) thì “buồn ngủ” gấp mười lần Solzhenitsyn.

Nhưng Mạc Ngôn (Nobel 2012), với “Báu Vật Của Đời” lại là một hiện tượng. Tôi cho rằng ông là nhà văn Nobel xứng đáng nhất. Tôi sẽ viết thêm về ông, vì tác phẩm của ông cũng đã ra đời trong cái “ao làng” nhưng nó mang tầm vóc của biển cả. Cái ao làng đó là huyện Cao Mật thuộc tỉnh Sơn Đông, nhưng ngòi bút của Mạc Ngôn đã khắc họa vô cùng sinh động và kinh hoàng cả một bối cảnh Trung Quốc từ triều đại Tưởng Giới Thạch sang Mao Trạch Đông với vô số những biến động, những bi kịch tàn bạo, khốc liệt và bi thảm nhất.

***

Cho nên nếu nghĩ rằng sống ở châu Âu hay Mỹ sẽ viết văn hay hơn sống ở châu Phi hay Đông Nam Á thì đó là chuyện rất buồn cười.

Bạn có thể vặn lại tôi: Thế sao nước Mỹ, và châu Âu có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel quá vậy? Xin thưa, đó là một chuyện dài, một cái tệ nạn có tên là Closed Club of the Whites (Câu lạc bộ khép kín của người da trắng). Một cụm từ mà trước đây có người dùng để tặng cho giải Nobel văn chương.

Xin thêm một câu để khép lại bài này: “Tôi đang ở trong ao làng hay trong biển cả không quan trọng, quan trọng là tôi có biết bơi không. Nếu tôi bơi giỏi thì biển cả cũng chỉ là cái ao làng, ngược lại nếu tôi không biết bơi thì ao làng cũng có thể dìm chết tôi, nói chi tới biển cả. Không biết bơi, tôi sẽ không dám và không thể ra khơi. Và thế là tôi chẳng hiểu gì về biển. Làm sao có thể viết điều gì hay ho về nó? Tôi chỉ có thể ngồi trên bờ mà nghịch cát như đứa trẻ con”.

Ngày 10/10/2022

ĐÀO HIẾU

CHÚ THÍCH ẢNH:

– Mạc Ngôn

-Hermann Hesse

-Phan Nhật Nam.

-Sơn Nam.

GÓC SUY GẪM… Bỏ Qua Oán Hờn

 

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Bỏ Qua Oán Hờn

Một thương gia trong một thị trấn nhỏ nọ, có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của cha mình. Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng đó. Mọi việc đều êm đẹp cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất.

Người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh quay lại, tờ giấy bạc đã biến mất.

Người em hỏi người anh:

– Anh có thấy tờ giấy bạc đâu không ?

Người anh đáp:

– Không.

Tuy thế người em vẫn không ngưng tìm kiếm và gạn hỏi:

– Anh không thể không đụng đến nó. Tờ giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó !

Sự buộc tội phảng phất trong giọng nói của người em. Căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Sự oán giận cũng theo đấy mà len vào. Không lâu sau một hố ngăn cách gay gắt và sâu thẳm đã chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào.

Cuối cùng họ quyết định không làm chung với nhau và một bức tường ngăn cách đã được xây ngay giữa cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau đó, lan đến cả gia đình của họ.

Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước cửa hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng:

– Anh đã ở đây bao lâu rồi .

Người bán hàng đáp rằng anh đã ở đây cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp:

– Tôi phải nói với anh điều này. 20 năm trước tôi đã đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc đó tôi đã không ăn gì suốt ba ngày. Khi tôi đến đây bằng cửa sau và thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh thứ lỗi .

Người đàn ông lạ mặt ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên này. Anh ta đề nghị:

– Ông có vui lòng sang cửa bên và kể lại chuyện này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không ?

Rồi người đàn ông lạ càng ngạc nhiên hơn khi thấy hai người đàn ông trung niên, trông giống nhau, ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng. Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường thù hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ.

Trong cuộc sống có những điều nhỏ nhặt vẫn thường xảy ra và vô tình chia cắt con người với nhau, những lời nói vội vàng không suy nghĩ, những lời chỉ trích, buộc tội hay những lời trách cứ oán hờn.

Và khi đã bị chia cắt, họ có thể không bao giờ quay lại với nhau được nữa. Phương cách tốt nhất để tránh những tình huống gây tổn thương này là bỏ qua những lỗi lầm nhỏ của nhau.

Điều này không dễ dàng nhưng cũng chẳng phải là quá khó khăn. Bỏ đi những bực dọc rồi bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi thấy mình chẳng mất bao nhiêu năng lượng để xây dựng sự gắn bó với những người bạn yêu mến.