httpv://www.youtube.com/watch?v=hS47nYjcXZw
NO ONE WAS EXPECTING THAT! Terrified Simon Cowell Thinks This Audition Is CRAZY | AGT Extreme 2022

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=hS47nYjcXZw
NO ONE WAS EXPECTING THAT! Terrified Simon Cowell Thinks This Audition Is CRAZY | AGT Extreme 2022
BÀI VIẾT ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN HỢP THỜI VÌ CÁI CHẾ ĐỘ CÓ THAY ĐỔI GÌ ĐÂU?!
***
Một cõi đi về …
Mượn tựa đề của một bài hát của Trịnh Công Sơn để mô tả cảm giác của tôi về sự “qui cố hương” của Đại tá Lê Bá Hùng.
Thật ra, nói “qui cố hương” là không đúng; anh ta chỉ viếng thăm chính thức thôi. Ngày rời quê mẹ là một cậu bé 5 tuổi, ngày trở về là một đại tá, chỉ huy cả hai chiếm hạm thuộc loại hiện đại nhất của hải quân Mỹ.
Sự trở về của anh ta, một lần nữa, minh chứng cho câu nói bất hủ của ông Phạm Văn Đồng … quá bậy bạ & ngu xuẫn. Ông trả lời báo chí Tây và nói rằng những người vượt biên là “thành phần đĩ điếm, xì ke, trộm cướp chạy theo tàn dư Mỹ Nguỵ”.
Dĩ nhiên, người di tản không phải là thành phần trộm cướp, mà thời đó đa số là thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam. Họ là những người học hành đàng hoàng (không có bằng dỏm tràn lan như ngày nay), họ được đào tạo bài bản từ các nước tiên tiến hay ngay trong nước. Họ là những chuyên gia rất tài giỏi của chế độ VNCH.
Họ có thể không tốt, không giỏi trong việc bắn giết ngoài chiến trường, nhưng họ là những người có học nghiêm chỉnh và có lòng nhân từ bác ái. Nếu có đi tị nạn thời đó và có dịp sống trong các trại tị nạn Đông Nam Á thời đó, các bạn thấy họ là những chuyên gia thứ thiệt, nói tiếng Anh không hề thua kém, thậm chí hơn hẳn, các quan chức Thái. Khi đến Thái Lan, họ rất dễ làm việc với người Mĩ và phương Tây vì cùng “bộ lạc” và nói cùng ngôn ngữ [tiếng Anh] nên rất dễ biết nhau.
Tôi nhớ hoài một kỉ niệm khi ở chung trại với một người mà lúc đó chúng tôi chỉ gọi là “Chú Ba Trung Tá”. Chú là người Bình Định, lúc đó chắc cỡ 50 tuổi nhưng đầu bạc trắng. Chú đi tị nạn một mình, nghèo rớt mồng tơi như tôi, suốt ngày chú chỉ có cái quần short và áo thun đã ngã màu vàng.
Chú từng là trung tá không quân thời VNCH và từng đi học ở Mỹ nhiều năm, nên chú nói tiếng Anh rất giỏi, y như người Mỹ. Nhưng chú có óc hài hước vui lắm, suốt ngày kể chuyện tiếu lâm.
Lúc đó, tôi có biết tiếng Anh tiếng U gì đâu, nên nhìn thấy cách nói chú tiếng Anh rất tự tin và tự nhiên, tôi phục sát đất, và trong lòng thì lo ngại chẳng biết bao giờ mình mới nói được như chú ấy.
Một hôm, phái đoàn Cao Uỷ tị nạn Liên Hiệp Quốc ghé trại làm thủ tục cho các thuyền nhân đi nhập trại Songkhla (cách đó vài trăm cây số), và chú Ba Trung Tá là người thay mặt nhóm làm thủ tục, điền đơn. Một quan chức Thái khen chú là “Your English is very good”, chú ba nhìn đám tụi tôi lúc đó đang đứng quanh chú, rồi cười nói bằng chất giọng nẫu: “Thằng mọi này nó khen tao nói tiếng Anh giỏi. Đồ dốt, tao nói giọng nước mắm, sao giỏi được.”
Tôi nhớ chú nói như thế. Nhớ hoài. Và nhớ câu tiếng Anh giọng nước mắm từ đó. Sau này, chẳng biết chú Ba Trung Tá định cư ở bang nào bên Mĩ, vì khi lên trại Songkhla chú chọn đi Mĩ (dĩ nhiên), còn tôi thì đi Úc.
Lúc đó, người miền Nam vẫn rất tự cao, và xem các dân tộc khác trong vùng là “mọi”. Thú thật, lúc tôi mới lên bờ Thái Lan, ở một vùng xa lánh gọi là Budi (gần biên giới Mã Lai), thấy xe hơi chạy vù vù, nhà cửa đâu ra đó, đường xá ngon lành, người thì nhìn có vẻ sáng láng, tôi thấy mình mới chính là mọi, chứ họ đâu phải là mọi mà văn minh hơn mình nhiều.
Những người như chú ba là thuộc thế hệ 1. Đó là thế hệ ưu tú của VNCH, đúng như ông Lý Quang Diệu từng nhận xét. Ông Lý từng lo ngại rằng nếu những người này có một hòn đảo để định cư thì có thể trở thành đối thủ cạnh tranh với Singapore của ông ấy.
Nếu chính quyền mới đối xử với họ đàng hoàng, trong tình anh em cùng một nhà, thì tôi nghĩ rất có thể Việt Nam mình không thê thảm như thời thập niên 1980 – 1990. Đọc những hồi kí cải tạo của họ mới thấy tiếc cho Việt Nam, có một đội ngũ chuyên gia giỏi mà không biết dùng, lại còn cho họ vào tù và tống khứ khỏi quê hương!
Anh bạn vong niên, là bác sĩ quân y thời đó mà tôi quen thường hay kể chuyện rằng lúc mấy bác ngoài Bắc vào tiếp thu tuy mang danh là “bác sĩ” nhưng họ rất kém, tên thuốc và bệnh danh viết còn sai tùm lum, còn kiến thức thì … ôi thôi quá tệ. Tệ đến nỗi người ta phải dùng danh từ “bác sĩ cách mạng” để phân biệt với bác sĩ nguỵ cho chắc ăn. Còn loại đỡ hơn chút thì suốt ngày ca ngợi … xuyên tâm liên và bo bo. Hài hước đến khó tin.
Nhưng những người đó, trớ trêu thay, lại là người điều hành bệnh viện. Đọc lại những câu chuyện mà các “bác sĩ” cách mạng này đối xử với mấy thầy cô ở BV Bình Dân còn ngao ngán hơn, giống như ếch nhái lên làm sếp vậy. Phải đợi đến khi ông Tôn Thất Tùng vào thì họ (các thầy cô miền Nam) mới được dễ thở và kính trọng hơn.
Điều đáng mừng là thế hệ thứ 2 thì khá hơn thế hệ thứ nhất nhiều. Lợi thế của thế hệ thứ 2 là họ hoàn toàn học hành bên này, do đó không tốn thời gian để hội nhập như thế hệ 1. Họ cũng có cơ hội bình đẳng hơn thế hệ 1. Do đó, không ngạc nhiên, thế hệ này có nhiều “ngôi sao”. Phần lớn là ngôi sao trong khoa học và giáo dục, chứ rất ít sao trong … quân đội. Thành ra, những người như Đại tá Lê Bá Hùng, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, Đ/tá Phi công Elizabeth Pham, đ/tá Lý Vĩnh Thắng, v.v. là những người khá hiếm hoi trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Thử tưởng tượng một người Á châu, nhỏ con, mà vươn lên hàng tá, tướng, thậm chí phi công chiến đấu cơ trong quân đội toàn người Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy họ xuất sắc như thế nào. Tôi thường hay nói với các bạn trẻ tuổi hơn là, người mình muốn ngang hàng với người Úc, người Mỹ thì mình phải “cao” hơn họ 2 cái đầu (nếu tiêu chuẩn là X thì được A, thì người mình phải phấn đấu có 2X) thì họ nới nể phục, chứ bằng họ thì chưa đâu. Mấy người mang hàm tá tướng này chắc chắn cũng phải hơn đồng nghiệp Mỹ “hai cái đầu”. Có thể nói không ngoa rằng họ là niềm tự hào của Việt Nam.
Dĩ nhiên, họ chỉ thành công khi ra nước ngoài làm người di tản thôi, chứ ở trong nước thì chắc gì họ được như ngày nay. Nói như Ts Võ Tá Đức là nếu còn ở Việt Nam thì có thể em cũng còn hành nghề đạp xích lô. Còn như Lê Bá Hùng nếu còn ở Việt Nam thì chắc chắn anh ta không thể vào đại học được do cái “lí lịch Nguỵ”.
Thời đó, chính quyền phân chia học sinh thành 10 (?) thành phần dựa vào lí lịch, và nếu là con “Nguỵ” thì đừng nghĩ đến chuyện vào đại học. Nghĩ lại mới thấy đúng là một chính sách ngu xuẩn và kì thị kinh khủng. Chính vì chính sách này mà nền giáo dục Việt Nam mới tệ như hiện nay, bởi vì ngay từ đầu cái hệ thống đó chỉ ưu tiên cho thành phần mà nếu thi thố tài năng một cách công minh thì họ không bao giờ được nhận vào học tại ĐH, chứ đừng nói đến giảng dạy. Nhưng mà thôi, chuyện cũ đã qua, bây giờ là lúc Việt Nam phải nhận những quả đắng do chính cái hệ thống đó gieo trồng. Không nên trách ai.
Đời người nghĩ cho cùng như một chuyến xe: ra đi rồi trở về. Trở về trong vị thế của Lê Bá Hùng là một biểu tượng quá đẹp. Nhìn hình ảnh anh ta được các đồng nghiệp hải quân Việt Nam tiếp đón tôi thấy vui trong lòng (hi vọng là các vị phía Việt Nam thật tình).
Những thành công của những người như Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Các Tướng Tá QĐ Mỹ như Lê Bá Hùng, Lương Xuân Việt, Elizbeth Phạm, Phạm Trần Anh Tuấn (và còn biết bao nhiêu người khác chúng ta chưa biết) là một minh chứng cho thấy người mình có thể sánh vai ngang hàng với các nước tiên tiến, ngay cả trong quân sự, nếu có điều kiện tốt và cơ hội bình đẳng.
Cái khó khăn hiện nay ở Việt Nam là làm sao tạo ra một môi trường bình đẳng và tạo cơ hội cho mọi người. Tôi e rằng đó là nhiệm vụ bất khả thi khi mà cái chủ nghĩa “con ông cháu cha” đang ngự trị trong xã hội. Nhưng những thành công của họ cũng là những sự thật sẽ còn chứng minh cho câu phát ngôn của ông Phạm Văn Đồng là mất dậy và ngu xuẩn…
httpv://www.youtube.com/watch?v=gaJ21kSX5es
Thánh Mác-cô
Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 2 đầu tuần tràn đầy sức mạnh và ơn sủng của Chúa. Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh Mác-cô, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.
Cha Vương
Thứ 2: 25/04/2022
Thánh Mác-cô là cháu của thánh Bác-na-ba. Người đã đi theo thánh tông đồ Phao-lô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, và theo đến tận Rô-ma. Người cũng là môn đệ của thánh Phê-rô và là thông ngôn của thánh Phê-rô, đã soạn lời giảng của thánh Phê-rô thành sách Tin Mừng. Truyền thống cho rằng người đã sáng lập giáo đoàn A-lê-xan-ri-a. (Nguồn: Kinh Phụng Vụ)
Những gì chúng ta biết về Thánh Mác-cô thì trực tiếp từ Tân Ước. Ngài thường được coi là nhân vật Mác-cô trong Tông Ðồ Công Vụ 12:12 (Khi Phêrô thoát khỏi ngục và đến nhà mẹ của Máccô).
Phao-lô và Bác-na-ba muốn đưa Mác-cô đi trong chuyến truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một vài lý do nào đó, Mác-cô đã ở lại Giêrusalem một mình. Trong cuộc hành trình thứ hai, Phaolô lại từ chối không muốn đem theo Mác-cô, bất kể sự nài nỉ của Bác-na-ba, điều đó chứng tỏ Mác-cô đã làm phật lòng Phao-lô. Sau này, Phao-lô yêu cầu Mác-cô đến thăm ngài khi ở trong ngục, điều đó cho thấy sự bất hòa giữa hai người không còn nữa.
Là Phúc Âm đầu tiên và ngắn nhất trong bốn Phúc Âm, Mác-cô nhấn mạnh đến việc Ðức Giêsu bị loài người tẩy chay trong khi chính Người là Thiên Chúa. Phúc Âm Thánh Mác-cô có lẽ được viết cho Dân Ngoại tòng giáo ở Rô-ma—sau cái chết của Thánh Phê-rô và Phao-lô khoảng giữa thập niên 60 và 70.
Cũng như các thánh sử khác, Mác-cô không phải là một trong 12 tông đồ. Chúng ta không rõ ngài có biết Ðức Kitô một cách cá biệt hay không. Một số sử gia cho rằng vị thánh sử này đã nói đến chính ngài trong đoạn Ðức Kitô bị bắt ở Giệtsimani: “Bấy giờ một người trẻ đi theo Người chỉ khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh, nhưng anh tuột tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Máccô 14:51-52).
Tương truyền thì Mac-cô thành lập Giáo Hội Alexandria (Ai Cập) và chịu tử đạo tại đó năm 68 (bị kéo lê trên đường đá cho đến chết). Thánh tích của ngài được đưa về Venice năm 815. Thành phố Venice, nổi tiếng với quảng trường San Marco, một vương cung thánh đường vĩ đại ở đây được cho là nơi chôn cất thánh nhân. Thánh Mác-cô là quan thầy của thành phố Venice và còn là quan thầy của những người làm nghề gương và các lục sự.
Dấu hiệu của Thánh Mác-cô là con sư tử có cánh, do bởi đoạn Mác-cô diễn tả Gio-an Tẩy Giả như một “tiếng kêu trong hoang địa” (Máccô 1:3), mà các nghệ nhân so sánh tiếng kêu ấy như tiếng sư tử gầm. Ðôi cánh của sư tử là bởi áp dụng thị kiến của Êgiêkien về bốn con vật có cánh cho các thánh sử.
LỜI BÀN: Cuộc đời Thánh Mác-cô đã hoàn tất những gì mà mọi Kitô Hữu được mời gọi để thi hành: rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ðặc biệt, phương cách của Thánh Mác-cô là qua sự viết văn. Những người khác có thể loan truyền Tin Mừng qua âm nhạc, nghệ thuật sân khấu, thi văn hay giáo dục con em ngay trong gia đình.
LỜI TRÍCH: Hầu hết những gì Thánh Mác-cô viết đều có đề cập đến trong các Phúc Âm khác — chỉ trừ bốn đoạn. Sau đây là một đoạn: “… Chuyện nước trời cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa” (Máccô 4:26-29). (Nguồn: Người Tín Hữu)
From: Đỗ Dzũng
Hai nước Phần Lan và Thụy Điển có thể trở thành hội viên Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong mấy tháng tới. Chủ trương ngoại giao của ông Vladimir Putin thất bại. Đây cũng là một bài học cho ông Tập Cận Bình.
Vladimir Putin và Tập Cận Bình quan niệm rằng nước lớn có quyền ra lệnh cho các nước nhỏ. Đó là lối suy nghĩ của các vị hoàng đế ngày xưa, kể cả các “Sa hoàng” cầm đầu đế quốc Nga hay các vị “thiên tử” thay trời “bình thiên hạ.”
Trước khi đánh Ukraine Putin nêu một lý do là khối NATO đã bành trướng về phía Đông, đe dọa an ninh Nga. Trung Cộng không kết án Nga xâm lăng Ukraine vì cũng đồng ý, thông cảm với mối lo lắng này. Nếu có ngày một nước láng giềng của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Miến Điện hay Kyrgyzstan muốn liên minh với một khối an ninh khác, Trung Cộng có thể nói mình bị đe dọa để ra tay trước.
Thế giới phải lo có ngày các nước nhỏ bị một cường quốc nêu cùng một lý do đó để xâm lăng, như số phận Ukraine. Họ đã công khai bác bỏ chủ trương cường quyền đó. Một tuần sau khi ông Putin đánh Ukraine, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhắc lại chủ trương phải tôn trọng chủ quyền các quốc gia, 141 nước đã bỏ phiếu yêu cầu Nga rút quân. Chỉ có 5 phiếu chống và 35 nước không tỏ ý kiến.
Đại sứ Martin Kimani nước Kenya đã ví cuộc xâm lăng của ông Putin như một nước thực dân trở lại đánh thuộc địa cũ. Ông Kimani rút kinh nghiệm châu Phi, nơi nhiều sắc dân sống rải rác trong các quốc gia mới thành lập, biên giới dễ gây tranh tụng. Ông nhấn mạnh quy tắc chống các nước lớn bành trướng bằng vũ lực, ép nước khác phải theo mình.
Nhưng các nước đồng ý phong tỏa kinh tế Nga vì xâm lăng Ukraine chỉ chiếm một phần ba dân số thế giới; phần lớn là các nước Âu Mỹ. Một phần ba thuộc những nước ủng hộ Nga, trong đó có Trung Quốc. Một phần ba còn lại sống trong các nước không bày tỏ thái độ, đặc biệt là Ấn Độ, các nước Saudi Arabia và United Arab Emirates vốn là đồng minh của Mỹ.
Những nước nhỏ ủng hộ Nga hoặc giữ thái độ trung lập không biết rằng chính họ có thể đến ngày bị xâm lăng với những lý do dựng đứng như ông Putin đã nêu ra. Cộng sản Việt Nam, Lào, quân phiệt Miến Điện ủng hộ Nga đánh Ukraine thì đến lúc bị Trung Cộng đánh sẽ chờ được nước nào cứu giúp?
Ông Putin nói rằng chính phủ Ukraine theo chủ nghĩa Quốc Xã (Nazi) và đàn áp người nói tiếng Nga. Tổng thống Volodymyr Zelensky nói tiếng Nga từ lúc ra đời; ông gốc Do Thái, một sắc dân đã bị Đức Quốc Xã giết sáu triệu người! Nước Ukraine có hàng trăm sắc tộc thiểu số, dân Nga đông nhất. Khi bị tấn công nhiều người gốc Nga đã chống cự hoặc bỏ chạy về phía quân đội Ukraine. Các nước khác ở Âu châu cũng rất nhiều dân gốc Nga; không những trong các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ mà ngay nước Đức cũng có ba bốn triệu người nói tiếng Nga. Rất nhiều nước sẽ bị đe dọa nếu ông Vladimir Putin tiếp tục tham vọng.
Tham vọng của ông Putin không chỉ giới hạn trong việc đánh chiếm lãnh thổ một nước láng giềng. Đánh Ukraine chỉ là một bước đầu; nếu thắng thế, ông sẽ có cơ hội xếp đặt một “trật tự” mới ở Âu châu; dùng áp lực buộc các nước nhỏ chung quanh ký hay không được ký các hiệp ước an ninh, thương mại, ngoại giao.
Đó cũng là ước muốn của ông Tập Cận Bình. Ngoại trưởng Trung Cộng đã từng nói thẳng rằng các nước nhỏ phải biết phận mình, không thể đứng ngang hàng nước lớn. Tất cả các lãnh tụ độc tài đều muốn một “trật tự thế giới” kiểu như vậy.
Trong thế giới văn minh, loài người sống với luật lệ. Một trật tự thế giới dựa trên pháp luật, các quốc gia lớn nhỏ đều phải được tôn trọng, như vậy mới hy vọng có hòa bình. Các quốc gia tự do dân chủ vẫn có tranh chấp nhưng thường không gây chiến với nhau bao giờ. Những lãnh tụ hiếu chiến chắc sẽ không được cử tri tín nhiệm lần thứ hai.
Ông Putin gieo gió nên gặt bão. Dân Ukraine đoàn kết chiến đấu, không phải vì ông tổng thống kêu gọi mà vì trong lịch sử các bộ lạc Cossacks là một thành phần quan trọng lập nên dân tộc này. Tên Cossack gốc từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ “kazak” có nghĩa là “dân tự do,” gồm các nhóm dân Tartar từ châu Á qua tụ tập trong vùng sông Dnieper từ thế kỷ 15. Họ đã được các Nga hoàng công nhận quyền tự trị.
Nhưng thất bại lớn nhất của ông Putin là chỉ hai tháng sau khi đánh Ukraine, các nước trong NATO đoàn kết với nhau hơn và sắp mở rộng thêm khi Phần Lan và Thụy Điển xin gia nhập. Cả hai nước này đều bảo vệ vai trò trung lập trong cả thế kỷ trước. Trong ba nước Bắc Âu chỉ có Na Uy ký kết vào NATO.
Tháng Giêng năm 2022, Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin còn nói rằng tham gia khối NATO là một chuyện xa vời, khó xảy ra. Ngày 13 tháng 4, Bà Marin gặp Thủ tướng Thụy Điển Magdalena Andersson; rồi tuyên bố đang xin khối NATO thu nhận. Bà Andersson cũng nói sẽ quyết định sớm.
Các chính phủ Phần Lan và Thụy Điển hành động theo ý muốn của cử tri. Năm 2019 hơn một nửa trong 5.5 triệu dân Phần Lan chống việc gia nhập NATO. Ngày 28 tháng Hai năm nay, bốn ngày sau khi Putin đánh Ukraine, tâm lý đã đảo ngược, theo báo Economist. Ngày 30 tháng Ba, 61% muốn vào, chỉ còn 16% chống, 23% không có ý kiến.
NATO là liên minh quân sự ra đời trong Chiến Tranh Lạnh gồm Mỹ và các nước Tây Âu nhằm đối phó với Liên Xô. Trong hơn nửa thế kỷ, NATO và Nga chỉ chung một đường biên giới dài 196 cây số, nơi Nga giáp với Na Uy. Sau khi Liên Xô và các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ, nhiều nước Đông Âu đã xin vào NATO. Năm 1999, thêm Ba Lan, ranh giới giữa NATO và Nga dài thêm 428 cây số, giữa Ba Lan và vùng Kalinigrad. Năm 2004, ba nước Estonia, Latvia và Lithuania miền Baltic mới tách khỏi Liên Xô cũng xin vào NATO, đường ranh dài thêm 1,233 km. Nếu thêm Phần Lan biên giới giữa NATO và Nga sẽ dài gấp đôi, thêm 1,340 km nữa.
Khi ông Putin chính thức yêu cầu NATO phải ngưng thâu nhận các hội viên mới, các nước Âu Mỹ đã trả lời bằng quan niệm chủ quyền quốc gia: Không nước nào có thể ép buộc các nước khác gia nhập hay không gia nhập bất cứ liên minh nào.
Sau năm 1990, khi các chế độ cộng sản sụp đổ, Ba Lan, Romania, Hungary, Bulgaria ở Đông Âu lần lượt xin vào NATO. Các nước thuộc Liên Xô cũ như Moldova, Lithuania, Latvia và Estonia cũng lần lượt gia nhập.
Bây giờ, ông Putin đánh Ukraine vì muốn chặn không cho NATO mở rộng, nhưng kết quả ngược lại. Đây sẽ là một bài học cho Tập Cận Bình. Dân Ukraine chịu gian khổ, đã hy sinh giúp cả thế giới ý thức về tai họa nước lớn bắt nạt nước nhỏ. Các quốc gia nằm cạnh Trung Quốc cần phải ủng hộ dân Ukraine, vì không biết bao giờ sẽ đến lượt mình!
Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ
***
LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ
Tưởng Năng Tiến
Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.
Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :
Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…
Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !
Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…
Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !
Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.
Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.
Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.
Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.
Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !
Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.
Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…
Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :
“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…
Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :
– Làm cốc uống nước…
Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.
Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).
Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :
“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.
Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.
Đó là một thời đã qua rồi !
Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.
Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.
Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :
“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.
Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…
Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.
Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).
Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?
– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.
Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.
Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?
– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?
– Thế còn đám công nhân ?
Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :
“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…
Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.
Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :
“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.
Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.
Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.
Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.
Tưởng Năng Tiến (Sổ tay Thường dân).
Đây là bức tranh “Người Ukraine đang ngồi trong hầm tránh bom” của Kinder Album
Kinder Album, là bút danh của một nữ nghệ sĩ sống ở miền tây Ukraine. Cô đã thề sẽ không bao giờ rời bỏ đất nước của mình. “Tôi không muốn đọc tin tức về chiến tranh,” cô nói, “Tôi cảm thấy điều quan trọng là phải ở lại và cảm nhận tất cả những sự kiện này. Tôi muốn thực sự trải nghiệm chúng. Toàn bộ bầu không khí sợ hãi, nơi trú ẩn và đe dọa, của các vụ đánh bom, đã giúp tôi tạo ra nghệ thuật của mình trong chiến tranh.
Còn tôi, một người đã trải qua chiến tranh thời còn nhỏ nhìn thấy trong bức tranh này người phụ nữ trung niên (rất giống mẹ tôi khi đó) là trung tâm của sức mạnh, bởi chắc chắn chồng và con trai lớn của chị đã ra chiến trường. Hai cánh tay dài ra che chở cho mẹ già, các con thơ và cả con chó cưng. Tất cả trái tim của họ đều bị tổn thương!
Fb Nguyễn Đình Bổn
BỨC TƯỢNG NGƯỜI LÍNH NGA VỚI CHIẾC BỒN CẦU DƯỚI NÁCH
Trích lược : Một nhóm các nhà thiết kế từ Kyiv đã chuẩn bị một đề xuất cho một bức tượng ô nhục để tưởng nhớ sự xâm lược của quân đội Nga ở Ukraine. Dự án của họ là bức tượng của một người lính với một chiếc bồn cầu dưới nách của anh ta.
– Gửi tên lính cướp bóc phân biệt chủng tộc – dòng chữ trên bệ ghi.
Trong số những tội ác kinh hoàng mà binh lính Nga gây ra ở Ukraine, người ta cũng nói nhiều đến nạn cướp bóc thông thường.
Một trong những lý do giải thích là quân đội Nga được tuyển chọn từ những cư dân từ các thị trấn và làng quê nghèo của châu Á và vùng Viễn Đông của Nga. Nhiều nhà phân tích nhấn mạnh rằng quân đội gồm phần lớn là các dân tộc thiểu số sống ở Liên bang Nga đã được điều đến Ukraine.
Nhiều người trong số này sống trong cảnh nghèo đói và không đủ tiền mua các thiết bị gia dụng cơ bản. Đối với những người như vậy, một chuyến
” CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ ĐẶC BIỆT “
là cơ hội để kiếm tiền mà họ sẽ phải làm việc trong nhiều năm. Trộm cắp, lấy đồ điện tử hoặc các thiết bị gia dụng “miễn phí” từ các căn hộ ở Ukraine là một khoản lợi nhuận bổ sung khổng lồ rất hấp dẫn.
Ở Ukraine, người Nga cướp hầu hết mọi thứ có thể lấy ra được: từ quần áo và đồ dùng đến máy giặt, tủ lạnh, TV và thậm chí cả toilet, chuồng chó….
Polska Wirtualna – GG lược trích
Từ fb Tan Khai Nguyen
Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.
Hôm nay Giáo Hội hoàn vũ mừng Kính Lòng Chúa Thương Xót, ước mong bạn hãy yêu thương như Chúa yêu thương bạn vậy nhé.
CN: 24/04/2022
TIN MỪNG: Hồi ấy, nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ… Nhiều người từ các thành chung quanh Giê-ru-sa-lem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành. (Cv 5:12a,16)
SUY NIỆM: Sứ vụ của các Tông đồ sau biến cố Phục Sinh là minh chứng cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Lòng Thương Xót mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Câu chuyện sau đây có thể giúp bạn hiểu được giá trị cao cả của hành động lòng Chúa xót thương:
Một buổi sáng sớm, có một ông lão bước đi trên bãi biển. Ông cúi mình xuống, nhặt những con sao biển và ném chúng trở về với lòng đại dương. Một thanh niên đi ngang qua và hỏi ông: “Này lão, lão đang làm gì đấy? ”.
Ông lão liền nói: “Những con sao biển này sẽ chết vì thiếu nước khi mặt Trời lên cao. Vì thế, ta ném chúng xuống biển để chúng có thể sống được”.
“Ha”! Chàng trai trẻ liền thốt ra những lời mỉa mai: “Có hàng triệu con sao biển trên bờ biển dài hàng dặm này thì việc làm của lão có ý nghĩa gì chứ”.
Ông lão nhìn con sao biển trên tay mình và sau đó ném nó trở về an toàn bên những con sóng. Ông liền nói: “Nó có ý nghĩa đối với sinh vật này”.
Điều gì bạn làm cho những người khác mới thực sự tạo ra sự khác biệt? Đó chính là những hành động của lòng xót thương. Vậy, bạn có phải là con người của lòng thương xót không? Có bao giờ bạn biện minh cho việc không thực thi lòng thương xót bằng câu nói “phớt đi” rằng: “Tôi không thể giúp đỡ tất cả mọi người”? Thiên Chúa đã đặt để bên cạnh bạn những con người mà bạn có thể giúp đỡ. Bạn có nhìn thấy những con người ấy chăng? Bạn có đồng cảm với nỗi đau khổ của họ? Bạn sẽ làm bất cứ điều gì có thể để giúp đỡ họ? Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.
LẮNG NGHE: Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (Tv 117:1)
CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa giàu lòng xót thương, xin cho con có được một tầm nhìn nhạy bén đối với các dấu chỉ, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, giữa giòng đời hôm nay và bên những người cùng sống với con, con có thể nhận ra được dấu chỉ của lòng thương xót Chúa. Xin dạy con biết cách yêu thương như Chúa. Yêu thương không chỉ là trao cho nhau những nụ cười xã giao, cũng không phải nắm lấy tay nhau để chào hỏi những câu dư thừa, hay chúc bình an cho nhau mà trong lòng vẫn còn tức tối. Nhưng yêu thương là phải thật lòng tha thứ và tận tâm giúp đỡ nhau.
THỰC HÀNH: Hôm nay bạn hãy chọn tha thứ/giúp đỡ thay vì chờ để được thứ tha/giúp đỡ.
From: Đỗ Dzũng
April 22, 2022
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – “Vùng đất mà sau nhiều năm ‘ngủ yên,’ đã được ‘đánh thức’ vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng chỉ mới ‘thức dậy’ mà chưa vươn lên mạnh mẽ. Người dân nơi đây phần lớn chỉ mới đủ ăn mà chưa khá giả, mặt bằng y tế, giáo dục chưa theo kịp cả nước.”
Báo Thanh Niên dẫn lời ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư CSVN, tại cuộc họp bàn phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra hôm 22 Tháng Tư.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long ít được đầu tư xa lộ như ở miền Bắc và miền Trung. (Hình: Zing)
Ông Trọng quả quyết rằng vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ thay hình đổi dạng nhờ một “nghị quyết” của đảng.
Theo đó, đến năm 2030, đồng bằng sông Cửu Long phải trở thành “vùng sinh thái, văn minh và bền vững, mang đậm bản sắc văn hoá sông nước, là trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới.”
Tiếp đó, đến năm 2045, vùng đồng bằng sông Cửu Long phải đạt mục tiêu “là vùng phát triển toàn diện, sinh thái, văn minh và bền vững, mang đậm bản sắc văn hoá sông nước; có trình độ phát triển khá so với cả nước; cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, hiện đại, phân bổ hợp lý và thích ứng với biến đổi khí hậu; kinh tế phát triển năng động…”
Tuy chủ đề của cuộc họp là tương lai của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng những người dự sự kiện này chủ yếu là “tứ trụ” và các ủy viên Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư. Do vậy, các báo chỉ có thể dẫn lời ông Trọng mà không có bất kỳ ý kiến nào khác của chuyên gia kinh tế, văn hóa, xã hội phản biện lại những lời của ông Trọng.
Theo giới quan sát, có lẽ do “chủ quan duy ý chí” và say sưa với “nghị quyết” mà Tổng Bí Thư Trọng không nhìn ra vấn đề lớn của đồng bằng sông Cửu Long là tình trạng xâm nhập mặn, mà theo báo VietnamPlus, “còn đang diễn biến phức tạp và phụ thuộc vào nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong.”
Ông Nguyễn Phú Trọng (giữa), tổng bí thư CSVN, tại cuộc họp bàn phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long. (Hình: VietNamNet)
Trong một diễn biến khác, báo Thanh Niên hôm 21 Tháng Tư đưa cảnh báo về mực nước sông Mekong “luôn ở trong tình trạng báo động đỏ, tăng giảm bất thường theo việc đóng, xả của các đập thủy điện.”
Báo này dự báo việc việc tích nước trong mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đang gây sạt lở dẫn tới tình trạng mất nhà cửa, tài sản, làm tan rã đồng bằng nhanh hơn.
Hệ lụy của việc này là nguồn lợi thủy sản tự nhiên từ mùa lũ bị sụt giảm nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sinh kế của rất nhiều người dân, nhất là dân nghèo ở miền Tây. (N.H.K) [qd]
23-4-2022
1. DÃ TÂM XÂM CHIẾM LÃNH THỔ
Cuối cùng thì lãnh đạo LB Nga không còn úp mở về dã tâm. Tướng Nga đã tuyên bố công khai, rằng mục tiêu giai đoạn hai là chiếm toàn bộ Donbass gồm Luhansk (26.683 km²) và Donetsk (26.517 km²) cùng miền Nam Ukraine, tạo thành một dải liền gồm Donbass, Nam Ukraine, Crimea (27.000 km²) và thông với vùng Pridnestrovie (4.163 km²) của Moldova. Pridnestrovie (Transnistria) là lãnh thổ của Moldavia, nơi quân đội Nga chiếm đóng từ năm 1992, tự thành lập nước cộng hoà, và tự tuyên bố ly khai khỏi Moldova.
Miền nam Ukraine được hiểu, tối thiểu là 4 tỉnh (vùng) Zaporizhia (27.183 km²), Kherson (28.461 km²), Mykolaiv (24.598 km²), Odessa (33.314 km²), chưa nói đến các tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²). Với mục tiêu giai đoạn 2, chính quyền Putin đang toan tính chiếm đoạt 32,1% lãnh thổ Ukraine, phần lãnh thổ giàu có nhất về công nghiệp và khoáng sản của Ukraine với diện tích của 7 tỉnh là 193.756 km².
Nếu khát vọng đất đai của kẻ xâm lược còn bao gồm thêm 2 tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²), thì chính quyền Putin toan cướp đi 250.267 km² trên tổng số 603.548 km² lãnh thổ Ukraine, tức là 41,47%.
Cùng với mục tiêu chiếm đoạt lãnh thổ Ukraine, chia cắt lâu dài đất nước Ukraine, chính quyền Putin còn muốn kéo dài biên giới Nga tiếp nối với biên giới Moldova, đồng nghĩa với việc Moldova (33.700 km²) sẽ mất vùng đất Pridnestrovie (4.163 km²), là mất đi 12,35% lãnh thổ.
Mới hay, xâm chiếm lãnh thổ Ukraine mới là mục tiêu lớn nhất của chính quyền Putin. Trung lập, NATO, phát xít… tất cả chỉ cái cớ để phát động chiến tranh nhằm cướp đoạt đất đai, mở rộng lãnh thổ. Cuối cùng thì kẻ xâm lược tự mình lật tẩy dã tâm.
2. BAO GIỜ THÌ KẾT THÚC GIAI ĐOẠN 2?
Chiến lược ban đầu của ông Putin là tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, “đánh nhanh thắng nhanh”. Mục tiêu “toàn cục” của Putin là chiếm trọn Ukraine qua việc khuất phục Kyiv cùng các thành phố lớn của Ukraine trong vòng 72 giờ để thành lập chính phủ thân Nga. Nhưng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của ông Putin đã thất bại. Sau 1 tháng giao chiến khốc liệt, với tổn thất rất lớn, khoảng 25% năng lực chiến đấu của 20 vạn quân Nga, ông Putin buộc phải rút khỏi các tỉnh Kyiv, Chernihiv, Sumy cùng với tuyên bố kết thúc giai đoạn 1 để chuyển sang giai đoạn 2.
Ở giai đoạn 2 mục tiêu về lãnh thổ đã thay đổi. Từ mục tiêu “toàn cục”, quân Nga đã phải chuyển sang mục tiêu “địa phương”: Không chiếm toàn bộ Ukraine mà chiếm một phần lãnh thổ phía Đông và phía Nam của Ukraine như đã nói ở trên.
Còn về chiến lươc “đánh nhanh thắng nhanh” đã thất bại thì có lẽ tương tự như chiến dịch Điện Biên Phủ, quân Nga sẽ ở trong tình thế “đánh chắc, tiến chắc”(?). Nhưng rõ ràng là cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga đều muốn kết thúc giai đoạn 2 càng sớm càng tốt. Còn sớm như thế nào thì ông Putin và các tướng lĩnh Nga không thể tự quyết định được, vì còn phụ thuộc vào phía Ukraine. Cho nên cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga chưa công khai về thời hạn kết thúc giai đoạn 2 của chiến tranh Nga- Ukraine.
Vũ khí hạng nặng bắt đầu đến với quân đội Ukraine. Cuộc chiến ở Đông và Nam Ukraine sẽ vô cùng khốc liệt. Người Ukraine sẽ không chịu mất đi 1/3 lãnh thổ. Nếu quân Nga chiếm được vùng nào thì cũng chỉ tạm thời. Các cuộc phục kích sẽ không bao giờ chấm dứt trên vùng đất bị quân Nga chiếm đóng.
Quân đội Nga không phải là nguồn vô tận để ông Putin tiêu phí hàng vạn sinh mệnh người Nga cho mục tiêu chiếm đất. Nước Nga không thể tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài nhiều năm.
Cuộc chiến tranh Nga – Ukraine nhất định phải kết thúc bằng một hoà ước. Hoà ước đến sớm hay muộn phụ thuộc vào tình thế trên chiến trường. Quân Nga càng tổn thất nặng, hoà ước càng đến sớm.
Có một thời hạn biết chắc là chiến tranh Nga – Ukraine phải kết thúc. Đó là lúc nước Nga không có Putin.
3. THAM VỌNG LÃNH THỔ VÀ KẺ XÂM LƯỢC
Các cuộc chiến tranh có thể không giống nhau về bản chất. Thế nào là chiến tranh xâm lược? Các định nghĩa có thể khác nhau. Nhưng có một nhân tố bất di bất dịch cho muôn đời để xác định bản chất của chiến tranh xâm lược. Đó là chiếm đất. Tiến hành chiến tranh để chiếm đoạt đất đai của nước khác thì mãi mãi là kẻ xâm lược, bất kể đội lốt dưới hình thức nào.
Trong nhiều bài học mà người Việt có được từ chiến tranh Nga – Ukraine, có bài học về tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược. Kẻ xâm lược không bao giờ ngừng tham vọng lãnh thổ. Kẻ tham vọng lãnh thổ sớm muộn cũng trở thành kẻ xâm lược. Từ đó mà xác định kẻ xâm lược và kẻ sẽ trở thành xâm lược.