Tất cả đều là VÔ THƯỜNG – GÓC SUY GẪM…

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Tất cả đều là VÔ THƯỜNG

1-Thời gian : Vô Thường

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới

Qua một ngày vui một ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày. Vui một ngày lãi một ngày.

2-Hạnh phúc : Vô Thường

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

3-Tiền : Vô Thường

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua ? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ !

Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó. (Khó lắm !?!?)

4- Đời sống : Vô Thường

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

5-Thê´Gian : Vô Thường

-Tiền bạc là của con (không chắc lắm) – Tài sản có thể bị mất vì các nguyên nhân:

1-Thiên tai,

2- Hỏa hoạn,

3- Pháp lênh của vua hay chính quyền tich thu, quốc hửu hóa,

4- Trộm cướp,

5- Con cái.

– Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

-Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

-Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

-Con tiêu tiền cha mẹ, thoải mái ; Cha mẹ tiêu tiền con, chẳng dễ.

-Nhà cha mẹ là nhà con ; Nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

-Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

–Ốm đau trông cậy ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư ? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư ? – Chỉ còn cách ấy.

-Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.

Chân lý của Đạo, thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

– Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

– Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

Sống ngày nào, vui ngày nấy ! Đó là giải thoát !

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ-Cha Vương

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ

Tháng 6 rồi bạn ơi! Bình an, hạnh phúc tiết độ đến vời bạn hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 01/06/2022

TIN MỪNG: Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2 Tm 1:7)

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ—Tiết độ là nhân đức nhân bản giúp ta kiềm chế sức lôi cuốn của dục vọng—những thú vui, giúp làm chủ bản năng và sử dụng chừng mực những của cải đời này. 

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong môi trường tràn ngập với những lời mời gọi hấp dẫn để đáp ứng cho nhu cầu dục vọng của con người. Mọi thứ “thượng vàng hạ cám” lẻn vào gia đình, vào mảnh vườn tâm hồn của bạn một cách quá dễ dàng qua các thiết bị vi tính điện tử, mạng Internet, v.v…  từ đó bạn trở nên u mê ù lì trong  cõi riêng tư của chính mình, rồi bạn theo đuổi những tham vọng của bản ngã, của những đam mê vô trật tự… bạn không cần ai nữa kể cả Thiên Chúa.  Một khi bạn nói “CÓ” một cách dễ dàng với “đủ thứ” chung quanh thì việc rèn luyện nhân đức tiết độ lại càng trở thành khó khăn và có khi được coi như là việc làm cổ lỗ sĩ nữa. Ngược lại khi bạn nói ‘KHÔNG’, bạn sẽ đương đầu với một cuộc chiến nội tâm. Cuộc chiến này sẽ giúp bạn nhận định ra địa vị của mình trong thế giới, trong môi trường sống của mình. Đôi khi bạn phải mạnh dạn nói “KHÔNG” với những cám dỗ, những hào nhoáng tạm thời, những tư tưởng nông cạn và tiêu cực… để bạn có thể nói “CÓ” với những gì có giá trị thật sự và thể hiện chúng bằng hành động với lòng yêu thương và trung tín. Để rèn luyện nhân đức tiết độ bạn phải làm quen với việc nói ‘KHÔNG’ để dành phần thắng trong cuộc chiến nội tâm này, chắc chăn nó sẽ dẫn bạn đến một cuộc sống bình thản và hạnh phúc hơn đó.

LẮNG NGHE: Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. (Tt 2:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin rửa sạch trong con những gì nhơ bẩn, và xin chữa lành trong con mọi vết thương của tội lỗi, và xin thêm sức cho con để con biết nói “KHÔNG” với những dục vọng của thế tục.

THỰC HÀNH: Người Anh có câu: “All things in moderation and moderation in all things” (mọi thứ phải điều độ và điều độ trong mọi thứ). Tự kiểm tra lãnh vực thể xác như ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, tình dục… bạn đang quá lố ở chỗ nào nhỉ? Tập sống một cách điều độ hơn.

From: Đỗ Dzũng

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

 Lê Hoàng Nam

Bài viết hay và đầy trách nhiệm của một công dân

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

Từ đầu thập niên 1950 đến nay, đã hơn 70 năm trôi qua, với sự ra đời của khoảng 3 thế hệ tiếp nối nhau. Vậy mà những gì thế hệ sinh vào những năm 1940 -1950 tại miền Nam đã trải qua, so với những gì mà thế hệ hôm nay đang chứng kiến, tưởng như là một giấc mộng dài.

Còn nhớ rõ vào đầu thập niên 1950, khi chúng tôi học Tiểu học, quyển Quốc văn Giáo khoa thư (và nhiều sách học khác) sờn cả bìa, cả gáy, vì được chuyền từ nhiều lớp đàn anh xuống nhiều lớp đàn em, chuyền từ ông anh xuống cô em trong gia đình. Những quyển sách học đó đã tồn tại từ ngày phát hành đầu tiên năm 1926 cho đến thập niên 1960!

Thời đó, hàng năm, Bộ Quốc gia Giáo dục của chế độ miền Nam chỉ ban hành chương trình học chi tiết cho cả năm mà không hề kèm theo một bộ sách giáo khoa bắt buộc nào. Thầy cô giáo bằng vào kiến thức trong đầu, những sách vở mình có được, dạy sao miễn đáp ứng được yêu cầu do chương trình của Bộ đề ra, học sinh thi đỗ nhiều. Tôi còn nhớ rõ, năm 1959, thầy Nguyễn Duy Diễn dạy Việt văn, thầy Tạ Thanh Sơn dạy Sử Địa cho chúng tôi, khi vào lớp chẳng mang theo sách vở gì, cứ đứng trên bục giảng mà thao thao bất tuyệt.

Vào những thập niên 1950-1960, tại miền Nam, trong các kỳ thi Trung Học Đệ nhất cấp (Phổ thông cơ sở), Tú Tài I (hết lớp 11), Tú Tài II (Phổ thông Trung học), tỉ lệ số thí sinh thi đỗ thường chỉ đạt từ 25 – 45%, hầu như không bao giờ đạt đến mức 50%. Đó là tỉ lệ xác định đúng thực chất kết quả học tập của học sinh cả nước, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy mỗi em phải cố gắng học tập để không phải ở lại lớp cũ nhiều lần.

Sách tham khảo để đọc bổ sung vào kiến thức nhà trường thì trăm hoa đua nở, do các thầy cô giáo, công lập cũng như tư thục, soạn thảo với tư cách cá nhân, sách nào học sinh thấy hay, phù hợp với nhu cầu kiến thức của mình thì mua về đọc. Sách của ông bà Tăng Xuân An, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Duy Diễn, Bùi Hữu Đột, Bùi Hữu Sủng, Trần Bích Lan, Trần Văn Hiến Minh, Nguyễn Văn Mùi … chen vai thích cánh trên thị trường sách đọc một cách thật bình đẳng và lành mạnh, Bộ QGGD không can thiệp vào quá trình biên soạn, in ấn và phát hành bao giờ.

Ngày nay, sau hàng 60-70 năm, nền giáo dục hiện đại đặt ra cho mỗi chúng ta nhiều điều để lo nghĩ. Đó là những chính sách giáo dục lấy thành tích ảo và lợi nhuận làm tiêu chí hàng đầu. Học sinh phải thi đỗ gần 100% thì nhà trường, thầy cô mới không bị khiển trách, từ đó, các em ỷ lại vào kết quả đoán trước được, không phấn đấu trong học tập, vì không ai dám đánh rớt mình. Lấy cớ cần phải “cải cách giáo dục” hàng năm, sách giáo khoa in xong, ngốn khối tiền của phụ huynh học sinh, qua năm sau trở thành mớ giấy lộn! Với vài chục triệu học sinh các cấp, hàng năm người ta thải ra hàng chục triệu mớ giấy lộn như thế!

Đất nước còn nghèo, nhiểu bậc cha mẹ còn lam lũ, khổ sở với từng miếng ăn, vậy mà cứ vào mỗi đầu niên học lại đối mặt với cơn ác mộng sách giáo khoa và nhiều thứ quỹ không tên của nhà trường. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ, mà quan trọng hơn cả, còn là vấn đề đạo lý nữa. Bởi vì ai cũng biết rằng hàng năm, lượng sách giáo khoa in mới ngốn một ngân khoản khổng lồ từ túi tiền của đa số dân nghèo. Kết quả hoạt động giáo dục theo chiều hướng kinh doanh đó thu về cho ngân sách quốc gia bao nhiêu, còn bao nhiêu chảy vào túi người soạn sách, kẻ in sách, kẻ phát hành sách thì chỉ có … trời biết!

Điều khiến cho nhiều người dân … không vui là những vấn đề chúng ta nói đến hôm nay đã được nhắc đi nhắc lại từ rất nhiều năm trước. Vậy mà những người làm giáo dục vẫn bình chân như vại, xem như nước đổ lá khoai. Thậm chí không ít lần, dư luận dành cho cá nhân người cầm đầu nền giáo dục nước nhà những ngôn từ thiếu tôn trọng, khiến cho những ai quan tâm đến vận mệnh của thế hệ trẻ không khỏi đau lòng.

Thiển nghĩ, vấn đề giáo dục hiện nay, trong đó nổi cộm là vấn đề sách giáo khoa, nội dung chương trình giảng dạy và cách giảng dạy, cần được xem là vấn nạn lớn của cả nước, không chỉ riêng của Bộ Giáo dục. Toàn bộ bộ máy đầu não của quốc gia, từ Quốc Hội, Chính phủ, các cơ quan liên bộ trở xuống, cần được vận dụng để gỡ cho xong cái mớ bòng bong giáo dục đang thít chặt vào cuộc sống lầm than của đại bộ phận người lao động trong nước.

Với tư cách là những người đóng thuế để nuôi bộ máy chính quyền, mọi người dân có quyền đòi hỏi tinh thần trách nhiệm của những người sử dụng các đồng tiền thuế đó.

Lê Nguyễn

30.5.2022

Con chim tu hú đẻ nhờ

Con chim tu hú đẻ nhờ

June 1, 2022

Truyện ngắn của Quyên Di

GARDEN GROVE, California (NV) – Mùng Bốn Tết… Bầu trời trong xanh mà vẫn có những hạt mưa bụi lấm tấm. Mẹ tôi bảo đó là mưa Xuân.

Đôi chim. (Minh họa: Jenny Friedrichs/Pixabay)

Ông Hồng Châu, bố chị Bích Khuê, khẽ đọc mấy câu thơ Nguyễn Bính:

“Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,
Mẹ già chưa bán chợ làng xa. 

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.”
 (1)

Người lớn ngồi nói chuyện với nhau và chơi tam cúc. Bà Hồng Châu khoe có đôi “tịnh vường.” (2) Ông Hồng Châu bảo vợ: “Mợ khéo là hay! Chơi tam cúc mà có gì lại bày ra cả! Thế là làm sao!” Hình như bà Hồng Châu hiểu theo nghĩa khác, hai má đỏ ửng, sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, nghiêm chỉnh hơn. Bố tôi liếc nhìn mẹ tôi thật nhanh. Hai ông bà cười kín đáo.

Các anh chị em tôi mải mê với mấy xu và hào được mừng tuổi. Chị Bích Khuê xin phép bố mẹ chị và bố mẹ tôi đưa tôi ra cánh đồng xem hoa cỏ mùa Xuân. Bố mẹ chị Bích Khuê bằng lòng. Mẹ tôi thì dặn với: “Đi chơi cho vui. Mà cô Bích Khuê nhớ đưa em nó về sơm sớm nhé, ngộ nhỡ mưa ướt đầu, cả hai chị em bị cảm.”

Cả gia đình ông bà Hồng Châu và gia đình bố mẹ tôi đều là người Hà Nội. Chiến tranh khiến hai nhà phải tản cư, trôi dạt nhiều nơi, cuối cùng đến làng Thượng Vĩ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cha xứ và người dân xóm đạo ở đấy thương chúng tôi, cho vào ở chung một nếp nhà gỗ rộng rãi mà chủ nhà đã đi đâu xa mãi không thấy về. Ông bà Hồng Châu giữ đạo thờ Tổ Tiên. Gia đình tôi theo đạo Công Giáo. Thế mà hai gia đình sống chung với nhau rất hòa hợp.

Năm ấy tôi mới lên 6. Chị Bích Khuê hơn tôi 9, 10 tuổi chi đó. Hai chị em hợp tính nhau, cùng thích thiên nhiên cây cỏ, không ưa nơi tụ họp đông đảo, ồn ào. Vì thế mà hai chị em gần gũi nhau. Chị Bích Khuê thương tôi như em ruột của chị. Chị là con một, không có em trai, em gái nào cả.

Bao giờ đi đâu với nhau tôi cũng đòi chị Bích Khuê cầm tay dắt đi. Bàn tay chị mềm, mát mà lại ấm. Tôi không biết diễn tả thế nào cho rõ. Thật thế, bàn tay chị mát và ấm.

Hôm nay chị Bích Khuê mặc áo cánh màu xanh nõn chuối, trông chị như một cây chuối non, tươi tắn và đầy sức sống. Thật ra chị có cái áo dài màu hồng đẹp tuyệt. Chị mặc cái áo ấy suốt trong ba ngày Tết. Nhưng hôm nay đã là Mùng Bốn, không còn phải chào khách đến nhà nữa, chị không phải diện áo dài mà mặc áo cánh. Với lại, đi ra cánh đồng, ai lại mặc áo dài tha thướt!

Tôi ngước mắt nhìn chị, hỏi: “Chị Bích Khuê này, lúc nãy chị có nghe bố chị đọc mấy câu thơ gì không?” Chị trả lời: “Có. Mà chị không nhớ hết.” Tôi cười: “Thế mà em nhớ hết đấy! Chị Bứt Huê phục em không?” Chị cũng cười: “Chị phục em chứ…” Rồi trêu tôi: “Phục nhất là cách Chúc gọi tên chị.” Tôi đỏ mặt, vùng vằng: “Chị lại trêu em! Em không chơi với chị nữa!”

Chả là tôi có tật nói ngọng. Mà tên chị, cả hai tiếng tôi đều nói ngọng. “Bích” thì tôi nói thành “Bứt,” vì không phát âm được những tiếng có vần “ich.” Còn “Khuê” thì tôi nói thành “Huê,” vì không phát được âm “khờ” mà chỉ phát được âm “hờ” thôi.

Chị Bích Khuê vẫn cười, còn dọa: “Nếu Chúc không chơi với chị thì chị bỏ tay Chúc ra, không dắt nữa nhé!” Rồi chị làm như muốn buông tay ra thật. Tôi cuống quýt: “Ấy, chị đừng buông tay em! Em chơi với chị… suốt đời…”

Chị Bích Khuê cười thật tươi. Tôi không biết ví nụ cười của chị tươi như gì, đành ví nụ cười ấy như hoa chuối nở đỏ, lấp ló sau tàu lá xanh mướt. Thấy chị cười, tôi yên tâm.

Một lát sau, tôi tiếp tục câu chuyện bỏ dở: “Em nhớ hết mấy câu thơ bố chị đọc đấy. Mà em còn biết đổi thành câu thơ khác nữa cơ!”

Đôi mắt chị Bích Khuê đen láy như hạt nhãn, đã tròn, bây giờ lại tròn hơn. Chị nói: “Chúc nói thật đấy à? Mà Chúc đổi thành câu thơ khác như thế nào?”

Bầy chim di cư. (Minh họa: Jplenio/Pixabay)

Tôi nhẩn nha đọc:

“Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.”

Đây là câu thơ bố chị đọc. Bây giờ em đổi lại thành:

“Lòng chị còn như cây lụa trắng,
Mẹ hiền chưa gả chị làng xa.”

Cho đến bây giờ tôi vẫn lất làm lạ lùng cho trí nhớ của đứa bé 6 tuổi là tôi thuở ấy. Chả biết sao, cái gì có tí thơ phú là tôi nhớ ngay, mà đã nhớ thì không quên nữa.

Chị Bích Khuê, hai má đỏ hây hây. Chị nắm tay tôi chặt hơn một tí, rồi hỏi, giọng không được tự nhiên: “Chúc còn bé! Biết gì là gả với cưới! Chỉ nói xằng thôi!” Tôi cãi ngay: “Em biết chứ! Gả là bố mẹ chị cho chị đi lấy chồng, đúng không?” Chị Bích Khuê bảo: “Thì đúng. Nhưng mà đến lúc ấy thì chị không dắt Chúc đi chơi nữa đâu.” Tôi trả lời ngay: “Em biết! Thế nên em mới nói ‘Mẹ hiền chưa gả chị làng xa’ đấy.” Rồi tôi xui chị: “Hay là chị đừng lấy chồng. Chị dắt tay em đi suốt đời nhé, nhé!” Chị Bích Khuê bảo: “Em tôi nói nhảm rồi. Thôi, không nói chuyện ấy nữa!”

Có tiếng con chim gì nó hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó là hàng loạt các tiếng chim khác hót loạn cả lên. Tôi hỏi chị Bích Khuê: “Chị có nghe cái con chim gì nó hót buồn cười quá đấy không? Nó hót cái gì mà tu hú, tu hú… À, mà chị này, anh Tuấn nhà em muốn đi tu đấy!”

Chị Bích Khuê bật cười: “Anh Tuấn nhà em định đi tu à? Anh ấy tu… hú đấy!” Tôi hỏi: “Thế là làm sao hở chị?” Chị trả lời: “Nghĩa là anh ấy không tu được đâu. Anh ấy đẹp giai quá mà cũng nghịch quá, hay nói bông lơn… trêu chị!”

Anh Tuấn và chị Bích Khuê sàn sàn tuổi nhau. Anh Tuấn đẹp giai, vui tính. Chị Bích Khuê không khó chịu anh Tuấn khi anh ấy trêu chị, nhưng hai người hình như chẳng có tình ý gì với nhau. Chị xem anh Tuấn như ông anh… đồng tuổi.

Con chim lúc nãy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Cả một đám chim khác lại tranh nhau hót lên loạn xạ. Tôi giật giật tay chị Bích Khuê, hỏi: “Đâu? Đâu? Con chim ấy đâu, em không thấy! Chị chỉ cho em thấy đi!” Chị Bích Khuê trả lời: “Nó đậu trên tận ngọn cây cao, chị cũng không thấy. Nhưng mà chị biết nó.” “Biết là biết thế nào hở chị?” “Biết là biết nó bạc lắm!” Tôi nói: “Nó bạc lắm à? Thế ra lông nó trắng như bạc à? Vậy chắc nó đẹp lắm, phải không chị?” Chị Bích Khuê đáp: “Không, lông nó đen đủi. Nó xấu lắm. Xấu cả hình dạng lẫn tính nết.”

Con chim xấu xí ấy lại hót “tu… tu… hú… tu… tu… hú…” Sau đó bầy chim đủ loại lại hót loạn xạ. Chị Bích Khuê bảo: “Đấy! Chim tu hú xấu lắm, ác lắm nên những con chim khác cùng nhau hót to đuổi nó đi đấy!”

Thế rồi chị cắt nghĩa cho tôi hiểu. Chị bảo người ta dựa vào tiếng nó hót mà đặt tên cho nó là chim tu hú. Mỗi khi một con tu hú kêu là nó thông báo cho các con chim khác biết nó đã chiếm cái lãnh thổ này rồi, những con tu hú khác lo mà tránh xa. Mà ngay cả các loài chim khác cũng liệu thần hồn. Tiếng chim tu hú kêu cũng là tín hiệu của con chim trống rủ rê con chim mái đến gặp nó. Chúng ở với nhau rồi con chim mái đẻ trứng. Tu hú mái không chịu làm tổ để đẻ mà nó đẻ nhờ vào tổ một loài chim khác. Thường thì nó chọn tổ chim chích hay cà cưỡng vì trứng những loại chim này với trứng của nó có độ to giống nhau. Nó đánh lừa cho chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ tưởng trứng của nó cũng là trứng của con chim ấy. Mà nó ác lắm! Khi đẻ một quả trứng vào tổ con chim kia rồi, nó lấy chân, lấy mỏ hất một quả trứng của con chim kia cho rơi xuống đất. Chim chích mẹ hay cà cưỡng mẹ ngây thơ lắm, “đếm” thấy số trứng vẫn nguyên như thế thì cho đó đều là trứng của mình nên ấp tất cả. Trứng tu hú nở ra con sớm nhất. Còn bé mà đã gian ngoan, nó hất tất cả những quả trứng trong tổ xuống đất, để một mình nó hưởng thức ăn của chim mẹ đem về và vì thế nó lớn như thổi. Đến khi nó đủ lông đủ cánh thì vụt bay đi không hề lưu luyến.

Cắt nghĩa xong chị bảo: “Đấy chị bảo nó bạc là vì nó vừa độc ác vừa vô ơn, chứ không phải là lông nó trắng như bạc đâu. Phải nói là nó bạc ác mới đúng. Vì thế mà khi nó cất tiếng hót thì tất cả các loài chim khác đều cất lớn tiếng mà xua đuổi nó. Kẻ bạc ác thì chẳng được ai thích cả.”

Tôi nghe chị nói xong thì lòng buồn rười rượi. Lần đầu tiên thằng bé 6 tuổi biết được trên đời có những kẻ bạc ác. Hóa ra không phải tất cả mọi sinh vật đều tốt. Nó chợt hiểu người ta cũng vậy, không phải ai cũng tốt.

Ra đến cánh đồng, hai chị em hầu như quên con chim tu hú bạc ác để say sưa với cảnh đẹp thiên nhiên. Cỏ non xanh mát trên cánh đồng mênh mông. Mưa Xuân trang điểm những ngọn cỏ bằng những viên ngọc bé tí sáng long lanh. Có những cây mơ mọc dại nở hoa trắng toát, nhẹ lay động trong gió Xuân. Chị Bích Khuê nắm tay tôi mà chạy chân trần trên cánh đồng. Khuôn mặt chị ngước lên. Đôi chân chị như bay bổng lên khỏi mặt đất. Chị đẹp và thanh thoát như một cô tiên.

Nếu là chim sẽ không làm chim tu hú. (Minh họa: Evren Ozdemir/Pixabay)

Sau này lớn lên, tôi mê thơ cổ, đọc những câu thơ của Thôi Hiệu:

“Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục hà trì,
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.”
 (3)

Tôi lại nhớ đến buổi đi chơi Xuân hôm ấy. “Phương thảo địa” của người xưa chắc cũng chỉ đẹp như cánh đồng làng Thượng Vĩ ngày đầu Xuân là cùng.

Thế rồi tôi lại đọc bài thơ “Xuân Tứ” của Lý Bạch:

“Yên thảo như bích ty,
Tần tang đê lục chi.
Đương quân hoài quy nhật,
Thị thiếp đoạn trường thì.
Xuân phong bất tương thức,
Hà sự nhập la vi?” 
(4)

Tôi cũng lại nhớ đến cánh đồng làng Thượng Vĩ. Cỏ nước Yên có biếc như tơ thì cũng chỉ biếc như cỏ cánh đồng Thượng Vĩ là cùng.

Rồi tôi đọc lục bát trong truyện Kiều: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” (5) thì thấy chẳng khác gì cảnh cánh đồng Thượng Vĩ, cũng “cỏ non xanh tận chân trời.” Còn hoa lê trong truyện Kiều biến thành hoa mơ trong cánh đồng Thượng Vĩ.

Nhớ lời mẹ tôi dặn, chị Bích Khuê đưa tôi về. Hai chị em hầu như quên mất con tu hú bạc ác, nếu trên đường về không gặp nó nữa. Ngờ đâu lúc đi ngang qua chỗ cũ, hai chị em lại nghe tiếng tu hú kêu. Chị Bích Khuê khe chau mày, nói nho nhỏ: “Ơ hay cái con tu hú này, sao mày về đây sớm thế? Người lớn bảo đến Tháng Ba tu hú mới về đẻ trứng cơ mà!” Lần đầu tiên tôi thấy miệng chị Bích Khuê thốt ra tiếng “mày.” Chắc là chị giận con tu hú lắm!

Nhưng rồi chị lấy lại bình tĩnh, ân cần dạy tôi: “Mình đã nương nhờ đâu thì phải biết ơn những người ở đấy. Như nhà hai chị em mình đang nương nhờ người xóm đạo làng Thượng Vĩ thì phải biết ơn cha xứ và giáo dân ở đây. Được nương nhờ mà về sau không biết ơn thì không sống phải đạo làm người.”

Chị nói năng, dạy bảo tôi như một người lớn.

Những ngày mùa Xuân qua đi và rồi những ngày tản cư của chúng tôi cũng qua đi. Khi thấy có những dấu hiệu bất an, ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi bàn bạc với nhau rồi cuối cùng cả hai gia đình đều hồi cư Hà Nội. Ông bà Hồng Châu và bố mẹ tôi khôn ngoan hơn chim chích hay cà cưỡng mẹ nhiều. Khi thấy không an toàn, bố mẹ chị Bích Khuê và bố mẹ tôi đều “dọn tổ” mà đi để cả gia đình, nhất là con cái không lâm vào tình trạng bất an, nguy hiểm.

Một ngày nọ có người từ Thượng Vĩ trốn được về Hà Nội, đến nhà tìm bố mẹ tôi. Người này kể rằng cha già Nến, cha xứ xóm đạo, bị người ta xông vào nhà xứ bắt đi. Họ trói hai tay cha lại, buộc vào đuôi một con trâu. Con trâu kéo cha chạy rong khắp làng với đôi chân khẳng khiu không giày dép. Theo sau là những kẻ cầm roi dâu đánh đập cha túi bụi. Họ kết tội cha là quân gian ác, bóc lột dân nghèo! Trong số những người đánh đập cha có cả những người tản cư, được cha và giáo dân ở đây giúp đỡ nơi ăn chốn ở. Khốn thương! Cả đời cha chỉ biết cưu mang người cùng khổ mà bây giờ bị kết tội là quân gian ác bóc lột dân nghèo. Chắc những người này có họ hàng ruột thịt với chim tu hú!

***

Gia đình chúng tôi di cư vào Nam, được chính phủ cho tạm cư ở bệnh viện Bình Dân đôi ba tháng. Sau đó bố mẹ tôi gom góp, vay mượn, mua được một căn nhà gỗ ở cuối chợ Vườn Chuối. Hàng xóm của chúng tôi toàn là bà con miền Nam hiền lành, bộc trực và chất phác. Họ giúp đỡ chúng tôi, những người chân ướt chân ráo đến cư ngụ trong khu xóm này, một cách thật thà, không chút tư lợi. Tôi lớn lên ở đó cho đến ngày vượt biên tìm đất sống khác. Tôi nương nhờ xã hội Mỹ mà xây dựng cuộc sống mới, mang ơn đất nước, xứ sở này.

Rất nhiều lần, gã đàn ông không còn tuổi trẻ là tôi nhớ về xóm đạo làng Thượng Vĩ, nhớ cha già Nến. Nhớ xóm chợ Vườn Chuối. Nhớ những ngày đầu trên đất Mỹ. Tôi nhớ và nhớ ơn. Tôi không muốn làm con chim tu hú.

Và tôi nhớ chị Bích Khuê. Nhớ bàn tay mềm mại, mát mà ấm của chị. Nhớ hôm Mùng Bốn Tết chị mặc áo cánh màu xanh nõn chuối. Nhớ chị tươi mát như một thân chuối non. Nhớ nụ cười thắm của chị như hoa chuối đỏ tươi lấp ló sau tàu lá chuối xanh.

Chị Bích Khuê ơi, suốt đời em nhớ chị mặc dù em không được “chơi với chị suốt đời,” cũng không được chị nắm tay dẫn đi suốt đoạn đường trần. Tôi nhớ lời chị dặn: nương nhờ ai thì phải biết ơn, đừng bạc ác như con chim tu hú.

Em không muốn làm chim tu hú. Tôi nhớ lời chị dặn: nương nhờ ai thì phải biết ơn, đừng bạc ác như con chim tu hú. Em nhất định không làm chim tu hú. Suốt đời! [qd]

Chú thích:

(1) “Mưa Xuân,” Nguyễn Bính.

(2) “Tịnh vường”: tượng vàng. Thật ra là đôi “tượng đỏ” (tịnh hồng) trong bộ bài tam cúc.

(3) Mùa Xuân dạo chơi trên miền đất có cỏ thơm. Mùa Hạ thưởng ngoan ao sen xanh. Mùa Thu uống rượu hoa cúc. Mùa Đông ngâm bài thơ tuyết trắng.

(4) Cỏ nước Yên xanh biếc như tơ. Cây dâu nước Tần lả cành xanh xuống. Đang lúc chàng nhớ đến ngày trở về thì cũng chính là thiếp đau lòng đứt ruột. Gió Xuân và thiếp không hề biết nhau. Hà cớ gì mà lọt vào màn của thiếp?

(5) “Đoạn Trường Tân Thanh” (câu 41, 42,) Nguyễn Du.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Blog VOA

Trân Văn

1-6-2022

Một lớp học tại trường Nhị Đồng, Bình Dương. Hình minh họa. Nguồn: VNN

Học phí ở tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) đã tăng, đang tăng và sẽ còn tiếp tục tăng chưa biết đến khi nào thì ngừng, thậm chí tăng vài lần, có nơi như TP.HCM, học phí THCS tăng gấp năm lần (1). Học phí đại học cũng thế (2). Ngoài học phí, giá bán sách giáo khoa cũng tăng từ hai đến ba lần (3). Giáo dục tại Việt Nam đã, đang và sẽ không còn là cơ hội cho tất cả mọi người!

Ai cũng biết, không có bình đẳng trong giáo dục sẽ không thể nào đạt được bình đẳng trong xã hội. Làm sao có thể xây dựng một… “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” khi càng nghèo càng thua thiệt, đặc biệt là thua thiệt trong cơ hội thụ hưởng phúc lợi trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao hoạt động giáo dục cho tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông của đa số quốc gia trên thế giới hoàn toàn miễn phí mà Việt Nam lại đi theo hướng ngược lại?

Vì sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam liên tục… “đổi mới”, liên tục… “cải cách” nhưng càng… “đổi mới”, càng… “cải cách” thì những phúc lợi công cộng vốn dĩ là nền tảng của một xã hội lành mạnh càng giảm? Chẳng hạn khi… “đổi mới sách giáo khoa” để “cải cách giáo dục” thì nội dung sách giáo khoa càng lắm điều để bàn và sách giáo khoa trở thành loại sản phẩm số đông không dễ chạm tới, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới chạm được, khác với đa số trong phần còn lại của nhân loại – được cấp phát!

Sách giáo khoa vốn là loại sản phẩm cần cập nhật thường xuyên. Bởi hàm lượng tri thức trong sách giáo khoa cần phải vừa đủ, vừa đúng với thực tại, giá sách giáo khoa thường không rẻ. Thù lao không xứng đáng, không mấy người có khả năng muốn bỏ sức làm công việc vốn chẳng dễ dàng này. Tuy nhiên ở nhiều xứ khác, phụ huynh không cần phải bận tâm đến giá sách giáo khoa cũng như các ấn phẩm hỗ trợ con cháu họ học tập. Chính quyền – được trả lương để quản trị, điều hành – phải giải quyết điều đó.

Ở Việt Nam, “dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng”, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đã dùng… “xã hội hóa” chuyển nghĩa vụ của họ trong những lĩnh vực vốn là phúc lợi công cộng thành trách nhiệm công dân, chất gánh nặng giáo dục, y tế lên vai và lưng của dân chúng. Điểm khác biệt ấy giữa “chế độ xã hội chủ nghĩa” với đa số thuộc phần còn lại của nhân loại được định nghĩa là… “sự ưu việt”. Không thừa nhận… “sự ưu việt” này sẽ bị loại trừ.

Xét về bản chất, chỉ trích Bộ trưởng Giáo dục nói riêng và ngành giáo dục – đào tạo nói chung là… bất bình theo… định hướng. Chính phạm không phải là Bộ trưởng Giáo dục và ngành giáo dục – đào tạo. Phải chất vấn Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, rằng vì sao đảng giành quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối mà nghèo lại phải chịu thua thiệt về đủ mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao “đổi mới” và “cải cách” trong tất cả các lĩnh vực lại chỉ tạo ra cơ hội cho thiểu số có liên quan?

***

Giáo dục – đào tạo chỉ là một lĩnh vực vốn phải trở thành phúc lợi công cộng nhưng càng ngày càng xa tầm với của thành phần yếu thế. Y tế cũng vậy! Câu chuyện bé gái bốn tuổi, ngụ ở thôn Ma Y, xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, mới uổng mạng vì bị rắn cạp nia cắn nhưng các bệnh viện từ huyện đến tỉnh bó tay chỉ vì không có huyết thanh kháng nọc rắn là một ví dụ cho thấy sự tàn bạo, phi nhân của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đối với tính mạng, sức khỏe của công dân.

Giá huyết thanh kháng nọc rắn chỉ ngang với các loại dược phẩm thông thường. Không chỉ Bệnh viện huyện Sơn Hòa, Bệnh viện tỉnh Phú Yên không có mà các bệnh viện chuyên khoa nhi hàng đầu ở miền Nam Việt Nam như Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2 ở TP.HCM cũng không có. Lý do các bệnh viện không có được giải thích là vì nhu cầu tiêu thụ thấp, giá bán thấp, lợi nhuận không đáng kể nên các doanh nghiệp có quyền nhập cảng dược phẩm không mua và Bộ Y tế không thèm lo (4)!

Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chẳng bao giờ bận tâm đến những chuyện thuộc loại như vậy. Tại Việt Nam, các lĩnh vực vốn được thên hạ xác định là phúc lợi công cộng đều đã được… “xã hội hóa”, có nghĩa là dân chúng phải tự cứu lấy mình, không tự cứu được thì… thôi. Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền chỉ bận tâm đến chuyện làm sao để đảng tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối để… tiếp tục xây dựng CNXH!

Cuối tuần vừa rồi, Hà Nội lại ngập nặng. Chỉ trong vòng một tuần, nhiều thứ tài sản cá nhân ở thủ đô Cộng hòa XHCN Việt Nam chìm sâu trong nước hai lần (5). Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, thiệt hại đa dạng và không nhỏ do cả hai cơn mưa lớn (một vào 23/5/2022, một vào 29/5/2022) do các nạn nhân tự gánh vác, tự giải quyết. Dù rõ ràng đó là lỗi trong quản trị, điều hành của cả hệ thống, những chỉ trích gay gắt nhất cũng chỉ hướng vào chính quyền thành phố Hà Nội.

Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, Không có bất kỳ viên chức nào trong số những cá nhân hữu trách từ trung ương đến địa phương xác định đó là trách nhiệm của mình hay của tập thể do mình lãnh đạo đã phạm sai lầm, thiếu trách nhiệm trong soạn – phê duyết – thực thi chính sách quản trị, điều hành hạ tầng đô thị. Sau khi bi bô về… “vị thế”, về… “đô thị thông minh”, những cá nhân này đang bận chuẩn bị để bi bô tiếp về… “chuyển đổi số nhằm thúc đẩy, tạo động lực đổi mới, sáng tạo” (5)!

Chú thích

(1) https://vnexpress.net/hoc-phi-o-tp-hcm-du-kien-tang-cao-nhat-5-lan-4463262.html

(2) https://zingnews.vn/hoc-phi-dai-hoc-tang-co-truong-cao-gap-doi-post1321339.html

(3) https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/phu-huynh-noi-ve-sach-giao-khoa-dat-gap-2-3-lan-nam-sau-co-tang-nua-khong-20220525211922594.htm

(4) https://tuoitre.vn/benh-nhi-tu-vong-do-ran-can-vi-sao-benh-vien-khong-co-huyet-thanh-20220524073426184.htm

(5) https://www.moha.gov.vn/tin-noi-bat/thu-tuong-chuyen-doi-so-la-dong-luc-thuc-day-doi-moi-sang-tao-47445.html

Đã là trường công thì sao còn thu học phí?

Đã là trường công thì sao còn thu học phí?

Hoàng Hải Vân

Học phí trường công đang rục rịch tăng bằng lần, giá sách giáo khoa cũng đang rục rịch tăng bằng lần. Hai năm qua công cuộc phong toả chống dịch khiến cho dân chúng nghèo đi, một bộ phận khá đông lâm vào cảnh điêu đứng, học phí trường công tăng giá, sách giáo khoa cũng tăng đè thêm gánh nặng cho dân trong khi thu ngân sách không những không giảm xu nào mà còn tăng cao đến mức Chủ tịch nước cũng lấy làm lạ.

Thu ngân sách tăng mạnh mà học phí trường công giá sách giáo khoa cũng tăng mạnh là điều lạ lùng, bất kỳ sự giải thích nào cũng không có sức thuyết phục.

Công cuộc Đổi mới đất nước đã mang lại rất nhiều thành tựu, nhất là thành tựu xoá đói giảm nghèo, nhưng sự nghiệp giáo dục thì rối như gà mắc tóc.

Nước ta từng có một nền giáo dục tiên tiến trước năm 1975, ở cả hai miền Nam Bắc. Ở miền Bắc, đã từng có một nền giáo dục hoàn toàn miễn phí từ mẫu giáo đến đại học với chất lượng không thể nói là không cao (sự miễn phí này đã kéo dài thêm một số năm sau khi Việt Nam thống nhất). Ở miền Nam, ngoài giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí, toàn bộ trường công cũng hoàn toàn miễn phí, em nào không đủ năng lực thi tuyển vào trường công thì có thể học trường tư, dù học trường công hay trường tư đều thi lấy bằng cấp quốc gia như nhau.

Vì không một nền kinh tế thị trường nào có thể chịu đựng được việc học miễn phí toàn bộ ở mọi cấp học như miền Bắc trước đây, nên khi tiến hành công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, lẽ ra Nhà nước áp dụng học miễn phí hoàn toàn ở giáo dục bắt buộc (hiện nay là bậc tiểu học) và duy trì trường công ở mức hợp lý, còn lại để cho trường tư phát triển cạnh tranh nhau cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất cho trẻ em, thì nhà nước vẫn “tham lam” vừa muốn ôm hết sự nghiệp giáo dục vừa thi với tư nhân thu học phí, ngay cả bậc tiểu học. Hiến pháp quy định không thu học phí vẫn thu khoản này khoản kia không khác gì học phí.

Chi phí cho giáo dục hiện chiếm tới 20% tổng chi ngân sách, tỷ lệ đó thuộc hàng cao nhất thế giới. Nhưng do ôm đồm nên nhà nước phải trả lương cho một bộ máy gồm thầy giáo và người quản lý giáo dục lên tới 1,2 triệu người. Người dạy học lẽ ra phải được hưởng một mức sống trên trung bình của xã hội nhưng lại trở thành nhóm người có thu nhập thuộc hàng thấp nhất trong xã hội, rất ít người có thể sống được bằng tiền lương. Ngân sách chi cho giáo dục lại dành không ít tiền cho những dự án chỉ để thể hiện vai trò của ngành chớ không đóng góp gì cho chất lượng dạy và học. Đó là chưa kể đội ngũ tiến sĩ ra đời hàng năm đông một cách dị thường, tốn kém không biết bao nhiêu là tiền bạc từ ngân sách nhưng phần lớn các tiến sĩ đó không hề có đóng góp gì cho khoa học hoặc quốc kế dân sinh.

Hậu quả là nền giáo dục và đào tạo nước nhà yếu kém đến mức có không ít cán bộ cấp cao phải được đưa sang các nước tư bản học để lấy bằng cấp, nhiều người trong số đó đã trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Trung ương Đảng và Bộ trưởng. Và một loạt quan chức cấp cao phải cho con sang các nước tư bản học, được gọi là đi “tỵ nạn giáo dục”. Trong khi trong thế giới hiện đại, chỉ cần xoá bỏ các rào cản thì tất cả hệ thống tri thức, dù là tri thức mới nhất, đều có thể được liên thông.

Mấy chục năm nay các quan chức ngành giáo dục không hề có ý định thoát khỏi những nghịch lý gà mắc tóc đó, mà càng “cải cách” càng rối rắm, càng bị ăn chửi.

Một nền giáo dục hợp lý chỉ đơn giản như thế này:

Thứ nhất, thực hiện giáo dục cưỡng bách (bắt buộc) ở bậc học phù hợp với điều kiện của nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay được ghi trong Hiến pháp là bậc tiểu học. Đã giáo dục bắt buộc thì học sinh đi học hoàn toàn không mất tiền, không những không trả học phí mà còn được phát không sách giáo khoa và không có bất cứ khoản đóng góp nào cho trường lớp. Chỉ có như vậy mới bảo đảm cho đứa trẻ nào cũng được đi học, mới gọi là giáo dục bắt buộc.

Thứ hai, duy trì hệ thống trường công từ phổ thông đến đại học một cách hợp lý phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và điều kiện ngân sách. Hệ thống trường công chỉ tuyển chọn học sinh giỏi nhằm đào tạo nhân tài. Hệ thống trường công này phải được bảo đảm đầy đủ các phương tiện và công nghệ tiên tiến nhất cùng đội ngũ thầy giáo giỏi. Học trường công cũng phải hoàn toàn miễn phí. Trường công nhiều hay ít phụ thuộc vào điều kiện ngân sách.

Thứ ba, sự giới hạn của trường công sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các tổ chức, các nhóm xã hội phát triển trường tư. Học sinh nào không đủ khả năng thi tuyển vào trường công sẽ vào học các trường tư. Các trường tư sẽ cạnh tranh về học phí và chất lượng đào tạo. Học sinh không đủ khả năng vào trường công không có nghĩa là các em dốt hơn, vì các trường tư tốt chắc chắn sẽ tạo ra các học trò giỏi.

Thứ tư, trên thế giới đã có phong trào học mà không cần đến trường (Homeschooling, Unschooling). Như đã nói, trong thế giới hiện đại, nếu không bị rào cản thì tri thức có thể liên thông khắp mọi nơi. Trẻ em không cần đến trường vẫn có thể tiếp nhận tri thức tại nhà thông qua phụ huynh hoặc tự học. Nhà nước không cần can thiệp vào cách học của các em mà bằng hệ thống thi cử để công nhận trình độ. Nhà nước tạo điều kiện để các em không đến trường vẫn có thể đi thi để lấy bằng cấp nếu các em có nhu cầu.

Đạo lý dễ hiểu nói trên không mới mẻ gì, mà đã từng được áp dụng ở miền Nam nước ta trước năm 1975.

Tóm lại, vấn đề không phải là tăng hay giảm học phí trường công. Mà đã là trường công thì phải hoàn toàn miễn phí. Người dân đã nộp thuế để Nhà nước thực hiện sự nghiệp giáo dục, bởi vậy thu học phí trường công thực chất là thuế chồng lên thuế.

H.H.V.

Nguồn: FB HOÀNG HẢI VÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA GƯƠNG SÁNG

Kẻ Đi Tìm

ẢNH HƯỞNG CỦA GƯƠNG SÁNG

Nhà giáo dục vĩ đại Booker T. Washington có viết như sau trong cuốn tự thuật mang tựa đề: “Từ ách nô lệ đi lên” của ông: “Càng lớn tôi càng tin chắc rằng, không một sự giáo dục nào có thể gặt hái được từ sách vở hay từ những dụng cụ đắt tiền có thể sánh ví được với những gì ta có thể gặt hái được do tiếp xúc với các bậc vĩ nhân”.

Cách đây ít lâu một phụ nữ Ấn độ giáo đã trở lại Công giáo, sau một thời gian nghe rao giảng Lời Chúa. Bà chịu nhiều dèm pha, đay nghiến từ người chồng do việc bà trở lại đạo. Có lần cha xứ hỏi bà: “Khi chồng con nổi giận và hành hạ con, thì con làm gì”? Bà đáp: “Thưa Cha, con cố gắng nấu ăn ngon hơn, khi ông than trách, con lau chùi nhà sạch hơn; khi ông ăn nói cộc cằn, con trả lời ôn tồn nhỏ nhẹ. Con cố gắng được chứng tỏ cho ông thấy khi con trở lại đạo, con phải là người vợ và người mẹ tốt hơn”.

Một thời gian sau, ông xin trở lại đạo Công giáo, không phải vì lời giảng của cha xứ nhưng chính nhờ gương sáng sống đạo của bà vợ đạo đức của ông.

Sưu tầm

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Lê Hoàng Nam

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Có anh bạn giáo sư sử học người Canada hỏi mình: “Người Việt các bạn mỗi khi gặp nhau thường nói chuyện gì?” và anh trả lời luôn, hình như các bạn tựu trung lại chỉ có mấy vấn đề : làm gì (vị trí xã hội) ? lương, thu nhập bao nhiêu, ở đâu, đi xe gì (tài sản) ? con cái học trường nào ? và rồi con ai cũng giỏi cả, chỉ là con ai giỏi hơn. Hầu như các câu chuyện như thế lại là điều rất riêng tư, cấm kỵ hỏi của các dân tộc khác. Bài viết này của Từ Thức, trên face – Góc nhìn Alan giải thích phần nào…vì sao dân tộc VN ta mãi vẫn nhỏ bé, nhỏ như con ốc vít mà nước ta không làm nổi và…nhỏ hơn cả Cái Tôi của chính mỗi người.

Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: Tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?

Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông”, vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Baudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.

TÔI, TÔI, TÔI

Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dày đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu”. Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tàu hủ.

Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như Việt Nam. Việt Nam, xứ của văn hoá Phật giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người Công giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.

Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?

Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.

TÔI LÀ CHÂN LÝ

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong từ điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: Không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: Ông nội này mất gốc rồi.

Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm Chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.

Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ” có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.

Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).

Những người có thực tài rất khiêm nhường, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.

Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.

ĐÈN DẦU VÀ ĐÈN ĐIỆN

Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện. Người Việt ta dễ thỏa mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng” quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.

Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue”, thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với “période bleue” sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời: Tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.

Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta là người Tây Ban Nha, hì hục tìm tòi cho tới chết.

Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.

Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.

Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: Thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

NGƯỜI VÀ TA

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo.

Ông là một người Công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.

Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.

Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra “Saint-Francois d’Assise”của ông được trình diễn trên khắp thê giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.

Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.

Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.

Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: Tại sao tôi tài giỏi quá như vậy? Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.

Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.

Từ Thức

Nguồn: tachcaphe.

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Đỗ Ngà

31-5-2022

Theo báo Vietnambiz, trong 3 tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng bơm thêm 526.000 tỷ đồng vào nền kinh tế, tương đương với 23 tỷ đô la. Riêng ngành bất động sản chiếm đến 30%, tức tương đương 6,9 tỷ đô la. Như vậy câu hỏi đặt ra là 6,9 tỷ đô la mà ngân hàng đã bơm thêm vào thị trường bất động sản ấy, nó được phân bố ra sao?

Được biết, trong 6,9 tỷ đô la ấy, phần vay mua nhà chiếm đến 65% trong 6,9 tỷ đô, tương đương với 4,46 tỷ đô. Trong khi đó vay để phát triển nhà chỉ chiếm 8%, tương đương 550 triệu đô la mà thôi. Còn lại người dân vay để xây nhà chỉ 5%, tương đương 343 triệu đô và vay để mua đất cũng tương đương con số đấy. Phần còn lại là vay cho vấn đề khác. Đáng chú ý ở đây là khoản cho vay để phát triển nhà và cho vay để mua nhà. Phân tích 2 khoản vay này nó nói lên bức tranh của thị trường bất động sản Việt Nam rất rõ.

Ảnh: Dữ liệu cơ cấu cho vay bất động sản. Nguồn: VietnamBiz

Các doanh nghiệp vay 550 triệu đô để phát triển nhà nhưng người dân phải bỏ ra đến 4,46 tỷ đô để mua nhà. Vậy con số chênh lệch 3,91 tỷ đô đó đi đâu? Nó chui vào túi những ông trùm bất động sản và những nhà đầu cơ ém hàng, tạo khan hiếm giả để tăng giá. Tính con số gọn cho dễ hình dung là, ngành bất động sản Việt Nam bỏ ra 1 đồng xây nhà thì người dân phải bỏ ra hơn 8 đồng để mua nhà. Các đầu nậu ngành bất động sản chia nhau món lời đến hơn 700% so với giá trị thật. Kinh! Như vậy thì làm sao giá nhà Việt Nam lại không cao hàng top thế giới? Như vậy thì làm sao giá nhà không ngày càng vượt xa tầm với của người dân?

Nhà ở bỏ trống không có người ở thì nhan nhản, nhưng bất động sản thì vẫn khan hiếm. Nguyên nhân là do đâu? Do Chính quyền này đã nuôi một đám chuyên gom hàng, ém hàng rồi tạo giá. Những doanh nghiệp thân hữu, những nhóm lợi ích lớn có trong tay sự hỗ trợ của quyền lực chính trị thì làm sao họ lại bỏ lỡ cái mâm béo bở này chứ? Người ta nói “một vốn bốn lời” đã kinh khủng thì ngành bất động sản nó đã tạo ra biên độ “một vốn bảy lời” mới đáng sợ. Tất nhiên, các đầu nậu phải chuyền qua tay nhiều lần mới nâng giá lên đến như vậy chứ không phải qua một lần nâng giá.

Các nước trên thế giới họ đã lường trước những tình huống này nên họ có những sắc thuế chế tài. Các nước có thị trường bất động sản lành mạnh họ đánh thuế vào những căn nhà bỏ không rất nặng để cho những kẻ có âm mưu mua nhiều, ém hàng thật lâu để tạo khan hiếm giả tạo phải “ói hàng ra” vì không chịu nổi thuế. Chỉ có như thế mới loại bỏ những cơn sốt do sự thiếu hụt giả tạo của nguồn cung.

Không phải nhà nước CS không biết điều này, cái đáng nói là họ biết nhưng họ không làm. Vì sao? Vì những ông làm chính sách đều có những món lợi lớn từ những đầu nậu chuyên đầu cơ bất động sản. Ra luật, thực hiện nghiêm luật thì chính túi tiền của họ cũng bị ảnh hưởng nên dại gì họ thực hiện?! Kiếm hàng chục triệu đô ăn 3 đời không hết mà cái giá phải trả chỉ là “rút kinh nghiệm” thì dại gì họ không đánh đổi? Đặc trưng của nhà nước CS là, khi làm sai đổ lỗi cho tập thể. Xong, phủi tay!

“Bọn dân đen vô gia cư kệ nó! Ai bảo nghèo chi? Miễn sao tiền đầy túi, mua xe sang, xây biệt phủ, cho con du học, mua nhà và đầu tư quốc tịch cho con là được.” Tư tưởng của giới quan lại thời CS này là thế. Cho nên, sẽ không có chính sách nào có thể đưa thị trường bất động sản Việt Nam trở nên lành mạnh hơn được. Bởi vì bản chất của quan lại thời nay chính nó sẽ làm thất bại mọi chính sách đúng đắn.

Ivan Bạo chúa và Stalin: Putin tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia

Ivan Bạo chúa và Stalin: Putin tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia

Hubertus Volmer trò chuyện với Dina Khapaeva

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

29-5-2022

Matryoshkas (búp bê lồng nhau) với hình ảnh Stalin và Putin trong một cửa hàng ở St.Petersburg. Nguồn: AP

Nhà khoa học văn hóa Nga, Dina Khapaeva cho biết: “Niềm đam mê về phương Tây là cốt lõi của bản sắc Nga. Điều này không có nghĩa tích cực: “Nếu không có sự khước từ phương Tây, bản sắc Nga không tồn tại”.

Khapaeva nói đến chính trị tưởng nhớ của Putin, có mục đích “khôi phục đế chế, quân sự hóa dư luận và tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia lớn”. Bà nói: “Bởi vì Putin và lũ bạn của ông ta không có dự án nào cho tương lai, họ chỉ có thể nhìn lại lịch sử và bắt chước quá khứ”.

***

Nhà khoa học văn hóa đề cập đến một cuốn tiểu thuyết của Nga xuất bản năm 2006 phù hợp “hoàn toàn với chính trị tưởng nhớ của Putin”. Lấy bối cảnh tương lai, cuốn sách mô tả cách Nga khuất phục châu Âu. Trong đó, việc xây dựng đế chế Nga bắt đầu bằng cuộc chiến chống lại Ukraine.

Trong cuốn tiểu thuyết này, nước Nga bị cai trị và khủng bố bởi một lực lượng quân cảnh. Theo quan điểm của Khapaeva, nước Nga ngày nay đang trên đường đi đến một hệ thống như vậy: “Những gì chúng ta đang thấy ngày nay là nhu cầu về  khủng bố nhà nước”, bà nói trong một cuộc phỏng vấn với ntv.de. “Thật không may, một bộ phận đáng kể dân chúng tin rằng khủng bố nhà nước, khi nó xảy ra, là vì lợi ích của nước Nga”.

Dina Khapaeva là giáo sư tại Trường Ngôn ngữ Hiện đại, thuộc Học viện Công nghệ Georgia (Mỹ). Bà vừa hoàn thành một cuốn sách đề cập đến chính trị tưởng nhớ tân trung cổ của Putin và quá trình tái Stalin hóa (Nguồn riêng của NTV)

Ntv.de: Vài năm trước, bà đã viết trong một cuốn sách về “Lịch sử các quốc gia” rằng cốt lõi của lịch sử Nga là “sự mê hoặc thường xuyên đối với phương Tây, cùng với sự thôi thúc vượt qua nó để tránh ảnh hưởng của nó”. Nghe giống như một mối quan hệ yêu-ghét.

Dina Khapaeva: Ý tưởng của phương Tây là trọng tâm của bản sắc Nga. Nếu không có sự khước từ phương Tây, bản sắc Nga không tồn tại. Điều này làm cho họ rất khác biệt so với các nền văn hóa châu Âu khác. Sự say mê về phương Tây là cốt lõi của bản sắc Nga. Đó không chỉ là một mối quan hệ yêu – ghét: Nga không thể tưởng tượng ra được mình nếu không so sánh mình với phương Tây và không từ chối phương Tây. Đó là một nền văn hóa rất đặc biệt về mặt đó.

Ntv.de: Làm thế nào để Nga và phương Tây có thể có một mối quan hệ hòa bình bình đẳng?

Sau cuộc chiến ở Ukraine, tôi không nghĩ điều này có thể xảy ra. Theo tôi, cuộc chiến này là kết quả của một chính sách tưởng nhớ mà Putin đã theo đuổi rất nhất quán trong ít nhất hai mươi năm. Chiến tranh cũng là kết quả của việc không sẵn sàng chịu trách nhiệm về những tội ác của chủ nghĩa Stalin. Rất có thể Nga sẽ bị đánh bại về mặt quân sự trong cuộc chiến này. Nếu sau đó nó không còn tồn tại như một quốc gia, nó có thể giúp xóa bỏ tham vọng đế quốc của mình.

Ntv.de: Nga nên chấm dứt là một quốc gia?

Tôi nghĩ rằng rất có thể vì cuộc chiến này mà Liên bang Nga sẽ ngừng tồn tại và tách ra thành một số quốc gia độc lập. Ở Liên bang Nga có nhiều đơn vị quốc gia có thể trở thành quốc gia độc lập.

Ntv.de: Nhưng ý bà không phải là phương Tây nên tấn công và giải thể Nga?

Tất nhiên là không rồi. Tôi hy vọng rằng chế độ này sẽ sụp đổ sau thất bại ở Ukraine. Tôi cũng hy vọng rằng phương Tây sẽ hỗ trợ quân sự kiên quyết hơn cho Ukraine. Sau chiến tranh, phương Tây sẽ không bị lừa một lần nữa bởi luận điệu của Điện Kremlin rằng Nga cần “công nhận”, “bị xúc phạm” và phải “vương dậy”. Vào năm 2007, khi tôi và gia đình vẫn còn sống ở Nga, người bạn thân yêu của chúng tôi, Hans Ulrich Gumbrecht đã đến thăm chúng tôi …

… trí thức người Mỹ gốc Đức và giảng viên đại học.

Ông ấy đến thăm chúng tôi ở St. Petersburg. Chúng tôi rất quan tâm đến hướng đi của đất nước và ông ấy nói với chúng tôi rằng tạp chí Time vừa đặt tên cho Putin là “Người đàn ông của năm”. Việc đề cử Putin là “Người đàn ông của năm” là hoàn toàn không phù hợp: các cuộc tấn công của chế độ nhằm vào các tổ chức nhân quyền và tự do dân chủ đang diễn ra rầm rộ. Bây giờ khi tôi đọc được rằng các chính trị gia phương Tây đang hành hương đến Moscow để gặp Putin, hoặc rằng Macron dành hàng giờ để nói chuyện với Putin, tôi thấy điều đó thật đáng xấu hổ. Khi các chính trị gia phương Tây giao tiếp với tội phạm chiến tranh này trên cơ sở bình đẳng, họ phá hoại nền dân chủ ở chính quốc gia của họ. Một nhà nước mafia nên được đối đãi như những kẻ lừa đảo mafia.

Ntv.de: Vào ngày 9 tháng 5, trong bài phát biểu tại Moscow, Putin nói rằng Nga là “một quốc gia có tính cách khác biệt”. “Chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ tình yêu đối với quê hương, niềm tin vào các giá trị truyền thống, phong tục của tổ tiên của chúng tôi và tôn trọng tất cả các dân tộc và các nền văn hóa”. Ông ta muốn nói gì qua điều đó?

Câu trả lời cho câu hỏi này có hai khía cạnh. Đầu tiên, tôi không nghĩ rằng quá trình suy nghĩ của Putin đủ phức tạp để chúng ta phải bận tâm phân tích nó. Tôi nghĩ những gì ông ấy nói chủ yếu là những gì mà đội ngũ nghiên cứu chính sách KGB của ông ấy sản xuất ra. Người ta không được quên: Putin không phải là Napoléon hay Alexander Đại đế. Đây chỉ là một kẻ lừa đảo của KGB, một cách tình cờ hay may mắn, đã vươn lên đứng đầu quốc gia rộng lớn này. Tôi không phủ nhận khả năng nắm và giữ quyền lực của ông ấy, nhưng chúng ta không nên cho rằng ông ấy có những ý tưởng phức tạp. Khi ông ta và băng đảng của mình lên nắm quyền, họ không quan tâm đến hệ tư tưởng. Họ muốn cướp của đất nước.

Tới một thời điểm nào đó, họ tin rằng Nhà thờ Chính thống sẽ cung cấp cho họ một loại tính hợp pháp, nhưng Nhà thờ đã không thể làm như vậy. Vì vậy, phe cực hữu của Nga bắt đầu cung cấp cho Putin và những kẻ lừa đảo khác những ý tưởng đơn giản nhất về nước Nga và lịch sử Nga. Và bởi vì Putin và bạn bè ông ta không có dự án nào cho tương lai, họ chỉ có thể nhìn lại quá khứ và mô phỏng quá khứ: hãy làm giống như tổ tiên của chúng ta, hãy gắn bó với những giá trị bảo thủ! Các sự kiện lịch sử yêu thích của họ bao gồm chủ nghĩa Stalin và Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như thời Trung cổ của Nga, đặc biệt là thời kỳ của Ivan IV “Bạo chúa”, 1565-1572. Đây là hai thời kỳ khủng bố nhà nước ở Nga. Theo phe cực hữu ở Nga, những thời điểm này được coi là nền tảng cho việc xây dựng đế chế Nga. Sự tôn vinh hai trường hợp trị vì khủng bố này được phản ánh rất rõ ràng trong cái mà tôi gọi là nền chính trị tưởng nhớ thời tân trung cổ và nền chính trị của thời kỳ tái Stalin hóa mà Putin đã theo đuổi trong hai mươi năm qua.

Ntv.de: Putin cũng cho biết, Nga sẽ hỗ trợ đặc biệt cho con em của các binh sĩ thiệt mạng hoặc bị thương ở Ukraine. “Cái chết của mỗi quân nhân và sĩ quan của chúng ta là một nỗi đau cho tất cả chúng ta và là một mất mát không thể thay thế đối với gia đình và bạn bè của họ”. Về khả năng thuyế t phục, điều đó không khác gì cách các chính trị gia Mỹ nói về những người lính đã ngã xuống, phải không?

Khi Putin nói về “sự tôn trọng đối với tất cả các dân tộc và nền văn hóa”, ông ấy sử dụng ngôn ngữ phương Tây. Đây là tầng cấp thứ hai cần được xem xét để hiểu những phát biểu của Putin: Công chúng và các chính trị gia phương Tây nghe ông ta nói và nghĩ rằng ông ta có vẻ giống họ. Nhưng họ không nên nghe lời ông ta mà hãy nhìn vào hành động của ông ta: Cuộc chiến khủng khiếp ở Ukraine đã diễn ra hơn ba tháng nay – ông có thiệt nghĩ như vậy khi nói “tôn trọng tất cả mọi người”? Dân thường Ukraine bị khủng bố, các thành phố bị tàn phá, quân đội Nga sử dụng nhà hỏa táng di động cho chính binh lính của mình. Thi thể của binh sĩ Nga bị bỏ lại. Những người đàn ông trẻ tuổi, lớn hơn một đứa con trai một chút, được đưa vào một cuộc chiến vô nghĩa, đôi khi không có thẻ xác nhận. Khi họ chết, họ thậm chí không thể được xác định, vì vậy mẹ của họ sẽ không bao giờ biết số phận của họ. Đó là mức độ giễu cợt mà tôi không thể tưởng tượng có được ở các chính trị gia Mỹ và châu Âu. Ngoài ra, nhiều binh sĩ chết ở Ukraine còn quá trẻ để có con. Vì vậy, không có gì to tát khi Putin nói rằng ông sẽ hỗ trợ các con của họ.

Điều này làm tôi nghĩ tới những tuyên bố thông thường của Putin về sự độc đáo của nước Nga. Đối với tôi, điều đó giống như sự khởi đầu của chủ nghĩa phát xít ở Đức và Ý. Ý tưởng rằng Nga khác biệt, rằng nó là duy nhất: Điều này rất quan trọng đối với Putin và các hệ tư tưởng của ông, nó giúp họ loại bỏ Nga khỏi các chuẩn mực quốc tế và tuyên bố rằng Nga có phiên bản dân chủ của riêng mình và phương Tây không thể phán xét nếu nhân quyền hay tự do dân chủ bị vi phạm ở Nga. Điện Kremlin tuyên bố có quyền làm theo ý mình vì Nga là một nơi độc nhất.

Ntv.de: Gần đây, bà đã viết một bài báo trên tạp chí “The Atlantic“, trong đó bà đã cho là một cuốn tiểu thuyết không tưởng từ năm 2006 là một hình mẫu cho chính sách đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc Putin: “Đế chế thứ ba” của Mikhail Yuriev. Trong cuốn tiểu thuyết này, một nhà cai trị người Nga tên là “Vladimir II”. lập nền tảng cho một đế chế bao gồm cả châu Âu. Sự mở rộng này bắt đầu với một cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine. Có bằng chứng nào cho thấy Putin biết cuốn sách này không?

Năm 2014, nhật báo Vedomosti của Nga gọi cuốn tiểu thuyết này là “cuốn sách yêu thích của Điện Kremlin” và viết rằng có tin đồn rằng nhiều thành viên trong chính quyền tổng thống, bao gồm cả Putin, đã đọc cuốn sách.

Ntv.de: Mikhail Yuriev là ai vậy?

Yuriev là một trong những nhà tư tưởng của phe cực hữu Nga, người đã cung cấp Putin với những tư tưởng tân phát xít của họ. Trước khi qua đời vào năm 2019, Yuryev thuộc về cái được gọi là – trong ngoặc kép – “giới tinh hoa chính trị”. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã cố gắng gây ảnh hưởng đến Putin. Năm 2004, ông xuất bản một tập sách nhỏ có tựa đề “Pháo đài nước Nga. Một khái niệm cho Tổng thống” – một năm sau khi nhà tài phiệt Mikhail Khodorkovsky bị bắt và bỏ tù vì tội trốn thuế và biển thủ. Khodorkovsky đã tìm cách ủng hộ phe đối lập với Putin, và việc ông bị bắt giam là một phần trong quá trình chuẩn bị cho việc Putin tái đắc cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai. Đây là lúc nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc Nga, bao gồm cả Yuryev, bắt đầu đưa ra các khái niệm tư tưởng của họ cho Putin.

“Đế chế thứ 3” phát hành 2006. (Ảnh bìa)

Yuryev là một trong những tác giả ẩn danh của bộ sách “Dự án nước Nga”, bộ sách cổ vũ tư tưởng của phong trào tân Âu-Á. Cùng một hệ tư tưởng chứa đựng trong cuốn sách Đế chế thứ ba của ông: Nga nên trở lại thời Trung cổ, Nga nên là một xã hội phụ hệ do một sa hoàng thần thánh lãnh đạo, Nga nên chinh phục phần còn lại của thế giới, phương Tây là kẻ thù không đội trời chung của Nga và phải bị phá hủy. “Dự án nước Nga” đã được gửi đến tất cả các cơ quan cao cấp trong chính phủ Nga vào năm 2005. Vài năm sau, nó được xuất bản thành sách bởi một trong những nhà xuất bản lớn nhất của Nga.

Ntv.de: Nghe có vẻ có ảnh hưởng khá lớn

Để cho bạn biết Yuriev thuộc nhóm quyền lực bên trong như thế nào, vào năm 1996, ông trở thành Phó Chủ tịch Duma. Cùng năm, Putin bắt đầu sự nghiệp của mình ở Moscow, trong chính phủ Yeltsin. Yuryev từng là thành viên ban điều hành của Đảng Á-Âu do “Rasputin của Putin” Alexander Dugin, một trùm phát xít khét tiếng, thành lập. Ông đã làm ăn với những người thân tín nhất của Putin: cùng với Alexander Voloshin, thành viên chính phủ của Putin từ năm 1999 đến 2003, và Roman Abramovich, một trong những nhà tài phiệt của Putin, Yuriev là nhà đầu tư vào công ty Ethane Company của Mỹ. Người bạn thân và cũng là người bảo trợ của Yuriev, Mikhail Leontyev, một nhà tuyên truyền khét tiếng có chương trình trò chuyện Odnako phát sóng vào khung giờ vàng trên Channel One, đã được CEO Igor Sechin của Rosneft bổ nhiệm làm phó chủ tịch công ty. Sechin thân thiết với Putin từ những ngày còn ở St. Petersburg và có lẽ là một trong những người có ảnh hưởng nhất xung quanh ông.

Ntv.de: Bìa cuốn sách của Yuryev cho thấy một thế giới được chia thành năm nước. Sự phân chia thế giới này có phải là kết cục của cuốn tiểu thuyết?

Cuốn tiểu thuyết bắt đầu với việc Nga chinh phục thế giới và khuất phục châu Mỹ và châu Âu. Nhưng đó không phải là chủ đề chính của cuốn sách. Hai phần ba quyển sách nói về trật tự xã hội mới ở Nga. Nó mô tả sự cai trị của oprichniks, một lực lượng quân cảnh do Ivan Bạo chúa thành lập vào thế kỷ 16. Cuốn sách tuyên truyền một chương trình xã hội tân trung cổ: Nga là một đế chế thần quyền và một xã hội giai cấp, trong đó mọi người sống theo tầng lớp xã hội kế thừa của họ. Các oprichniks cai trị đất nước với khủng bố trắng trợn, mà Juriev mô tả chi tiết đẫm máu. Họ có tất cả quyền lực chính trị. Hai giai cấp khác – các giáo sĩ chính thống và giai cấp thứ ba, bao gồm phần còn lại của dân chúng – không có bất kỳ quyền chính trị nào.

Ntv.tv: “Đế chế thứ ba” có phải là một phần chính trị tưởng nhớ mà bà đã đề cập đến không?

Cuốn sách hoàn toàn phù hợp với chính sách tưởng nhớ của Putin, việc Điện Kremlin chỉnh sửa ký ức lịch sử của người Nga, đã được thực hiện trong hơn hai mươi năm qua. Toàn bộ ý nghĩa  chính trị tưởng nhớ của Putin là làm cho người Nga tin rằng nước Nga thời trung cổ là một xã hội tuyệt vời, một sự thay thế tuyệt vời cho nền dân chủ, tốt hơn nhiều so với nền dân chủ. Mục tiêu của chính trị tưởng nhớ này là khôi phục đế chế, quân sự hóa dư luận xã hội và tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia vĩ đại.

Ntv.tv: Stalin có vai trò gì đối với hệ tư tưởng này và đối với công chúng Nga?

Có hai xu hướng quan trọng trong chính sách tưởng nhớ của Nga bổ sung cho nhau. Một là sự trở lại thời Trung cổ, được hỗ trợ bởi các bộ phim, phim truyền hình và các tượng đài. Xu hướng thứ hai là tái Stalin hóa: cam kết cởi mở với chủ nghĩa Stalin, đặc biệt là chủ nghĩa quân phiệt. Việc quân sự hóa công chúng thông qua việc sùng bái chiến thắng trong Thế chiến thứ hai là một khía cạnh quan trọng của quá trình tái Stalin hóa. Theo thông tin chính thức của Điện Kremlin, sự khủng bố của chủ nghĩa Stalin đã làm cho nước Nga trở nên mạnh mẽ hơn và giúp đạt được một đế chế Liên Xô của Nga. Vì vậy, khủng bố là tốt.

Ntv.tv: Người Nga trung bình không biết rằng Stalin phải chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người sao?

Có chứ. Có nhiều cuộc thăm dò dư luận – bao gồm cả cuộc thăm dò ý kiến ​​mà tôi đã thực hiện với Nikolay Koposov – cho thấy rằng người Nga được thông báo đầy đủ về mức độ của cuộc đàn áp.

Ntv.tv: Và họ vẫn thích ông ấy? Tưởng điều đó đóng một vai trò quan trọng.

Người ta có thể mong đợi điều đó, nhưng nó không xảy ra. Xã hội này chưa bao giờ bận tâm đến những câu hỏi về trách nhiệm lịch sử. Những gì chúng ta đang chứng kiến ​​ngày nay là nhu cầu khủng bố nhà nước, được xây dựng từ thời hậu Xô Viết thông qua chính trị tưởng nhớ. Thật không may, một bộ phận đáng kể dân chúng tin rằng khủng bố nhà nước, khi nó xảy ra, là vì lợi ích của nước Nga.

Ntv.tv: Có hai cách để dịch tiêu đề cuốn sách của Yuryev sang tiếng Đức, “The Third Imperium” hoặc “The Third Reich”. Đó có phải là một bản dịch bất công cho cuốn sách?

Ồ không, đó là một bản dịch tuyệt vời. “Đế chế thứ ba” gợi lên một ý nghĩa lịch sử rất phù hợp, đặc biệt là vì Yuriev – giống như nhiều nhà tư tưởng cực hữu khác của Nga – công khai nói rằng Đức Quốc xã đưa ra những mô hình tuyệt vời cho chính trị Nga. Càng nực cười hơn khi Putin và bộ máy tuyên truyền của ông ta gọi người Ukraine là “Quốc xã” – một dân tộc đã chọn dân chủ thay vì chủ nghĩa toàn trị của Putin.

Ntv.tv: Đó không phải là một kết luận đặc biệt đáng khích lệ cho cuộc phỏng vấn này.

Thời đại chúng ta đang sống và cuộc chiến ở Ukraine không đáng khích lệ. Thật không may, cho dù bạn có ở cách nước Nga bao xa, cho dù bạn có viết bao nhiêu bài chống lại chủ nghĩa Putin, thì khi bạn sinh ra trong nền văn hóa này như tôi, đều có ý thức trách nhiệm khủng khiếp này về cuộc chiến ở Ukraine, về tội ác của chủ nghĩa Putin, mà chúng tôi không thể ngăn cản được.

LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG

 LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG

 Lm. Anthony Trung Thành

Lịch sử cứu độ là lịch sử của những cuộc viếng thăm.  Đó là những cuộc viếng thăm giữa Thiên Chúa và dân Người.  Thật vậy, sau khi hoàn tất công trình tạo dựng, Thiên Chúa không bỏ rơi con người nhưng luôn viếng thăm để ban ơn và có khi để khiển trách, trừng phạt con người.  Khi Adong Evà phạm tội, Ngài viếng thăm để ra hình phạt đồng thời để hứa ban Đấng Cứu Độ (x. St 3,1-24).  Rồi, Ngài viếng thăm dân Ngài qua các ngôn sứ và các vị lãnh đạo dân Do Thái: Ngài viếng thăm và thi ân giáng phúc cho ông Ab-ra-ham và hứa sẽ làm cho dòng dõi ông nên đông đúc như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển (x. St 22,17); Ngài viếng thăm Mô-sê qua bụi gai bốc cháy để truyền lệnh cho ông giải thoát dân Is-ra-el ra khỏi đất Ai-cập (x. Xh 3, 1-12); Ngài ở với ngôn sứ Giê-rê-mi-a để cứu sống và giải thoát (x. Gr 15,20), và Ngài luôn đồng hành với các ngôn sứ để truyền cho họ nói Lời của Ngài cho dân chúng; Cuối cùng, chính Ngài đã viếng thăm nhân loại qua chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô.

 Qua đoạn Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã viếng thăm gia đình ông Gia-ca-ri-a qua trung gian Đức Maria.  Cuộc viếng thăm này có hai chiều kích đặc biệt: chiều kích thứ nhất là chiều kích chia sẻ.  Mẹ Maria mang Chúa đến để chia sẻ với bà chị họ.  Nhờ đó, Thánh Gioan Tẩy Giả được khỏi Tội Nguyên Tổ ngay từ trong lòng Bà Ê-li-sa-bét.  Chính bà Ê-li-sa-bét đã vui mừng thốt lên rằng: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?  Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 43-45).  Chiều kích thứ hai là chiếu kích phục vụ.  Tin mừng cho biết, Mẹ Maria “ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà” (Lc 1,56).  Khi Mẹ đến thăm thì bà Ê-li-sa-bét thì bà đã cưu mang Gioan được sáu tháng.  Mẹ ở lại đó ba tháng, tức là những tháng cuối cùng trước khi bà Ê-li-sa-bét hạ sinh.  Đây là những ngày tháng khó nhọc vất vả nhất của người phụ nữ mang thai.  Mẹ biết được như vậy, nên Mẹ đã tự nguyện ở lại đó để chăm sóc, phục vụ, giúp đỡ bà chị họ.  Điều đó thể hiện tinh thần thăm viếng mang chiều kích phục vụ của Mẹ.

 Về phần Đức Giêsu, sau thời gian sống ẩn dật tại làng quê Na-za-rét, Ngài bắt đầu hành trình truyền giáo là bắt đầu những cuộc viếng thăm: Ngài đi khắp mọi nơi và gặp gỡ mọi người để biến đổi và chữa lành họ; Ngài viếng thăm ông Gia-kêu khi ông đang ngồi trên cây sung; Ngài viếng thăm ông Lê-vi tại bàn thu thuế; Ngài viếng thăm gia đình La-za-rô và cho ông đã chết Bốn ngày được sống lại; Ngài viếng thăm và chữa lành cho mẹ vợ của ông Phê-rô…  Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma qủi kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người (x. Cv 10, 36-38).  Tin mừng còn cho biết: Nhờ Ngài mà kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được xem thấy, kẻ câm nói được, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo khó được nghe Tin mừng.  Chắc chắn Mẹ Maria cũng đồng hành với Chúa Giêsu trên mọi nẻo đường truyền giáo để thăm viếng, an ủi tất cả mọi hạng người trong xã hội.  Đặc biệt, Mẹ có mặt tại tiệc cưới Cana để khẩn cầu Đức Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon giúp cho gia chủ trong lúc bế tắc.  Mẹ hiện diện dưới chân Thánh giá để lãnh nhận sứ mạng làm Mẹ loài người.  Sau khi về trời, Mẹ còn thăm viếng loài người bằng những lần hiện ra nơi này nơi khác như ở Lộc Đức, ở Fatima, ở Lavang…  Còn Đức Giêsu, sau khi Phục Sinh, Ngài còn hiện ra nhiều lần nhiều nơi để viếng thăm và cũng cố đức tin cho các Tông đồ và các Kitô hữu đầu tiên.  Có thể nói, những cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và của Đức Maria là mẫu mực cho các cuộc viếng thăm giữa con người với nhau qua mọi thời đại.  Đó là những cuộc viếng thăm đem lại niềm vui, tình thương và ơn cứu độ.

Các Tông đồ lãnh nhận sứ mạng Đức Giêsu trao phó, tiếp tục ra đi đến với muôn dân.  Sách Công vụ Tông đồ kể lại các sinh hoạt của Giáo hội sơ khai cho chúng ta thấy điều đó.  Các Ngài ra đi khắp mọi nơi để thăm viếng, rao giảng và làm chứng cho Đức Giêsu đã chết và sống lại.  Riêng Thánh Phaolô, sau khi trở lại, Ngài đã thực hiện nhiều cuộc hành trình truyền giáo đến với dân ngoại.  Nhờ đó, nhiều cộng đoàn Kitô hữu được thiết lập.  Từ đó tới nay, Giáo hội không ngừng ra đi để thăm viếng muôn dân: Đó chính là sự “ra đi” của các nhà truyền giáo, các giám mục, linh mục, tu sỹ và giáo dân.  Đặc biệt, từ thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cho tới nay, các Đức Giáo Hoàng thường thực hiện những cuộc thăm viếng mang tính quốc tế: Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có 129 cuộc viếng thăm ngoài thành Rôma.  Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến viếng thăm một ngôi đền Hồi giáo ở Syria; viếng thăm vùng Thánh Địa Giêrusalem…  Các cuộc viếng thăm của Ngài ảnh hưởng đến việc hòa giải các dân tộc và tôn giáo.  Đức Giáo hoàng Benedictô XVI và Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục ra đi.  Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường quan tâm đặc biệt đến các vùng ngoại vi.  Ngài đã đến với những người tị nạn tại đảo Lampedusa, trại tù Casal del Marmo…  Ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy “ra đi” để đem Tin mừng đến với với những người bần cùng nhất, những người sầu khổ, những người còn trong bóng tối tội lỗi.  Chính vì thế, các cuộc viếng thăm của Ngài không những đem lại sự hòa hợp các dân tộc mà còn đem lại niềm vui và sự an ủi cho những người thấp cổ bé miệng trong xã hội.

 Viếng thăm cũng là bổn phận của mỗi người chúng ta hôm nay: Viếng thăm để thực hiện bổn phận truyền giáo; Viếng thăm để thực hiện bổn phận liên đới giữa chúng ta với các mối tương quan như ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn hữu.  Chúng ta hãy bắt chước gương viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và Đức Maria.  Hãy có những cuộc viếng thăm tha nhân một cách vô vị lợi.  Hãy viếng thăm tha nhân khi vui cũng như lúc buồn như lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).  Hãy viếng thăm tha nhân trong sự thành thật không giả hình, viếng thăm trong tình yêu thương huynh đệ: “Đức ái không được giả hình: Hãy chê ghét điều ác và trìu mến điều lành.  Hãy thương yêu nhau trong tình bác ái huynh đệ.  Hãy nhân nhượng tôn kính nhau” (Rm 12, 9-11); “Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà” (Rm 12, 13).  Đặc biệt, chúng ta hãy siêng năng viếng thăm những người nghèo đói, bệnh tật, cô thế cô thân, những kè tù đày… để đem niềm vui và hạnh phúc đến cho họ.  Vì khi chúng ta thăm viếng họ là chúng ta đang thăm viếng Chúa.  Tin mừng theo Thánh Mathêu, chương 25, Đức Giêsu đã đồng hóa Ngài với những kẻ bé mọn: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”  Ngài nói thêm: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

 Ước mong rằng, ngày lễ Mẹ Thăm Viếng hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta luôn biết ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, đem niềm vui có Chúa và tinh thần phục vụ cho họ như gương mẫu của Đức Maria. Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành

From: Langthangchieutim