ĐÂU LÀ NIỀM HY VỌNG CÁNH CHUNG KITÔ GIÁO TRONG MẦU NHIỆM SỰ CHẾT CỦA CON NGƯỜI?

Kẻ Đi Tìm

Cái chết là cả một mầu nhiệm! Mọi con người đều phải đối mặt với cái chết! Mọi người đều phải chết! thế nhưng trong trần thế này, không có từ nào làm cho người ta sợ sệt bằng từ “chết”. Không ai dám nói tới; và nếu bắt buộc phải nói, người ta cũng tìm cách nói xa nói gần. Dù là người tôn giáo hay không tôn giáo đều phải suy nghĩ về cái chết.[1]

Vậy chết là gì? Người ta quan niệm về cái chết như thế nào dưới nhãn quan triết học, các tôn giáo, đặc biệt là Kitô giáo? Và đâu là niềm hy của người Kitô giáo trong mầu nhiệm sự chết của con người?

  1. Chết là gì?

Chết: không còn tồn tại (động vật).

Theo nghĩa phổ thông, sự chết xảy ra khi thân xác con người vĩnh viễn ngưng hoạt động, chấm dứt cuộc sống trần gian.

Theo Kinh Thánh, sự chết là hậu quả của tội: sự chết phần xác và sự chết phần hồn (x. Rm 5,12; 8,5-6).[2]

Hiểu được chết là gì, vậy tư tưởng triết học quan niệm như thế nào về sự chết?

  1. Tư tưởng triết học về sự chết

2.1.Tư tưởng Đông Phương về sự chết

Tư tưởng Đông Phương không diễn đạt cách mạch lạc về sự chết, nhưng cách diễn tả xoay quanh cái chết luôn có một niềm hy vọng rằng chết không hết, chết không là điều cùng tận của con người, nhưng sau cái chết, còn có một đời sống mới mẻ nào đó mà con người sẽ bước vào.[3] Vậy những tư tưởng đó được thể hiện như thế nào?

Thứ nhất, quan niệm sự chết trong văn hóa – tín ngưỡng Việt Nam. Người Việt thường bảo rằng: “Sinh thuận tử an”, “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nên trong thâm tâm, họ có một niềm tin về một tương lai. Do đó, với họ chết không phải là hết. Vì thế họ bảo rằng sinh ký tử quy – sống gửi thác về. Như vậy, trong niềm tin – tín ngưỡng người Việt, chết không hết nhưng là quy thiên.[4]

Thứ hai, tư tưởng Ấn Độ Giáo và Phật Giáo. Cả hai quan niệm rằng chết không hết, nhưng con người bị ràng buộc bởi vòng luân hồi sinh tử. Sau khi trải qua cái chết, người ta bước vào kiếp sống khác: linh hồn nhận được một thân xác mới trong mỗi lần tái sinh; kiếp sống mới tốt đẹp hơn hay tồi tệ hơn kiếp này tùy thuộc những gì người ta đã sống. Thuyết luân hồi nghiệp báo mở ra cho người ta cánh cửa hy vọng: nếu người ta trót lỗi lầm hay làm điều ác đời này thì đời sau còn có cơ hội chuộc lại tội lỗi đó.[5]

2.2.Tư tưởng Triết học Tây Phương về sự chết

Tư tưởng Hy Lạp cổ đại. Có ba quan điểm khác nhau về cái chết. Trước tiên, tư tưởng của Epicure cho rằng người ta cần sống an hòa với cuộc sống hiện tại của mình mà không cần nghĩ đến cái chết; bao lâu còn sống thì không có cái chết; còn khi cái chết xảy đến thì người ta không còn nữa, nên nói đến cái chết khi người ta đang sống là vô nghĩa. Thứ đến, Pythago thì cho rằng linh hồn là yếu tố linh thiêng, bất tử không lệ thuộc vào thân xác phải chết; cái chết chỉ đụng chạm đến thân xác chứ không đụng được đến linh hồn, nên không cần phải lo ngại cái chết. Bên cạnh đó, Platon thì quan niệm khác với Pythago khi ông bảo rằng khi còn ở trong thân xác hay hư hoại, người ta không bất tử. Chỉ khi chết, linh hồn người ta mới đạt tới tình trạng bất tử.[6]

Tư tưởng Tây Phương hiện đại. Thời Trung Cổ, tư tưởng Tây Phương chịu ảnh hưởng của Kitô giáo về số phận con người trước cái chết. Nhưng sang thời hiện đại, Triết học Tây Phương có khuynh hướng tách khỏi ảnh hưởng của Kitô giáo. Cụ thể, với Jean Paul Sartre, ông chủ trương rằng cuộc sống con người là một hành trình từ hư vô tiến đến hư vô. Người ta bị ném vào giữa cuộc đời này và bị đe dọa bởi những thực tại xung quanh họ. Ngược lại, Martin Heidegger và Karl Jaspers thì khác, họ cho rằng mỗi ngày con người ý thức mình sẽ chết nên con người sống tròn đầy trong từng giây phút của cuộc đời mình. Chính khi sống trọn ý nghĩa cuộc sống trong từng giây phút như vậy, con người bước tới huyền nhiệm của cái vô hạn mở ra trước mắt họ sau ngưỡng cửa sự chết.[7]

  1. Sự chết trong nhãn giới Kitô Giáo

Ta vừa lướt qua các tư tương Đông Phương cũng như Tây Phương về sự chết. Vậy sự chết dưới nhãn giới Kitô Giáo như thế nào?

3.1.Sự chết dưới ánh sáng của Mạc Khải

Trước tiên, sự chết dưới ánh sáng Cựu Ước. Những trang đầu của Sách Sáng Thế cho thấy rằng Thiên Chúa dựng nên con người để sống trong ân nghĩa với Ngài. Thế nhưng, vì bất tuân lệnh Chúa, cho nên con người bị kết án phải chết. Thiên Chúa truyền rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi phải chết” (St 2, 17). Cái chết không do Chúa làm ra: Ngài không vui thích gì khi thấy sinh vật phải chết (x. Kn 1, 13-14). Thiên Chúa dựng nên con người bất hoại, nhưng sự ghen tương của ma quỷ đã đưa cái chết vào trần gian (x. Kn 2, 23-24).[8] Như vậy, cái chết chính là hình phạt của tội.

Tiếp theo, sự chết dưới ánh sáng Tân Ước. Tân Ước cũng diễn tả cách rõ ràng nguồn gốc của sự chết đó là hậu quả của tội và hình phạt đối với tội. Điều này được Thánh Phaolô nêu rõ:

Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. Trước khi có lề luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời Ađam đến thời Môsê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như Ađam đã phạm (Rm 5, 12-14).

Bên cạnh đó, Tân Ước cho thấy Chúa Giêsu mang lại ý nghĩa mới cho cái chết. Ngài đã dùng cái chết của mình để diễn tạ sự vâng phục đối với Thiên Chúa (x. Mt 26, 42; Mc 14, 32-42; Lc 22, 39-46). Ngài cũng biến đổi giá trị của cái chết như án phạt của tội thành hành vi diễn tả tình yêu: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Ga 15, 13). Không những thế, cái chết của Ngài còn có giá trị cứu chuộc nhân loại. Thật vậy, nếu cái chết của Ađam xưa là hình phạt vì tội lỗi, thì cái chết của Đức Giêsu – Ađam mới, đem lại ơn giao hòa giữa nhân loại với Thiên Chúa. Ngài đã vượt thắng cái chết bằng chính cái chết của riêng Ngài (x. 1 Cr 15, 25-26). Ngài đã tước bỏ quyền lực của sự chết (x. 2 Tm 1, 10), khiến cho ác thần, chúa tể cái chết trở nên bất lực (x. Dt 2, 14; Rm 6, 9); Do vậy, Ngài cai trị cả người sống cũng như kẻ chết (Dt 14, 9). Như vậy, kể từ khi Chúa Giêsu mang lại giá trị cứu chuộc ngang qua cái chết của Ngài, thì các Kitô hữu không còn phải kinh hãi đối diện với cái chết nữa. Giờ đây họ tin rằng cùng chết với Chúa thì họ cũng được sống lại với Ngài (x. Rm 6, và với cái chết của Đức Kitô, cái chết không còn là tận cùng của đời người nữa, nhưng nó trở thành ngưỡng cửa dẫn đưa con người vào cõi sống đời đời.[9] Cõi sống đó chính là niềm hy vọng cho họ, ngõ hầu họ sống ý nghĩa và tròn đầy hơn.

  1. Niềm hy vọng Kitô Giáo trong mầu nhiệm sự chết của con người

Với cái chết cứu độ của Đức Giêsu, đưa con người vào cõi sống đời đời. Giờ đây họ không còn sợ chết, cái chết không còn là niềm đau thương, nhưng là niềm hy vọng để bước vào đời sống mới, sống cùng và sống với Đức Giêsu. Vậy niềm hy vọng đó được thể hiện như thế nào?

Trước hết, cái chết – một sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa. Sự sung mãn của sự gặp gỡ này được tìm thấy trong sách Sáng Thế Ký: như thể chiều chiều Thiên Chúa tản bộ trong vườn để gặp gỡ hàn huyên với con người (St 3, . Thế nhưng chính tội lỗi của con người đã cắt đứt mối tương quan gặp gỡ này. Dù vậy, Thiên Chúa vẫn yêu thương muốn nối lại cuộc gặp gỡ với con người. Ngài đến gặp gỡ chúng ta ở mọi giai đoạn của cuộc sống. Ngài đến qua ân huệ đức tin và phép rửa chúng ta lãnh nhận (Rm 6, 3), cách riêng trong Bí tích Thánh Thể là lời tiên báo và hoa quả đầu mùa của cuộc gặp gỡ tối hậu, khiến chúng ta thông dự vào cái chết và phục sinh. Ngài còn đến từng ngày để giúp người Kitô hữu thực hiện cuộc Vượt qua thường nhật từ xác thịt sang Thần Khí.[10] Trong các cuộc gặp gỡ ấy, cuộc vượt qua cuối cùng – giờ chết là cao điểm của cuộc gặp gỡ. Đó không thể là giờ cô đơn của người tín hữu vì Chúa Kitô đang đến, đợi chờ cho cuộc gặp gỡ “Ngài đứng ngoài và gõ cửa” (Kn 3, 10).[11] Điều này cũng được Công Đồng Vaticanô II nêu rõ: “Đức Kitô, Đấng phục sinh của ngày chung thẩm, đứng trên bờ của lằn ranh cõi vĩnh hằng để đón chờ, cho họ ăn và để nhận họ trước mặt Thiên Chúa.[12] Vậy, ai là người chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này? Chính Thiên Chúa đã chuẩn bị để con người có cuộc gặp gỡ này. Do vậy, Bắt đầu đời sống là con người bắt đầu một cuộc hành trình và niềm tin Kitô giáo chỉ ra cho chúng ta biết cuộc sống trần gian chỉ là căn nhà trọ vì: “Quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta sẽ gặp Đấng Cứu chuộc chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (Pl 3, 20). Và khi chúng ta chưa được gặp Ngài, thì lòng luôn khắc khoải như thánh Augustinô: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con, và hồn con mãi khắc khoải cho tới ngày nghỉ yên trong Chúa”.[13] Đức Kitô trở thành “địa chỉ”, là “nơi chốn” để con người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Như vậy, đối với người tín hữu, cái chết không còn là một sự kết thúc vô nghĩa, cái chết không còn mang dáng dấp gớm ghiếc của Tử thần, nhưng đó là cuộc hội ngộ của Chúa Kitô với những kẻ yêu mến Ngài. Và khi đó, người tín hữu cũng có thể mong ước như thánh Phaolô: “Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô” (Pl 1, 23).[14]

Thứ đến, cái chết của Kitô hữu là chết với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô và cho Chúa Kitô. Điều này được Phaolô nêu rõ: “Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, chúng ta sẽ cùng được sống lại với Người” (2 Tm 2,11). Nơi cái chết của mình, Đức Kitô ôm ấp tất cả sự chết của con người: “Ngài ban cho họ được cùng chết vào Chúa Cha với Ngài”.[15] Như vậy, trên cuộc hành trình đi từ miền thâm u của sự chết vào trong sự sống, chúng ta được nhập cuộc với cái chết của Đức Kitô. Và cái chết đó của Đức Kitô trở thành một hiến lễ tinh tuyền đẹp lòng Chúa Cha. Từ đó, đối với chúng ta, nơi cái chết của mỗi người, là lúc hoàn thành của lễ là chính mình, hiệp với của lễ của Đức Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha. Nhờ được tháp nhập vào cái chết của Đức Kitô, từ nay, cái chết còn mang tính chất cứu độ ở trong Đức Kitô. Vì thế, đối với người tín hữu, điều quan trọng là có ở trong Đức Kitô hay không?[16]

Tóm lại, chết với Đức Kitô là hoàn tất nơi cuộc đời mình ơn cứu độ của Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta qua Đức Kitô. Vậy chết trong Chúa Kitô là gì? Chết trong Đức Kitô là hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Đấng đã chứng tỏ Người là Đấng ban sự sống và sự phục sinh như Người đã làm đối với Đức Kitô. Đức Kitô chấp nhận chấm dứt đời sống trần thế vì Người tin tưởng vào Thiên Chúa hằng sống. Cũng vậy, người tín hữu chấp nhận cái chết với niềm tin tưởng vào các lời hứa mà Thiên Chúa đã dùng Đức Kitô mà mặc khải cho chúng ta (x. Mt 16, 24-25).

Như vậy, chết trong Đức Kitô là hiệp thông với cái chết của Ngài, để cùng Ngài làm nên của lễ tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa Cha trong một niềm tin tưởng phó thác hoàn toàn. Còn chết cho Đức Kitô thì như thế nào? “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết là chết cho Chúa” (Rm 14,7-8). Vì Đức Kitô đã yêu thương tự hiến, chấp nhận cái chết để cứu chuộc mỗi người chúng ta trong lúc chúng ta còn là tội nhân (Rm 5,8; Ga 1.24), đó là tình yêu cao cả nhất (Ga 15,13) mà Đức Kitô thể hiện vì yêu chúng ta (Gl 2,20; Ep 5,2.25), và vì vậy, đời sống người tín hữu không còn sống cho chính mình, mà là sống đời sống mới của Đức Kitô (Rm 14,8) trong chính đời sống mình[17]. Vậy khi ta chết với Chúa, trong Chúa và cho Chúa, thì ta sẽ được hiệp nhất với Ngài.

Hơn nữa, cái chết hoàn tất mầu nhiệm hiệp nhất của người tin với Đức Kitô. Cái chết không chỉ là kinh nghiệm của đau khổ mà người tin trải qua để được Thiên Chúa thanh luyện và tăng thêm sức nhằm kháng cự tội lỗi, nhưng ngang qua cái chết, người tin được nên giống Đức Kitô và kết hiệp với Ngài. Điều này được thánh Phaolô miêu tả rõ: “đồng thừa kế với Đức Kitô, vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8, 17). Thánh Phêrô cũng thêm: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cũng được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4, 13). Sự hiệp nhất với Đức Kitô trong đau khổ tột cùng của thân phận nhân loại đó là người tin nên một với Ngài trong cái chết. Nói như thánh Phaolô: “Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3, 10 -11).[18] Khi được hiệp nhất với Đức Kitô, chúng ta sẽ hưởng đời sống vĩnh cửu cùng Ngài.

Đặc biệt, cái chết là cửa ngõ đi vào đời sống vĩnh cửu. Thánh Phaolô diễn tả đời sống trong thân xác này như một cuộc lưu lạc xa Chúa (1 Cr 5, 6). Vì thế, ngài ước ao được gặp gỡ Thiên Chúa, được “ra đi” để tham dự “cuộc hội ngộ của con cái Thiên Chúa” (Dt 12, 22-23). Đối với Ngài, cái chết là ngưỡng cửa đi vào sự sống vĩnh cửu nhờ vào cuộc Vượt qua của Đức Kitô. Cái chết trở nên điều kiện cần để người tín hữu bước vào cuộc vượt qua này mà đi vào bàn tiệc cánh chung Nước Trời (Mt 26,29). Đây là điều mà niềm tin Kitô giáo luôn tuyên xưng:

Đức Kitô khơi dậy nơi chúng con niềm hy vọng sống lại vinh hiển, để dù có buồn sầu vì số phận phải chết, chúng con vẫn được ủi an bởi Cha đã hứa ban phúc trường sinh bất diệt. Vì lạy Chua, đối với chúng con là những tín hữu, sự sống này thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi trú ngụ dưới trần bị tiêu hủy, chúng con được về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.[19]

Và, Giáo lý Công Giáo cũng khẳng định: “Đối với Kitô hữu, ý nghĩa sự chết được mạc khải trong ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua, mầu nhiệm Tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, Đấng đem lại cho chúng ta niềm hy vọng duy nhất”.[20]

Như vậy, Kitô giáo không coi cái chết như là một dấu chấm hết, nhưng là một bước đệm cần thiết để thụ tạo tương đối được bước vào vĩnh cửu tuyệt đối của Đấng Tạo hóa. Cái kết thúc của cuộc sống đời này không phải là một sự triệt tiêu vĩnh viễn, nhưng là cửa ngõ mở vào đời sống chung cuộc của con cái Thiên Chúa. “Chết là kết thúc cuộc lữ hành trần thế, kết thúc thời gian Thiên Chúa gia ân và thương xót để con người sống cuộc đời trần thế theo ý Chúa và quyết định số phận tối hậu của mình. Khi chấm dứt cuộc đời trần thế duy nhất này, chúng ta sẽ không trở lại với những cuộc sống trần thế khác”.[21] Và khi đó, ta có thể khẳng định như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu: “Tôi không chết, nhưng bước vào cõi sống”.[22]

Cách riêng mỗi lần hiệp lễ là chúng ta thông hiệp vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, đặc biệt là khi rước Mình thánh Chúa như “của ăn đàng”, bí tích vượt qua từ cõi đời này sang đến nhà Cha trên trời.[23]

Tóm lại, cái chết trở nên một điều kiện bất khả phân ly đối với con người trên đường đi vào sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Con người chỉ có thể bước vào đời sống mới sau khi đã kinh qua cái chết, một cái chết không chỉ là định mệnh, nhưng còn là một sự hoàn tất Bí tích cứu độ nơi mỗi người.

Cuối cùng, cái chết là sự hoàn tất Bí tích cứu độ nơi người tín hữu. Đối với những người sống đời sống như một mầu nhiệm sự chết và sự sống với Đức Kitô, thì sự chết là thông phần ơn cứu độ được khởi sự với đức tin và các Bí tích. Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, “ta được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô” (Rm 6,3), chịu đóng đinh với Người, được mai táng và sống lại với Người. Khi ta bước ra khỏi giếng rửa tội cũng là khi ta sinh ra từ trong mồ chôn: một con người mới được sinh ra – con người được thanh tẩy, tái sinh, sống nhờ ân sủng và ân huệ của Thần Khí.[24] Nhờ Bí tích Thánh Thể, ta loan truyền cái chết của Đức Kitô là sự chết với sự sống của ta. Nếu ta loan truyền Đức Kitô là “Đấng bị trao nộp vì ta” thì Bí tích Thánh Thể phải thực hiện nơi ta cái chết của Người.[25] Nhưng con người cũ của ta vẫn còn đó, khiến điều tốt ta muốn thì lại không làm, còn điều dữ không muốn thì lại cứ làm (x. Rm 7,15). Như vậy, có một sự giao tranh giữa sống theo Đức Kitô và chết cho tội lỗi không ngừng diễn ra nơi mỗi người. Chính Bí tích Giao hòa làm cho người Kitô hữu sống liên tục trong biện chứng ân sủng này[26] và “thực hiện một cuộc phục sinh thiêng liêng đích thực, hoàn lại phẩm giá và những đặc quyền của đời sống con Thiên Chúa”.[27] Người Kitô hữu còn tập chết mỗi ngày khi bước vào đời sống gia đình do Bí tích Hôn Phối đem lại (Gl 12,25). Nhờ Bí tích Xức Dầu, trong giờ lâm tử, ta có đủ sức mạnh để đối phó với thử thách cuối cùng của cuộc đời, và, như thế, ta có thể hành động nơi mình cách hoàn toàn tự do: chết trong sự hiệp thông với Thiên Chúa. Bí tích Xức Dầu còn “hoàn tất điều Bí tích Thánh Tẩy đã khởi sự là người tín hữu được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô chịu chết và sống lại”.[28] Đặc biệt đối với một số người, khi lãnh nhận Bí tích Truyền Chức, họ mặc nơi chính con người mình Đức Kitô Linh mục thượng phẩm[29] và như Đức Kitô, họ tập chết đi mỗi ngày trong con người mình để hoàn tất nơi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.[30] Như vậy “đối với Kitô hữu, chết là kết thúc đời sống Bí tích, là khởi đầu sự viên mãn của cuộc tái sinh đã bắt đầu nơi Bí tích Thánh Tẩy, là nên ‘giống’ hoàn toàn với ‘hình ảnh Con Thiên Chúa’ nhờ Thánh Thần xức dầu và nhờ tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã được tiền dự trong Bí tích Thánh Thể”.[31]

Tạm Kết

Tóm lại, chết là hậu quả của tội. Mỗi tư tưởng triết học, tôn giáo đều có quan niệm khác nhau về cái chết, nhưng hầu như các tư tưởng đều cho rằng chết không phải là hết, mà sau cái chết, còn có một đời sống mới mẻ nào đó mà con người sẽ bước vào.

Đặc biệt, với Kitô giáo, cái chết không còn là tận cùng của đời người nữa, nhưng nó trở thành ngưỡng cửa đưa người tín hữu bước vào cõi trường sinh, là sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa; là chết với Chúa, trong Chúa và cho Chúa. Và khi đó, người Kitô hữu được hiệp nhất với Chúa, được đi vào đời sống vĩnh cửa với Chúa và hoàn tất Bí tích cứu độ.

Hiểu được ý nghĩa, niềm hy vọng của mầu nhiệm sự chết, mỗi chúng ta – những người Kitô hữu cần làm gì để sống trọn mầu nhiệm sự chết? Thiết nghĩ, chúng ta cần luôn biết đọc và nhận ra sứ điệp Chúa gửi tới trong cuộc đời, nhất là biết đón nhận tất cả những đau khổ trong cuộc đời trong tinh thần vâng phục và phó thác nơi Thiên Chúa, luôn sống tinh thần tỉnh thức, sẵn sàng. Sống trọn vẹn trong từng phút giây trong cuộc đời như thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi. Ngõ hầu, khi cái chết đến, ta không sợ, không hối tiếc vì những gì đã qua. Vì khi đó, ta biết chắc rằng, ở bên kia cái chết, ta sẽ có sự sống mới – sự sống vĩnh cửu với Đức Kitô.

Jos. Nguyễn Văn Sơn

[1] Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Cánh Chung Học (Đại Chủng Viện Thánh Giuse, 2000), 74.

[2] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Từ Điển Công Giáo (Hà Nội: NXB.Tôn Giáo, 2016), 127.

[3] Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R, Cánh Chung Học (Học Viện Thánh Anphongsô, 2017), 110.

[4] Ibid., 111.

[5] Ibid., 111.

[6] Ibid., 112.

[7] Ibid., 113.

[8] Phan Tấn Thành, Cánh Chung Học (Tp.HCM: Học Viện Liên Dòng Thánh Tôma, 2003), 258-259.

[9] Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R, Cánh Chung Học, 115-116.

[10] Durrwell, Đức Kitô – Con Người Và Cái Chết (NXB. Médiapaul & Paulines), 14-16.

[11] Ibid.

[12] Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes, Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Piô X chuyển dịch (Đà lạt, 1972), # 15.

[13] Augustinô, Tự Thuật, I,1,1.

[14] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Hà Nội: NXB. Tôn Giáo, 2011), # 1011.

[15] Durrwell, Đức Kitô – Con Người Và Cái Chết, 20.

[16] Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Cánh Chung Học, 97.

[17] Phan Tấn Thành, Cánh Chung Học, 265.

[18] Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R, Cánh Chung Học, 121.

[19] Ủy Ban Phụng Tự Trực Thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Nghi Thức Thánh Lễ (Hà nội: NXB.Tôn Giáo, 2005), 67.

[20] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, # 1681.

[21] Ibid., # 1013.

[22] Ibid., # 1011.

[23] Phan Tấn Thành, Cánh Chung Học, 266.

[24] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, # 1214.

[25] Ibid., # 1404.

[26] Ibid., # 1425.

[27] Ibid., # 1468.

[28] Ibid., # 1523.

[29] Ibid., # 1581.

[30] Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Sắc Lệnh Về Chức Vụ Và Đời Sống Linh Mục, # 13.

[31] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, # 1682.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh. Cánh Chung Học (Đại Chủng Viện Thánh Giuse, 2000).

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Từ Điển Công Giáo (Hà Nội: NXB.Tôn Giáo, 2016).

Antôn Nguyễn Văn Dũng. Cánh Chung Học (Học Viện Thánh Anphongsô, 2017).

Phan Tấn Thành. Cánh Chung Học (Tp.HCM: Học Viện Liên Dòng Thánh Tôma, 2003).

Durrwell. Đức Kitô – Con Người Và Cái Chết (NXB. Médiapaul & Paulines).

Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II. Hiến Chế Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes, Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Piô X chuyển dịch (Đà lạt, 1972).

Augustinô. Tự Thuật.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Hà Nội: NXB. Tôn Giáo, 1999).

Ủy Ban Phụng Tự Trực Thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Nghi Thức Thánh Lễ (Hà nội: NXB.Tôn Giáo, 2005).

Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II. Sắc Lệnh Về Chức Vụ Và Đời Sống Linh Mục.

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH HỒN?

Kẻ Đi Tìm

Tháng 11, Giáo Hội dùng cả tháng để cầu nguyện cho các linh hồn, được bắt đầu bằng Lễ Các Đằng Linh Hồn vào ngày 2 tháng 11. Nhiều nơi trên thế giới vẫn gọi tháng 11 là tháng cầu cho các đẳng linh hồn.

Tại sao chúng ta cần cầu nguyện cho các linh hồn? Khi họ còn sống, họ đã làm gì mà khi chết đi chúng ta phải cầu nguyện cho họ?

Đức Tin của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng, Con người sau khi chết sẽ xảy ra ba tình trạng; Được lên Thiêng Đàng, xuống Hoả Ngục hay vào Luyện Hình hay Luyện Ngục.

Thiên Đàng, khi một người sống theo luân lý Công Giáo, luôn kính sợ Thiên Chúa và sống theo giới răn của Ngài. Thiêng Đàng là phần thưởng Thiên Chúa dành cho họ vì công trạng và sự mong ước khi họ còn sống. Thiên Đàng là hạnh phúc bất diệt, là sự sống đời đời và là sự hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa, các Thiên Thần, và các Thánh.

Hỏa Ngục, là những người khi còn sống, đã từ chối ân sủng của Thiên Chúa. Những người ta biết tỏ tường điều tốt xấu nhưng vẫn phạm tội chống lại Thiên Chúa và tha nhân để chọn điều xấu. Hoả Ngục là những người biết được lòng yêu thương và lòng thương xót của Thiên Chúa nhưng vẫn khước từ và không bao giờ hoán cải.

Luyện Ngục, đó là những người sau khi chết, được Chúa hứa ban Thiên Đàng nhưng vẫn phải cần một thời gian thanh luyện vì có những tội lỗi họ đã phạm khi còn sống. Giáo Lý Công Giáo định nghĩa Luyện Ngục là “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (số 1030).

Có một điều là những linh hồn nơi luyện hình không thể cầu nguyện cho chính họ, và họ phải hoàn toàn nhờ vào lòng thương xót và lời cầu nguyện của những người đang còn sống.

Khi một người đã qua đời, chúng ta cũng không thể biết được chính xác linh hồn đó sẽ lên Thiên Đàng, hay xuống hoả ngục, hay sẽ vào chốn Luyện hình vì có những công trạng hay tội lỗi mà chỉ có mình Thiên Chúa và linh hồn đó biết mà thôi, vì vậy việc cầu nguyện cho người qua đời là hết sức cần thiết.

Ngay từ thuở đầu, Giáo Hội luôn cầu nguyện cho những người qua đời, đặc biệt trong Thánh Lễ và các phụng vụ chung. Trong Thánh Lễ, tất cả các Kinh Tạ Ơn đều có phần cầu nguyện cho các linh hồn. Kinh Tạ Ơn II ghi rằng: “Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa. Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng Tôn Nhan Chúa.” Cũng vậy, trong Phụng Vụ các Giờ Kinh dành cho các tu sĩ và giáo sĩ đọc hàng ngày, đều có lời cầu nguyện dành cho người qua đời đặc biệt là phần Kinh Chiều. Kinh Chiều Chúa Nhật I ghi rằng: “Vì lòng từ bi cao cả Chúa, xin thương đến những người đã qua đời, – và cho họ được vào an nghỉ trong Nước Chúa.”

Tuy nhiên bổn phận của chúng ta là những người Kitô Hữu chúng ta cũng phải đọc kinh cầu nguyện cho các Linh Hồn, tại sao?

Lửa Luyện Tội là có thật: Ở Roma, tại Nhà Thờ Thánh Tâm có một viện bảo tàng trưng những chứng tích các linh hồn hiện về xin cầu nguyện cho họ. Các chứng tích cho thấy trên các sách kinh, khăn bàn thờ, hay trên mặt bàn bị cháy nám in hình bàn tay hay các ngón tay. Họ hiện về xin cầu nguyện cho họ để mau thoát lửa luyện tội và để lại các chứng tích như một bằng chứng. Các Thánh hiện về cũng cho biết, lửa Luyện tội cũng không khác mấy so với lửa Hoả Ngục.

Họ là người thân yêu của chúng ta: Những người qua đời, chắc chắn trong số là những người thân yêu của chúng ta, ông bà cha mẹ anh chị em bạn hữu của chúng ta. Họ đã là một phần không thể thiếu trong cuộc đời của chúng ta, nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục, chúng ta phải biết cầu nguyện cho họ. Mặc dù nếu chúng ta không có bà con bạn bè thân thuộc, chúng ta cũng phải cầu nguyện cho các linh hồn, vì qua bí tích Rữa Tội, tất cả đều là anh chị em của chúng ta.

ĐGH Phanxicô đã nói trong một buổi trưa đọc Kinh Truyền Tin: “Truyền thống Giáo hội luôn thức giục chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, đặc biệt là dâng lễ cầu cho họ. Đó là các giúp đỡ tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho các linh hồn, nhất là các linh hồn bị bỏ rơi. Nền tảng của việc cầu nguyện cho các linh hồn là tình hiệp thông trong Nhiệm Thể Đức Giêsu Kitô”.

Thân phận chúng ta: Cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện hình cũng là một cách để nhớ đến thân phận của chúng ta. Có thể khi nhắm mắt lìa đời chúng ta cũng sẽ vào Luyện Hình để chịu sự thanh luyện của Thiên Chúa. Vì vậy khi cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta được mời gọi để sống tốt hơn và thánh thiện hơn đời sống Kitô hữu của chúng ta để ước mong khi chết chúng ta được Chúa hưởng phúc Thiên Đàng.

Tập cho con cái biết cầu nguyện: Cầu Nguyện cho các linh hồn và tập cho con cái cầu nguyện cầu nguyện cho các linh hồn là điều hết sức cần thiết cho con cái sau này. Nếu chúng ta không cầu nguyện cho các linh hồn và không tập cho con cái cầu nguyện cho các linh hồn thì khi chúng ta nằm xuống, ai sẽ cầu nguyện cho chúng ta?

Sinh Ơn Ích cho chính chúng ta: Cầu nguyện cho các linh hồn không những giúp các linh hồn mau hưởng phúc Thiên Đàng nhưng còn sinh ơn ích cho chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta không những trở nên những người gần gủi với Thiên Chúa, là những người biết nghĩ đến và yêu thương người khác, là người sống vị tha và không ít kỷ. Những việc làm này đều được Thiên Chúa ghi nhận và chúc phúc cho đời sống của chúng ta.

Niềm Vui cứu rỗi: Cầu nguyện cho các linh hồn thật sự mang rất nhiều hiệu quả thiết thực. Chắc chắc các linh hồn trong luyện ngục sẽ được “rút ngắn” thời gian thanh luyện vì lời nguyện của chúng ta. Chúng ta hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó chúng ta được gặp anh chị em của chúng ta trên Thiêng Đàng và biết rằng chính những lời nguyện và hy sinh của chúng ta đã giải thoát họ sớm chốn Luyện Hình. Khi chúng ta vào Thiêng Đàng rất nhiều linh hồn đến cảm ơn chúng ta vì những lời nguyện và hy sinh nhỏ chúng ta đã làm cho họ.

Rất dễ làm: Cầu nguyện cho các linh hồn không những rất dễ và lại còn có nhiều cách khác nhau. Đọc kinh Vực Sâu, một vài kinh Kình Mừng hay một vài kinh Lạy Cha, ngắn hơn thì đọc kinh cầu các Linh Hồn (Chúng con cậy vì danh Chúa….) trước khi ngủ hay trong lúc đi bộ. Sốt sáng hơn thì đọc một chuổi mân côi cầu nguyện cho các Linh Hồn. Chúng ta có thể xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn và cùng hiệp thông với Linh mục trong Thánh Lễ đó. Hy sinh, hãm minh và làm việc bác ái để cầu cho họ là những điều rất cần thiết. Thăm viếng Nghĩa Trang và phần Mộ của người thân yêu đặc biệt là trong tháng 11, Mùng 2 Tết và ngày Giỗ của họ là những điều rất ý nghĩa và thiết thực.

Các Linh Hồn luôn mong chờ những lời cầu nguyện và những hy sinh nhỏ bé của chúng ta.

Lạy Nữ Vương Cát Minh, Xin cứu các linh hồn nơi chốn luyện tội.

Trong Tháng các Linh Hồn, Dòng Cát Minh, Hằng ngày trong Thánh Lễ và giờ Kinh Sáng Chiều sẽ cầu nguyện cho các linh hồn: Anh Chị em có thể bấm vào link này để thắp một cây nến và gửi tên các linh hồn thân yêu của anh chị em cho nhà Dòng. http://www.dongcatminh.org/thap-nen-cau-nguyen-cho-nguoi…

…

Lm. Giuse Trần Thăng Hưng, O.Carm.

Theo: http://www.dongcatminh.org/tai-sao-chung-ta-phai-cau…

TBTNguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc phủ bóng lên Đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt? – BBC News Tiếng Việt 

BBC News Tiếng Việt

GS Carl Thayer, Đại học New South Wales, Úc nói với BBC hôm 1/11 rằng nếu thông tin, hiện chưa được xác nhận, rằng Việt Nam đang vận động Hoa Kỳ cho chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Joe Biden vào tháng 11 là sự thật, thì Việt Nam có thể bất ngờ trả tự do cho nhà báo Phạm Đoan Trang.

Bình luận của GS Carl Thayer được đưa ra trước Đối thoại nhân quyền Hoa Kỳ-Việt Nam lần thứ 26 diễn ra tại Hà Nội vào 2/11, đúng một ngày sau khi Tổng bí thư ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng trở về nước sau chuyến thăm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Trong khi Việt Nam nhấn mạnh ‘Trung Quốc là ưu tiên ngoại giao hàng đầu’, và ông Tập nhấn mạnh ‘không để ai can thiệp’ vào tiến trình phát triển của hai nước, có thể trông đợi gì ở Mỹ trong việc cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam?

Đọc toàn bài tại:

https://bbc.in/3TUkryd

BBC.COM

TBTNguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc phủ bóng lên Đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt? – BBC News Tiếng Việt 

Đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt lần thứ 26 tại Hà Nội, diễn ra ngay sau khi TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc, liệu có mang lại điều gì tích cực cho nhân quyền Việt Nam?

NHỮNG CON QUỶ THẬT SỰ CỦA CHÚNG TA

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong hình ảnh có gì?  Hình ảnh có thể ghi dấu không phai vào ý thức của chúng ta để chúng ta không thể hình dung một vật gì đó theo cách nào khác.  Ví dụ như bức tranh Bữa tiệc ly của Leonardo da Vinci.  Ngày nay, nếu bạn nhắm mắt lại và cố hình dung Bữa tiệc ly, thì hình ảnh đó sẽ tự nhiên hiện lên, dù các học giả khẳng định trong bữa tiệc đó, Chúa Giêsu và các môn đệ không ngồi như thế.  Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy.

Đáng buồn là, điều này cũng đúng về cách chúng ta tự nhiên hình dung về ma quỷ và việc trừ quỷ.  Các bộ phim về quỷ ám, như Rosemary’s Baby đã ghi khắc những hình ảnh nhất định trong chúng ta, nên chúng ta hình dung người bị quỷ ám là người có gương mặt đầy thù hận, méo mó, điên dại, bay lơ lửng lên trần, miệng phun ra những thứ nước tanh tưởi, ở trong một căn phòng đầy mùi khí độc. Và hình ảnh về việc trừ quỷ là một linh mục trông rất khổ hạnh, mặc toàn đồ đen, mang dây các phép, kêu danh cực thánh Chúa Giêsu khi rảy nước thánh, rồi quỷ hét lớn và tháo lui.  Đó là những hình dung của chúng ta về quỷ ám và trừ quỷ. Nghệ thuật mạnh đến như vậy đấy!

Nhưng thường thì quỷ ám và trừ quỷ lại không giống như vậy. Thật sự hình dung ma quỷ và việc trừ quỷ theo cách đó là lợi bất cập hại, vì ma quỷ thì tinh vi và việc trừ quỷ không chỉ có những việc như trên phim mà lâu nay chúng ta vẫn tin.

Vậy đúng ra ma quỷ trong chúng ta sẽ như thế nào?  Một hình ảnh về gương mặt méo mó, phun ra khí độc và những lời lẽ thù hận, có lẽ cũng hữu ích cho chúng ta hình dung. Đó là một hình ảnh ẩn dụ tốt. Tuy nhiên, trong đời thực, gương mặt méo mó và đầy thù hận quá lại thường xuất hiện trên mặt chúng ta, và chất độc phun ra chính là lời nói thù hằn mà chúng ta nhắm vào nhau khi chửi rủa nhau vì đối địch về hệ tư tưởng, chính trị, đạo đức và tôn giáo. Cũng vậy, việc trừ quỷ không chỉ cần hành động rảy nước thánh theo nghĩa đen, mà còn cần đến Thần Khí.

Ma quỷ thật sự trông thế nào?

Có một con quỷ tên là hoang tưởng, nó rất mạnh và kéo theo các bầy đàn quỷ khác, như bất tín, nghi ngờ, đề phòng, và sợ hãi. Khi chúng ta bị hoang tưởng chiếm lấy, là chúng ta trở nên nghi ngờ và bất tín. Chúng ta nhìn ai cũng thấy họ là mối đe dọa, là kẻ địch, và mọi bản năng tự nhiên bắt đầu thúc ép chúng ta đề phòng, thủ thế và từ đó bắt đầu làm cho gương mặt chúng ta méo mó và phun ra điều bất tín.  Đây có thể là con quỷ khó trừ nhất, vì nó khắc sâu trong lòng chúng ta. Không phải tình cờ mà từ sám hối [metanoia] là tổng kết thách thức mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta lại chính là phản đề của hoang tưởng [paranoia].

Rồi còn có một con quỷ khác tên là kiêu ngạo, nó làm chúng ta luôn mãi ý thức về sự đặc biệt của mình, làm chúng ta thích đặc biệt hơn là thích hạnh phúc. Con quỷ này kéo theo một bạn đồng hành xấu xa là ghen tị, làm tê liệt khả năng ngưỡng mộ người khác, chúc phúc cho họ và không thấy bị đe dọa bởi thành công của họ.

Tiếp theo, là con quỷ ham ăn và con quỷ tham lam. Hầu như chúng không còn dụ dỗ chúng ta ăn uống cho thật nhiều và tích trữ của cải mãi nữa. Thay vào đó, những con quỷ này truyền cho chúng ta sự tham lam muốn trải nghiệm, ám ảnh muốn tận hưởng mọi thứ, ám ảnh muốn kết nối xã hội 24/24 và 7/7.  Hơn nữa, chúng còn kéo theo con quỷ dâm dục, con quỷ làm cho chúng ta xem người khác là đối tượng dục vọng của mình và làm chúng ta không tôn trọng họ nữa.

Chúng là những con quỷ thật sự làm cho gương mặt chúng ta méo mó, và dù không có con quỷ nào có hình dạng như đứa bé trong phim Rosemary’s Baby, nhưng tất cả chúng đều làm chúng ta phun ra sự bất tín và thù hận thay vì tin tưởng và thông hiểu.

Làm sao để trừ chúng đây?  Chúng không phải là những con quỷ dễ phản ứng trước nước thánh.  Để tẩy trừ chúng, chúng ta phải cần đến Chúa Thánh Thần.

Kinh Thánh cho chúng ta biết Thần Khí “soi sáng mọi sự.”  Kinh Thánh còn nói rằng Thần Khí không phải là một sức mạnh mơ hồ mà chúng ta không thể nhận biết.  Trong thư gửi tín hữu Galat, thánh Phaolô nói rõ Thần Khí là gì. Ngài bắt đầu bằng phép loại trừ, nói rằng Thần Khí không phải là gì, và không bao giờ được nhầm lẫn Thần Khí với những con quỷ, cụ thể là hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục. Thần Khí là phản đề với tất cả những thứ đó.  Ngược lại, Thần Khí là khí thiêng của lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh.

Hai cái đối lập không thể cùng tồn tại trong một chủ thể, và đó chính là cách hoạt động của việc trừ quỷ. Càng nắm lấy lòng nhân, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, hiền lành và khiết tịnh, thì chúng ta càng diệt trừ hoang tưởng, bất tín, nghi ngờ, thủ thế, sợ hãi, kiêu ngạo, ghen tị, tham lam, ham ăn, và dâm dục, cũng như bớt phun ra những thứ quỷ ám thù hận.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Hung thủ dự định bắt bà Pelosi làm con tin và đánh bể đầu gối

Nguoi-viet

October 31, 2022

WASHINGTON, DC (NV) – Trong cuộc thẩm vấn mà cảnh sát tiến hành vào ngày xảy ra vụ hành hung ông Paul Pelosi, 82 tuổi, chồng Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi, nghi can David DePape, 42 tuổi, khai dự định “bắt ‘Nancy’ làm con tin và ‘nói phải quấy’ với bà,” theo NBC News.

“Nếu bà Pelosi nói với DePape ‘sự thật’ sẽ được thả, và nếu ‘nói dối’, nghi can sẽ đánh bể ‘xương đầu gối của bà’” theo biên bản điều tra trong bản cáo trạng được toà công bố hôm Thứ Hai, 31 Tháng Mười.

Bà Nancy và ông Paul Pelosi. (Hình: Leon Neal/Getty Images)

Nghi DePape nói với cảnh sát rằng “bằng cách làm gãy đầu gối của Nancy thì sau đó khi bà trở về Quốc Hội với thương tật, điều này sẽ làm gương cho các thành viên khác của Quốc Hội biết sẽ có ‘hậu quả’ cho các hành động của họ.”

Cáo trạng cho biết nghi can DePape nói với cảnh sát rằng “anh ta muốn dùng việc bắt giữ ‘Nancy’ nhằm làm mồi cho một cá nhân khác” nhưng cáo trạng không tiết lộ danh tánh người mà nghi can ám chỉ.

Bản cáo trạng của Bộ Tư Pháp nộp lên toà án liên bang cáo buộc nghi can DePape hai tội danh: Bắt cóc người và hành hung với ý định trả đũa một giới chức liên bang bằng cách đe doạ hoặc gây thương tích cho thành viên gia đình.

Các biện lý cho biết nghi can DePape muốn bắt cóc vị chủ tịch Hạ Viện khi đột nhập vào tư gia của gia đình bà Pelosi ở San Francisco, California, mà không ý thức rằng bà đang ở Washington, D.C., và chỉ có người chồng, ông Paul Pelosi, ở nhà.

“Ông Pelosi đang ngủ khi DePape vào phòng và tuyên bố muốn nói chuyện với ‘Nancy.’ Khi ông Pelosi nói với nghi can rằng không có vợ mình ở nhà, nghi can tuyên bố sẽ ngồi và chờ đợi cho đến lúc bà về,” theo cáo trạng.

Cảnh sát thu hồi các dây “zip tie” trong phòng ngủ ông Pelosi và trên hành lang gần cửa trước của ngôi nhà.

Trong ba lô của nghi can DePape, cảnh sát cũng tìm thấy “trong số những thứ khác, một cuộn băng keo, dây thừng, một cây búa, một đôi găng tay bằng cao su và bằng vải, và một cuốn nhật ký.”

Vào Thứ Bảy, giới chức thẩm quyền xác định rằng trong hai năm qua nghi can DePape đã sống ở nhà để xe của một căn nhà tại Richmond, California, ngoại ô thành phố San Francisco. Tại nhà để xe này, cảnh sát tìm thấy và tịch thu “hai cây búa, một thanh kiếm, và một đôi găng tay cao su và vải”, đơn kiện cho biết.

Cơ quan điều tra liên bang FBI đã phối hợp với cảnh sát San Francisco và Cảnh Sát Quốc Hội nhằm điều tra vụ hành hung ông Pelosi diễn ra vào hôm Thứ Sáu tuần qua.

Dự kiến, nghi can DePape sẽ hầu tòa trong tuần này với các tội danh tiểu bang.

Cảnh Sát San Francisco cho biết đương sự sẽ bị truy tố với tội danh mưu toan sát nhân, trộm cắp cấp độ một, tấn công bằng hung khí gây tử vong, hành hung gây thương tích nghiêm trọng trên cơ thể, ngược đãi người cao tuổi, đe dọa một giới chức chính phủ cùng thành viên gia đình, cùng một số tội danh khác.

Cảnh sát giăng dây quanh nhà gia đình Pelosi tại San Francisco. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

Kể từ sau vụ tấn công hôm Thứ Sáu trong tuần trước, ông Pelosi ” trải qua một cuộc phẫu thuật vì một vết nứt hộp sọ và những vết thương nghiêm trọng ở cánh tay phải và bàn tay,” theo văn phòng của Pelosi cho biết. Các bác sĩ hy vọng ông Pelosi sẽ bình phục hoàn toàn.

Hiện nay, ông Pelosi vẫn ở trong phòng chăm sóc đặc biệt với sự hiện diện của toàn thể gia đình, theo một nguồn tin am hiểu về tình hình nói với  đài NBC News vào đầu ngày Thứ Hai. Nguồn tin cũng cho biết người chồng của bà chủ tịch Hạ Viện còn tỉnh táo và có đủ nhận thức. Ông dường như nhớ mọi chuyện xảy ra.

Theo một thành viên gia đình Pelosi, nghi can đã dùng búa phá cửa sổ ở phía sau căn nhà và sau khi đột nhập, nghi can cố trói ông Pelosi để cùng ngồi đợi “cho đến khi Pelosi trở về.

Cùng theo nguồn tin từ người nhà cho biết lúc đó ông Pelosi ở nhà một mình và bị nghi can đập búa vào đầu nhiều lần.

Khi cảnh sát đến, nghi can tuyên bố: “Chúng tôi đang đợi ‘Nancy.’”

Nghi can DePape điều hành một trang web mà trên đó anh ta viết nhiều bài đăng liên quan đến hầu hết các thuyết âm mưu hiện nay: Sự hiện diện của người ngoài hành tinh, vấn đề người Do Thái, chủ nghĩa cộng sản, vaccine, gian lận bầu cử và nhiều chủ đề khác.

Hai giới chức công lực cho biết cuộc điều tra sơ khởi cho thấy nghi can DePape đăng các bài tán thành các ý tưởng liên quan đến chủ nghĩa cực hữu lẫn cấp tiến. (MPL) [kn]

Nhớ ơn, ca ngợi công ơn tổ tiên

Hoang Xuan Ly

Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn. Amen

Các Bạn thân mến

Tục ngữ Việt Nam có câu: Con người có cố có ông, như cây có cội như sông có nguồn. Hay: con ai chẳng là con cha, cháu ai là chẳng cháu bà cháu ông. Hai chữ cội nguồn đã mang lại toàn bộ ý nghĩa của đạo làm con đối với các bậc sinh thành mà bất cứ ai sinh ra trong cuộc đời đều có bổn phận phải ghi nhớ và gìn giữ. Theo tháng năm, từ đông sang tây, từ bắc chí nam, đâu đâu cũng vang lên giai điệu về chữ hiếu như là lời báo đáp và ghi ơn tổ tiên mình.

Chính vì thế, hàng năm Giáo Hội công giáo đã dành trọn tháng 11 để tưởng nhớ những người quá cố, để sống lại đạo làm con. Người công giáo vẫn có thói quen tốt lành xin lễ cho ông bà tổ tiên, viếng nghĩa trang cùng với việc tảo mộ. Ngoài ra, trong ba ngày đầu năm, Giáo Hội Việt Nam đã dành ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ. Hòa lẫn với chủ đề kính nhớ tổ tiên, Giáo Hội cũng đã nhắn gửi tới từng người con phải biết yêu chuộng ý nghĩa thiêng liêng cao cả: con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ nhớ mà ghi tâm.

Cũng thế, anh em Phật giáo hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch cũng có mùa vu lan để báo hiếu. Vào dịp này, mỗi người đều xướng lên tám lòng biết ơn của mình. Có người không quen ăn chay trường, song vào thời điểm này, người ta thể hiện lòng hiếu đó bằng việc ăn chay trọn tháng bảy âm lịch, hay có những người bận rộn công việc đời thường vào dịp này họ cố gắng thu xếp thời gian để đến một ngôi chùa quen thuộc dự lễ cầu siêu cho linh hồn ông bà cha mẹ đã qua đời. Họ tin rằng nhờ đó, bổn phận của họ được chu toàn. Với truyền thống lâu đời của người phật tử là cầu mong để được đáp đền ơn tam bảo, báo hiếu cha mẹ sinh thành dưỡng dục…

Còn ở Mỹ, người ta không có tục thờ cúng tổ tiên bởi vì chữ hiếu nơi họ không được nâng lên thành đạo. Thế nhưng họ có những ngày mà người Việt Nam chúng ta chưa có. Họ đã chọn ra hai ngày trong năm để tưởng nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ. Đó là ngày của mẹ (mother’s day) vào ngày chúa nhật thứ hai trong tháng năm và ngày của cha (father’s day) vào ngày chúa nhật thứ ba trong tháng sáu.

Quả là đã mang trong mình dòng máu linh thiêng của tổ tiên, dù là người công giáo, phật giáo hay bất cứ ai cũng đều thể hiện lòng biết ơn một cách trân trọng đối với các bậc sinh thành. Trở về cội nguồn tổ tiên, chúng ta một lần nữa nói lên lòng biết ơn sâu sắc, đối với cácbậc tiền nhân.

Vì thế, chúng ta cùng nhau thắp lên một nén nhang để cùng nhớ ơn, ca ngợi công ơn tổ tiên và cầu nguyện cho tất cả những ai đã từng một lần chắp cánh cho chúng ta buớc vào cuộc đời và sống trọn vẹn ý nghĩa của con người.

CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Từ ban đầu, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài (x. St 1,27).  Như thế, khi tạo dựng nên chúng ta, Thiên Chúa đã đặt để nơi chúng ta mầm mống của sự thánh thiện.  Bởi lẽ nếu Thiên Chúa là Đấng chí thánh, thì hình ảnh của Ngài chắc chắn phản ánh sự thánh thiện.  Con người được tạo dựng trong sự thánh thiện và với mục đích trở thành thánh nhân.

“Nhân chi sơ, tính bản thiện – Từ nguồn gốc, con người vốn tốt lành.”  Quan niệm Á đông cũng giống như quan niệm Kinh Thánh.  Ban đầu, bản chất con người là tốt lành thiện hảo.  Tội lỗi gian tham làm cho con người không còn tốt lành thiện hảo như trước nữa.

Công đồng Vatican II khẳng định: “Trong Bí tích Thánh tẩy nhờ đức tin, các môn đệ Đức Kitô đã thực sự trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào thần tính, và do đó, thật sự đã trở nên thánh” (Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 40).  Đối với Kitô hữu, ngay lúc họ lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, họ đã được gọi là “thánh,” vì Bí tích này làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu.

Nếu Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài từ ban đầu trong cuộc sáng tạo, thì đối với cuộc sáng tạo mới trong Đức Kitô Giêsu, Thiên Chúa lại làm cho con người trở nên giống như Đức Giêsu Con của Ngài.  Đây là một bước tiến mới khẳng định phẩm giá của con người mới được cứu chuộc nhờ Đức Giêsu.

Như thế, từ nguyên thuỷ, con người đã là thánh, vì mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa.  Nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người được mặc lấy phẩm giá của con Thiên Chúa, trở nên hoàn hảo hơn, đến mức trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa.

Như đã nói ở trên, tội lỗi xuất hiện làm cho hình ảnh Thiên Chúa bị phai nhạt nơi con người.  Hình ảnh ấy, do tội lỗi đã trở nên biến dạng.  Nên thánh chính là cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ để tác phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi cuộc đời, và hơn thế nữa, làm cho con người nên giống như Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người và đang hiện diện huyền nhiệm giữa chúng ta.  Công đồng Vatican II viết tiếp: “Vì thế, nhờ ơn Chúa họ (tức là Kitô hữu) phải tiếp tục giữ gìn và hoàn thành trong đời mình sự thánh hoá mà họ đã lãnh nhận” (cùng số 40 đã trích dẫn).  Như vậy, nên thánh là cố gắng gìn giữ và duy trì tình trạng tốt lànnh Chúa ban khi tạo dựng nên chúng ta, và tình trạng thánh thiện nhờ Bí tích Thánh tẩy.

Tất cả Kitô hữu, bất cứ trong bậc sống hay địa vị nào, đều được mời gọi vươn đến đời sống Kitô hữu viên mãn và đức ái trọn hảo.  Theo quan niệm thông thường, “nên thánh” là một khái niệm xa vời đối với người tín hữu.  Dường như lời mời gọi này chỉ nhắm tới nhà tu và một số người cao niên hoặc trí thức.  Đó là một quan niệm lệch lạc.  Ơn gọi nên thánh là ơn gọi của mỗi chúng ta.  Thiên Chúa đã đặt để nơi chúng ta sự thánh thiện của Ngài.  Nên thánh là cố gắng làm cho ơn của Bí tích Thánh tẩy sinh hoa kết trái trong cuộc đời cá nhân của mình.  Đó không phải là ơn gọi vượt tầm với của chúng ta, nhưng phù hợp với mọi người, bất kể họ ở bậc sống nào.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói đến “những vị thánh ở bên ta”, tức là những người sống một cuộc đời bình dị, như người phu quét rác, người mẹ nội trợ, người thợ xây cần mẫn, người nông phu trên cánh đồng (x. Tông huấn Hãy vui mừng hoan hỉ, số 6 và số 7).  Những người ấy cũng có thể nên thánh, nếu họ biết sử dụng những vốn liếng Chúa ban để sinh lợi thiêng liêng và biết chu toàn bổn phận của mình cách khiêm nhường cần mẫn.

Một cách cụ thể hơn, nên thánh chính là thực thi những mối phúc mà Chúa Giêsu đã nêu trong Bài giảng trên núi (x. Mt 5,1-12).  Bài giảng này có thể được hiểu cách cụ thể hơn như sau:

–  Sống nghèo khó trong tâm hồn, đó chính là sự thánh thiện

–  Hành động với trái tim khiêm nhường, đó chính là sự thánh thiện

–  Than khóc cảm thông với những người xung quanh, đó chính là sự thánh thiện

–  Khao khát tìm kiếm sự công chính, đó chính là sự thánh thiện

–  Hành động với lòng nhân từ, đó chính là sự thánh thiện

–  Giữ tâm hồn trong sạch và tránh mọi nhơ uế, đó chính là sự thánh thiện

–  Gieo rắc và xây dựng hoà bình, đó chính là sự thánh thiện

–  Hằng ngày đón nhận con đường của Tin Mừng, kể cả khi gặp những bất lợi, đó chính là sự thánh thiện.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: https://www.tonggiaophanhanoi.org

From: Langthangchieutim

Đừng Trở Lại – Trần Trung Đạo

Ảnh ttđ “Lá khóc trên cây” ở Acadia National Park)

Tác giả: Trần Trung Đạo

Anh ra đi Sài Gòn xưa đã chết
Cây me già cô độc đứng nghe mưa
Ðừng trở lại chẳng còn gì nữa hết
Em đã tàn hương sắc của năm xưa

Anh ra đi phố phường xưa đổi khác
Ngọn đèn xanh le lói bóng ga chiều
Những kỷ niệm vàng hoe trên mái tóc
Tóc em buồn từng sợi rối đêm khuya

Anh ra đi cửa lòng em đã đóng
Với đau thương chồng chất thuở xuân thì
Ðừng trở lại chẳng còn ai mong ngóng
Xuân đã tàn từ độ én bay đi

Anh ra đi em một mình lầm lũi
Con đường câm trong những tối không đèn
Ðừng trở lại em quen rồi cực khổ
Anh cũng quen rồi cuộc sống ấm êm

Anh ra đi mùa đông buồn ghê lắm
Mùa mưa dài thăm thẳm ở nơi đây
Ðừng trở lại chẳng cần ai đưa đón
Ðể em ngồi nghe lá khóc trên cây

Anh ra đi mẹ bao lần đã nhắc
Ðứa con yêu lưu lạc ở phương nào
Anh có đọc nỗi buồn sâu trong mắt
Mắt mẹ già năm tháng đã hư hao

Anh ra đi đàn em thơ đã lớn
Nhìn hình anh ngơ ngác hỏi là ai
Bầy chim nhỏ giữa trời đầy giông tố
Chim đầu đàn vẫn biệt dưới chân mây

Anh ra đi quê hương nghèo hơn trước
Những lầm than vẫn nối tiếp nhau về
Bài thơ cũ mơ làm người yêu nước
Ðến bây giờ anh còn nhớ hay quên.

Trần Trung Ðạo

From: Tư-Phung

Tại sao Hội thánh thường hay cử hành phụng vụ?-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để tôn vinh và ca ngợi tình yêu ngọt ngào của Chúa trong mọi hoàn cảnh. Tối Halloween ăn kẹo ít ít thôi nhé kẻo lên cân đó!

Cha Vương

Thứ 2: 31/10/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Hội thánh thường hay cử hành phụng vụ? Người dân Israel ngừng công việc “mỗi ngày 7 lần” (Tv 119, 164) để ngợi khen Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã tham dự việc thờ phượng và cầu nguyện của dân Người. Người dạy các môn đệ cầu nguyện và tập hợp họ nơi nhà tiệc ly để cùng cử hành với họ việc thờ phượng lớn lao nhất trong các việc thờ phượng, đó là hiến mình làm lương thực. Hội Thánh khi mời ta tham dự phụng vụ là Hội Thánh trung tín với Lời Chúa khuyên dạy: Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy (1Cr 11,24). (YouCat, số 166)

SUY NIỆM: Con người chúng ta phải thở để sống thế nào thì Hội thánh cũng thở và sống khi cử hành phụng vụ như vậy. Chính Thiên Chúa ngày này qua ngày khác, thổi vào Hội thánh sự sống mới và hiến tặng Hội thánh Lời Chúa và các bí tích. Một hình ảnh khác đề minh họa: mỗi dịp thờ phượng Chúa là một cuộc hẹn của tình yêu mà Chúa ghi trong nhật ký của ta. Ai đã cảm nghiệm được tình yêu Chúa thì sẽ tự nguyện đến đúng hẹn. Ai đôi khi không cảm nghiệm gì cả nhưng cũng đến đúng hẹn, thì họ chứng tỏ họ vẫn trung thành với Chúa. (YouCat, số 166 t.t.)

LẮNG NGHE: Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. (Mc 14:22-24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa là Tình Yêu, “thờ phượng Chúa là một cuộc hẹn của tình yêu”. Con xin lỗi Chúa vì những lần con hứa hẹn rất nhiều mà chẳng đến để gặp Chúa trong bí tích, trong lời kinh nguyện. Xin cho những trang nhật ký của đời con được Chúa ghi vào bằng những lời yêu thương thắm thiết và gần gũi.

THỰC HÀNH: Đọc lại quyển nhật ký của đời bạn hôm nay nhé. Có bao nhiêu hàng chữ của Chúa?

From: Đỗ Dzũng

Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du

 

 

 “Sau khi quân lính cắt 1 dao đầu tiên trên trán cha, cha đã kêu thét thất thanh lên vì đau đớn, và đến nhát dao thứ 7 thì cha tắt thở.

Sau đó xác của cha quân lính đem về băm nát ra rồi thả trôi sông. “

Đó là lời kể của những người tín hữu sống gần ngôi mộ của vị Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du cũng là nơi pháp trường chỗ cha bị xử bá đao 30.11.1835 tại Huế vì giữ đạo Chúa.

Cái chết của Cha Marchand nêu cao mẫu gương hết lòng vì giáo dân, và là nạn nhân để các tướng giặc trút lên ngài mọi tội phản nghịch lại quốc gia. Song từ quan cho đến dân đều xác nhận ngài phải chết vì không chịu bỏ đạo, mặc dù hình khổ bá đao dành cho những người phản nghịch.

Cha Giuse Marchand sinh ngày 17-8-1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs, nước Pháp. Cha mẹ ngài làm nghề nông, giầu lòng đạo đức. Ban đầu cậu Marchand đã ước muốn làm linh mục, hay bắt chước cha xứ đọc kinh, dâng hương và khuyên giảng. Năm 18 tuổi, 1821, cậu Marchand vào trường Orsans để học sửa soạn làm linh mục và tháng 11-1823 vào Ðại Chủng Viện Besancon. Bạn học làm chứng rằng Thầy Marchand chỉ ước ao gần gũi thân mật với Chúa và các Thiên Thần, còn ngoài ra rất mực khiêm nhường, hơi nóng tính một chút nhưng rất chân thành. Cậu tập hãm mình, mặc áo nhặm và ban đêm ngồi ghế để ngủ.

Sau khi chịu chức Phó Tế, Thầy Marchand muốn vào chủng viện truyền giáo, nhưng cha sở cố sức ngăn cản: “Thầy nên ở lại quê nhà lo liệu cho kẻ có tội và cứng lòng tin trở lại cùng Chúa trước đaõ”.

Thầy Marchand trả lời: “Nếu phải lo cho những người mất đức tin trong nước Pháp trước đã thì sẽ chẳng bao giờ có thể đi làm tông đồ giảng đạo. Có ai ăn ở như thiên thần đâu. Hơn nữa Ðức Thánh Cha đã dậy nhiều người phải đi xa để giảng đạo, thì không có lẽ chối vì muốn giảng đạo cho người xứ sở mà thôi?”

Tháng 11-1828, Thầy Phó Tế Marchand từ giã làng mạc lên chủng viện truyền giáo Paris học tập công việc tông đồ mới. Sau 5 tháng, thầy được chịu chức linh mục và sai đi truyền giáo ở viễn đông. Ngày 24-4-1829 Cha Marchand rời Paris và đến Macao 19-10-1829. Sau cùng vào đầu tháng 3-1830 Cha Marchand tới miền Nam được đức cha cho ở nhà trường Lái Thiêu để học tiếng Việt và lấy tên là Du.

Trước tiên Cha Du sang làm việc với người Việt ở Nam Vang, nhưng không hợp thủy thổ, đức cha chỉ cho người về dậy học ở trường Lái Thiêu và thăm các họ đạo chung quanh. Trong thời kỳ cấm cách các thừa sai ở nhiều dễ bị lộ, đức cha muốn cho Cha Du về Pháp để dậy trường truyền giáo, song cha yêu thích làm việc truyền giáo hơn dù có phải chết cũng cam. Ðức Cha Taberd giao cho ngài coi bổn đạo ở Bình Thuận. Cha Du viết về nhà như sau: “Ðịa sở của con hơn 7.000 bổn đạo, chia làm 25 họ nhỏ cách xa nhau nhiều lắm. Ðể làm hết bổn phận sẽ không còn giờ nào rảnh. Từ 5 giờ sáng cho tới 9 giờ tối không được nghỉ một chút nào. Chính vì con muốn sang đây để làm những việc này nên con rất hài lòng. Chỉ có một điều là con không thể có mặt nhiều nơi một lúc để có thể giúp cho bổn đạo. Phần lớn thời giờ con phải đi ghe nên cũng khó gặp được các bổn đạo hay lương dân để dẫn đưa họ về đạo thật….”

Ngày 6-1-1833 Vua Minh Mệnh ra lệnh bắt đạo toàn diện, các cha phải trốn chạy, nguyên địa phận Ðàng Trong có hơn 300 nhà thờ, 18 nhà dòng phải tháo gỡ. Số giáo dân địa phận Ðàng Trong là 60.000 người do Ðức Cha Taberd cai quản với 9 thừa sai và 17 cha Việt Nam. Ðức cha đang ở Biên Hòa được lệnh quan đã cùng với các cha khác trốn đi. Chỉ có Cha Delamotte trốn ở xứ Quảng, Cha Brigol ở Bình Thuận và Cha Marchand ở Vĩnh Long. Ba cha khác đã bị bắt là Cha Jaccard, Gagelin và Odorico. Cha Du lưu lạc hết Cái Nhum đến Cái Mơn, Bãi San, Rạch Rập. Quan đầu tỉnh Vĩnh Long biết có cụ đạo Tây trốn thì bắt một thầy bói tên là Oai Cú chỉ chỗ. Quan bắt được Cha Ðiền tra hỏi thì cha cứ một mực nhận là Cha Tây nhưng quan không tin.

Trong thời gian chạy trốn có nhiều lần ngài nói tiên tri như ngày nào có loạn, người nào sắp làm quan…. Dân chúng rất tin ngài. Ngày 5-3-1833 cha tới Mặc Bắc. Nhưng lý trưởng ở đây không chịu chứa, cha phải vào rừng để lẩn trốn. Ban đêm lên nhà ngủ, ban ngày chạy trốn, cứ thế trải qua cho đến khi giặc Lê Văn Khôi nổi loạn tháng 7-1833 bắt giáo dân tìm cho bằng được cố Tây về Sài Gòn. Trong thời gian này cha viết thư cho Cha Regéreau ở Nam Vang: “Bây giờ chỉ có mình tôi ở giữa con chiên. Tôi quyết chí bảo bọc họ dầu có phải chết. Có mình tôi là thừa sai ở giữa đàn chiên Chúa giao phó lẽ nào tôi cũng trốn chạy đi, để con chiên bị bách hại một mình. Ước chi tôi có thể đi khắp bốn phương trời mà làm cho đức tin họ thêm kiên cường”.

Các ông trùm định tâm đem ghe chở cha sang Xiêm để quan khỏi bắt được mà làm khốn cả làng. Thấy họ, cha chỉ mặt nói: “Kìa quân dữ đến bắt cha, đuổi nó đi”. Các ông trùm sợ hãi khóc lóc xin tha lỗi. Khi về họ nói với nhau: “Quái! Tính thầm với nhau sao mà cố biết được”. Từ cuối tháng 7, quân của Lê Văn Khôi đã kiểm soát toàn Nam Kỳ nên giáo dân được tự do đến gặp cha. Cha Du lăn xả vào việc giúp đỡ phần hồn cho giáo dân chịu thiếu thốn vì cơn bắt đạo. Giặc Khôi muốn có cha Tây trong thành để việc chiến tranh vững chắc, nên bắt cha sở họ chợ Quán là Cha Phước cùng với quan bộ Hộ mang về Mặc Bắc để bắt Cha Du. Hôm ấy cha đang ở nhà Tham Học, quân của Lê Văn Khôi ập đến mời cha về Gia Ðịnh. Cha nói: “Tôi đi giảng đạo mà thôi, việc chiến tranh tôi không biết chi. Nếu Chúa sai tôi đi đánh giặc thì một mình tôi một tỉnh tôi cũng không sợ”. Quan Ðội Miêng thưa: “Tướng Khôi chia Công Giáo làm ba vệ và tin tưởng người tâm phúc, nếu cha không về ông ta sẽ giận mà chém đầu hết những người có đạo, ở trong thành bây giờ có đạo đông lắm”.

Sau cùng cha chiều theo họ mà đi. Cha về ở họ Chợ Quán với Cha Phước. Quân của Lê Văn Khôi có đến nhờ viết thư sang Xiêm hay cầu cứu người Anh, cha đều từ chối hết. Khi có tin quân triều đình bao vây, cha xin giáo dân chở về Mặc Bắc, song họ nói mọi ngả đều bị vây không có cách nào đi khỏi. Quân của Lê Văn Khôi lại bắt Cha Du lên voi mà đem vào thành Phiên An (Gia Ðịnh). Ngài chỉ khóc mà nói: “Xưa quân dữ bắt Chúa Giêsu, nay nó cũng bắt cha”.

Ngày 24-9-1834, cha viết từ đồn Sài Gòn một lá thư gửi Ðức Cha Taberd nói đến tình cảnh bị bắt buộc ở chung với 4.000 lính Bình Thuận làm phản triều đình. Cha đã từ chối không vẽ mẫu cờ Constantinô để đạo thánh không bị mang tiếng vì quân phản nghịch. Cha khuyên đức cha ở nguyên bên Xiêm, để một mình cha lao đao chịu trận, gánh đỡ mọi sự khốn khó của cơn bắt đạo và giặc giã. Ngày 8-9-1835 tức là sau hai năm vây hãm, triều đình hạ được thành Phiên An bắt được 1940 người, trong đó chỉ có 64 người lính Công Giáo. Tất cả đã bị phân thây chôn ở Chí Hòa gọi là mả ngụy. Cha Du và 4 người bị ghép tội phản nghịch nên bị đóng cũi chờ lệnh.

Các tướng triều đình đóng quân ở Thổ Sơn cho điệu Cha Du đến tra hỏi: “Cha đã tới bao lâu, làm những gì, tại sao lại có mặt ở trong đồn giặc?” – “Tôi ở trong nước đã lâu để rao giảng đạo Thiên Chúa. Ban đầu tôi ở miền dưới song họ đem tôi về Chợ Quán và bắt tôi vào trong thành”. – “Cha có làm gì giúp giặc không?” – “Tôi chỉ giảng đạo và biết có việc giảng đạo mà thôi”. – “Ông có vợ con không, giảng đạo là làm gì?” – “Là đọc kinh, làm lễ và dậy dỗ bổn đạo”. – “Ông có biết làm thuốc mê dụ dỗ bọn ngụy cho nó theo không?” – “Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi”.

Tại Gia Ðịnh, cha bị tra hỏi ba lần mà cha đều chỉ thưa có vậy. Ngày 15-10, quân lính và tù binh về tới kinh đô trong tiếng reo hò chiến thắng. Các tù nhân bị nhốt trong cũi, xếp một hàng dài ở trại Võ Lâm. Ngày hôm sau các quan tòa tam pháp tra hỏi Cha Du: – “Ngươi có phải là Phú Hoài Nhân (tên vua đặt cho Ðức Cha Taberd) không?”

– “Không”.

– “Ông ấy bây giờ ở đâu?”

– “Tôi không biết”.

– “Ngươi có biết ông ấy không?”

– “Tôi biết lắm nhưng đã lâu không gặp”.

– “Ngươi ở trong nước được bao lâu?”

– “Năm năm”.

– “Ngươi ở những đâu?”

– “Trước hết tôi ở Lái Thiêu, sau này tôi ở nay đây mai đó trong nhà nhiều người mà nay họ chết cả rồi”.

– “Ngươi có giúp Khôi làm giặc không?”

– “Không, ông Khôi cho quân đi bắt tôi đem về Sài Gòn. Việc chiến tranh tôi không biết gì, chỉ làm một việc là cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ”.

– “Có phải ngươi viết thơ xin quân Xiêm và giáo dân Ðồng Nai đến giúp ngụy nữa không?”

– “Ông Khôi có bắt tôi viết thơ song tôi không chịu, và nói cho ông ta rằng đạo cấm làm chuyện chính trị. Tôi cũng nói thà chịu chết chứ không làm như thế được. Dù vậy ông Khôi còn đem mấy thơ đến bắt tôi ký tên vào nhưng tôi đã lấy mà đốt đi trước mặt ông Khôi”.

Lần tra khảo này Cha Marchand không bị đánh đập. Ngày hôm sau nữa quan lại hỏi các tướng nghịch. Những người này sợ tội nên đã đổ lỗi hoàn toàn cho Khôi đã chết và cho Cha Du. Họ bịa đặt ra là có đức cha xúi làm loạn để đưa An Hòa, là con của Ðông Cung (hoàng tử Cảnh) lên ngôi. Mấy tướng nghịch cũng đổ tội cho công chúa Kiên An là em của Minh Mệnh xúi dục khởi ngụy, và cho Thái Công Triều, trước theo giặc nhưng đã phản Khôi về hàng triều đình.

Ngày 17-10, quan cho đòi Cha Du đến công đường có bày sẵn các hình cụ và bắt nhận lời như bọn tướng nghịch đã khai. Cha Du cực lực chối bỏ. Cha bị tra tấn thật dã man: hai đứa kềm hai bên, một đứa khác vén quần lên cao để lộ hai bắp vế, một tên khác lấy kìm nung đỏ kẹp vào đùi bên trái. Mọi người nghe tiếng kêu xèo xèo và mùi khét phải quay mặt ra phía ngoài. Lý hình giữ nguyên kẹp cho đến khi nguội hẳn. Cha Du thét lên và ngất xỉu. Cách chừng nửa giờ sau quan lại hỏi nữa và bị kẹp đùi bên phải, thảm cảnh man rợ tái diễn làm Cha Du ngã xuống đất lần thứ hai. Cha vẫn một mực không chịu nhận tội làm giặc mà các quan ép buộc. Quan nói: “Thôi, tên này lớn gan lắm, để thủng thẳng bữa khác sẽ hay. Hãy đem về cũi giam lại”.

Cha còn bị tra hỏi nhiều lần khác song không bị kìm kẹp. Ðứa con lên 7 tuổi của Khôi cũng bị tra hỏi, nó cứ thật mà khai là Cha Du không có can dự gì vào chiến tranh, cũng chẳng làm những điều ông Khôi ép buộc. Không ép buộc được Cha Du nhận tội, các quan bắt cha phải bỏ đạo. Quan nói: “Ngươi chối hoài là không làm gì theo giặc thì thôi, nhưng ngươi không thể chối đã đến đây giảng đạo mặc dù ngươi biết có lệnh vua cấm. Tội này cũng đáng hình khổ nặng lắm. Nhưng nếu ngươi đành lòng bỏ đạo bước qua thập giá thì ta tha cho mọi hình phạt”.

– “Quan lớn rộng lượng như thế thì xin cám ơn, nhưng xuất giáo thì không bao giờ. Tôi thà chịu mọi hình phạt quái gở chứ chẳng thà chối Chúa như vậy”.

Các quan mặc sức chế nhạo và vu khống cho đạo như là làm thuốc mê, gian dâm với đàn bà…. Cha cực lực chối cãi: “Cái việc ấy chỉ là do những người ghét đạo bày đặt ra. Nếu đạo có như vậy thì còn ai dám theo?”

Các quan làm tờ trình như sau: “Năm Minh Mệnh thứ 15, tháng 9, ngày 13, chúng tôi, các quan tòa tam pháp theo lệnh hoàng thượng như sau. Tháng 5, năm vừa qua, chúng tôi xét xử vụ khởi loạn của Khôi ở thành Phiên An, trong số đồng phạm có linh mục Âu Châu tên là Du, cũng gọi là Marchand, đã theo tầu Trung Hoa đến nước năm Minh Mệnh thứ 12 tại cửa Cần Giờ, và trốn tránh tại Vĩnh Long và Biên Hòa để lén lút giảng đạo Gia Tô. Từ đó theo Khôi khởi loạn, liên lạc với kẻ thù của chúng ta là nước Xiêm và tập họp người Công Giáo trong thành…, đã bị bắt và dẫn giải về kinh đô giao cho chúng tôi xét xử. Sau đó chúng tôi đã mở cuộc thẩm vấn và thấy các câu trả lời của tội nhân vi phạm luật lệ quốc gia một cách trầm trọng. Chính tội nhân đã nhận tội lỗi. Vì thế tên đạo trưởng Âu Châu Du hay Marchand có hai tội không những không chịu đạp ảnh mà thực sự có dính líu đến nghịch tặc. Chúng tôi luận phải xử bá đao và phải bêu đầu. Sau khi nhận được lệnh vua, chúng tôi sai hai quan Lang Trung và Chủ cùng với 40 lính thuộc trấn phủ dẫn tù nhân Âu Châu Marchand đến nơi gọi là Trương Ðông, làng Dương Xuân, huyện Hương Toà để hành quyết và chặt đầu bêu như đã chỉ thị”.

Thừa Sai Delamotte và Marette thuật lại vụ hành quyết với nhiều chi tiết hơn: Cha Marchand bị giam tại trại Võ Lâm một tháng rưỡi chờ ngày Vua Minh Mệnh ra lệnh hành hình. Sáng 30-11, lễ Thánh Anrê, 7 phát súng đại bác đánh thức kinh thành Huế dậy đi chứng kiến vụ hành quyết có một không hai trong lịch sử. Các quan đến trại giam dẫn Cha Du, ba tên tướng nghịch và con của Khôi đến cửa Ngọ Môn cho Minh Mệnh thấy mặt. Lính túm ngực tội nhân mà dẫn đi như cách thức dẫn giải một tên phản nghịch, nhấn đầu xuống đất để lạy vua 5 lần. Minh Mệnh nhìn mặt rồi ném quạt xuống đất ra hiệu đem đi mà giết. Cha Du được dẫn đến đại sảnh nơi đô sát viện. Họ cởi áo cha, chỉ để lại một miếng khố nhỏ và một tấm vải ở cổ viết tên: “Ma-Sang danh Du”. Sau đó các tội nhân bị cột vào cây thập giá do 4 người lính khiêng đi đến nơi hành quyết. Tới tòa tam pháp, lính đem Cha Du vào trong trước mặt quan lớn. Hai tên lính ôm chặt hai ống chân kéo thẳng ra, 5 tên khác mỗi đứa một cái kìm nung đỏ kẹp vào 5 chỗ ở chân bên trái. Vì đau đớn quá Cha Du kêu lên: “Ôi cha ơi!” Quan sai lính đứng đàng sau 5 tên lý hình để thúc dục lý hình không được thương hại mà nới tay. Sau khi rút kìm ra, quan hỏi: “Vì lý do gì bên đạo móc mắt người chết?” – “Không bao giờ tôi thấy như vậy”.

Năm tên lý hình lại được lệnh mang kìm nóng kẹp vào chân phải. Mùi thịt cháy khét lẹt làm nhiều người bủn rủn chân tay. Kìm nguội rồi quan lại hỏi: “Tại sao nam nữ trước khi kết hôn đến trước mặt linh mục làm gì?”

– “Họ đến trước mặt linh mục để xin công nhận và toàn thể giáo dân chứng giám, đồng thời xin Thiên Chúa chúc lành”.

Năm mũi kìm nóng lại thi nhau đốt cháy da thịt của vị anh hùng tử đạo. Khi mùi khét và khói ngưng bốc lên, quan lại hỏi: “Trong nhà thờ các linh mục cho bổn đạo ăn thứ bánh quái gở gì mà họ trung thành đến nỗi chết?”

Cha Du phải gượng gạo trong hơi thở yếu ớt trả lời: “Không phải là bánh thường nhưng là Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, trở nên lương thực nuôi hồn…”

Những lời tra hỏi về đạo này làm chứng rằng Cha Du chịu hành hạ dữ tợn như thế là vì đạo mà thôi. Quan sợ cha chết chưa kịp thọ án nên ngưng tra khảo, và cho các tù nhân ăn uống. Cha Du không ăn gì, chỉ để hết tâm hồn cầu nguyện xin ơn chịu đau khổ cho đến cùng.

Sau khi các tù nhân ăn xong họ bị trói trở lại vào thập tự, miệng phải ngậm đá sỏi và khóa lại bằng tre để khi chịu đau kêu không ra tiếng. Khoảng chừng 100 lính theo lý hình ra pháp trường ở họ Thợ Ðúc. Tại đây có sẵn 5 cọc, lý hình cởi trói Cha Du khỏi thập giá và buộc vào cọc thứ hai, hai bên có hai lý hình, một người cầm kẹp, một người cầm đao, hai tên khác đứng gần để đếm miếng thịt lắt ra và ghi vào sổ. Sau hồi trống lệnh, lý hình xẻo trán Cha Du để che trước mắt, sau đó lấy kẹp mà lôi hai vú ném xuống đất. Lần lượt lý hình kẹp lôi thịt ở hai bên hông mà cắt vất xuống đất. Lúc ấy Cha Du không còn sức nữa, gục đầu xuống và linh hồn về với Chúa. Thấy cha đã chết, tên cầm đao túm tóc kéo đầu lên và chém đứt cổ, bỏ đầu vào thúng vôi. Lý hình xô xác cha xuống đất và tiếp tục cắt thân thể ra từng trăm mảnh, hết bổ dọc đến bổ ngang như một khúc cây. Vì Cha Du khắc khổ, chịu hành hạ nhiều nên không còn máu chảy ra. Khi xong xuôi tất cả, lý hình gom các miếng thịt vụn lại vào mấy thúng, rồi đem giao cho quan để vất xuống sông, còn đầu bỏ vào thùng đem đi khắp nơi trên toàn lãnh thổ. Ðầu Cha Du tới Hà Nội ngày 2-1-1836. Ði đến đâu người ta đều nghe một hơi lạnh ớn xương sống. Sau cùng đầu Cha Du được đưa về Huế bỏ vào cối xay nát và ném xuống biển. Không ai giữ được một di tích nào của vị thánh này.

AnnaTrang

Gx. Cần Giờ, DCCT

Sập cầu ở Ấn Độ, hàng chục người thiệt mạng

Ít nhất 78 người thiệt mạng sau khi một cây cầu bị sập ở bang Gujarat, miền tây của Ấn Độ, giới chức nước này cho biết.
Hàng trăm người đã bị rớt xuống sông Macchu ở thị trấn Morbi. Hình ảnh ghi được ở địa phương cho thấy những người sống sót phải đeo bám vào cây cầu đã bị ngập một phần xuống nước.
Các tường thuật cho biết có tới 400 người trên cầu vào thời điểm xảy ra vụ việc. Giới chức nói các nỗ lực cứu hộ vẫn tiếp tục diễn ra trong đêm.
Sập cầu ở Ấn Độ, hàng chục người thiệt mạng - BBC News Tiếng Việt
Sập cầu ở Ấn Độ, hàng chục người thiệt mạng – BBC News Tiếng Việt
Hàng trăm người rớt xuống sông và ít nhất 60 người thiệt mạng sau khi một cây cầu bị sập ở bang Gujarat, miền tây Ấn Độ, giới chức nước này nói.

Vì sao người Việt lại cứ bỏ ra đi?

Đài Á Châu Tự Do 

Bất chấp những chỉ số rực rỡ mà Hà Nội vẫn giới thiệu với thế giới, thực tế có khoảng trên 10% trong số 95 triệu người Việt Nam sống trong nghèo đói, đôi khi trong cảnh “nghèo cùng cực”, Chuyên gia kinh tế trưởng Rajiv Biswas của IHS Markit châu Á – Thái Bình Dương cho biết. Ông Biswas cũng bày tỏ sự bất lực khi nói đến sự nghèo khó của của các khu vực miền núi và xa đô thị, bởi căn bệnh tập trung phát triển đô thị theo cái nhìn thiếu chiến lược đã quá lớn.

Mức lương của một người công nhân Việt Nam hiện nay chỉ trên dưới 200 USD mỗi tháng, vì vậy, khi biết rõ, thật khó mà có thể cao giọng miệt thị những người Việt Nam khốn khổ đó là tại sao chọn cách bỏ ra đi, tìm một cơ hội “việc nhẹ- lương cao” ở xứ người. Không chỉ vậy, các đường dây đưa người Việt Nam đi lao động bên ngoài – bao gồm sự tham gia âm thầm của các quan chức Nhà nước – vẫn gọi mời các chỗ làm việc trong các nhà máy ở Nga, làm công việc xây dựng ở Libya và được thuê tại các trang trại của Anh.

Và với niềm hy vọng cho cuộc đời sau sáng sủa hơn, họ ra đi.

#RFAVietnamese #hanquoc #yangyang #gangwon

Vì sao người Việt lại cứ bỏ ra đi?
RFA.ORG
Những dòng tin miệt thị dòng người này trên báo chí Nhà nước thì cứ xoay quanh luận đề “những kẻ mê vật chất, ảo tưởng” cho đến “ham việc nhẹ, lương cao”…