Đức vừa bắt giam một nghi can người Việt trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Đức vừa bắt giam một nghi can người Việt trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Hiếu Bá Linh, tổng hợp

3-6-2022

Trịnh Xuân Thanh (trái) và Trung tướng Đường Minh Hưng. Ảnh trên mạng

Nghi can Lê Tú Anh được cho là người lái chiếc xe bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Gần 5 năm sau khi gây án, Lê Tú Anh, người hiện đã bị bắt, có lẽ cảm thấy tình hình đã an toàn nên anh ta tự ý quay trở lại Praha, nơi sinh sống trước khi gây án.

Gần 5 năm sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, một nghi can thứ hai đã bị bắt giữ với cáo buộc hoạt động gián điệp, cũng như hỗ trợ và tiếp tay cho vụ bắt cóc.

Lê Tú Anh là công dân Việt Nam, đã bị bắt ở thủ đô Praha của Cộng hòa Séc ngày 15-4-2022 theo lệnh truy nã châu Âu ra ngày 11-6-2019 cũng như lệnh truy nã của Cộng hòa Liên bang Đức ra ngày 2-11-2017, hiện đã bị dẫn độ sang Đức hôm 1-6-2022.

Lê Tú Anh bị cáo buộc tội hoạt động gián điệp, theo dõi và được sử dụng làm tài xế cho các hoạt động bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Đây là các hoạt động ở cấp thấp trong hệ thống mật vụ Việt Nam.

Sau 11 tháng đến Đức xin tỵ nạn, Trịnh Xuân Thanh đã bị bắt cóc tại Berlin ngày 23-7-2017 cùng với người tình Đỗ Thị Minh Phương đến từ Việt Nam.

Việc tổ chức vụ bắt cóc được cho là nằm trong tay của Phó Cục trưởng Cục Tình báo Việt Nam Đường Minh Hưng, là người từ Việt Nam đến Berlin vào thời điểm đó. Cánh tay phải của Đường Minh Hưng là các sĩ quan tình báo của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức.

Lê Tú Anh sinh sống ở Cộng hòa Séc và bị lệnh bắt giam từ đầu tháng 11 năm 2017, nhưng đã kịp trốn về Việt Nam giống như Đào Quốc Oai. Khi đó, đồng bọn của Anh là Nguyễn Hải Long ở lại, nên đã bị bắt và bị Tòa Thượng thẩm Berlin kết án 3 năm 10 tháng tù hồi năm 2018.

Gần 5 năm sau khi gây án, có lẽ Lê Tú Anh cảm thấy tình hình đã an toàn nên anh ta quay trở lại Praha, nơi sinh sống trước khi gây án và đã bị bắt.

Lê Tú Anh là nghi can lái chiếc xe bắt cóc Trịnh Xuân Thanh

Ngày 18-7-2017 Nguyễn Hải Long thuê chiếc xe BMW X5 ở Thủ đô Praha của Cộng hòa Séc rồi giao xe này cho Lê Tú Anh lái sang Berlin cùng với Đào Quốc Oai (cũng là người sinh sống ở Cộng hòa Séc). Sau khi đến Berlin, cả hai đã chạy đến khách sạn “Berlin Berlin” để gặp Trung tướng Đường Minh Hưng và hai trợ lý của ông đang ở khách sạn này từ ngày 16-7-2017.

Chiếc xe BMW X5 do Lê Tú Anh lái theo dõi cặp tình nhân Trịnh Xuân Thanh và Đỗ Thị Minh Phương ở Berlin

Khách sạn “Berlin, Berlin“ thuận lợi cho việc giám sát theo dõi vì nằm rất gần khách sạn Sheraton, nơi Đỗ Thị Minh Phương và Trịnh Xuân Thanh hẹn hò gặp nhau từ ngày 19-7-2017.

Ngày 19-7-2017, Lê Tú Anh lái xe BMW X5 chở Trung tướng Đường Minh Hưng và những người kể trên đến sân bay Tegel của Berlin để chờ máy bay của Đỗ Thị Minh Phương đáp. Sau khi nhìn thấy Phương rời phi trường và dùng Taxi đi về khách sạn Sheraton, thì Lê Tú Anh lái xe BMW X5 bám sát phía sau. Nhóm bắt cóc đã theo dõi cặp tình nhân Trịnh Xuân Thanh – Đỗ Thị Minh Phương trong mọi chuyển động của hai người này suốt ngày đêm.

Ngày 20-7-2017 Nguyễn Hải Long thuê chiếc xe thứ hai hiệu Volkswagen Multivan T5 và lái sang Berlin. Sau khi đến Berlin, Nguyễn Hải Long đi đến khách sạn “Berlin Berlin” và đã có cuộc gặp ngắn giữa Nguyễn Hải Long, Trung tướng Đường Minh Hưng, Lê Tú Anh và Đào Quốc Oai.

Ngày 21-7-2017, Nguyễn Đức Thoa, Đại tá tình báo của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức, đã đến khách sạn Syller Hof để hỏi đặt 2 phòng. Sau khi đặt phòng, tướng Đường Minh Hưng dọn vào khách sạn này và chỉ thị cho Nguyễn Hải Long và Đào Quốc Oai lái chiếc xe BMW X5 trở lại Praha và ngày hôm sau Long mang xe này trả lại chỗ thuê xe.

Ngày 23-7-2017 Tướng Đường Minh Hưng rời khách sạn Syller Hof từ sáng sớm. Cuộc bắt cóc diễn ra vào lúc 10 giờ 47 phút, khi cặp tình nhân đang đi dạo trong công viên Tiergarten giữa trung tâm Berlin. Nhóm bắt cóc đã dùng bạo lực bắt giữ, khiêng Trịnh Xuân Thanh và Đỗ Thị Minh Phương vào trong xe Volkswagen Multivan T5 rồi chạy vào trong Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin. Nghi can Lê Tú Anh được cho là người lái chiếc Volkswagen này mang bản số xe của CH Séc.

Chiếc xe Volkswagen Multivan T5 bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, được cho là do nghi can Lê Tú Anh lái.

Theo bộ luật hình sự Đức StGB, với tội trạng hoạt động gián điệp và tiếp tay cưỡng đoạt tự do, nghi can Lê Tú Anh có thể bị kết án lên đến mức 10 năm tù.

Tham khảo:

https://www.presseportal.de/blaulicht/pm/14981/5238335

https://taz.de/Verschleppung-von-Trinh-Xuan-Thanh/!5858850/

https://www.spiegel.de/politik/deutschland/entfuehrungsfall-in-berlin-vietnamese-nach-deutschland-ausgeliefert-a-f0e6ebf4-dc65-4694-9693-7f9b0124d366

NGÀY HIỀN PHỤ – TRẦM THIÊN THU

NGÀY HIỀN PHỤ

TRẦM THIÊN THU

Hằng năm, chúng ta có Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) để tôn vinh các người Mẹ, được kỷ niệm vào Chúa Nhật thứ nhì của tháng Năm, và chúng ta cũng có Ngày Hiền Phụ (Father’s Day) để tôn vinh các người Cha, được kỷ niệm vào Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu.

LỊCH SỬ

Nguồn gốc Ngày Hiền Phụ không là một hiện tượng xảy ra trễ nhất, các học giả cho rằng Ngày Hiền Phụ có từ thời Babylon bị tàn phá. Một thanh niên tên là Elmesu đã khắc Thông điệp Ngày Hiền Phụ trên một tấm thiệp bằng đất sét gần 4.000 năm trước. Elmesu ước mong cha mình có sức khỏe tốt và sống lâu. Dù không có chứng cớ về Elmesu và người cha nhưng truyền thống kỷ niệm Ngày Hiền Phụ vẫn lưu truyền ở nhiều quốc gia trên thế giới.

NGÀY HIỀN PHỤ TẠI HOA KỲ

Cách nhìn ngày nay về việc kỷ niệm Ngày Hiền Phụ có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, sau đó truyền thống này lan truyền sang các nước trên thế giới. Thế giới mang ơn bà Sonora Louis Smart Dodd, một người con yêu thương ở Spokane (Washington) vì bà đã tranh đấu để có Ngày Hiền Phụ như ngày nay. Bà cho rằng chúng ta tôn vinh những người Mẹ mà lại quên công khó của những người Cha trên cương vị “chống mũi chịu sào”.

Ý tưởng về Ngày Hiền Phụ xuất hiện trong đầu bà Sonora khi bà tình cờ nghe bài giảng thuyết về Ngày Hiền Mẫu năm 1909. Lúc đó bà 27 tuổi, bà nghĩ: “Nếu có ngày tôn vinh Mẹ thì tại sao không có ngày tôn vinh Cha?”. Bà cảm thấy thương những người cha vì tình thương bà nhận được từ người cha của bà là ông William Jackson Smart, một cựu chiến binh. Mẹ bà qua đời do sinh con khi Sonora mới 16 tuổi. Ông Smart phải chịu cảnh “gà trống” nuôi 5 đứa con bằng tất cả lòng yêu thương và chăm sóc của người cha kiêm chức năng làm mẹ.

Được cảm hứng từ việc bà Anna Jarvis đấu tranh để có Ngày Hiền Mẫu, bà Dodd bắt đầu khởi xướng tổ chức Ngày Hiền Phụ tại Hoa Kỳ. Hiệp hội Chính quyền Spokane (Spokane Ministerial Association) và Hiệp hội Thanh niên Kitô giáo (Young Men’s Christian Association – YMCA) tại địa phương ủng hộ ý nguyện của bà Sonora. Kết quả là Ngày Hiền Phụ được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 19-6-1910. Dù ban đầu có sự lưỡng lự, nhưng vẫn được nhiều người ủng hộ, và Ngày Hiền Phụ được tổ chức tại các thành phố trong quốc gia Hoa Kỳ.

Thấy rất nhiều người tụ họp kỷ niệm Ngày Hiền Phụ tại Hoa Kỳ, tổng thống Woodrow Wilson phê chuẩn việc này vào năm 1916. Tổng thống Calvin Coolidge cũng ủng hộ Ngày Hiền Phụ mang tính quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1924: “Hãy thiết lập các mối quan hệ thân mật giữa cha con và nhấn mạnh vào trách njiệm của họ”. Sau 40 năm đấu tranh, tổng thống Lyndon Johnson ký lệnh dùng Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu là Ngày Hiền Phụ từ năm 1966. Năm 1972, tổng thống Richard Nixon ký quyết định vĩnh viễn kỷ niệm Ngày Hiền Phụ vào Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu hằng năm. Bà Sonora Smart Dodd được tôn vinh vì bà đã góp phần vào Hội chợ Thế giới (World’s Fair) ở Spokane năm 1974. Bà Dodd qua đời năm 1978, hưởng thọ 96 tuổi.

CÁC GIẢ THUYẾT VỀ LỊCH SỬ NGÀY HIỀN PHỤ

Có vài giả thuyết về Ngày Hiền Phụ. Một số người co rằng Ngày Hiền Phụ đầu tiên được tổ chức tại miền Tây Virginia năm 1908. Một số người khác cho rằng lễ này được tổ chức lần đầu tại Vancouver, Washington.

Chủ tịch câu lạc bộ Lions tại Chicago, ông Harry Meek, được coi là người tổ chức Ngày Hiền Phụ đầu tiên vào năm 1915 để nhấn mạnh vào việc tôn vinh những người cha. Ông chọn Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu để kỷ niệm, đó là ngày gần sinh nhật của ông Meek. Để đánh giá công việc của ông Meek, CLB Lions của Hoa Kỳ đã tặng ông chiếc đồng hồ bằng vàng, với lời đề tặng “Người khởi xướng Ngày Hiền Phụ” (Originator of Father’s Day) vào chính sinh nhật của ông, 20-6-1920. Một số sử gia tôn vinh bà Charles Clayton ở Tây Virginia là người khởi xướng Ngày Hiền Phụ.

Năm 1957, thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith viết thư gởi quốc hội: “Dù chúng ta tôn vinh người cha hay người mẹ thì cũng đừng bỏ người nào. Người cha hay người mẹ bị bỏ quên cũng đều cảm thấy buồn vậy”.

Ngày Hiền Phụ được kỷ niệm vào những ngày khác nhau ở các nước khác nhau. Đa số các nước – kể cả Hoa Kỳ, Anh, Canada, Chilê, Pháp, Nhật và Ấn Độ – đều kỷ niệm Ngày Hiền Phụ vào Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu.

Mặc dù Ngày Hiền Phụ không cố định giống nhau tại các nước và cách kỷ niệm cũng khác nhau, nhưng ở đâu cũng chung một tâm tình là tôn vinh công lao của những người cha và bày tỏ lòng yêu thương đấng sinh thành. Vào ngày này, con cái gởi thiệp mừng, hoa và quà cho cha mình để bày tỏ lòng yêu thương và kính trọng.

Tại nhiều quốc gia có đa số là người Công giáo thì Ngày Hiền Phụ được mừng vào ngày lễ kính Đức Thánh Giuse, ngày 19 tháng Ba.

Ngày Hiền Phụ được coi là rất quan trọng vì ngày này giúp nhận thức về công lao của những người cha đối với gia đình và xã hội. Việc cử hành Ngày Hiền Phụ không chỉ giúp những người con có cơ hội bày tỏ yêu thương và kính trọng đối với cha mình, mà còn giúp củng cố quan hệ phụ tử và phát triển tình cảm của người con dành cho cha mình.

LỜI CẦU NGUYỆN CHO HIỀN PHỤ

Lạy Thiên Chúa là Cha nhân hậu, xin chúc lành cho những người cha trên thế giới, xin hướng dẫn những người cha biết yêu thương và làm gương lành cho con cái, xin biến đổi họ trở nên những người cha như chính Chúa là Cha, xin ban cho họ tràn đầy hồng ân và kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh với lòng yêu thương đích thực. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 (chuyển ngữ từ FathersDayCelebration.com)

Từ chuyện ‘bể chứa nước’ ở Hà Nội, nghĩ về ‘tầm nhìn’

Từ chuyện ‘bể chứa nước’ ở Hà Nội, nghĩ về ‘tầm nhìn’

Bởi  AdminTD

 Blog VOA

Trân Văn

2-6-2022

Cộng đồng mạng xã hội châm biếm về trận ngập lụt hôm 29/5 ở Hà Nội. Ảnh trên mạng

Cuộc thảo luận về việc xây dựng các… “bể chứa nước mưa” cho Hà Nội nhằm chống ngập chỉ mới bắt đầu, tuy chưa khảo sát, chưa lập dự toán nhưng vẫn có thể phỏng đoán…

Sau khi ông Trần Hồng Hà – Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường (TNMT) – tuyên bố… “cần nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật như xây những bể ngầm lớn tại khu vực xung yếu thường xuyên xảy ra ngập hoặc tận dụng các khu vực rộng lớn như cánh đồng, sân vận động làm nơi chứa nước” để giải quyết tình trạng thủ độ Cộng hòa XHCN Việt Nam càng ngày càng dễ ngập, đã vậy lại còn ngập sâu, ngập lâu (1) như vừa thấy trong các ngày 23/5/2022 (2), 27/5/2022 (3), 29/5/2022 (4)… giới hữu trách bắt đầu thảo luận sôi nổi về việc xây dựng các “bể chứa nước mưa” ở Hà Nội (5).

Cuộc thảo luận về việc xây dựng các… “bể chứa nước mưa” cho Hà Nội nhằm chống ngập chỉ mới bắt đầu, tuy chưa khảo sát, chưa lập dự toán nhưng vẫn có thể phỏng đoán, chi phí xây dựng hệ thống thoát nước cho một đô thị mà diện tích lên tới hàng ngàn cây số vuông như Hà Nội, trong đó có các… “bể chứa nước mưa” sẽ lên tới… “hàng trăm ngàn tỉ”. Đó là hậu quả của tình trạng được ông Hà, cũng như giới hữu trách và chuyên gia khái quát là do “thời tiết dị thường, mưa lớn cực đoan, hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn”, các qui hoạch đã “bê tông hóa Hà Nội, lấp những túi chứa nước là ao hồ,…”!

***

Ý tưởng xây dựng các… “bể chứa nước mưa” cho Hà Nội nhằm chống ngập nhắc thiên hạ nhớ tới vấn nạn ngập lụt ở TP.HCM. Trong 15 năm vừa qua, TP.HCM đã chi hàng trăm ngàn tỉ để giải quyết vấn nạn ngập lụt nhưng vô ích vì gần như không thể khắc phục hậu quả của các… “qui hoạch” trước đó! Dẫu việc thoát nước ở Sài Gòn dựa vào hệ thống sông và kênh, rạch tự nhiên nhưng dựa trên… “qui hoạch”, chính quyền TP.HCM vẫn ra lệnh lấp khoảng 30% diện tích sông và kênh, rạch. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học thủy lợi miền Nam thì chỉ trong 12 năm từ 1996 đến 2008, tại Sài Gòn đã có hơn 100 kênh, rạch với tổng diện tích khoảng 4.000 héc ta bị lấp và bị lấn chiếm (6).

Rồi cũng theo… “qui hoạch”, nhằm… “chống ngập”, tháng 10 năm 2015, giới hữu trách ở TP.HCM loan báo sẽ chi 300 tỉ để khôi phục lại kênh Hàng Bàng – con kênh mà những viên chức tiền nhiệm từng dựa vào… “qui hoạch” để ra lệnh lấp vào năm 2000! Việc dựa vào… “qui hoạch”, cho phép lấp một phần hoặc toàn bộ sông, kênh, rạch để xây dựng đủ loại công trình đã ngốn hàng chục ngàn tỉ đồng, sau đó cũng dựa vào… “qui hoạch”, chi thêm hàng chục ngàn tỉ đồng để khôi phục lại (7) chắc chắn chỉ có ở… Việt Nam! Đáng nói là hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng không rút ra được kinh nghiệm nào từ chuyện xảy ra ở TP.HCM cách nay 20 năm.

Cũng vì vậy, sau hàng loạt… “qui hoạch” nhằm… “phát triển thủ đô”, giờ những viên chức hữu trách mới nghĩ đến chuyện xây dựng các… “bể chứa nước mưa” nhằm chống ngập cho Hà Nội. Hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn tỉ lấy từ đâu để chi cho “phát triển thủ đô” và giờ chuẩn bị chi hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn tỉ khác cho các… “qui hoạch”… “chống ngập”? Tất nhiên là từ công khố và đi vay. Thay vì dùng các loại thuế, phí đã thu để nâng cao phúc lợi công cộng (ví dụ thực hiện chính sách giáo dục hoàn toàn miễn phí, cấp phát sách giáo khoa cho trẻ con như thiên hạ) thì thuế, phí được dốc hết vào các… “qui hoạch” để… “phát triển” rồi “sửa sai” và… “trả nợ”!

***

Chuyện không có kiến thức nhưng không tham khảo ý kiến của các chuyên gia, không thèm nghe các khuyến cáo, cảnh báo khi chỉ đạo… “qui hoạch”, phê duyệt… “qui hoạch”, đã cũng như đang biến nhiều thành phố, thị xã, thị trấn ở Việt Nam thành… “nơi khó sống” vì cư dân phải đối diện với đủ loại vấn nạn (kẹt xe, ngập lụt vào mùa mưa, ô nhiễm do khói bụi, ô nhiễm mặt nước, sụt lún, sạt lở,…) và Hà Nội chỉ là một trong nhiều ví dụ. Chuyện Hà Nội càng ngày càng dễ ngập lụt nghiêm trọng chỉ là một trong số những nhân họa xuất hiện ở khắp nơi tại Việt Nam.

Thực tế cho thấy, dù… “qui hoạch” đã phá hỏng những yếu tố vốn là nền tảng trong xây dựng, phát triển đô thị hiện đại vừa rất khó khắc phục, vừa gây ra hậu quả càng ngày càng trầm trọng nhưng không viên chức hữu trách nào trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam nhận trách nhiệm hay bị truy cứu trách nhiệm. Tệ hơn, những hệ thống này vẫn tiếp tục áp đặt… “ý chí chủ quan” của một số cá nhân là lãnh đạo hoặc của tổ chức đảng từ trung ương đến địa phương. Thậm chí, các loại qui hoạch tùy tiện, phi lý còn được gắn thêm… “tầm nhìn” để duy trì, phát tán tai họa lâu dài hơn!

Hậu quả là phồn vinh giả tạo…

Hậu quả là phồn vinh giả tạo…

Thức Phạm Awake

2-6-2022

Đài DW của Đức đưa tin hôm nay là hãng Siemens của nước này ký hợp đồng với Ai Cập xây hệ thống đường sắt tốc độ cao dài 2.000km có tổng trị giá 8 tỉ euro, tức 8,6 tỉ đô la Mỹ. Hệ thống này bao gồm đường ray, 41 đoàn tàu tốc độ cao 230km/h, 94 đoàn tàu cấp vùng, 41 đoàn tàu hàng, 8 ga đề pô và ga hàng. Siemens chịu trách nhiệm bảo trì trong 15 năm.

Mình thấy choáng vì giá trị dự án đó quá thấp, chỉ bằng gần 1/7 (một phần bảy) dự định của VN.

Đây: Bản tin của VnExpress hồi tháng 1 năm nay viết “Bộ Giao thông Vận tải đề xuất dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam dài 1.559 km, tốc độ thiết kế đoàn tàu 350 km/giờ, tốc độ khai thác 320 km/giờ; được xây dựng để khai thác riêng tàu chở khách; còn đường sắt Bắc Nam quốc gia hiện nay được cải tạo để chở hàng. Tổng mức đầu tư dự án dự kiến trên 58 tỷ USD (tương đương 1,3 triệu tỷ đồng)”.

Nếu làm đường sắt tốc độ 200 km/h thì dự kiến hết 26 tỉ đôla, vẫn cao gấp ba lần Ai Cập, nhưng VN chê ko làm. Trong khi theo logic thông thường, một nc mà thu nhập của dân còn thấp, nếu xây đường sắt loại cao cấp, giá vé sẽ rất cao, ít khách, lỗ, cuối cùng nhà nước phải bù lỗ, thì cũng vẫn phải bòn rút dân bù vào qua các loại thuế phí thôi.

Trên đây chỉ là dự toán chứ theo “truyền thống” đớp hít của nước ta, tổng vốn sẽ bị đội lên nhiều lần nữa.

Ngoài nguyên nhân tiêu cực, lãng phí, tham nhũng mà dân gian vẫn đinh ninh và đã được chứng minh qua nhiều vụ án, có một lý do nữa mà các bộ ban ngành hay vin vào để đổ cho chuyện đội vốn, đó là chi phí giải phóng mặt bằng.

Nhưng đền bù đất đai tốn kém cũng là do quản lý kém (hoặc giả vờ quản lý kém) mà ra. Ai bảo cứ để cho các nhóm lợi ích bơm thổi, tạo sóng bất động sản mãi. Hậu quả là phồn vinh giả tạo, người dân không nghề ngỗng tưởng là ngồi trên đống tài sản, nhưng thực ra nếu bán đi mà tiêu là hết, còn nghèo hơn lúc ban đầu, vì chả có nguồn sống bền vững nào khác.

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC, giáo sư Hoàng Xuân Hãn…

Nhân việc mỗi năm thay đổi bộ sách GK mới, nhớ đến BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC TRONG CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM 1945

————

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ.

Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.

Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, “một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. Năm 1943, Hội Khuyến học Nam kỳ (SAMIPIC) tặng giải thưởng” (theo giáo sư Nguyễn Đình Đầu)

Năm 1945, cụ được mời là Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim.

Vừa nhậm chức, nhận thấy chương trình trung học ở ta khi đó còn dạy theo lối Pháp, giáo sư Hoàng Xuân Hãn liền họp các giáo sư trung học và yêu cầu lập chung một chương trình có tính cách hoàn toàn quốc gia Việt Nam.

Cụ kể lại “Tôi tự đặt ra một số nguyên tắc mới, mà sau này chính chương trình Trung học Pháp cũng theo (như vượt lên về toán, lý, hóa, bỏ chia trung học ra hai phần. . .). Chính tôi đã đặt ra những từ: Phổ thông và Chuyên khoa. Nhất là như tôi đã nói, tôi thấy về văn học ta thiếu những người học sâu về cổ văn, để hiểu và dạy quốc văn nghiêm túc, và nhận văn bản đúng hay sai. Vì lẽ ấy tôi đã đặt Ban chuyên khoa cổ văn như trong các chương trình Âu châu. Trong những người có công lớn trong việc cải cách, có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… Cuối tháng 6, lần đầu mở kỳ thi trung học bằng tiếng Việt tại Huế. Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học”.

Chương trình trung học của Hoàng Xuân Hãn được các Bộ Giáo dục VNDCCH và VNCH áp dụng rất lâu. Mà nơi lâu nhất là VNCH dùng tới 1972. Các chương trình sau đó có cải cách nhưng vẫn nằm cơ bản trong nền tảng của chương trình này.

Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, Hoàng Xuân Hãn trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội. Sau 1945, ông tham gia phong trào diệt giặc dốt và nghĩ ra phương pháp học chữ Quốc ngữ rất mau, viết trong 1 cuốn sách của ông. Cuốn sách này đã giúp người mù chữ chỉ sau 3-6 tháng thì đọc thông viết thạo.

Nhận xét về giáo sư Hoàng Xuân Hãn, giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: “Ông đã có công lớn trong việc dùng tiếng Việt và chữ Việt ở mọi cấp bậc học ở nước ta: Chúng ta không còn phải mượn tiếng người, chữ người nữa, tiếng Việt là vấn đề khỏi bàn, còn chữ Việt đây là chữ Quốc ngữ La tinh hóa. Ông đã mổ xẻ Quốc ngữ ra từng chữ i chữ tờ rồi đề nghị mở rộng cách ghi âm Quốc ngữ làm cho tiếng Việt phong phú hơn, đặc biệt về mặt khoa học.

Ông rút kinh nghiệm của cả Tàu lẫn Nhật. Ông dịch các danh từ khoa học thông thường như Tàu. Ông phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn như Nhật. Song với chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thì việc Phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn – mà đa số là tiếng La tinh rồi – được thuận tiện hơn tiếng Nhật và chữ Nhật nhiều. Từ dạng chữ đến cách đọc Việt Nam sẽ rất gần với cách ghi âm và phát âm quốc tế. Ông lại phục sinh nền quốc học và cho gắn liền với chương trình giáo dục. Việc đào tạo nhân cách Việt Nam phải bắt đầu bằng tiếng ta, chữ ta, văn hóa ta. Ông không chỉ sáng tạo Danh từ khoa học, chỉ đặt Chương trình Trung học, mà còn trước tác rất nhiều công trình khoa học có giá trị lớn để làm mẫu mực cho việc giáo dục và quốc học nước ta. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có công lớn lắm vậy”.

Cụ Hoàng Xuân Hãn năm 1951 quay lại Paris sinh sống và học tiếp để trở thành kỹ sư nguyên tử. Cụ tiếp tục nghiên cứu về văn hóa VN. Năm 1996, cụ mất tại Paris. Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.

Thật kính trọng tài năng và đức độ của cụ. Chỉ 4 tháng ngắn ngủi trong cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cụ đã làm được những việc vô cùng ý nghĩa cho nền giáo dục của đất nước.

FB Hùng Đinh

Lời Không Thể Tùy Miệng, Việc Không Thể Tùy Tâm, Làm Không Thể Tùy Ý

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Lời Không Thể Tùy Miệng, Việc Không Thể Tùy Tâm, Làm Không Thể Tùy Ý

Sách Thái Căn Đàm viết: “Cái miệng là cánh cửa của nội tâm, giữ miệng không kín thì lộ hết chân cơ. Ý nghĩ là chân cẳng của nội tâm, phòng ý không nghiêm thì đi toàn đường tà”.

***

Lời không thể tùy miệng

Cái miệng chính là phát ngôn viên của cái tâm, chúng ta nói gì không phải do miệng quyết định mà là do trong lòng quyết định.

Trong cuộc sống có nhiều người “miệng lưỡi nhanh hơn trí não”. Nhưng trực ngôn mau miệng lại không phải là ưu điểm, bởi lời nói khinh suất có thể gây tổn thương cho người.

Tùy tiện nhận lời chính là hoang ngôn. Những việc biết rõ rằng bản thân không thể làm được mà vẫn để người ta ôm hy vọng, vậy là ta đã tiêu xài lãng phí vốn ‘thành tín’ của mình.

Khi người khác thổ lộ tâm tư với bạn, đó là vì họ đã tín nhiệm bạn. Bán rẻ tín nhiệm của người khác thì sau này ai có thể đặt lòng tin vào mình đây?

Lúc tức giận, nếu hai người rời xa nhau trong im lặng, thì khi hết giận họ có thể trao đổi để hiểu thấu lòng nhau. Vẫn hai người ấy, nếu chỉ vì bực tức mà dùng từ ngữ tùy tiện không kiểm soát, gây nên phẫn nộ, thì chẳng phải mối quan hệ này sẽ dễ dàng chấm dứt hay sao?

Hai năm học nói, cả đời học ngậm miệng. Cho dù có hiểu hay không thì cũng không cần nói nhiều, tâm rối loạn thì hãy đợi bình tâm rồi từ từ mà nói, nếu thực sự không có gì để nói thì cứ giữ im lặng là được rồi.

***

Việc không thể tùy tâm

Muốn vào trường danh tiếng thì phải nỗ lực đủ nhiều. Muốn tìm được công việc như ý thì phải có năng lực đủ mạnh. Những sự việc trên đời đều có giá cả, bạn muốn thu được kết quả gì thì cần phải bỏ công sức ra tương xứng.

Nhưng không phải là có ý nói rằng: ‘Tôi muốn làm gì thì làm nấy’, mỗi chúng ta đều có thân phận khác nhau. Cha mẹ là trụ cột gia đình, phải gánh vác trách nhiệm với gia đình. Thầy cô là cột trụ nâng đỡ tâm hồn học sinh, phải có trách nhiệm với học sinh. Mỗi người đều có vị trí, có nhiệm vụ riêng của mình.

Rất nhiều trường hợp chúng ta không thể hành xử tùy theo tâm tính, cũng không thể tùy theo cảm xúc hay tâm trạng bản thân. Lúc phẫn nộ, hễ mất kiểm soát sẽ tạo thành hậu quả không thể vãn hồi. Lúc vui vẻ quá đà hay khi lòng rầu rĩ, cũng sẽ đem lại cho chúng ta những phiền phức mãi không thôi.

Vây nên nói, tâm trạng là kẻ địch nguy hiểm của con người, kiểm soát được tâm trạng thì sẽ kiểm soát được cuộc đời.

***

Làm không thể tùy ý

Làm người thì không thể tùy ý hành xử, cần phải có lương tri và chuẩn mực đạo đức tối thiểu.

Người xưa coi trọng ‘thận độc’, nghĩa là làm gì cũng phải cẩn thận và thận trọng ngay cả khi đang ở một mình.

Đó chính là nói, một người bất kể trong tình huống nào cũng cần phải giữ vững nội tâm, không làm những việc sai trái, không hành xử đối nghịch với lương tri.

Con người một khi làm những điều trái với đạo đức thì sẽ chịu sự trừng phạt của lương tâm. Nhiều người vì sai lầm nhất thời mà cả đời ôm hận, hối lỗi. Đâu cần bị pháp luật chế tài, cả đời họ cũng sẽ bị lương tâm trừng phạt.

Vậy nên, làm người mà không có chuẩn mực đạo đức tối thiểu thì quả là đáng sợ. Người như thế sẽ không có bạn bè, vì họ không từ thủ đoạn để đạt được mục đích, khiến mọi người e sợ tránh xa.

***

Xã hội có phép tắc, làm người cũng cần phép tắc. Chỉ những bậc thiện lương mới được người khác kính yêu, tôn trọng.

Mây tụ mây tan, hoa nở hoa tàn, đời người trải qua mấy chục năm rồi cũng hết. Khi chúng ta già cả, chớ để bản thân phải hối hận vì đã cô phụ cuộc đời mình. Hãy nỗ lực dốc sức, nở ra đóa hoa riêng của bản thân ta, thì sẽ mang lại giá trị và ý nghĩa cho cuộc đời này.

Đời người chỉ có một lần, nghiêm túc đối đãi cuộc sống thì cuộc sống cũng quyết chẳng phụ lòng.

Phỏng dịch theo Apollo

HOA QUẢ THỨ 10: Khiêm Nhu-Cha Vương

HOA QUẢ THỨ 10: Khiêm Nhu

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay bạn rán trở thành một người khiêm nhu đi, mình biết chắc những người chung quanh sẽ zui lắm đó.

Cha Vương

Thứ 6: 03/06/2022

TIN MỪNG: Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA là trường dạy khôn ngoan, khiêm nhu là đường dẫn đến vinh dự. (CN 15:33)

HOA QUẢ THỨ 10: Khiêm Nhu— Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong xã hội có những phần tử đề cao sự thành công của con người dựa trên bao nhiêu huy chương, bao nhiêu phần thưởng, bao nhiêu bằng cấp bằng khen, bao nhiêu tài sản họ có. Họ rất hãnh diện và tự hào về sự thành công của họ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì đó là mồ hôi nước mắt của họ, họ phải lao động hết sức vất vả mới có được như ngày hôm nay. Họ có đi ăn cướp ăn trộm của ai đâu. Vấn đề ở đây là một khi họ thần thánh hoá niềm tự hào, sự hãnh diện và những thành công của thì họ đã tự biến những gì rất bình thường trở thành bất bình thường. Họ trở thành người kêu ngạo, tự cao, tự đắc qua cách ứng xử không tế nhị, không tôn trọng kẻ khác. Hay nói cách khác đi, họ coi trời bằng vung. Họ luôn tìm kiếm những sự chú ý cho riêng mình. Ngược lại trong xã hội ngày nay cũng không thiếu những người rất khiêm nhu và khiêm nhường. Họ biết kiềm chế, điều chỉnh, và điều khiển cảm xúc của họ. Họ phục vụ một cách tích cực, biết động viên và khuyến khích những người cùng làm việc chung với cả sự khiêm nhu và hết sức tế nhị. Họ không muốn người khác nói lời cảm ơn hoặc tìm kiếm lời khen ngợi của người khác. Họ làm việc tận tuỵ trong âm thầm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Nếu bạn khiêm nhu, không có gì ảnh hưởng tới bạn, dù lời khen ngợi hoặc sự ghen ghét, vì bạn biết mình là ai”.  Ước mong bạn cảm nhận được tầm quan trọng của nhân đức khiêm nhu trong cuộc sống, biết dấn thân, quên mình, không đòi hỏi gì nơi người khác nhưng luôn biết cộng tác kết nối với tha nhân làm việc chỉ để cho danh Chúa được cả sáng mà thôi.

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải  biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi qua tim con để con biết những việc con phải làm, từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa chứ không bởi con.

THỰC HÀNH: Tập nhận biết tôi chẳng là gì trước mặt Chúa. Tôi chỉ là người quản lý của Chúa thôi.

From: Đỗ Dzũng

Freedom House: Chính phủ Việt Nam đàn áp cả những người đấu tranh đang lưu vong!

Đài Á Châu Tự Do Trong báo cáo mang tên “Bảo vệ dân chủ trong khi lưu vong/Defending Democracy in Exile” công bố ngày 2 tháng 6, tổ chức nhân quyền Freedom House có nhắc đến Việt Nam như là một trong số các quốc gia độc tài thực hiện đàn áp xuyên quốc gia, nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương.

Báo cáo dài 48 trang được xuất bản trực tuyến, tổng hợp việc đàn áp xuyên quốc gia trong 4 năm qua thông qua nhiều câu chuyện của những người đã từng bị chính quyền của nước mình nhắm tới sau khi xuất cảnh và sống lưu vong ở quốc gia khác.

Báo cáo của Freedom House nhắc đến việc tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở ở Philippines chuyên hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền mang tên Sáng kiến Thể hiện Lương tâm Người Việt Hải ngoại (VOICE).

Tổ chức này bị tấn công mạng nhiều lần trong khi cựu nhân viên và tình nguyện viên của họ bị quấy rối, bị cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu khi họ quay trở lại Việt Nam chỉ vì tổ chức này báo cáo vi phạm nhân quyền của chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên Hiệp quốc.

Ông Lê Trung Khoa, chủ bút của tờ báo mạng Thoibao.de ở Đức với nhiều bài viết chỉ trích chính phủ và bình luận thời sự ở Việt Nam, nói ông bị đe dọa qua các tin nhắn hay bình luận trên mạng xã hội.

#RFAVietnamese #FreedomHouse #TruongDuyNhat #Vietnam #VietnamHumanrights

RFA.ORG

Freedom House: Chính phủ Việt Nam đàn áp cả những người đấu tranh đang lưu vong!

Trong báo cáo mang tên “Bảo vệ dân chủ trong khi lưu vong/Defending Democracy in Exile” công bố ngày 2 tháng 6, tổ chức nhân quyền Freedom House có nhắc đến Việt Nam như là một trong số các quốc gia độc tài thực hiện đàn áp xuyên quốc gia, 

HOA QUẢ THỨ 10: Khoan Dung-Cha Vương

HOA QUẢ THỨ 10: Khoan Dung

Ước mong bạn được Chúa Thánh Thần khắc trên trán hai mẫu tự “ST” hôm nay. 🙂

Cha Vương

Thứ 5: 02/06/2022

TIN MỪNG: Cha ta trên trời sẽ đối xử với các ngươi như thế, nếu các ngươi mỗi người không thật lòng tha thứ, khoan dung cho anh em mình. (Mt 18:35)

HOA QUẢ THỨ 10: Khoan Dung—là thái độ của người có quyền, sẵn sàng làm ngơ hoặc tỏ lòng thương xót và tha thứ cho những người phạm pháp, là sự tha thứ khoan hồng của người trên đối với người, sự quên đi lầm lỗi và thông cảm của đồng bạn với nhau, là không chấp nhất, không trả thù…, là yêu thương tôn trọng người yếu thế hơn,… là sống luật bác ái của Chúa một cách triệt để. 

SUY NIỆM: Lòng khoan dung rất cần thiết cho con người. Đó là con đường mới cho con người bỏ con đường cũ. Pierre Benoit đã từng khẳng định: “Khoan dung là đức tính đem lợi về cho cả ta lẫn người khác”. Câu chuyện kể về hai anh em ăn trộm cừu như sau: 

    Tại một vùng nông thôn nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói kém, bần cùng đã rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc lên trán tội nhân hai mẫu tự “ST”, có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt từ chữ Stealer). Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống hòng chôn chặt bí mật này. Thế nhưng anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ “ST” đáng nguyền rủa.

    Còn người em, anh tự nói với bản thân mình: “Tôi không thể từ bỏ sự tin cẩn của những người xung quanh và của cả chính tôi”. Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự “ST” vẫn còn in dấu trên vầng trán anh.

    Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ một hồi rồi trả lời: “Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là người thánh thiện (ST cũng là chữ viết tắt của chữ Saint—vị thánh)”.

    Ai cũng có những lúc mắc phạm sai lầm, nhưng quan trọng hơn chính là sửa chữa được sai lầm đó. Mỗi người, ai cũng cần phải học cách khoan dung và cho người khác cơ hội sửa sai, nếu ích kỷ mà dẫn đến thiếu lòng vị tha thì bạn cũng chỉ mắc sai lầm giống kẻ phạm lỗi mà thôi.

LẮNG NGHE: CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv 103:8-10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng an ủi lòng con, xin khơi dậy trong con ngọn lửa khoan dung tha thứ để đốt đi tính vô cảm do sự ích kỷ của bản thân, sự thù hằn hay lòng ghen ghét gây ra.

THỰC HÀNH: Tập làm ngơ trước những bất toàn của người khác.

From: Đỗ Dzũng

TẤM VẠC GIƯỜNG – Tiểu Tử

Chau Nguyen Thi

TẤM VẠC GIƯỜNG. Truyện sau 1975 tại Miền Nam VN

Tác giả: Tiểu Tử Võ Hoài Nam .

***

Hồi đó, tôi làm mướn cho ông Cả Bảy. Mấy ngày đầu, ngày nào cũng chèo xuồng qua bên kia sông để giữ ruộng cho ổng. Hồi ổng kêu tôi làm việc cho ổng, ổng nói : « Hổng có gì, nhưng có mặt mầy ở bển tụi nó không giám phá lúa ! ». Ổng nói ‘ phá’ để tránh nói ‘ ăn cắp’ nghe…nặng lỗ tai !

Mà thiệt ! Công việc hổng có gì gọi là nặng nhọc. Tôi treo võng giữa hai cây gáo lớn cạnh bờ sông, rồi nằm tòn ten trên đó ca tới ca lui mấy câu vọng cổ, lâu lâu trèo lên cây gáo ngồi nhìn ruộng lúa minh mông kéo dài tới rừng tràm nằm phía trong xa, xa cỡ đôi ba dậm hú. Đó là chiều sâu. Còn chiều ngang là nằm dài theo con sông Cái, có con rạch No làm ranh phía trên, chỗ tôi treo cái võng, và con rạch Bù Xu làm ranh phía dưới. Từ rạch No muốn nhìn thấy rõ rạch Bù Xu phải xè bàn tay đưa lên ngang mày che bớt ánh sáng ! Nói như vậy, để thấy ruộng ông Cả Bảy lớn biết ngần nào…

Lần đầu tiên đi với ông Cả Bảy qua ruộng để ‘ nhận việc ’, thấy minh mông thiên địa như vậy, tôi hết hồn, nói :

– Trời đất ! Mút chỉ như vậy, mình con coi sao thấu !

Ông Cả Bảy cười khì khì :

– Tao chỉ cần mầy qua bển cho có mặt hằng ngày chớ đâu có biểu mầy đi đánh lộn với tụi lưu manh đâu ! Cái lũ đó hể thấy có người canh ruộng là tụi nó rút đi chỗ khác hè !

Ngừng một chút để suy nghĩ rồi ổng nói :

– Tàm tạm vài bữa rồi tao cho đám thằng Hai Lưa ở trại hòm qua cất cho mầy cái chòi nhỏ có tháp canh cao phía trên, để có chỗ cho mầy đụt mưa đụt nắng.

Có lẽ thấy tôi còn…ngơ ngơ nên ổng nói tiếp :

– Trên tháp canh sẽ có cái ống tre lớn làm cái mõ. Hễ mầy thấy có bóng người vô ruộng thì mầy cứ gõ mõ liên hồi là nó chạy. Hiểu chưa ?

Vậy là ít lâu sau, tôi có cái chòi tranh vách lá, có chỗ để treo võng, có chỗ để nấu cơm, phía trước có cây cầu ván chờm ra sông để tắm gội…

…Qua mùa lúa đó, ông Cả Bảy kêu tôi, nói :

– Tao thấy mầy tuy côi cút một thân một mình mà làm việc siêng năng nên tao thương. Tao cho mầy một miếng đất bên ruộng để mầy cất nhà rộng rộng, còn lo cưới vợ nữa chớ !

Vậy rồi mấy hôm sau, ổng dẫn nhóm chú Hai Lưa trại hòm qua ruộng của ổng, đo đạc cặm nọc để cho tôi miếng đất nằm cạnh vàm rạch No, còn chỉ chỗ cho chú Hai Lưa cất cho tôi cái nhà nền đất nóc tôn vách ván nữa ! Tôi cảm động nghẹn lời, ấp úng nói mấy tiếng cảm ơn mà cũng không tròn chữ tròn câu…Ông Cả cười cười :

– Mầy lo đốn cây làm rào dậu, trồng trỉa cho thành khoảnh đi, rồi tao kiếm cho mầy một con vợ !

Nói xong, ổng cười ha hả, khoái chí !

…Ông Cả Bảy có hai người con trai đi học bên tây rồi ở luôn ở bển. Từ ngày bà Cả nằm xuống, ổng vẫn sống cu ky một mình trong cái nhà sàng tổ chảng nằm cạnh trại hòm và trại cưa của ổng. Ổng thôi làm cả trong ban hội tề từ lâu nhưng trong làng vẫn gọi ổng là Cả. Nghe nói ổng ‘ quen lớn ’ dữ lắm, thấy mấy ông Quận ông Tỉnh thường ghé nhà ổng chơi hay cùng đi bắn le-le … Hồi tôi tới tuổi đi quân dịch, ổng nói : « Mầy yên tâm lo canh ruộng, còn vụ nầy, để tao lo ». Vậy rồi mươi hôm sau, ổng trao cho tôi tờ hoãn dịch !

… Cất nhà xong, chú Hai Lưa vỗ vai tôi, nói :

– Tao có một cái giường đôi bằng gỗ không xài, để tao chở qua cho mầy. Có điều là nó chỉ còn có mấy thanh ngang chớ không có tấm vạc giường, tại mấy thằng con tao nó lấy cưa ra làm sạp cho ghe của tụi nó. Mầy chịu khó đạp xe vô Xóm Mới nói thằng Ba Kiên đương cho cái vạc bằng tre, rẻ hơn cái vạc gỗ mà nằm lại êm hơn gấp bội.

Ngừng một chút rồi ổng vò đầu tôi, nói :

– Chừng cưới vợ, nhớ cho tao nhậu với nghen !

Tôi nói ‘ Cám ơn chú’, lí nhí nghe chừng không rõ lắm !

… Cái gường đó ráp vô rồi thấy rộng rinh. Mình tôi ngủ thì cần gì đến tấm vạc ? Vậy là tôi thả lên hai tấm ván đủ cho tôi nằm, sung sướng vì nghe thẳng lưng hơn nằm võng !

Tôi ngủ không có tấm vạc giường như vậy cho đến hết mùa lúa năm đó thì tôi gặp ‘ Nàng’… Cũng do Trời xui Đất khiến !

* * *

Nàng tên là Huệ, mồ côi cha, con của bà Năm Căng ở xóm Lò Gạch. Nàng làm công cho lò gạch ông Tám Tiếu. Nhờ đi chở gạch để ông Cả cho sửa lại cái đầu bờ kè trước nhà nên tôi gặp nàng. Gặp là tôi hạp nhãn liền ! Trời ! Con gái nhà quê gì mà nước da trắng bóc, còn thân hình thì cân đối thon thả kèm theo tướng đi lượng là cứ bắt người ta phải nhìn theo !

… Vậy rồi nàng và tôi quen nhau. Vậy rồi, ngày một ngày hai, tôi đạp xe đến lò gạch. Không có gì : chỉ cần gặp nàng để nói đôi ba câu không đầu không đuôi, rồi chèo xuồng về nhà bên kia sông, trèo lên vọng gác ngồi ngẩn ngơ suốt buổi !

… Vậy rồi, tôi nghĩ đến tấm vạc giường ! Vậy rồi, tôi đạp xe vô Xóm Mới đặt chú Ba Kiên đương cho tấm vạc giường bằng tre. Tuần lễ sau, tôi cuốn tròn tấm vạc chở về nhà trải lên cái giường gỗ, nhìn nó mà nghe lòng phơi phới. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi sắm một món đồ tuy không có giá trị gì nhiều nhưng lại mang đầy ý nghĩa …

… Để tránh tai mắt, tôi và nàng thường hẹn gặp nhau ở đường lên chùa vì đường đó vắng người và có mấy bụi tre lớn giao tàn che nắng. Hai đứa đứng nói chuyện ‘ trên trời dưới đất’ cả canh, nàng hay cầm lấy cành tre non đầy lá vươn ra cạnh chỗ nàng đứng, lắc qua lắc lại như để đánh nhịp khi nàng nói, mắt nàng nhìn bụi tre, nhìn con dốc lên chùa chớ ít khi nhìn tôi. Vậy mà sao tôi vẫn nghe lòng phơi phới như được nàng nhìn thẳng vào mắt !

… Bây giờ thì rõ ràng tôi đã thương nàng, càng ngày càng thương đậm ! Mà giữ riết trong lòng thì ấm ức quá đi ! Chắc phải nói ra cho nàng biết, rồi ra sao thì ra ! Vậy rồi một hôm đứng cạnh bụi tre đã thành quen thuộc, tôi làm gan nói :

– Huệ à ! Anh nói thiệt, Huệ đừng giận nghen ! Anh thương Huệ quá rồi Huệ à !

Nàng bỗng quay sang nhìn tôi, tay vẫn còn vin cành tre non, hỏi bằng một giọng nhẹ như tiềng gió trong lùm tre trước mặt :

– Vậy sao ?

Chỉ có hai tiếng nghe ngơ ngớ kỳ kỳ như vậy mà tôi lại thấy như là một sự chấp nhận ! Tôi bước lại gần nàng, nàng vẫn nhìn vào mắt tôi, cập môi mấp máy như muốn nói gì mà hai vành tai ửng đỏ. Đúng lúc đó, tôi hửi được mùi con gái của nàng làm tôi choáng váng ngầy ngật. Trời ơi ! Tôi muốn ôm đại nàng để siết chặt lại trong tôi, bởi vì chỉ có làm như vậy tôi mới nói được tôi thương nàng biết ngần nào … Nhưng tôi lại sợ làm ẩu, rủi nàng không hiểu rồi giận rồi vùng vằng bỏ đi tuốt thì chắc tôi … chết quá ! Tôi ráng kềm tôi lại, nuốt nước miếng mấy lần mới nói được :

– Huệ à …

Nàng ‘ dạ’, tiếng ‘dạ’ nghe như chờ đợi. Nàng không còn nhìn tôi mà quay về với cành tre non. Lần nầy, nàng bứt từng chiếc lá tre rồi bỏ rơi xuống đất, giống như nàng đếm lá !

– Huệ à ! Anh muốn xin cưới Huệ …

Nói tới đó tôi bỗng nghe … hụt hơi ! Nàng im lặng bứt từng chiếc lá … Một lúc, tôi hỏi :

– Mà Huệ có ưng không ?

– Biết đâu nà !

Tôi ráng sức nói một hơi :

– Anh làm công cho ông Cả Bảy. Anh có nhà có đất ở bên kia sông. Anh được hoãn dịch không phải đi lính. Anh sẽ nhờ ông Cả đánh tiếng qua má của Huệ để xin cưới. Mà Huệ phải cho anh biết coi Huệ có ưng hay không, cái đã !

– Ờ … Thì vậy !

Rồi, có lẽ thấy câu trả lời không mấy rõ nên nàng nói thêm :

– Tính sao cũng được !

Tôi mừng quá, nắm đại bàn tay nàng vứa lắc vừa cám ơn rối rít ! Nàng bỗng quay qua nhìn tôi, mỉm cười. Trời ! Cái cười của nàng sao mà đẹp hết nói ! Tôi như bị hốt hồn, cầm chắt bàn tay của nàng mà tưởng chừng như đang cầm cây sào cắm xuống lòng rạch để giữ cho xuồng đừng theo con nước mà bỏ bờ …

Đêm đó, trải chiếc chiếu trên tấm vạc giường, tôi nằm lên mà nghe mát rượi. Tôi nghĩ : rồi đây, hai đứa sẽ nằm chung một vạc giường. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm tôi sung sướng đi vào giấc ngủ. Cuộc đời sao dễ thương quá hổng biết ?

* * *

Chuyện của nàng và tôi chưa ai biết hết thì xảy ra vụ tháng tư 1975. Lúc đó, nghe tin dân miền Trung chạy rần rần vô Nam, ông Cả Bảy kêu tôi, nói :

– Chuyến nầy, mầy đi giùm tao xuống Cần Thơ. Tao có con em mấy chục năm nay theo chồng ở dưới. Địa chỉ nó đây.

Ổng đưa tôi miếng giấy có ghi tên họ, số nhà, tên đường :

– Tao nhờ mầy ôm một số tiền xuống đưa cho tụi nó, biểu tụi nó lo chạy về đây ở với tao sớm sớm cho có anh có em. Có gì cũng còn có nhau còn hơn là đứa một nơi người một ngả, loạn lạc nầy không biết đâu mà rờ. Tao có biểu tụi thằng Hai trại hòm qua ở nhà mầy, vừa giữ giùm nhà vừa coi ruộng luôn. Đừng lo !

… Vậy là tôi lặn lội xuống Cần Thơ tìm người em gái của ông Cả. Bà nầy có sạp vãi ở chợ Cần Thơ, ông chồng là thiếu tá hải quân. Khi tôi tìm ra được bả thì có tin thiên hạ ở Sài Gòn đang chạy di tản, làm dân chúng Cần Thơ cũng rối ren hối hả xuống ghe xuống xuồng tranh nhau đi. Ông thiếu tá hải quân hốt hết gia đình đem lên tàu chiến, kéo tôi theo luôn ! Đứng trên tàu, tôi nhìn đồng ruộng chạy lùi về phía sau mà chết điếng ở trong lòng, không biết làm sao báo tin cho ông Cả Bảy và nhứt là cho Huệ …

… Vậy rồi sau thời gian nằm trên đảo của quân đội đồng minh, tôi định cư ở Mỹ, tiểu bang Cali. Tôi làm công cho một tiệm ăn Việt Nam ở khu Sài Gòn Nhỏ, rửa chén quét dọn lau nhà … Lương lậu không bao nhiêu nhưng được bà chủ cho ở trong một phòng nhỏ nằm cạnh nhà bếp, ở để làm gác-dan cho bả luôn !

Thời gian sau, khi đã ổn định đời sống, tôi có gởi thơ về nhưng không thấy hồi âm. Tôi biết làng tôi nhỏ bé lại nằm tuốt trên vùng Ngọn – gọi là ‘ Ngọn’ bởi vì nằm trên ngọn sông Vàm Cỏ – giáp ranh với đất Cao Miên. Hồi thời trước, trong làng không có nhà bưu điện nên mỗi tuần một lần ông Sáu làm biện trong làng phải đạp xe xuống quận cách đó mười mấy cây số để lấy thơ ở nhà bưu điện đem về để trong nhà làng. Dân chúng cứ tự động đến coi trong đống thơ, cái nào mang tên mình thì lấy, có khi lấy giùm hàng xóm hay họ hàng bạn bè nữa ! Tôi nghĩ chắc bây giờ cũng vậy thôi, thơ tôi gởi không đến tay Huệ thì làm gì có hồi âm được ?

Dầu vậy, tôi vẫn tin tưởng rằng nàng không bao giờ quên tôi, cũng như tôi lúc nào cũng nghĩ tới nàng. Tôi hay nghe mấy người có đọc sách nói ‘Lời thề trăm năm’. Nàng và tôi đâu có thề thốt gì đâu, nhưng câu nói ‘ Tính sao cũng được’ và cái mỉm cười tiếp theo sau đó của nàng ở đường lên chùa hồi tôi ngỏ ý xin cưới … tôi đã khắc ghi vào lòng. Như vậy, chẳng phải là một ‘ Lời thề trăm năm’ hay sao ?

Nhứt định tôi sẽ trở về Việt Nam để cưới Huệ. Để hai đứa cùng nằm chung một vạc giường, cái vạc giường đương bằng thanh tre già chuốt giẹp giẹp, nằm vừa êm vừa mát. Để thấy cái mà mấy người biết đọc sách gọi là ‘ Hạnh phúc lứa đôi ’ đối với tôi, nó chỉ võn vẹn là sự sung sướng được chia đôi với người mình thương một tấm vạc giường … Mà muốn được vậy, tôi phải có tiền. Vậy là tôi để dành tiền, cắc ca cắc củm !

* * *

Nhờ hỏi thăm mấy người có về Việt Nam nên tôi đã ước lượng được số tiền cần thiết để làm đám cưới và để hai vợ chồng tôi có một số vốn làm ăn. Vậy mà phải năm năm sau tôi mới có tàm tạm đủ ! Chừng đó, tôi mới dám ‘ lên kế hoạch’ : nhờ ông Cả Bảy làm chủ hôn bên đàng trai, rước dâu về nhà của ổng, đãi đằng hai họ ở đó, xong rồi tôi chèo xuồng đưa cô dâu về nhà bên kia sông để tôi khoe với nàng tấm vạc giường mà tôi sắm cho hai đứa, từ hơn sáu năm nó vẫn nằm chờ…

Ngồi trên máy bay về Việt Nam, trong đầu tôi sắp xếp. Trước tiên là về nhà tôi để nghỉ ngơi cho tỉnh mỉnh. Sáng hôm sau sẽ đi thăm ông Cả Bảy, còn xế chiều thì qua nhà nàng vì giờ đó nàng mới từ lò gạch về nhà, tôi sẽ bất thần bước vô nói lớn : « Huệ ơi ! Huệ ! Anh về rồi nè ! ». Tưởng tượng đến đó, tôi bỗng ứa nước mắt ! Đầu óc tôi tự nhiên sao mù mờ. Làm như bao nhiêu năm nay tôi chỉ chờ có như vậy ! Tôi thấy tội nghiệp tôi, tội nghiệp nàng : nếu không có cái ngày nghiệt ngã 30 tháng tư 1975 thì làm gì hai đứa phải cắn răng chịu đựng khắc khe cỡ nầy ?

…Làng tôi bây giờ lạ hoắc. Không phải có thêm đường ngang nẻo dọc mà thấy đầy cờ xí biểu ngữ, loa trên loa dưới ồn ào không giống cái gì hết !

Tôi xuống xóm chợ nhờ một chị chèo xuồng mướn đưa tôi sang sông.

Khi xuồng vừa cặp vô cây cầu ván thì có con chó chạy ra sủa râng, rồi hai ông bà già từ trong nhà bước ra dòm. Té ra là chú thím Hai Lưa hồi xưa thủ trại hòm của ông Cả Bảy ! Chú Hai nhìn ra tôi ngay. Ổng la lên :

– Trời đất ! Mầy còn sống hả ? Ở đâu mà về vậy ?

– Dạ ở Mỹ.

– Cha…xa ớn há !

Rồi chú lật đật vừa la chó vừa bước xuống cầu phụ tôi đem hành lý lên. Trước nhà thấy có phơi chiếc chiếu với hai ba cái gối. Trong nhà vẫn như xưa, cái giường gỗ vẫn nguyên chỗ cũ với tấm vạc giường tôi đem về từ trong Xóm Mới. Chỉ có thêm là hai cái võng nằm song song gần đó, còn thì bàn ghế tủ..v.v…không có gì thay đổi. Tôi xúc động đến nghẹn lời. Chú Hai nói :

– Mầy uống miếng trà rồi nằm võng nghỉ lưng. Trong làng tưởng mầy chết rồi chớ, đâu dè … Để tao kể mầy nghe …

Vậy rồi chú nằm trên võng cạnh tôi, vừa hút thuốc vừa kể :

– Hôm mầy đi Cần Thơ, cha con tao theo lời ông Cả biểu, thay phiên nhau qua đây giữ nhà giữ ruộng. Kế đó, tụi nó – tụi cách mạng ớ ! – tràn vô làng, bắt hết hội đồng xã, bắt luôn ông Cả Bảy trói bằng kẽm gai thành một dọc, chở đi mất. Rồi tụi nó chiếm hết, nhà cửa đất đai ruộng vườn, đuổi tụi tao ra để lấy trại hòm. Nhờ có cái nhà của mầy mà tụi nầy dọn qua ở tạm. Tao và hai thằng con tao cất thêm cho cái chòi giữ ruộng rộng ra để để đồ đạc của tụi tao và để hai thằng con tao có chỗ hành nghề thợ mộc của tụi nó. Hai thằng nầy coi vậy mà gan ! Tụi nó vượt biên rồi định cư ở Úc. Bây giờ, tụi nó có xưởng mộc ở bển, coi bộ làm ăn khá ! Thấy lâu lâu gởi tiền về nhờ thằng bạn tụi nó ở thành phố chạy Honda lên đưa ! … À ! Mầy biết hông ? Tụi cóc cắn cách mạng có kêu tao về trại hòm làm cho tụi nó, tao đấm thèm ! Mầy nghĩ coi : trại hòm mà cũng bày đặt trương biểu ngữ đề ‘ Hạ quyết tâm hoàn thành tốt kế hoạch của Nhà Nước ’. Mẹ ! … Hòm chôn người chết mà cũng vô kế hoạch nữa thì khùng hết nước nói ! Còn chuyện nầy chắc mầy chưa biết : con Huệ, con bà Năm Căng …

Hai tiếng ‘ Con Huệ ‘ làm tôi giật mình. Tôi nhỏm dậy, lắng tai nghe. Chú nói tiếp :

– Mấy tháng sau giải phóng, không biết nó nghe lời ai mà ôm gói xuống thành phố nói kiếm việc làm rồi lặn mất luôn cho đến năm ngoái đây, nó trở về mà đi bằng xe hơi nhà có tài xế, trên băng sau có người đàn ông có vẻ ông chủ. Mầy biết, trong làng chỉ có thằng Cói gia nhân của ông Cả Bảy là được ổng sắm cho chiếc Honda để đưa ổng đi đây đi đó, chớ đâu có ai có xe hơi. Vì vậy, khi con Huệ đi xe hơi thẳng vô xóm Lò Gạch là thiên hạ để ý. Bà Năm Căng kể lại nói bả nhìn nó không ra, tưởng là một bà nhà giàu nào đó đi lầm nhà ! Chừng nó xưng tên, mẹ con nó và bầy em nó ôm nhau khóc làm hàng xóm chạy qua mừng cũng rớt nước mắt. Nó đem cho má nó hai bao đồ rồi nhét trong túi áo má nó một cộc tiền. Sau đó, nó chỉ nói được có mấy tiếng ‘ Con lạy má ! Con lạy má !’ rồi vừa khóc vừa chạy vội ra xe lên ngồi cạnh ông người á-đông ở băng sau, tài xế rồ máy chạy ào đi gấp. Từ đó tới giờ không có tin tức gì hết !. Còn đồ nó cho má nó toàn là tơ lụa mắc tiền nằm kín trong từng bao ni-long có in nhiều chữ tàu. Thầy Ba trên chùa đọc rồi nói đó là sản phẩm cao cấp của Thượng Hải …

Tôi ngả người nằm xuống võng mà nghe lùng bùng hai lỗ tai, chết điếng ở trong lòng. Chú Hai Lưa hỏi :

– Mầy còn nhớ con Huệ hông ?

Tôi ‘ dạ ‘, tiếng dạ bị nước mắt trào lên chận ngang. Tôi nuốt xuống mà nghe miệng mồm đắng chác. Không kềm được nữa, tôi đưa hai tay lên bụm mặt. Chắc chú Hai Lưa thấy, hiểu, nên nghe chú tằng hắng một tiếng rồi làm thinh …

* * *

Trên máy bay trở về Mỹ, tôi nhìn qua cửa sổ thấy nhà cửa ruộng đồng cây cối mờ lần mờ lần rồi mất hút … mà tôi nghe buồn rười rượi. Ở tuốt dưới đó, trong một làng quê nằm xa mút trên vùng đất Ngọn, tôi đã bỏ lại một tấm vạc giường, tấm vạc giường tưởng để nằm chung với người con gái nhà quê mà tôi thương, đâu ngờ chuyện hai đứa chưa kịp thành duyên thành nợ thì nàng đã như chiếc xuồng bỏ bờ mà trôi theo nước, đành đoạn trôi theo nước …

Mối tình dành riêng cho nàng mà tôi giữ miết ở trong lòng từ bao nhiêu năm, giờ nghĩ lại sao thấy quá khù khờ ! Dầu vậy, tôi vẫn muốn gặp nàng, gặp một lần thôi, để chỉ hỏi có một câu : « Tại sao ?… Tại sao ? … Tại sao ? … »

Nghĩ đến đó, tự nhiên tôi trào nước mắt …

 

Sau 50 năm sau, Kim Phúc “Cô gái Napalm” tiết lộ thêm những điều chưa kể

Sau 50 năm sau, Kim Phúc “Cô gái Napalm” tiết lộ thêm những điều chưa kể

Bà Kim Phúc nhận được giải thưởng DresdenPeacePrize vì hoạt động tích cực và vì công việc ủng hộ Unesco và trẻ em bị thương trong chiến tranh. (Ảnh: Twitter)

Bà Kim Phúc kể lại rằng sau 14 tháng nằm trong bệnh viện để hồi phục vết bỏng 65% cơ thể, bà nhìn thấy bức ảnh của mình đang ám ảnh cả thế giới. “Tôi về nhà và bố tôi cho tôi xem bức ảnh của tôi, được cắt từ một tờ báo Việt Nam, lần đầu tiên”, người phụ nữ 59 tuổi nói với tờ Insider từ nhà của cô ở ngoại ô Toronto, Canada. “Tôi đã rất bối rối. Tôi thấy mặt mình đau đớn, khóc lóc, trần truồng. Tôi ghét bức ảnh đó quá”. Hình ảnh đau đớn đó không chỉ thay đổi cuộc đời của bà, mà sau khi lên trang nhất của nhiều tờ báo quốc tế, nó đã làm thay đổi thế giới và thay đổi cả diễn biến của Chiến tranh Việt Nam.

Vào ngày 8 Tháng Sáu 1972, lúc đó bà Kim Phúc mới 9 tuổi, bất ngờ chứng kiến cuộc tấn công từ trên không của những chiếc Skyraiders, và gây thương tích cho bà. Ngọn lửa nóng của bom napalm đã khiến bà la hét trên Quốc lộ 1, sau khi tự xé toạc quần áo, trong khi người nhà của bà vây lại. Khoảnh khắc ấy có một nhiếp ảnh gia tên Nick Út, lúc ấy 21 tuổi đã ghi lại được. Sau bức ảnh đoạt giải Pulitzer đó, số phận của hai người gắn liền với nhau.

Nick Út, cũng là người Việt Nam, là một nhiếp ảnh gia của AP, kể lại rằng khi chụp ảnh, ông nhìn thấy cô gái nhỏ đau đớn tột cùng – da thịt cô ấy tái đi khi cô ấy rên rỉ “Tôi sắp chết”.

“Tôi nhìn Kim Phúc và tôi nghĩ rằng không thể để cô ấy chết”, Nick Út nói với Insider. Ông chính là người sau khi chụp bức ảnh đó đã đích thân đưa cô đến bệnh viện, dùng áp lực của tên hãng tin AP bảo đảm cô bé đó nhận được sự chăm sóc y tế, lúc ấy đã quá tải. Ít ai biết rằng Kim Phúc đã được đưa vào nhà xác sau khi được cho là bị thương quá nặng nên không thể sống sót.

Bà Kim Phúc trong một buổi nói chuyện (ảnh: Alain Nogues/Sygma/Sygma via Getty Images)

Khi Nick Út đưa bức ảnh của mình vào hệ thống tin tức, ông nhớ lại rằng đã có một số biên tập viên yêu cầu anh chỉnh sửa hình ảnh vì mọi thứ nhìn giống ảnh khoả thân. Nhưng cuối cùng thì nó được xuất bản nguyên vẹn, mở ra một giai đoạn tranh cãi dữ dội về sự can dự của Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Bà Kim Phúc kể “tôi mang ơn anh Nick, vì cách anh ấy không chỉ chụp ảnh tôi, mà còn cứu mạng tôi. Anh ấy đặt máy ảnh xuống và đưa tôi đến bệnh viện”. Còn ông Nick Út thì nói “khi cứu sống cô ấy, tôi coi Kim Phúc như người trong gia đình”, ông Nick Út, năm nay 71 tuổi, nói với Insider.

Tuy nhiên, phải 17 năm họ mới đoàn tụ. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, Nick Út đã di tản khỏi Việt Nam, nhưng Kim Phúc thì kẹt lại ở đó. Hai người gặp lại nhau khi Kim Phúc được đưa học ở Cuba như một biểu tượng tuyên truyền của chính quyền. Lúc đó bà Phúc nói với ông Út rằng bà khao khát được chạy trốn khỏi quê hương bị cộng sản xâm chiếm, như anh vậy.

Bức tượng miêu tả bà Kim Phúc của điêu khắc gia Adel Abdessemed tại David Zwirner Gallery, London (Anh) – ảnh: Dan Kitwood/Getty Images

Ông Út đi khỏi Sài Gòn vào năm 1975, sau khi Sài Gòn thất thủ và chuyển đến Los Angeles hai năm sau đó, năm 1977. Nhưng Đại sứ quán Cộng sản Việt Nam ở Cuba theo dõi rất chặt. “Tôi muốn hét lên ngay khi gặp chú Út, và muốn được giúp đào thoát, nhưng tôi biết cả hai sẽ gặp rắc rối”, bà Phúc kể. Sau đó bằng một kế hoạch tẩu thoát mong manh và mạo hiểm trong một chuyến đi máy bay, bà Kim Phúc đã đào thoát an toàn đến Canada vào năm 1992.

Cùng với vết sẹo bỏng, ký ức chiến tranh là vết sẹo nằm sâu trong tâm trí bà Kim Phúc (ảnh: Michael Brennan/Getty Images)

Được tị nạn chính trị cách quê hương áp bức hàng nghìn dặm, bà định cư gần Toronto với người chồng Việt Nam, trở thành bà mẹ của hai cậu con trai và rồi làm Đại sứ thiện chí UNESCO nổi tiếng toàn cầu. Còn ông Nick Út sống ở Hollywood và quay phim cho AP trong nhiều thập niên. Chiếc máy ảnh ông dùng để chụp cho Kim Phúc, chiếc Leica M2 35 mm ống kính f2, đã được giữ trong một viện bảo tàng lịch sử ở Washington. “Khi tôi có được tự do ở Canada, tôi muốn thoát khỏi bức tranh đó”, bà Phúc, người thường được mô tả hay có sự buồn bã và hy vọng hoà trộn trong mình, hồi tưởng và kể lại. “Tôi không thích trở thành cô bé trong bức ảnh đó chút nào, tôi không cảm thấy cuộc đời mình thuộc về tôi”.

Bà Kim Phúc đã trải qua 17 lần phẫu thuật và 11 lần điều trị bằng laser, đã thay đổi cuộc đời mình bằng những tư tưởng mới. “Tôi có tự do và tôi có thể bảo vệ trẻ em trên toàn thế giới”, bà nói. Đối với tất cả sự đáng sợ và nhân văn trong bức ảnh danh tiếng của mình, bà Phúc đã cho nó trở thành đại diện cho sự trân quý bình yên, với sự tức giận nhường chỗ cho sự chấp nhận – và cuối cùng là lòng biết ơn: “Tôi quay lại ôm bức ảnh đó và làm việc với nó vì hòa bình. Khoảnh khắc đó đã trở thành một món quà mạnh mẽ đối với tôi”.

Ngày nay, bài học nhọc nhằn giành được sự sống còn của bà Kim Phúc trở nên hiện thực hơn bao giờ hết. Khi những hình ảnh từ Ukraine xuất hiện, trong đó có cuộc diễu hành hình ảnh trẻ em bị thương và chạy trốn, bà Phúc nói bằng chiêm nghiệm dài nửa thế kỷ của mình: “Tôi là một trong số hàng triệu trẻ em bị tổn thương vì chiến tranh. Đừng đánh mất hy vọng của bạn”.

httpv://www.youtube.com/watch?v=SWH2Vi0PcoI&t=248s

Làm chính sách hay tập làm văn

Làm chính sách hay tập làm văn

Huy Đức

2-6-2022

Từ khóa II đến khóa VII, Quốc hội ta cơ cấu đại biểu bao gồm cả người chăn bò và công nhân vệ sinh. Trong những lần trả lời phỏng vấn tôi, anh Hồ Giáo kể, khi cần ông phát biểu, Văn phòng thường chuẩn bị trước rồi đưa giấy cho ông, ông chỉ cần lên đọc. Bởi thế, ngay cả hồi đó mà cũng có mạng xã hội, chưa chắc đại biểu đã có khả năng “mua vui” như mấy ngày qua.

Lỗi không phải chỉ ở từng đại biểu.

Tôi tìm lại Luật Quy hoạch, Luật được nhắc nhiều nhất mấy ngày họp đầu. Hiếm có văn bản luật nào lại được trình bày một cách tăm tối như Luật này. Tôi cố gắng đọc đi đọc lại cả 59 điều mà không thấy rõ, đâu là “quy phạm”, đâu là “chính sách”. Luật Quy Hoạch không phải là cá biệt, nếu không thay đổi tư duy làm luật thì Quốc hội, nơi lẽ ra phải làm chính sách, chỉ có thể làm tập làm văn.

Một trong những luật ban hành sớm nhất kể từ sau Hiến pháp 1992 là Luật Đất Đai. Những chính sách tiến bộ hơn kể từ sau đổi mới được đưa một cách thận trọng vào luật này. Nhưng, một phần của những chính sách này gần như đã bị phá hỏng bởi Pháp lệnh 14-10-1994 (luật mẹ của Nghị định 18).

Tiến trình sửa đổi Nghị định 18, bãi bỏ Pháp lệnh 14-10-1994, trả lại cho các tổ chức (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân) “quyền sử dụng đất” là một tiến trình đấu tranh chính sách (giữa cải cách và bảo thủ). Các văn bản liên quan đến Luật Đất Đai ở giai đoạn này vẫn khá mạch lạc và những lần sửa đổi chỉ là sửa đổi những điều luật chính, liên quan.

Luật Đất Đai 2003 là một bước lùi về chính sách, trao cho Nhà nước nhiều quyền thu hồi đất đai hơn. Nhưng, cái tôi muốn nói là tham vọng sửa đổi toàn diện Luật Đất Đai 1993 trong năm 2003 đã mở đầu một thời kỳ Quốc hội bị kéo vào công cuộc làm văn bản chứ không phải làm chính sách.

Tôi vẫn cho rằng, không gian chính trị này vẫn chưa đủ chín để đụng đến vấn đề “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Tuy nhiên, vẫn có thể thay đổi nội hàm của nó, vẫn có thể sửa chính sách và có một cách tiếp cận khác để làm luật đất đai rõ ràng, ngắn gọn.

Không có cái gì có thể bán được hàng trăm triệu, hàng chục tỉ đồng mà không gọi là tài sản. Đất đai của một quốc gia tồn tại ở các dạng: tài nguyên và tài sản… Tài sản có tài sản công (đất công) và tài sản tư (đất tư). Đã là tài sản thì phải được hiến pháp bảo hộ và nó chỉ được quyết định bởi quan hệ dân sự và tư pháp.

Tuy nhiên, khác với động sản, bất động sản, ngay cả ở những quốc gia có đa sở hữu. Thì không phải cứ là chủ đất thì muốn làm gì thì làm. Nhà nước bảo hộ để người dân thực thi các quyền dân sự, sang nhượng, mua bán…; khi có tranh chấp (với nhau hoặc với nhà nước) thì chờ phán quyết của quyền tư pháp. Khi đã coi quyền sử dụng đất là tài sản thì không nên áp dụng quyền hành chánh thu hồi, mà nên áp dụng quyền trưng dụng, trưng mua mà Hiến pháp có trao cho Nhà nước.

Nhà nước chỉ nên sử dụng quyền hành chánh để kiểm soát mục đích sử dụng đất và quyền phát triển (trồng cây, xây nhà trên đất…).

Với cách tiếp cận này, luật đất đai chỉ cần dăm, bảy điều và luật quy hoạch cũng không nên “vẽ cả ngày mai thành bức tranh…” khi mà chưa biết nguồn lực từ đâu ra cả.

Thay vì quy hoạch, luật cần đưa ra những quy phạm rõ ràng, ví dụ: Nghiêm cấm chuyển đất nông nghiệp ở những nơi màu mỡ (Văn Giang, Ecopark…) thành đất đô thị; Nghiêm cấm lấp ao, hồ, sông ngòi tự nhiên; Trong quá trình phát triển đô thị cứ lấp một mét ao hồ ở chỗ này thì phải đào lại một mét ao hồ ở nơi khác trong phạm vi cùng chịu tác động của khu đô thị ấy…

Hoặc: Nhà ở không được xây bám theo các trục đường giao thông; các cụm dân cư phải được bố trí đường riêng và phải ở cách xa đường giao thông một khoảng cách nhất định (cao tốc xa hơn đường liên tỉnh, liên huyện…).

Nếu trong thập niên 1990s đã áp dụng nguyên tắc này thì bây giờ tai nạn giao thông đã không nhiều và muốn mở rộng đường sá đã không vất vả thế; khu Bàu Cát (Tân Bình), Kỳ Hòa (quận 10), Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)… đã không ngập lụt. Và, thay vì cắm cúi làm quy hoạch, nếu ngay sau Đại hội VII, Quốc hội có luật cấm xây nhà riêng lẻ cách điểm tiếp nước Hồ Tây từ 3 – 5 trăm mét; kiểm soát xây cất từ chân đê tới mép dòng chảy sông Hồng đoạn đi qua Hà Nội thì giờ Thủ đô đã khác.

Đừng coi việc làm luật cũng là một cơ hội như làm… dự án. Tư duy chưa thay đổi, điều kiện chưa chín muồi thì chưa thể có thay đổi về chính sách (nhất là trong chính sách đất đai, có người muốn giữ sở hữu toàn dân vì sợ chệch hướng; có người muốn giữ quyền thu hồi đất của nhà nước vì lợi ích).

Chưa thay đổi về chính sách mà sửa luật thì chỉ làm tập làm văn. Và nếu không thay đổi chính sách một cách toàn diện thì đừng sửa toàn văn luật hay bộ luật mà chỉ cần ra một luật sửa đổi chỉ 1, 2 điều là đủ.

Bà Phan Thị Mỹ Dung, ĐBQH tỉnh Long An. Ảnh chụp màn hình báo Tuổi Trẻ

Phải có phương pháp làm việc khoa học để đừng làm mất thời gian của Quốc hội. Nên đưa các vấn đề chính sách ra để các nghị sĩ thảo luận (thay vì để đại biểu ăn nói như một đại cử tri). Khi đã hình dung quyết sách thì để các Ủy ban cùng đội ngũ chuyên môn thiết kế các “quy phạm” trước khi trình Quốc hội thông qua, biểu quyết.

Quyền lực của Quốc hội càng độc lập với Chính phủ càng tốt khi thực thi giám sát. Nhưng, chương trình nghị sự của Quốc hội mà nếu không bám sát chương trình hành động của Chính phủ (phản đối hay ủng hộ) thì các phát biểu ở Quốc hội rất dễ trở nên lạc lõng. Lạc lõng như những ông chồng thay vì nhặt rau, bế con, chỉ chăm chăm sang nhà khác nhìn xem vợ hàng xóm xinh hay xấu.