TÌNH YÊU CHÁY BỎNG VÀ THANH TẨY

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Ngày 02 tháng 11

Cầu cho các tín hữu đã qua đời

“Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa”.

Trên một bia mộ, người ta đọc dòng này, “Chỗ bạn đang đứng là chỗ tôi đã đứng. Nơi tôi đang nằm là nơi bạn sẽ nằm!”. Chúng ta sẽ rời khỏi cõi tạm này; vì vậy, tốt nhất, ngay khi đang sống, hãy để ‘tình yêu cháy bỏng và thanh tẩy’ của Chúa kịp đốt cháy và tẩy sạch mọi bợn nhơ!

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy để ‘tình yêu cháy bỏng và thanh tẩy’ của Chúa kịp đốt cháy và tẩy sạch mọi bợn nhơ!”. Lời khuyên này cần được suy nghĩ trong ngày cầu cho Các Đẳng Linh Hồn. Lời Chúa đưa chúng ta về “Luyện ngục”, một khái niệm thường bị hiểu lầm. Luyện ngục là gì? Nơi chúng ta chịu trừng phạt vì tội lỗi mình? Cách Thiên Chúa nhắc lại những sai phạm của mỗi người? Đó là kết quả cơn giận của Ngài? Không câu hỏi nào thực sự trả lời câu hỏi về Luyện ngục. Luyện ngục không gì khác hơn là ‘tình yêu cháy bỏng và thanh tẩy’ của Chúa dành cho những người Chúa chọn. Sách Khôn Ngoan hôm nay nói, “Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa”.

Khi ai đó chết trong ân điển Chúa, rất có thể họ không được hoán cải 100% và hoàn hảo về mọi mặt. Cả những vị thánh vĩ đại nhất cũng có một số khiếm khuyết trong cuộc sống. Luyện ngục không gì khác hơn là sự thanh tẩy cuối cùng tất cả những ràng buộc còn lại với tội lỗi. Hãy tưởng tượng, bạn có một cốc nước tinh khiết 100%. Chiếc cốc này tượng trưng cho thiên đàng. Hãy tưởng tượng, bạn muốn thêm vào cốc nước đó, nhưng những gì bạn có là nước tinh khiết 99%. Nước tinh khiết 99% này đại diện cho người lành thánh đã chết với một số chấp trước nhẹ đối với tội lỗi. Nếu bạn thêm nước đó vào cốc, bấy giờ, cốc sẽ có một số tạp chất, ít nữa là 1%. Vấn đề là thiên đàng không được chứa bất kỳ tạp chất nào, dù là nhỏ nhất. Vì thế, 1% đó vẫn cần được lọc sạch. Luyện ngục là quá trình đốt cháy những ràng buộc sau hết để chúng ta có thể vào thiên đàng, giải thoát 100% mọi thứ liên quan đến tội. Ví dụ, thói quen xấu của bạn là thô lỗ, hay mỉa mai, thì cả khuynh hướng và thói quen này cũng phải được loại bỏ.

Làm thế nào điều này xảy ra? Chúng ta không biết. Chúng ta chỉ biết nó có. Nhưng cần biết rằng, đó là kết quả của ‘tình yêu cháy bỏng và thanh tẩy’ vô hạn của Thiên Chúa, giải phóng chúng ta khỏi những ràng buộc. Có đau không? Rất có thể. Nhưng đau đớn theo nghĩa là buông bỏ mọi ràng buộc rối loạn. Nhưng kết quả cuối cùng là tự do thực sự, đáng giá cho bất kỳ nỗi đau nào mà chúng ta có thể trải qua. Vì vậy, Luyện ngục là đau đớn; nhưng đó là nỗi đau ngọt ngào cần có để đạt đến kết quả cuối cùng là một người kết hợp 100% với Chúa. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói, “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi”; và chúng ta sẽ đến dự tiệc trong Nước Ngài với chiếc áo và trái tim tinh tuyền tuyệt đối!

Tưởng nhớ các linh hồn, chúng ta sống mầu nhiệm Các Thánh Thông Công. Các linh hồn trải qua cuộc thanh tẩy cuối cùng này vẫn hiệp thông với Chúa, với Giáo Hội dưới thế và Giáo Hội thiên quốc. Chúa sử dụng lời cầu nguyện của chúng ta dành cho các linh hồn như những công cụ thanh tẩy của Ngài; Ngài cho phép và mời chúng ta tham gia vào cuộc thanh tẩy cuối cùng của họ. Điều này tạo nên một mối quan hệ liên đới chặt chẽ của chúng ta với các linh hồn.

Anh Chị em,

“Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa”. Như vàng trong lửa, vào một ngày kia, tất cả chúng ta rồi cũng được thanh luyện như các linh hồn. Và không nghi ngờ gì nữa, các thánh trên trời, đặc biệt dâng lời cầu nguyện cho họ trong cuộc thanh tẩy cuối cùng này đang khi họ chờ đợi hiệp thông trọn vẹn với các ngài. Đó là một suy nghĩ đáng hoan hỷ và một niềm vui lớn lao khi chúng ta thấy cách thức Thiên Chúa đã sắp xếp toàn bộ quá trình này cho mục đích cuối cùng của sự hiệp thông thánh thiện mà chúng ta được kêu gọi! Như vậy, cuộc thanh tẩy chót này rõ ràng là cần thiết, nó là sáng kiến từ ‘tình yêu cháy bỏng và thanh tẩy’ của Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì kinh nguyện và hy sinh của con góp phần thánh hoá các linh hồn khỏi mọi ràng buộc, chấp trước; nhờ đó, họ sớm hưởng kiến thánh nhan!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc 2022 có điểm gì đáng chú ý?

Bởi  AdminTD

 

Trương Nhân Tuấn

5-11-2022

Bản Tuyên bố chung VN-TQ kỳ này nội dung có vài điểm mới, mang tính mấu chốt, đánh dấu sự chuyển mình của TQ trong thế trận cạnh tranh với Mỹ và Tây phương về ý thức hệ và mô hình phát triển.

1/ Sự lãnh đạo của (các) đảng cộng sản trở thành “qui luật”. Các đảng cộng sản có mục tiêu, lý tưởng và sứ mệnh: vì hạnh phúc nhân dân, vì tiến bộ nhân loại.

2/ Phô trương (hay phóng đại) mô hình phát triển của TQ “thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là thực tiễn sinh động, kinh nghiệm quý báu” để các quốc gia đang phát triển tham khảo.

3/ Vấn đề an ninh đặt lên hàng đầu. “Diễn tiến hòa bình”, “Cách mạng màu” được xếp vào mục tội phạm, đứng chung với “khủng bố” và các tội phạm ma túy, lừa đảo, đánh bạc…

4/ Vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ không được giải quyết bằng pháp luật quốc tế mà bằng việc “hợp tác thực thi pháp luật” giữa hai lực lượng cảnh sát biển của hai nước. Tranh chấp trong Vịnh Bắc Việt sẽ được giải quyết trong nội bộ của bộ Nông nghiêp.

Ta thấy là VN chấm dứt chính sách “đu dây” từ sau khi Liên Xô sụp đổ.

Chính sách “đu dây” chỉ có thể áp dụng nếu có hai “trụ cột”, như Liên Xô và TQ ngày trước. CSVN lúc thì nghiêng qua TQ, lúc thì ngả lại Liên Xô để được tăng cường viện trợ. VN đối với hai đại cường LX và TQ như là một “vệ tinh”. Cả hai, Liên Xô và TQ tranh thủ lấy lòng VN để có ưu thế địa chiến lược.

Hiện nay VN không hề có chính sách “đu dây” giữa TQ và Mỹ. Mỹ không phải là một “trụ cột” và TQ cũng vậy.

Mỹ đã thể hiện một sự kiên nhẫn chiến lược đối với VN một cách đáng kinh ngạc. Mỹ đã giúp tận tình cho VN qua cơn khủng hoảng y tế do Covid-19 năm ngoái cũng như “mở cửa rộng” nhập hàng hóa của VN nhằm giúp kinh tế VN phát triển.

Người Mỹ dĩ nhiên đã thấy rằng thực tế “ngoại giao cây tre” của VN chỉ là một màn “phe phẩy” chớ không phải là một thái độ chân thành của một đối tác đáng tin cậy.

Cây tre VN, nếu có, thì cây tre này bắt rể trên ý thức hệ và mô hình phát triển của CSTQ. Cây tre VN mọc trên đất TQ, vì vậy VN không thể có cái gọi là “ngoại giao cây tre” mà chỉ có “ngoại giao theo chỉ đạo chiến lược của TQ”.

Mỹ thể hiện sự kiên nhẫn, đưa tay muốn dắt VN ra khỏi vùng ảnh hưởng của TQ.

Nội dung bản Tuyên bố chung VN-TQ 2022 qua các điểm nhấn ghi trên sẽ là một thách thức đối với sự kiên nhẫn chiến lược của Mỹ. VN đã chọn phe: đứng về phía TQ, giúp TQ phát huy mô hình và ý thức hệ của TQ ra thế giới.

VN đứng về phe TQ, thách thức với Mỹ và thế giới tự do trong cuộc cạnh tranh mô hình phát triển và ý thức hệ chính trị.

Có thể sắp tới Mỹ sẽ bỏ VN để “đi” với một quốc gia khác, chắc chắn không bằng VN về mọi mặt, như Campuchia.

Nếu ví bàn cờ chiến lược Ấn độ – Thái bình dương với Châu Âu hiện tại, VN đối với TQ có thể ví như là một Bạch Nga đối với Nga. Còn Campuchia có thể là Phần lan (hay các xứ Baltique). Nếu Bạch Nga không “phản bội” Nga thì VN sẽ không bao giờ quay lưng lại với TQ.

Nhưng liệu khi Mỹ “quay lưng” với VN, đóng cửa với VN về mọi mặt. Liệu VN có thể giữ nguyên mức phát triển hay không? Chỉ cần Mỹ hạn chế nhập khẩu, hay hạn chế dòng ngoại tệ của Việt kiều, VN sẽ ra sao?

CÓ CHĂNG MỘT THẾ GIỚI BÊN KIA?

Lm Ignatio Trần Ngà

Sau khi Raymond Moody xuất bản quyển Life after life (Cuộc Sống sau cõi đời nầy) vào năm 1975, công chúng phương Tây ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm cận tử (tạm gọi là trải nghiệm sự chết đi sống lại).  Có một số người vì một tai nạn hay một lý do nào đó đã được giới chuyên môn về y khoa xác nhận là đã chết lâm sàng và thi thể của họ được đưa vào nhà xác.  Nhưng sau đó họ hồi sinh.

Năm 1982, George Gallup ước lượng có khoảng 8 triệu người ở Mỹ và 23 triệu người trên toàn thế giới đã trải qua kinh nghiệm nầy.

Những năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và Mỹ rất chú ý đến hiện tượng nầy.  Họ đã phỏng vấn 1,370 người trải qua kinh nghiệm cận tử.  Trong những điều họ thuật lại, có những điểm mà ai cũng nhất trí, như sau:

  • Có một cuộc sống khác ở “cõi bên kia” và cuộc sống đó hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này. 
  • Điều đặc biệt là sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không còn ham muốn kiếm tiền bạc danh vọng lạc thú nữa.  Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. (Willie Hoffsuemmer).

Bác sĩ George Rodonaia, có học vị tiến sĩ trong ngành thần kinh học (về sau nầy cũng là một tiến sĩ tâm lý học tôn giáo) vốn là công dân Liên Xô, nhập cư vào Mỹ năm 1989.  Ông là chuyên gia nghiên cứu về thần kinh tại Đại học Moscow.  Ông đã trải qua một kinh nghiệm cận tử đặc biệt nhất được ghi nhận từ trước đến giờ.  Ông được giới y khoa xác nhận là chết ngay lập tức sau một vụ tai nạn ô tô vào năm 1976, được đưa vào nhà xác và được quàn tại đó trong ba ngày.  Ông vẫn không hồi sinh cho tới khi bác sĩ tiến hành giải phẫu phần bụng như một phần của công tác khám nghiệm tử thi.

Ông thuật lại trải nghiệm về cuộc sống bên kia và xác quyết rằng chính biến cố nầy khiến ông đổi đời tận gốc rễ.

Trước khi trải qua kinh nghiệm cận tử, ông vừa là bác sĩ vừa là một nhà thần kinh học, và là người theo chủ nghĩa vô thần.  Vậy mà sau lần chết đi sống lại đó, ông chú tâm học bộ môn tâm lý học tôn giáo, nhận bằng tiến sĩ tâm lý học tôn giáo.  Sau đó ông trở thành tín đồ thuộc giáo hội Eastern Orthodox.  Hiện nay, ông là mục sư tại nhà thờ the First united Methodist ở Nederland, bang Texas, Hoa Kỳ.  (nguồn: Tổ Chức Nghiên Cứu Về kinh nghiệm cận tử (Near Death Experience Reseach Foundation. (http://www.nderf.org/Vietnamese/index.htm)

Có chăng một cuộc sống đầy hoan lạc ở ‘cõi bên kia’ như những người trải qua kinh nghiệm cận tử xác quyết?

Những người thuộc phái Xa-đốc không tin điều đó.  Họ dựng lên một kịch bản một vợ bảy chồng để phỉ báng niềm tin vào sự sống đời sau.

Chúa Giêsu Dạy Cho Chúng Ta Biết Có Sự Sống Đời Sau

Khi những người thuộc phái Xa-đốc đến chất vấn Chúa Giêsu về sự sống lại, Chúa Giêsu khẳng định có sự sống đời sau.  Ngài dạy rằng có những người được xét là đáng được hưởng phúc đời sau thì không còn chết nữa.  Họ giống như các thiên thần (câu 36).  Rồi Ngài cũng trích dẫn sách thánh, đoạn sách nói về Thiên Chúa hiện ra với Mô-sê trong bụi gai, để chứng tỏ rằng Abraham, Isaac và Gia-cóp dù đã từ trần từ lâu nhưng vẫn còn đang sống.  Mà nếu các vị nầy còn sống, tức là có sự sống đời sau.

Trong dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Đức Giêsu cũng tỏ cho thấy kẻ dữ thì “phải ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng lấy sự sống muôn đời.” (Mt 25,46) Như thế, Chúa Giêsu tỏ cho thấy không những có cuộc sống đời sau mà còn cho biết cuộc sống đó sẽ kéo dài “muôn đời muôn kiếp.”

Cuộc Đời Của Đức Giêsu Minh Chứng Cho Sự Sống Lại

Ngoài những lời dạy của mình, Chúa Giêsu còn dùng cả cuộc đời của Ngài để minh chứng cho thấy có cuộc sống đời sau.

* Nếu không có cuộc sống đời sau, không có thiên đàng hoả ngục, con người chết rồi là hết, chỉ còn là bụi đất… thì Chúa Giêsu chịu khổ nạn để làm gì?  Máu Chúa Giêsu đổ ra hoàn toàn vô ích.

Nhưng chính vì để cứu con người khỏi hư mất và đem lại cho họ sự sống hoan lạc đời sau nên Con Thiên Chúa đã xuống trần, chịu vô vàn đau thương khổ luỵ và chấp nhận trả bằng giá máu để chuộc lấy con người.

* Chúa Giêsu, dù là Thiên Chúa quyền năng, nhưng đã trở nên hoàn toàn là người như chúng ta, đã sống như chúng ta, đã chết như chúng ta nhưng rồi Người đã từ trong cõi chết sống lại và lên trời vinh hiển.

Sự kiện Chúa Giêsu sống lại chứng tỏ cho chúng ta biết có sự sống đời sau và những ai gắn bó với Chúa Giêsu, trở nên chi thể trong Thân Mình Người thì cũng sẽ được sống lại như Người.

* * *

Niềm tin vào sự sống mai sau đem lại cho chúng ta niềm vui và hy vọng.  Niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc đời và cho mọi sinh hoạt của chúng ta hôm nay.

Ước gì niềm tin nầy thôi thúc chúng ta sống theo đường lối Chúa Giêsu để rồi chúng ta sẽ đạt đến nơi mà Người đã đến.  Ước gì niềm hy vọng nầy cũng sẽ thúc đẩy chúng ta hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ nhiều hơn trong tháng 11 nầy để cầu cho ông bà cha mẹ, và các tín hữu đã ra đi trước chúng ta được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu. 

Lm Ignatio Trần Ngà

(Trích dẫn từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’)

From: Langthangchieutim

Thế giới sẽ ra sao khi một đế chế sụp đổ?

Thế giới sẽ ra sao khi một đế chế sụp đổ?

Robert D. Kaplan, “The Downside of Imperial Collapse,” Foreign Affairs, 04/10/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Khi một đế chế hoặc một cường quốc sụp đổ, hỗn loạn và chiến tranh sẽ lên ngôi.

Chiến tranh là “thời khắc bản lề” của lịch sử. Và những cuộc chiến không được chuẩn bị kỹ càng, khi đóng vai trò là điểm khởi đầu cho sự suy tàn của một quốc gia, có thể trở thành một đòn chí mạng. Điều này đặc biệt đúng đối với các đế chế. Nếu không thất bại trong Thế chiến I, Đế chế Habsburg, vốn đã cai trị Trung Âu suốt hàng trăm năm, hẳn đã có thể tiếp tục tồn tại bất chấp nhiều thập niên suy tàn. Có thể kết luận tương tự với Đế chế Ottoman, nơi mà từ giữa thế kỷ 19 đã được ví von là “bệnh nhân của châu Âu.” Đế chế Ottoman, giống như Đế chế Habsburg, có thể đã sống sót thêm hàng chục năm nữa, và thậm chí tái cấu trúc lại, nếu họ không phải là bên thua cuộc trong Thế chiến I.

Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ nên đánh giá thấp, hay ăn mừng ngày tàn của một đế chế. Các đế chế hình thành từ hỗn loạn, và cũng suy tàn trong hỗn loạn. Các quốc gia đơn sắc tộc hình thành từ đống tro tàn của hai đế chế đa sắc tộc Habsburg và Ottoman chứa đựng nhiều cực đoan và bất ổn. Lý do là bởi các nhóm sắc tộc và phe phái cùng những bất bình của riêng họ, từng được xoa dịu nhờ “chiếc ô đế chế”, nay bất ngờ trở nên tách biệt và quay sang đối đầu nhau. Chủ nghĩa quốc xã, và rộng hơn là chủ nghĩa phát xít, đã ảnh hưởng đến nhiều quốc gia và phe phái ở Balkan thời hậu Habsburg và hậu Ottoman. Nó cũng ảnh hưởng đến các trí thức Ả Rập lúc ấy đang theo học ở châu Âu, những người đã mang các ý tưởng này trở lại quê hương hậu thuộc địa mới giành được độc lập của họ, và giúp hình thành một hệ tư tưởng tai hại – Đảng Ba’ath. Cuối Thế chiến II, Winston Churchill đã suy đoán rằng nếu các đế chế quân chủ  ở Đức, Áo, và các nơi khác không bị xóa sổ trên bàn đàm phán Hòa ước Versailles, “thì chúng ta đã chẳng có Hitler.”

Nửa đầu thế kỷ 20 được định hình bởi sự sụp đổ của các đế chế, và nửa sau là bởi các cuộc chiến tranh và biến động địa chính trị đi kèm với sự sụp đổ đó. Đế chế vẫn thường bị giới trí thức đánh giá thấp, nhưng sự suy tàn của đế chế có thể gây ra nhiều vấn đề lớn. Chẳng hạn, Trung Đông vẫn chưa tìm ra giải pháp thỏa đáng cho sự sụp đổ của Đế chế Ottoman, bằng chứng chính là những thăng trầm đẫm máu tại khu vực này trong 100 năm qua.

Tất cả những điều này cần phải được đề cập mỗi khi chúng ta xem xét tính dễ bị tổn thương của Trung Quốc, Nga và Mỹ ngày nay. Ba cường quốc này có thể mong manh hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Một tầm nhìn cẩn trọng cần thiết để tránh các thảm họa chính sách – nghĩa là khả năng nghĩ đến thảm kịch để tránh rơi vào thảm kịch – đã không được phát triển đầy đủ, hoặc không có bằng chứng rõ ràng, ở Bắc Kinh, Moscow, và Washington. Cho đến nay, cả Nga và Mỹ đều đã từng khởi xướng các cuộc chiến tự hủy diệt: Nga ở Ukraine, còn Mỹ ở Afghanistan và Iraq. Đối với Trung Quốc, nỗi ám ảnh phải chinh phục Đài Loan cũng có thể dẫn đến sự tự hủy diệt. Khi nói đến sự tồn tại lâu dài của họ, trong những năm và thập niên gần đây, cả ba cường quốc này đã nhiều lần cho thấy những phán đoán tồi tệ một cách bất thường.

Nếu một hoặc tất cả các cường quốc ngày nay bị suy yếu đáng kể, thì tình trạng rối bời và mất trật tự sẽ gia tăng bên trong biên giới của họ và trên toàn thế giới. Một nước Mỹ suy yếu hoặc gặp nhiều khó khăn sẽ ít có khả năng hỗ trợ các đồng minh của mình ở châu Âu và châu Á. Nếu chế độ của Điện Kremlin bị lung lay vì các nguyên nhân bắt nguồn từ cuộc chiến Ukraine, thì Nga, nước yếu hơn về mặt thể chế so với Trung Quốc, có thể trở thành một phiên bản của Nam Tư cũ, không thể kiểm soát các vùng lãnh thổ lịch sử của mình ở Caucasus, Siberia và Đông Á. Những biến động về kinh tế hoặc chính trị ở Trung Quốc có thể gây ra bất ổn ở các khu vực trong nước, đồng thời có thể khiến Ấn Độ và Triều Tiên cảm thấy mạnh dạn hơn, khi chính sách của họ trước giờ thường bị Bắc Kinh kiềm chế.

NỀN TẢNG LUNG LAY

Các cường quốc ngày nay không phải là các đế chế. Nhưng Nga và Trung Quốc vẫn mang theo di sản đế chế của họ. Cuộc chiến của Điện Kremlin ở Ukraine bắt nguồn từ những xung động tồn tại trong cả đế chế Nga và Liên Xô. Ý định hung hăng của Trung Quốc đối với Đài Loan mang âm hưởng của khát vọng bá chủ châu Á có từ thời nhà Thanh. Mỹ chưa bao giờ chính thức được xếp loại là một đế chế. Nhưng việc mở rộng về phía tây ở Bắc Mỹ và các cuộc chinh phục lãnh thổ ở nước ngoài đã mang lại cho Mỹ bóng hình của một đế chế trong thế kỷ 19, và trong thời kỳ hậu Thế chiến II, nước này đã có được một mức độ thống trị toàn cầu mà trước đây chỉ các đế chế mới sở hữu.

Ngày nay, cả ba cường quốc này đều đang đối mặt với tương lai bất định, trong đó không thể loại trừ sự sụp đổ hoặc tan rã ở một mức độ nào đó. Vấn đề mà từng nước phải đối mặt là khác nhau, nhưng chúng đều mang tính sống còn đối với sự tồn tại của họ. Nga là nước có nguy cơ cao nhất. Ngay cả khi bằng cách nào đó họ giành chiến thắng ở Ukraine, Nga sẽ vẫn phải đối mặt với thảm họa kinh tế khi bị phân tách khỏi EU và khối G-7, ngoại trừ trường hợp có một nền hòa bình thực sự, điều mà giờ đây rất khó xảy ra. Nga có thể đã trở thành “bệnh nhân Âu-Á,” như Ottoman từng là “bệnh nhân châu Âu.”

Đối với Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế hàng năm của nước này đang chậm lại, đi từ hai con số xuống một con số, và có thể sẽ còn thấp hơn. Nguồn vốn đã rời khỏi nước này, khi các nhà đầu tư nước ngoài bán đi hàng tỷ đô la trái phiếu và cổ phiếu Trung Quốc. Cùng lúc đó, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt ngưỡng trưởng thành và đầu tư nước ngoài bắt đầu giảm dần, dân số già đi và lực lượng lao động bị thu hẹp. Tất cả những điều này sẽ không đảm bảo cho sự ổn định nội bộ trong tương lai. Kevin Rudd, chủ tịch Hội Châu Á (Asia Society) và cựu thủ tướng Australia, nói rằng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thông qua các chính sách nhà nước và cộng sản hà khắc, “đã dần dần bóp chết con ngỗng mà trong 35 năm qua vẫn đang đẻ trứng vàng.” Những thực tế kinh tế nghiêm trọng này, bằng cách làm suy giảm mức sống của dân thường Trung Quốc, có thể đe dọa hòa bình xã hội và sự ủng hộ ngầm đối với hệ thống cộng sản. Các chế độ chuyên chế, dù bên ngoài luôn toát ra vẻ yên bình, nhưng bên trong thường lại đang thối rữa.

Mỹ là một nền dân chủ, vì vậy các vấn đề của nước này cũng minh bạch hơn. Nhưng điều đó không nhất thiết sẽ làm chúng bớt nghiêm trọng. Khi thâm hụt ngân sách liên bang tăng lên đến mức không thể chịu nổi, quá trình toàn cầu hóa đã chia cắt người dân Mỹ thành hai nửa đối đầu: một nửa là những người bị cuốn vào các giá trị của một nền văn minh quốc tế-toàn cầu mới, và nửa còn lại là những người từ chối nó vì lợi ích của chủ nghĩa dân tộc có tính truyền thống và tôn giáo. Một nửa nước Mỹ đã tách mình khỏi yếu tố địa lý lục địa, trong khi nửa còn lại gắn chặt với nó. Các đại dương dần không còn là yếu tố ngăn cách Mỹ với phần còn lại của thế giới, điều mà trong hơn 200 năm qua đã góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng của nước này. Mỹ là một nền dân chủ đại chúng hoạt động tốt trong thời đại máy in và máy đánh chữ, nhưng ít thành công hơn trong kỷ nguyên kỹ thuật số, nơi mà những đổi mới đã thúc đẩy cơn thịnh nộ của chủ nghĩa dân túy dẫn đến sự trỗi dậy của Donald Trump.

Do những thay đổi này, một trật tự cường quốc toàn cầu mới có thể sẽ hình thành. Kịch bản thứ nhất: Nga sẽ sa sút nghiêm trọng vì cuộc chiến sai lầm của họ, Trung Quốc cảm thấy quá khó để đạt được sức mạnh kinh tế và công nghệ bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) ngày càng quay trở lại chủ nghĩa Lenin chính thống, còn Mỹ vượt qua tình trạng hỗn loạn trong nước, và cuối cùng trở thành một cường quốc đơn cực, như đã xảy ra ngay sau Chiến tranh Lạnh. Kịch bản thứ hai là một thế giới lưỡng cực thực sự, trong đó Trung Quốc duy trì động lực kinh tế của mình ngay cả khi nước này trở nên chuyên chế hơn. Kịch bản thứ ba là sự suy giảm dần dần của cả ba cường quốc, khiến hệ thống quốc tế rơi vào tình trạng vô chính phủ lớn hơn, với các cường quốc tầm trung, đặc biệt là ở Trung Đông và Nam Á, ít bị kiềm chế hơn so với hiện tại; còn các quốc gia châu Âu chẳng thể thống nhất được với nhau điều gì, vì không có sự lãnh đạo mạnh mẽ của Mỹ, ngay cả khi lục địa này đang bị đe dọa bởi một nước Nga hỗn loạn thời hậu Putin.

Kịch bản nào trở thành hiện thực sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của các cuộc đối đầu quân sự. Thế giới đang chứng kiến việc một cuộc chiến lớn trên bộ ở Đông Âu có thể ảnh hưởng như thế nào đến triển vọng và danh tiếng của Nga trong vai trò một cường quốc. Ukraine đã vạch trần bộ mặt thật của cỗ máy chiến tranh Nga – một thứ gì đó giống như đến từ các nước đang phát triển: vô kỷ luật, hay đào ngũ, hậu cần từ kém đến không có, với một lực lượng hạ sĩ quan cực kỳ yếu. Tương tự như cuộc chiến ở Ukraine, một xung đột hải quân, trên không gian mạng, hay một cuộc chiến tên lửa phức tạp ở Đài Loan, Biển Đông, hoặc Biển Hoa Đông, là chuyện dễ bắt đầu nhưng khó kết thúc. Và mục tiêu chiến lược của Mỹ sẽ là gì nếu những hành động thù địch quân sự như vậy thực sự xảy ra: chấm dứt sự cai trị của ĐCSTQ ở Trung Quốc? Nếu vậy, Washington sẽ phản ứng như thế nào trước sự hỗn loạn diễn ra sau đó? Người Mỹ thậm chí còn chưa bắt đầu suy nghĩ thấu đáo những câu hỏi này. Chiến tranh, như Washington đã học được ở Afghanistan và Iraq, là một chiếc hộp Pandora.

CHIẾN LƯỢC TỒN TẠI

Không có cường quốc nào tồn tại mãi mãi. Nhưng có lẽ ví dụ ấn tượng nhất cho sự bền bỉ là Đế chế Byzantine, tồn tại từ năm 330 đến khi Constantinople bị chinh phục trong cuộc Thập tự chinh Thứ tư năm 1204, sau đó phục hồi và tồn tại cho đến khi người Ottoman giành chiến thắng cuối cùng vào năm 1453. Bạn sẽ còn thấy ấn tượng gấp đôi khi xét việc so với đế chế La Mã ở phía Tây, Byzantine ở phía Đông là nơi có vị trí địa lý khó khăn hơn và có nhiều kẻ thù mạnh hơn, do đó cũng dễ bị tổn thương hơn. Nhà sử học Edward Luttwak đã lập luận rằng Byzantine “ít dựa vào sức mạnh quân sự, nhưng dựa nhiều hơn vào đủ loại hình thức thuyết phục – từ chiêu mộ đồng minh, đến can ngăn kẻ thù, và khiến kẻ thù tiềm năng tấn công lẫn nhau.” Hơn nữa, khi buộc phải chiến đấu, Luttwak lưu ý, “người Byzantine ít có xu hướng tiêu diệt kẻ thù, mà chỉ kiềm chế họ, vừa là để bảo toàn sức mạnh của mình, vừa vì hiểu rằng kẻ thù hôm nay có thể là đồng minh ngày mai.”

Nói cách khác, vấn đề không chỉ là tránh chiến tranh lớn bất cứ khi nào có thể, mà còn là vấn đề không quá tập trung vào ý thức hệ, để có thể coi kẻ thù của hôm nay là bạn của ngày mai, ngay cả khi họ có một hệ thống chính trị khác với hệ thống chính trị của nước mình. Điều đó không hề dễ dàng đối với Mỹ, vì họ tự coi mình là “cường quốc truyền giáo”, cam kết truyền bá dân chủ. Người Byzantine đã đưa vào hệ thống của họ một sự linh hoạt không mang tính đạo đức, bất chấp tính tôn giáo giả định của nó – một cách tiếp cận hiện thực đang ngày càng khó áp dụng ở Mỹ, một phần là do sức mạnh của giới truyền thông luôn cho rằng mình đạo đức hơn người. Các nhân vật có ảnh hưởng trên các phương tiện truyền thông Mỹ không ngừng kêu gọi Washington thúc đẩy và thậm chí ép buộc thực thi dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới, ngay cả khi việc đó gây tổn hại đến lợi ích địa chính trị của Mỹ. Ngoài các phương tiện truyền thông, còn có nhóm hoạch định chính sách đối ngoại. Như cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào Libya năm 2011 đã chứng minh một cách rõ ràng, những người này đã không thực sự học được bài học về sự sụp đổ của Iraq, và xa hơn, là bài học về những khó khăn ở Afghanistan. Tuy nhiên, phản ứng tương đối có kiểm soát của chính quyền Biden ở Ukraine – không cho triển khai quân đội Mỹ và khuyên Ukraine không mở rộng chiến tranh sang lãnh thổ Nga – có thể đánh dấu một bước ngoặt. Thật vậy, Mỹ càng ít tỏ ra “truyền giáo” trong cách tiếp cận của mình, thì càng có nhiều khả năng tránh được những cuộc chiến thảm khốc. Tất nhiên, Mỹ không cần phải đi xa như Trung Quốc chuyên chế, những người đã không lên tiếng rao giảng đạo đức cho các chính phủ và xã hội khác, nhưng luôn sẵn sàng bắt tay với mọi chế độ có các giá trị khác biệt với Bắc Kinh, nếu việc đó mang lại cho Trung Quốc lợi thế kinh tế và địa chính trị.

Một chính sách đối ngoại Mỹ kiềm chế hơn có thể là công thức cho sự tồn tại lâu dài của cường quốc Mỹ. “Cân bằng khơi xa” (offshore balancing) thoạt nhìn có thể là chiến lược chỉ đạo của Washington: “Thay vì kiểm soát thế giới, Mỹ sẽ khuyến khích các quốc gia khác đi đầu trong việc giám sát các cường quốc đang lên, và chỉ can thiệp khi cần thiết,” như hai nhà khoa học chính trị John Mearsheimer và Stephen Walt đã viết trên Foreign Affairs vào năm 2016. Tuy nhiên, vấn đề đối với cách tiếp cận đó là thế giới thường xuyên biến đổi và liên kết sâu rộng, khủng hoảng ở một nơi có thể lan sang các nơi khác, thế nên sự kiềm chế đơn giản là không thực tế. Cân bằng khơi xa có thể quá hạn chế và quá máy móc. Chủ nghĩa biệt lập đã phát huy tác dụng trong thời đại mà tàu thủy là cách duy nhất để băng qua Đại Tây Dương, và phải mất nhiều ngày để làm vậy. Tuy nhiên, ngày nay, một chính sách kiềm chế sẽ chỉ báo hiệu sự yếu kém và bất ổn.

Như định mệnh, Mỹ sẽ bị lôi kéo vào các cuộc khủng hoảng ở nước ngoài, một vài trong số đó sẽ có yếu tố quân sự. Đó là bản chất của thế giới ngày càng đông dân và đan xen vào nhau này. Một lần nữa, điều quan trọng là phải luôn suy nghĩ theo hướng bi quan: nghĩa là dự tính các tình huống xấu nhất cho mọi khủng hoảng, nhưng không cho phép bản thân bị gắn với tình trạng không hành động. Nó là một nghệ thuật và một bản năng, hơn là một khoa học. Nhưng nó chính là cách để cường quốc tồn tại.

Các đế chế có thể đột ngột sụp đổ, và khi điều đó xảy ra, hỗn loạn và bất ổn sẽ theo sau. Có lẽ đã quá muộn để Nga có thể tránh được số phận này. Trung Quốc có thể sẽ làm được điều đó, nhưng sẽ rất khó khăn. Mỹ vẫn là nước có vị thế tốt nhất trong ba cường quốc, nhưng càng chần chừ không áp dụng một cách tiếp cận thực tế và bi quan hơn, thì tình hình sẽ càng tồi tệ. Một đại chiến lược của những giới hạn (grand strategy of limits) là rất quan trọng. Hãy hy vọng nó sẽ được bắt đầu ngay bây giờ, với chính sách chiến tranh ở Ukraine của chính quyền Biden.

R.D.K.

Robert D. Kaplan hiện là Giám đốc về Địa chính trị tại Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại. Ông là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản “The Tragic Mind: Fear, Fate, and the Burden of Power.”

Nguồn bản dịch: nghiencuuquocte.org

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

30 tháng 10 2016

Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.

May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.

Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.

Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.

Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.

Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.

Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.

Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.

Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?

Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:

“Thưa Tổng thống,

Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.

Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.

Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.

‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.

Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.

Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và quy chế ‘Quốc tịch Việt’

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.

Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.

Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.

Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.

Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).

Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.

Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.

Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:

“Kính thưa Tổng Thống,

Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.

Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.

Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.

Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.

Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day”) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốn Khi Đồng minh Tháo chạy và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.

Người Mỹ – Người Việt

Kinh tế, khoa học, xã hội, văn minh của Mỹ và Việt cùng đi như tên lửa nhưng 2 chiều ngược nhau.

– Người Mỹ không thích người khác biết mình có tiền, người Việt thì tìm cách khoe của.
– Người Mỹ thả thú vào rừng, người Việt vào rừng bắt thú.
– Người Mỹ nói ít làm nhiều. Người Việt nói nhiều làm ít hoặc nói một đằng làm một nẻo.

– Người Mỹ khi ra nước ngoài thì tìm học cái hay. Người Việt thì tìm chỗ ăn chơi.
– Người Mỹ hôn nhau ngoài đường, đi tiểu trong toilet. Người Việt hôn nhau trong toilet, đi tiểu ngoài đường.
– Ở Mỹ, lễ tết sếp tặng quà cho nhân viên; ở Việt Nam, nhân viên tặng quà cho sếp.
– Người Mỹ ăn nhanh để đi làm, người Việt làm nhanh để đi ăn.
– Đàn ông Mỹ tan sở về nhà ngay; đàn ông Việt tan sở lê la quán nhậu.
– Người Mỹ yêu động vật, người Việt đấu trâu, đấu chó, chém lợn.
– Người Mỹ vừa dạo chơi vừa nhặt rác, người Việt vừa dạo chơi vừa xả rác ra đường.
– Người Mỹ đánh bắt hải sản thì thả mấy con nhỏ và con cái đang mang thai. Người Việt đánh bắt hải sản thì tóm toàn bộ không tha con nào hết.

– Người Mỹ va chạm nhau trên đường thì bắt tay xin lỗi, người Việt thì giơ nắm đấm ăn thua.
– Người Mỹ chủ nhật đem gia đình đi xa thành phố, người Việt thì đem cả nhà đến trung tâm thành phố.
– Mỹ nhà xa mặt đường thì đắt, Việt Nam nhà xa đường thì rẻ.
– Người Mỹ không uống rượu trước mặt trẻ em, người Việt uống rượu sai trẻ em đi mua thêm.
– Người Mỹ đến nhà hàng gọi ăn, uống vừa đủ. Người Việt sành điệu ăn uống phải bỏ lại nhiều (Người Mỹ bụng to hơn mắt, người Việt mắt to hơn bụng!)
– Yêu nhau người Mỹ hôn công khai, người Việt hôn trong bóng tối.
– Người Mỹ đến nhà thờ cầu nguyện cho yên bình, người Việt đến đền chùa để “hối lộ” và cướp phá..
– Người Mỹ đi du lịch thì mặc cốt sao thoải mái và khám phá văn hóa, người Việt đi du lịch thì mặc đẹp và chụp ảnh.
– Mỹ không thích hỏi tuổi, hỏi lương, người Việt là câu cửa miệng.
– Người Mỹ không bao giờ vứt rác sang nhà hàng xóm, người Việt không vứt được phải chịu.
– Người Mỹ không thích đàm đúm nói xấu cấp trên, người Việt như có gen di truyền.

– Người Mỹ sống thật không thích khoe mẽ, người Việt không khoe sợ người khác nghĩ mình nghèo…
– Người Mỹ mập ú mà sải bộ rất nhanh – người Việt nhỏ con mà chân bước chậm rề.
– Người Mỹ ra đường đàn ông tay xách nách mang, đàn ông Việt ra đường toàn ông kễnh.
– Ở Mỹ chặt một cây thì trồng 3 cây, ở Việt Nam chặt hàng trăm cây nhưng không trồng cây nào.
– Ở Mỹ lên xe là chạy, ở Việt Nam lên xe là bóp còi.
– Người Mỹ nuôi con theo ý họ, người Việt nuôi con theo chỉ đạo của mẹ chồng.
– Người Mỹ bàn xong thì làm, người Việt bàn xong thì bàn tiếp!
– Người Việt bị chỉ trích thì nhảy dựng lên. Người Mỹ bị chỉ trích thì tranh luận.
– Người Mỹ muốn đến nhà ai thì gọi điện trước, người Việt cứ đến nhà không thấy thì gọi điện hỏi.
– Người Mỹ luôn hỏi ý kiến con trước mọi vấn đề, Người Việt coi con trẻ là không biết gì, phải nghe theo mình.
– Ở Mỹ học nhiều tiến sĩ ít, Việt Nam học ít tiến sĩ nhiều (theo đầu người).
K. Minh (tổng hợp)

From: NguyenNThu

NGÀY THỨ BA trong tuần cửu nhật- Cha Vương

Chúc một cuối tuần an lành đừng quên đi ra nghĩa trang cầu nguyện cho Linh Hồn của những người thân thương nhé. Bạn thân mến, cuộc sống đôi khi mọi sự diễn ra tốt đẹp, bạn có xu hướng quên đi những người đang làm công việc rất mạo hiểm ở hậu trường để bảo vệ và giữ an ninh cho bạn. Họ phải lao mình vào những ngõ ngách nguy hiểm, thậm chí có những người phải bỏ mạng để bảo vệ tự do và an ninh cho bạn. Họ là các nhân viên cảnh sát, nam nữ quân nhân, lính cứu hỏa, nhân viên cứu hộ và cứu nạn khẩn cấp. Có rất nhiều người đã chết cho sứ mệnh phục vụ cho tha nhân. Hôm nay, bên cạnh cầu nguyện cho Linh Hồn của các người thân yêu của mình, mời bạn hiệp thông với mình cầu nguyện thêm cho linh hồn của các nhân viên cảnh sát, nam nữ quân nhân, lính cứu hỏa, nhân viên cứu hộ và cứu nạn khẩn cấp.  Xin Chúa ban cho họ được sống bên Chúa muôn đời sau bao nhiêu tháng ngày hy sinh tận lực phục vụ tha nhân. Đa tạ!

KÍNH MỜI: Tối nay Giáo Xứ mình (St. Clare of Assisi) có buổi cầu nguyện TAIZÉ với chủ đề Cầu Cho Các Linh Hồn. Chương trình sẽ bắt đầu vào lúc 7:00 giờ tối. Mời bạn và gia đình đến tham dự và mang theo một cây nến đựng trong ly thuỷ tinh. Bên ngoài xin viết tên của những linh hồn mà bạn muốn xin cầu nguyện.

Địa Chỉ Nhà Thờ St. Clare:

3131 El Dorado Blvd

Houston, TX 77059

Cha Vương kính mời

Thứ 6: 04/11/2022

NGÀY THỨ BA trong tuần cửu nhật:

HỠI CÁC LINH HỒN THÁNH THIỆN TRONG LUYỆN NGỤC, CÁC NGÀI CÓ NUỐI TIẾC ĐIỀU GÌ VỀ THẾ GIỚI MÀ CÁC NGÀI VỪA TỪ GIÃ KHÔNG?

“Tôi nuối tiếc những ân huệ mà tôi đã khinh chê… những ân huệ dồi dào trong mỗi phút của đời sống tôi: đạo Chúa, ơn thiên triệu, các bí tích, lời Chúa, những nguồn hứng khởi thánh thiện, những gương sáng, những ơn lành Chúa tha thứ mọi tội lỗi của tôi. Ôi, bao nhiêu ân huệ mà tôi đã từ chối, hay miễn cưỡng nhận lấy, hoặc vùi dập. Ôi, ước gì tôi được tự do để uống nguồn ân huệ từ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu mà nhiều kẻ tội lỗi và khờ khạo đã khinh chê.”

“Ôi, những người còn sống trên trái đất, hãy lắng nghe lời thánh Maria-Margarita từ thiên đàng rằng: “Không có ai trên thế giới mà không cảm nhận được ơn lành nếu họ biết cảm tạ tình yêu Chúa và tỏ lòng thờ phượng Trái Tim Cực Thánh Ngài.”

Chúa phán cùng thánh nữ Gertruđê rằng: “Hễ lần nào con cứu được một linh hồn ra khỏi lửa luyện ngục thì Cha vui mừng dường như con đã cứu lấy chính Cha cho khỏi lửa ấy vậy.”

BÓ HOA THIÊNG LIÊNG: “Ích lợi của một ân huệ nhỏ còn lớn hơn tất cả tài sản của toàn thế giới này” (Thánh Thomas Aquinas)

LỜI CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thiện, vì Máu Thánh Cực châu báu của Chúa Giêsu đã đổ ra khi Ngài chịu đội mão gai cách đau đớn, con nài xin Chúa hãy giải thoát các linh hồn, nhất là những linh hồn phải ra sau cùng khỏi nơi thống khổ này, để các ngài sớm ca ngợi Chúa trong vinh quang và hưởng ơn lành nơi Thiên đàng. Amen.”

Lạy Cha Hằng Hữu, con xin kính dâng Cha Máu Cực Thánh Chúa Giêsu để chuộc tội lỗi con và xin cho những nhu cầu của Giáo hội thánh thiện. (đọc 1 Kinh Lạy Cha, 1 kinh Kính Mừng, 1 Kinh Vực Sâu)

From: Đỗ Dzũng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một chút hiểu lầm

Một người thuộc giai cấp nào đó không có nghĩa rằng người đó đã có một khối tài sản nhất định. Điều đó càng đúng đối với chế độ cộng sản: sở hữu mang tính tập thể. Ở đây muốn trở thành chủ sở hữu hay đồng sở hữu thì cần phải len được vào hàng ngũ của bộ máy quan liêu chính trị. – Milovan Djilas – Giai Cấp Mới

Thời gian gần đây, gần như là hằng đêm tôi đều mơ thấy mình vẫn đang sống trong một khung cảnh nào đó – ở Việt Nam. Cứ như thể là tôi chưa bao giờ rời khỏi đất nước này, dù chỉ một ngày.

Khỏi cần phải đọc Freud hay Jung gì ráo trọi, tôi cũng biết được rằng tự tiềm thức của mình đang có một thôi thúc khác – khác với sự chọn của ý thức từ bấy lâu nay – tuy sâu kín nhưng mạnh mẽ, cái sức mạnh của một định luật tự nhiên: lá rụng về cội! Nhờ thế, tôi (chợt) hiểu tại sao hai ông Phạm Duy và Nguyễn Cao Kỳ nằng nặc phải trở lại cố hương bằng mọi giá – kể cả cái giá phải “hy sinh” luôn tính tự trọng (tối thiểu) và lòng liêm sỉ.

Thường dân cỡ tui thì đi mới khó, chớ về thì dễ ợt. Chả sợ điều tiếng chi, và cũng khỏi ngại chuyện mấy chú công an canh chừng hay thăm hỏi gì. Chỉ ngặt có chút xíu (xiu) là tôi không biết rồi sẽ làm sao để mưu sinh, ở quê nhà.

Già cũng phải sống chớ bộ, cũng phải có nơi ăn chốn ở, phương tiện đi lại, và chăm sóc y tế tối thiểu – khi cần. Mà tui thì suốt đời không có đồng xu dính túi (tiền vừa tới tay là tui đã sài liền, hoặc cho mẹ nó rồi) nghề nghiệp thực dụng để có thể kiếm việc ở V.N cũng không luôn, còn thân bằng quyến thuộc thì toàn là những người khốn khó và thuộc thành phần… phản động không hà!

Mà cố hương (than ơi!) cho dù ở góc bể chân trời, hay châu lục nào chăng nữa thì cũng đều chia chung một định luật bất thành văn: không đâu, và không ai, hân hoan đón chào những kẻ trở lại với … hai bàn tay trắng. Thôi thì đành bỏ xác quê người, chớ về làm chi/cho má nó khi.

Tôi đã có dự tính nhẩy cầu Golden Gate thì có  tin vui giữa giờ tuyệt vọng, từ một giới chức cao cấp ở Việt Nam – Bộ Trưởng Chủ Nhiệm Ủy Ban Dân Tộc Giàng Seo Phử. Ông vừa hân hoan cho biết: “Bán vé số ở Việt Nam có thu nhập cao.”

Bán tin, bán nghi, tôi liền vào net tìm hiểu thêm và biết được rằng hiện nay (ở Việt Nam) bán vé số được coi là một nghề nghiệp đàng hoàng tử tế, của một giới người riêng biệt, không những có “thu nhập cao” mà còn có nhiều chuyện may mắn bất ngờ và rất thú vị nữa kià – theo như tường thuật của phóng viên Hữu Danh, báo Dân Việt:

Dư luận Long An đang xôn xao với thông tin một người bán vé số nghèo đưa cho khách 10 tờ vé số trúng thưởng 6,6 tỷ đồng để nhận lại 200 ngàn đồng tiền xổ số, dù khách chỉ “mua thiếu qua điện thoại.

Khoảng 16 giờ ngày 15.11, còn hơn 20 vé bị ế nên chị gọi điện thoại cho mối quen là anh Đỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, ngụ khu phố 2, đường Bà Chánh Thâu, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức – hành nghề chạy xe ba gác – nài nỉ mua dùm. Anh Tuấn đồng ý mua 20 tờ, gồm ba số khác nhau. Gọi là “mua” nhưng chỉ là nói qua điện thoại, anh Tuấn cũng chưa trả tiền.

Chiều cùng ngày, lốc vé 10 tờ của công ty XSKT tỉnh Bến Tre mang dãy số đuôi X91207 trúng đặc biệt 4 tờ, trúng an ủi 6 tờ. Nhiều đồng nghiệp bán vé số bảo người mua chưa trả tiền, coi như chưa mua và nói chị Lành toàn quyền định đoạt “số phận” 10 tờ vé số với trúng thưởng với giá trị lên đến gần 7 tỷ đồng này.

Tuy nhiên, chị Lành gạt phăng và cho rằng anh Tuấn là một trong những khách hàng thường xuyên mua vé số ủng hộ chị. Rất nhiều lần anh mua qua điện thoại và dù không trúng lần nào nhưng anh vẫn trả tiền sòng phẳng. Do đó, không thể vì tiền mà chị đánh mất chữ tín.

Ngay lập tức, chị bấm điện thoại gọi anh Tuấn đến quán cà phê để bàn giao số trúng. Cảm kích trước lòng tốt của người bán vé số, anh Tuấn đã tặng 1 tờ trúng giải đặc biệt cho người bán vé số nghèo.

Theo tìm hiểu của Dân Việt, vợ chồng chị Lành trước đây sống cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị Thèm trong một căn nhà cũ nát rộng chỉ 27m2, dựng nhờ trên đất của một người thân ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.

Hai người anh trai của chị Lành, một người bị tâm thần, một chết sớm trong khi các chị dâu lại bỏ đi, để lại đến 6 đứa bé côi cút cho bà Thèm và chị Lành nuôi dưỡng. Do bà Thèm đau ốm liên miên lại không có đất sản xuất nên vợ chồng chị Lành đang tính tới phương án đưa đại gia đình lên Bến Lức hành nghề bán vé số.

Đoạn văn thượng dẫn có hai hạn từ mà tôi tự ý cho in đậm: “đồng nghiệp” và “phương án.” Chị Phạm Thị Lành là một con người cao cả, đã đành, và cái nghề bán vé số số hiện nay cũng đã tạo nên một giới người vô cùng cao qúi theo như ngôn ngữ đương đại của giới truyền thông hiện nay – ở Việt Nam – như vừa trích dẫn!

Họ “lập phương án” đi bán vé số đàng hoàng, chớ không phải bạ đâu làm đó đâu nha.  Họ cũng  gọi nhau là “đồng nghiệp” nữa đó (lịch sự hết biết luôn) nghe cứ y như cái cung cách xưng hô (qúi phái) của qúi vị bác sĩ hay luật sư ở giữa toà, hoặc ở giảng đường của trường đai học y khoa vậy.

Thiệt là quá đã, và … quá đáng!

Rõ ràng là cách mạng Việt Nam đã tạo ra thêm một … Giai Cấp Mới (nữa). Khác với giai cấp mới đỏ au – phát sinh cùng thời – những người bán vé số hôm nay dù hành nghề có “phương án” (cẩn thận) và vẫn thường gọi nhau là đồng nghiệp (tử tế) nhưng họ lại rất đen đủi, lam lũ và đông đảo hơn mức cần thiết rất nhiều.

Nếu đã có lúc dân Việt cứ bước ra ngõ là gặp anh hùng thì nay họ lại gặp những người chào mời vé số, theo như tường trình của thông tín viên RFA:

Chỉ riêng thành phố Sài Gòn, lượng người bán vé số đông lên cả vài ngàn người, họ đến từ thập phương, cũng có người xuất thân là công nhân nhà máy, xí nghiệp, vì tai nạn lao động hoặc vì mất sức lao động, bệnh tật, phải nghỉ việc và chuyển sang bán vé số kiếm cơm độ nhật. Ngồi quán cà phê vỉa hè 58 – Trần Quốc Thảo, quận 1, trong vòng nửa giờ đồng hồ, đã đếm được 16 người bán vé số đến mời, già có, trẻ có, bệnh tật có, nhưng xót xa nhất vẫn là những em bé tuổi chưa đầy 15, học hành dở dang hoặc vừa đi học vừa bán vé số kiếm tiền phụ giúp cha mẹ.

Ngành kinh doanh vé số được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận… Trung bình, mỗi tỉnh có từ 20 đến 30 đại lý, mỗi đại lý có từ 30 dến 40 người đi bán, mỗi ngày, một đại lý tiêu thụ trung bình 2000 tờ vé, như vậy, doanh thu trung bình mỗi ngày là 600 triệu đồng.

Với mức thu nhập bình quân mỗi ngày từ vài chục ngàn đồng cho đến một trăm ngàn đồng. Mức một trăm ngàn đồng là mức may mắn của người bán vé, hiếm khi họ kiếm được số tiền lãi này, vì để có nó, người bán phải bán được 100 tấm vé giá 10 ngàn đồng cho một ngày. Nhưng đây là con số rất khó đạt được, chỉ có những người bán vé cho ngày mai ngay trong buổi chiều hôm nay mới có cơ may kiếm được số lượng này.

Nghĩa là buổi sáng, họ thức dậy lúc 5h, ăn uống qua loa và lên đường, lang thang hết quán cà phê này sáng quán ăn nọ để chào mời vé số, 4 giờ chiều trả vé, lấy tiếp vé ngày mai đi bán cho đến 9 giờ tối. Đương nhiên, để kiếm được chén cơm, manh áo, họ phải chấp nhận sự khó chịu, thậm chí những lời thóa mạ của khách vì bị quấy rầy, mời mọc trong lúc đang ăn. Nhưng nếu nhìn kĩ, người bán vé số cũng không có cơ hội mời chào khác ngoài việc đi từ bàn ăn này đến bàn ăn khác hoặc từ bàn cà phê này đến bàn cà phê khác để mời.

Ngành kinh doanh vé số được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận, chi phí in ấn một tờ vé số không bao giờ vượt tới mức giá 500 đồng, chi phí trả cho người phát hành vé số, từ đại lý cấp 1 cho đến người bán là 1.300 đồng, trong đó, đại lý được hưởng 3% trên giá vé số, người bán được hưởng 10%. Như vậy, tổng số tiền lãi công ty nhận trên một tờ vé số sẽ là 8.200 đồng. Trung bình, mỗi tỉnh có từ 20 đến 30 đại lý, mỗi đại lý có từ 30 dến 40 người đi bán, mỗi ngày, một đại lý tiêu thụ trung bình 2000 tờ vé, như vậy, doanh thu trung bình mỗi ngày là 600 triệu đồng, khấu trừ 13%, con số còn lại vẫn ở mức 492 triệu đồng.

Riêng về khoản tiền thuế đóng cho ngân sách nhà nước, con số này không ổn định và cũng không minh bạch do sự co giãn giữa mối quan hệ ăn chia, thân bằng quyến thuộc trong bộ máy cầm quyền và chỉ số thuế qui định đã được phù phép cho nhỏ lại… Cũng chính vì lẽ này, phần đông nhân viên và ban bệ trong ngành xổ số kiến thiết đều là đảng viên Cộng sản và có người thân làm quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước.

Tôi e rằng mình, cùng nhiều người khác, đã hiểu lầm câu nói (“bán vé số ở Việt Nam có thu nhập cao”) của ông Giàng Seo Phử. Khi phát biểu như trên, ông Bộ Trưởng chỉ có ý muốn đề cập đến những đại lý bán vé số của những người có “mối quan hệ ăn chia, thân bằng quyến thuộc trong bộ máy cầm quyền” thôi. Họ cũng “đều là đảng viên Cộng sản và có người thân làm quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước” hết trơn hết trọi. Chớ đâu phải là cái thứ thường dân dấm dớ, cỡ tui, cha nội!

Thiệt là một sự hiểu lầm tai hại, chết người, chớ không phải giỡn. Mà đời về chiều, và đã đến nước này rồi thì tui cũng đành phải chết thôi. Thôi thì nhẩy mẹ nó xuống cầu Golden Gate, ở San Francisco, chết quách cho rồi. Chớ lặn lội về tới cố hương rồi đi chào mời vé số – từ  5 giờ sáng đến 9 giờ tối – chỉ để kiếm được vài ba Mỹ Kim thì chắc chỉ chừng hai ngày sau là tui sẽ nhẩy cầu Rồng, hay cầu Bình Lợi thôi hà.

https://www.diendantheky.net

Thật may mắn khi sống quá 65 tuổi

Cảm ơn ai đã tổng hợp số liệu thống kê này! Đọc để hiểu chúng ta may mắn như thế nào nếu đã lên tuổi 65 và có nhà, có đủ ăn và đủ mặc

Dân số hiện tại của Trái đất là khoảng 7,8 tỷ người. Tuy nhiên, ai đó đã cô đọng 7,8 tỷ trên thế giới thành 100 người, và sau đó thành các thống kê tỷ lệ phần trăm khác nhau. Kết quả phân tích tương đối dễ hiểu hơn nhiều.

* Trong số 100 người có: 11 ở Châu Âu, 5 ở Bắc Mỹ, 9 ở Nam Mỹ, 15 người ở Châu Phi và khủng khiếp khi có tới 60 người ở Châu Á.

* Trong số 100 người: 49 sống ở nông thôn và 51 sống ở các thị trấn / thành phố

* Trong số 100 người: 77 có nhà riêng và 23 không có nơi ở.

* Trong số 100 người: 21 người được nuôi dưỡng quá mức; 64 có thể ăn no; 15 người thiếu dinh dưỡng

* Trong số 100 người: Chi phí sinh hoạt hàng ngày cho 48 người là dưới US $ 2.

* Trong số 100 người: 87 có nước uống sạch, 13 hoặc thiếu nước uống sạch hoặc tiếp cận với nguồn nước bị ô nhiễm.

* Trong số 100 người: 75 có điện thoại di động và 25 không có.

* Trong số 100 người: 30 người có quyền truy cập internet, 70 không có điều kiện lên mạng.

* Trong số 100 người: 7 nhận được giáo dục đại học và 93 đã không được học đến bậc đại học.

* Trong số 100 người: 83 người có thể đọc còn lại 17 người mù chữ.

* Trong số 100 người: 33 người theo đạo thiên chúa, 22 người theo đạo Hồi, 14 người theo đạo Hindu, 7 là Phật tử, 12 là các tôn giáo khác và 12 người không có tín ngưỡng tôn giáo. Như vậy Phật tử chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ và tỷ lệ này ngày càng giảm.

* Trong số 100 người: 26 sống dưới 14 năm, 66 người chết từ 15 đến 64 tuổi, 8 người trên 65 tuổi. Bạn thật may mắn khi đã sống trên 65 tuổi.

Kết luận:

Nếu bạn có nhà riêng của mình,

Ăn đầy đủ các bữa và uống nước sạch,

Có điện thoại di động,

Có thể lướt internet và đã đi học đại học,

Bạn đang ở trong một lô đặc quyền nhỏ (trong danh mục chỉ dưới 7% nhân loại được hưởng.

Trong số 100 người trên thế giới, chỉ 8 người có thể sống hoặc vượt quá 65 tuổi. Nếu bạn trên 65 tuổi. Hãy bằng lòng và biết ơn. Bạn đã là người có phúc giữa nhân loại.

Hãy chăm sóc sức khỏe của chính mình thật tốt vì không ai quan tâm tới bạn hơn chính bạn!

(bài do ban Bá Trần giới thiệu)

TT Biden cảnh báo mối đe dọa từ cử tri từ chối kết quả bầu cử, đổ lỗi cho ông Trump

VOA Tiếng Việt 

Tổng thống Joe Biden hôm thứ Tư (2/11) nói rằng lời đe dọa của một số ứng viên Đảng Cộng hòa về việc từ chối chấp nhận kết quả cuộc bầu cử ngày 8/11 nếu họ thua cuộc là một mối đe dọa đối với nền dân chủ và ông đã đổ lỗi cho cựu Tổng thống Donald Trump vì đã truyền cảm hứng cho họ.

“Chớ sai lầm, nền dân chủ nằm trong lá phiếu dành cho tất cả chúng ta”, ông Biden nói trong một bài phát biểu chỉ vài ngày trước khi người dân Mỹ quyết định liệu đảng Dân chủ có được tiếp tục kiểm soát cả Thượng viện lẫn Hạ viện Hoa Kỳ hay phải giao quyền lực cho đảng Cộng hòa.

Phát biểu tại Nhà ga Union ở Washington, không mấy xa Điện Capitol, ông Biden đã dùng vụ tấn công bằng búa nhằm vào ông Paul Pelosi, chồng của Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi, tại nhà của họ ở San Francisco như là một bằng chứng cho thấy nền dân chủ đang bị đe dọa, chưa đầy hai năm sau khi xảy ra cuộc tấn công vào Điện Capitol của Hoa Kỳ vào ngày 6/1/2021.

“Kẻ tấn công vào nhà hỏi, ‘Nancy đâu? Nancy đâu?’”, đó cũng chính là những từ được đám đông sử dụng khi họ xông vào Điện Capitol của Hoa Kỳ vào ngày 6/1”, ông Biden nói.

Ông kêu gọi các cử tri “hãy suy nghĩ thật lâu và thật kỹ về thời điểm chúng ta đang ở”.

“Khi tôi đứng đây hôm nay, có những ứng cử viên tranh cử ở mọi cấp độ chức vụ của Mỹ – thống đốc, quốc hội, tổng chưởng lý, tổng thư ký – những người sẽ không cam kết chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử mà họ tham gia”, ông nói.

Ông Biden nói những người từ chối kết quả bầu cử đã được truyền cảm hứng từ ông Trump, người đang cân nhắc tranh cử tổng thống vào năm 2024 cũng như ông Biden đang cân nhắc để quyết định xem ông có muốn tranh cử một nhiệm kỳ bốn năm nữa hay không.

Ông Biden nói “nền dân chủ Mỹ đang bị tấn công” bởi vì ông Trump không chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử năm 2020 mà ông đã thua ông Biden.

“Ông ấy không chấp nhận ý muốn của mọi người, ông ấy từ chối chấp nhận rằng mình đã thua”, ông Biden nói.

Ngoài ra, cựu Tổng thống Barack Obama cũng nêu lên những lo ngại về tình trạng dân chủ.

Phát biểu tại một cuộc mít tinh của đảng Dân chủ dành cho các ứng cử viên tiểu bang ở Arizona vào cuối ngày thứ Tư, ông Obama đã nhìn lại các phong trào trong quá khứ để đảm bảo rằng phụ nữ, người Mỹ gốc Phi và những người khác bị gạt ra ngoài lề xã hội có thể tham gia vào một nền dân chủ mà ông cho rằng hiện đang gặp rủi ro.

Ông Biden, người cùng với ông Obama đang tham gia vào một cuộc vận động quyết liệt cho đảng Dân chủ trong những ngày cuối trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào thứ Ba tới, đang đối mặt với khả năng đảng Cộng hòa sẽ giành quyền kiểm soát Quốc hội, và điều này sẽ cản trở chương trình nghị sự của ông.

Hầu hết các dự báo giữa nhiệm kỳ đều dự đoán đảng Cộng hòa gần như chắc chắn nắm quyền kiểm soát Hạ viện, trong khi Thượng viện thì chưa rõ.

Mặc dù gian lận cử tri là cực kỳ hiếm ở Mỹ, nhưng một số lượng lớn người Mỹ cũng bày tỏ lo ngại về điều này. Một cuộc thăm dò của Reuters / Ipsos kết thúc vào thứ Hai cho thấy 49% người Mỹ nghĩ rằng gian lận cử tri là một vấn đề phổ biến, với 34% đảng viên Dân chủ và 69% đảng viên Cộng hòa giữ quan điểm đó.

Khoảng 44% cho biết họ lo ngại rằng cuộc bầu cử ở Mỹ bị gian lận, bao gồm 28% đảng viên Đảng Dân chủ và 62% đảng viên Cộng hòa.

Bất chấp những quan ngại trên, 67% số người được hỏi cho biết họ tin rằng lá phiếu của chính họ sẽ được đếm chính xác, trong đó bao gồm đa số đảng viên Dân chủ và Cộng hòa.

VOATIENGVIET.COM

TT Biden cảnh báo mối đe dọa từ cử tri từ chối kết quả bầu cử, đổ lỗi cho ông Trump

Tiết lộ mới: Lý do người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào bị Tập Cận Bình buộc rời khỏi đại hội Đảng

Bởi  AdminTD

Business Insider Deutschland

Tác giả: Viktoria Bräuner

Vũ Ngọc Chi chuyển ngữ

30-10-2022

Náo động tại Đại hội Đảng: Tập Cận Bình, lãnh đạo Đảng của Trung Quốc đã loại người tiền nhiệm khỏi Đại sảnh đường trước báo chí thế giới. Nguồn: © picture alliance/ Kyodo

Náo động tại Đại hội Đảng: Lãnh đạo Đảng của Trung Quốc Tập Cận Bình đã loại người tiền nhiệm khỏi Đại sảnh đường trước báo chí thế giới. 

Cứ 5 năm một lần, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lại thu hút sự chú ý của báo chí thế giới: Nó quyết định ai sẽ nắm quyền điều hành nước Cộng hòa Nhân dân trong tương lai – và ai sẽ không. Mỗi phút đều được hoạch định tỉ mỉ tại hội nghị có hơn 2000 đại biểu.

Tuy nhiên, vào thứ Bảy [ngày 22-10-2022], lại xảy ra một cảnh tượng cực kỳ bất thường: Lãnh đạo đảng Tập Cận Bình đã cho người đưa người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào ra khỏi hội trường. Báo chí chỉ vừa mới được đưa vào Đại sảnh đường Nhân dân khi hai quan chức đảng xách nách ông Hồ, có vẻ không hài lòng, chống lại ý muốn của ông ta. Báo chí nhà nước đưa tin, cụ ông 80 tuổi có vấn đề về sức khỏe. Bây giờ có manh mối về những gì thực sự đã xảy ra.

Một đoạn video cho thấy, những phút trước khi xảy ra sự việc: Hồ đang ngồi bên cạnh Tập Cận Bình, và có một tập tài liệu màu đỏ trước mặt tất cả các đại biểu. Hồ cố gắng mở nó nhiều lần, có vẻ khó chịu, để đọc các tài liệu trong đó, tuy nhiên những người ngồi kế bên ông cố gắng ngăn ông làm điều đó. Kính đọc sách của Hồ nằm bên cạnh ở trên bàn, nhưng ông ấy thậm chí còn không kịp đeo vào. Một thời gian ngắn sau, hai cán bộ dẫn cựu Chủ tịch ra khỏi hội trường, một trong số họ cầm kính của ông Hồ và tập tài liệu gây tranh cãi. Hồ nói điều gì đó với Tập Cận Bình, ông ta gật đầu, trả lời ngắn gọn và quay đi.

Kể từ đó, các chuyên gia trong ngành phỏng đoán về sự việc này: Nội dung của các tài liệu là gì? Hồ không nên đọc cái gì? Bây giờ có thông tin mới về việc này.

Hồ Cẩm Đào không nên đọc những gì?

Nếu bạn phóng to ảnh của tập tài liệu, điều này sẽ giúp bạn biết nhiều hơn về nội dung, như nhà báo và chuyên gia về Trung Quốc Ling Li viết trên Twitter. Bản dịch, tiêu đề viết: “Lần thứ hai mươi của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XX và Ủy ban Kỷ luật Trung ương”; sau đó có tên theo sau.

Rõ ràng đây là danh sách những cán bộ được ông Tập Cận Bình đề bạt lên ủy ban nào đó. Và đây là điều quan trọng: Tên con trai của Hồ Cẩm Đào, Hồ Hải Phong, không có trong đó. Mặc dù có cha đầy thế lực, ông đã không lọt vào Ủy ban Trung ương, cũng như bất kỳ đồng minh nào khác của ông trong Chính phủ. Nói một cách dễ hiểu, Tập Cận Bình đã tước quyền lực gia đình họ Hồ và phe ủng hộ doanh nghiệp của đảng mà họ thuộc về – và Hồ Cẩm Đào dường như không được thông báo.

Rõ ràng, ban lãnh đạo Đảng sợ rằng ông Hồ sẽ công khai chỉ trích các cuộc bổ nhiệm mới và sự bành trướng quyền lực của ông Tập.

Ai đã đưa Hồ Cẩm Đào ra khỏi hội trường?

Việc ai dẫn Hồ Cẩm Đào ra khỏi hội trường cũng là vấn đề chính – không phải bởi những người quản lý hội trường, mà bởi các quan chức cấp cao của đảng. Một người, theo bảng tên, là Kong Shaoxun, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng CSTQ. Sếp của ông ta là Ding Xuexiang, người đã được đưa vào Bộ Chính trị, tức là nhóm thân cận của Tập Cận Bình.

Không biết ai đã quyết định rằng Hồ Cẩm Đào phải đi ra. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến ​​cho rằng Tập Cận Bình đã tự mình ra lệnh. Thiếu đoạn video về thời điểm qua đó cho thấy ai quyết định: Việc ông Hồ không được phép tiếp tục tham dự cuộc họp. Theo thông tin chính thức, người quay phim được cho là đã thay đổi vị trí của mình. Nhiều khả năng là ông Tập đã tự ra lệnh và đoạn đó đã bị kiểm duyệt.

Nước bước công khai làm mất mặt người tiền nhiệm và cũng là một cán bộ Đảng được kính nể thực ra chỉ có thể do ông ta quyết định. Không ai ở cấp bậc thấp hơn có thể cho phép mình làm một việc thiếu tôn trọng Hồ Cẩm Đào như vậy. Điều này cũng nói lên việc đó: Sau đó Kong quay trở lại, thì thầm điều gì đó vào tai Tập, người dường như ban ra thêm chỉ thị.

Nếu ông ta thực sự có vấn đề về sức khỏe, các cán bộ khác sẽ chạy đến giúp đỡ ông Hồ. Thay vào đó, họ ngồi đó với vẻ mặt lạnh như tiền, gần như sợ hãi và nhìn chằm chằm vào không gian trống rỗng. Một cảnh khác cho thấy, một người tham dự cố gắng giúp ông Hồ đứng lên, nhưng bị người ngồi kế bên cùng bàn kéo đuôi áo khoác và giữ lại.

Còn tiền mua xăng không?

Bởi  AdminTD

Đỗ Ngà

3-11-2022

Chuỗi cung ứng xăng dầu Việt Nam hiện nay là: Nhập khẩu dầu thô – lọc dầu – cung cấp đầu mối – bán lẻ; hoặc nhập khẩu xăng dầu – bán lẻ. Nếu bị nghẽn tại bất kỳ một mắt xích nào trong chuỗi cung ứng thì đầu ra đều bị bóp. Vấn đề hiện nay là xác định mắt xích nào đang chèn mất lối đi của xăng dầu đến với người tiêu dùng?

Nếu nghẽn đầu ra thì không sao, bởi xăng dầu còn đó nhưng chưa được bán cho dân mà thôi. Nếu nghẽn đầu vào thì đấy thực sự là đáng báo động, bởi nghẽn đầu vào thì không còn xăng dầu để bán, chứ không phải còn xăng nhưng bán không được.

Ở lần thiếu xăng dầu từ nửa tháng trước, báo chí nói rằng, bởi vì chiết khấu quá thấp nên nhiều cửa hàng bán lẻ không nhập vì kinh doanh không có lãi. Nếu đây là nguyên nhân duy nhất thì giải quyết khá đơn giản, chỉ cần tăng chiết khấu thì các doanh nghiệp bán lẻ sẽ phải mở cửa hoạt động. Tuy nhiên, sau khi vấn đề được giải quyết thì giờ đây tình trạng khan hiếm lại tái diễn thì có thể nói tình trạng thiếu xăng dầu không phải nghẽn đầu ra mà là nghẽn đầu vào. Nghĩa là, hiện nay khả năng là không còn xăng dầu để bán.

Ở bài trước tôi đã nói, vấn đề thiếu xăng dầu hiện nay là do nhà máy lọc dầu Nghi Sơn giảm công suất, trong khi đó lượng xăng dầu nhập khẩu không đủ bù vào. Đó là thực tế khá rõ ràng, bởi vì các ông lớn nhập khẩu xăng dầu Việt Nam như Petrolimex, Pvoil đã giảm nhập vào khu vực TP HCM để dồn cho Miền Bắc. Tuy nhiên, đến nay hiện tượng thiếu xăng dầu tại Miền Bắc đang diễn ra, tức là hiện tượng thiếu xăng dầu đang có nguy cơ lan rộng ra cả nước.

Câu hỏi đặt ra là, vì sao từ tháng Ba, Bộ Công thương đã chuẩn bị nhập bù do nhà máy lọc dầu Nghi Sơn gây ra mà đến nay vẫn chưa thể bù được? Tại thế giới khan hiếm xăng dầu hay các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu thiếu ngoại tệ? Vấn đề ở đâu?

Nguyên nhân thế giới khan hiếm xăng dầu bị loại bỏ, bởi tại Đông Nam Á, ngoại trừ Lào thiếu ngoại tệ nhập khẩu nên mới khan hiếm, còn bất kỳ nước nào cũng không xảy ra như Việt Nam. Như vậy thì chỉ có thể là các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu thiếu ngoại tệ.

Đã từ nhiều tháng qua, doanh nghiệp phải sống dở chết dở vì công cụ hạn mức tăng trưởng tín dụng (tức room tín dụng) mà Ngân hàng Nhà nước đang áp dụng. Khi các ngân hàng thương mại hết room thì họ không thể cho vay thêm, cho nên các doanh nghiệp đói vốn. Giữa tháng Mười, Chính quyền TP.HCM kiến nghị nới room tín dụng cho các doanh nghiệp xăng dầu để có thể tăng nhập, đảm bảo nguồn cung, nhưng chưa được. Ngân hàng Nhà nước sẽ nới room tín dụng trong hai tháng cuối năm, nhưng chỉ nới nhẹ. Khi Ngân hàng Nhà nước siết hạn mức tăng trưởng tín dụng với ngân hàng thương mại thì ngân hàng thương mại cũng siết khách hàng của họ.

Vào đầu tháng Mười Một, room tín dụng mở “hé” thì tiền có thể rót về doanh nghiệp nhưng không nhiều. Họ được vay ít, tuy nhiên họ lại vay với lãi suất cao vì mới đây Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất điều hành nên các ngân hàng thương mại cũng phải chạy đua lãi suất theo. Các doanh nghiệp đã vay ít lại chịu lãi suất cao, điều đó có nghĩa là họ bị lãi suất gặm lấy lợi nhuận. Chưa hết, khi có tiền nội tệ, các doanh nghiệp phải mua ngoại tệ với giá cao nên lượng ngoại tệ họ mua cũng ít lại, nghĩa là ngoại tệ cũng gặm thêm phần lợi nhuận của họ trong khi đó phần lợi nhuận của họ bị nhà nước định mức.

Tiền vay bị bóp do room tín dụng, lợi nhuận bị khống chế do định chế phi thị trường của nhà nước. Trong khi đó công cụ lãi suất và tỷ giá hối đoái gặm sâu vào lợi nhuận. Vì thế nhiều doanh nghiệp hoặc chọn “buông súng đầu hàng” hoặc hạn chế nhập khẩu vì không đủ tiền. Đó là lý do gây ra hiện tượng nhập khẩu không đủ bù cho phần thiếu hụt do nhà máy lọc dầu Nghi Sơn giảm công suất.

Việc Ngân hàng Nhà nước có cạn đô hay không thì không biết (vì họ thông báo còn gần 90 tỷ đô lận), tuy nhiên, công cụ điều tiết nền kinh tế thô bạo (chỉ có Việt Nam và Trung Quốc dùng room tín dụng) và cách vận hành chuỗi cung ứng xăng dầu một cách phi thị trường, đã dẫn tới thiếu tiền nhập xăng dầu. Và hậu quả thì người dân và cả nền kinh tế phải gánh chịu.

______

Tham khảo: https://baodautu.vn/noi-nhe-room-tin-dung-de-tao-da-phuc-hoi-kinh-te-d175935.html