“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

Có một lần, một người bạn Mỹ dạy học chung với tôi bảo với tôi rằng: “Người Việt Nam bọn mày lúc nào cũng bảo người Mỹ bọn tao sống thực dụng. Bọn tao không sống thực dụng mà sống thực tế. Tao ở Việt Nam hơn chục năm nay thấy người Việt Nam mới sống thực dụng“.

Hơi nóng mặt, tôi hỏi lại: “Thế mày định nghĩa thế nào là thực tế, thế nào là thực dụng?”

Bạn tôi bảo:

“Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại.

Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.

Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào”.

Đã từng sống ở Mỹ một thời gian dài, tôi biết bạn tôi nói đúng.

Ở Mỹ, học sinh học vừa sức, không nhồi nhét, không quan tâm đến thành tích và cũng không có khái niệm trường chuyên lớp chọn. Bằng cấp đối với họ chỉ là một tờ giấy chứng nhận rằng họ đã đạt yêu cầu về mặt kiến thức lẫn chuyên môn ở một trình độ nhất định, không có gì ghê gớm cả. Cái họ quan tâm là trên thực tế, năng lực và kiến thức của anh có tương xứng với bằng cấp và vị trí của anh trong xã hội hay không. Ở Việt Nam thì bằng cấp và thành tích là thước đo quyết định địa vị cũng như thu nhập. Cha mẹ ép con cái học cố sống cố chết để vào trường chuyên lớp chọn rồi vào đại học. Học xong đại học thì phải cố bơi cho được cái thạc sĩ. Tất cả không phải vì kiến thức mà chỉ vì chỗ đứng trong xã hội. Kết quả là học được gì không quan trọng, có sử dụng được không cũng không quan trọng, thậm chí bằng giả cũng chả sao. Cái quan trọng nhất là kiếm sao cho được nhiều tiền.

Ở Mỹ, mỗi lần một công trình được thi công, người ta phải tính toán sao cho thiên nhiên ở đó bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất, hệ cân bằng sinh thái ít bị tổn hại nhất, môi trường sống của người và động thực vật không bị phá hoại, vì họ hiểu được một vấn đề thực tế rằng tài nguyên thiên nhiên là những di sản vô giá bắt buộc phải bảo tồn cho thế hệ sau.

Còn ở Việt Nam, miễn là kiếm được ít tiền bỏ túi, người ta sẵn sàng xả độc ra biển, hút cát dưới sông, phá rừng xây thuỷ điện, thậm chí san bằng cả một khu bảo tồn sinh thái độc đáo để xây resort, gắn cáp treo bất chấp hậu quả về sau.

Ở Mỹ, người dân quan tâm đến bầu cử, đến chính trị vì họ biết họ có quyền công dân cũng như mọi quyết định chính trị của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ.

Ở Việt Nam, người dân chỉ lo kiếm tiền vun đắp cho bản thân được ngày nào hay ngày nấy. Họ thờ ơ dửng dưng với những bất công tiêu cực của xã hội miễn sao những điều đó không xảy ra với họ là được. Tham nhũng tràn lan, nợ công tăng vọt, doanh nghiệp quốc doanh thất thoát nghìn tỉ… đối với họ đều không phải là vấn đề đáng bận tâm nếu ngày mai vẫn còn bia để dô dô.

Ở Mỹ người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự cường thịnh của quốc gia. Họ không làm những điều có lợi cho bản thân nhưng đi ngược lợi ích cộng đồng.

Ở Việt Nam, người ta thể hiện lòng yêu nước bằng cách ngồi tự hào khoe khoang bề dày lịch sử dân tộc với những chiến công của tổ tiên, hoặc lên cơn mê sảng vì một giải bóng đá khu vực hoặc lên mạng không tiếc lời thoá mạ một thằng Tây nào đó dám cả gan nói xấu Việt Nam. Còn lại họ thản nhiên dùng đủ mánh khoé xấu xa để giết đồng bào mình và trục lợi từ việc đó, từ việc rải đinh ra đường cho tới việc bơm hoá chất độc hại vào thực phẩm.

Ở Mỹ, người dân cân bằng cuộc sống bằng niềm tin tôn giáo. Họ đến nhà thờ để tìm sự yên bình trong tâm trí và sinh hoạt cộng đồng giúp đỡ những người cùng đức tin.

Ở Việt Nam, người ta đi lễ chùa, đền, miếu cầu tiền bạc, cầu trúng số, cầu thi đậu, cầu chức quyền… như thể thánh thần sẽ vì những thứ hương hoa xôi thịt rẻ tiền mà thoả mãn lòng tham không đáy của đám người trần mắt thịt.

Ở Mỹ, những dịp cưới hỏi hay ma chay, giỗ chạp là những sự kiện riêng tư. Họ tổ chức đơn giản, trang trọng và chỉ mời những người thực sự có ý nghĩa với họ.

Ở Việt Nam, ma chay hiếu hỉ cưới xin là những dịp tốt để làm rùm beng tốn kém vừa để chứng tỏ với thiên hạ vừa để kiếm tiền mừng.

Ở Mỹ, người ta dạy trẻ con cách tự lập, cách ứng xử giao tiếp, cách bảo vệ bản thân không bị xâm phạm, cách thoát hiểm… những kĩ năng thực tế con người cần để tồn tại và phát triển trong xã hội.

Ở Việt Nam, người ta nhồi vào đầu bọn trẻ một mớ kiến thức cao siêu nhưng vô dụng với đích đến là những bằng cấp.

Ở Mỹ, người ta đánh giá trí thông minh và năng lực của con người qua sự sáng tạo, phát minh và đóng góp cho xã hội. Anh là ai không quan trọng, miễn sao anh có đóng góp cho xã hội thì anh sẽ được sự công nhận và tưởng thưởng xứng đáng.

Ở Việt Nam, năng lực của con người được đánh giá qua, gốc gác, sự khôn lỏi ma lanh và khả năng dùng thủ đoạn để thăng tiến. Đóng góp cống hiến là chuyện hết sức xa vời.

Lối sống thực tế và lối sống thực dụng không hề giống nhau mặc dù chúng dễ gây ra nhầm lẫn. Lối sống thực tế mang đến những sự phồn vinh vững mạnh và lâu dài vì nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của những giá trị thực.

Ngược lại lối sống thực dụng triệt tiêu và đảo lộn những giá trị thực tiễn để tạo ra cái lợi nhỏ trước mắt, để lại những tác hại khôn lường. Chọn lối sống thực dụng, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho lựa chọn thiếu sáng suốt này.

Viên Huynh

MỘT CÕI ĐI VỀ – Trịnh Công Sơn – KHÁNH LY

httpv://www.youtube.com/watch?v=uNGsrbcfJb8

MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) – KHÁNH LY OFFICIAL

Lời bài hát:

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt

Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Lời nào của cây lời nào cỏ lạ

Một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ ngày qua

Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ

Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa

Mây che trên đầu và nắng trên vai

Đôi chân ta đi sông còn ở lại

Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi

Lại thấy trong ta hiện bóng con người

Nghe mưa nơi nầy lại nhớ mưa xa

Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ

Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ

Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà

Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy

Một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày xưa

Từng lời tà dương là lời mộ địa

Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe

Trong khi ta về lại nhớ ta đi

Đi lên non cao đi về biển rộng

Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng

Ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì…

NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH TỪNG ĐÓNG CẶP VỚI ELVIS PRESLEY TRỞ THÀNH NỮ TU DÒNG KÍN

NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH TỪNG ĐÓNG CẶP VỚI ELVIS PRESLEY TRỞ THÀNH NỮ TU DÒNG KÍN

Dolores Hart đã chọn sống một cuộc sống ẩn dật trong tu viện Benedictine sau một cuộc sống dưới ánh đèn sân khấu của Hollywood.

Sinh năm 1938 tại Chicago, bà từng đóng vai chính trong các bộ phim với các ngôi sao lớn của Mỹ như Marlon Brando và Elvis Presley, và làm việc cho các nhà sản xuất nổi tiếng, trong đó có Alfred Hitchcock.

Chính trong một buổi quay phim, cô đã có cơ hội nói chuyện với Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, một cuộc gặp gỡ khiến cô khao khát bước vào đời sống tu trì.

Hart lớn lên trong một gia đình Công giáo. Đời sống cầu nguyện của cô không bao giờ suy giảm mặc dù cô có nhiều hoạt động ở Hollywood: trước khi quay phim, cô thường đi lễ 6 giờ sáng.

Trong thời gian này, cô cũng tìm thấy một nơi thanh thản để cầu nguyện giữa các buổi chụp hình và bầu khí thánh thiêng sau ánh đèn sân khấu đó là đến viếng thăm tu viện của các nữ tu Benedictine ở Connecticut.

Nữ diễn viên ngôi sao cho rằng thành công của cô là do ơn Chúa ban. Là bạn diễn của Elvis Presley trong các bộ phim Loving You và King Creole , cô cũng xuất hiện cùng với Marlon Brando và những diễn viên nổi tiếng khác. Cô đã tham gia không dưới 10 bộ phim trong vòng 5 năm.

Thánh Nữ Clare ở Assisi, một vai trò quan trọng

Năm 1961, trong quá trình quay bộ phim Francis thành Assisi , Hart đã gặp Đức Giáo hoàng John XXIII. Khi cô giới thiệu mình là nữ diễn viên đóng vai Thánh Nữ Clare thành Assisi, Đức giáo hoàng trả lời: “Không, con sẽ là một Clare khác.” Buổi giao lưu này ghi dấu ấn sâu đậm khi nữ diễn viên coi đây là dấu hiệu để thay đổi cuộc đời và đến gần hơn với lý tưởng đời tu của mình. Nhưng rồi cô đã trở lại cuộc sống của mình như một ngôi sao điện ảnh.

Vào thời điểm đó, Hart đang dự định tiến đến hôn nhân. Nhưng hai năm sau, vào năm 1963, cô đột ngột cắt đứt hôn ước vài tháng trước ngày cưới. Cùng năm đó, ở tuổi 24 và trước sự ngạc nhiên của mọi người, cô vào tu viện Benedictine ở Connecticut, nơi cô đã từng đến thăm rất nhiều lần trước đó.

Sau 43 năm sống tu trì, vào tháng 2 năm 2012, Sơ Dolores (nay là Mẹ Bề trên của Tu viện Regina Laudis) trở lại Los Angeles để dự lễ trao giải Oscar cho bộ phim God Is the Bigger Elvis , một bộ phim tài liệu về cuộc đời của bà được đề cử trong giải thể loại phim ngắn.

Rõ ràng, Dolores Hart vẫn còn ảnh hưởng trong thế giới điện ảnh, nhưng trong suốt quãng đời còn lại, điều quan trọng hơn là Sơ làm chứng cho niềm tin của mình và truyền cảm hứng cho những ai tìm kiếm vẻ đẹp đích thực.

Vũ Hoàng

Hành trình 45 năm đi tìm Đức Tin

Hành trình 45 năm đi tìm Đức Tin

 Trần Anh

TGPSG — “Lạy Chúa, này con đây!”
Cuối cùng, tôi đã tìm thấy linh hồn mình đang phủ phục trước nhan Thiên Chúa mà thổn thức…

THỜI THƠ ẤU, MÔI TRƯỜNG VÀ NỀN GIÁO DỤC

Tôi sinh năm 1972 tại thành phố Hải Phòng – một thành phố chưa bao giờ hết sôi sục trong mọi tính cách của con người và ngóc ngách của cuộc sống.

Trong những năm tháng khó khăn của miền Bắc, tôi lớn lên trong tình yêu và sự chăm sóc nghiêm khắc vô bờ bến của cha mẹ, cùng với nền giáo dục vô thần tuyệt đối, chỉ có biện chứng duy vật và các giá trị đạo đức phổ quát là hệ quy chiếu cho mọi bước đi của tôi. Gia đình tôi không có ban thờ, chỉ có ngày giỗ lễ là tôi được về nhà ông bà nội ngoại, nơi có ban thờ tổ tiên, theo truyền thống.

Bên cạnh đó, gia đình tôi có một tủ sách từ thời Pháp để lại với các tác phẩm vĩ đại nhất của văn học nhân loại. Vì ở nhà chẳng có trò gì chơi nên ngoài những giờ trốn ra ngoài lêu lổng với đám trẻ con cùng xóm thì – dù chỉ mới học cấp 1, cấp 2 – tôi đã ngốn những cuốn sách dày cộm của Jean Jacques Rousseau, Romain Roland, Lev Tolstoi, Victor Hugo… Mặc dù trí não non nớt lúc đó chẳng hiểu gì, nhưng tôi mê mẩn với những áng văn chương mô tả tư tưởng phong phú của loài người, và trong tôi nảy sinh tình cảm tốt đẹp với các tác phẩm của nhà thờ Công giáo, từ hội họa, kiến trúc, âm nhạc đến tinh thần lạ lùng khác thường của các vị tu sĩ.

Ấn tượng nhất với tôi là cuốn “Tây dương Gia Tô bí lục”, tác phẩm bài Kitô của các linh mục bỏ đạo viết, cho tôi thêm một khía cạnh về Chúa Giêsu, trong đó Ngài chỉ là một vĩ nhân chinh phục cả thế giới bằng lý thuyết và cái chết của Ngài. Nhưng tôi vẫn yêu mến và bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp huyền bí của thế giới Công giáo. Thậm chí tôi đã từng lân la tới nhà thờ, ngắm những sự cổ kính của nó và mua một chiếc nhẫn có mặt Thánh giá của bà bán hàng rong trước cổng rồi đeo nó vào ngón áp út; chiếc nhẫn sau thất lạc đâu tôi cũng không nhớ nữa.

HĂM HỞ, NGHIÊN CỨU, THẤT VỌNG VÀ CHÁN GHÉT

Năm 2000, tôi một mình di chuyển vào Sài Gòn theo nhu cầu công việc. Tại Sài Gòn tôi vừa làm việc tại Tổng công ty Tân Cảng, vừa tranh thủ học thêm lớp văn bằng 2 vào buổi tối. Học được nửa năm thì tôi thích một cô bạn theo đạo Công giáo có nét mặt nghiêm nghị và tôi nghĩ làm vợ thì tốt cho gia đình, vì vậy tôi ngỏ lời và được chấp nhận. Tôi vui lắm và hăm hở theo học giáo lý Dự tòng, vì tôi từ lâu đã biết rằng con người có một đức tin thì sẽ tốt đẹp.

Tôi được phân công học giáo lý một mình một thầy tại nhà của bác Giuse Toản, thuộc giáo xứ Hiển Linh, Thủ Đức. Vừa học, tôi vừa lao vào nghiên cứu Thánh Kinh và mang các thắc mắc đến hỏi. Nhưng đáng buồn là các lời giải thích theo tôi, đều không thuyết phục. Cha sở giáo xứ Hiển Linh khi đó cũng thuyết giáo cho tôi nhiều, nhưng tôi đều phản biện bằng lý lẽ biện chứng của mình: tôi cho rằng các lời giải thích đưa ra đều là ngụy biện. Thánh kinh Cựu Ước giống như chuyện thần thoại, còn Tân ước cũng chỉ từ một vĩ nhân và đầy tính hoang đường, lợi dụng nhu cầu gốc của loài người là thờ cúng. Cái tôi cần là Đức Tin, chứ không phải thờ cúng và tung hô ca tụng một cá nhân nào đó.

Tôi hết sức thất vọng, và bắt đầu chán ghét những buổi Thánh lễ, trong đó người ta tung hô Thiên Chúa – Đấng mà tôi thấy là giết người và tru diệt nếu không nghe lời ông ta, mang thiên đường đến để quyến rũ và đưa hỏa ngục ra mà dọa dẫm. Có lẽ theo đạo Phật lại hay, vì sự từ bi và không sát sinh.

Nhưng dù sao tôi cũng hoàn thành khóa giáo lý Dự tòng và chịu lễ Rửa Tội vào mùa Hè năm 2002, rồi tiếp tục học khóa giáo lý hôn nhân, cùng nàng hôn thê của tôi, vì tôi không thích làm phép chuẩn mà thích cử hành bí tích Hôn Phối đàng hoàng tại nhà thờ, vì nó… đẹp, và vừa lòng vợ tôi. Tôi trở nên thờ ơ và không còn nghiên cứu, tìm hiểu và thắc mắc nữa. Phép cưới diễn ra và tôi thực hiện các hướng dẫn như người ta chỉ bảo. Sau lễ cưới, tôi không còn tham dự Thánh lễ nữa, trừ những lễ Hôn phối, lễ Tang tôi bắt buộc phải đi với tâm tình tẻ nhạt chán ngắt.

TIẾNG SÉT ÁI TÌNH, NƯỚC MẮT VÀ ĐỨC TIN

Năm tháng dần trôi, tôi bị cuốn vào guồng máy làm ăn, kiếm tiền, những vất vả của công việc, hưởng thụ các thành quả của nó và niềm vui của các cuộc chơi. Tuy nhiên những lúc rảnh rỗi, tôi vẫn còn giữ thói quen suy tư về cuộc sống hoàn thiện. Tôi ngả cảm tình về Phật giáo và triết học phương Đông.

Vào khoảng những năm 2009-2014, do chị vợ tôi là nữ tu Emmanuen của đan viện Cát Minh Sài Gòn, tôi thường hay phải đến nơi này để sửa chữa và cài đặt phần mềm, cũng như hướng dẫn cơ bản về máy vi tính cho các nữ tu.  Khi làm việc muộn, các nữ tu hay cho tôi ăn ngon và đối xử dịu dàng lắm. Tôi có cảm tình với các chị nữ tu trong này, đặc biệt Mẹ bề trên rất đôn hậu, ân cần với tôi. Biết tôi không tin Chúa, các chị nói sẽ cầu nguyện cho tôi. Tôi cười và nói: “Em thách các sơ đó! Chúa có hiện ra thì em cũng chỉ cho đó là ảo giác và chẳng tin đâu. Đừng lấy hỏa ngục ra mà dọa hay đưa thiên đường ra mà dụ em. Chết là hết vì em đã bị gây mê phẫu thuật 2 lần rồi. Cái chết là như vậy và chả có linh hồn nào hết.”

Tôi tiếp tục suy tư về vạn vật, về khoa học, về tâm lý con người và đôi khi cũng thấy hơi tủi phận vì mình muốn tin vào một tôn giáo để tâm lý ổn định mà chẳng tin được.

Đầu năm 2017, vợ con tôi không hiểu sao bắt đầu lần chuỗi Mân Côi hằng đêm tại nhà. Tôi tôn trọng nhưng cho rằng mất thời gian và chẳng giải quyết vấn đề gì ngoài tâm lý của mấy người Công giáo.

Một đêm tháng 5 năm 2017, sau một cuộc nhậu say khướt tới 2g sáng, tôi chạy xe về nhà. Đường vắng và tôi chạy chậm theo thói quen mỗi khi uống nhiều. Trên đường, tôi lại suy tư về thân phận con người trên thế gian và bắt đầu cảm thấy cô đơn trong tư duy. Lúc đó, vừa đi qua cầu Bình Triệu và không biết do một sức mạnh nào thôi thúc, tôi chạy đến nhà thờ Fatima ngay gần đó để gặp Đức Mẹ. Dù tôi có ghét Chúa thì tôi vẫn quý Đức Mẹ vì theo những tài liệu tôi đọc, Đức Mẹ hoàn toàn hiền; chưa bao giờ Mẹ giận ai hay làm gì để người dữ cũng như người lành phải đau.

Tôi đến thì nhà thờ đóng cửa nên tôi đứng bên ngoài chắp tay hướng về tượng Mẹ cầu xin cho con có một Đức Tin. Lúc đó không biết sao nước mắt tôi cứ chảy ra, và tủi thân vì mình bao năm nay đi tìm mà chẳng có, muốn tin mà không được. Tôi cứ đứng đó chắp tay nhìn Mẹ mà khóc, cho tới khi có một đôi nam nữ tới và họ cũng chắp tay cầu nguyện gì đó. Tôi thấy mình hơi kỳ nên lên xe đi về nhà ngủ. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi nhớ lại chuyện và thấy mắc cười cho cái thằng tôi bị say rượu đi cầu xin nhảm nhí, rồi quên béng chuyện đêm hôm say rượu đó.

Tháng 7 năm 2017, có một người em quen biết theo Tin Lành đến thăm và thuyết giáo. Vợ tôi không đồng quan điểm, nhưng tôi thì thích thú vì sự tự do và đơn giản, nhất là việc để dành tiền bạc giúp đỡ anh em là chính chứ không xây những nhà thờ nguy nga và lễ lạt tốn kém trong khi dân còn nghèo không đủ ăn. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ ủng hộ cho Tin Lành của anh ta thôi chứ chẳng tin có Chúa thật. Trước khi chia tay, tôi có hơi suy nghĩ khi anh ta nói: “Anh phải biết rằng Chúa yêu anh, Chúa rất yêu anh.”

Cuối tháng 7 năm 2017, gần tới sinh nhật tôi tròn 45 tuổi, vào một buổi sáng bình thường như bao buổi sáng, tôi đi làm bằng xe máy, bình yên và chẳng có gì đặc biệt. Lúc đó tôi làm xuất nhập khẩu và quản lý nguyên vật liệu cho một nhà máy chế biến gỗ tại Tân Uyên-Bình Dương cách nhà 25km nên đoạn đường đi hơi dài. Trên đường đi, tôi suy nghĩ về câu nói của người anh em Tin Lành, và lúc đó không hiểu sao, bài hát Kinh Vinh Danh bỗng ngân nga trong tâm trí tôi – bài ca mà tôi rất ghét vì sự sùng bái cá nhân mỗi khi phải nghe trong nhà thờ. Bài hát ngân nga du dương mãi mà tôi không thể chuyển hướng suy nghĩ sang vấn đề khác được. Rồi nước mắt tôi bỗng giàn giụa chảy mãi vì cảm động khi nghe bài ca. Và tôi lập tức tin Chúa yêu tôi, nghĩa là có Chúa thật. Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra với tâm lý của tôi nữa, nhưng tôi cảm thấy ngọt ngào và ngất ngây. Rồi nước mắt cũng ngừng rơi khi tới chỗ làm. Hết cả ngày hôm đó, mọi việc diễn ra bình thường và tôi nghĩ buổi sáng chắc do mình hơi yếu thần kinh nên dễ xúc động, và tôi cười thầm.

Sáng hôm sau, tôi kinh ngạc khi thấy những tâm tình như thế lại lặp lại. Tôi cố chống cảm xúc này, nhưng không thể. Trong tôi, bài ca cứ du dương, ngân nga, của một đoàn người nào đó, không rõ tiếng ai với ai, và câu từ cũng không rõ, do tôi không thuộc bài hát này. Nhưng họ hát tuyệt hay. Tôi nghĩ do ký ức khơi dậy từ ca đoàn của một nhà thờ nào đó. Nước mắt tôi cứ chảy ra mãi suốt quãng đường, đồng thời tôi cảm nhận mãnh liệt Chúa yêu tôi, một cách tha thiết hơn bất cứ gì trong vũ trụ này. Tâm hồn tôi cứ muốn mãi tuôn ra những lời ca tụng, bất chấp mọi nỗ lực ám thị hay chống cưỡng tâm lý nào mà tôi cố tình làm một cách bảo thủ. Cuối cùng, tôi buông thả tâm hồn mình cho mọi sự diễn ra cách tự nhiên.

Sự việc liên tục xảy ra trong một tuần. Tôi đắm đuối trong tình yêu chân thật và huy hoàng của Thiên Chúa, mà tôi có thể nói một cách thô thiển rằng đó là tình yêu tuyệt đối, trên hết mọi tình yêu trần gian. Quãng thời gian đó tôi chỉ muốn tìm một xó xỉnh yên tĩnh cô tịch nào đó mà kết hiệp với tình yêu kỳ diệu này suốt cả ngày, chẳng thiết gì mọi sự xung quanh nữa.

Sau đó là liên tục các diễn biến phức tạp trong nội tâm của tôi và những tương tác lạ lùng khiến tôi đi hết từ sững sờ này tới ngạc nhiên khác, cho tôi biết về thế giới siêu nhiên hiện hữu và sinh động như thế nào. Đắm chìm trong thế giới đó, tôi đã tìm thấy linh hồn mình phủ phục dưới chân Thiên Chúa mà thổn thức: “Lạy Chúa, này con đây!” Chúa đã dạy tôi biết cầu nguyện.

Vậy là sau 45 năm hoang hoải trong tâm hồn, tôi đã được Chúa đoái thương, nhờ Đức Mẹ chuyển cầu. Và chắc chắn còn có cả sức mạnh vô hình từ những lời cầu nguyện của những người thương mến tôi, một con chiên lạc đã được Chúa tìm về.

Tôi hơi thắc mắc: sao Chúa lại đến với tôi muộn màng vậy? Chúa chỉ cười. Điều đó khiến tôi lại đắm say, chẳng muốn thắc mắc gì nữa mà chỉ muốn cất lên những ngợi khen ca tụng, không phải bằng ngôn ngữ của trần gian, mà của Nước Trời…

Trần Anh (TGPSG)

Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới

Bà Akie Abe sinh năm 1962, kém chồng 8 tuổi. Bà vốn xuất thân từ một gia đình giàu có, với cha là chủ tịch của Morinaga & Co, một trong những công ty bánh kẹo lớn nhất Nhật Bản.

“Lần hẹn hò đầu tiên, chúng tôi ra ngoài ăn tối. Ấn tượng đầu tiên về chồng mình là ông ấy hài hước, trưởng thành và có kiến thức sâu rộng”.

Cặp đôi kết hôn vào năm 1987 và hai người không có con. Bà cho biết, trong giai đoạn đầu, bà đã điều trị vô sinh nhưng không thành công. Thời gian qua đi, việc mang thai đối với bà càng khó khăn do tuổi tác, và mọi người cũng không còn bảo bà cố gắng nữa. Bà cho biết chồng bà đã gợi ý chuyện nhận con nuôi, nhưng bà từ chối vì không tự tin “có thể nuôi dạy con nuôi đúng cách”.

Trong 1 cuộc trả lời phỏng vấn, bà Akie Abe cho biết bà chấp nhận hai vợ chồng sẽ không có con.

“Tôi nghĩ tất cả đều là số phận và tôi phải chấp nhận, thực tế là tôi kết hôn với một chính trị gia, rằng ông ấy trở thành thủ tướng và chúng tôi không được ban phúc để có con. Dù vợ chồng không có con trong 35 năm sống với nhau nhưng chồng bà luôn yêu thương bà như ngày đầu tiên”.

Ra ngoài cố Thủ tướng Shinzo Abe là 1 vị lãnh đạo hết lòng vì dân vì nước, về nhà là 1 người chồng yêu thương vợ hết mực. Thế giới không chỉ mất đi một nhà lãnh đạo vĩ đại mà còn mất đi người đàn ông đích thực.

Ảnh: Thủ tướng Shinzo Abe và phu nhân giản dị kỷ niệm 32 năm ngày cưới.

Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14:33) – Cha Vương

Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14:33)

Chúc bạn ngày Thứ 7 thật hạnh phúc trong vòng tay yêu thương của Mẹ Maria nhé.

Cha Vương 

Thứ 7: 09/07/2022

TIN MỪNG: Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14:33)

SUY NIỆM: Sớm hiến thân cho Chúa: “Này con, chú ý nghe lời Cha dạy: hãy lìa bỏ dân sự, nhà cửa, cha mẹ, vào tận lòng Đại Dương, chính là Đức Chúa Trời.” Lúc còn niên thiếu, Đức Mẹ đã sớm nghe lời Chúa phán gọi, bỏ nhà cửa, cha mẹ mà dâng mình cho Chúa trong đền thờ: dầu tuổi trẻ thơ ngây, dầu tình mẫu tử âu yếm cũng không ngân ngăn giữ được Người. Bất cứ việc gì khoan giãn tâm hồn chỉ tìm một Chúa, chỉ trìu mến Người, đều làm cho tâm hồn ấy cay đắng vì phải hoãn phần thưởng mình lại. (x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:5:1)

LẮNG NGHE: Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha. (Cl 3:17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, dâng mình là tìm gặp Thiên Chúa, tìm theo thánh ý Người, xin giúp con biết siêng năng gặp gỡ Chúa trong lời Chúa, trong các Bí Tích để được hạnh phúc dưới ánh mắt trìu mến của Chúa.

 THỰC HÀNH: Tập có thói quen đọc Kinh Dâng Mình khi thứ dậy: Lạy Trái tim Cực thánh Đức Chúa Giêsu/ con nhờ Trái tim Cực sạch Đức Bà Maria/ mà dâng cho Trái tim Chúa: mọi lời con cầu xin/ mọi việc con làm/ mọi sự khó con chịu trong ngày hôm nay/ cho được đền vì tội lỗi con/ mà cầu nguyện theo ý Chúa/ khi dâng mình tế lễ trên bàn thờ/ con lại dâng cho Trái tim Chúa/ có ý cầu nguyện cách riêng theo ý Đức Giáo Hoàng.

From: Đỗ Dzũng

Cựu trụ trì chùa ở Hưng Yên tham gia vụ ‘chạy án $2.2 triệu’ 

Cựu trụ trì chùa ở Hưng Yên tham gia vụ ‘chạy án $2.2 triệu’ 

July 8, 2022

HƯNG YÊN, Việt Nam (NV) – Ông Nguyễn Ngọc Triệu, 49 tuổi, tức Thượng Tọa Thích Đồng Huệ, cựu trụ trì chùa Nôm ở huyện Văn Lâm, thừa nhận cầm $400,000 trong vụ “chạy án” cho giám đốc bệnh viện thành phố Thủ Đức.

Theo báo Zing hôm 8 Tháng Bảy, sau khi bị phát giác, ông Triệu lập tức trả lại cho một “mắt xích” trong đường dây $100,000 và 2.39 tỷ đồng ($102,322).

Ông Nguyễn Ngọc Triệu, 49 tuổi, tức Thượng Tọa Thích Đồng Huệ, là cựu trụ trì chùa Nôm ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. (Hình: Dân Việt)

Theo quy trình xử phạt giới chức tôn giáo, Thượng Tọa Thích Đồng Huệ bị bắt sau khi bị ép buộc hoàn tục hai ngày hồi Tháng Mười Một năm ngoái.

Ông Triệu là một trong sáu người bị Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Bộ Công An CSVN đề nghị truy tố trong vụ “chạy án” cho ông Nguyễn Minh Quân, giám đốc bệnh viện Thủ Đức.

Báo Zing dẫn hồ sơ của công an cho hay, hồi năm 2021, ông Quân tìm người để nhờ lo lót nhằm không bị bắt, xử phạt do “có sai phạm về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng.” Vụ này sau đó được hiểu là vụ bê bối kit xét nghiệm COVID-19 của công ty Việt Á.

Theo sự sắp đặt của giới chức Bộ Công An CSVN, một người trong đường dây “chạy án” là ông Hà Duy Tuấn, được mô tả là “người lao động tự do,” nhận $1 triệu của ông Quân tại khu vực cổng sau của Bộ Công An ở Hà Nội.

Ông Tuấn khai rằng sau khi nhận tiền, ông này sáu lần mang đến chùa Nôm, đưa $970,000 cho sư trụ trì là ông Triệu để nhờ lo việc cho ông Quân. Tuy nhiên, ông Triệu chỉ thừa nhận với công an rằng đã nhận tổng số tiền $400,000.

Ông Triệu khai đã lấy $100,000 đóng kín vào hộp giấy kèm theo chiếc chuông gió phong thủy, mang đến gặp ông Vũ Văn Đắc, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị công ty cổ phần môi trường Thuận Thành, để nhờ “tìm hiểu tình hình” để “chạy án” cho ông Quân.

Ông Triệu còn khai là do không giải quyết được vụ này nên đã trả lại cho Hà Duy Tuấn $100,000 và 2.39 tỷ đồng vào tài khoản ông này.

Hai nhân vật chủ chốt trong vụ “chạy án” cho ông Quân là ông Bùi Trung Kiên, cựu cán bộ Phòng 6, và ông Lê Thanh An, cựu cán bộ Phòng 5 thuộc Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Bộ Công An.

Theo quy trình xử phạt giới chức tôn giáo, Thượng Tọa Thích Đồng Huệ bị bắt sau khi bị ép buộc hoàn tục hai ngày hồi Tháng Mười Một năm ngoái. (Hình: VOV)

Theo tờ Tuổi Trẻ, ông Kiên bị cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” trong lúc ông An bị đề nghị truy tố tội “môi giới hối lộ.”

Tổng cộng ông Kiên đã nhận $2.2 triệu trong vụ này.

Do nhận thấy “không nhờ vả được,” ông Quân đòi tiền nhưng ông Kiên chỉ trả lại $1.15 triệu trong số tiền đã nhận. Khoản còn lại, ông Kiên dùng để mua nhà đất ở nhiều địa phương. Sau đó, ông Quân nhờ người khác “móc nối” đưa $1.5 triệu cho ông Lê Thanh An “nhờ giúp đỡ.” (N.H.K) [qd]

Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến – Trần Khuê

Trần Khuê – Sổ tay thường dân -Tưởng Năng Tiến

“Một ngày phiên chợ, u tôi mua về đôi gà nhỏ. Hai con gà: một trống, một mái, dáng còn bé tí teo, như vừa mới lìa đàn. Suốt ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu chim chíp bằng một giọng thảm thương, ai oán!”

Những câu trên được trích dẫn từ tập truyện O Chuột mà tôi đã được cô giáo đọc cho nghe, khi còn thơ ấu. Hơn nửa thế kỷ đã qua nhưng tôi vẫn tin rằng mình vừa ghi lại “gần” đúng nguyên văn, theo trí nhớ. Sao tôi cứ thương mãi đôi gà côi cút đó, và có cảm tình hoài với tác giả của đoạn văn dẫn thượng.

Tô Hoài chắc chắn sẽ rất sung sướng khi biết có một người đọc đã nhớ nằm lòng cả một đoạn văn của mình, và (có lẽ) sẽ bớt sướng đi nhiều, nếu biết thêm rằng tôi chưa bao giờ đọc thêm một trang sách nào khác của ông.

Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng đỏ, không thi đua lập chiến công, cũng không có kế hoạch (lớn – nhỏ) nào phải hoàn thành. Chúng tôi chỉ có việc học với chơi, và chơi mới là chuyện chính. Tôi quá mãi chơi nên không rảnh để đọc sách vở của bất cứ ai.

Mãi cho đến khi cuộc chiến Bắc/Nam chấm dứt tôi mới bắt đầu để ý đến sách báo. Cũng như nhiều người dân miền Nam khác, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi  bỗng hoá ra rất rảnh, và rất … đói!

Tác phẩm duy nhất mà tôi tâm đắc, vào thời điểm đó, là Hồ Chí Minh Toàn Tập. Đây là bộ cuốn sách đồ sộ, giấy in cực tốt nhưng giá rất bèo nên được những bà và những cô bán hàng rong vô cùng ưa thích. Họ cần giấy để gói (hoặc để chùi) còn tôi thì cần một phần ăn nhiều hơn số tiền túi mình có thể mua.

Do đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng chả bao giờ xà ngay xuống mẹt xôi hay mẹt bánh. Tôi chịu khó đi (lòng vòng) mua sách, rồi mới mang đổi lấy thức ăn, cho đỡ khổ cái dạ dầy!

Nói tình ngay, lỡ có thấy những tác phẩm của Tô Hoài – trong hoàn cảnh ấy – tôi chắc mình cũng sẽ ngó lơ thôi. Mắt tôi lúc nào cũng chỉ dáo dác, liếc nhìn ra biển, tìm một đường chui.

May mắn là tôi chui lọt.

Lưu lạc mãi, có hôm, tôi tình cờ gặp lại Tô Hoài trong tác phẩm (Cây Bút, Đời Người, nxb Phương Nam 2002) của nhà phê bình xã hội & văn học Vương Trí Nhàn:

“Ngay từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế Mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng…  Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn, khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi chung là công tác.” (sđd 264).

Tiểu sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung lang tang, ngổn ngang cả đống chức vụ, nhưng không để lại một ấn tượng đậm nét nào về đời người và cây bút của ông. Tô Hoài như luôn bị nhấn chìm vào những đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn) gì đó, “với cơ man nào là đầu việc”. Toàn là những công việc chán ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.

Được thế thì đã phúc!

Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán (hẳn) có thừa nhưng nhạt nhẽo thì chưa chắc, và đắng chát với tủi nhục (xem ra) không thiếu – vẫn theo như ghi nhận của Vuơng Trí Nhàn: “Đại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị qùy, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn. Xá gì chuyện này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy.” (sđd 266).

Tôi thực muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây bút” và “đời người” của Tô Hoài khi biết rằng (đôi lúc) ông vẫn phải qùi như thế. Tôi còn e rằng Vuơng Trí Nhàn chỉ khéo miệng mà nói thế (để đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa bỡn” và “tha hồ tung tẩy” làm sao tìm được trong “cây bút” và “đời người” (chật hẹp) của Tô Hoài!

Đến như Nguyễn Tuân – dù vốn tính bất tuân – khi phải mặc đồng phục, trông cũng rúm ró và thảm hại chả kém gì cái hình ảnh Tô Hoài cả. Ở vào hoàn cảnh đó, mới hiểu và thông cảm cho sự cuống cuồng của một người – vốn tính đồng bóng và yếu bóng vía – như Xuân Diệu:

“Xuân Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc đồng quá tử vì đạo, rồi không giữ được ngòi bút của mình. Hơn ai hết, ông hiểu về những lưỡi gươm Damoclès thường xuyên treo trên đầu người làm văn nghệ. Khi nói chuyện này đột nhiên giọng ông đột nhiên nhỏ hẳn đi, khe khẽ thì thào. Rồi ông lắc đầu, ông le lưỡi, ý bảo rằng sợ lắm, mà cỡ các cậu thì càng phải nên biết sợ ngay thì vừa, nên nhớ là sau có hối cũng không kịp nữa” (sđd 295).

Xuân Diệu đã chết. Cái cung cách và thái độ ‘đột nhiên giọng nhỏ hẳn đi’, ‘khe khẽ thì thào”, “lắc đầu”, “le lưỡi” cũng … chết luôn. Thế hệ của những người cầm bút kế tiếp, không có vẻ gì là hào hứng và sẵn sàng tiếp nhận sự khiếp đảm mà Xuân Diệu muốn truyền đạt cho họ.

Trần Khuê là một trong những người này.

Ông đòi đổi tên Nước, tên Đảng, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, đòi Trường Chinh phải xin lỗi Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, tác giả của Khoán 10), đòi Tố Hữu phải xin lỗi những văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn, đòi Lê Đức Thọ phải xin lỗi những người trong “vụ án xét lại”, đòi lập Hội Chống Tham Nhũng …

Nói tóm lại là Trần Khuê không để yên cho bất – cứ – cái – gì và bất – cứ – ai, kể cả những nhân vật được coi là untouchable:

“Chúng ta đề nghị Tổng cục thống kê và Bộ tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dụ chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn trắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi … Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thê xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo …” (Trần Khuê – Ng. T. Thanh Xuân, Đối Thoại Năm 2000).

Đến cỡ như bác Hồ (dù đã mồ yên mả đẹp) mà còn bị hạch hỏi đủ điều như thế thì có ai khác mà được không bị … làm phiền. Mọi kẻ có chức quyền, từ Tổng Bí Thư trở xuống – kể cả ông TBT Giang Trạch Dân của nuớc bạn Trung Hoa vĩ đại – đều bị mang ra hỏi tội và chửi mắng (xối xả) vì sự ngu dốt, cũng như tội gian tham – của từng người một!

Thảo nào mà đã có lúc Trần Khuê được mô tả như một Sao Khôi hoặc Sao Khuê. Vì sao này (tiếc thay) lại “khi tỏ khi mờ,” theo nhận xét của một vị thức giả cùng thời – nhà văn Phạm Đình Trọng:

Trần Khuê thấy được giữ lại thi thể Hồ Chí Minh trong hòm kính dù đặt trong nhà hầm vẫn là tênh hênh trên mặt đất, là không thuận ý nguyện cuối cùng, ý nguyện thiêng liêng nhất của người chết, không thuận qui luật tự nhiên, là đày đọa thân xác người quá cố và tạo ra cái thùng không đáy ngốn tiền mồ hôi nước mắt dân. Nhận ra những cái có hại sờ sờ như vậy, Trần Khuê đòi đốt xác Hồ Chí Minh nhưng hồn vía Trần Khuê vẫn thuộc về Hồ Chí Minh.

Sắt son với con người rước họa cộng sản về đày đọa người dân Việt Nam, thờ phụng con người mất gốc không còn hồn Việt Nam là khoảng mờ rất đáng tiếc của ngôi sao Khuê họ Trần.

Kể cũng “hơi” tiếc thật nhưng vẫn hơn rất nhiều vị thức giả (cùng thời) chỉ sống cả đời trong cái khoảng mờ!

Tưởng Năng Tiến
7/2022

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? – Cha Vương

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không?

Chúc bạn một weekend vui vẻ hạnh phúc bên cạnh những người thân thương. Đừng quên cầu nguyện cho chiến tranh được chấm dứt bên nước Ukraine nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 08/07/2022

GIÁO LÝ: Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? Tất cả những ai đã được Rửa tội đều thuộc về Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, những người đã được rửa tội, dù không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, họ cũng được gọi cách chính đáng là Kitô hữu, và do đó họ là anh chị em với chúng ta. (YouCat, số 130)

SUY NIỆM: – Những đổ vỡ trong Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô đều xuất phát từ những bóp méo giáo huấn của Chúa Kitô, từ những lầm lỗi của con người và từ những thiếu sót trong ý muốn hòa giải, nhất là nơi các vị hữu trách trong Hội Thánh. Ki tô hữu ngày nay không chịu trách nhiệm về những chia rẽ trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên vì muốn cả nhân loại được cứu rỗi, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong các Hội thánh và các cộng đồng đã ly khai khỏi Hội Thánh công giáo. Tất cả những ân sủng sẵn có, như Kinh Thánh, các bí tích, đức tin, cậy, mến, và các đặc sủng khác đều do Chúa Kitô mà đến. Ở đâu có Thánh Thần Chúa Kitô, ở đó có một năng lực nội tại thúc đẩy phải “khôi phục lại sự hiệp nhất”, bởi vì ai thuộc về Thánh Thần đều khao khát tập họp lại với nhau.

❦Các Hội Thánh và các cộng đồng Hội Thánh. Nhiều cộng đồng Kitô hữu khắp thế giới lấy tên là Hội Thánh. Đối với người Công giáo, chỉ là Hội Thánh khi trong cộng đồng đó các bí tích của Chúa Giêsu Kitô được duy trì nguyên vẹn. Điều này đúng với các cộng đồng Chính thống và các Hội Thánh Đông phương trước hết. Trong những cộng đồng Hội Thánh phát xuất từ cuộc cải cách của Tin lành, các bí tích không được duy trì nguyên vẹn. (YouCat, số 130 t.t.)

LẮNG NGHE: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (Ga 15:7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa luôn ao ước sự hiệp nhất Ki-tô giáo giữa những người tin vào Chúa Giêsu, xin giúp con vượt qua những gương xấu của sự chia rẽ, biết gạt sang một bên những ưu tiên riêng để thúc đẩy những gì mang lại sự hiệp nhất và công ích chung cho Giáo Hội.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Chúa Thánh Thần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Ki-tô giáo.

From: Đỗ Dzũng

THẢM HẠI…

8 SÀI GÒN

THẢM HẠI…

Thì ra, họ nó đã đổi xong bia “liệt sĩ vô danh” ở nhiều tỉnh rồi, trong hình là Quảng Nam.

Cha nó lú thì phải có chú nó khôn chứ! Chẳng lẽ ông bộ trưởng dốt đã đành rồi nhưng cả bộ máy không còn ai khác biết tiếng Việt nữa sao?!

Nhắc lại, “vô danh” là một tính từ, không phải danh từ. Kẻ nào “dịch” “vô danh” thành “không tên” là cực kỳ dốt nát. Vô danh có nghĩa là không biết tên, không có tiếng tăm, không nổi tiếng…, chứ không phải không có tên!

Vô danh cũng không phải “khuyết danh”, vì khuyết danh chỉ có nghĩa là không biết tác giả là ai, và chỉ dùng trong trường hợp đối với các tác phẩm nghệ thuật. Không ai nói “người khuyết danh” bao giờ cả! Tác phẩm “Thoại Khanh – Châu Tuấn” là khuyết danh, nhưng tên nó là “Thoại Khanh – Châu Tuấn”, chứ không phải nó không có tên.

Đó là chưa kể đến việc nếu đổi từ Hán-Việt “vô danh” thành “chưa xác định được thông tin” thì sao không đổi nốt mấy chữ còn lại: “Liệt sĩ” thành “người chết trong khi làm nhiệm vụ”; “hi sinh” đổi thành “chết”?

Tôi đề nghị, dừng ngay cái việc làm có tính phá hoại này: phá hoại tiền của, phá hoại văn hóa – tâm linh, phá hoại tiếng nói dân tộc.

THÁI HẠO

Breaking News: Cựu Thủ Tướng Shinzo Abe của Nhật bị ám sát trong lúc vận động tranh cử

Breaking News: Cựu Thủ Tướng Shinzo Abe của Nhật bị ám sát trong lúc vận động tranh cử

July 8, 2022

NARA, Nhật (NV) – Ông Shinzo Abe, cựu thủ tướng Nhật, một trong những chính trị gia có ảnh hưởng nhất của quốc gia này, vừa qua đời sau khi bị một người bắn hai phát từ phía sau, gục xuống, chảy máu, và được đưa vào bệnh viện.

Ông bị bắn lúc 11 giờ 30 phút sáng Thứ Sáu, 8 Tháng Bảy, và qua đời khoảng 5 giờ sau đó.

Cựu Thủ Tướng Shinzo Abe của Nhật. (Hình: Franck Robichon – Pool/Getty Images)

Hãng thông tấn AP dẫn lời Bác Sĩ Hidetada Fukushima, trưởng phòng cấp cứu bệnh viện Nara Medical University nói ông Abe qua đời vì vết thương ở tim cùng với hai vết thương ở cổ làm hỏng động mạch.

Vụ ám sát xảy ra trong lúc ông Abe đang vận động tranh cử cho đảng LDP của ông tại thành phố Nara, phía Đông thành phố Osaka, Nhật, theo đài truyền hình NHK.

Theo AP, nghi can là một người đàn ông 41 tuổi, từng là lính Hải Quân của Cục Phòng Vệ Nhật, bị an ninh đè xuống đất và bắt ngay lập tức.

Một phụ nữ Nhật bày tỏ xúc động tại nơi cựu Thủ Tướng Shinzo Abe bị bắn ở Nara. (Hình: Philip Fong/AFP via Getty Images)

Đài NDTV nói nghi can tên là Tetsuya Yamagami, 41 tuổi.

AP cho biết nghi can bắn ông Abe vì bất mãn với ông, nhưng không liên quan đến chính trị.

Đài NTV nói nghi can đứng cách ông Abe chừng 3 mét, và khẩu súng là súng tự tạo.

Hình ảnh của NHK cho thấy có khói bốc lên lúc súng nổ.

CNN cho biết, sau khi bị bắn trúng vào cổ, ông Abe được đưa lên xe cứu thương và sau đó được trực thăng đưa vào bệnh viện để giải phẫu.

Sau khi vụ nổ súng xảy ra, Thủ Tướng Fumio Kishida, người từng là ngoại trưởng của ông Abe, hủy vận động tranh cử và quay trở lại Tokyo, theo Bloomberg News.

Khẩu súng tự chế của nghi can bắn ông Shinzo Abe. (Hình chụp qua màn hình NHK)

Tại cuộc họp báo sau khi trở về Tokyo, ông Kishida cho biết ông Abe trong tình trạng nguy kịch và các bác sĩ lúc đó đang tìm cách cứu sống ông, theo CNN. Thủ tướng cũng cho biết các giới chức sẽ giải quyết vụ này “một cách đúng đắn” và “hành động này không thể tha thứ được.”

Hiện chưa biết vụ ám sát này có ảnh hưởng cuộc bầu cử Thượng Viện diễn ra vào Chủ Nhật này hay không mà trong đó đảng LDP sẽ thắng dễ dàng.

Một số cử tri Nhật đã bỏ phiếu sớm.

Thủ Tướng Fumio Kishida phản ứng tại cuộc họp báo ở Tokyo sau khi ông Abe bị bắn. (Hình: STR/Jiji Press/AFP via Getty Images)

“Sự kiện này thật là sốc,” ông Hiromichi Watanabe, một thành viên cao cấp của LDP, nói tại tổng hành dinh của đảng LDP đang cầm quyền. “Tôi không thể tin là chuyện này xảy ra ở Nhật.”

Ông Rahm Emanuel, đại sứ Mỹ tại Nhật, nói ông Abe “là một nhà lãnh đạo xuất chúng của Nhật và là một đồng minh đáng tin cậy của Mỹ,” và nói thêm là người dân Mỹ đang cầu nguyện cho cựu thủ tướng.

Ông Abe năm nay 67 tuổi, từng là thủ tướng và chủ tịch đảng LDP từ năm 2006 đến năm 2007 và từ năm 2012 đến năm 2020.

Ông là thủ tướng lâu nhất trong lịch sử Nhật, và cũng từng là bộ trưởng Nội Các từ năm 2005 đến năm 2006 dưới thời Thủ Tướng Junichiro Koizumi và cũng từng là lãnh đạo đảng đối lập trong một thời gian ngắn năm 2012.

Từ khi thôi làm thủ tướng, ông thường có những phát biểu mạnh mẽ về Trung Quốc, nhất là về an ninh trong vùng và thế giới và tranh chấp chủ quyền giữa Bắc Kinh và Tokyo. (Đ.D.)

Trượt Chân, Té Ngã Khi Tuổi Già… – Trần Lý Lê

Trượt Chân, Té Ngã Khi Tuổi Già… – Trần Lý Lê

 Tác giả: Trần Lý Lê 

         

Chỉ một cú vấp ngã là cuộc sống con người có thể thay đổi hoàn toàn, cuộc thay đổi không thể kềm hãm xoay chuyển. Sự đau đớn thể xác đi kèm với nỗi vật vã tâm thần. Đây là mối ưu tư, ám ảnh của tuổi vàng khắp chốn.

Con người sống lâu hơn, ít bệnh tật hơn nhưng tuổi thọ lâu dài kia có những khúc quanh không như ý. Cơ thể trải qua những biến chuyển cần sự thích nghi và chấp nhận từ mỗi cá nhân. Ôi chao, biết bao nhiêu là biến chuyển trong cái thân thể mong manh kia sau 70 – 80 năm dãi dầu với thời gian?

Mắt nhìn không còn tinh anh. Tai nghe không còn tỏ tường, có vị còn chịu chứng ù tai, tinnitus, những âm thanh tai quái u u trong đầu suốt ngày đêm. Khứu giác chẳng còn “cảm” được một mùi hương nhẹ nên vị giác hầu như mòn mỏi. Khoảng 70% khả năng “nếm” đến từ khả năng “ngửi”.

Rượu [ngon] không còn giữ được hương vị cũ dù vẫn mang lại cảm giác lâng lâng và đôi khi còn gây chuếnh choáng nhanh chóng không ngờ. Bắp thịt không mạnh mẽ như trước, khuân vác một món gì cũng khó khăn. Khớp xương ê ẩm khiến việc xê dịch chậm chạp… Chưa kể sự thăng bằng, balance, kết hợp từ khả năng nhìn thấy, sức mạnh của bắp thịt, và khả năng cảm nhận vị trí của thân thể (proprioception) trong môi trường chung quanh, cũng sụt giảm qua thời gian. Và cuộc sống có thể đến khúc ngoặt không ngờ khi trượt chân, vấp ngã.

Tại Hoa Kỳ, số người cao niên (65+ tuổi) té ngã và chịu biến chứng nặng nề mỗi ngày một gia tăng. Nha Thống Kê của cơ quan Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (the CDC) công bố một con số đáng ngại, chỉ trong năm 2012, trên 2.4 triệu người té ngã, trong số ấy trên 200 ngàn người tử vong vì biến chứng trong cùng năm.

Theo hội chuyên khoa về tuổi vàng, Geriatrics, tai nạn gia tăng khi con người quá lạc quan quá tự tin, không lượng sức mình; người có tuổi cũng không ngoại lệ nhưng chịu ảnh hưởng của tai nạn nặng nề hơn. Những thứ bình thường trước đây bỗng dưng trở thành chướng ngại vật trong một phút không ngờ: các bậc thang, tấm thảm trên sàn nhà, bồn tắm trắng bóng, vồng u trong chỗ đậu xe, rễ cây ngoài vườn…, và ngay cả con chó con mèo quanh quẩn bên chân hằng ngày. Những món thuốc trị chứng cao huyết áp, chữa trầm cảm… có thể gây chóng mặt, choáng váng khiến việc vấp té, trượt chân xảy ra dễ dàng hơn.

Trong số các cụ cao niên té ngã và gãy xương chậu xương đùi, 20% tử vong trong cùng năm, 80% còn lại chịu ảnh hưởng nặng nề. 

Họ không còn tự di chuyển nên việc nhàn tản trên một quãng đường ngắn trở nên bất khả. Nhiều người mất luôn khả năng lái xe vì chân ga chân thắng không còn nhậm lẹ nên dễ gây tai nạn.

Không thể tự di chuyển, các cụ này trở nên phụ thuộc vào người chung quanh, từ bạn bè, hàng xóm láng giềng đến con cái. Tuổi vàng sợ đau đớn thể xác thì ít nhưng họ lại hãi hùng trước viễn ảnh mất hết khả năng độc lập.

Một sự thật khó chấp nhận là việc càng cao tuổi, càng dễ té ngã. Theo Tiến Sĩ Judy A. Stevens, chuyên viên Dịch Tễ, epidemiologist, tại CDC, té ngã xem ra giản dị nhưng lại là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho tuổi vàng, không mấy ai muốn nhắc đến và ngay cả người bị té cũng không muốn đề cập đến. Lý do? Các cụ ngượng ngùng, bạn ạ, ngại bạn bè chê cười mình vụng về, nhưng lý do sâu thẳm nhất, các cụ sợ con cháu lo lắng quá lại khênh họ vào nhà dưỡng lão hầu được (bị) chăm sóc kỹ lưỡng hơn, và từ đó mất luôn cuộc sống độc lập riêng tư. Họ sợ hung thần té ngã còn hơn các trận đau ốm. Đau ốm khi hết bệnh còn có thể độc lập chứ té ngã thì lôi thôi lắm!

Phục hồi sau khi té ngã là một hành trình gian nan, chậm chạp. Với các ca gãy xương “bình thường”, sau khi bó xương, nối xương và vết thương tạm lành, bệnh nhân trải qua thời gian tập luyện để có thể tự di chuyển. Chương trình phục hồi kéo dài vài tháng, từ việc dùng xe lăn, khung cân bằng đến cách dùng gậy để chống đỡ thân mình và giúp thăng bằng.

Nhiều cụ không còn leo thang được nữa vì cần dùng khung sắt để di chuyển, và từ đó phải lìa bỏ tổ ấm nơi có các bậc thang thân quen, gần gũi. Thay đổi chỗ ở là cả một cú sốc trong tuổi vàng. Cụ nào chấp nhận và chịu thích nghi thì vết thương “lìa tổ ấm” sớm lành, cụ nào rầu rĩ vật vã với chỗ ở mới thì nhanh chóng rơi vào nỗi trầm cảm u uất và không thiết sống!

Ngược lại, được sinh sống trong khung cảnh quen thuộc là nỗi ấm áp, thoải mái trong tuổi vàng ngay cả khi các cụ không còn có thể tự chăm sóc thân thể.

Như mọi loại bệnh tật, phòng ngừa là phương cách tốt nhất. Té ngã cũng thế. Phòng ngừa té ngã để tránh thương tật và các biến chứng thay đổi đời sống của bệnh nhân.

Để phòng ngừa té ngã, bà Judy Stevens cho rằng thể dục là yếu tố quan trọng nhất. Khi thân thể khỏe mạnh, bắp thịt cứng cáp, thì ít bị té ngã; và nếu bị té ngã thì ảnh hưởng cũng bớt trầm trọng so với các cụ ít động đậy, đi lại.

Các lớp thể dục, nhất là các buổi dạy về thăng bằng, như tập đứng một chân, lăn trái banh Bosu cho quen với sự chông chênh. Môn Thái Cực với các động tác co duỗi thong thả, chậm chạp giúp thân thể phối hợp hoạt động của bắp thịt và hai lá phổi thở hít nhịp nhàng. Sự phối hợp này cần thiết cho việc hô hấp, thăng bằng và dáng đi đứng của thân thể.

Hiệu quả cụ thể nhất của sự tập luyện thân thể là việc có thể tự đứng dậy từ ghế ngồi mà không cần vịn tay: bắp thịt hai chân và bắp thịt bụng, lưng cứng cáp đủ để chống đỡ và thăng bằng thân thể khi thay đổi vị thế.

Những yếu tố khác không kém quan trọng là việc dùng các món thuốc. Thuốc trị cao huyết áp, khoảng 70% các cụ tuổi thất thập dùng món thuốc này, gây chóng mặt khi huyết áp xuống nhanh và dễ té ngã nếu không cẩn thận. Chưa kể các thứ dược thảo lợi tiểu, giảm đường giảm mỡ (?) hầm bà lằng khác bán tự do trên thị trường mà các cụ Á Đông dùng thường xuyên như uống trà.

Xin mở ngoặc để nhắc đến dược thảo một chút: Dược thảo là con dao hai lưỡi rất sắc, có thể vô cùng hiệu quả trong việc chữa trị một bệnh tật nào đó, nhưng dược chất trong dược thảo có liều lượng bao nhiêu lại là một điều bí mật. Bí mật thứ nhì là món dược thảo tuy có cùng tên nhưng mức khác biệt về dược chất [và dược tính] lại là khoảng cách mênh mông… chưa kể các phụ chất có dược tính khác.

Các cụ dùng thuốc trị cao huyết áp có tỷ lệ té ngã cao gấp đôi những người không dùng. Đặc biệt là loại thuốc lợi tiểu, diuretic, [dùng để giảm cao huyết áp và suy tim]. Nếu cần dùng, các cụ nên uống thuốc ban ngày để tránh những chuyến vào nhà vệ sinh trong đêm tối. Món thuốc khác, món thuốc trị mất ngủ, có thể gây mất thăng bằng, và nếu có thể, nên thay thế bằng một ly sữa ấm, một cuốn sách dễ đọc hoặc một vài bản nhạc êm dịu.

Cách phòng ngừa té ngã khác là cách xếp đặt vật dụng trong nhà, loại bỏ tấm thảm đặt hờ hững trên sàn nhà, bàn ghế nằm gọn ghẽ trong một góc khuất, dẹp giày dép, đồ chơi… trên lối đi.

Các cụ trong tuổi vàng cần đi khám mắt hàng năm và đeo kính để duy trì thị lực. Dùng kính đơn tròng khi đi bộ và chỉ dùng kính hai tròng, ba tròng (bifocal, progressive lenses) khi đọc sách, ngồi tại chỗ vì loại kính này có thể gây vấp té.

Trong nhà cần có đèn đủ sáng để thắp rõ vật dụng chung quanh. Và món vật dụng cần thiết nhất, với các cụ sống đơn chiếc, có lẽ là món “gọi cấp cứu”, emergency button, electronic alert, có thể trong dạng vòng đeo trên cổ tay có nút bấm, có thể là dây đeo trên cổ.

Mùa thu của cuộc đời không nhất thiết chỉ là mùa tàn úa, mùa lá vàng; với sự chấp nhận, sửa soạn và sẵn sàng cho tinh thần, mùa thu có thể trở thành… vàng lá, vàng ròng với các chuyến du ngoạn thong thả để tận hưởng sự thanh nhàn khi tâm tư không còn vướng bận với sinh kế nhọc nhằn và bổn phận dưỡng dục khó khăn?

Trần Lý Lê