6 Tháng Hai -Thánh Phaolô Miki và Các Bạn (c. 1597)

Thánh Linh.net

Thành phố Nagasaki, Nhật Bản, rất quen thuộc với mọi người vì đó là nơi trái bom nguyên tử thứ hai đã được thả xuống và giết hại hàng trăm ngàn người. Trước đó ba thế kỷ rưỡi, 26 vị tử đạo Nhật Bản đã bị treo trên thập giá ở một ngọn đồi nhìn xuống Nagasaki, bây giờ thường được gọi là Núi Thánh.

Thánh Phaolô Miki là con của một sĩ quan chỉ huy thuộc quân đội Nhật. Ngài sinh ở Tounucumanda và theo học trường dòng Tên ở Anziquiama, gia nhập dòng năm 1580, và trở nên nổi tiếng vì tài rao giảng.

Trong thời kỳ bách hại đạo Công Giáo dưới thời Taiko, Toyotomi Hideyoshi, vào ngày 5 tháng Hai, ngài bị treo trên thập giá cùng với hai mươi lăm người Công Giáo khác, trong đó có nhiều giáo dân, như: Phanxicô, một thợ mộc bị bắt trong khi theo dõi cuộc hành quyết và sau đó bị treo trên thập giá; Gabrien, mười chín tuổi là con trai của người gác cổng dòng Phanxicô; Leo Kinuya, hai mươi tám tuổi làm thợ mộc ở Miyako; Diego Kisai, phụ tá của các cha Dòng Tên; Joachim Sakakibara, người làm bếp cho các cha Phanxicô ở Osaka; Peter Sukejiro, được một linh mục dòng Tên sai đến giúp đỡ các tù nhân thì bị bắt; Cosmas Takeya quê Owari nhưng đi truyền giáo ở Osaka; và Ventura ở Miyako, lúc đầu được các cha dòng Tên rửa tội, sau đó khi thân phụ từ trần, ông trở nên một nhà sư, và sau cùng được các cha Phanxicô đưa trở lại Công Giáo

Trong khi bị treo trên thập giá, Thầy Phaolô Miki đã nói với những người đến xem cuộc hành quyết: “Bản án nói rằng những người này đến Nhật Bản từ Phi Luật Tân, nhưng tôi đâu có đến từ quốc gia nào. Tôi đích thực là người Nhật. Lý do duy nhất tôi bị giết là vì tôi rao giảng giáo lý Ðức Kitô. Quả thật tôi đã rao giảng giáo lý Ðức Kitô. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì lý do này mà tôi chết. Tôi tin rằng những lời trăn trối của tôi là sự thật. Tôi biết quý vị tin tôi và một lần nữa tôi muốn nói với quý vị: Hãy xin Ðức Kitô giúp cho quý vị có được hạnh phúc. Tôi vâng lời Ðức Kitô. Theo gương Ðức Kitô, tôi tha cho những người đã hành quyết tôi. Tôi không ghét họ. Tôi xin Thiên Chúa thương xót tất cả chúng ta, và tôi hy vọng máu của tôi sẽ đổ trên dân tôi như một cơn mưa nhiều kết quả.”

Khi các nhà truyền giáo trở lại Nhật trong những năm 1860, lúc đầu họ không thấy một vết tích nào của Kitô Giáo. Nhưng sau một thời gian, họ tìm thấy hàng ngàn người Kitô đã sống chung quanh Nagasaki và họ sống đạo một cách lén lút.

Tất cả các vị tử đạo Nhật Bản được phong chân phước năm 1627, và phong thánh năm 1862.

 Lời Bàn

Ngày nay, một thời đại mới đã đến với Giáo Hội Nhật. Mặc dù số người Công Giáo không nhiều, nhưng Giáo Hội được tôn trọng và được tự do tôn giáo. Việc phát triển Kitô Giáo ở Viễn Ðông thì chậm và khó khăn. Một đức tin như của 26 vị tử đạo thì rất cần thiết cho ngày nay cũng như trước đây, trong năm 1597.

    Lời Trích

“Vì Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã thể hiện lòng bác ái của Người bằng cách hy sinh mạng sống cho chúng ta, không ai có tình yêu nào cao quý hơn người đã hy sinh mạng sống vì Ðức Kitô và anh chị em mình. Bởi đó, ngay từ thời sơ khai, một số Kitô Hữu đã được mời gọi — và chắc chắn sẽ được mời gọi luôn — để làm chứng cho tình yêu ấy cách hùng hồn trước muôn dân, nhất là những kẻ bách hại. Do đó, Giáo Hội coi sự tử đạo như một ơn huệ đặc biệt và là bằng chứng cao cả nhất của tình yêu.

“Mặc dù chỉ một ít người được ban cho cơ hội tử đạo, nhưng tất cả phải chuẩn bị để tuyên xưng Ðức Kitô trước mặt mọi người, và bước theo Người trên đường thập giá giữa những sự bách hại không bao giờ thiếu trong Giáo Hội” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, 42).

    Trích từ NguoiTinHuu.com

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251)-Cha Vương

Chúc một ngày thật ấm áp bên Chúa và người thân yêu nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

CN: 05/02/2022

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục.

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.”

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Lạy Chúa, thánh nữ A-ga-ta đã luôn luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh, vừa can trường hy sinh tử đạo. Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu cho chúng con được ơn tha thứ. Chúng con cầu xin nhờ danh Chúa Ki-tô Chúa chúng con. A men. (Lời nguyện, Lễ nhớ)

From: Đỗ Dzũng

Năm thứ hai của cuộc chiến Ukraine sắp trở nên đáng sợ hơn chúng ta tưởng

Báo Tiếng Dân

New York Times

Tác giả: Thomas L. Friedman

Dịch giả: Cù Tuấn

6-2-2023

Khi chúng ta sắp kỷ niệm một năm cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine — và sự đáp lại dữ dội của Ukraine được hỗ trợ bởi liên minh phương Tây do Mỹ lãnh đạo — câu hỏi sau đây cần được trả lời khẩn cấp: Làm thế nào mà vào ngày 23 tháng 2 năm 2022, hầu như không có ai ở Mỹ lập luận rằng lợi ích quốc gia cốt lõi của người Mỹ là tham gia vào một cuộc chiến tranh gián tiếp với Nga để ngăn nước này xâm chiếm Ukraine, một quốc gia mà hầu hết người Mỹ không thể tìm thấy trên bản đồ dù sau 10 lần tìm kiếm? Và bây giờ, gần một năm sau, các cuộc thăm dò cho thấy đa số người Mỹ vẫn kiên định (mặc dù hơi thu hẹp lại) ủng hộ Ukraine bằng vũ khí và viện trợ, mặc dù điều này có nguy cơ dẫn đến xung đột trực tiếp với nước Nga của Vladimir Putin.

Đó là một sự thay đổi chóng mặt của ý kiến dân chúng nước Mỹ. Chắc chắn điều này có thể giải thích được một phần bởi thực tế là không có lực lượng chiến đấu nào của Mỹ ở Ukraine, vì vậy có vẻ như tất cả những gì chúng ta đang mạo hiểm lúc này là chỉ là vũ khí và tài nguyên — trong khi toàn bộ gánh nặng của cuộc chiến đều do người Ukraine gánh chịu.

Nhưng có một cách giải thích khác, ngay cả khi đó là cách giải thích mà hầu hết người Mỹ có thể không nói rõ ra và nhiều người chỉ có thể miễn cưỡng đồng ý.

Ở một mức độ sâu xa nào đó, mọi người Mỹ đều biết rằng thế giới chúng ta đang sống ngày nay đang ổn định nhờ có sức mạnh của Mỹ. Điều đó không có nghĩa là chúng ta luôn biết sử dụng sức mạnh của mình một cách khôn ngoan, chúng ta cũng không thể thành công nếu không có các đồng minh. Nhưng trong phạm vi mà chúng ta đã sử dụng sức mạnh của mình một cách khôn ngoan và phối hợp với các đồng minh, chúng ta đã xây dựng và bảo vệ một trật tự thế giới tự do kể từ năm 1945, vốn mang lại lợi ích to lớn cho chúng ta — cả về kinh tế và địa chính trị.

Đây là một trật tự trong đó các cường quốc độc đoán như Đức Quốc xã, đế quốc Nhật Bản hay Nga và Trung Quốc hiện đại không được phép tự do nuốt chửng các nước láng giềng của họ. Và đây là trật tự mà nhiều nền dân chủ có thể phát triển hơn bao giờ hết, và là nơi thị trường tự do và thương mại mở đã giúp nhiều người dân thoát khỏi đói nghèo hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử thế giới. Trật tự này không phải lúc nào cũng hoàn hảo — nhưng trong một thế giới mà sự hoàn hảo không bao giờ có trong thực đơn, trật tự này đã tạo ra gần 80 năm mà không có một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc nào, vốn có thể gây bất ổn cho toàn thế giới.

Duy trì trật tự tự do này là logic cơ bản đã khiến Mỹ và các đồng minh NATO của họ giúp Kyiv lật ngược cuộc xâm lược “em phải cưới anh hoặc anh sẽ giết em” của Putin vào Ukraine – cuộc tấn công dữ dội đầu tiên của một quốc gia ở châu Âu chống lại một quốc gia khác kể từ Thế chiến II.

Bây giờ là tin xấu. Trong năm đầu tiên của cuộc chiến này, Mỹ và các đồng minh có được một thời gian tương đối dễ dàng. Chúng ta có thể gửi vũ khí, viện trợ và thông tin tình báo – cũng như áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Moscow – và người Ukraine sẽ làm phần việc còn lại, hủy diệt quân đội của Putin và đẩy lực lượng Nga trở lại miền Đông Ukraine.

Tôi không nghĩ rằng năm thứ hai sẽ dễ dàng như vậy.

Giờ thì rõ ràng là Putin đã quyết định đặt cược gấp thếp, với lệnh tổng động viên trong những tháng gần đây có thể lấy thêm 500.000 tân binh để chuẩn bị một cuộc tấn công mới vào dịp kỷ niệm một năm của cuộc chiến. Số lượng quân lớn rất quan trọng trong chiến tranh – ngay cả khi số lượng quân đó bao gồm một số lượng lớn lính đánh thuê, tù nhân và lính nghĩa vụ chưa qua đào tạo.

Về cơ bản, Putin đang nhắn nhủ với Biden: Tôi không thể để thua cuộc chiến này và tôi sẽ trả bất cứ giá nào và chịu bất kỳ gánh nặng nào để đảm bảo rằng tôi sẽ chiếm được một phần Ukraine để có thể biện minh cho những tổn thất của mình. Còn bạn thì sao, Joe? Còn những người bạn châu Âu của bạn thì sao? Bạn đã sẵn sàng trả bất cứ giá nào và chịu bất kỳ gánh nặng nào để duy trì “trật tự tự do” của mình chưa?

Điều này sẽ trở nên đáng sợ. Và bởi vì chúng ta đã trải qua gần một thế hệ không có chiến tranh giữa các cường quốc, rất nhiều người đã quên mất điều gì đã tạo nên kỷ nguyên hòa bình lâu dài của các cường quốc.

Trong khi tôi lập luận trong cuốn sách “Chiếc Lexus và cây ô liu” xuất bản năm 1999 rằng sự bùng nổ lớn của kinh doanh, thương mại và kết nối toàn cầu đóng vai trò quan trọng trong kỷ nguyên hòa bình bất thường này, tôi cũng lập luận rằng “bàn tay ẩn giấu của thị trường sẽ không bao giờ hoạt động nếu thiếu một nắm đấm – McDonald’s không thể phát triển nếu không có McDonnell Douglas, người chế tạo máy bay F-15.” Ai đó sẽ cần phải giữ trật tự và thực thi các quy tắc.

Đó là nước Mỹ, và tôi tin rằng vai trò đó sẽ được thử thách nhiều hơn bao giờ hết kể từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Chúng ta vẫn sẵn sàng cho thử thách này chứ?

Có một cuốn sách mới quan trọng đã đặt thách thức này trong bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn. Trong “Bóng ma trong bữa tiệc: Nước Mỹ và sự sụp đổ của trật tự thế giới, 1900-1941,” nhà sử học Robert Kagan của Viện Brookings lập luận rằng bất cứ điều gì khiến người Mỹ ưa chuộng chủ nghĩa biệt lập có là gì đi nữa, thì thực tế là, trong hơn một thế kỷ qua, đa số trong số họ đã ủng hộ việc sử dụng sức mạnh của Mỹ để định hình một trật tự thế giới tự do giữ cho thế giới nghiêng về các hệ thống chính trị cởi mở và thị trường mở tại nhiều nơi hơn theo nhiều cách hơn trong nhiều thời gian hơn — đủ để giữ cho thế giới không trở thành một khu rừng nhiệt đới Hobbesia.

Tôi đã gọi cho Kagan và hỏi ông ấy tại sao ông ấy coi cuộc chiến Ukraine không phải là thứ mà chúng ta đã vấp phải mà là sự mở rộng tự nhiên của vòng cung chính sách đối ngoại kéo dài hàng thế kỷ này của Mỹ mà ông ấy đang viết về nó. Câu trả lời của Kagan sẽ an ủi một số người và khiến những người khác khó chịu, nhưng điều quan trọng là phải có cuộc thảo luận khi chúng ta bước vào năm thứ hai của cuộc chiến này.

“Trong cuốn sách của tôi,” Kagan nói, “tôi trích dẫn từ bài diễn văn Thông điệp Liên bang năm 1939 của Franklin Roosevelt. Vào thời điểm mà an ninh của Mỹ chưa hề bị đe dọa — Hitler vẫn chưa xâm chiếm Ba Lan và sự sụp đổ của nước Pháp gần như không ai tưởng tượng được — Roosevelt khẳng định rằng có những lúc ‘trong công việc của con người khi họ phải chuẩn bị để bảo vệ không chỉ nhà của họ, mà còn phải bảo vệ các nguyên lý của đức tin và nguyên lý của nhân loại mà các giáo hội, chính phủ và chính nền văn minh dựa trên đó.’ Trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới và trong suốt Chiến tranh Lạnh, người Mỹ đã hành động không phải để tự vệ ngay lập tức mà để bảo vệ thế giới tự do trước những thách thức từ các chính phủ độc tài quân phiệt, giống như họ đang làm ngày nay ở Ukraine.”

Nhưng tại sao lại ủng hộ Ukraine trong cuộc chiến này không chỉ vì lợi ích chiến lược của chúng ta mà còn phù hợp với các giá trị của chúng ta?

“Người Mỹ liên tục đấu tranh để dung hòa những cách giải thích trái ngược nhau về lợi ích của họ – một bên tập trung vào an ninh của quê hương và một bên tập trung vào việc bảo vệ thế giới tự do bên ngoài bờ biển nước Mỹ. Điều đầu tiên phù hợp với sở thích của người Mỹ là được để yên và tránh các chi phí, trách nhiệm và gánh nặng đạo đức khi thực thi quyền lực ở nước ngoài. Điều thứ hai phản ánh sự lo lắng của họ với tư cách là những người theo chủ nghĩa tự do về việc trở thành thứ mà Roosevelt gọi là ‘hòn đảo đơn độc’ trong một biển các chế độ độc tài quân phiệt. Sự dao động giữa hai quan điểm này đã tạo ra những cú đánh lặp đi lặp lại trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong thế kỷ qua.”

Kagan nói thêm, các nhà lý thuyết quan hệ quốc tế “đã dạy chúng ta xem ‘lợi ích’ và ‘giá trị’ là khác biệt, với ý tưởng rằng đối với tất cả các quốc gia, ‘lợi ích’ – nghĩa là các mối quan tâm vật chất như an ninh và phúc lợi kinh tế – nhất thiết phải chiếm ưu thế hơn các giá trị. Nhưng trên thực tế, đây không phải là cách các quốc gia ứng xử. Nước Nga sau Chiến tranh Lạnh đã được hưởng mức an ninh cao hơn ở biên giới phía tây so với bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử của nước này, ngay cả với sự mở rộng của NATO. Tuy nhiên, Putin sẵn sàng làm cho nước Nga trở nên kém an toàn hơn để thực hiện các tham vọng cường quốc truyền thống của Nga, vốn liên quan nhiều đến danh dự và bản sắc hơn là an ninh”. Điều này dường như cũng đúng với Chủ tịch Tập Cận Bình khi đề cập đến việc lấy lại Đài Loan.

Tuy nhiên, điều thú vị cần lưu ý là ngày càng có nhiều đảng viên Cộng hòa, ít nhất là ở Hạ viện và trên Fox News, không tin vào lập luận này, trong khi một tổng thống Dân chủ và Thượng viện của ông ta lại ủng hộ. Có gì ở đây vậy?

“Các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại của Mỹ không bao giờ chỉ là về chính sách đối ngoại,” Kagan trả lời. “Những người theo chủ nghĩa biệt lập trong những năm 1930 chủ yếu là những người theo Đảng Cộng hòa. Nỗi sợ hãi lớn nhất của họ, hoặc họ tuyên bố như vậy, là Roosevelt đang lãnh đạo đất nước theo chiều hướng chủ nghĩa cộng sản. Do đó, trong các vấn đề quốc tế, họ có xu hướng thông cảm với các cường quốc phát xít hơn là những người theo Đảng Dân chủ tự do. Họ nghĩ tốt về Mussolini, phản đối việc hỗ trợ Đảng Cộng hòa Tây Ban Nha chống lại phát xít Franco được Đức Quốc xã hậu thuẫn và coi Hitler như một bức tường thành hữu ích chống lại Liên Xô.

“Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi ngày nay rất nhiều đảng viên Cộng hòa bảo thủ có thiện cảm với Putin, người mà họ coi là nhà lãnh đạo của cuộc thập tự chinh chống lại tự do trên quy mô toàn cầu. Cần nhắc nhở Kevin McCarthy rằng Đảng Cộng hòa đã bị hủy hoại về mặt chính trị bởi sự phản đối của họ đối với Thế chiến thứ hai và chỉ có thể hồi sinh bằng cách bầu Dwight Eisenhower, người theo chủ nghĩa quốc tế vào năm 1952.”

Tuy nhiên, cũng có nhiều tiếng nói từ cánh tả đang đặt câu hỏi một cách chính đáng: Có thực sự cần phải mạo hiểm trong Thế chiến III để đẩy Nga ra khỏi miền Đông Ukraine? Chẳng phải bây giờ chúng ta đã làm tổn thương Putin nặng nề đến mức ông ta sẽ không sớm thử lại một điều gì đó như việc đánh Ukraine nữa sao? Đã đến lúc cho một thỏa thuận bẩn thỉu chưa?

Vì tôi nghi ngờ rằng câu hỏi này sẽ là trung tâm của cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại của chúng ta vào năm 2023, nên tôi đã yêu cầu Kagan bắt đầu tranh luận.

Ông nói: “Bất kỳ cuộc đàm phán nào khiến lực lượng Nga ở lại trên đất Ukraine sẽ chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn tạm thời trước nỗ lực tiếp theo của Putin. “Putin đang trong quá trình quân sự hóa hoàn toàn xã hội Nga, giống như Stalin đã làm trong Thế chiến II. Ông ta sẽ ở trong trạng thái này trong một thời gian dài, và Putin đang trông chờ vào việc Mỹ và phương Tây sẽ trở nên mệt mỏi trước viễn cảnh xảy ra một cuộc xung đột kéo dài – vì cả những người theo chủ nghĩa cô lập cánh tả và cánh hữu tại Viện Quincy và tại Quốc hội đều đã chỉ ra rằng họ đã mệt mỏi lắm rồi.”

“Việc nước Mỹ luôn có sai sót và đôi khi sử dụng sức mạnh của mình một cách ngu ngốc là điều không cần bàn cãi. Nhưng nếu bạn không thể đối mặt thẳng thắn với câu hỏi điều gì sẽ xảy ra trên thế giới nếu Mỹ chỉ bo bo giữ mình, thì bạn đã chẳng đặt ra những câu hỏi khó khăn này một cách nghiêm túc.”

CUỘC TẠO DỰNG MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Hai Tuần V – Mùa Thường Niên

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”.

Franz Joseph Haydn, “Cha đẻ của nền âm nhạc giao hưởng”; “The Creation”, “Tạo Dựng” là một trong những kiệt tác của tác giả. Ngày kia, ông được mời đến Vienna Opera, nơi trình tấu tuyệt phẩm này. Suy yếu vì tuổi tác, Haydn ngồi trên xe lăn. Tác phẩm được hợp tấu, khán giả bị cuốn hút bởi những cảm xúc vô tận. Đến đoạn cao trào “Hãy có ánh sáng!”, ban hợp xướng bùng nổ đến mức mọi người đứng dậy, tiếng vỗ tay như sấm, đến nỗi phần trình tấu phải gián đoạn. Haydn gắng gượng đứng lên, làm hiệu xin mọi người im lặng; và với bàn tay run run, ngón trỏ chỉ lên trời, ông nói, “Không, không! Không phải tôi, nhưng là Ngài, tất cả đã có!”. Sau khi dành sự tôn vinh và chúc khen cho Đấng Tạo Thành, ông ngã ra ghế, kiệt sức và ngất lịm!

Kính thưa Anh Chị em,

“Không! Không phải tôi, nhưng là Ngài”. Cùng với F. J. Haydn, phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiết lộ, không chỉ một mà có đến hai cuộc tạo dựng: một từ nguyên thuỷ; một từ Chúa Giêsu. Thế nhưng, nói, “Tất cả những ai chạm tới Ngài, đều được khỏi”. Không chỉ chữa phần xác, Chúa Giêsu chữa cả phần hồn. Việc chữa lành này được gọi là cứu độ, hay một ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Bài đọc Sáng Thế nói đến những ngày Thiên Chúa tạo dựng! “Hãy có ánh sáng!”; “Hãy có vòm trời!”; “Hãy có những vật sáng trên vòm trời!”. Qua những buổi chiều và những buổi sáng, Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ niềm hân hoan, “Công trình Chúa làm Chúa được hân hoan”. Như người mẹ chuẩn bị mọi thứ cho đứa con, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì có thể trước khi tạo dựng con người. Và như thế, mỗi ngày, khi hít thở, vui hưởng ánh sáng, sử dụng những gì Chúa ban… con người sờ đụng Thiên Chúa, sờ đụng huyền nhiệm!

Vậy mà, Thiên Chúa không chỉ tạo dựng, nhưng trong Chúa Giêsu, Ngài còn cứu độ. Marcô mô tả, “Dân chúng rảo chạy khắp miền; nghe tin Người ở đâu thì khiêng những kẻ đau yếu nằm trên chõng đến đó”. ‘Rảo chạy’ có nghĩa là ‘bước những bước ngắn vội vã’, ‘chạy tới chạy lui’; nhưng họ chạy, chỉ để mang đến những con người muốn được lành phần xác; điều này khá dễ dàng, vì họ chỉ cần chạm đến gấu áo Ngài. Vậy mà Chúa Giêsu lại ước ao chữa lành một điều gì đó quan trọng hơn, bên trong hơn; Ngài muốn chữa lành linh hồn. Để một khi linh hồn được chữa lành, thì việc lành lặn nội tâm này mang một tên gọi khác, “cứu độ”, ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Anh Chị em,

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”. Như F. J. Haydn nói, “Với Ngài, tất cả đã có!”. Nhưng với Chúa Giêsu, “Tội anh được tha!”; “Chị hãy về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!”; “Hãy theo tôi!”; “Hãy xuống mau!”, thì với Ngài, đây là những ‘cuộc tạo dựng mới!’. Mỗi khi chữa lành bên trong một ai, mọi người vui mừng nhìn Chúa Giêsu; thế nhưng, như Haydn, Ngài cũng sẽ chỉ ngón trỏ lên trời và nói, ‘Không! Không phải Tôi! Nhưng là Cha, tất cả đã có!”. Không chỉ ngửa ra ghế, Ngài đã gục xuống trong mồ ba ngày và nay chôn mình trong các nhà chầu, trở nên của ăn nuôi sống bạn và tôi. Ngài mong chữa lành chúng ta, hẫu mỗi người thêm chất Chúa, bớt chất người; và “qua những buổi chiều và những buổi sáng”, Ngài tiếp tục làm những gì có thể để mỗi ngày có thêm những ‘cuộc tạo dựng mới’ đáng ao ước nhất! Như con nhộng xấu xí được lột xác, bạn và tôi, nhờ Ngài, ngày kia sẽ bay lên như những con bướm đẹp xinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành nội tâm con, hầu con trở nên ‘một tạo vật mới’, một tạo vật đã chuyển mình, biến đổi, lột xác bằng ‘cuộc tạo dựng mới’; và bấy giờ, con cũng có thể bay lên!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Chữ Nôm trong hành trình di sản văn hóa dân tộc

Chữ Nôm trong hành trình di sản văn hóa dân tộc

Truyện Kiều một tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Du (bản in năm 1926 tại Pháp). Nguồn: sưu tầm

  1. Chữ Hán:

Muốn biết chữ Nôm hình thành ra sao thì việc đầu tiên là phải biết nguồn gốc của chữ Hán.

Theo Lý Lạc Nghị trong cuốn sách “Tìm về cội nguồn của chữ Hán”: “Chữ Hán hay Hán tự (漢字) là loại văn tự ngữ tố xuất phát từ tiếng Trung Quốc. Chữ Hán sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, tạo thành vùng được gọi là vùng văn hóa chữ Hán hay vùng văn hóa Đông Á. Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước. (1)

Trong các thư tịch, tiếng Hán được viết trước thời nhà Tần còn lưu truyền được đến ngày nay. Dựa trên các hiện vật khai quật được, chữ viết trên các mảnh xương thú vật được gọi là chữ giáp cốt, các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng chữ viết (Hán) ở Trung Hoa ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800 năm trước Công nguyên.

Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ như: Giáp cốt văn → Kim văn → Triện thư → Lệ thư → Thảo thư → Khải thư → Hành thư”.

Cũng theo Lý Lạc Nghị, ngày nay ở Trung Quốc đại lục, bộ chữ giản thể (简体字) đã thay thế cho bộ chữ phồn thể (繁體字). Công cuộc cải cách chữ viết được thực hiện sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập (1949). Tháng 10 năm 1954 tại đại lục thành lập ủy ban cải cách chữ viết (中国文字改革委员会), cuộc cải cách nhằm đơn giản hóa chữ Hán để quần chúng nhân dân dễ dàng học biết chữ, xóa mù chữ, thống nhất nhân tự trên các khu vực vốn dĩ có nhiều khác biệt do điều kiện địa lí và lịch sử, đồng thời thúc đẩy việc dạy và học tiếng Hán đối với người nước ngoài. Các khu vực ngoài đại lục như Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao, và cộng đồng người Hoa ở hải ngoại hay các khu vực có sử dụng tiếng Hán như Singapore tiếp tục sử dụng chữ phồn thể, tuy nhiên cũng có những cải biến nhất định. (2)

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và tiếng Hán được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo cụ Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố (1889-1947) trong cuốn “Đại Nam Dật Sử – Sử ta so với sử Tàu”: “Nước Việt bắt đầu có Hán học khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 – 226) dạy dân Việt thi thư. Trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán”. (3)

Sang thời kỳ tự chủ sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, chữ Hán vẫn giữ địa vị là văn tự chính thức nhưng cách đọc đã phát triển theo hướng riêng, khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc, cách phát âm chữ Hán bị chi phối bởi cách phát âm của người Việt, từ đó tạo ra và củng cố dần âm Hán-Việt.

Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết riêng, tức chữ Nôm. Trong khi đó cổ văn Hán vẫn được coi là mẫu mực để noi theo.

  1. Chữ Nôm:

Học giả Đào Duy Anh viết trong sách “Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến”: “Chữ Nôm bắt đầu hình thành và phát triển từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20. Tại giai đoạn này, chữ Nôm là công cụ thuần túy Việt Nam duy nhất ghi chép lịch sử, văn hóa dân tộc. Người Việt sáng tạo ra chữ Nôm và dùng để biểu đạt từ thuần Việt, kết hợp với chữ Hán dùng để biểu đạt từ Hán Việt và tạo nên một bộ chữ viết phổ thông cho tiếng Việt lúc đó. Sơ khởi, chữ Nôm thường dùng ghi chép tên người, địa danh, sau đó được phổ cập, tiến vào sinh hoạt văn hóa của quốc gia. Vào thời nhà Hồ ở thế kỷ 14 và nhà Tây Sơn ở thế kỷ 18, xuất hiện khuynh hướng dùng chữ Nôm trong văn thư hành chính. Đối với văn học Việt Nam, chữ Nôm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là công cụ xây dựng nền văn học cổ truyền kéo dài nhiều thế kỷ”. (4)

Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên trở thành Quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý. Gần một ngàn năm sau đó – từ thế kỷ 10 cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 – một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chính được viết bằng chữ Nôm. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, toàn bộ các văn kiện hành chính được viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802.

Những văn bản như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi có xen chữ Nôm khi không thể tìm được một chữ Hán mang nghĩa tương đương chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán-Việt bởi quan niệm sai lầm của giới sĩ đại phu các triều đại: “nôm na là cha mách qué”. Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ, mặc dù đó là công cụ còn chưa chứng tỏ được tính hữu hiệu và phổ dụng của nó so với chữ Hán.

Phạm Huy Hổ trong bài “Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào” cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ “bố cái” trong cụm từ “Bố Cái đại vương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ 8. Có ý kiến khác lại dựa vào chữ “cồ” trong quốc danh “Đại Cồ Việt” để đoán định chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu những năm 90 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán-Việt đã đi tới khẳng định âm Hán-Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời Đường, Tống thế kỷ 8-9. Nếu âm Hán-Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi hình thành cách đọc Hán-Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) mà chỉ có thể ra đời sau thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938.

Theo sách “Long cương văn tập” của Cao Xuân Dục, phải đến cuối thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương mới đưa ra những quy định pháp lý bảo hộ chữ Latinh cho tiếng Việt thay thế chữ Hán và chữ Nôm, kể từ đó chữ Latinh cho tiếng Việt bắt đầu được gọi là chữ Quốc ngữ. Sang thế kỷ XX, người Pháp cho mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ ra Bắc Kỳ. Sau khi chữ quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Để tạo điều kiện cho chữ Quốc Ngữ phát triển, chính quyền thực dân Pháp khi đó đã có chính sách cấm dùng chữ Nôm trong bộ máy hành chính Nam Triều. (5)

Ngày nay, trên thế giới có rất ít người đọc được chữ Nôm. Bởi vậy, khối tài liệu Hán-Nôm của khoảng 10 thế kỷ đang bảo quản trong các cơ quan lưu trữ, các thư viện bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu lịch sử, sách báo… chưa được khai thác hết.

Khoa Hán-Nôm của các trường đại học khoa học xã hội ngày nay vẫn đang đào tạo các cử nhân Hán-Nôm để thực hiện nhiệm vụ làm cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai dân tộc để hạn chế sự đứt gãy lịch sử này.

Tài liệu tham khảo

(1), (2). Lý Lạc Nghị, Tìm về cội nguồn của chữ Hán. nxb Thế giới, HN, 1997.

(3). Nguyễn Văn Tố, Đại Nam Dật Sử – Sử ta so với sử Tàu, nxb. KHXH, HN, 2019.

(4). Đào Duy Anh, Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, nxb HN, 1975.

(5). Cao Xuân Dục, Long cương văn tập. nxb Lao Động, HN, 2012.

Nguyễn Xuân Vượng (Tổng hợp & Giới thiệu)

Căn Cước Công Dân của Hàn Quốc phải ghi chú thêm họ & tên bằng chữ Hán.

Nhật Duy 

Bình luận của Nhật Duy :

Việt Nam rất may mắn so với dân Hàn Quốc (xem bài viết bên dưới) vì có chữ quốc ngữ La Tin hoá do các linh mục, tu sĩ Công giáo người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Pháp như cha Alexader De Rhodes và cha Francisco De Pina vào VN thời Chúa Trịnh những năm 1500 giảng đạo và sáng chế ra chữ quốc ngữ La Tin hoá sử dụng tiện lợi gần 150 năm thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm rất khó học, lại bất tiện.

Thế nhưng VC và những thằng thầy chùa cực đoan như Thích Nhật Từ, sử gia cộng sản Nguyễn Đắc Xuân… vô ơn với các nhà truyền giáo kể trên. Không có họ thì dân VN và tụi VC còn hú tiếng Hán của Tàu.

————-

ĐỂ HIỂU RÕ TÊN CỦA MÌNH, trong Căn Cước Công Dân của Hàn Quốc phải ghi chú thêm họ & tên bằng chữ Hán.

Tiếp theo phần trước “CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHỮNG ĐỨT GÃY VĂN HÓA”. Các nước Đồng Văn như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc chịu ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa cả ngàn năm nên việc sử dụng chữ Hán không có gì xa lạ. Bán đảo Triều Tiên là chư hầu của TQ trong một thời gian dài, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa TQ nên người Hàn Quốc mặc dù nói tiếng Hàn nhưng không có chữ riêng mà họ viết bằng chữ Hán, nhưng vì chữ Hán khá khó nên lúc bấy giờ chỉ có các quan văn võ, nho sĩ mới có cơ hội học chữ Hán, còn dân thường hầu như không biết chữ.

Năm 1443, để xóa nạn mù chữ và phổ biến việc học chữ, vua “Sejong 세종” của triều đại Joseon đã tạo ra 24 ký tự với 14 phụ âm và 10 nguyên âm mà chủ yếu được viết bằng các khối âm tiết gồm 2 đến 5 thành phần. Khác với chữ Hán là chữ biểu ý tượng hình, Chữ Triều Tiên là chữ biểu âm (giống như Kana hay chữ Quốc ngữ VN). Điều đó có nghĩa là, nếu người Việt đọc chữ 男 là “nam”, viết theo chữ Quốc ngữ là “n + a + m = nam” thì người Triều Tiên cũng phát âm là “nam” và viết theo chữ Triều Tiên là ㄴ(n) + ㅏ(a) + ㅁ(m) = 남(nam) .

Mặc dù vua Sejong đã phát minh ra chữ Triều Tiên nhưng mục đích chính vào thời điểm đó không phải là “bài trừ chữ Hán”, mà là tạo ra một chữ viết mà mọi người có thể giao tiếp dễ dàng và có thể viết “tiếng Hàn thuần túy” ( Do đó, trong năm trăm năm kế tiếp, các tài liệu và ấn phẩm chính thức của Hàn Quốc, để phấn đấu cho độ chính xác, vẫn chủ yếu sử dụng chữ Hán và chữ Hàn chỉ là công cụ phụ trợ cho chữ Hán.

Cho đến năm 1906, 1 nhà ngôn ngữ học Ju Si-gyeong đã đưa ra học thuyết “Hàn Văn Độc Tôn Luận”, ông cho rằng các ký tự Trung Quốc là ký tự nước ngoài và Hàn Quốc nên đánh thức ý thức dân tộc thông qua việc bản địa hóa chữ Hàn. “Hàn Văn Độc Tôn Luận” của Ju Si-gyeong bắt đầu được thực hiện sau khi Hàn Quốc độc lập vào năm 1945. Kể từ đó, chính phủ Hàn Quốc đã phát động ba chiến dịch liên tiếp để loại bỏ chữ Hán .

Chữ Hán xuất hiện trong Căn Cước Công Dân của người Hàn : Thế hệ trẻ ở Hàn Quốc hiện nay gần như không hiểu gì về chữ Hán, sách báo cổ trong thư viện phải dịch lại sang chữ Hàn. Ngoài ra, do tiếng Hàn ngày nay được trình bày dưới dạng bính âm nên có nhiều cách phát âm giống nhau nhưng chúng có thể tương ứng với nhiều chữ Hán, ví dụ chữ “jung” được hiểu nôm na rất nhiều nghĩa tiếng Hán như 重、仲、中、眾 ; chữ “jae” được hiểu nôm na rất nhiều nghĩa tiếng Hán như 再、載、宰、才、栽、災 ; chữ “sa” được hiểu nôm na đến hơn có tới 54 chữ Hán, khiến người Hàn Quốc ghi chú thêm “họ và tên” bằng chữ Hán vào Căn Cước Công Dân của họ để tránh nhầm lẫn ý nghĩa “họ và tên”.

Sau khi TT Kim Dea-Jung (Kim Đại Trung) lên nắm quyền vào năm 1998, ông đã ban hành “Tuyên ngôn phục hồi chữ Hán”, khuyến khích học sinh học thêm chữ Hán. Năm 2009, “Liên đoàn xúc tiến giáo dục chữ Hán toàn quốc” , được thành lập bởi 20 cựu thủ tướng của Hàn Quốc, đã cùng đệ trình một đề xuất lên Nhà Xanh, ủng hộ việc Hàn Quốc nên bắt đầu dạy chữ Hán ở các trường tiểu học. Ngoài ra, 5 tổ chức kinh tế lớn của Hàn Quốc cũng đề nghị 190.000 công ty của họ phải vượt qua bài kiểm tra chữ Hán khi tuyển dụng nhân viên.

Mặc dù hiện nay ở Hàn Quốc, học chữ Hán vẫn chỉ là môn học tự chọn ở các trường trung học, nhưng hiện nay nhiều trường đại học Hàn Quốc quy định sinh viên phải đạt chứng chỉ chữ Hán cấp 2 hoặc vượt qua kỳ thi kiểm tra chữ Hán do trường tổ chức trước khi tốt nghiệp. Trong quá trình tuyển dụng nhân viên, các công ty lớn như Tập đoàn Samsung sẽ cộng thêm điểm cho những ứng viên có chứng chỉ trình độ chữ Hán.

…

Nguồn: Facebook An Nhiên

DI TÍCH TỬ ĐẠO GIỮA LÒNG SÀI GÒN

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

DI TÍCH TỬ ĐẠO GIỮA LÒNG SÀI GÒN

Thánh Tử đạo Việt Nam:

Thánh: MATTHÊU LÊ VĂN GẪM (1813 – 1847)

Tại : Giáo xứ Chợ Đũi , Giáo hạt Tân Định, Tổng Giáo phận Sài Gòn Chợ Quán

Địa chỉ : 47D, Nguyễn Trãi, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Ngày 11.05.1847, vào lúc 15:00 chiều, Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm đã bị trảm quyết và chết tại nơi đây, vì Đức Tin vào Đức Kitô.
  • Ngày 27.09.1857, Đức Giáo hoàng Piô XI tôn Ngài lên Bậc Đáng kính.
  • Ngày 27.05.1900, Đức Giáo hoàng Lêô XIII tôn phong Ngài lên bậc Chân phước Á thánh.
  • Ngày 19.06.1988, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Ngài lên bậc Hiển thánh cùng với 116 thánh Tử đạo tại Việt Nam

Nên minh bạch lý do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc từ chức

Báo Tiếng Dân

Huy Đức

5-2-2023

“Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp Giám đốc Việt Á”. Ông Nguyễn Xuân Phúc đã sử dụng cơ hội cuối cùng trong Phủ Chủ tịch để gửi tới toàn dân lời thanh minh. Nếu “điều này đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKT) kết luận” như tuyên bố của ông, thì UBKT Trung ương hoặc Ban Bí thư nên là bên đứng ra công bố, “đập tan” những “luận điệu” gọi bà Trần Thị Nguyệt Thu là “trùm cuối”.

Và tất nhiên, UBKT cũng nên cho dân chúng biết 3 vụ bắt giam: Phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam Trần Văn Tân (tối 31-12-2022); Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Bạch Thùy Linh (tối 4-1-2023). Đặc biệt, Thủy và Linh đã “lợi dụng ảnh hưởng” của ai mà có thể “can thiệp, tác động lãnh đạo một số Bộ, ngành tạo điều kiện giúp Công ty Việt Á”.

Hẳn nhiều người còn nhớ: Chủ tịch nước hôm 16-11-2022 còn rạng rỡ bên cạnh phu nhân trong chuyến thăm Thái Lan; chiều 1-12-2022, báo chí còn đăng thông cáo của Bộ Ngoại Giao nói, 4 đến 6-12, “Chủ tịch nước sẽ thăm Hàn Quốc cùng phu nhân” nhưng tối hôm đó thì thông tin “cùng phu nhân” đã không còn nữa. Hai chuyến công du cuối cùng của ông “không có Thu”.

Danh dự của một nguyên thủ quốc gia là rất quan trọng nhưng dân chúng không chờ một lời thanh minh, không chờ ngay cả một lời xin lỗi mà chờ nghe sự thực. Sự thực về chính sách “Zero Covid”, chủ yếu được ban hành dưới thời Chính phủ của ông.

Bao nhiêu người bệnh Covid đã chết trong các “trại tập trung” thiếu sự chăm sóc vì quá tải. Bao nhiêu ánh mắt khắc khoải vì phút lâm chung không bóng người thân. Bao nhiêu người mắc những căn bệnh khác đã chết vì không thể đến bệnh viện, vì không thể ra ngoài mua thuốc. Bao nhiêu “F1” đã thành “F0” vì bị cách li tập trung trong những cơ sở tạm bợ, đối diện nhiều hơn với nguy cơ lây bệnh.

Dịch bệnh là một thảm họa mà loài người phải đối diện, ngay cả những quốc gia giàu có nhất cũng có hàng triệu người chết. Nhưng, không phải ở quốc gia nào, ngay giữa tâm dịch, dân chúng lại chịu đựng thêm nhiều bi kịch do chính chính sách chống dịch gây ra.

Cuối năm 2020, thế giới đã có vaccine, trước đó một số nhà sản xuất vaccine đã tiếp cận với Chính phủ Việt Nam. Nhưng, cho tới khi kết thúc nhiệm kỳ, Chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn không hề có chiến lược vaccine. Quan sát thảm họa ở TP.HCM và tình hình dịch bệnh lan tới Hà Nội và các địa phương khi đã có vaccine mới thấy, dân chúng TP.HCM đã trả giá cho sự chậm trễ này trong đau đớn.

Thật khó mà quên hình ảnh của những nhà lãnh đạo say sưa với “Zero Covid”, ngạo nghễ với giải cứu, đánh bóng hình ảnh bằng “tự lực vaccine và test kit”.

Ngay bên cạnh Việt Nam, chính phủ Campuchia không điều động đội Airbus 350 hay Boeing 787 đi giải cứu. Nhưng, người Campuchia từ các vùng dịch trở về Phnom Penh chỉ mất 650 USD thay vì phải từ 2.500 – 3.000 USD như “tự hào người dân Việt Nam” [Đấy là con số chính thức trả cho tiền vé].

Tối qua, khi báo chí đưa lời thanh minh của “nguyên chủ tịch nước” Nguyễn Xuân Phúc, một người từng nằm 3 tuần cách li sau nhập cảnh nói, anh không thể nào quên được tiếng gào khóc của một đứa con phải bỏ ra cả trăm triệu bay về vì cha hấp hối, bị giữ ở cơ sở cách li, không có nhà chịu tang cha được.

Những người phải cố chen lên những chuyến bay giải cứu đều đang ở trong những hoàn cảnh ngặt nghèo. Không phải người “xuất khẩu lao động” hay sinh viên nào cũng thuộc gia đình khá giả. Nhiều bậc phụ huynh phải vay mượn để cho con trở về. Họ đâu biết, trong số những đồng tiền mà họ trả cho công cuộc giải cứu đó, phần lớn bị ăn chia. Họ đâu biết, có lợi ích của người phân bổ khách sạn và kéo dài thời gian cách li. Họ đâu biết, hàng triệu người dân bị ngoáy mũi, có người bị phá cửa, còng tay lôi ra… không chỉ để chống dịch mà còn để tăng doanh thu cho Việt Á.

Họ thực sự cần một ông chủ tịch nước bị truất phế đứng ra thanh minh?

Không phải bây giờ quan chức mới tham nhũng và cũng không thể căn cứ vào số quan tham bị xử lý để nói bây giờ tham nhũng nhiều lên hay ít đi. Điều khác là, trước đây tham nhũng an toàn hơn và nay, trong số các quan tham có nhiều người bị bắt.

Tuy nhiên, ở năm thứ năm của công cuộc chống tham nhũng do Tổng bí thư phát động mà tham nhũng vẫn vươn lên đến hàng… tối cao. Ngay trong thảm họa, mà người ta vẫn chia chác trên sinh mệnh của nhân dân. Thì, đó là tội ác chứ không phải đơn giản là tội phạm.

Hẳn nhiều người còn nhớ, ngày 19-11-2009, khi trả lời chất vấn trước Quốc hội về tham nhũng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói, “Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào”.

Tuyên bố trên đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu tượng như tư lệnh phất cờ. “Sâu bọ” từ đấy nhung nhúc, tham nhũng từ đấy phát triển sâu rộng như một tầng “văn hóa”. Không phải tự nhiên nhiều quan chức khi đã đạt đến một vị trí nhất định, tin rằng mình có tham nhũng thì vẫn an toàn.

Việc Nguyễn Tấn Dũng đến nay vẫn chưa phải là mục tiêu của công cuộc “đốt lò” đã gửi đi một thông điệp sai lệch. Đặc biệt, gần đây, khi con gái của Nguyễn Tấn Dũng lấn sông [Rạch Đỉa, Nhà Bè] với một diện tích rộng gấp ba khuôn viên căn biệt thự cô ta sở hữu mà không hề bị chính quyền TP.HCM xử lý, càng gửi đi một thông điệp xấu. Hành vi vi phạm pháp luật này kéo dài hàng năm, báo Tuổi Trẻ phản ánh đã gần ba tháng nhưng chính quyền vẫn không dám triệu tập chủ nhà. Nghe nói, Huyện ủy Nhà Bè cũng chỉ dám có một báo cáo mà không ai đọc được vì “tối mật”.

Lấn chiếm 4.500m2 đất mặt sông là ăn cướp, là chiếm đoạt tài nguyên quốc gia chứ không phải vi phạm đơn thuần hành chánh. Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Nên vẫn được tiếng là giữ gìn khá sạch. Nhưng cương vị của ông không chỉ là giữ gìn trong sạch cho cá nhân. Việc chính quyền của ông bất lực trước “con gái nguyên thủ tướng” và thẳng tay với sai phạm của thường dân, đã nêu một hình ảnh xấu của cả ông và thành phố.

Hành vi coi thường nhà nước của Nguyễn Thanh Phượng và câu chuyện những người phụ nữ xung quanh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho thấy, khi thiết lập ở tầng nấc nào đấy tính chất nửa vời, quan chức sẽ cố ngoi lên những nơi trú ẩn an toàn thay vì thôi tham nhũng.

Làm quan dưới thời Nguyễn Tấn Dũng thật khó để không bị nhem nhuốc. Nhưng hậu Tấn Dũng thì cần phải phân biệt loại quan chức biết sửa mình với loại quan chức vẫn “ăn của dân không từ một thứ gì”. Cần phân biệt những người khi ở cấp thấp cũng có phạm sai lầm nhưng càng lên cao thì càng biết sửa mình, biết khát vọng làm thay đổi hình ảnh cá nhân và quốc gia, với những người tưởng đã chễm chệ ở trên cao thì để quyền lực và lòng tham bịt tai bịt mắt.

Minh bạch lý do bị phế truất của ông Nguyễn Xuân Phúc là rất cần thiết. Nếu ông xin từ chức vì có nhiều cấp dưới bị sai phạm, vì trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, thì trong hệ thống chính trị này, Chủ tịch nước chưa phải là người đứng đầu. Nếu những người xung quanh ông sử dụng ảnh hưởng của ông để trục lợi thì không nên tiễn ông bằng hoa và sụt sùi nước mắt.

Uy tín của một quốc gia không mất vì có nguyên thủ tham nhũng, uy tín quốc gia chỉ mất khi nguyên thủ tham nhũng mà quốc gia bó tay và nhân dân thì chẳng biết đâu là sự thật.

Khi kỷ luật đồng chí của mình, nếu hỏi, ai trong các đồng chí tin mình trong sạch xin hãy giơ tay, sẽ có bao nhiêu người giơ tay? Trong 7 năm qua, tuy đạt được những kết quả không thể không ghi nhận như bắt bớ, kỷ luật hoặc buộc thôi giữ chức hàng trăm cán bộ. Nhưng, gần như chưa có cải cách nào đáng kể, xây dựng trong tương lai một môi trường minh bạch để quan chức không muốn tham nhũng, không phải tham nhũng (cũng sống xứng đáng) và không thể tham nhũng.

Sự kiện Chủ tịch nước bị phế truất càng cho thấy, chúng ta đang vận hành công cuộc chống tham nhũng này với gần như chỉ có một bàn tay sạch. Điều này vui ít, lo nhiều. Vì, bất cứ sự nghiệp quốc gia nào lệ thuộc vào một người, dù đạt được bước tiến như thế nào, rồi cũng có ngày phải bắt đầu lại.

STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, California – U.S.A ) nơi trang 254 có câu: “Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà trong lòng không xúc động thì không còn phải là người cộng sản nữa.”

Tôi hỏi tác giả:

Ông TBT nào nói thế?

– Quảng Cáo –

Bùi Ngọc Tấn cười nụ:

Thì ông nào mà chả nói thế!

Hoá ra, tất cả mọi đồng chí TBT đều thương dân cả. Yêu nước cũng thế, cũng là thuộc tính bất biến của những người Cộng Sản (nói chung) và qúi vị TBT (nói riêng) theo như lời ông Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri – vào hôm 15 tháng 10 năm 2019:

“Hiện nay có một số phần tử cố tình kích động, to tiếng lên, lên gân lên, ra vẻ ta là anh hùng, ra vẻ ta là yêu nước, vậy còn Trung ương Đảng, Chính phủ, Tổng bí thư không yêu nước à? Vô trách nhiệm à?”

Nếu chỉ xét thời gian phục vụ thì quả là đúng thế. Chả thế mà ông Hồ Chí Minh hy sinh làm Chủ Tịch Đảng đến 24 năm trời, ông Lê Duẩn tại vị tới 25 năm, và ông Trường Chinh thì cũng chỉ vì dân vì nước mà phải nhận chức TBT đến hai lần lận.

Nhiệt tình cách mạng của qúi vị lãnh đạo cộng sản VN, rõ ràng, khó ai có thể phủ nhận. Chỉ có cái cách yêu nước và thương dân của họ mới là điều khiến cho thiên hạ phải phàn nàn, hoặc …đảo điên luôn:

Chỉ riêng phong trào Cải Cách Ruộng Đất, do ông Hồ Chí Minh nhập cảng từ nước lạ, đã khiến cho gần trăm ngàn nông dân VN bị hành hình. Ở bình diện quốc tế, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein… ông có tên trong danh sách (History’s Great Monsters) tội phạm chống lại nhân loại.

Ông Lê Duẩn cũng thế, cũng có tên trong danh sách tội phạm chống lại nhân loại ở mức đại trà (massive crimes against humanity). Ông nổi tiếng là người chủ chiến: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc …”

Cùng với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ, Lê Duẩn còn đánh luôn đồng đảng cho đến mức te tua hay bầm dập. Dù cả hai ông đều đã chết, chiến tích của Cuộc Đấu Tranh Chống Bọn Xét Lại vẫn còn sống âm ỉ trong lòng nhiều người dân Việt cho mãi đến hôm nay.

Tuy thời gian giữ chức TBT không dài nhưng ông Đỗ Mười vẫn để lại dấu ấn khó phai, qua hai trận đánh đẹp, có thể ghi thành sách: đánh tư sản ở miền Bắc (sau 1954) và ở miền Nam (sau 1975) khiến hằng triệu lương dân kẻ phải lâm vào cảnh tán gia bại sản.

Ngoài những thành tích dị biệt có tính cách cá nhân (thượng dẫn) điểm chung nổi bật trong cách quản trị và điều hành của tất cả các ông TBT là đều khiến cho đất nước trở nên … thiếu thốn và đói rách:

– Một năm hai thước vải thô

Làm sao che nổi cụ Hồ hỡi em?

– Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, muối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai

Tất cả những gì người có thể nhai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại (NCT)

Thời chiến hay thời bình “miếng thịt” cũng đều như thế cả. Có khác chăng là chỉ ở mức độ “vĩ đại” mà thôi. Tuy thế, mãi cho đến khi giữ chức vụ TBT lần hai – từ năm 1986 cho đến khi nhắm mắt – Trường Chinh mới biết là “lương của công nhân viên chức chỉ đủ để sống cho mười ngày” và bèn hô hoán:“Phải cứu giai cấp công nhân!”

Trường Chinh qua đời vào năm 1988, một phần ba thế kỷ đã qua, đất nước đã “sang tay” thêm nhiều đời TBT (thương dân – yêu nước) khác nhưng giai cấp công nhân vẫn chưa … được cứu. Họ vẫn cứ phải chung đủ “14 loại thuế phí qua một quả trứng gà” y như đám nông dân, hay công nhân viên nhà nước vậy thôi.

Nét đặc thù hay độc đáo của triều đại Nguyễn Phú Trọng là đã tạo ra một giai cấp mới mà ông là … tác nhân chính:

“Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội “thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Từ đó, Việt Nam trở nên một “cường quốc của dân oan.” Giới người này vật vạ, la lết, lang thang, vất vưởng trên khắp mọi nẻo đường đất nước hoặc “co dúm thút thít” trong mảnh đất (còn lại) mà diện tích chỉ đủ dựng một túp lều, kỳ dư đã bị thu hồi với giá đền bù “mỗi m2 bằng giá một… cốc bia” – theo như ghi nhận của blogger Đào Tuấn.

Từ Thủ Thiêm, dân oan Nguyễn Thùy Dương cho biết:

Người đàn ông trong ảnh đang ngủ dưới nền đường nhựa nhỏ. Bà con có biết vị trí đó là ở đâu không ạ ? Đó là trước con đường độc đạo đi vào cổng Thanh Tra Chính Phủ cụm 3 tại thành phố Hồ Chí Minh. Để tôi kể bà con nghe vài kiếp người ở con đường độc đạo ấy .

Có một bà ngoại già hơn 80 tuổi sáng nào cũng đeo tấm bảng đòi nhà hơn chục năm qua . Bà là dân vô gia cư mất nhà do một chính sách chỉ có chính và sách là chính còn chữ tình thì tôi chưa thấy .

Một cô giáo đã nghỉ dạy sẽ ngồi kế bên bà ngoại. Trên ngực cô cũng đeo một tấm bảng đòi nhà, đòi con. Ở chế độ cũ gia đình cô thành lập trường tư thục ngay trên chính mảnh đất của mình. Thống nhất đất nước, chính sách thay đổi. Đất làm trường toàn bộ thuộc đất công. Họ thu hồi đất cô, cô ko đồng ý. Một buổi sáng năm 1997 trong lúc cô đang dạy học, Họ kéo rất đông đến nhà cô cưỡng chế.

Con trai cô lên 9 tuổi bị bệnh nên nằm nghỉ ở nhà. Họ vẫn mặc đứa trẻ, họ lao vào cưỡng chế. Đứa trẻ sợ quá lên cơn co giật đến khi mẹ về nó đã nằm đó. Người nó nóng ấm dịu trên tay mẹ. Cô ôm con gào thét. Họ vẫn cưỡng chế. Họ đền nhân mạng đứa nhỏ vài chục triệu rồi lấy nhà. Hơn 20 năm nếu đứa trẻ ngày ấy còn sống có lẽ đã trở thành một thanh niên vạm vỡ làm chỗ dựa cho mẹ già.

Câu nói của cô từng ám ảnh tôi:

– Sao họ ko giết cô chết luôn để cô sống chi mà đau khổ vậy? Cô muốn ôm con cô

Tôi cười với cô, nói: Cô ôm con một cái được không?

Cô ôm tôi rồi khóc, tôi vừa dỗ cô cũng vừa khóc. Cảm giác mình bất lực đến tận cùng…

Thỉnh thoảng có một cô người đen đủi đội nón lá, ngực đeo tấm bảng trình bày nỗi oan khuất. Cô bị cướp đất, bỏ tù. Ra tù về đất mất, vô gia cư. Cô ngày chửi, trưa chửi, tối chửi. Vừa đi nhặt ve chai kiếm đồng tiền đắp đổi. Muốn biết lòng người lãnh đạo hãy nhìn số lượng dân oan sẽ rõ. Đừng hỏi ai yêu nước, ai không?

Khi Lenin nói rằng lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng sự phá hoại – xem chừng – chính y cũng không thể ngờ được rằng tác phẩm bất hủ (Chủ Nghĩa Marxist Leninist Vô Địch Muôn Năm) của mình sẽ tạo ra một cái cơ chế “ghế ít đít nhiều” nên cái đít nó nhớ cái ghế, thế thôi, chứ có thằng (hay con) mả mẹ nào có nhiệt tình hay nhiệt huyết gì ráo trọi.

MÔ HÌNH CHAT GPT

Quyền Được Biết

Lộc Dương

Sáng 13 tết, ngày độc, mấy chú cháu hắn đi tắm biển ở Ninh Chữ, Phan Rang.

Trên đường đi, thằng cháu hắn nói chuyện về một trang web có tên là OpenAI (Trí tuệ nhân tạo mở). Trang này đang xây dựng một mô hình đối thoại thông minh có tên là ChatGPT. Không những ChatGPT có thể trả lời mọi câu hỏi được đặt ra, mà nó còn có khả năng chỉnh sửa lại những tư duy sai trái mà trước nay người ta cứ nghĩ là đúng.

Nghe hấp dẫn quá, cộng thêm lòng yêu đảng đầy ắp trong tim, hắn mới lim dim mắt tự hào bảo cháu hắn thử hỏi ChatGPT xem: Ai đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng? Không ngờ ChatGPT trả lời hết sức cà chớn: “Không có ai cho ta mùa xuân đầy ước vọng. Mùa xuân là một chu kỳ tự nhiên của năm, và ước vọng là một cảm xúc và suy nghĩ của riêng mỗi cá nhân…”

Thế có láo không cơ chứ. Từ thuở bé hắn đã được dạy dỗ rằng chỉ có đảng mới cho ta mùa xuân. Rằng đảng và mùa xuân dính chặt vào nhau giống như da thịt người bị tạt át xít, không thể tách rời ra được. Nhắc tới mùa xuân mà không nhắc tới đảng thì cũng như ăn thịt chó mà không có mắm tôm. Nhạt thếch thì nuốt làm sao?

Hắn tức lắm, bèn bảo cháu hắn hỏi thêm câu: Vậy ai đã cho ta sáng mắt, sáng lòng? Ngay lập tức ChatGPT trả lời còn cà chớn hơn: “Không có ai cho chúng ta sáng mắt, sáng lòng. Sáng mắt và sáng lòng là kết quả của quá trình học hỏi và trải nghiệm của mỗi cá nhân….”

Nghe tới đây hắn muốn điên lên. Làm sao có thể phủ nhận vai trò của đảng trên diện rộng như vậy. Không có đảng thì làm sao ta có tập đoàn Vượng Vin, làm sao có dự án Nhà Hát Giao Hưởng cao cấp cho dân nghe trên đất khổ Thủ Thiêm? Không có đảng thì mùa Covid vừa qua lấy đâu ra kít test Việt Á để ngoáy mũi nhân dân và không có đảng, ai sẽ bay vào tâm bão để thực hiện các chuyến bay giải cứu?

Hắn giận lắm. Lòng yêu đảng của hắn đã bị tổn thương. Tự ái của một Việt kiều yêu nước (đã từng được nhận quà tặng của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc) như hắn đã bị đụng chạm. Hắn bèn giựt lấy cái ipad của cháu hắn và trút hết căm hờn vào câu hỏi đầy đe dọa: Mày biết bố mày là ai không? Ai dè thằng ChatGPT không sợ, lại còn trả lời hết sức mất dạy: “Tôi là một mô hình ngôn ngữ, được huấn luyện bởi OpenAI, tôi không có cha mẹ hoặc gia đình”.

Hắn tức ói máu trào đờm và hình như lúc giận quá có mất khôn đi một tí, bởi vì sau khi check in vào khách sạn, hắn hỏi cháu hắn: Cái ipad đâu rồi, đưa chú đọc lại coi. Cháu hắn mặt buồn buồn, bảo: Chú quăng nó xuống đường, khúc chạy qua Hòn Rơm rồi còn gì. Mà ipad này cháu mượn của vợ cháu, không biết rồi về sẽ ăn nói làm sao với nó đây.