VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO hay ĐÁNH CƯỢC MẠNG SỐNG

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Tịch, TB BVSS gp. Xuân Lộc

Tiếp nhận chị bầu cơ nhỡ từ xa chạy vào, ngheo câu chuyện của chị và xin phép viết lại câu chuyện để mọi người cùng ý thức và có những chọn lựa tốt hơn. Chị đi theo tiếng gọi của việc nhẹ lương cao mà thực sự chị đang đánh cược đời mình cho những tiếng gọi ngọt ngào.

Chị ở miền Tây, Nghề nghiệp không có, học hành cũng chỉ dừng lại trình độ biết đọc – biết viết – tính toán vài con số. Như bao phụ nữ khác, chị lập gia đình và có 2 người con. Lúc đầu mọi cái còn đẹp, từ từ mọi sự xấu đi và cuối cùng gia đình thất bại như việc chị thất bại trong học tập. Chị dắt 2 đứa bé về gia đình bố mẹ ở vừa chăm sóc cha mẹ, vừa nương nhờ mái nhà nhỏ của cha mẹ qua ngày đoạn tháng.

Sự việc thay đổi khi chị nghe theo một bạn bè rủ sang nước ngoài láng giềng đi làm với lời hứa hẹn “Việc nhẹ lương cao”. Vì là lời của bạn bè và đang bế tắc, chị muốn dấn thân, mở đường máu cho cả nhà được sống nhờ vào chị. Sự việc mau chóng được sắp đặt và chị lên đường. Sang bên đó được đưa vào một công ty, họ thu hết mọi giấy tờ và làm việc. Vài tháng đầu tiền bạc cũng đỡ, sau đó càng ngày càng tệ về mọi mặt. Dần dần việc làm nhiều nhưng tiền bạc chẳng bao nhiêu. Lo cho mình chưa xong làm sao lo cho con cái non dại, cha mẹ già quê hương. Chị biết mình đã bị bạn lừa để bạn lấy hoa hồng và bị lừa vắt cạn kiệt sức lao động. Cùng hoàn cảnh của chị có nhiều người Việt cũng bị đưa đi như thế.

Bạn lừa đưa đi nước ngoài chưa đã, lại bị lừa thêm cả tình như một cách thay lời cảm ơn ban đầu. Chị lại phát hiện mình mang thai, hoạ vô đơn chí, vòng luẩn quẩn đi vào cùng quẫn. Chị cũng được hứa hẹn bán con cho người bên đó được vài trăm triệu rồi lấy tiền về. Chị đã biết thế nào là dối trá, thế nào là lừa đảo và chẳng thể tin vào được những lời hứa hẹn đó. Bạn bè tưởng giúp nhau mà cuối cùng cũng là tính toán và bản thân họ vẫn là trên hết. Chị đau khổ mặc chị, bạn đạt được mục đích là xong.

Vừa mang bầu, vừa sống không giấy tờ, không tiền bạc, không ngày về, không ngày mai, chị rủ những người khác nữa tìm đường trở về quê hương. Ai cũng ngán ngẩm mà không ai dám liều mạng trốn về vì bị những lời hăm doạ sẽ bị đánh, sẽ bị giết nếu dám bỏ trốn. Đó không phải là lời nói đùa và đây không phải là cuộc chơi mà là đánh cược cả mạng sống mình.

Việc nhẹ lương cao đâu không thấy, chỉ thấy làm trâu làm bò cho người khác, chỉ thấy bị mất hết mọi thứ và có thể mất cả mạng. Thật cuộc đời chẳng thể có cái gọi là việc nhẹ lương cao, cái gì cũng có giá của nó, trước đây không học hành, không nghề nghiệp thì làm gì có việc nhẹ, làm gì được lương cao. Nhắm mắt đưa chân liều qua nước lạ với lời hứa việc nhẹ lương cao, giờ lại một lần nữa phải mở mắt thật to để tìm đường trở về quê hương, cuộc chạy trốn một mất – một còn. Tổng cộng 12 người cả nam và nữ trong đó có chị đang mang thai. Kế hoạch đã lên, tích luỹ được một chút lương thực, chút tiền bạc và lên đường.

Cả đoàn gồm 12 người Việt quyết định bỏ trốn về Việt Nam với chỉ một ít lương khô, vài bộ quần áo, chút đỉnh tiền bạc, không giấy tờ, ngôn ngữ tiếng được tiếng không. Họ cùng lên chiếc xe khách chạy về hướng Việt Nam. Vì không có giấy tờ, họ sợ bị bắt, bị phạt, bị các chủ cũ tìm giết hại, nên Xe chạy gần đến cửa khẩu Việt Nam, họ phải xuống xe, đi vào rừng, lặn lội qua những cánh đồng lúa, bằng qua những núi đồi, lén về lại đất Việt bằng đường bộ.

Đây là cuộc lội bộ với biết bao hiểm nguy : trên đường họ phải nằm lại bờ ruộng 2 ngày đêm với cái bụng đói, chỉ uống chút nước cho qua ngày, lúc khác chạy lên rừng chốn, đặc biệt lúc gặp những người xấu đã hiếp những phụ nữ trong đoàn. Thảm thương không còn tiền, không còn đồ ăn, không ai bảo vệ, nhục nhã vì bị tệ nạn hãm hiếp, họ đã kiệt sức. Thật thê thảm và biết rằng không thể đi bộ được với bao hiểm nguy ấy, họ đã chủ động tìm đến công an cửa khẩu nước lạ trình diện, xin giúp đỡ về lại Việt Nam.

Tại hải quan nước Lạ, họ bị bắt và bắt phạt mỗi người 41 triệu đồng mới cho về lại Việt Nam. Ai có tiền đóng phạt rồi đưa về, ai không có tiền bị bắt ở lại không biết ngày về. Chị không có tiền, gia đình nghèo cũng không đủ tiền, nên bắt ở lại mấy tháng bên nước đó, thấp thỏm lo âu, tù đầy. Cuối cùng, vì cái thai cũng lớn và không thể có được đủ tiền, hải quan cũng đưa chị trở lại Việt Nam và giao lại cho hải quan Việt Nam, nói tiếng Việt, ăn cơm Việt, gặp người Việt. Vậy là chị đã được trở lại Việt Nam với bao hiểm nguy đau khổ. Việc nhẹ lương cao không thấy, giờ toàn cay đắng, hận mình tin bạn, hận bạn lừa dối, hận đời chỉ có lấy mà chẳng có tình thương, công bằng và suýt mất cả mạng sống.

Thân xác gầy gò, đen đủi, không thể về quê với bàn tay trắng và với cái bầu nảy, chị lại lang thang bên đất Bắc, tìm nơi trợ giúp cho chị sanh đẻ và gửi lại con cho họ, kiếm ít tiền về quê. Tìm kiếm nơi nương tựa, chị lại rơi vào tay của những người xấu muốn lấy con của chị với những lời hứa lèo. Một lần nữa bà bầu gặp không những hiểm nguy cho đứa con bé bỏng, mà còn cho chính bản thân mình không biết còn giữ được nội tạng nữa chăng và đứa con sẽ đi về đâu.

Chị lang thang trên Internet tìm nơi nương tựa cho chị, sanh đẻ và có thể gửi con lại. Tìm mãi chị cũng dừng lại ở một nơi gần đó, gần biên giới. Chị tìm đến và được hứa hẹn : ở đây cho ăn ở miễn phí, con chị được gia đình khác nuôi và chị sẽ có được một số tiền để bồi dưỡng. Đưa chân vào trong đó chị được tách riêng ra, ở trong phòng đóng kín với một vài chị bầu khác, mỗi ngày được đưa 3 lần đồ ăn và không được ra ngoài. Chị thấy có điều gì đó không ổn với nơi giúp cho người bầu cơ nhỡ và thậm chí còn nghe nói đến việc trao đổi như buôn bán con nít hay cả những nội tạng. Thấy không ổn định, chị tiếp tục tìm kiếm những nơi khác giúp đỡ.

Rất may, có người ở đó biết chỗ của ban BVSS giáo phận Xuân Lộc giúp đỡ cho những người bầu cơ nhỡ. Và cùng với chị đó, quyết chí đi khỏi nơi đó và trở về với Mái Ấm Tạm Lánh Mai Tiến Xuân Lộc xin nương tựa. Lại tiếp tục một cuộc chạy trốn thứ hai tuy không nguy hiểm nhưng luôn bị làm phiền vì những cuộc điện thoại.

Về đến đây chị khóc như đứa con nít vì đã vượt qua bao gian khổ khi đến nơi này. Tôi bảo mọi sự dữ đã qua rồi, trở về đây sống chung hài hoà với các chị em, sống những gì mình có và biết nâng đỡ lẫn nhau.

Tôi hỏi đứa bé sinh ra chị tính sao? Chị trả lời : muốn gửi bé ở lại xin cha nuôi giúp và lâu lâu cho con trở lại thăm cháu, vì ở nhà cò 2 đứa con nhỏ, 2 bố mẹ già đau yếu ở nhà đang đợi chị về đi làm kiếm tiền và chăm sóc cho họ.

Tôi bảo : Cha tôn trọng quyết định của con và giúp con chăm sóc bé. Cha không muốn bé mất đi tình mẹ, bà con ruột thịt nên lâu lâu quay lại thăm bé. Để sự sống bé lại là điều tốt nhất cho bé, tìm được nơi an toàn và lớn lên đó là điều người mẹ nào cũng tìm kiếm. Giữ sức khoẻ, tâm hồn bình an, tha thứ và đừng quên cầu nguyện cho mọi việc được tốt đẹp.

Thật là đầy cay đắng, nhọc nhằn cho một người phụ nữ như chị, nhìn trước thấy bế tắc, nhìn sau thấy toàn bùn lầy, phải đưa ra một quyết định khó khăn như thế. Lỡ chân bước sai sẽ là bước đường cùng cho một con người. Bước đi thì dễ, bước lại mới khó khăn và chưa biết phải đổi diện lại với cuộc sống làm sao? Mái Ấm Tạm Lánh Mai Tiến đón tiếp những người bầu cơ nhỡ để giữ sự sống cho bào thai, để trợ giúp cho những người phụ nữ mang thai sinh con và tiếp tục nuôi con cái của họ. Với chúng tôi, sự sống con người là trên hết, tìm cách bảo vệ sự sống và người phụ nữ lỡ mang thai sẽ đều đau khổ, nhục nhã và bế tắc. Bảo tồn sự sống, tôn trọng phẩm giá của con người đặc biệt của những người mẹ để giúp họ sống phẩm giá đó bầng chính đôi chân của họ, giúp họ sống tình mẹ với con cái với những bước dài hơn khi tiếp tục cho mẹ con họ ở lại sống – nuôi con.

Xin cẩn thận với những nơi gọi lại giúp đỡ những người bầu cơ nhỡ với những lời hứa ngon ngọt để rồi đứa trẻ trờ thành món đồ trao đổi, trở thành hàng hoá kiếm tiền cho những kẻ xấu. Việc làm lương cao không có được, miếng phomat chỉ có ở trong bẫy chuột thôi. Nếu có đi ra nước ngoài làm việc, chắc ăn nhất vẫn là đến với những tổ chức chính thức trong nước để họ bảo vệ, chính quyền bảo vệ an toàn và có thể kiếm tiền hợp pháp hay trở về bình an.

Xin cám ơn chị đã tìm đến đây và chị sống cũng rất tốt với mọi người. Chúc mẹ con chị mạnh khỏe, cuộc vượt cạn thành công và mau hội nhập lại với cuộc sống, với gia đình của chị. Xin cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ cho chị cũng như cho công cuộc BVSS của chúng tôi được tốt đẹp. Xin Chúa đón nhận những cống hiến của chúng ta và chúc phúc cho tất cả chúng ta cũng như những ai chúng ta được gặp gỡ, đón tiếp.

From: Phan Sinh Trần

Tin Tức về phụ nữ Việt bị bán làm nô lệ ở nước Lạ

CẬY TRỜI MÀ KHÔNG CẬY MÌNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Ba, Tuần VI Thường Niên, Năm Lẻ

Trích sách Sáng Thế. St 6, 5-8; 7, 1-5.10

Thiên Chúa thấy tội ác loài người lan tràn trên mặt đất, mọi tư tưởng trong lòng đều luôn luôn hướng về đàng xấu, nên Chúa lấy làm tiếc vì đã tạo dựng loài người trên mặt đất, Người đau lòng mà nói: “Ta sẽ huỷ diệt khỏi mặt đất loài người mà Ta đã dựng nên, từ loài người đến loài vật, từ rắn rết đến chim trời, vì Ta lấy làm tiếc đã tạo dựng nên chúng”. Nhưng ông Noe được ơn nghĩa trước mặt Chúa.

Chúa phán cùng Noe rằng: “Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào trong tàu, vì trong thế hệ này, Ta chỉ thấy có ngươi là công chính trước mặt Ta. Trong các súc vật thanh sạch, ngươi hãy bắt mỗi thứ bảy con đực bảy con cái, còn trong các loài vật không thanh sạch, ngươi hãy bắt mỗi thứ hai con đực hai con cái. Nhưng các chim trời, ngươi hãy bắt mỗi thứ bảy con trống bảy con mái, để bảo tồn nòi giống các loài ấy trên mặt đất, vì còn bảy ngày nữa, Ta sẽ cho mưa trên mặt đất suốt bốn mươi đêm ngày, và Ta sẽ huỷ diệt khỏi mặt đất tất cả các loài Ta đã dựng nên”. Vậy Noe thi hành mọi điều Chúa đã truyền dạy. Và sau bảy ngày, nước lụt đã xảy đến trên đất. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 28,
CHÚA SẼ CHÚC PHÚC CHO DÂN NGƯỜI TRONG CẢNH THÁI BÌNH (c. 11b).

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô. Mc 8, 14-21

Khi ấy, các môn đệ quên mang bánh và chỉ còn một chiếc bánh trong thuyền. Và Chúa Giêsu dặn bảo các ông rằng: “Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê”. Các môn đệ nghĩ ngợi và nói với nhau rằng: “Tại mình không có bánh”. Chúa Giêsu biết ý liền bảo rằng: “Sao các con lại nghĩ tại các con không có bánh? Các con chưa hiểu, chưa biết ư? Sao các con tối dạ như thế, có mắt mà không xem, có tai mà không nghe? Khi Thầy bẻ năm chiếc bánh cho năm ngàn người ăn, các con đã thu được bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư, các con không nhớ sao?” Các ông thưa: “Mười hai thúng”. – “Và khi Thầy bẻ bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người ăn, các con đã thu được
bao nhiêu thúng đầy miếng bánh dư?” Họ thưa: “Bảy thúng”. Bấy giờ Người bảo các ông: “Vậy mà các con vẫn chưa hiểu sao?” Đó là lời Chúa.

CẬY TRỜI MÀ KHÔNG CẬY MÌNH

“Ông Noe được nghĩa trước mặt Chúa”.

Ngày kia, có một bánh xe gỗ, nó rơi mất một mảnh. Khập khà khập khiễng, nó vụng về lăn qua các nẻo đường để tìm lại mảnh vỡ đã mất. Ngạc nhiên thay! Nhờ khiếm khuyết này, nó trở nên thân thiện với hoa lá và bạn bè hai bên đường. Cho đến một ngày, bánh xe tìm được mảnh vỡ, nó vui mừng và cố sức ráp lại; nó thấy mình tròn trịa duyên dáng. Nhưng cũng từ đó, nó cảm thấy xa lạ và không còn thân thiện như trước. Nó xé gió, lao đi vun vút; cỏ cây, chim chóc hai bên đường khiếp sợ. Rồi một chiều, nó cảm thấy cô đơn. Và rồi, nó dừng lại, quyết định tháo mảnh vỡ và ném nó thật xa. Bánh xe trở nên chính mình trong dáng vẻ trước đó; lần thần, khiêm hạ. Nhưng lạ thay, nó bình an; chim chóc, ong bướm, cỏ cây và mọi cảnh vật đang đón chờ nó.

Kính thưa Anh Chị em,

Trải nghiệm của bánh xe gỗ kia cũng có thể là trải nghiệm của mỗi người chúng ta; trải nghiệm về sự kiêu ngạo, trải nghiệm về sự khiêm nhường! Sách Sáng Thế và Tin Mừng hôm nay nói đến một điều mà Thiên Chúa gớm ghiếc, đó là kiêu ngạo; loài người kiêu ngạo, các môn đệ kiêu ngạo; đó là những con người ‘cậy mình mà quên cậy Trời’. Đang khi Thiên Chúa ưa thích những con người khiêm nhượng, những con người ‘cậy Trời mà không cậy mình!’.

Bài đọc Sáng Thế nói, “Thiên Chúa thấy tội ác loài người lan tràn trên mặt đất, tư tưởng lòng người luôn hướng về đàng xấu; Ngài đau lòng mà nói, ‘Ta sẽ huỷ diệt khỏi mặt đất loài người Ta đã dựng nên… Ta lấy làm tiếc đã tạo dựng nó’”. Giữa loài người kiêu căng, ai ai cũng ‘cậy mình mà quên cậy Trời’. May thay, Thiên Chúa tìm thấy Noe, một người ‘cậy Trời mà không cậy mình’; ông cậy trông Thiên Chúa, tuyệt đối khiêm nhường và Ngài đã cứu cả gia đình ông.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ bài học khiêm nhường nhân việc họ quên mang bánh. Phải chăng Ngài đã đọc được sự tự phụ nơi các học trò khi họ đổ lỗi cho nhau, “Tự mình không mang bánh”; hay phải chăng họ tự phụ ỷ lại việc đã có Thầy, một người đã từng nuôi đến mấy ngàn người với chỉ năm chiếc bánh và hai con cá; hay phải chăng lòng họ đã quá kiêu ngạo đến nỗi vô lo? Vì thế, Ngài bảo, “Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái”. Họ là những người coi mình tài giỏi, đạo đức; cho mình là may mắn hơn người bởi họ cầu nguyện nhiều, ăn chay nhiều và nhiệm nhặt giữ luật. Đó là lý do để họ kênh kiệu, tự coi là công chính, và khinh dể kẻ khác; thậm chí, coi khinh cả thầy trò Chúa Giêsu.

Anh Chị em,

“Ông Noe được nghĩa trước mặt Chúa”. Chớ gì, bạn và tôi là những người được nghĩa trước mặt Chúa. Để được vậy, điều quan trọng là chúng ta phải suy gẫm thường xuyên cùng với lòng biết ơn, “Bạn có gì mà đã không nhận được?”. Hãy nhớ rằng, ngay cả việc nên thánh của mỗi người chúng ta cũng khởi sự từ Thiên Chúa. Và nếu Ngài đã đưa chúng ta tiến xa đến mức này chỉ với ‘một lượng hợp tác’ khiêm tốn từ phía mỗi người, thì chúng ta có thể tiến xa hơn biết bao nếu cống hiến hết mình cho Ngài? Bao điều tốt đẹp sẽ nảy nở trong cuộc sống! Bao vấn đề sẽ được bàn tay Ngài định hình vì lợi ích của linh hồn mỗi người! Đừng quên, Thiên Chúa yêu thích những con người khiêm hạ, họ là những con người ‘cậy Trời mà không cậy mình!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con hợm hĩnh ‘cậy mình mà quên cậy Trời’; cho con xác tín rằng, trong mọi việc, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa, kể cả việc con nên thánh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen 

Làm người cộng sản Việt Nam có dễ không?

Bauxit Việt Nam

Nguyễn Hữu Liêm

Tuần trước, ngày 2 tháng 2, nhân dịp được nhận huân chương 55 tuổi đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn từ gởi gắm cán bộ, đã tuyên bố rằng, “Nếu là người hãy là người cộng sản.” Đây có thể là một lời kêu gọi mang mệnh lệnh đạo đức chính trị cao cả, nhưng nó cũng gây không ít ngạc nhiên và đàm tiếu trong nhân gian, nhất là giới kiều bào Việt ở hải ngoại. Có người hỏi là ông Trọng đang ở thế kỷ nào vậy?

Tuy nhiên, để công bằng với ông TBT, chúng ta hãy thử dùng phép biện chứng Marxist-Leninism để đánh giá hiệu triệu làm người đó. Chúng ta biết rằng GS Trọng là một tiến sĩ lý luận chính trị Marxist, người hơn ai hết nắm vững quy luật chuyển động của ý chí chính trị và tư duy lịch sử ở nơi con người cộng sản Việt Nam bây giờ – nhất là trong hoàn cảnh đất nước hiện nay.

Từ nỗi cô đơn cổ điển

Trước tiên, chúng ta hãy suy nghĩ về một hiện tượng kinh tế và tâm lý gần như hiển nhiên ở Việt Nam hiện nay. Đó là sự giàu có của giai tầng cán bộ cộng sản – mà nhân gian gọi là giới “tư bản Đỏ.” Đây là giai cấp mới, vốn nhân danh lý tưởng vô sản để làm chủ các khối tài sản kếch xù, kể cả bất động sản, vốn là của toàn dân.

Vì dù sao thì chủ nghĩa Mác đã bắt nguồn từ siêu hình học và biện chứng pháp Hegel và Marx, như GS Trọng vẫn sử dụng, vậy chúng ta hãy thử đánh giá hiện tượng này qua phép biện chứng đó.

Ở đây, xin phép được mượn lời khách quan hơn từ kẻ khác. Trong cuốn The Owl at Dawn (Con Ó Bình minh) (1995), khi diễn tả một khúc quanh siêu hình học Hegel, theo mô thức kinh điển của Hiện tượng luận Trí năng (Phänomenologie des Geistes), triết gia Mỹ Andrew Cutrofello viết về Thời quán Duy vật Biện chứng như là một bước chân mới của Chân tâm – Geist – trên hành trình Trở về chính mình. Đó là lúc mà ngã thức cá nhân giã từ đức tin tôn giáo và khoa học để tìm đến chân lý trong ý chí chính trị và cách mạng.

Thoạt đầu, người chiến sĩ vô sản là những con người cô độc với nhiều tâm tư. Cutrofello viết, “Sự sụp đổ của tri kiến tuyệt đối – mà Hegel nhân danh qua Hiện tượng luận Trí năng – đã nhường bước cho sự rút lui của những ngã thể cô đơn. Cũng như là các tâm hồn cao thượng (beautiful souls), vốn không có hạnh phúc, cái ta đơn lẻ rơi xuống đáy vực tuyệt vọng để rồi hắn có thể xưng hô niềm bất hạnh của mình. Bằng cách xưng tội, hắn tự trách chính mình – vì khả thể dung hợp với đại thể tính của thời đại đã bị bỏ mất cơ hội.”

Đây là giai thời khi mà con người tiền cộng sản chưa đối diện với cám dỗ duy vật – lúc mà mỗi ngã thể chỉ đối diện chính mình trong nỗi cô đơn tuyệt vọng với một vũ trụ đầy thần linh.

Gốc rễ tình đồng chí cách mạng vô sản

Lành thay, nỗi cô đơn trong phận người vô sản, nghèo khó, trong một cõi sống đầy thần linh đó, đã cho người tiền duy vật một niềm hạnh phúc khổ hạnh bao la. Họ là những người vô tội – hay chưa có tội – nhưng vẫn nghĩ rằng ta có tội, với người và trời đất. Họ luôn xưng tội với Trời trong nỗi cô đơn tuyệt vọng nhưng đầy cảm lạc.

Cutrofello viết tiếp, “Tuy nhiên, khi hành vi xưng tội này được đáp trả bởi một kẻ xưng tội cô độc khác, thì từng kẻ đó nhận ra rằng hai chúng ta cũng có khả năng thừa nhận hỗ tương cho nhau. Từ đó, nỗi niềm tuyệt vọng của cái ta cô độc nay trở thành tình đồng chí với nhau.” Nỗi niềm cô độc, vong thân của họ nay đã có người cùng chia sẻ. “Nhưng vì bản sắc dung hợp tạm thời này mà tình đồng chí vẫn còn mơ hồ vì hai kẻ cô đơn phủ định thể tính tha hóa chung bằng cách xác định nó. Vì thế mà cả hai đã không hóa giải được tính vong thân như là một tình thế được công nhận từ kẻ kia. Sự đi đến với nhau như là một chia sẻ ý thức về cái trở ngại cho tình đồng chí đó.”

Từ trong vực sâu của tâm tư trăn trở, các đồng chí tiền cộng sản muốn biến nỗi niềm bất hạnh của ta thành nên một ước vọng chân lý. Sự tha hóa nhân vị nay đã trở nên ý chí phục hưng nhân cách làm người. Tuy nhiên, hình thái và cấu trúc xã hội bất công chính là một chướng ngại lớn cho ước vọng làm người chân chính.

Cho nên, “Trở lực này được coi như là gốc rễ của tha hóa, nhưng vì họ – các đồng chí tiền cộng sản – đến với nhau cho nên nó cứ như là không thực, mang bản sắc huyền bí, để cả hai muốn tìm hiểu. Bằng cách đi thật sâu vào tận đáy tuyệt vọng trong tính tha hóa của ta, những cái ta nửa vời đó muốn nâng cao chính mình – và tha nhân – lên đến tầm mức ý thức chân thật về một căn cước tính cho ta trong một số phận khắc nghiệt.”

Và, “Bằng ý thức như vầy, lập trường tuyệt đối sẽ được đạt đến trong một cộng đồng mà ở đó tình đồng chí là chân thật – hơn là cái ta được định hình bằng sự khác biệt. Đây chính là bản sắc Chân lý và là công tác khởi nguyên cho những người mang lý tưởng cộng sản ban đầu,” vẫn theo Cutrofello.

Mâu thuẫn biện chứng Duy vật: Khi người Cộng sản làm chủ bất động sản

Trên bình diện luân lý và đạo đức, tuy nhiên, cái ta Vô sản và Duy vật không những tự mâu thuẫn với chính ta từ góc độ bản thể, mà là về bản sắc ý chí nội tại. Vì sao? Vì khi cách mạng vô sản đã thành công, thì thực tế vô sản từ cấu trúc xã hội bất công được san bằng. Thay vào đó là nguyên tắc tài sản tập thể và chế độ sở hữu chung. Chủ thuyết chung hữu này biến người vô sản, nhân danh nhà nước, thành chủ nhân tất cả tài sản.

Từ đó, chiến lược cai trị của con người cách mạng vừa nắm quyền là một chuyển động duy kinh tế cho tham vọng chủ nhân của họ. Việc trước tiên là chiến thuật chia chác tài sản chung như là thủ pháp phân định chức năng công tác phục vụ Đảng và nhân dân. Khẩu hiệu vô sản như là tiếng súng lệnh xung phong cách mạng cộng sản ngày trước thì nay trở nên một tấm màn gian lận che đậy ước vọng làm chủ tài sản vô hạn của người cộng sản.

Không có gì chinh phục nỗi cô đơn hơn là trở thành giàu có. Tài sản và tiền bạc là thang thuốc vạn năng cho niềm tuyệt vọng vô sản. Vì thế, khi kẻ cùng khổ lên nắm quyền, tiếc thay, thảm kịch quyền lực vẫn như của xã hội cũ. Giai cấp cai trị mới ngày nay cũng gian lận, tàn bạo, trơ trẽn, đầy đểu cáng và đạo đức giả như bao nhiêu chuyện chính trị xưa nay – nếu không nói là tinh tế và gian manh hơn nhiều.

Vì khi cái ta vô sản phủ nhận thiết yếu tính vật chất cho ngã thể bằng cách từ chối tư sản và chức năng chủ nhân, nó chỉ có thể phủ nhận bằng ý thức và khẩu hiệu; trong khi trên thực tế, từ tổ chức Đảng cho đến từng đồng chí cộng sản, vẫn là chủ nhân de facto rất nhiều tài sản, nhất là bất động sản. Vì thế, ta chỉ là vô sản như là một bình diện duy chính trị, còn thực tại thì ta không thể phủ nhận yếu tố chủ nhân được. Vậy nên, mỗi chiến sĩ vô sản – như ở Việt Nam ngày nay – là một con người in bad faith đầy giả dối với chính mình và xã hội, Cutrofello viết.

Theo đó thì khi người chiến sĩ Cộng sản – nay không còn đơn độc – tự cho mình như là hiện thân của giai cấp vô sản, họ bỗng nhận ra mình là gian dối, đạo đức giả khi thấy được rằng bản sắc ước vọng của ta nay lại được định hình bằng năng ý phủ định và tiêu cực. Bởi vì cái ta vốn đang có nhiều tài sản trên thực tế, nhưng đứng từ quan điểm chính trị thì ta từ chối điều đó. Tính giả dối này mang thực chất ở bình diện nguyên tắc khi ta chỉ phủ nhận quyền tư hữu nơi tư tưởng, trong khi ta vẫn là chủ nhân nhà cửa, xe cộ, hãng sản xuất, tài khoản ngân hàng.

Lặp lại lịch sử Chủ nô cổ điển

Cutrofello so sánh rằng, sự thể vong thân nơi con người Cộng sản gần giống như hoàn cảnh và kinh nghiệm xưa cũ của chủ nhân ông trên biện chứng Chủ-Nô. Chủ nhân bị tha hóa và xa lạ với tên nô lệ và ngay cả chính mình vì, cũng như tên nô lệ, chủ nhân ông không làm chủ những gì mình tạo ra, mà chỉ làm chủ những gì mà kẻ khác tạo ra.

Ông viết, “Cũng như thế, cái ta vô sản cũng bị tha hóa không phải vì hắn không làm chủ tài sản, mà bởi vì trên bình diện tư duy, hắn không công nhận tài sản mà hắn sở hữu là tư hữu của mình. Ta ý thức ra tệ nạn thần bái vật thể của con người tiền cách mạng, nhưng ta muốn giải hóa ảo thức thần bái tài sản này trên bình diện ý thức mà không ở thực tế.”

Hay nói một cách khác, người cộng sản trên bình diện lý tưởng và khẩu hiệu thì phủ định tư sản để rồi trên thực tế lại phủ quyết ý thức phủ định này bằng cách tiếp tục sở hữu chúng.

Nó cũng giống như là một đại gia người giàu thường nghĩ đến việc làm từ thiện giúp đỡ kẻ nghèo khó nhưng chưa có dịp thực sự thực thi ý tưởng đó. Trái lại, họ chỉ say sưa nói lời đạo đức trong khi bằng mọi cách tích lũy cho khối tài sản của mình và thân nhân.

Một màn hài kịch dở dài vô tận

Tức là, chiến sĩ vô sản Việt Nam ngày nay là những diễn viên tấu hài không biết ngượng. Vì nói trắng ra, họ là những kẻ biết rõ mọi chuyện chỉ là một màn kịch vụng về, kéo dài lê thê -– khi khán giả đã chán lên tới cổ nhưng vẫn bị ép ngồi xem màn diễn gần như bất tận.

Tuy vậy ta phải nhớ rằng họ vẫn là những con người Việt có lương tâm. Cho nên, các diễn viên hài cộng sản đó không thoát khỏi sự giằng xé nội tâm khi đóng vai tuồng vô sản giả dối. Vì năng lực đầy mâu thuẫn nội tại này ở nơi cán bộ cộng sản, đang nhân danh vô sản, giữa lý tưởng cách mạng từ ý thức đối với một đời sống mang thực chất phản động, đã trở nên bản sắc nền tảng cho một phép biện chứng ngã thức mới.

Để rồi, khi họ muốn vượt qua thực trạng nội tâm đầy mâu thuẫn và đạo đức giả này, người cộng sản chuyển hệ ý thức của mình sang chủ nghĩa duy chụp giựt – như là một thiết yếu tính cho tân chân lý cách mạng nhằm nắm đầu mối ưu tiên cho ngã thể thực dụng đầy lo sợ và tính toán, thay vì chỉ nuôi dưỡng một lý tưởng thuần tư duy. Đây mới chính là thách thức chính trị lớn cho GS Trọng.

Nhu cầu cách mạng mới trước thế tiến thoái lưỡng nan

Tóm lại, thưa ông TBT, cuộc cách mạng kế tiếp cho người Cộng sản Việt Nam – như lời kêu gọi của ông – là họ phải thật tâm làm người cộng sản chân chính. Tức là phải nhận thức được bản chất đạo đức giả của mình, tự lật ngược biện chứng duy vật, để tìm lại con đường đồng chí vô sản như thưở ban đầu cách mạng.

Nhưng đòi hỏi như thế là một yêu sách ý chí tự phủ định chính mình, một điều mà con người cộng sản, nay thực chất là các nhà tân tư bản, không thể vươn lên được. Thế nên, khi Tổng Trọng tuyên bố rằng, “Nếu là người thì hãy là người cộng sản,” thì ông chỉ muốn đưa cán bộ đảng viên vào một thế tiến thoái lưỡng nan.

Nếu họ tiến tới con đường tư bản thì bị coi là chệch hướng, tự diễn biến; nếu họ rút lui về lý tưởng vô sản thì không khả thi, không tưởng. Chính GS Trọng biết rõ điều này. Nhưng những khẩu hiệu cộng sản ông vẫn cứ tung hô. Vì ông biết rằng thần linh vô sản nay đã chết, thần dân không còn đức tin vào Đảng; tuy nhiên, vì thực tế quyền lực đòi hỏi rằng các câu sớ cũ mèm vẫn phải dâng cúng trước đình làng nhằm cứu vãn trật tự xóm thôn.

Đế quốc Mỹ – hay chùa Tam Chúc – là tân hợp đề?

Khi thế cờ đi vào bế tắc, biện chứng duy vật đòi hỏi một năng lực thăng hóa (Aufhebung) mới. Về thực tại của các ẩn số chính trị và kinh tế thì GS Trọng có lẽ cũng được báo cáo mật rằng, để thoát ra khỏi bế tắc đạo đức chính trị này, tập thể cán bộ hầu hết đang muốn đi vào hai ngả thoát ly.

Một đằng thì muốn tìm đường sang Hoa Kỳ, hay Canada, Âu châu, làm lại cuộc đời – cho chính họ và gia đình họ. Vì chỉ ở các xứ đó, nơi ít đạo đức giả hơn Việt Nam, họ sẽ không còn bức xúc bất an về tính vong thân từ cơ bản nội tâm cho lý tưởng vô sản nữa. Tức là họ công khai giàu có mà không lo sợ nhà nước và Đảng biết, và họ cũng không mang mặc cảm tội lỗi vì mình như thế. Không những vậy, họ còn công khai khoe khoang sự giàu có to tát của họ.

Đằng kia thì họ phải ở lại nước để đóng tiếp vở kịch tập thể. Khi những cán bộ không đi ra nước ngoài vì không thể hay không muốn thì nay họ hay gia đình họ sẽ đến các chùa to lớn, cầu vong, xin sớ giải hạn. Họ khấn nguyện ơn trên thương xót và thông cảm cho họ, mong cuộc đời này không bị nghiệp báo nhãn tiền hay là kiếp sau không còn phải trở lại làm người cộng sản Việt Nam. Điều này giải thích tại sao các chùa ở miền Bắc, như Tam Chúc, Ba Vàng, hằng cuối tuần đông kín tín đồ như thế.

Đám đông đi chùa cầu cơ giải hạn thì GS Trọng cũng đã từng chứng kiến, nhưng chuyện tư bản đỏ Việt ở Mỹ thì chắc ông chưa tận mắt thấy. Nếu nghi ngờ thì xin mời ông Tổng hãy xuống miền Nam California để quan sát. Ví dụ, vùng New Port Coast hay Huntington Harbour chẳng hạn, nơi giá mỗi căn nhà lên đến hàng chục triệu đô. Ở những nơi đó, mỗi cuối tuần, trong các buổi picnics và tiệc tùng liên miên, thực khách Việt Nam hầu hết là những con em cán bộ cộng sản nay là giai cấp tân tư bản đỏ, the nouveau riche, mới di cư sang Mỹ trong vòng mấy năm gần đây. Thay vì bàn đến biện chứng Marxist và đạo đức Hồ Chí Minh, họ chỉ bàn chuyện làm sao để chuyển tài sản ra khỏi nước.

Và cũng nghịch ngẫu thay, như phép biện chứng Marxist nhiều lần chứng minh qua lịch sử, trong các đám đông vui nhộn đầy lo toan ấy, có không ít những kẻ hậu vô sản, hậu cộng sản, một cách chân thành, thầm cám ơn những hy sinh ngút ngàn với lý tưởng vô sản của thế hệ cộng sản cha ông thuở trước đã cho họ hôm nay được vươn thoát cảnh ngộ lưỡng nan khi phải làm người Cộng sản Việt Nam.

N.H.L.

Phương cách giúp hôn nhân bền chặt trước những khó khăn

Dòng Tên Việt Nam

Tác giả: Jeannie Ewing

Ben và tôi nhẹ nhàng cùng nhau chạm bàn tay phải lên cây thánh giá, sau khi tuyên bố lời ước nguyện trong Thánh lễ Hôn phối. Tôi biết lời hứa này thực sự sẽ tồn tại suốt đời, và trái tim tôi tràn ngập niềm vui chưa bao giờ có như lúc này.

Vài năm sau, tôi nhớ mình nói với mẹ tôi: “Con muốn khung cảnh thiên đường giống như ngày cưới của con, xung quanh là tất cả những người chúng ta yêu thương nhất khi cười và ăn mừng cùng nhau.” Có thể điều đó nghe có vẻ ngây thơ hoặc sáo rỗng, nhưng nó đúng với tôi như bất cứ điều gì đã từng xảy ra. Tôi chỉ không ngờ rằng hôn nhân sẽ thử thách chúng tôi theo những cách không thể hiểu nổi.

Ben và tôi kỷ niệm 14 năm ngày cưới vào ngày 30 tháng Sáu. Khi chúng ta trao nhau ánh mắt yêu thương, một cái nhìn cảm thông và nụ cười hạnh phúc. Có điều gì đó đã trải qua mà chúng tôi – những cặp vợ chồng trẻ trung, hạnh phúc mới cưới – không thể hiểu được. Tương tự như vậy, chúng tôi nhận thấy những cặp vợ chồng lớn tuổi đã kết hôn được vài chục năm và họ toát lên trong mắt sự khôn ngoan mà Ben và tôi chưa biết.

Gần đây, chúng tôi đã thảo luận về một số cách giúp vượt qua khó khăn trong cuộc hôn nhân của chính mình. Những gì chúng tôi đã học được là giá trị của sự chia sẻ.

Chịu đựng trong lúc khó khăn

Hầu hết các cặp vợ chồng trẻ đều sẵn sàng chuẩn bị khi cuộc cãi vã, thậm chí là bạo lực gia đình xảy đến thực sự trong cuộc sống hôn nhân của họ; nhưng những điều này luôn bao gồm cách làm lành và vượt qua. Thật khó để biết trước mỗi gia đình ban đầu của chúng ta đã hình thành thế giới quan như thế nào và cách giao tiếp cũng như tương quan với nhau như thế nào— cho đến khi chúng ta kết hôn được một thời gian và nhận ra những khuôn mẫu đang hình thành.

Ben và tôi đối mặt với chẩn đoán hội chứng Apert rất khác của con gái chúng tôi- Sarah. Tôi cần phải nói về mọi thứ: suy nghĩ, cảm xúc, những gì nếu như theo một cách cởi mở. Đó là cách tôi chia sẻ trải nghiệm này với Ben, cũng như giải quyết phức tạp. Mặt khác, Ben rút lui vào trong và đóng cửa. Anh không nhận ra nỗi đau của mình, cũng không hiểu làm thế nào để bày tỏ những cảm xúc rất lớn mà anh mang trong lòng.

Theo thời gian, chúng tôi bước vào giai đoạn mà chúng tôi gọi là “giai đoạn sa mạc” trong cuộc hôn nhân của mình. Chúng tôi nói chuyện hàng ngày, nhưng cuộc trò chuyện xoay quanh cuộc sống hàng ngày. Chúng tôi không tìm hiểu kỹ càng vì cả hai đều đang phải đối mặt với tình trạng kiệt sức và cảm xúc khó chịu mới xuất hiện. Kể từ đó, chúng tôi đã đi qua nhiều thung lũng hơn, nhưng chúng giống như những ngọn đồi thoai thoải hơn.

Một từ mà Chúa đã đặt vào trái tim của cả hai chúng tôi là: kiên nhẫn. Kiên Nhẫn có nghĩa là gì? Như một định nghĩa, kiên nhẫn bao gồm ngồi chịu đựng trong quá trình khó khăn hoặc đau đớn mà không nhường bước. Một số từ đồng nghĩa là khoan dung, nhẫn nhịn và dũng cảm.

Điều khiến cho việc chịu đựng những khó khăn trở nên đau đớn trong hôn nhân là việc chúng ta đang chia sẻ cuộc sống với một người mà cơ bản chúng ta không hề quen biết. Kiểu cô đơn và cô lập về cảm xúc này gây tổn thương tệ hơn nhiều so với khi chúng ta cắt đứt tình bạn hoặc bị đồng nghiệp phớt lờ. Làm thế nào để chúng ta chịu đựng? Bằng cách ngồi với những cảm xúc khó chịu và mạo hiểm với tổn thương cần thiết để mở lòng với nhau một cách chậm rãi nhưng nhất quán.

Kiên nhẫn trong các thử thách của chúng tôi

Cùng với sức chịu đựng, vốn tập trung chủ yếu vào việc chịu đựng nỗi đau, kiên nhẫn là cách chúng ta vượt qua nỗi đau. Về mặt tinh thần, sự kiên nhẫn cũng giống như chịu đựng lâu dài, khả năng chịu đựng từng bước phải thực hiện trên hành trình tiến về đồi Canvê. Hôn nhân phải gắn liền với Thập giá; không có cách nào khác để một cặp vợ chồng sống sót trước những thay đổi không thể tưởng tượng xảy ra với họ.

Và con đường dài, tẻ nhạt đến nơi bản thân chúng ta bị đóng đinh phải được thực hiện cùng nhau. Chính khi bản thân trở nên trống rỗng, chúng ta bắt đầu dành chỗ cho người khác, trước tiên là Thiên Chúa, sau đó là chồng/vợ. Và với cách này, việc cắt tỉa này, gây đau đớn khủng khiếp. Cảm thấy rất giống cái chết, và đúng là như vậy. Nhưng chỉ từ cái chết, sự sống mới có thể xuất hiện.

Kỷ luật trong cuộc sống hàng ngày

Cách đây vài năm, tôi đã đọc quy tắc sống của một người mẹ dựa trên lời giới thiệu của một người bạn. Khái niệm tạo ra nhịp điệu trong nhà thông qua thói quen hàng ngày đã thu hút khuynh hướng u sầu của tôi khi hướng tới điều gì có trật tự và tổ chức. Tuy nhiên, khi con cái còn nhỏ hoặc khi chúng có nhu cầu đặc biệt, thì cuộc sống có khuynh hướng hỗn loạn hơn là bình lặng.

Hầu hết các bà mẹ đều cảm thấy việc thiết lập một nhịp điệu như nhà tu là điều nằm ngoài tầm với của mình, và thực sự thì điều đó có thể xảy ra. Nhưng những gì chúng ta có thể làm, làm tốt là nơi tôi bắt đầu – với những bước nhỏ hướng tới thói quen. Đầu tiên, chúng tôi có giờ ăn với nhau, và chia sẻ với nhau thường xuyên. Tiếp theo, chúng tôi có khoảng hai giờ vào giữa ngày để nghỉ ngơi. Mọi người trong gia đình ngủ trưa hoặc có thời gian yên tĩnh đọc sách và chơi với thú nhồi bông.

Thói quen trở nên cực nhọc khi không được sống một cách vui vẻ và yêu thương. Cuộc sống hôn nhân và gia đình không phải lúc nào cũng viên mãn tràn tình cảm êm dịu, màu hồng. Thực tế, hầu hết thời gian, những điều này rất khó xảy ra. Vấn đề là chúng ta nhận ra món quà kỷ luật, trước tiên là trong lời cầu nguyện hàng ngày, sau đó là cho những người trong gia đình.

Khó khăn trong hôn nhân không nhất thiết luôn phải vượt qua. Thay vào đó, chúng được dệt thành tấm thảm phức tạp trong cuộc sống. Sự cám dỗ chạy trốn vào thứ hạnh phúc mơ hồ, khó nắm bắt sẽ luôn cố gắng lôi kéo chúng ta xa rời ơn gọi thực sự của mình, đó là tình yêu. Và tình yêu không bao giờ được nở hoa nếu một người không hướng tới sự thông cảm – kiên nhẫn – vô số cách mà chúng ta được mời để chết cho sự ích kỷ của mình và khám phá (hoặc khám phá lại) những hồi sinh nhỏ đang diễn ra xung quanh chúng ta.

Tác giả: Jeannie Ewing

Chuyển ngữ: Phê-rô Đại yên

Nguồn: https://catholicexchange.com/how-can-marriage-persevere-through-hardships/

DẤU XÓT THƯƠNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Hai, Tuần VI Thường Niên, Năm Lẻ

Trích sách Sáng Thế. St 4, 1-15. 25

Ađam ăn ở với vợ là Evà; bà mang thai, sinh ra Cain, và nói rằng: “Nhờ ơn Chúa, tôi sinh được người con”. Bà sinh ra Abel là em. Abel thì chăn chiên, còn Cain thì làm ruộng. Sau một thời gian, Cain lấy hoa trái đồng ruộng dâng lên cho Chúa. Abel cũng bắt các con vật đầu đàn và lấy mỡ mà dâng lên cho Chúa. Chúa đoái nhìn đến Abel và của lễ ông dâng. Còn Cain và của lễ của ông, thì Chúa không nhìn đến, nên Cain quá căm tức và sụ mặt xuống. Chúa nói với Cain: “Tại sao ngươi căm tức, tại sao ngươi sụ mặt như thế? Nếu ngươi làm lành, sao ngươi không ngẩng mặt lên; còn nếu ngươi làm dữ, thì tội đã kề ở cửa ngươi. Lòng ganh tị thúc đẩy ngươi, ngươi phải chế ngự nó”.

Cain nói cùng em là Abel rằng: “Chúng ta hãy ra ngoài”. Và khi hai anh em đã ra tới đồng, thì Cain xông vào giết Abel em mình. Chúa phán cùng Cain rằng: “Abel, em ngươi đâu?” Cain thưa: “Tôi đâu có biết! Tôi có phải là người giữ em tôi đâu?” Chúa phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng máu em ngươi từ đất kêu thấu đến Ta. Bây giờ, ngươi bị chúc dữ trên phần đất đã mở miệng hút máu em ngươi do tay ngươi làm đổ ra. Khi ngươi trồng tỉa, đất sẽ không sinh hoa trái cho ngươi. Ngươi sẽ đi lang thang khắp mặt đất”. Cain thưa cùng Chúa rằng: “Tội ác tôi quá nặng nề, đâu tôi còn đáng tha thứ. Hôm nay Chúa đuổi tôi ra khỏi mặt đất, tôi sẽ ẩn trốn khỏi mặt Chúa và tôi sẽ đi lang thang trên mặt đất, nhưng ai gặp tôi, sẽ giết tôi”. Chúa bảo: “Không có vậy đâu, hễ ai giết Cain, thì sẽ bị phạt gấp bảy lần”. Rồi Chúa ghi trên Cain một dấu, để ai gặp hắn, sẽ không giết hắn.

Ađam còn ăn ở với vợ, bà sinh một con trai đặt tên là Seth, bà nói: “Thiên Chúa đã ban cho tôi một đứa con trai khác thế cho Abel mà Cain đã giết”. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA:

HÃY HIẾN DÂNG THIÊN CHÚA LỜI KHEN

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô. Mc 8, 11-13

Khi ấy, các người biệt phái xuất hiện và bắt đầu tranh luận với Chúa Giêsu. Họ xin Người một điềm
lạ trên trời để thử Người. Người thở dài mà nói: “Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ? Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào”. Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia. Đó là lời Chúa.

DẤU XÓT THƯƠNG

“Họ xin Ngài một dấu lạ từ trời”.

Thomas Hooker hấp hối, một người bạn nói, “Thầy ơi, thầy sẽ nhận phần thưởng do công sức của mình!”. Hooker khiêm tốn trả lời, “Tôi sẽ nhận được lòng thương xót của Chúa; với tôi, được từ bỏ thế gian để về với Ngài là ‘dấu xót thương’ Ngài dành cho tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Không chỉ sự ra đi của Hooker là ‘dấu xót thương’ của Thiên Chúa, nhưng ‘dấu trên trán’ của Cain trong bài đọc Sáng Thế và ‘dấu trên trời’ mà các biệt phái đòi Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đều là những ‘dấu xót thương’ của Ngài.

Bài đọc Cựu Ước kể chuyện Thiên Chúa đoái nhận lễ dâng tốt lành của Abel và không ưng nhận của lễ, có lẽ ít tốt lành, của Cain; vì thế, Cain sa sầm nét mặt. Thấy trước điều đó, Thiên Chúa thương tình cảnh báo, “Lòng ganh tị thúc đẩy ngươi, phải chế ngự nó!”. Cain bỏ ngoài tai, dẫn em ra đồng và giết em. Chúa nguyền rủa, đuổi Cain ra khỏi địa đàng. Cain thưa, “Ai gặp tôi, sẽ giết tôi”; Chúa bảo, “Không đâu!”, và “Chúa ghi trên trán Cain một dấu, để ai gặp hắn, sẽ không giết hắn”. Phải chăng, đó là ‘dấu xót thương?’.

Với bài Tin Mừng, Marcô cho thấy một chi tiết khá lạ thường nơi Chúa Giêsu. Trước sự cứng lòng của các biệt phái khi họ đòi một dấu lạ từ trời, Ngài ‘thở dài não nuột!’. ‘Thở dài não nuột’ là một ngôn ngữ yêu thương, một ‘dấu xót thương’. Chi tiết này cho thấy nỗi đau sâu sắc nơi Ngài, một nỗi đau tinh thần, khi bị người khác từ chối tình yêu. Chúa Giêsu nhận ra rằng, họ đang từ chối ân sủng Ngài mang đến; và đây là điều làm Ngài tổn thương nhất. Không phải vì Ngài nhạy cảm; đúng hơn, vì Ngài thương xót vô bờ. Hiếm khi chúng ta nghĩ đến tình yêu Chúa Giêsu dành cho các biệt phái ngoài việc gay gắt lên án họ; thế nhưng hôm nay, Ngài ‘thở dài não nuột’, một ‘dấu xót thương’ thực sự là nỗ lực để lôi kéo họ, nhắc họ đừng thờ ơ và đừng khước từ Ngài.

Cuối cùng, để cứu bằng được những con người biệt phái cứng lòng và cả nhân loại cứng cỏi đáng thương, Chúa Giêsu không chỉ thở dài; nhưng còn phải nằm dài trên thập giá, chịu đóng đinh và chịu treo trên nó. Thập giá là dấu lạ vĩ đại nhất trong các dấu lạ; một dấu lạ từ đất thấp vói tới trời cao; trên đó, Con Thiên Chúa treo lơ lửng giữa trời và đất, đó cũng là ‘dấu xót thương’ lớn lao nhất; bởi lẽ, nó chứa đựng chính ‘tác giả của dấu lạ’. Dấu lạ này muôn đời tồn tại! Ở đâu có Kitô hữu, ở đó có hình bóng thập giá và thánh giá thật trong đời. Dấu này chỉ có thể đọc được nhờ đức tin; vì chỉ đức tin mới mở ra được mầu nhiệm của nó. Chúa Giêsu hôm nay đang tự hạ để ở lại với chúng ta bằng mọi giá; Ngài tự hạ dưới dấu lạ của bánh và rượu, các Bí Tích, và cả dưới hình dạng của những con người khốn khổ và thánh giá của họ.

Anh Chị em,

“Họ xin Ngài một dấu lạ từ trời”. Thập giá là dấu lạ từ trời! Thập giá là ‘dấu xót thương’ vĩ đại nhất Thiên Chúa dành cho con người. Thiên Chúa đã biến sự chết cũng như thập giá, một dụng cụ tàn độc nhất thành dụng cụ diễn tả tình yêu bao dung, tha thứ nhất; một dụng cụ giết người thành dụng cụ giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời; một dụng cụ chế nhạo của con người thành dụng cụ diễn tả chiến thắng vinh quang của Con Thiên Chúa và vinh quang của những ai theo Ngài.

Đó là cách thức Thiên Chúa cứu độ con người. Qua bao thế hệ, tội lỗi của con người cứ tiếp diễn, lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn tuôn chảy tràn lan trên thế gian này; và thập giá Đức Kitô không ngừng dang tay đợi chờ để ôm lấy tất cả những ai biết chạy đến với Ngài. Vậy bạn và tôi đâu còn phải chờ đợi một dấu nào khác!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu con yếu hèn bất xứng, Chúa vẫn ban cho con biết bao ‘dấu xót thương’. Cho con cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương, hầu con ao ước nên thánh hơn mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Lại nói về Tình yêu – Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Dòng Tên Viêt Nam

Tình yêu bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ hết sức huyền nhiệm của hai con người. Họ hoàn toàn xa lạ với nhau, chẳng có huyết thống với nhau, vậy mà cảm thấy từ nơi nhau một sức hút mãnh liệt đến lạ kỳ. Cuộc gặp gỡ đó hệt như một định mệnh được an bài, cái mà người ta vẫn gọi là duyên, là nợ. Thế giới này đâu phải chỉ có hai người, hay một vài người lẻ tẻ. Tại sao ta lại không thấy thu hút bởi người khác mà lại là người này? Tại sao người khác, tuy nổi bật hơn, xuất chúng hơn lại chẳng để trong ta một ấn tượng nào, còn với người này, chỉ cần một lần gặp gỡ thì hình bóng đã như ở lại trong tim ta chẳng thể xoá nhoà? Có một cái gì đó vượt ngoài tầm kiểm soát của lý trí ta. Có một sự bất tuân của con tim dành cho lý trí mà dù ta có cố gắng kìm nén hay điều chỉnh thế nào, tình yêu muốn đến thì cứ đến, muốn đi thì cứ đi.

Lạ lắm cái cảm giác khi yêu, vì nó đụng chạm đến tầng sâu thẳm nhất của con người. Nó không phải chỉ dừng lại ở cảm giác thích thú vì gặp được một người cùng chí hướng, cùng sở thích… như ta có với bạn bè, đồng nghiệp. Nó là một sự khoả lấp tròn đầy của hữu thể, là một nửa còn thiếu lúc tạo thành của ta. Tìm thấy tình yêu và được nên một với người mình yêu, những gì trống vắng trong ta được đong đầy, ta trở thành ta trong cái trọn vẹn nhất, mình và cả người kia. Sức cuốn hút ấy mạnh đến nỗi nó loại trừ sự can thiệp của người thứ ba. Nó không chấp nhận một sự chia sẻ nào. Nó cũng bao hàm một sự chiếm hữu, một lời mời gọi kết hiệp với nhau để thăng tiến nhau và làm cho sự kết hiệp này được sinh hoa kết trái.

Chẳng ai trên đời này sống mà chưa một lần trải nghiệm hương vị của tình yêu. Mọi hạnh phúc đau khổ trên đời cũng đến từ hai chữ này. Cũng nhờ yêu mà người ta trở nên dễ thương, hoà đồng, vui vẻ… và cũng tại yêu mà có hận thù, có đắng cay, có ghen ghét. Chính tình yêu đã làm cho cuộc sống nhân gian này trở nên muôn màu muôn sắc. Nó cho con người thấy mình nhỏ bé lắm, yếu đuối lắm. Nó thúc bách người ta lên đường để kiếm tìm. Nó cho người ta sức mạnh để vượt qua bão giông… Ai đã trải qua một lần yêu, dù là thành công hay thất bại, sẽ thấy mình được lớn lên rất nhiều, sẽ học được nhiều bài học hay, sẽ trở nên cứng cáp hơn, trưởng thành hơn và nghiệm ra được nhiều điều mới mẻ. Họ biết rằng mình đã lớn và sẽ phải “lìa khỏi cha mẹ mà kết hợp với người mình yêu”. Người ta sinh ra từ gia đình, lớn lên trong gia đình nhưng lại chung chia cuộc sống mình đến suốt cuộc đời với một người xa lạ. Cái huyền nhiệm của tình yêu là thế: hai là một, một mà là hai.

Yêu một người là yêu chính con người ấy, chẳng cần lý do hay vì mục đích tư lợi gì. Yêu luôn cả cái hay cái dở, yêu cả cái xấu lẫn nét đẹp, yêu cả quá khứ lẫn tương lai. Yêu ai, chưa hẳn vì người ấy hoàn hảo, nhưng là nhìn mọi sự nơi người ấy trong sự toàn hảo của tình yêu, ví như một người không nhìn khoảng đen trên nền trời đêm, mà chăm chú thưởng ngoạn ánh sao đang lấp lánh và thấy chúng sao xinh đẹp lạ thường. Có đôi khi, người ta yêu nhau vì khác nhau nhưng lại bổ khuyết cho nhau, chứ không phải vì giống nhau đến từng chi tiết. Nếu ai đó chưa tìm thấy cho mình một tình yêu, có khi là do họ tự cho mình ở một vị trí cao, rồi đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn; họ đóng con tim mình, không để nó thoả sức tung tăng dạo chơi để bắt gặp một con tim khác cùng tần số. Tình yêu không thể nảy sinh khi bị gượng ép; tình yêu cũng không thể lớn lên bị cái gì đó kiềm kẹp.

Nhưng tình yêu không chỉ là những cảm xúc lâng lâng khó tả, những vần thơ đẹp, những bài hát hay. Tình yêu còn bao gồm một trách nhiệm rất lớn. Khi yêu, người ta lìa bỏ tất cả để đến với người mình yêu. Đó là khoảnh khắc đánh dấu sự chín muồi của một giai đoạn. Quá khứ êm đềm bỏ lại đằng sau, tay nắm tay tiến về phía trước. Người ta bước vào cuộc đời nhau, đón nhận nhau và trao gửi cho nhau tất cả. Chính từ đây mà người ta thấy mình không còn nhỏ bé nữa. Người ta phải sống như một người lớn, phải biết nghĩ đến ngày sau, phải học cách hy sinh, nhẫn nhịn, phải biết từ bỏ điều không giúp ích dù ta rất thích và học yêu cái chẳng khiến ta vui. Rồi đây, khi đã là vợ chồng, rồi có con cái, một gia đình nhỏ được tạo lập, cả hai người sẽ còn phải lao lực nhiều hơn nữa. Sắc đẹp sẽ phôi phai, sự cường tráng cũng không còn, cơn bão cuộc đời lại cứ không ngừng kéo đến… tất cả những điều này sẽ chứng thực cho một tình yêu tinh ròng và thuần khiết mà cả hai đã có với nhau lúc ban đầu. Không có tình yêu, người ta sẽ không thể nào hoàn thành được trách nhiệm nặng nề là quan tâm lo lắng và chăm sóc nhau trên từng bước đi cho đến khi không còn hơi thở.

Thứ duy nhất trên đời này có thể thắng được cái chết chính là tình yêu. Đó là lý do vì sao Thiên Chúa được định nghĩa là Tình Yêu, và câu chuyện khởi đầu trong Kinh Thánh là một câu chuyện về tình yêu. Thiên Chúa đã ghi dấu ấn tình yêu của mình nơi công trình tạo dựng của mình khi cho chúng hiện hữu và Ngài còn hiện thực hoá tình yêu ấy khi cho một người nam và người nữ kết hiệp với nhau, truyền cho họ phải sinh sôi nảy nở để thống trị vũ trụ này. Ai yêu thật sự khi không bao giờ chết. Dù có nhắm mắt xuôi tay về thể lý, họ vẫn sống sự sống bất diệt nơi người đã cầm giữ con tim họ. Yêu, chính là tình yêu, chứ không phải cái gì khác, mới làm cho người ta được sống và sống trong niềm hạnh phúc sung mãn, vì nó làm cho người ta nên giống Chúa, Đấng là Tình Yêu bất diệt.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Tại sao các dấu hiệu thánh của phụng vụ cũng cần có những lời nói nữa?-Cha Vương

Chúc bạn một tuần mới thật nhiệt huyết sau trận đấu Super Bowl 2023 hôm qua (giải vô địch bóng bầu dục Mỹ). Ai thắng độ hãy chia sẻ cho kẻ nghèo đói nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 13/02/2023

GIÁO LÝ: Tại sao các dấu hiệu thánh của phụng vụ cũng cần có những lời nói nữa? Cử hành phụng vụ có nghĩa là gặp gỡ Thiên Chúa, để cho Người hành động, để nghe Người nói và đáp lời Người. Giống như các cuộc đối thoại luôn cần diễn tả bằng lời nói và cử chỉ. (YouCat, 182 số)

SUY NIỆM: Chúa Giêsu đã nói với loài người bằng các dấu hiệu và lời nói. Hội thánh cũng làm như thế khi linh mục dâng lễ vật và nói: “Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy”. Lời này của Chúa Giêsu làm cho các dấu hiệu trở thành bí tích: dấu hiệu thực hiện cái mà nó có ý chỉ.

Các thiên thần cùng nhau ca lên: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, trời đất đầy vinh quang Chúa” (Is 6,3) (YouCat, số 182 t.t.)

❦ [Khi giảng dậy, Đức Giêsu thường dùng những dấu hiệu trong thiên nhiên để diễn tả mầu nhiệm Nước Thiên Chúa (x. Lc 8,10). Ngài thực hiện việc chữa lành và củng cố Lời Ngài giảng bằng những dấu hiệu hữu hình hay hành động biểu trưng (x. Ga 9,6 ; Mc 7,33-35 ; 8,22-25).

Ngài đem lại ý nghĩa mới cho những biến cố và dấu hiệu của Cựu ước, nhất là biến cố Xuất hành và Vượt qua (x. Lc 9,31 ; 22,7-20), vì chính Ngài là ý nghĩa của mọi biểu trưng này GL 1151.

❦ Trong các cử hành Phụng vụ và Bí tích, một mặt Giáo Hội sử dụng những dấu hiệu và biểu tượng Tân ước hoàn tất các biểu trưng Cựu ước, mặt khác, thanh luyện và tiếp nhận tất cả sự phong phú của những dấu hiệu và biểu tượng trong thiên nhiên và trong đời sống xã hội của nhân loại.] (Nguồn: Phụng Vụ Cử Hành Như Thế Nào?, Lm. Ant Nguyễn Đức Khiết)

LẮNG NGHE: Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. (Ga 9:6-7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, khi tạo dựng con người, Chúa ban cho con có hồn và xác— giác quan và linh thiêng. Và còn phú cho con có khả năng diễn tả và tiếp nhận các thực tại thiêng liêng qua dấu hiệu và biểu tượng vật chất. Xin giúp con biết sử dụng những món quà này cho đúng để cảm nghiệm được Chúa đang hiện diện trong việc cử hành phụng vụ và bí tích, nhất là trong bí tích Thánh Thể.

THỰC HÀNH: Tích cực tham dự Thánh Lễ – chú tâm vào lời kinh tiếng hát để hết lòng ca tụng, kết hiệp và tôn vinh Chúa.

From: Đỗ Dzũng

Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria: LHQ lo ngại số người chết vượt mức 50.000

RFI Tiếng Việt

Theo số liệu tính đến trưa 12/02/2023, số nạn nhân thiệt mạng tại thổ Nhĩ Kỳ và Syria trong vụ động đất hôm 06/02 đã lên tới hơn 28.000 người. Đến thăm Kahramanmaras, Thổ Nhĩ Kỳ, lãnh đạo cơ quan cứu trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Martin Griffiths cho Sky News biết số nạn nhân trên thực tế có thể sẽ tăng gấp đôi, thậm chí là hơn thế nữa.

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria: LHQ lo ngại số người chết vượt mức 50.000

CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐÃ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI TRỞ NÊN DỐI TRÁ

 

Hình từ bài chủ

Hoa Mai Nguyen.

Quyền Được Biết

Hậu quả tất yếu của của một chế độ cộng sản độc tài luôn nhồi nhét để đào tạo ra những con người dối trá khiến cho đạo đức xã hội ngày càng xuống dốc. Sự xuống dốc của đạo đức xã hội khiến con người luôn đề cao cảnh giác lẫn nhau.

Những con người làm việc chung trong một guồng máy, cùng chung một lý tưởng cũng luôn cảnh giác và đấu đá tranh giành quyền lực, tìm cách triệt hạ nhau bằng mọi thủ đoạn. Tâm lý này đã thấm sâu vào tâm lý nghi ngờ đố kỵ của con người trong nhiều năm qua.

Chúng ta có thể nhìn thấy qua tư duy và hành động của họ, những con người đó hôm nay là bạn đồng nghiệp cùng làm ăn chia chác vui mừng chạm ly trong những đợt chiến thắng, nhưng ngày hôm sau sẵn sàng là kẻ thù của nhau, vì họ lúc nào cũng luôn đề phòng lẫn nhau.

Một anh bạn tôi mới về quê hương đón tết, sau khi trở lại nước Đức đã tâm sự với tôi rằng “Xã hội Việt Nam ngày nay đã trở nên cực kỳ phức tạp, chế độ độc tài đã làm cho người dân không còn tin tưởng chính quyền, chữ tín và đạo đức đối với cán bộ nhà nước đã không còn nữa”. Chính quyền coi nhân dân như cá nằm trên thớt để chặt chém. Chính quyền đại diện cho dân nhưng dân đã không còn niềm tin. Chỉ có niềm ngao ngán và bức xúc.

Chế độ độc tài đã trở thành hiện thân của nạn tham nhũng văn hóa và đạo đức. Xã hội mỗi ngày một suy đồi, người với người lừa dối nhau, chính phủ không tin nhân dân, nhân dân cũng không tin chính phủ, pháp luật không được thực thi theo đúng văn bản. Luật một đằng, cán bộ làm một nẻo. Đối với quốc gia thì tình trạng xã hội như vậy thật quả là một điều đáng buồn cho đất nước VN.

Nhiều năm qua tham nhũng tại VN đã trở thành một căn bệnh ung thư của các cán bộ chính quyền địa phương ở các cấp các nghành. Họ tham nhũng không trừ một thứ gì, từ gói mỳ tôm, những đồng tiền nhỏ bé để cứu trợ cho người dân trong những đợt lũ lụt, béo bở hơn nữa là những hợp đồng của những đám tay to mặt lớn đang bán dần đất đai, tài nguyên và khoáng sản cho các tập đoàn nước ngoài, chủ yếu là tập đoàn của Trung Quốc, trong khi đó người dân Việt Nam phải vật lộn với đầy những khó khăn trong cuộc sống. Đó là chưa nói tới nỗi lo âu đối với những mặt hàng hóa độc hại gây ung thư chết người nhập khẩu từ bên Trung Quốc đang làn tràn khắp mọi miền đất nước.

Chế độ độc tài luôn đào tạo ra những con người dối trá và luôn nghi ngờ đố kỵ lẫn nhau làm cho đất nước và xã hội kém văn minh, chậm phát triển về mọi mặt. Chúng ta chỉ còn cách tốt nhất là giải thể chế độ, xây dựng lại một thể chế mới, một thể chế dân chủ đa nguyên. Lúc đó chúng ta mới có thể xóa đi điều kiện và hoàn cảnh tạo nên tâm lý cảnh giác và lo sợ lẫn nhau. Trong một thể chế đa nguyên, con người có mọi quyền bình đẳng thể hiện qua các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, lúc đó đất nước Việt nam sẽ có một xã hội văn minh, phát triển và hội nhập với thế giới bên ngoài.

Khi niềm tin nơi một chế độ đã bị lung lay, sự chán ghét của người dân đối với chế độ ngày càng lớn. Sự rạn nứt của chế độ sẽ đến từ mọi phía. Tinh thần đoàn kết của mọi tầng lớp trong nhân dân ngày một lớn mạnh, tương lai tới đây sẽ có nhiều hội đoàn đối lập ĐCSVN ra đời tạo nên những làn sóng mạnh để cuốn trôi chế độ CS độc tài tại Việt Nam, như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thành công.

ĐẢNG CỘNG SẢN XƯA VÀ NAY

Đảng xưa kia khờ dại.

Tôn thờ đám Mác-lê.

Tư tưởng Hồ-Trung Cộng.

Mộng bá quyền quê hương.

Đảng ngày nay mê say.

Đô la vơ đầy túi.

Mác-Lê không cần thiết.

Chỉ vỏ bọc bên ngoài.

Bên trong là tham nhũng.

Chúng bán sạch quê hương.

Qua mô hình phát triển.

Đất nước chẳng tiến lên.

Thấy giật lùi tụt hậu.

Quê hương của chúng ta.

Từ biển đảo đất liền

Nay sắp thành Trung cộng.

Lại bắc thuộc ngàn năm.

Nhìn về đất nước tôi.

Đứng bên đây tôi khóc.

Cho dân tộc Việt Nam.

Nỗi đau này đau quá.

Chẳng biết bao giờ nguôi.

Quê hương thuở một thời.

Ông cha ta giữ nước.

Nay con cháu thờ ơ.

Quê hương còn hay mất?

Vẫn ngủ gật không hay.

Về cái gọi là chính sách “hòa hợp, hòa giải dân tộc” của CSVN

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

12-2-2023

Vụ cô ca sĩ Hanni rốt cục đảng CSVN, qua hệ thống tuyên giáo, lại vi phạm những nội dung mà họ đã “nghiêm chỉnh đồng thuận” trong Nghị quyết 36 về công tác đối với người Việt ở nước ngoài.

Đó là việc “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai“.

Bởi vậy câu “đừng nghe… mà hãy nhìn…” của cố tổng thống Thiệu luôn là chân lý cho mọi thời đại.

Cam kết “xóa bỏ định kiến”, “không phân biệt đối xử” nhưng tuyên giáo của đảng luôn hành xử với người Việt ở nước ngoài trên tinh thần phân biệt “địch-ta”.

Thực thể VNCH đã tiêu vong từ năm 1975, không ai có thể “hà hơi” khiến chế độ này sống lại hết cả.

Làm gì có “tinh thần cởi mở” khi tuyên giáo CSVN luôn coi VNCH là “địch”. Làm gì có vụ “xóa bỏ định kiến”, xóa bỏ phân biệt giai cấp, thành phần xuất thân qua vụ 50 năm sau, cháu nội, cháu ngoại những người VNCH cũ vẫn bị xếp vào thành phần “địch”.

Thành quả về văn hóa của lớp con cháu VNCH cũ gầy dựng được ở nước ngoài vô hình trung trở thành “văn hóa phản động”. Không có luật nào cấm nhưng qua “bàn tay bí mật” là lực lượng tuyên giáo, đảng CSVN không cho phép thành phần này “kiếm tiền” trên đất nước Việt Nam.

Theo tôi vụ này “lợi bất cập hại”.

Mới đây phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam còn lên tiếng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, sau khi vụ người Việt Nam kiện bồi thường chiến tranh thành công tại một tòa án Nam Hàn. Tức là CSVN sẽ không cho phép dân chúng kiện cáo tiếp để đòi bồi thường.

Nếu so sánh việc này với nội dung dẫn trên của Nghị quyết 36. Cả hai đều có một mục tiêu: Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Thực tế: Thấy vậy mà không phải vậy.

Việt Nam hiện nay cần Nam Hàn hơn là Nam Hàn cần Việt Nam. Việt Nam cần đủ thứ, từ kinh tế cho tới quân sự. Thử hỏi, nếu Nam Hàn không bán vũ khí cho Việt Nam, thì Việt Nam từ nay lấy gì để vũ trang?

Nhưng tuyên giáo Việt Nam “thọc gậy bánh xe”, vụ cô Hanni là vụ thứ hai. Vụ trước là vụ tập phim “Ba chị em” trình chiếu trên Nexflix bị cấm chiếu ở Việt Nam, do “xuyên tạc lịch sử”.

Theo tôi, chính phủ Nam Hàn nên xét lại các quan hệ với Việt Nam. Cũng như tập thể VNCH cũ.

Việt Nam là một đối tác chiến lược toàn diện với Nam Hàn. Quan hệ này không cho phép hiện hữu cái cách hành xử “như kẻ thù” của tuyên giáo đối với con người, cũng như sản phẩm văn hóa của Nam Hàn.

Tuyên giáo Việt Nam, qua cô Hanni, chống mọi sự “kiếm tiền ở Việt Nam” của các lực lượng “chống Cộng”.

Nam Hàn cùng VNCH cũ là đồng minh cật ruột, cùng đổ máu chống lại sự bành tướng của cộng sản. Nam Hàn vì vậy là một quốc gia chống Cộng xuất sắc, có hiệu quả tại khu vực châu Á. So sánh Nam Hàn với Bắc Hàn hay Việt Nam ta thấy rõ điều này.

Tuyên giáo là cánh tay ngầm, là bề mặt của ý thức hệ của đảng CSVN. Vì vậy các đầu tư của các tập đoàn Nam Hàn vào Việt Nam, cũng như cô Hanni, sẽ không được hoan nghênh tại Việt Nam.

Về tập thể VNCH cũ, đảng và nhà nước CSVN không hề có chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc. Họ chỉ có chính sách “đại đoàn kết dân tộc”. Mặt trận Tổ quốc là cơ quan có trách nhiệm thi hành mục tiêu này (điều 3, khoản 1, Luật về Mặt trận Tổ quốc).

Hai khái niệm hòa hợp và hòa giải dân tộc và “đại đoàn kết dân tộc” hoàn toàn khác nhau.

Mục tiêu (trách nhiệm) của MTTQ không hề nói bất cứ một điều gì liên quan đến “hòa hợp và hòa giải dân tộc”.

Một số các bài viết của tuyên giáo có đề cập đến cụm từ “hòa hợp và hòa giải dân tộc”, với mục đích “đánh tráo khái niệm”, gắn liền chính sách “đại đoàn kết dân tộc” hiện hữu từ thời trước 1954 với cái gọi là “hòa hợp và hòa giải dân tộc”. Những bài viết này chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây.

Tin lời cán bộ CSVN về sự hiện hữu của chính sách “hòa hợp hòa giải dân tộc” là bán lúa giống.

Gần nửa thế kỷ, “cây cầu Hiền Lương” vẫn chưa được nối liền

Báo Tiếng Dân

Song Chi

12-2-2023

Đọc thấy trên trang facebook của một bạn viết như thế này: “Một bạn chia sẻ, ‘Cứ mỗi lần ra Bắc là thấy ấm ức thay cho người miền Tây, dù mình không phải là người dân nơi đây. Một vùng trọng điểm xuất khẩu nông thủy sản lớn nhất nước mà đường xá không bằng phân nửa của một tỉnh phía Bắc. Mình đi ra Bắc thấy đường xá ngon lành, rộng dư thừa, trong khi miền Nam thì quá tệ, trong khi kinh tế Miền Nam lao động sản xuất khó nhọc đóng thuế nuôi bộ máy công chức công quyền bộ ngành miền Bắc ăn trắng mặc trơn. Thật bất công! Vì sự bất công này mà ĐBSCL trở nên tụt hậu lam lũ và bị chê là có trình độ văn hóa thấp nhất, trở thành vùng trũng về kinh tế giáo dục y tế. Miền Tây đã bị lãng quên hơn một thập kỷ nay. Thương người miền Tây!“

Sự bất công vùng miền là một thực tế mà không ai dám nói ra. Như Sài Gòn làm ra tiền nhiều nhất nhưng phải đóng thuế tới 82%, nhiều nhất nước (Hà Nội đứng thứ nhì 65%), nên không còn lại được bao nhiêu để xây dựng cơ sở hạ tầng. Cứ nhìn giữa Hà Nội và Sài Gòn là biết, hầu hết những công trình lớn đẹp của Hà Nội là do nhà nước đầu tư, còn ở Sài Gòn hầu hết những tòa nhà lớn, buiding đẹp đẽ là từ các công ty nước ngoài, công ty tư nhân, chứ bản thân Sài Gòn mấy mươi năm nay rồi một cái quảng trường cũng không có, một cái sân bóng đá quốc tế không có.

Thôi thì thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN, được đầu tư nhiều nhất cũng phải thôi. Nhưng có những cái không hợp lý lắm như khi đại dịch xảy ra, trong khi Hà Nội dịch nhẹ thì được chích vaccine loại tốt, chích nhiều, chích sớm hơn Sài Gòn bị dịch nặng, mặc dù Sài Gòn đóng góp vào quỹ vaccine nhiều nhất; còn nữa, khi dịch xảy ra mới thấy hệ thống y tế ở cái thành phố làm ra tiền nhiều nhất mà thiếu thốn đủ thứ. Và có thể nói những điều đó cũng góp thêm nguyên nhân khiến nhiều người dân Sài Gòn chết oan ức trong mùa dịch, bên cạnh những chính sách chống dịch chủ quan, duy ý chí, ngu dốt, sai lầm của nhà nước.

Trở lại khu vực miền Tây làm ra lúa gạo xuất khẩu nuôi cả nước mà không được đầu tư gì, nên biết bao người phải bỏ xứ mà đi, lên thành phố làm công nhân, làm đủ thứ nghề hoặc như con gái thì đi lấy chồng Đài, chồng Hàn… Cả nước chỉ có 16/63 tỉnh thành có đóng góp về Trung Ương từ nguồn thu của mình. Một số tỉnh không đóng đồng nào, thậm chí bị xếp vào diện nghèo nhưng lại thường xuyên “đẻ” ra nhiều dự án để “vòi” tiền như xây tượng đài, xây phi trường, mà thực sự thì trong một quốc gia còn nghèo có quá nhiều phi trường để làm gì, ở những tỉnh nhỏ số lượng hành khách đi máy bay có đủ bù lỗ cho kinh khí vận hành một phi trường hàng năm không, trong khi ngành đường sắt quan trọng hơn, rẻ hơn thì lại không đầu tư, mãi đến bây giờ vẫn là loại đường sắt khổ nhỏ 1m đã xây từ thời Pháp thuộc?

Chưa kể, một vài tỉnh nói là nghèo nhưng dân đâu có nghèo? Ví dụ: “Tỉnh nghèo Nghệ An thuộc tốp sở hữu xe hơi nhiều nhất Việt Nam” (VOA), “Nghệ An – Hà Tĩnh là tỉnh nghèo lại mua nhiều ôtô” (Lao Động)… Nếu đi ra một số tỉnh miền Trung phía Bắc, miền Bắc thì thấy hạ tầng cơ sở, đường xá được xây dựng ngon lành gấp bao nhiêu so với miền Tây…

Còn trong chuyện đi du học, đi tu nghiệp ngắn hạn, dài hạn ở nước ngoài thông qua con đường nhà nước thì luôn luôn lọt vào Hà Nội và miền Bắc! Cho nên Tiến sĩ, Thạc sĩ, Giáo sư, Phó Giáo sư ngoài Bắc đầy, còn dân miền Tây bao nhiêu phần trăm tốt nghiệp được đại học?

Gần nửa thế kỷ rồi nhưng có những thực tế phũ phàng vẫn còn. Đó là sự bất công, bất bình đẳng giữa hai miền. Và sự hằn thù, thù hận đối với chính thể Việt Nam Cộng hòa, với lá cờ vàng, không chỉ từ đảng và nhà nước cộng sản mà ngay cả đám hậu sinh, sinh sau đẻ muộn không dính dáng gì tới cuộc chiến tranh Việt Nam cũng vậy. Từ câu chuyện buổi biểu diễn của ca sĩ Khánh Ly bị dẹp vì có bài hát “Gia tài của mẹ” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với những câu, những cụm từ “hai mươi năm nội chiến từng ngày” hay “một lũ lai căng, một lũ bội tình”; cái miếu thờ “Người ở lại Charlie” – Trung tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng cứ điểm Sạc Ly, tử trận ngày 12.4.1972, vừa bị ai đó đập phá tan nát, cho tới việc ca sĩ trẻ người Úc gốc Việt, Hanni Phạm bị tẩy chay vì cha mẹ gốc Việt Nam Cộng Hòa… chỉ là vài ví dụ gần đây nhất. Và nếu vào đọc những comment của cái đám dư luận viên cho tới đám trẻ bị “nhồi sọ” này bên dưới những trang được lập ra để “phong sát” cô ca sĩ này, bạn sẽ rùng mình vì những từ ngữ đầy hận thù của họ.

Nhìn lại, Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ năm 1995 – 20 năm sau khi cuộc chiến tranh kết thúc.

Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 – 12 năm sau cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979, nhưng trên thực tế xung đột, đụng độ vẫn tiếp tục cho tới năm 1988 cũng là năm Trung Cộng chiếm Đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nghĩa là chỉ có 3 năm mà đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” với đảng và nhà nước cộng sản Trung Quốc rồi.

Trong khi đó với chính những người cùng dòng máu tổ tiên, cùng chung lãnh thổ thì gần nửa thế kỷ rồi vẫn sùng sục căm thù, vẫn có những chính sách phân biệt Bắc-Nam. Tại sao vậy?

Có một so sánh dễ hiểu, trong đời thường, nếu bạn mất một việc làm, nếu bạn chia tay hay bị ai đó chia tay, bạn sẽ nhanh chóng quên đi và trở lại trạng thái tâm lý bình thường, hay xử sự bình thường, nếu bạn có một công việc mới tốt hơn, nếu bạn có được một người mới tốt hơn người cũ về nhiều mặt. Nếu hiện tại tốt đẹp hơn quá khứ thì quá khứ sẽ dễ dàng được quên đi, nhưng nếu hiện tại tồi tệ hơn thì quá khứ sẽ khó quên-hoặc tiếc nuối, hoặc thù hận. Và tôi không thấy có cách lý giải nào khác hơn.

Đối với những người miền Nam, tại sao gần nửa thế kỷ họ vẫn nhớ tới giai đoạn 1954-1975 là vì giai đoạn đó về nhiều mặt vẫn tốt đẹp hơn. Còn đối với đảng và nhà nước cộng sản, dù chiến thắng bằng quân sự nhưng cuối cùng họ lại là bên thua cuộc, thua cả Mỹ, thua cả VNCH. Với Mỹ, họ thua vì họ đã phải phản bội lại toàn bộ lý thuyết, lý luận, lý tưởng XHCN, CSCN để học theo cách làm ăn kinh tế thị trường của bên tư bản Mỹ và phương Tây, xài đồ Mỹ, cho con cháu đi du học ở Mỹ, mua nhà hưởng già ở Mỹ… Với VNCH, sau gần nửa thế kỷ, nước Cộng hòa XHCN VN bây giờ về nhiều mặt vẫn thua xa thời VNCH, nhất là về mặt tự do, dân chủ, nhân bản.

Chính đảng cộng sản đã gây ra cuộc nội chiến 30 năm tang thương trên đất nước này, và cũng chính họ, thay vì “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” như họ đã và đang làm với Trung Cộng, thì lại cứ tiếp tục gây chia rẽ, tiếp tục khoét sâu vết thương trong lòng người miền Nam!

Nếu như đối với Mỹ, một mặt thì đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam cần tới chính phủ Mỹ về cả kinh tế lẫn sức mạnh quân sự để tạo thế cân bằng trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương, để Trung Cộng bớt bắt nạt, nhưng mặt khác thì họ vẫn gắn bó, lệ thuộc vào Trung Cộng về chính trị để bảo vệ chế độ, khi cần thì họ vẫn chọn Nga, Tàu chứ không phải chọn Mỹ và các nước dân chủ phương Tây. Bốn lần bỏ phiếu của Việt Nam trong cuộc chiến Ukraine hay việc ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là chính khách nước ngoài đầu tiên vội vã sang “triều kiến” ông Tập Cận Bình sau khi đại hội đảng Trung Quốc lần thứ 20 kết thúc là đủ rõ.

Đối với người miền Nam hay những người có liên quan đến chế độ cũ VNCH cũng vậy. Trong nước thì vẫn có sự phân biệt vùng miền như vừa nói, còn với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, con cháu những người VNCH, một mặt thì đảng và nhà nước cộng sản ve vãn, dùng những cụm từ như “hòa giải hòa hợp”, “khúc ruột ngàn dặm” để chiêu dụ đồng bào gửi tiền về, vì kiều hối thực sự là một nguồn thu ngoan trọng đối với chế độ.

Báo chí cho biết, từ vài năm nay Việt Nam luôn luôn nằm trong top 10 quốc gia có lượng kiều hối gửi về nhiều nhất (ví dụ: “Việt Nam thuộc nhóm 10 nước có lượng kiều hối lớn nhất năm 2021” – CafeF, năm 2022 “Việt Nam lọt tốp 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất trên thế giới” – Vietnam Plus…). Nhưng mặt khác, họ vẫn không bao giờ coi đó là những đồng bào thực sự của mình.