Người đàn bà trên cầu Nitelva – Phạm Tín An Ninh

Phạm Tín An Ninh

Thực ra cây cầu không có tên, nhưng có lẽ vì nó bắc ngang qua đoạn quanh co và đẹp nhất của dòng sông Nitelva, nên người dân ở địa phương này thường gọi như thế. Đây là đoạn cuối cùng của một con sông lớn trước khi đổ ra biển.

Sau khi các con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, vợ chồng tôi bán ngôi nhà rộng cũng nằm bên bờ sông này, nhưng ở tận vùng Fjerdingby xa xôi, về đây mua căn nhà nhỏ trong một khu apartment, nằm khá xa thành phố. Chỉ làm việc thêm một năm là đến tuổi về hưu. Sống trong vùng ngoại ô tĩnh mịch này,  cả ngày không biết làm gì, ngoài cái thú đọc sách và đi bộ. Ở đây khá lâu rồi, nhưng lúc ấy còn phải đi làm, mùa hè thì bận bịu chuyện sửa sang nhà cửa, mùa đông thì chỉ nằm nhà hoặc bay sang Mỹ thăm con nhân dịp nghỉ lễ Phục Sinh, nên chúng tôi không biết gần bên nhà có một con đường đi bộ đẹp và thơ mộng đến như thế. Sau này, khi đã về hưu, nhờ ông bà láng giềng người bản xứ giới thiệu và rủ đi bộ, chúng tôi mới biết.
Con đường tráng nhựa đen bóng, lớn như những tỉnh lộ trong vùng, nhưng đặc biệt chỉ dành riêng cho người đi bách bộ.  Chạy quanh co xuyên qua cánh rừng đầy những loại hoa dọc theo bờ sông Nitelva, đến khúc sông đẹp nhất, là một chiếc cầu đúc bắc qua để tiếp tục đến một khu rừng khác, nhưng bây giờ là cánh rừng thông với những hàng cây cao, thẳng tắp, che kín cả mặt trời.

Chúng tôi khởi sự đi bộ vào đầu mùa hè, bởi mùa đông con đường và cả khu rừng ngập đầy tuyết, dòng sông đóng cứng băng, chẳng ai có hứng thú. Chúng tôi thường đi vào buổi chiều tàn, vắng người.  Mùa hè Bắc Âu trời tối muộn. Có những hôm, đến 12 giờ đêm mà vẫn còn chói chang ánh nắng mặt trời. Hôm đầu tiên và suốt cả tuần sau đó, khi đến giữa cây cầu, chúng tôi thấy một người đàn bà Á châu. Không biết bà đã đến đây từ lúc nào, nhưng khi vừa bước lên cầu chúng tôi đã thấy bà đứng bất động bên thành cầu nhìn đăm đăm xuống dòng sông, như không hề để ý đến mọi điều chung quanh. Muốn chào, hỏi thăm bà đôi câu, nhưng không dám, ngại làm mất đi cái không khí yên tĩnh riêng tư của bà.

Mãi một hôm, trên đường trở về, khi đến gần đầu cầu, trời đang nắng bỗng đổ xuống một cơn mưa rào, chúng tôi chạy vào trú mưa dưới một tàn cây khá lớn, bất ngờ gặp bà đứng sẵn ở đó. Bà gật đầu chào và kéo bà xã tôi đứng sát bên bà để tránh mưa tạt. Rất vui khi biết bà là người đồng hương, đến định cư ở nước Bắc Âu xa xôi này từ khá lâu, năm 1979. Nhìn mái tóc bạc, tôi đoán bà cao tuổi hơn mình. Trông bà hiền lành, nói năng từ tốn, thỉnh thoảng nở nụ cười, nhưng khó tìm được nét vui nào, bởi đôi mắt thật buồn. Và không ngờ cơn mưa rào hôm ấy đã đưa chúng tôi trở thành những người bạn già đồng hương sống đời lưu lạc.

Bà cho biết, bởi hoàn cảnh đặc biệt, nên hơn hai mươi năm nay, từ khi dọn về sống ở vùng  này, bà không quen biết ai. Bà muốn sống yên lặng một mình trong căn nhà nhỏ, riêng tư với những nỗi niềm quá lớn của mình.
-Tôi vẫn muốn giữ lấy quá khứ buồn bã cho riêng mình, cứ sợ chia sẻ với người khác thì mình sẽ chẳng còn lại cái gì hết.

Lần đầu tiên, khi đến thăm chúng tôi bà tâm tình như thế.

Tôi nói như để an ủi bà:

-Người ta thường nói lời phân ưu, chia buồn. Nhưng thực ra cũng chỉ là một cách an ủi thôi. Chứ làm sao có thể chia sớt được nỗi buồn của người khác. Tuy nhiên, khi nói ra cũng là cách để làm nhẹ bớt những gì cứ đè nặng trong lòng mình đi chị ạ.

Sau đó bà thường đến chơi và càng lúc càng thân tình với vợ chồng tôi. Bả bảo thấy rất hợp với chúng tôi, vì có cùng những hoàn cảnh, hoạn nạn, và giờ thì đang cùng “sống ở cuối trời quên lãng” tận xứ Bắc Âu này. Sau lần vợ chồng tôi gật đầu trước đề nghị khi bà muốn được kết nghĩa chị em, bà ôm chầm lấy chúng tôi nước mắt sụt sùi, bảo là bà chỉ có một cô con gái, nhưng phải sống ở trong Trung Tâm dành cho người bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ.

Trung Tâm này khá lớn nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Chúng tôi đã từng đi qua lại rất nhiều lần, nhưng không biết đó là một trung tâm như thế.

Chiều hôm sau, chúng tôi cùng đi bộ theo bà đến thăm cô con gái. Không ngờ đây là một cơ sở rất qui mô, có nhiều bác sĩ đảm trách. Cứ một bác sĩ phụ trách mười bệnh nhân, và mỗi bệnh nhân có riêng một y tá trực tiếp săn sóc, dẫn dắt đi chơi, mỗi năm có hai lần đi du lịch nước ngoài tùy theo hoàn cảnh, xuất xứ của mỗi người.

Cô bé trông khá xinh, nhưng đôi mắt thất thường. Có khi đang thật buồn, bất ngờ trở nên giận dữ. Dường như đôi lúc vẫn còn nhận ra mẹ, nên sau vài phút xa lạ, lại ôm vai và vuốt tóc mẹ. Khi mới đến, cả bà và vợ chồng tôi đã được dặn dò, bất cứ tình huống nào cũng luôn nở nụ cười. Có khi cô bé cũng cười với chúng tôi, nhưng bất chợt sa sầm nét mặt. Tôi nhìn thấy bà cười, nhưng có dòng lệ ứa ra từ khóe mắt. Trên đường về, thấy bà trầm ngâm, chúng tôi tìm cách đi sau bà, tôn trọng sự yên lặng và những suy nghĩ trong đầu bà. Đã có hẹn trước, chúng tôi mời bà về nhà dùng cơm tối với chúng tôi. Biết sở thích của bà, bà xã tôi đã cuốn sẵn chả giò, về nhà chỉ chiên lên là xong.

Tối hôm ấy, bà ở lại với chúng tôi, và ngồi kể lại cuộc đời mình. Bà cho biết đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất bà kể những điều này, bởi bà xem chúng tôi như người thân trong nhà, và có thể sau này có đôi điều cần thiết phải nhờ đến chúng tôi.

Trước ngày mất nước, chồng bà là thiếu tá Pháo Binh thuộc Quân Đoàn I. Ông là bạn học cùng lớp với ông anh cả của bà. Hai người làm đám cưới ở Nam Định, lúc bà vừa đúng 18 tuổi. Sau đó theo về sống cùng nhà chồng, ở thành phố Hải Phòng. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì  xảy ra chuyện Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước, bà theo gia đình chồng xuống tàu há mồm di cư vào Nam, trong lúc cả gia đình của bà vẫn còn kẹt lại. Ngoài cha mẹ, bà chỉ có một người anh duy nhất, là bạn cùng học ở Hà nội với ông chồng.
Vào miền Nam, chỉ có một lần duy nhất bà nhận được tấm bưu thiếp của gia đình với đôi dòng vắn tắt, rồi bặt tin luôn. Nuốt bao đau đớn vào lòng, bà cố quên đi nỗi buồn chia ly, để cùng gia đình chồng tìm kế sinh nhai trên vùng đất mới, giúp chồng tiếp tục con đường học vấn dở dang.

Sau ba năm đại học, ông đi dạy toán ở một vài trường trung học tư thục để lo cho gia đình. Khi ấy ông bà cũng vừa có đứa con trai đầu lòng. Mấy năm sau, do tình hình chiến tranh ngày một leo thang, ông theo lệnh gọi nhập ngủ vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Sau đó được chọn theo học Ngành Pháo Binh.

Ra trường, ông lần lượt chuyển về phục vụ tại các đơn vị Pháo Binh của các Sư Đoàn Thuộc Vùng 3, rồi Vùng 2.  Khi thăng cấp Thiếu Tá, đang làm Tiểu Đoàn Phó, ông được chọn sang Mỹ học một khóa chuyên môn. Về nước, được bổ nhiệm về Trường Pháo Binh Dục Mỹ để đảm trách huấn luyện. Năm 1971, tình hình chiến sự Vùng 1 trở nên quyết liệt, sau những thiệt hại nặng nề trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, ông được chọn bổ sung cho Pháo Binh Quân Đoàn I. Bà và ba đứa con di chuyển theo ông, thuê căn nhà nhỏ ở thành phố Đà Nẵng. Bà lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ, ông ở đơn vị, mỗi tuần một đôi lần về thăm. Có khi bận hành quân cả tháng mới về được một lần rồi vội vã ra đi.

Đầu tháng ba 75, thấy tình hình có nhiều dấu hiệu bất lợi, ông  thu xếp cho vợ và ba đứa con về lại Sài gòn, tá túc tạm thời với gia đình người em, một sĩ quan Hải quân, đang làm việc ở Hải Quân Công Xưởng. Hôm đưa ra phi cơ, ông ôm bà và hai đứa con thật chặt, không muốn rời nhau.  Không ai ngờ đó lại là dấu hiệu của chia ly.

Ngày 11.3  Ban Mê Thuột thất thủ. Cuộc di tản từ Pleiku theo tỉnh lộ 7 B đã kết thúc số phận của các đơn vị thuộc Quân Đoàn II, từng tạo nên những chiến công hiển hách , đặc biệt đã đánh tan mấy Sư đoàn Cộng quân của Mặt Trận B3, để giữ vững Kontum và Tây Nguyên trong suốt mùa hè khói lửa 1972. Rồi tiếp theo là lệnh bỏ Quân Đoàn I của vị tướng lừng danh Ngô Quang Trưởng. Không mấy ai tin là ông sẽ bỏ vùng đất địa đầu từng thắm đẫm máu đào của hàng vạn sinh linh, đồng đội, một thời trấn giữ, giành lại từng tấc đất, để dựng cờ trên Cổ Thành Quảng Trị. Vậy mà cuối cùng đã bỏ, bỏ thật. Mọi người, từ quân tới dân đều bàng hoàng, hụt hẫng.

Kế hoạch di tản và sự phối hợp, chỉ huy tồi tệ của một số tướng lãnh, đã tạo nên một cuộc bại trận đớn đau bi phẫn nhất trong lịch sử chiến tranh. Một cuộc lui quân đẫm máu trên bờ biển Thuận An, mà có những người lính gọi đó là pháp trường cát. Một vùng biển máu ngập những xác người, cả dân và đủ mọi sắc lính. Một quân đoàn với ba sư đoàn bộ binh thiện chiến, nhiều Liên Đoàn Biệt Động Quân dạn dày lửa đạn, những Thiết Đoàn Kỵ Binh với hỏa lực hùng mạnh, hai  Lữ Đoàn TQLC của một đơn vị Tổng Trừ Bị vang danh, từng tạo những chiến tích lẫy lừng ở các trận chiến Mậu Thân, Quảng Trị, giờ phải lâm vào bước đường cùng, không còn lối thoát, không còn đạn để có thể chiến đấu. Nhiều người tự sát trong tiếng cười ngạo nghễ, nhiều người bị giết khi vừa bắn đi viên đạn cuối cùng, và tất cả số còn lại bị bắt bởi những tên du kích!

Chồng bà là một trong hàng vạn người lính bất hạnh ấy. Vị thiếu tá Pháo Binh đã phải phá hủy hết các khẩu pháo, từng bao nhiêu năm sống chết với mình, để chỉ tự vệ bằng cây súng cá nhân M16, rồi cuối cùng cũng phải vất đi để chiến đấu với sóng biển, với số phận, khi tìm cách bơi ra những chiến hạm Hải Quân lắc lư xa tít ngoài khơi, dưới xích sắt của những chiến xa M113 cũng lội sóng đi tìm sinh lộ.

Ở Sài gòn, mỗi ngày bà ra bến Bạch Đằng hỏi tin tức chồng mình, nhờ người em Hải quân liên lạc các chiến hạm công tác tại Vùng I, nhưng tất cả đều không thể cho bà một tin tức nào cụ thể. Trong cái mất mát quá lớn và khủng khiếp ấy, cá nhân một ông thiếu tá, chồng bà, trở nên vô cùng nhỏ nhoi hơn bất cứ lúc nào.

Cuối cùng thì Cộng quân cũng vào đến Sài gòn. Người Mỹ có lệnh phải ra đi. Những người làm việc cho Mỹ hoặc có liên quan đến họ bắt đầu được ưu tiên di tản khỏi Việt nam bằng phi cơ. Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy Sư Đoàn 18 BB của ông cùng các lực lượng Thiết Giáp, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tăng phái, đã chiến đấu thật dũng mãnh, kiêu hùng, ngăn chặn hằng mấy quân đoàn địch tràn vào Long Khánh, làm cả thế giới ngạc nhiên, thán phục. Nhưng cũng chỉ cầm chân được hơn một tuần. Địch quân tránh đụng độ, mở đường sang hướng Biên Hòa để bao vây, uy hiếp Sài gòn.

Tối ngày 29.4, người em chồng từ Hải Quân Công Xưởng mang xe về nhà đón vợ con xuống tàu. Anh thúc hối bà và ba đứa con theo ông di tản. Nhưng bà nhất quyết cùng con ở lại chờ chồng.

Miền Nam mất vào tay Cộng Sản đã hơn một tháng, chồng bà vẫn biệt tăm. Bà nghĩ chắc ông đã bị bắt, lặn lội ra Đà Nẳng tìm. Vào các trại tù nhốt những sĩ quan miền Nam hỏi thăm, nhưng không ai biết chồng bà. Bà tìm đến nhà anh tài xế cũ, nhờ đưa bà đi thăm một số đồng đội  của chồng. Cuối cùng, một anh trung sĩ, người lính thân cận của ông, cho biết là ông đã chết trên biển. Chính anh cùng bơi ra với ông và nhìn thấy ông bị thương do pháo kích của địch, rồi chìm xuống biển, nhưng anh không thể nào cứu được, bởi lúc ấy, anh cũng không nghĩ là mình có thể sống sót. Bà nhờ anh trung sĩ đưa bà ra bờ biển và chỉ nơi nào ngoài khơi mà ông đã ra đi. Nhìn những cánh hải âu lượn lờ trên mặt nước, tưởng như hóa thân của chồng mình, bà quỳ xuống khóc nức nở.

Cuộc đổi đời đã dìm bà và cả ba đứa con xuống vực thẳm. Nhà ngươi em bị tịch thu, kẻ chiến thắng đuổi mẹ con bà không chỉ ra khỏi nhà mà ra khỏi cả Sài gòn. Bà dắt con chạy lên Long Khánh tá túc nhà một người bạn thân có vườn cây ăn trái, rồi mua lại một căn nhà tranh bên cạnh để sống qua ngày. Nhờ người bạn giúp, bà theo buôn bán trái cây. Cả ba đứa con phải nghỉ học, ở nhà khai khẩn thêm đất hoang, làm vườn, trồng khoai, trồng sắn.

Lo âu khốn khổ chất chồng, bà không còn biết đến thời gian. Mấy năm sau, nhờ những thùng quà của người em chồng từ Mỹ gởi về, mẹ con bà có được chút vốn làm ăn, cậu con trai lớn tập tành buôn bán thuốc tây. Bớt khổ một chút.

Nhưng đùng một cái, khi cậu con trai đầu lòng này vừa tròn 22 tuổi, thì trận chiến biên giới với Campuchia bùng nổ, Trung Cộng đòi dạy cho Việt nam một bài học. Thằng bé bị bắt “thi hành nghĩa vụ quân sự”. Bà phản đối, nêu lý do nó là con của “ngụy” sao các ông tin mà cho vào “Quân Đội Nhân Dân”. Nhưng họ vẫn nhất quyết cưỡng bách, bảo là đáng lẽ phải đi cả hai anh em, như vậy là nhân đạo lắm rồi. Cũng có thể thằng bé phải thế chỗ cho một thằng nào có tiền bạc chạy chọt hoặc quen biết bà con với đám chính quyền. Năn nỉ xin xỏ không được, bà khóc hết nước mắt tiễn con đi, làm lính cho kẻ thù. Bà đau lòng lắm, chỉ cầu mong Trời Phật và vong linh chồng bà phù hộ cho nó. Nhưng chỉ ba tháng sau, bà nhận giấy báo, đứa con trai đầu lòng của bà đã trở thành liệt sĩ! Không biết xác thân nằm ở nơi nào.Người ta chỉ mang đến cho bà tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công. Họ vừa ra khỏi nhà, bà xé nát rồi cho vào bếp lửa. Trong ngôi nhà tranh bé nhỏ giờ có hai cái bàn thờ, leo lét ánh đèn dầu.

Giữa năm 1979, muốn cướp tài sản của những người gốc Hoa, Cộng Sản bày ra chương trình “Ra đi bán chính thức”. Nhờ người em chồng ở Mỹ, liên lạc được một người lính thuộc cấp thân cận cũ gốc người Hoa Chợ Lớn, nhờ ứng vàng và lo lót cho công an, làm giấy tờ giả cho ba mẹ con bà ra đi. Ông sẽ hoàn tiền lại khi họ đến Mỹ.

Chiếc thuyền mới đóng, lớn và chắc chắn, nhưng mới ra khơi hai ngày thì hỏng máy. Hai người thợ máy đi theo lại chẳng biết gì về máy tàu, nên cuối cùng chiếc thuyền như thả trôi giữa biển mênh mông, mang theo số mạng của hơn hai trăm người. Tất cả chỉ còn cầu nguyện để mong có một chiếc tàu nào cứu thoát. Nhưng bao nhiêu lời cầu xin vẫn chưa làm động lòng Trời. Chiếc thuyền trôi dạt trên hai mươi ngày, lương thực đã cạn, và vì do không điều khiển được nên bị sóng đánh, nhiều lúc như muốn chìm. Nước tràn vào trong khoang. Mặc dù không còn sức, nhưng tất cả đàn ông đều được gọi lên trên mạn thuyền để thay nhau tát nước.

Một số tháo những thanh gỗ trên đài chỉ huy, thu góp tối đa áo quần, chăn mền mang theo, đốt lên tạo thành cột khói để làm dấu hiệu cấp cứu. Con thuyền nghiêng ngả, những đợt sóng lớn đánh vào mạn thuyền, kéo theo một số người xuống biển khơi. Sinh mạng con người lúc này thật nhỏ nhoi. Ai cũng nghĩ rồi sẽ đến lượt mình. Khi tàu sắp chìm, thì Thượng Đế xuất hiện. Một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu họ.

Thủy thủ đoàn trên tàu rất nhân đạo, tận tình cứu vớt. Họ thi nhau dùng dây đu xuống chiếc thuyền bị nạn, ưu tiên cõng theo con nít và đàn bà, và giúp những người đàn ông cố bám theo chiếc thang lưới, leo lên tàu. Ngay trên sàn tàu, họ sắp xếp đàn ông vào một khu, đàn bà một khu khác, rồi dùng vòi nước ngọt “tưới” lên những người bị nạn để giúp họ tỉnh táo lại, và phát quần áo mới để thay.

Sau khi hoàn hồn, không tìm thấy cậu con trai, bà và cô con gái chia nhau đi tìm nhưng không ai biết. Cả anh lính Hải quân đã giúp mẹ con bà cũng mất tích. Bà và cô con gái ôm nhau khóc nức nở, đòi nhảy xuống biển. Vị thuyền trưởng người Nauy biết chuyện nên lệnh cho cô bác sĩ  đưa mẹ con bà vào phòng y tế săn sóc và bảo đảm sự an toàn. Bà bảo, nếu không nghĩ đến cô con gái út, bà đã nhảy xuống biển.

Đến định cư ở Nauy, một đất nước giàu có và đầy lòng nhân đạo, bà và cô con gái được ưu tiên sắp xếp cho định cư ngay tại thủ đô Oslo. Mẹ con được cấp một căn nhà mới khang trang, hai phòng ngủ có đầy đủ tiện nghi. Cô con gái được theo học một trường Gymnas (trung học đệ nhị cấp) sau một khóa học ngôn ngữ Nauy dành cho người ngoại quốc.

Bà cũng được theo học tại một trường Voksengymnas (trung học dành cho người lớn). Hằng tháng, với số tiền trợ cấp đặc biệt, hai mẹ con không những sống đầy đủ mà còn dành dụm trả dần cho vợ người lính Hải quân tiền tương ứng với số vàng mà người em chồng của bà đã hứa với người thuộc cấp cũ. Người lính ân nhân này cũng đã chết trên biển cùng với đứa con trai của bà.

Cuộc sống tưởng chừng yên ả, sau khi những đau thương mất mát tạm lắng xuống, thì cô con gái trở nên kỳ lạ, thất thường sau những cơn ác mộng. Ở nhà, ban ngày chỉ đóng cửa nằm suốt trong phòng, ban đêm thức giấc la hét thất thanh. Bà phải đưa con tới trường, nhưng nhiều hôm cô bé la hét và vất tung sách vở chạy ra ngoài. Được đưa vào bệnh viện tâm thần chữa trị, nhưng không thuyên giảm. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, mất dần trí nhớ. Thấy cô bé không còn làm chủ được mình, có thể nguy hại đến bản thân và cho người khác, Hội đồng Y khoa quyết định đưa vào một trung tâm đặc biệt dành chữa trị lâu dài. Bà không chịu, khóc lóc xin cho cô con gái được sống ở nhà, bà sẽ tự chăm sóc cho con, nhưng mọi người đều khuyên bà nên để cho cháu vào sống ở Trung tâm, để có thể chữa trị và giúp bà tự lo được cho mỉnh. Hơn nữa, mỗi tuần Trung Tâm sẽ sắp xếp cho bà hai lần vào thăm và ở lại với con khoảng ba tiếng đồng hồ.

Đúng vào lúc này bà lại nhận thêm một tin buồn. Người em chồng vừa qua đời ở Mỹ do một tai nạn giao thông. Bà không thể sang dự tang lễ được.
Trung Tâm đặc biệt này nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Bà thì đã dọn về đây từ lâu rồi, sau ngày cô con gái được đưa vào sống ở đây.

Từ ngày thân tình bà luôn đi bộ với chúng tôi mỗi ngày trên con đường dọc theo bờ sông Nitelva. Nhưng khi đến giữa cầu bà dừng lại, đứng ở đó, chờ chúng tôi trở lại sẽ cùng về với nhau. Điều đặc biệt, thành chiếc cầu này là một tấm lưới bằng sắt sơn màu xám, trên đó có treo rất nhiều ổ khóa, cả mấy trăm chiếc. Có những cái nằm riêng một mình, có những cái khóa chung vào với hai, ba cái khác. Trên nhiều ổ khóa có khắc tên hai người,  một số có tên nhiều người. Đã mấy lần, vợ chồng tôi tò mò, đứng lại xem và đọc vài cái tên trên ấy. Chỉ toàn tên người bản xứ, Nauy. Tôi nghĩ có lẽ đây là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân.

Buổi chiều, sau ngày đến thăm cô con gái và ở lại nhà chúng tôi, khi cùng thả bộ tới giữa cầu, bà dắt tay chúng tôi đến một chiếc ổ khóa lớn, nằm riêng rẻ trên tấm lưới thành cầu. Cái khóa đồng, có khắc đậm năm cái tên. Mặt trước là tên của vợ chồng bà, mặt sau là tên của ba đứa con.

Cũng lần đầu tiên, bà giải thích vì sao bà thường đứng một mình giữa thành cầu. Vì cứ mỗi lần nhìn xuống dòng sông phía dưới, bà đều nhìn thấy hiện lên khuôn mặt của chồng bà và hai đứa con trai. Trong gợn sóng, bà vẫn thấy họ mỉm cười với bà. Chính điều này đã giúp bà có nghị lực để sống tới hôm nay.

Mỗi năm, bà làm giỗ chung cho ba cha con vào giữa tháng ba, vì họ đều mất trong cùng tháng ba. Tháng ba, Bắc Âu đang mùa Đông, trời rất lạnh. Khoảng thời gian này, vợ chồng tôi lại thường sang Mỹ thăm ba cô con gái, và cũng để trốn lạnh. Nhưng năm nay, chúng tôi ở lại Nauy, theo mong muốn của bà. Ước nguyện của bà là sau kỳ giỗ này bà theo chúng tôi sang Tây Ban Nha, sống trên đảo nào đó vài hôm, để bà có thể mỗi ngày ngồi trước biển, nhìn ra đại dương xa xăm, hy vọng sẽ thấy được quê hương và hình ảnh chồng và hai đứa con trai. Bà nghĩ như thế.

Trong ngày giỗ, bà khẩn khoản nhờ chúng tôi, trước khi trao một tờ giấy ủy quyền, để khi bà qua đời, thân xác được thiêu, và chúng tôi sẽ mang tro cốt rải xuống dòng sông Nitelva, nơi mà bà thường đứng trên cầu, mỗi buổi chiều hè, nhìn xuống đó. Bà cũng dặn dò, nhờ chúng tôi bỏ hết mấy tấm ảnh của gia đình, chồng và các con vào quan tài để cùng thiêu với bà.
Bà đi với vợ chồng tôi sang Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha và ở đây hai tuần. Bà bắt buộc chúng tôi phải để cho bà bao trọn chuyến du lịch này.

Theo ước muốn của bà, mỗi ngày sau khi ăn điểm tâm xong, vợ chồng tôi đưa bà ra biển, nơi có mô đất cao, được làm thành một vườn hoa rất đẹp. Bà ngồi trên ghế đá có dù che, nhìn ra một vùng biển trời mênh mông trước mặt. Không biết bà có nhìn thấy được chồng con và quê hương ở phía cuối chân trời? Chúng tôi ngại, không dám hỏi bà.

Sau chuyến đi khoảng ba tháng, bà bị bệnh. Chúng tôi đến thăm. Bà than mệt, thỉnh thoảng lên cơn ho. Tôi nghĩ bà chỉ cảm nhẹ, hoặc mùa này nhiều người bị dị ứng phấn hoa, nên đi mua thuốc cho bà. Khi mang cốc nước đến cho bà uống thuốc, tôi vỗ vai, an ủi:

– Bà chị đã trên 80 rồi, tất nhiên sức khỏe có yếu đi, hay mệt, hoặc có thể bị dị ứng phấn hoa, chứ chẳng có chuyện gì đâu”

Bà xã tôi dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm, làm ít món ăn bà thích và dặn dò bà phải nghỉ ngơi, không được làm việc gì, nhà cửa, cơm nước để chúng tôi lo.
Không ngờ bệnh tình ngày một nặng hơn. Chúng tôi đưa bà vào bệnh viện. Sau khi khám và làm xét nghiệm, bác sĩ cho biết trong phổi bà có nước và có cả vi khuẩn. Tình trạng khá nguy hiểm.

Hơn một tuần sau bà mất. Là người thân duy nhất được bà ghi vào hồ sơ, chúng tôi được bệnh viện báo tin. Với tờ ủy quyền, chúng tôi nhận đứng ra lo việc an táng cho bà. Tôi đến Trung Tâm Tâm Thần, nơi cô con gái của bà ở, báo tin cho Bác sĩ Giám Đốc, và yêu cầu vào ngày tang lễ, xin Trung Tâm đưa cô con gái đến dự và chịu tang cho mẹ, theo truyền thống Việt nam
Đám tang tổ chức ngay tại nhà quàn bệnh viện.

Ngoài vợ chồng tôi, chỉ có cô con gái của bà và hai người của Trung Tâm Tâm Thần. Tôi cũng mời một vị sư đến niệm kinh cho bà. Cô con gái ăn mặc đúng phong cách, một bộ vest đen mới toanh, theo sự hướng dẫn của cô ý tá, cùng chúng tôi quỳ xuống trước linh cữu của bà. Không biết cô gái có biết điều gì đang xảy ra hay không? Chỉ im lặng cúi đầu. Khi vị sư choàng chiếc khăn tang vào đầu, cô đưa tay giật xuống. Không biết cô ý tá nói nhỏ với cô điều gì, rồi lấy chiếc khăn tang quấn lại trên đầu. Lần này cô bé yên lặng, chống hai tay cúi xuống.

Đúng một trăm ngày, theo ước nguyện của bà, cũng là đầu tháng bảy, mùa hè, chúng tôi mang tro của bà ra rải giữa dòng sông, dưới chiếc cầu Nitelva, cùng lúc với những cánh hoa hồng trắng được bỏ xuống. Loại hoa bà thường cắm trên bàn thờ chồng và hai đứa con trai của bà. Hôm ấy trời đang thật đẹp, bỗng bất chợt một cơn mưa rào. Mùa hè ở đây thường như thế. Vợ chồng tôi vội vàng chạy vào dưới tàn cây ở phía đầu cầu trú mưa, nơi mà lần đầu tiên chúng tôi đã thực sự gặp bà, để rồi sau đó trở thành thân thiết.

Chiều hôm sau, khi đi bách bộ, tôi mang theo chai Zip,  chùi sạch và đánh bóng lại ổ khóa của bà treo trên thành cầu, lấp lánh năm cái tên được khắc sâu trên ấy. Nước mắt tôi bỗng trào ra, khi nhớ tới bà và câu chuyện đau thương của gia đình bà. Cả một gia đình đều là nạn nhân của Cộng sản. Một chế độ man rợ đã gây nên biết bao chia lìa tang tóc cho đồng bào và hủy hoại cả quê hương đất nước. Và đó cũng chỉ là một trong muôn vàn thảm cảnh sau ngày CS cưỡng chiếm miền Nam, xích xiềng cả nước.
Từ hôm ấy, cứ mỗi lần đi bộ, chúng tôi đều dừng lại giữa cây cầu Nitelva này khoảng vài phút, đứng yên lặng bên thành cầu, tưởng niệm vợ chồng và hai đứa con trai bất hạnh của bà.

Bệnh viện cũng đã trao lại cho chúng tôi những di vật của bà. Trong đó ngoài hai thẻ ngân hàng và mấy tấm ảnh còn có lá thư ngắn viết cho vợ chồng tôi và tờ di chúc viết bằng tiếng Việt. Bà nhờ tôi dịch ra tiếng Nauy hai bản. nhờ bệnh viện chứng nhận. Một bản trao lại cho kommune (văn phòng thị xã), một bản cho Trung Tâm Tâm Thần. Trong đó bà quyết định, tất cả tài sản, căn nhà và tiền bạc trong ngân hàng, bà xin hiến tặng cho Trung Tâm, nơi nuôi nấng chăm sóc con gái của bà. Bà chỉ có một yêu cầu, khi nào con gái bà qua đời, xin cho thiêu xác và rải tro xuống dòng sông, giữa cầu Nitelva, để cháu được đoàn tụ với bố mẹ và hai anh, khi theo dòng sông chảy ra biển và cùng nhau trôi dạt về lại quê nhà.

Phạm Tín An Ninh

NÂNG CẢ THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người gieo giống đi ra gieo giống”.

Sau 3 năm thất bại với hàng trăm bức ảnh, cuối cùng, nhiếp ảnh gia Leonardo Sens, thành công. Anh đã chụp được bức ảnh ‘Chúa Cứu Thế Nâng Mặt Trăng’ hoàn hảo, lúc 06:28, Chúa Nhật 04/6/2023, từ Niterói, nơi cách bức tượng gần 7 dặm. Hãy thưởng lãm tác phẩm! Kìa, Chúa Kitô không chỉ nâng mặt trăng, Ngài còn nâng cả địa cầu, ‘nâng cả thế giới!’.

Kính thưa Anh Chị em,

Woodberry nói, “Thất bại không phải là ‘thất bại’ tồi tệ nhất. Không cố gắng mới là thất bại thực sự!”. Người gieo giống trong dụ ngôn Chúa Nhật hôm nay gặp cả thất bại lẫn thành công; nhưng cuối cùng, mùa về, vụ lúa vẫn mang một tầm vóc và ý nghĩa ‘nâng cả thế giới!’.

Phần lớn những gì người gieo tung vãi trên đất đều lãng phí. Đủ loại trở ngại ngăn cản công việc của anh: chim chóc, sỏi đá, gai góc. Với chúng, anh chỉ có thể làm rất ít! Thế nhưng, chúng chỉ ở đó; chúng là một phần trong thế giới của anh. Anh biết, anh phải cung cấp hạt giống cho đất, cho cả chúng, và chúng không cản được anh. Anh tin rằng, dẫu thất bại không thể tránh khỏi, thì vẫn có hạt bén rễ, lớn lên, và cuối cùng sẽ có vụ thu hoạch lớn.

Kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu đang nói về Ngài và công việc của Ngài. Ngài là người gieo hạt lời Chúa. Phần lớn những gì Ngài nói và làm đều nhận được rất ít, hoặc không có phản hồi tốt từ mọi người. Lời Ngài thường bị bỏ ngoài tai; việc Ngài làm bị hiểu lầm, thậm chí đến mức một số người buộc tội Ngài mặc lấy quyền lực Satan. Cả những môn đệ thân tín nhất cũng thường khiến Ngài thất vọng; nhiều lần họ tỏ ra kém tin. Tuy nhiên, qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu tiết lộ một điều, bất chấp những trở ngại và thất bại, Ngài vẫn sẽ tiếp tục công việc của Chúa Cha. Và Ngài sẽ tiếp tục gieo Lời bất chấp những điều không thuận lợi; bởi Ngài biết, cuối cùng, mùa gặt vẫn sẽ bội thu, và Ngài sẽ ‘nâng cả thế giới!’.

Bài đọc thứ nhất hôm nay tiên báo thành quả đó, “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống, không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu…; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả”. Chúa Giêsu không trắng tay! Vì dẫu thế nào đi nữa, vẫn có những “Hạt giống rơi vào đất tốt, và sinh hoa kết quả” như xác quyết của Thánh Vịnh đáp ca. Qua thư Rôma hôm nay, Phaolô cũng nói đến một cuộc sinh nở mới được chờ đợi trong Thánh Thần, dù chúng ta đang đau đớn quằn quại.

Anh Chị em,

“Người gieo giống đi ra gieo giống”. Trong cuộc sống, bạn và tôi phải tiếp tục gieo hạt cả khi đối mặt với những bất lợi. Đây là con đường Chúa Giêsu đã đi và chúng ta sẽ đi! Điều này không có nghĩa là chúng ta được kêu gọi tiếp tục đập đầu vào bức tường đá vô thời hạn. Có những tình huống mà khôn ngoan là rút lui; có những làng mạc Chúa Giêsu phải bỏ đi. Tuy nhiên, có những lúc Ngài phải tiếp tục làm bất cứ điều gì tốt có thể, cả khi những trở ngại dường như không thể vượt qua. Thập giá là một bằng chứng! Không có thập giá, không có ơn cứu độ; và Chúa Kitô không thể ‘nâng cả thế giới!’. Nhiều phiên bản khác nhau của chim trời, sỏi đá và gai góc có thể đe doạ khiến chúng ta kiệt sức. Trước những hoàn cảnh đó, chúng ta vẫn trung thành với những việc lành đang làm. Mẹ Têrêsa nói, “Chúa không đòi hỏi chúng ta phải thành công, Ngài đòi chúng ta trung thành!”. Và việc trung thành của bạn và tôi sẽ không để chúng ta trắng tay. Nó mang ý nghĩa cứu độ, ‘nâng cả thế giới!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không cố gắng mới là thất bại thực sự. Cho con can đảm gieo, bất chấp những phiên bản khác nhau của các trở ngại. Vì kìa, mùa về, và con ‘nâng cả thế giới!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Một thầy giáo ở Lâm Đồng bị bắt vì ‘nói xấu chế độ’

Báo Nguoi-viet

July 16, 2023

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Hình chụp một biên bản “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” cho thấy ông Dương Tuấn Ngọc, một thầy giáo ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, được nhiều người biết trên mạng xã hội, đã bị bắt.

Trên trang cá nhân có hơn 45,000 người theo dõi, ông Ngọc, 38 tuổi, công khai quan điểm: “Tôi có quyền công dân. Bạn có quyền công dân. Công dân mới là chủ thật sự của đất nước.”

Trang cá nhân của ông Dương Tuấn Ngọc có hơn 45,000 người theo dõi. (Hình: Facebook Dương Tuấn Ngọc)

Theo văn bản được đăng tải trên Facebook Hoàng Dũng hôm 16 Tháng Bảy, ông Ngọc bị công an tỉnh Lâm Đồng bắt một ngày trước với cáo buộc đăng tải nhiều bài viết, video clip trên Facebook, YouTube “xuyên tạc lịch sử, nói xấu chế độ, đả kích đường lối, chủ trương của đảng, xúc phạm Hồ Chí Minh, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của đảng…”

Do vậy, ông Ngọc bị công an vu cho tội vi phạm điều 117 Bộ Luật Hình Sự CSVN.

Bài đăng gần nhất trên trang cá nhân của ông Ngọc hồi sáu ngày trước, viết: “Về quê trồng [cây] trứng cá ăn rất thú vị. Người không ăn thì chim đến ăn, kêu ríu rít cũng vui lắm. Thiên hạ bao la, tìm chốn dung thân nơi rừng sâu núi thẳm.”

Trong các bài đăng khác, ông kêu gọi các bậc phụ huynh “học cùng con, từ chối trại nhồi sọ.” Ngoài ra, ông còn bày tỏ ý kiến về việc thải độc tế bào, phương pháp “tự chữa lành.”

Trên kênh YouTube “Thầy Tuấn Ngọc,” ông Dương Tuấn Ngọc đăng tải một số video clip có chủ đề bị coi là “nhạy cảm” với nhà cầm quyền như “Chính phủ và tà phủ,” “Bài học từ việc lưu manh phá chùa của tu sĩ Thích Tâm Phúc,” “Bàn về âm mưu của tà quyền với tục thờ Quan Công”…

Biên bản về vụ bắt ông Dương Tuấn Ngọc. (Hình: Chụp qua màn hình)

Đáng nói, ngoài việc bắt ông Dương Tuấn Ngọc, công an tỉnh Lâm Đồng còn bị tố cáo dùng ứng dụng “messenger” trên trang cá nhân của ông Ngọc để giăng bẫy, cài virus vào thiết bị điện tử của bạn bè ông này.

Facebooker Hoàng Dũng cho biết trên trang cá nhân: “Đêm 15 Tháng Bảy, trong một nỗ lực lừa đảo một số người trên nền tảng messenger của Facebook, [cơ quan] an ninh Lâm Đồng đã giả dạng vợ của ông Dương Tuấn Ngọc và gởi ‘link’ chứa sáu tệp [tin] có virus hòng đánh cắp mật khẩu, ghi lại dữ liệu hoạt động của nạn nhân. Chưa thống kê được bao nhiêu nạn nhân đã lỡ mở sáu tệp này, nhưng có lẽ con số sẽ là rất thấp bởi trình độ lừa đảo của an ninh Lâm Đồng cũng chỉ tương đương với nghiệp vụ của chúng.” (N.H.K)

Một cô gốc Việt ngủ nhờ ở sân bay để học thành phi công

Một cô gốc Việt ngủ nhờ ở sân bay để học thành phi công

“Hoàng hôn giữa không trung này là một trong những lý do trở thành phi công”, Nguyễn Anh Thư đăng một bức ảnh ráng chiều vàng ruộm bên cửa kính buồng lái lên trang cá nhân hôm 22/10. Là giảng viên dạy bay 2 năm và có kinh nghiệm hàng nghìn giờ bay, Thư vẫn thấy mình như một đứa trẻ, mắt sáng ngời khi nhìn thấy máy bay.

Thư đang dạy bay tại Atlanta, Georgia, Mỹ, đồng thời làm nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành Kỹ thuật hàng không – Vũ trụ tại Học viện công nghệ Georgia. Cô cũng đang thực hiện ước mơ lớn hơn: một mình bay vòng quanh thế giới.

Anh Thư sinh ra trong một ngôi làng không có điện ở Xuân Hòa, Tuy Hòa, Phú Yên. Thời thơ ấu, niềm vui nhất trong ngày của cô bé là cùng các bạn ngước lên bầu trời nhìn những chiếc máy bay ngang qua, lắng nghe tiếng động cơ ù ù, đôi lúc cô còn chạy trên những cánh đồng chỉ để nhìn máy bay lâu hơn.

Năm Thư 12 tuổi, gia đình tới Mỹ, định cư ở bang Indiana. Như đa phần người nhập cư, cha mẹ cô phải vật lộn về tài chính và văn hóa ở đất nước mới, song họ luôn đặt giáo dục cho con cái lên đầu.

Anh Thư vốn học giỏi từ ngày ở Việt Nam. Những năm trung học phổ thông tại Mỹ, tiếng Anh kém nên Thư bị cô lập, không bạn bè. Bù lại, cô học rất giỏi Toán. “Tôi học đam mê suốt ngày đêm. Là người nhập cư, tôi thấy mình phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình và luôn muốn làm cho cha mẹ tự hào”, Thư nói.

Cô đã tốt nghiệp cấp 3 với điểm số đứng đầu trong tổng số 1.500 học sinh của trường và sau đó giành học bổng toàn phần ngành Toán, tại Đại học Purdue, Indiana.

Kịch bản này không hiếm với những người nhập cư Mỹ, rằng học rất giỏi, đứng đầu, giành học bổng. Nhưng với Anh Thư, ước vọng không dừng lại đó.

“Tôi nói với ba ước mơ làm phi công năm 16 tuổi. Ba phản đối”, cô kể. Đây là điều dễ hiểu, bởi ông vẫn nghĩ con là cô gái da vàng nhỏ bé, trường y là đích đến chứ không phải học viện không quân.

“Năm 18 tuổi, tôi nghĩ mình đang ở Mỹ, có thể làm gì mình muốn mà không cần phải răm rắp nghe theo cha mẹ”, cô nhớ lại.

Anh Thư tham gia các bài học bay bất cứ khi nào có đủ khả năng tài chính. Song song, cô vẫn tốt nghiệp đại học, lọt top 10 cử nhân xuất sắc của lớp và sau này học tiếp thạc sĩ về ngành kỹ thuật hàng không vũ trụ.

“Khi còn là sinh viên, cứ một giờ học bay tôi phải làm gia sư toán trong 20 giờ mới đủ tiền trả”, Thư kể. Trong khi, để học bay một bằng cơ bản nhất thì phải bay khoảng 60 giờ. Mỗi điều kiện thời tiết, mỗi một loại máy bay cần bằng khác nhau. Anh Thư đã có hơn 10 loại bằng như thế.

Lần đầu tiên bay solo (một mình không có thầy giáo), cô gái nhỏ bé lo âu nhưng “lồng ngực căng đầy hạnh phúc, cảm giác như mình đã chinh phục được bầu trời rồi. Mình sẽ thành phi công”. Dấu mốc quan trọng này cho Anh Thư chứng chỉ lái máy bay tư nhân, sau nhiều thời gian cố gắng, ngắt quãng.

Từ đây, con đường đi trong cô càng sáng tỏ. Cô đi làm đúng chuyên ngành hàng không vũ trụ để có tiền chi trả cho các khóa học phi công. Có thời điểm, không còn tiền, cô phải ngủ trong xe. Thầy giáo thấy cô tội nghiệp đã cho phép vào sân bay ngủ.

“Tôi không dám nói với ba mẹ vì sợ họ đau lòng. Tôi cũng sợ họ không cho phép theo hàng không. Cuộc sống đã quá khó khăn, họ không có điều kiện để giúp tôi”, cô chia sẻ. Tổng cộng, cô mất 12 năm từ ngày học chứng chỉ đầu tiên, cho đến khi trở thành một giảng viên bay.

Năm 2017, Anh Thư trở thành huấn luyện viên xuất sắc của Aircraft Owners and Pilots Association (Hiệp hội các chủ sở hữu và phi công máy bay), sau khi đào tạo cho hàng trăm phi công. Cô đồng thời cũng hoàn thành bằng lái máy bay thương mại cỡ lớn.

Nhưng, cô gái gốc Việt vẫn chưa dừng lại. Anh Thư đang chuẩn bị cho hành trình một mình bay vòng quanh thế giới.

Lý do chính của việc này xuất phát từ những trở ngại hàng ngày Anh Thư phải nhận. Cô là giảng viên nữ, người da vàng và nhập cư duy nhất bên cạnh hơn 10 giảng viên nam da trắng tại một trung tâm huấn luyện bay ở Atlanta. Sự hiện diện của cô vào sân bay năm 2019 “vẫn bị cho là nhầm lẫn và là cú sốc với nhiều người, kể cả nhân viên an ninh”.

“Nhiều lần, dù trên người đang mặc đồng phục phi công nhưng nhân viên an ninh từ chối cho tôi qua cổng. Tôi phải đưa các giấy tờ chứng minh thân phận”, Thư kể.

Với các học sinh cũng tương tự. Lần đầu nhìn thấy cô, họ không vui. “Zach M, một sinh viên ban đầu không ưng khi thấy tôi, nhưng sau buổi bay cậu ấy nói ‘Bạn là một trong số ít người hướng dẫn tốt nhất tôi từng có'”, Thư chia sẻ thêm.

Chỉ hơn 5% phi công trên toàn thế giới là nữ, theo Forbes năm 2018. Tính đến nay mới có 8 phụ nữ hoàn thành chuyến bay toàn cầu. Nguyễn Anh Thư hy vọng mình trở thành người thứ 9 và là người gốc Việt đầu tiên.

Chuyến bay sẽ cần khoảng một triệu đôla, đi qua 4 lục địa, đến 25 quốc gia và vùng lãnh thổ chỉ bằng chiếc máy bay nhỏ bé một động cơ. Thư cũng sẽ đến Việt Nam và trở về quê hương Tuy Hòa trong hành trình này. Cô đang vận động kinh phí, chuẩn bị hậu cần, thị thực và giấy phép trên các lãnh thổ bay qua.

Anh Thư gọi đây là chuyến bay cho mọi cô gái, bởi sâu thẳm trong cô là cô gái nông thôn giản dị ở Phú Yên, nuôi giấc mơ lớn.

Nguồn: Phan Dương-Nguyễn Văn Bẩy
Cre: Võ Hữu Nhậm

Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu…

Ngày Chúa Nhật mát mẻ thoải mái trong yêu thương nhé.

Cha Vương

CN: 16/07/2023

TIN MỪNG: Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục. (Mt 13:13)

SUY NIỆM: Trong dụ ngôn người gieo giống, Chúa Giêsu muốn giúp bạn hiểu được đời sống đức tin của bạn phải được gieo trên mảnh đất tốt để hạt giống Lời Chúa gieo vào được sinh hoa kết quả tốt đẹp. Qua Bí tích rửa tội bạn được Chúa ban cho hạt giống đức tin và ân sủng của các bí tích. Bạn làm gì với hạt giống đức tin và những quà tặng của ân sủng? Trong dụ ngôn có đề cập đến 3 loại đất mà hạt giống rơi xuống: (1) vệ đường—chim chóc đến ăn mất, (2) hạt rơi trên nơi sỏi đá—chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. (3) Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì nghe. Bây giờ mời bạn thử hình dung coi hạt giống đức tin của bạn đang được gieo trong loại đất nào nhé. Theo mình nhận xét thì có 3 loại người Công Giáo:

Loại (1)—họ “nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường.”

Loại (2)—là “kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì.

Loại (3)— là “kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” Bạn là loại người công giáo nào nhỉ?

Thánh Gioan Bosco nói: “Bạn rước Chúa không phải vì bạn là người tốt; bạn rước Chúa để trở nên tốt”—Thánh Gioan. Vậy nếu bạn muốn sự suy nghĩ, lời nói và hành động của bạn được sinh hoa kết quả tốt đẹp, bạn hãy siêng năng chạy đến Chúa Thánh Thể, ao ước kết hợp và rước Chúa vào lòng để trở nên tốt hơn mỗi ngày.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì luôn kết hợp với tôi, và tôi luôn kết hợp với người ấy..” (Ga 6:56)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi khi tham dự Thánh Lễ, con được tham dự 2 bàn tiệc là bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể, xin giúp con luôn biết chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng và chăm chú lắng nghe để đời sống đức tin ngày càng vững chắc và trưởng thành hơn.

 THỰC HÀNH: Cố gắng đi tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Hạt Giống Tình Yêu (Sáng tác:Lm Phương Anh) – Minh Quyền ft. Phan Tân 

Ăn cắp, sản phẩm của giáo dục và đào tạo

Kimtrong Lam-Lương Văn Can 75.

Kim Ngữ

Không hiểu vì duyên cớ gì dạo gần đây một loạt tin về tiến sĩ trong nước dính vào các vụ… trộm bị báo chí chỉ đích danh với bằng chứng rõ ràng thuyết phục. Đau ở chỗ những vụ bê bối này đều nằm trong phạm vi giáo dục, nơi dạy cho học sinh điều tối thiểu để làm người là ngay thẳng và tự trọng.

Báo Tuổi Trẻ đi một cái tựa hết sức xấu hổ: “Bắt nghi phạm là tiến sĩ dạy bậc đại học vì trộm cắp tài sản của trường”. Nội dung câu chuyện chỉ gói gọn vài chữ: “Lợi dụng trời mưa to, không có người qua lại, tiến sĩ đã phá khóa cửa phòng kế toán của nhà trường trộm cắp tài sản, lấy đi 128 triệu đồng và một máy tính.” Trước khi bị bắt giam, tiến sĩ Đỗ Ngọc Hà giảng dạy tại khoa nông lâm-ngư nghiệp thuộc Trường đại học Hồng Đức, Thanh Hóa.

Câu chuyện này lộ ra vài vấn nạn đang xảy ra trên khắp đất nước. Đó là tình trạng mua bằng đại học. Mua bằng tiến sĩ giả đã là chuyện cơm bữa. Liệu có phải ông tiến sĩ này đã mua bằng để kiếm cơm, rồi việc dạy ở một đại học tỉnh lẻ chắc không lấy lại được tiền vốn nên đã chôm chỉa tài sản nhà trường hòng gỡ gạc?

Thế nhưng nếu ông Đỗ Ngọc Hà là tiến sĩ thật thì sao? Thì cả hệ thống giáo dục đã hỏng bét chứ sao. Để có bằng tiến sĩ, ông phải kinh qua rất nhiều giai đoạn trong cuộc đời. Từ khi còn là sinh viên, ông phải tìm được cái bằng cử nhân, rồi lấy bằng thạc sĩ, rồi tiến sĩ. Trong suốt thời gian hơn tám năm ngồi ghế đại học, ông có cơ hội học cách làm người, để giữ phẩm giá mà một tiến sĩ phải có trong suốt cuộc đời. Ông phải hiểu, là một tiến sĩ tức là một trí thức, phải có hạnh kiểm cá nhân, biết cách hành xử trong xã hội, biết chừng mực trong đối đãi với cộng đồng… Vậy mà ông đi… ăn cắp. Hóa ra trách nhiệm đào tạo ông ta thành tiến sĩ của hệ thống giáo dục chẳng phải là có lổ hổng quá lớn hay sao?

Câu chuyện thứ hai còn bi hài hơn: Ăn cắp tài sản trí tuệ của người khác trong phạm vi học thuật.

Trong cuộc thi Genius Olympiad được tổ chức tại Mỹ năm 2023, ông giáo Nguyễn Minh Trung dẫn đoàn Việt Nam sang tham dự và bài thi của một học sinh trong đoàn trúng giải. Nhưng không bao lâu sau, một nữ sinh gửi đơn kiện, vì bài thi ấy là tác phẩm của mình. Với bằng chứng xác thực sau khi kiểm tra lại từ đầu, ban tổ chức giải Genius Olympiad đã thông báo hủy bỏ giải thưởng vì bài dự thi là một sản phẩm ăn cắp. Ông Nguyễn Minh Trung bị cấm không được tham gia giải thưởng này qua bất cứ hình thức nào.

Qua động thái này, Ban tổ chức giải Genius Olympiad tỏ ra khinh thường không những ông Nguyễn Minh Trung mà hệ thống giáo dục Việt Nam cũng không tránh khỏi cái nhìn bằng nửa con mắt. Một giải thưởng nho nhỏ, bé tí còn gian lận, vậy những việc lớn lao hơn thì lấy gì bảo đảm sẽ được thực hành theo tiêu chuẩn bình đẳng và thành tín?

Hai vụ ăn cắp này nói rộng ra là hậu quả của chính sách giáo dục tồi tệ và tình trạng mua bán bằng cấp xảy ra như cơm bữa trong nhiều năm. Dư luận lẫn báo chí không hết lời chỉ trích, phản biện nhưng bằng cấp vẫn đều đều phát ra từ những ngôi trường đại học. Vụ án bằng cấp giả của Đại học Đông Đô không làm cho Bộ Giáo dục sáng mắt, bởi ngay trong nội bộ của Thủ tướng chính phủ có ai là người có mắt để chọn ra một Bộ trưởng thật tâm và có tầm nhìn đủ xa để thấy rằng đất nước sụp đổ hay thăng tiến đều do môi trường giáo dục mà ra.

Hai vụ ăn cắp tuy khác môi trường, sự vật và con người nhưng cùng giống nhau ở điểm: Mặt bằng phẩm cách. Ăn cắp vật tư là cung cách của một người thiếu hiểu biết nhưng ăn cắp trí tuệ là cung cách của bọn trí thức giả hiệu, lưu manh. Cả hai đều đáng lên án nhưng nếu cả hai đều là nạn nhân thì sao?

Mà thật ra không phải chỉ hai ông này mới là nạn nhân trực tiếp của hệ thống giáo dục Việt Nam. Cứ nhìn vụ test-kit Việt Á và “chuyến bay giải cứu” thì biết – một ông là bộ trưởng của Bộ Y tế; một ông là thứ trưởng của Bộ Ngoại giao; và cả hai đều là tiến sĩ. Có bao nhiêu kẻ trong số họ mang tấm bằng tiến sĩ hay cử nhân? Hầu như tất cả đều là “tinh hoa” của chế độ. Họ ăn cắp công khai, ăn cắp có bè có đảng vậy thì nhân dân này, dân tộc này đang đứng dưới hố nhìn lên hay từ tên không gian nhìn xuống mảnh đất mình đang sống?



 

LOÀI NGƯỜI ĐÃ TRẢI QUA MẤY GIAI ĐOẠN?

 LOÀI NGƯỜI ĐÃ TRẢI QUA MẤY GIAI ĐOẠN?

Chế độ CS dạy học sinh trong trường học là loài người đã và sẽ trải qua 5 hình thái chính trị:

– Cộng sản nguyên thuỷ.

– Chiếm hữu nô lệ.

– Phong kiến .

– Tư bản .

– Chủ nghĩa cộng sản .

Đây là một cách định hướng sai . Thực chất kể từ khi có con người, loài người chỉ trải qua có 2 giai đoạn lịch sử:

– Giai đoạn khi quyền lực chưa bị kiểm soát .

– Giai đoạn khi quyền lực đã bị kiểm soát .

Dấu mốc đó là trước và sau cách mạng Anh 1642. Tuyên ngôn độc lập và hiến pháp Hoa kỳ là đỉnh cao của thời kỳ mà quyền lực được kiểm soát bằng đa đảng, đối lập , tam quyền phân lập , tư pháp độc lập , báo chí và nhân quyền.

Các chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ , phong kiến quân chủ đều ở vào giai đoạn quyền lực chưa bị kiểm soát.Cách mạng Anh đặt nền móng cho 2 khuynh hướng bảo thủ( cánh hữu) , cấp tiến ( cánh tả) đối lập nhau trong nghị trường để giám sát việc thực thi quyền lực. Sau này cách mạng Pháp và Mỹ đã đẩy sự giám sát quyền lực lên đến đỉnh cao . Tuy nhiên việc giám sát này sẽ không bao giờ hoàn hảo.

Chủ nghĩa Marx đưa ra 5 hình thái là chủ yếu nhấn mạnh về vấn đề kinh tế chính trị nhưng bị những kẻ ham muốn quyền lực lợi dụng .

Thực chất những kẻ tạo ra cách mạng tháng 10 Nga đang đưa thế giới quay ngược về thời kỳ trước cách mạng Anh 1642 .

Lúc này là lúc quyền lực chưa bị kiểm soát vì thực chất chế độ cộng sản chỉ là chế độ quân chủ trá hình . Dưới chế độ này quyền lực tác quái và sẽ dẫn đến một xã hội tha hóa toàn diện .

Do đó việc tuyên truyền cho học sinh rằng tiến lên chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao của loài người chỉ là tiến xuống thời kỳ quân chủ và chiếm hữu nô lệ .Khi quyền lực không bị kiểm soát thì sẽ xảy ra tham nhũng, lạm quyền , chiến tranh xâm lược, bóc lột , bất công và diệt vong .

Vì thế lý tưởng của những người cộng sản như Tố Hữu trong bài thơ “Từ ấy” chỉ là lý tưởng độc chiếm quyền lực . Nói rằng đó là lý tưởng giải phóng nhân loại là láo không sách . Nhân loại lẻ ra được giải phóng bằng cách mạng Anh bỗng nhiên quay lại thời kỳ nô lệ cho một đảng chính trị duy nhất : đảng cộng sản .

Tuy nhiên người Việt đang bị định hướng bởi tiền tài , danh vọng , chủ nghĩa cá nhân , sự hưởng thụ vật chất nên còn lâu mới hiểu ý nghĩa của cách mạng Anh , Pháp và Mỹ .

Nói tóm lại người Việt đã cảm thấy bất lực không còn kiểm soát được quyền lực .

Họ chỉ còn quan tâm đến cái dạ dày và lạc thú của bộ phận nằm giữa 2 chân .


 

Các đồng chí con người mới XHCN đang xử nhau

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Kông Kông

54 quan chức ra tòa vụ giải cứu

Đại dịch covid-19 là thảm họa chung của nhân loại. Ở Ý, số người hy sinh mạng sống của chính họ để cứu bệnh nhân covid, theo tỷ lệ dân số, là nhiều nhất. Thế giới kính phục.

Cũng đại nạn covid, không một nước nào có quan chức cầm quyền lợi dụng đại họa của nước họ để trục lợi khủng khiếp như Việt Nam. Nói cách khác là cán bộ đảng viên tận dụng mọi cơ hội dịch bệnh để làm giàu, bất chấp đồng bào đang chết, đang thất nghiệp, đang bị cùng quẫn ngặt nghèo khắp nơi trên thế giới nên đành cam chịu mọi giá để được về quê hương!

Phiên tòa xử án 54 bị cáo Chuyến Bay Giải Cứu đang xảy ra. Sắp tới sẽ là vụ Que xét nghiệm covid Việt – Á, số bị cáo nhiều gấp đôi, 107!

Số bị cáo cả hai vụ án lẽ ra phải nhiều hơn nữa, vì có nhiều lãnh đạo trực tiếp của các bộ ngành liên quan, nếu không là đồng phạm thì chí ít cũng là nhân chứng. Như bộ trưởng, phó thủ tướng kể cả chủ tịch nước, đặc biệt là thủ tướng đương nhiệm. Trên tất cả là đảng trưởng đảng cộng sản Việt Nam, vì đảng lãnh đạo toàn diện!

Lãnh đạo toàn diện mà không dám đứng ra nhận trách nhiệm, không xin lỗi toàn dân thì có tư cách gì để lãnh đạo đất nước?

Ở các nước dân chủ việc ràng buộc pháp lý trong công tác là đương nhiên. Khi thuộc cấp vi phạm, lãnh đạo trực tiếp phải chịu trách nhiệm. Tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng phải từ chức, chuyện rất bình thường.

Còn ở Việt Nam đảng sắp xếp “xin thôi chức vụ” để hạ cánh an toàn. Như chủ tịch nước, hai phó thủ tướng, còn thủ tướng, người từng ban đủ thứ lệnh lạc, chệch choạc, chồng chéo trong giai đoạn đó lại vô can?

Tính từ ngày chiếm được miền Nam, số quan chức hiện đang bị xử đều khá trẻ, là nhân viên của 9 bộ gồm ngoại giao, y tế, công an, quốc phòng, giao thông vận tải, giáo dục…. Với vụ Việt – Á, sắp bị xét xử, cũng thế. Tất cả họ đều là thành phần nòng cốt, được đào tạo bài bản theo chiến lược “trồng người” để có Con Người Mới XHCN. “Thành quả” đó đang diễn ra đầy chất bi hài ở các phiên tòa.

Thế nhưng báo chí nhà nước đang ra sức định hướng tội ác của các bị cáo đều thuộc về “cá nhân tự diễn biến, tự chuyển hóa” thay vì là lỗi hệ thống, lỗi của chính chế độ XHCN!

Phiên tòa lại vô tình chứng minh như thế. Các bị cáo cộm cán chối tội rất khôi hài, ngu ngốc làm bao nhiêu sách vở tuyên truyền “đảng ta là đỉnh cao trí tuệ của loài người” bỗng chốc thành rác rưởi. Càng hơn thế nữa, tòa này trái ngược với tòa xử “phản động”, vì họ cùng là đồng chí, cùng đắp một chăn nên biết rận của nhau. Tự nó xác nhận mô hình hoang tưởng XHCN.

Phiên tòa còn dài. Vở kịch “đốt lò” sẽ còn nhiều kịch tính cho dù được dàn dựng rất công phu của đạo diễn lú lẫn. “Ta đánh ta” có làm dịu bớt được căm phẫn? Có giúp xã hội xả được phần nào stress? Thật khó có câu trả lời.

Sự thật là cả hệ thống lợi dụng tai ương của đất nước, kinh doanh trên xác thân đồng bào, thế giới đều rõ. Vậy đảng có biết nhục Quốc thể hay không?

Nếu biết nhục Quốc thể thì đảng đã không tổ chức bắt cóc người tại Đức, tại Thái Lan hay tại Cambodia, là câu trả lời!

Còn việc các đồng chí con người mới XHCN đang xử nhau, đang bày ra trước mắt mọi người, liệu có đánh thức được toàn dân sau cơn mê dài bị lường gạt mà cái giá phải trả là hàng triệu người chết oan khuất hay không, thì chưa thể biết câu trả lời!

(15/7/2023)

Kông Kông


 

U mê đầu tư vào quá khứ, rẻ rúng tương lai!

Báo Tiếng Dân

Mạc Văn Trang

15-7-2023

Không biết trên thế giới có nước nào như nước ta không? Một nước nhân danh “cộng sản vô thần”, nhưng thờ thánh, thần, ma, quỷ ở khắp mọi nơi. Đặc biệt là dồn bao nhiêu nguồn lực đầu tư vào quá khứ, trong khi rẻ rúng đầu tư cho tương lai. Tạm liệt kê vài dẫn chứng.

  1. ĐUA NHAU XÂY MỒ TO MẢ LỚN

Thời phong kiến chỉ mộ vua chúa mới được xây dựng nguy nga, nhưng vẫn chừng mực và coi trọng tinh hoa văn hoá. Các quan lại, nhà giàu cũng không được phép xây lăng mộ như vua chúa.

Ở các nước văn minh, từ thế kỷ XX, vua chúa, các nhà lãnh đạo đất nước, không còn xây dựng những lăng mộ đồ sộ, khoa trương tốn kém.

Ở nước ta thì ngược lại, từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI mới càng đua nhau xây lăng mộ hoành tráng.

Không làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người ta cố tình xây lăng thật to, ướp xác Ông cụ rồi một đội ngũ mấy nghìn người phục vụ không biết sẽ kéo dài đến bao giờ, gây tốn kém, lãng phí vô cùng tận. Hoàn toàn trái với di nguyện của Ông Cụ.

Ông Chủ tịch Trần Đại Quang chưa chết đã chuẩn bị từ đường hoành tráng, lăng mộ mấy hecta đất nông nghiệp.

Ông Đại tướng Phùng Quang Thanh cũng không kém, sống đã bị dân khinh, chết còn làm mộ rõ to.

Nhiều lắm, các ông quan từ trung ương đến, tỉnh, huyện, xã, ông nào có quyền, có tiền cũng xây từ đường to đùng bằng gỗ quý, xây lăng mộ hoành tráng.

Quan nêu gương xấu, nên dân cũng ùa theo, thi nhau xây mồ to, mả lớn, biến các nghĩa địa ở làng quê nghèo mà như các “thành phố âm phủ” nguy nga, tráng lệ… Có người lúc sống, bo bo không có mà ăn, chết đói; nay con thành quan lớn, đại gia, xây cho cái mả thật oách, có rồng chầu, hổ phục như vua.

  1. XÂY ĐỀN CHÙA RÕ HOÀNH TRÁNG

Đất nước ta có truyền thống Phật giáo phát triển tốt đẹp từ thời Lý – Trần, trải qua các triều đại hơn 1.000 năm, chưa bao giờ lắm sư, nhiều chùa như dưới triều đại “cộng sản vô thần”. Mà càng về sau các đền, chùa càng thi đua xây đồ sộ hơn, cầu kỳ hơn như các cung điện của các hoàng đế. Ngó qua các chùa Tam chúc, Bái Đính, Ba Vàng… thấy sợ ghê. Nhìn các chùa trang hoàng loè loẹt, ngó đội ngũ sư trùng trùng điệp hành đạo theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Xã hội chủ nghĩa” thì đâu còn thấy truyền thống ngàn năm Phật giáo chân tu của dân tộc!

Mấy ông sư làm gì ra tiền mà xây chùa to, tượng lớn, đến cái Mõ cũng lớn vô địch; sư làm gì ra tiền mà xe hơi xịn, sống vương giả? Tất cả là từ nguồn lực “xã hội hoá” mà ra.

Một chuyện lộ ra mới biết nguồn lực từ dân đầu tư cho sư lớn cỡ nào. Đó là Sư Thích Thanh Toàn hơn 40 tuổi, chục năm trụ trì chùa Nga Hoàng ở xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc – ngôi chùa của một xã vùng quê xa xôi mà đã xây được 800m2 chùa, đúc chuông lớn, tượng to. Ông ta còn sống phè phỡn quen thói, nên “gạ tình” một nữ phóng viên, bị tố cáo và xin xả giới, hoàn tục. Và “Sư Toàn xin giữ tài sản 200-300 tỷ đồng, nói giờ ‘lấy vợ thoải mái” (Tiền Phong).

Có ai kinh doanh giỏi hơn ông sư này? Có nhà giáo, bác sĩ tâm huyết nào về một xã vận động được dân đóng góp xây được trường lớp, bệnh viện như ông sư này xây chùa? Không những thế ông còn tích lũy tài sản riêng có 200-300 tỷ đồng? Tiền của ở đâu ra? Dân ta đầu tư đó. Dân đầu tư vào y tế, giáo dục thì khó, nhưng đầu tư cho chùa, cho sư thì “máu” lắm!

  1. LỄ HỘI THẬT LINH ĐÌNH

Có đền to, chùa lớn thì phải tổ chức lễ hội thật linh đình, lễ vật phải “vô địch” mới xứng tầm! Có đền được dâng lễ hai con trâu mộng, hai con lợn tạ thui vàng, nguyên con; vua Hùng cũng phải “trợn mắt” khi được dâng lễ cái bánh chưng, bánh dày nặng hàng tấn! Lễ hội “đông vui” kinh hoàng như cướp lộc ở lễ hội đền Thánh Gióng; chen nhau “bẹp ruột” tranh ấn ở đền Trần; chỉ cần gõ vào Google “hàng vạn người đổ về chùa”… sẽ lập tức xuất hiện ra… chùa Hương, chùa Tam chúc, chùa Bái Đính, chùa Ba Vàng… Kinh nhất là “5 vạn người đổ về chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam…” một ngày.

Ảnh chụp màn hình

Mà nên nhớ, “Việt Nam mỗi năm có hơn 8 ngàn lễ hội – Vietnamnet”, trung bình 22 lễ hội mỗi ngày.

Lễ hội kèm theo lễ vật, đốt vàng mã, nghe mà kinh hoàng: “Người Việt chi gần 5.800 tỷ đồng mua vàng mã để đốt mỗi năm” (VOV.vn)

Biết bao nhiêu nhân lực, tài lực, vật lực “đầu tư” vào những lễ hội?

  1. TƯỢNG ĐÀI và “PHỤC DỰNG” VÔ TỘI VẠ

Điều này, bao năm nay nhiều người đã lên tiếng gay gắt, nhưng với cái chính quyền lì lợm này thì tất cả như “nước đổ đầu vịt”, “đàn gảy tai trâu” mà thôi! Tôi xin nêu ra 10 bài báo trong số hàng ngàn, vạn bài về vấn đề này để bà con thấy rõ.

– “TP Hà Nội sẽ chi 1.800 tỷ đồng thực hiện dự án phục dựng điện Kính” (1).

– “Hà Nội dự kiến có dự án 1.000 tỷ bảo tồn phục dựng hào, hệ thống thủy văn tại Khu di tích Cổ Loa. Chuyên gia cho rằng hệ thống này trước đây có cả bến thuyền thời An Dương Vương” (2).

– “UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đề xuất đầu tư dự án công viên tượng đài, nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu với tổng mức đầu tư hơn 440 tỷ đồng” (3).

– “Đề xuất dựng tượng đài Quốc Tổ Hùng Vương cao 51m ở Đà Lạt” (4).

– “Sơn La lên tiếng về quảng trường, tượng đài Bác 1.400 tỷ đồng” (5).

– “Cà Mau: Trên 179 tỷ đồng xây dựng cụm Tượng đài kỷ niệm Chuyến tàu tập kết ra Bắc và công trình kết nối”(6)

-“Thanh Hóa: Tượng đài con tàu tập kết gần 255 tỷ, bao giờ sẽ hoàn thành?” (7).

– “Thanh Hóa xây công viên, tượng đài hơn 125 tỷ đồng” tưởng niệm 64 giáo viên và học sinh đã hy sinh khi bảo vệ đê sông Mã năm 1972” (8).

– Ninh Bình: “Tượng đài 1.500 tỷ chưa hoàn thành đã xuống cấp là do thời tiết?” (9).

– “Những tượng đài tiền tỷ vừa hoàn thành đã xuống cấp” (10).

Tôi không hiểu, Hà Nội phục dựng những cái đó để làm gì, trong khi thiếu bao nhiêu nhà trẻ, trường học?

Vũng Tàu chi 440 tỷ dựng tượng thì Võ Thị Sáu có anh hùng hơn nữa không và nhà lưu niệm thì trưng bày những tác phẩm, di vật gì của Võ Thị Sáu?

Vua Hùng liên quan đến đất Đà Lạt như thế nào mà dựng Cụ cao 51m ở đây?

Sơn La thì ông Chủ tịch từng nói rồi: Không có tượng Bác thì Sơn La thiệt thòi. Vậy tỉnh nào chả “thiệt thòi”(!).

Tài nhất là Cà Mau gọi, Thanh Hoá đáp ngay! Cái bến đi và đến của cán bộ miền Nam kết thì mỗi nơi làm một tấm Bia lớn, khắc trên đó những thông tin quan trọng là đủ. Hai nơi xây hai bảo tàng mấy trăm tỷ, rồi trưng bày những gì trong đó, ai xem? Xem gì?

64 giáo viên và học sinh hy sinh thì dựng tấm bia khắc tên từng người để tưởng nhớ là đủ, sao Thanh Hoá phải dựng tượng đài cao 18m nữa? Cứ một tập thể hy sinh trong chiến tranh lại dựng một cụm tượng đài thì cả nước đầy những tượng đài người chết.

Nhưng bài báo số 10 mới cho ta nỗi kinh hãi. Vì sao? Vì tất cả các lăng mộ, đền chùa, các tượng đài, các công trình “phục dựng” với kiểu làm ăn chộp giật, bớt xén, làm bừa, làm ẩu “hoàn thành kịp nhiệm kỳ”, thì mọi công trình ấy đều xuống cấp rất nhanh; có nhiều công trình chưa hoàn thành đã “xuống cấp” rồi. Vậy là đã “đẻ” ra thì cứ phải “nuôi” mãi như nuôi các “con nghiện”; không lẽ những “công trình văn hoá- lịch sử” đã thuyết minh bao nhiêu ý nghĩa, nay lại đập bỏ? Không được, phải “bảo dưỡng” hàng năm, rồi phải “tôn tạo”, “trùng tu”, làm khổ đến đời con, đời cháu chắt… Đảng “muôn năm” cơ mà, vậy phải bảo tồn, tôn tạo tất cả những gì đẻ ra dưới thời của Đảng đến “muôn năm” nhé! Biết bao nguồn lực đổ vào đó, kinh chửa?

  1. TƯƠNG LAI THÌ BỎ ĐÓI

Biết bao nhiêu nguồn lực đầu tư vào những người đã chết, những thứ hoài niệm về lịch sử mà ngày nay có thể tái tạo bằng hình ảnh công nghệ thì cứ phải “phục dựng” tại hiện trường, mà lẽ ra những nguồn lực ấy có thể đầu tư cho tương lai. Tương lai đang thiếu đói, khao khát.

– “Thiếu trường mầm non cho con công nhân trong khu công nghiệp” (Lao động): “TP Hải Phòng hiện có hơn 150.000 công nhân, lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn. Cùng với nhu cầu nhà ở, việc tìm nơi gửi trẻ của công nhân lao động là vấn đề bức thiết”, …

– “Đà Nẵng thiếu khoảng 28.000 nhà ở xã hội cho công nhân” (VCT News); các khu công nghiệp khác còn trầm trọng hơn.

– “33.000 học sinh Hà Nội trượt công lập và bài toán ‘ai cũng được học hành” (VietNamNet)…

– Hà Nội “Nhà ở xã hội, giấc mơ người nghèo khó chạm tới” (Dân Trí)…

– “Nhà ở xã hội giá rẻ ở TP.HCM: Không thể tin ước mơ an cư thành sự thật” (VTC News)…

– “Quá tải bệnh viện, nhiều năm vẫn là vấn đề cấp bách” (Lao động)…

– “Bộ Y tế: Giá giường bệnh theo yêu cầu tối đa 4 triệu đồng một đêm” (Tuổi trẻ)…

– Còn bao nhiêu nhu cầu đầu tư cho tương lai, như sân chơi, bể bơi của trẻ em; thư viện, câu lạc bộ phát triển năng khiếu của trẻ; những đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, văn hoá, nghệ thuật của thanh thiếu niên… Tất cả đều cần các nguồn lực từ Nhà nước từ các nguồn lực xã hội. Nhưng tất cả đều như cạn kiệt trước sự áp đảo của đầu tư vào quá khứ.

TÓM LẠI, bao giờ nước ta, dân ta mới bớt u mê bớt đầu tư cho những cái tào lao, để chắt chịu các nguồn lực đầu tư cho tương lai, cho đất nước phát triển bền vững. (Lạy các bố đừng luôn mồm nói “phát triển nhanh và bền vững”!). Cứ thế này thì người ta vẫn coi “Việt Nam là nước không chịu phát triển” theo tiêu chí của một nước văn minh.

_____

Chú tích:

(1) https://laodong.vn/…/ha-noi-se-chi-1800-ti-phuc-dung…

(2) https://thanhnien.vn/hon-nghin-ti-dung-lai-he-thong-thuy…

(3) https://thanhnien.vn/dau-tu-cong-vien-tuong-dai-nha-luu…

(4) https://tuoitre.vn/de-xuat-dung-tuong-dai-quoc-to-hung…

(5) http://tuoitre.vn/son-la-len-tieng-ve-1400-ti-dong-xay-quang-truong-tuong-dai-bac-789234.htm

(6) https://www.sggp.org.vn/ca-mau-tren-179-ty-dong-xay-dung…

(7) https://baoxaydung.com.vn/thanh-hoa-tuong-dai-con-tau-tap…

(8) https://vnexpress.net/thanh-hoa-xay-cong-vien-tuong-dai…

(9) https://www.nguoiduatin.vn/tuong-dai-1500-ti-chua-hoan…

(10) https://docs.google.com/…/1UaW…/edit…